Thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược đã khẳng định sự ra đời tính cách mạng và tính khoa học cuả một phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân, một nền
Trang 1quân sự và cũng là giáo viên trực tiếp giảng dạy tôi môn Đường lối quốc phòng
-an ninh trong học kỳ vừa qua Trong thời gi-an qua dưới sự hướng dẫn tận tình của
thầy trưởng khoa GDQP và góp ý chu đáo của các thầy trong khoa đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn sự động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo
trong khoa, bạn bè trong lớp K51A GDQP,bên cạnh đó là cùng với sự cố gắng nỗ
lực của bản thân đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Trong quá trình làm đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô cùng bạn đọc đóng góp ý kiến bổ sung để cho đề tài ngày càng được hoàn thiện và đạt kết quả tốt hơn Rất mong nhận được sự quan tâm, góp
ý của thầy, cô và các bạn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, ngày 21 tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
A PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn đề tài:
Hiện nay trong công cuộc đổi mới tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu xây dựng đất nước “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” Trong đó nhiệm vụ cơ bản là xây dựng một Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân với mục đích “Ai cũng có cơm ăn áo mặc,
ai cũng được học hành” Nhưng một vấn đề đặt ra đó là “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước”.
Thực tế trong lịch sử từ thời cổ đại, trung đại, cận đại đến ngày nay cho ta thấy rõ: Bất cứ quốc gia độc lập nào nếu chỉ chăm lo dựng nước mà coi nhẹ hoặc sao lãng vấn đề giữ nước đều chịu hậu quả là bị động về chiến lược, gánh chịu tổn thất lớn hoặc bị kẻ thù thôn tính.
Bởi vậy: Dựng nước đi đôi với giữ nước đó là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc là vấn
đề chiến lược và có ý nghĩa sống còn, bảo đảm cho dân tộc ta mãi mãi trường tồn
và cường thịnh Chủ tịch HỒ CHÍ MINH đã từng viết:
“Các vua hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
HỒ CHÍ MINH ( 1954: Đến thăm đền hùng)
Điều đó có nghĩa là chúng ta phải giữ gìn những gì mà các vua hùng đã làm được để góp phần vào việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện đất nước trong điều kiện lịch sử mới với muôn vàn khó khăn và thử thách hiện nay.
Một dấu hỏi lớn đặt ra cho chúng ta đó là khi tiến hành dựng nước thì bên cạnh đó việc giữ nước chúng ta phải tiến hành như thế nào để đánh thắng những kẻ thù lớn.
Việt Nam một dân tộc có truyền thống và tư chất quân sự đặc biệt Bạn và
tôi chúng ta nhận thấy một điều rằng: Trên thế giới có dân tộc nào yêu quý hòa bình và độc lập tự do như dân tộc Việt Nam không? Chính điều đó đã thôi thúc nhân dân cả nước đứng lên chiến đấu giữ nước Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao dân tộc Việt Nam có tinh thần chiến đấu kiên cường như vậy? Tại sao dân tộc Việt Nam có thể chiến thắng những kẻ thù lớn mạnh gấp bội mình? Điều đó cũng
dễ hiểu, bời vì dân tộc ta không chỉ có sức mạnh về nhân lực, quân sự mà cao hơn
Trang 3nữa đó là có “ nghệ thuật quân sự rất độc đáo và đặc sắc” Nhờ vậy mà dân tộc ta
đã giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác Nghệ thuật quân sự Việt Nam
trong tiến trình dựng nước và giữ nước đã hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh, mỗi giai đoạn, thời kỳ đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giải phóng và bảo vệ đất nước Lịch sử tiến hành các cuộc chiến tranh yêu nước, chính nghĩa chống ngoại xâm của dân tộc ta là lịch sử của những cuộc chiến tranh nhân dân Nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật quân
sự của chiến tranh nhân dân.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trải qua những bước thăng trầm, thịnh suy Nhưng thế kỷ nào, triều đại nào cũng có chiến công, chưa bao giờ vắng người hào kiệt, chưa lúc nào thiếu vắng bóng anh hùng Việt Nam là một dân
tộc phải vượt qua nhiều thử thách nhất Nhưng trong thực tế chúng ta thấy “Trải biến cố nhiều thì trí lực sâu, lo việc xa mà thành công kú” Vì thế lịch sử dân tộc
ta đã hun đúc nên những phẩm giá cao đẹp và vĩ đại, ý chí kiên cường và trí tuệ sáng tạo của một dân tộc anh hùng.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh điều đó Thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược đã khẳng định sự ra đời tính cách mạng và tính khoa học cuả một phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân, một nền nghệ thuật quân sự của chiến tranh toàn dân và chiến tranh toàn diện ở nước ta Thắng lợi của nhân dân ta trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vừa qua là thắng lợi của đường lối quân sự đúng đắn của Đảng Đường lối ấy vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh và quân đội vào điều kiện thực tế của Việt Nam, kế thừa và phát triển truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc đồng thời tiếp thu có chọn lọc những
kinh nghiệm quân sự tiên tiến trên thế giới Bằng sự lãnh đạo tài tình của Đảng đã
lãnh đạo quân và dân ta vận dụng những hình thức và phương thức đấu tranh cách mạng một cách hợp lí, nâng cao phương thức đó lên một trình độ nghệ thuật mới phù hợp với quy luật của chiến tranh cách mạng Chính nền khoa học và nghệ thuật quân sự cách mạng tuy còn non trẻ nhưng dưới sự lãnh đạo dẫn dắt của Đảng ta vẫn luôn luôn tràn đầy một sức sống mãnh liệt, cũng chính sức mạnh tiềm tàng ấy đã khơi dậy sự đồng lòng của quân và dân ta, làm phá sản học thuyết chiến tranh xâm
Trang 4lược, các sản phẩm tư duy quân sự tinh tuý nhất của nước Pháp và đế quốc Mĩ trong so sánh lực lượng rất không cân sức ban đầu
Lịch sử chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đã ghi nhận rằng: Nghệ thuật quân sự là một nhân tố quan trọng trong chiến tranh Nhân dân Việt Nam thắng giặc ngoại xâm không chỉ bằng ý chí quật cường mà còn là sự kết hợp chặt chẽ ý chí với tài trí sáng suốt, thông minh, đánh bằng mưu kế thắng bằng thế thời Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là bước phát triển mới cả về chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật Nghệ thuật quân sự Việt Nam đạt tới đỉnh cao vừa hàm chứa tính hiện đại của cuộc chiến tranh ở thế kỷ XX, vừa mang nét đặc trưng nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc
Vì những lí do này tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “ Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược giai đoan 1954 - 1975”
hy vọng nó sẽ lý giải một cách sâu sắc hơn vấn đề “Tại sao dân tộc việt nam có tinh thần chiến đấu kiên cường như vậy? Tại sao dân tộc Việt Nam có thể chiến thắng những kẻ thù lớn mạnh gấp bội mình? Đồng thời đây là một đề tài rất thiết thực.
- Nghiên cứu để có thể làm tài liệu tham khảo và làm cơ sở để giảng dạy
môn “Giáo Dục Quốc Phòng” sau này
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu, đề tài cần tập trung giải quyết các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nghệ thuật quõn sự.
Thứ hai: Tìm hiểu nghiên cứu các yếu tố tác động và nội dung nghệ thuật đánh giặc giữ nước của tổ tiên
Thứ ba: Nghiên cứu về nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật quõn sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp lý luận thông qua việc nghiên cứu thu thập tài liệu, các kênh thông tin quân đội
- Sử dụng phương pháp hệ thống để thể hiện đầy đủ quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam.
- Sử dụng phương pháp lịch sử và lôgíc.
5 Ý nghĩa đề tài
Sau khi nghiên cứu thành công, đề tài này sẽ giúp cho chúng ta hiểu được nét độc đáo sâu sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử đồng thời giúp chúng ta hiểu thêm về nghệ thuật quân sự Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)
Trang 6
B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược lớn hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế Song với lòng yêu nước ,ý chí kiên cường , với cách đánh mưu trí , sáng tạo ,cha ông ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù xâm lược , viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc từ chiến thắng Bạch Đằng , Như Nguyệt, Chương Dương Từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời , tinh thần yêu nước và cách đánh của quân dân ta lại được phát huy lên một tầm cao mới và đánh thắng hai kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Từ trong thực tiễn chống giặc ngoại xâm của dân tộc, đã hình thành nên nghệ thuật quân sự Việt Nam , đó là nghệ thuật chiến tranh nhân dân , thực hiện toàn dân đánh giặc.
1 KHÁI NIỆM NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
Nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật chỉ đạo hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang, đồng thời chỉ đạo hoat động quân sự của nhân dân cầm vũ khí lên đánh địch, kết hợp chặt chẽ quân sự với binh vận, kết hợp tiêu diệt địch và phát động quần chúng giành quyền làm chủ.
2 ĐẤT NƯỚC TRONG BUỔI ĐẦU LỊCH SỬ VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC CỦA ÔNG CHA TA
2.1 Đất nước trong buổi đầu lịch sử
Cách đây mấy nghìn năm, từ khi các Vua Hùng mở nước Văn Lang, lịch sử dân tộc Viêt Nam bắt đầu thời đại dựng nước và giữ nước Do yêu cầu tự vệ trong chống giặc ngoại xâm và yêu cầu làm thủy lợi của nền kinh tế nông nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến sự hình thành đến sự hình thành của nhà nước trong buổi đầu lịch sử Nhà nước Văn Lang là nhà nước đầu tiên của nước ta, có lãnh thổ khá rộng
và vị trí địa lí quan trọng, bao gồm vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ ngày nay, nằm trên đầu mối những đường đường giao thông qua bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á.
Trang 7Nền văn minh sông Hồng còn gọi là văn minh Văn Lang, mà đỉnh cao là nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, thành quả đáng tự hào của thời đại Hùng Vương Do có
vị trí thuận lợi, nước ta luôn bị các thế lực ngoại xâm nhòm ngó Sự xuất hiện các thế lực thù địch và âm mưu thôn tính mở rộng lãnh thổ của chúng là nguy cơ trực tiếp đe dọa vận mệnh đất nước ta Do vậy, yêu cầu chống giặc ngoại xâm, chống lai
kẻ thù xâm lược để bảo vệ đôc lập chủ quyền và cuộc sống đã sớm xuất hiện trong lịch sử dân tộc ta Người Việt muốn tồn tại, bảo vệ cuộc sống và nền văn hóa của mình chỉ có một con đường duy nhất là đoàn kết đứng lên đánh giặc, giữ nước
2.2 Các yếu tố tác động đến việc hình thành nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta
2.2.1 Địa lý
Nước Việt Nam nằm ở rìa phia đông của bán đảo Đông Dương ,gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á Trên đất liền điểm cực Bắc ở vĩ độ 23°23’ B tại Xã Lũng Cú , huyện Đồng Văn , tỉnh Hà Giang ; điểm cực Nam ở vĩ độ 8°34’B tại xã Đất Mũi , huyện Ngọc Hiển , tỉnh Cà Mau ; điểm cực Tây ở kinh độ 102°09’ Đ tại
xã Sín Thầu ,huyện Mường Nhé , tỉnh Điện Biên và điểm cực Đông Ở kinh độ 109°24’ Đ tại xã Vạn Thạnh ,huyện Vạn Ninh , Tỉnh Khánh Hòa
Ở ngoài khơi , các đáo của nước ta còn kéo dài tới tận khoảng vĩ độ 6°50’B ,
và từ khoảng kinh độ 101°Đ đến khoảng 117°20’Đ trên Biển Đông Như vậy, Việt Nam vừa gắn liền với lục địa Á –Âu , vừa tiếp giáp với Biển Đông và thông ra Thái Bình Dương rộng lớn, kinh tuyến 105°Đ chạy qua nước ta trên đại bộ phận lãnh thổ Việt Nam nằm ở khu vực múi giờ thứ 7.
Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất và toàn vẹn bao gồm vùng đất , vùng biển ,vùng trời.vùng đát Việt Nam gồm toàn bộ phần đát liền và các hải đảo ,
có tổng diện tích 331212km2 (niên giám thống kê năm 2006) nước ta có hơn 46000km đường biên giới trên đất liền , trong đó có đương biên giới Việt Nam – Trung Quốc dài hơn 1400km , đường biên giới Việt Nam –Lào dài gần 2100km và đường biên giới Việt Nam –Campuchia dài hơn 1100km Phần lớn biên giới nước
ta nằm ở khu vực miền núi , đường biên giới trên đát liền của nươc ta với các nước láng giềng được hình thành trong qua trình lịch sử , hiện nay đã được phân giới và
Trang 8đang tiến hành cắm mốc Nước ta có đường bờ biển dài 3260km , cong hình chữ S , chạy từ thi Xã Móng Cái(Quãng Ninh )ở phía Bắc đén thị xã Hà Tiên (Kiên Giang ) ở phía Tây Nam
khi nhà nước Văn Lang nhà nước đầu tiên của nước ta đén nhà nước Việt Nam ngày nay có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và biển đông ,có hệ thống giao thông đường bộ , đường biển , đường sông , đường không , bảo đảm giao lưu trong khu vực Châu Á và thế giới thuận lợi Đã từ lâu , nhiều kẻ thù luôn nhòm ngó , đe dọa và tiên công xâm lược Để bảo vệ đát nước bảo vệ sự trường tồn của dân tộc , ông cha ta đã đoàn kết và phát huy tối đa ưu thế của địa hình để lập thế trận đánh giặc
2.2.2 Kinh tế
Như chóng ta biÕt những phương pháp tiến hành chiến tranh, quá trình và
kết cục của chiến tranh phụ thuộc vào trình độ xã hội, chính trị và kinh tế của các nước tham chiến, vào trình độ phát triển khoa học, tinh thần của nhân dân và sức mạnh của các lực lượng vũ trang Nhưng các điều kiện tự nhiên và mức độ chuẩn bị vùng lãnh thổ mà ở đó có thể xảy ra các hoạt động tác chiến cũng ảnh hưởng rất quan trọng đến cuộc đấu tranh vũ trang.
Chiến tranh hiện đại là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó đụng chạm đến mọi mặt đời sống và hoạt động của cả nước cũng như của liên minh nhiều nước Nếu chiến tranh thế giới xảy ra, nó sẽ là cuộc xung đột vũ trang quyết liệt giữa hai
hệ thống xã hội đối địch trên thế giới Cuộc chiến quy mô lớn xâm lược nước ta nếu xảy ra, cũng có tính chất phức tạp và hủy hoại lớn Với tính chất của một cuộc chiến tranh như thế thì tri thức của khoa học quân sự không thể chỉ giới hạn ở những phương thức tiến hành đấu tranh vũ trang, mà khoa học quân sự còn phải quan tâm đến những khả năng chính, kinh tế, tinh thần và quân sự của các nước như của liên minh các nước, phải quan tâm đến những điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh xã hội ở các vùng có thể xảy ra tác chiến.
Một quốc gia độc lập muốn dựng nước và giữ nước thì đòi hỏi kinh tế phải phát triển Việt Nam đất nước với nền kinh tế tự cung tự cấp, sản xuất nông nghiệp
là chính, trong đó trồng trọt và chăn nuôi là chủ yếu, trình độ canh tác thấp Trong
Trang 9quá trình phát triển cha ông ta đã biết kết hợp chặt chẽ tư tưởng dựng nước phải đi đôi với giữ nước, thực hiện nhiều kế sách như “phó quốc binh cường”, “ngụ binh ư nông”.
2.2.3 Chính trị
Đất nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, không qua chế độ chiếm hữu nô lệ, phân vùng cát cứ không nhiều Do phải cùng nhau chung lưng đấu cật chống lại thiên tai, địch hoạ, các nhà nước phong kiến đã có những tư tưởng tiến bộ thân dân, những chính sách hoà hợp dân tộc đúng đắn, nên các dân tộc ít xảy ra mâu thuẫn, hận thù Các dân tộc đều sống hoà thuận, gắn bó thuỷ chung, yêu quê hương đất nước Đây là nhân tố, là cơ sở tạo nên sức mạnh đoàn kết, thống nhất dân tộc, sự cố kết cộng đồng bền vững Trong quá trình xây dựng đất nước, chúng
ta đã tổ chức ra nhà nước xác định chủ quyền lãnh thổ, tổ chức ra quân đội, đề ra luật pháp để quản lý, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các nhà nước phong kiến Việt Nam đều có tư tưởng trọng dân, đưa ra nhiều chính sách hợp với lòng dân, xác định vai trò, vị trí của quần chúng nhân dân, mối quan hệ giữa dân với nước, nước với
dân được ví như “không thể phân biệt được đâu là cá đâu là nước” nên đã động
viên và phát huy được sức mạnh toàn dân trong công cuộc xây dựng đất nước, động viên cả nước đánh giặc gìn giữ non sông Trong đánh giặc, quân và dân ta đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bất khuất, tinh thần quyết tâm cao, với ý chí quật cường sắt đá và nghị lực phi thường, luôn sáng tạo ra nhiều cách đánh hay, đánh giặc mềm dẻo khôn khéo, mưu trí sáng tạo Dân tộc ta đã chiến đấu và đánh bại nhiều kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững độc lập cho dân tộc.
2.2.4 Văn hóa – xã hội
Dân tộc ta có một nền văn hoá bản địa xuất hiện sớm, từ thời tiền sử với kết cấu bền vững có nhà, có làng, có bản, có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc, làng xã lại có một truyền thống phong tục tập quán riêng Nhưng trong quá trình lao động, đấu tranh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì các dân tộc đã vun đắp nên những truyền thống văn hóa chung như: Tinh thần yêu nước, đoàn kết, gắn bó, yêu thương đùm bọc che chở lẫn nhau, ý thức lao động cần cù sáng tạo, ý chí tự lực
tự cường, đấu tranh dũng cảm, kiên cường, bất khuất Đây là nguồn gốc sức mạnh
Trang 10của dân tộc để chống lại thiên nhiên, đánh bại mọi thế lực, mọi kẻ thù xâm lược Trong quá trình xây dựng đất nước, dân tộc ta luôn coi trọng phát triển nền văn hoá, giáo dục kiến thức hội hoạ, âm nhạc mang bản sắc truyền thống dân tộc, đồng thời không ngừng tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của nền văn hoá thế gới làm cho nền văn hóa nước ta ngày càng phong phú, đa dạng và tràn đầy sức sống
Tóm lại, Các yếu tố địa lý kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội có ảnh hưởng rất
lớn đến nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên ta Tất cả nững yếu tố đó đã không ngừng được tìm tòi và phát triển, tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc ta trong quá trình xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh bảo vệ giống nòi, giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
3 NỘI DUNG NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA TỔ TIÊN 3.1 Tư tưởng, kế sách đánh giặc
Với tư tưởng tích cực chủ động tiến công và kế sách đánh giặc mềm dẻo, khéo léo của dân tộc ta đã được các triều đại Lí, Trần, Hậu Lê và Quang Trung vận dụng một cách linh hoạt, sánh tạo, đưa quân và dân ta đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược, giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và được thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, Tư tưởng tích cực, chủ động tiến công
Lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cho
thấy: “Tư tưởng chiến lược tiến công là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đánh thắng
các đạo quân xâm lược đất nước ta”
Quan điểm quân sự của dân tộc Việt Nam cho rằng: chỉ có tiến công và tiến công một cách kiên quyết mới có thể đánh bại được kẻ thù để giải phóng đất nước
và bảo vệ Tổ quốc Và trên thực tế, các cuộc chiến tranh chống xâm lược đã giành được thắng lợi, dân tộc Việt Nam đều rất coi trọng nghệ thuật tiến công và thực hiện tiến công rất tài giỏi
Cách tiến công của chúng ta là tích cực chuẩn bị, tiến công liên tục, tiến
công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn bộ Đạt được mục tiêu tiến công là tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm thay đổi so sánh lực lượng ta và địch trên chiến trường,
thay đổi cục diện chiến tranh và ta dành thắng lợi Tư tưởng tích cực chủ động tiến
Trang 11công là chủ động giành quyền đánh giặc trên các mặt trận của dân tộc, kiên quyết
tiến công bằng sức mạnh tổng hợp toàn dân, không thụ động phòng ngự đó là yếu
tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh và là nét đặc sắc trong nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc ta Với thế cơ động tiến công từ mọi phía, hãm địch vào thế bị động lúng túng, nắm được thời cơ chuyển sang phản công, tiến công và giành thắng lợi Từ thời nhà Trần vào thế kỉ thứ XIII, trước thế mạnh của quân Nguyên - Mông, tư tưởng tích cực chủ động tiến công được thể hiện bằng việc không chấp nhận yêu sách của Chúa Nguyên, mà động viên nhân dân cả nước chuẩn bị vũ khí kháng chiến, xây dựng quyết tâm đánh giặc cao cho quân dân cả nước Với ý chí
“sát thát” thề giết giặc Nguyên - Mông Khi quân Nguyên Mông vào xâm lược
nước ta, nhà Trần đã phát huy sức mạnh toàn dân, thế trận làng nước, chặn giặc phía trước, đánh giặc phía sau, triệt phá đường tiếp tế lương thực, cô lập địch, tập trung lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và rút lui, phản công chiến lược và kết quả cả 3 lần đều đánh bại cuộc tiến công xâm lược của giặc Nguyên Mông
Đầu thế kỉ XV trước sự xâm lăng của giặc Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Với lòng yêu nước thương dân, ý chí
căm thù giặc của nghĩa quân Lam Sơn “Không đội trời chung với giặc, thề không cùng sống chung với chúng” đã chuyển thành quyết tâm đánh giặc rất kiên cường của quân sĩ dù phải “Nằm gai nếm mật vẫn bền gan chiến đấu” Thời kỳ đầu khởi nghĩa, nghĩa quân gặp muôn vàn khó khăn “Sớm tối không được hai bữa áo mặc, đông hè chỉ được có một manh, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không” Nhiều lần bị kẻ địch vây hãm, Lê Lợi đã tổ chức cuộc tiến công phá thế
bao vây phong tỏa của kẻ thù Đến năm 938 chỉ bằng một trận Ngô Quyền đã đánh tan đội thuỷ quân xâm lược của Lưu Hoằng Thao trên sông Bạch Đằng, kết thúc thời kỳ mất nước kéo dài hàng ngàn năm
Thời nhà Lý, do có nhiều chính sách, cải cách tiến bộ để xây dựng đất nước,
củng cố quốc phòng như: “khuyến nông”, “ngụ binh ư nông” (gửi quân ở dân) đã
tạo nên sức mạnh, giành quyền chủ động đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn mua chuộc lôi kéo, đe doạ, xâm lấn biên giới của kẻ thù Trước nguy cơ bị quân Tống
xâm lược, tư tưởng chỉ đạo tác chiến của nhà Lý là: “Giành quyền chủ động đánh
Trang 12trước để phá thế mạnh của giặc” Lý Thường Kiệt nói “Ngồi yên chờ giặc không bằng đem quân ra chặn trước mũi nhọn của chúng”, bằng hành động thiết thực của
mình, đích thân vua Lý Thái Tông cầm quân xuống phương Nam đánh giặc Chăm
Pa, đã phá được thế liên kết gọng kìm của kẻ thù từ hai đầu đất nước, tạo điều kiện tập trung lực lượng đánh giặc phương Bắc Cuối năm 1075 đầu năm 1076 Lý Thường Kiệt đã mở cuộc tiến công chủ động đánh sang thành Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu phá thế chuẩn bị tiến công xâm lược của quân Tống Sau đó chủ
động lui về xây dựng phòng tuyến Sông Cầu (sông Như Nguyệt) thành thế “hoành trận” để đánh giặc Tư tưởng chỉ đạo đánh giặc của quân và dân nhà Lý là kết hợp
chặt chẽ giữa phòng ngự và phản công, xây dựng lực lượng phát triển mở rộng thế trận, chủ động tiến công địch, quy mô ngày càng lớn cả bằng quân sự, chính trị, binh vận kết hợp đánh tiêu diệt địch
Khởi nghĩa Tây Sơn thế kỉ XVIII do ba anh em nhà Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo đã được nhân dân đồng lòng ủng hộ
“Anh đi theo chúa Tây Sơn
Em về cày cuốc mà nuôi mẹ hiền”
(ca dao) Lực lượng nghĩa quân ngày càng phát triển mạnh, vốn tư tưởng tích cực chủ động tiến công nghĩa quân đã giải phóng một vùng rộng lớn từ Quảng Nam đến Bình Thuận, đánh tan Chúa Nguyễn ở đằng trong, Chúa Trịnh ở đằng ngoài Nghe
tin bọn Nguyễn ánh, Lê Chiêu Thống “Cọng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về giày
mộ tổ” mở đường cho gần 3 vạn quân Xiêm và gần 30 vạn quân Mãn Thanh sang
xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ đã tổ chức cuộc hành binh thần tốc, tập trung lực lượng mạnh, đánh bất ngờ, với sự hiệp đồng giữa quân thuỷ, kỵ binh, pháo binh và voi chiến đã đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút tiêu diệt quân Mãn Thanh ở Ngọc Hồi - Đống Đa, giữ vững nền độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
Những lần đánh thắng quân xâm lược đó là những lần biểu hiện cho nghệ thuật tiến công rất tài giỏi của cha ông ta, là nét đặc sắc về tư tưởng, chủ động và kiên quyết tiến công, nghệ thuật tiến công còn gắn liền với tinh thần tích cực chủ
Trang 13động tiến công của một dân tộc nhỏ đánh thắng những kẻ thù xâm lược lớn hơn mình rất nhiều lần ở phạm trù chiến lược, nghệ thuật quân sự Việt Nam không có phòng ngự mà chỉ có tiến công, coi tiến công là tư tưởng chỉ đạo, cũng có nghĩa coi phòng ngự là tạm thời, là sách lược, là biện pháp cần thiết để tạo thế, tạo thời có lợi cho phản công Nhưng không vì thế mà dân tộc ta coi nhẹ phòng ngự vì thành luỹ
và tổ chức phòng ngự cũng là biện pháp, phương tiện tạo ra thế trận và thời cơ giống như các yếu tố khác để phát huy sức mạnh của mình, đạt tới mục đích tiến công và phản công Bằng cách đó đã chặn đứng các cuộc tiến công quyết liệt của địch để tạo thời cơ, sau đó chuyển sang phản công và tiến công đánh bại quân giặc
Trong nghệ thuật quân sự dân tộc Việt Nam, phòng ngự luôn gắn liền với tiến công và phản công Vừa chặn địch ở chính diện, vừa đánh vào bên sườn phía sau, kết hợp phản công và tiến công ngay khi đang còn phòng ngự, tìm cách bộc lộ sơ hở để ta chuyển sang tiến công hoặc phản công, đó là cách phòng ngự thế công
Thứ hai, kế sách đánh giặc
Chiến tranh là một quá trình đấu tranh vũ trang rất quyết liệt giữa hai bên tham chiến để dành ưu thế mà thắng Sự đọ sức quyết liệt ấy đòi hỏi phải có lực lượng, song nó còn gắn liền với sự đấu tranh rất gay go quyết liệt về trí tuệ của các bên tham chiến, bên nào thông minh hơn sẽ thắng Càng đọ sức quyết liệt và gay go
thì càng biểu hiện quy luật chung của chiến tranh “Mạnh được yếu thua”, mạnh
yếu tuỳ thuộc vào số lượng, chất lượng mọi người tham chiến, tranh bị vật chất kỹ thuật và nguồn lực bảo đảm các mặt cho cuộc chiến tranh đó, và còn phụ thuộc rất lớn vào tài nghệ chỉ đạo, chỉ huy của người cầm quyền cùng năng lực sáng tạo trong vận dụng nghệ thuật của người tham chiến trên chiến trường Vì vậy ai có sức mạnh hơn, thông minh hơn và sáng tạo hơn thì ngưới đó sẽ chiến thắng
Do đó kế sách đánh giặc ở đây là mưu kế, là sách lược đánh giặc của dân tộc Kế sách phải mềm dẻo, khéo léo kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và phòng ngự, quân sự với binh vận, ngoại giao tạo ra thế mạnh của ta phá thế mạnh của địch, trong đó tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định Kế sách đó được vận dụng
Trang 14linh hoạt sáng tạo cho từng cuộc chiến tranh Vì vậy mưu kế và kế sách giữ vai trò hết sức quan trọng trong nghệ thuật đánh giặc
Mưu kế trong chiến tranh tạo ra thế trận và thời cơ có lợi mà đánh thắng
địch, đó là yếu tố thế và thời trong chiến tranh do mưu kế tạo nên Trong lịch sử đấu tranh của dân tộc, nhân dân ta luôn phải đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần, chúng vừa đông lại có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn hơn Nhân dân ta đánh giặc trong điều kiện nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều, yếu chống mạnh
và thường bị quân thù bao vây về mọi phía
Từ đó mà nghệ thuật đánh giặc của cha ông ta kể từ xưa đến nay đều vì thế
mà nghĩ đến mưu kế, tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ, dành chủ động, đánh bất ngờ để
thắng địch Trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã dùng mưu trí cắm cọc nhọn bịt sắt chôn xuống lòng sông có quân mai phục tạo ra sức mạnh tổng hợp làm thế mạnh của ta dụ quân địch vào thế trận, rồi đánh quặt lại chúng lúc thuỷ triều rút nước xuống để tiêu diệt địch Đây là nghệ thuật tạo, nắm thời cơ Sự thông minh, sáng tạo trong chiến tranh là biểu hiện trước hết ở mưu kế hay và khéo léo Mưu hay kế sâu không chỉ biểu hiện ở phạm trù chiến lược mà còn biểu hiện rất rõ ở phạm trù chiến dịch, chiến đấu trong nghệ thuật quân sự của dân tộc ta Có mưu hay kế khéo thì các trận đánh lớn, nhỏ cũng như tác chiến đều cho phép ta với lực lượng ít hơn, có thể đánh thắng được một đối thủ có lực lượng đông và vũ khí trang
bị kỹ thuật mạnh hơn Mưu hay kế khéo có thể buộc địch đánh theo cách đánh của
ta, biến địch từ tiến công thành bị tiến công, quá trình giao chiến buộc địch bộc lộ
ra những sơ hở để ta chủ động và bất ngờ đánh thắng
Trước thế giặc Nguyên - Mông đang mạnh, mưu lược đánh gặc của quân dân
thời Trần là: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, nơi hiểm yếu của kẻ thù “Nguyên binh nhuệ khí đang hứng kíp đánh chẳng bằng kiên thủ chờ suy” Quân dân thời
Trần vừa chặn đánh vừa rút lui từng bước, kết hợp với tổ chức cho toàn dân lập
kế“thanh dã” (làm vườn không nhà trống) với đánh phá nhỏ lẻ ở phía trước, bên
sườn phía sau Quân dân ta đã đẩy quân Nguyên vào thế cùng lực kiệt tiến thoái lưỡng nan Lúc đó ta mới tập trung lực lượng, chuyển sang phản công kiên quyết, tiến công liên tục, lập nên chiến thắng vang dội ở Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương
Trang 15Dương ba lần đem quân xâm lược Đại Việt, đạo kị binh thiện chiến Nguyên Mông đã từng chinh phục khắp lục địa Âu- á đã bị đánh bại Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thời kỳ đầu khởi nghĩa, so sánh lực lượng ta yếu hơn địch, nhưng tổ tiên ta đã sử dụng nhiều kế sách đánh giặc rất mềm dẻo và vô cùng khôn
-khéo Nghĩa quân Lam Sơn thì dùng kế “Bên ngoài giả thác hoà thân” để “bên trong lo rèn chiến cục” Nghĩa quân lại dùng mưu: “Hoà hoãn với Chúa Trịnh ở đằng ngoài, để tập trung lực lượng đối phó với Chúa Nguyễn ở đằng trong” Nhờ
có nghệ thật khôn khéo đó mà ta đã tránh được sự đánh phá rất quyết liệt của kẻ thù, đưa phong trào khởi nghĩa phát triển mạnh mẽ trong công cuộc giải phóng dân tộc Có mưu hay kế khéo không những tiêu diệt được nhiều địch phá huỷ được nhiều phương tiện chiến tranh, lấy được tranh bị vũ khí phương tiện của địch để dùng cho ta, làm cho ta càng đánh càng mạnh, mà một vấn đề quan trọng hơn nữa
là ta đã đánh bại được những chủ trương biện pháp, thủ đoạn, tác chiến quan trọng của địch, làm cho địch quân đông mà không dám dùng, còn lực lượng tinh nhuệ mà không dám sử dụng để thi thố tài năng vào đúng nơi và đúng lúc
Mưu đồ của địch từ đó mà đi tới chỗ dần dần suy sụp, càng đánh càng bị thua đau đớn, thiệt hại của chúng càng lớn hơn, tác động tinh thần đối với chúng còn nguy hại nhân lên gấp bội, dẫn đến ý chí tinh thần của chúng bị lung lay, âm mưu xâm lược bị nứt rạn, mâu thuẫn tăng lên cuối cùng bị tan vỡ Mưu kế trước hết
là lừa địch, tìm cách điều địch để phá thế địch mà tiêu diệt địch
Trần Hưng Đạo nói “Đời xưa người giỏi dùng binh ý muốn như thế mà không là như thế, nay thì ý muốn không như thế cho nên làm như thế, khiến họ lại ngờ là ý muốn như thế Đó là phép tinh vi để phá quân, bắt tướng Cái làm chỉ là cái bóng, làm mà không nghĩ thế chỉ là cái bóng trong cái bóng mà thôi - như hai cái gương trao đổi nhau, thực là huyền ảo mà không huyền ảo”
Ngoài ra mặt trận ngoại giao cũng gĩư vai trò hết sức to lớn Thời Trần đánh thắng giặc Nguyên - Mông đã mở mặt trận tiến công ngoại giao, buộc chúa Nguyên
phải công nhận xâm phạm quốc cảnh “Đại việt” để ta thả 5 vạn tù binh về nước
Trang 16Nghĩa quân Lam Sơn, Tây Sơn dùng kế sách “hoà hoãn” tránh sức mạnh
ban đầu của giặc để xây dựng lực lượng phát triển thế trận, sau đó mới mở các cuộc tiến công ngày càng lớn
Từ đó cho thấy tư tưởng chỉ đạo đánh giặc của nhân dân ta phải dành, giữ vững quyền chủ động, liên tục tiến công địch Nhưng tuỳ theo điều kiện của từng cuộc chiến tranh, so sánh lực lượng ta và địch, để tìm ra cách đánh thích hợp tiêu diệt chúng Kế sách đánh giặc của nhân dân ta rất mềm dẻo, khôn khéo, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận, ngoại giao tạo ra thế mạnh của ta, phá thế mạnh của địch, đánh bại chúng, trong đó tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định
3.2 Toàn dân là binh cả nước đánh giặc
Đây là nghệ thuật về tổ chức, sử dụng lực lượng, động viên tinh thần, phát huy sức mạnh, cách đánh giặc theo sở trường của từng người, từng lực lượng, mỗi
bản làng, thôn xóm trên cả nước tạo thành sức mạnh toàn dân là binh cả nước đánh giặc
Toàn dân là binh, cả nước đánh giặc là nghệ thuật đánh giặc truyền thống độc đáo, sáng tạo của dân tộc ta, là chiến thuật chiến tranh nhân dân toàn dân đánh giặc, nó được thể hiện trong cả khởi nghĩa vũ trang, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc
Thắng lợi của nhân dân ta chống kẻ thù xâm lược trong lịch sử đều do biết
tiến hành chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh toàn dân là binh, cả nước đánh giặc mà nội dung thực chất là nghệ thuật quân sự dựa vào dân, lấy dân làm gốc để
tiến hành chiến tranh Nó mang tính truyền thống của nghệ thuật quân sự Việt Nam, nó đã trở thành nguyên lý sâu sắc nhất để tiến hành giành thắng lợi khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng suốt hàng ngàn năm lịch sử
- Cơ sở phát động toàn dân đánh giặc
Các cuộc chiến tranh mà nhân dân ta tiến hành đều là chiến tranh yêu nước chính nghĩa để bảo vệ Tổ quốc hoặc giải phóng dân tộc, đây là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy toàn đân hăng hái tham gia, nhà nhà hưởng ứng, người người đứng lên đánh giặc cứu nước Dân tộc ta có truyền thống đoàn kết, yêu nước,
Trang 17thương nòi, ý chí đấu tranh kiên cường bất khuất, tinh thần quyết đánh quyết thắng quân xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc
Từ xa xưa, nhân dân ta đã biết đứng lên chống giặc ngoại xâm, biết dựa vào sức lực của chính mình, tạo ra sức mạnh đoàn kết và kiên trì đấu tranh lâu dài, cuối cùng dành được thắng lợi, mở đầu cho trang sử chống ngoại xâm rất vẻ vang của dân tộc Lực lượng chủ yếu ấy là những người dân của các bộ tộc, bộ lạc được huy động ra đi làm dân binh để chiến đấu Với trang bị vũ khí lúc ấy vừa bằng tre, gỗ, vừa bằng sắt, đồng, đá Tre, gỗ, đá dùng làm gậy gộc, mũi tên, lao và đá ném; sắt đồng làm ra giáo, mác, rìu, lao
Những trang bị ấy thường ngày là những phương tiện lao động sản xuất, săn bắn thú rừng để sinh sống, đồng thời cũng là vũ khí chiến đấu chống giặc khi cần thiết Sức mạnh đó là sức mạnh dựa vào sự đoàn kết của các bộ tộc chống ngoại xâm để bảo vệ dân tộc, bảo vệ giống nòi
Lực lượng vũ trang nhiều thứ quân để thực hiện “trăm họ là binh, toàn dân đánh giặc” Do có bước phát triển tiến bộ về tư tưởng, tổ chức xây dựng đất nước,
củng cố quốc phòng, các nhà nước phong kiến Đại Việt đã gắn chặt dân với nước,
nước với dân, tạo cơ sở vững chắc cho nghệ thuật đánh giặc “toàn dân vi binh, cử quốc nghênh địch” thời chiến đã có bước phát triển quan trọng, ảnh hưởng lớn đến
quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam
Trải qua bao nhiêu thế hệ, dân tộc Việt Nam với khí phách anh hùng ngày càng nảy nở và phát triển, đã kiên quyết liên tục đứng lên chống ngoại xâm, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, bảo vệ quyền sống của mình trên mảnh đất quê hương
- Nội dung nghệ thuật phát huy sức mạnh toàn dân là binh, cả nước đánh giặc.
Thứ nhất, tổ chức động viên lực lượng
Là tổ chức động viên toàn dân, mọi nhà, mọi người đều đánh giặc, “trăm họ
là binh, cả nước đánh giặc” tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc Với truyền
thống yêu nước nồng nàn, tự lập tự cường, anh dũng bất khuất gắn liền với ngọn cờ
đại nghĩa chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước “nhân dân ta đã sớm có ý thức gắn quyền lợi của Tổ quốc với quyền lợi của gia đình và bản thân, gắn bó nước với
Trang 18nhà, làng với nước trong mối quan hệ keo sơn bền chặt”, “nước mất nhà tan”, câu
nói đó đã có từ lâu đời cho nên mỗi khi có giặc xâm lược thì mọi người đều đồng
lòng đứng dậy chống giặc để giữ nước, giữ nhà “Cả nước chung sức đánh giặc đó
là truyền thống quân sự của dân tộc Việt Nam”
Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, các nhà nước phong kiến Đại Việt đã tổ chức sử dụng lực lượng vũ trang cùng nhân dân biên giới, đánh bại mọi
âm mưu thủ đoạn mua chuộc lôi kéo, kích động của kẻ thù, giữ vững biên cương của Tổ quốc, các địa phương còn tích cực tổ chức lực lượng, động viên nhân dân chủ động xây đồn luỹ, chuẩn bị vũ khí sẵn sàng đánh giặc
Thời nhà Lý đã động viên hàng trăm vạn dân tham gia lập nên thế “hoành trận” để đánh giặc ở sông Cầu (sông Như Nguyệt) Do cũng chuẩn bị tốt lực lượng,
thế trận nên quân dân địa phương vùng Lạng Sơn, Cao Bằng cùng quân đội triều đình sang đất Tống để phá thế tiến công chuẩn bị trước của giặc Sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân với khí thế tiến công ngày càng mạnh đã trở thành nhân tố rất quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và bảo tồn dân tộc
Thời nhà Trần tổ chức hội nghị “Diên Hồng”, cùng nhân dân bàn cách đánh
giặc sau hội nghị cả nước dấy lên phong trào đánh giặc lập công Tiêu biểu là đội dân binh người Tày ở Lạng Sơn do Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chỉ huy cùng một bộ phận quân triều đình liên tục chặn giặc trong nhiều ngày đêm Đội quân gia
nô của Nguyễn Địa đã chém chết tên phản bội Trần Kiệm ngay trên mình ngựa trước cửa Chi Lăng Lực lượng dân binh ở Tây Bắc do Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương đã chặn đánh kiên quyết liên tục quân Nguyễn ở Thu Vạt, Bạch Hạc khi tiến công địch ở Nam Thăng Long, lực lượng dân binh, quân các lộ phủ của Trần Thống, Nguyễn Khả Lạp đã phối hợp với quân triều đình đánh giặc lập nên chiến công ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương
Chiến thắng Vạn Kiếp có công to lớn của Hoài Văn Hầu, Trần Quốc Toản
- người đã tổ chức chặn đánh quyết liệt ở sông Như Nguyệt buộc quân Nguyên phải đi vào đúng thế trận của ta Trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng được nhân dân đồng lòng, quyết tâm ra sức ủng hộ Trần Quốc Toản, đã giàn thế trận hiểm, kết hợp với tài nghi binh lừa địch của dân binh địa phương, ta đã bắt gọn
Trang 19quân giặc, bắt sống nhiều tướng giặc như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Trích Lê Cơ Ba lần xâm lược Đại Việt, cả 3 lần đều thất bại dưới quân và dân ta, làm cho kẻ thù khiếp sợ không dám xâm phạm Thắng lợi của dân tộc ta đã góp phần làm suy yếu thế lực của đế quốc Mông Cổ, làm thất bại âm mưu biến nước ta thành bàn đạp để mở rộng xâm lược xuống các nước Đông Nam á Đó là những cống hiến quan trọng có ý nghĩa lớn lao của dân tộc ta đối với cuộc chiến tranh của các dân tộc Châu á chống xâm lược và thống trị của đế quốc Nguyên - Mông hồi thế kỉ XIII
Khởi nghĩa Lam Sơn với mục tiêu “kéo cùng dân ra khỏi lầm than”, quân
khởi nghĩa được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ phát triển lên thành cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc Khi đánh giặc, quân khởi nghĩa đi đến đâu cũng “chật đất người theo”, nghĩa quân đánh giặc ở đâu nhân dân ở đó nổi dậy hưởng ứng Quân
Lam Sơn tiến quân vào Nghệ An, Tân Bình, Thanh Hoá người trẻ gia nhập nghĩa quân, người già cũng tham gia đánh giặc, chỉ riêng Trà Lân đã có hơn 5000 thanh niên được tuyển vào quân đội Khi tiến quân ra Bắc Bộ, cả đồng bằng vùng lên đánh giặc, chiến thắng Tốt Động, Chúc động, Đông Quan, Chi Lăng đều có dân
binh và nhân dân trong vùng giúp sức mà sử sách còn ghi “Hào kiệt các lộ ở kinh
đô và nhân dân các lộ, phủ, huyện tấp nập kéo đến cửa quân hết sức liều chết đánh thắng giặc ở các xứ” Sau mười năm chiến đấu bền bỉ, gian khổ và ngoan cường,
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng dân tộc Thắng lợi của cuộc chiến thật là oanh liệt, toàn diện và triệt để đã đập tan hoàn toàn
ý chí xâm lược nước ta của nhà Minh, đất nước được giải phóng và nền độc lập dân tộc nhờ đó mà được bảo đảm gần 4 thế kỉ (đầu thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII) không bị nạn ngoại xâm, phong kiến phương Bắc đe doạ
Dưới chế độ hà khắc và ngột ngạt của họ Nguyễn, nhân dân ta từ lâu đã tích chứa nhiều bất mãn oán giận và căm thù Phong trào đấu tranh của nhân dân đàng trong có nổ ra chậm hơn đàng ngoài nhưng mỗi khi bùng nổ thì lại rất mạnh mẽ và kiên quyết Từ đó cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, nghĩa quân tiến công vào đàng trong được nhân dân hết lòng ủng hộ đánh tan chúa Nguyễn, tiêu diệt quân Xiêm tiến quân ra đàng ngoài tiêu diệt luôn cả Chúa Trịnh, thống nhất đất nước.
Trang 20Trước họa xân lược của giặc Thanh, mùa xuân năm 1789 Quang Trung cấp tốc mở cuộc hành binh ra Bắc, chỉ dừng lại Nghệ An có 10 ngày mà đã có hàng vạn thanh niên tình nguyện gia nhập nghĩa quân Trong các trận quyết chiến ở Ngọc Hồi, Khương Thượng, Thăng Long có sự giúp đỡ phối hợp của nhân dân, nghĩa quân đã
có “luỹ mộc” để cản phá hoả lực của Hứa Tế Hanh lập thành “trận rồng lửa” (hoả
long trận) quân vây kín bốn mặt thành, đánh tan hàng vạn quân của Sầm Nghi Đống, Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp vượt cầu phao nhằm hướng Bắc mà chạy
Trong các cuộc chiến tranh này, ngoài lực lượng quân sự thì dân chúng cũng tham gia trực tiếp chống giặc bằng nhiều hình thức rất phong phú, ra sức hỗ trợ về mọi mặt để đánh thắng kẻ thù Đối với đất nước ta, trước nạn xâm lược thường xuyên đe dọa của kẻ thù, các vị lãnh tụ luôn biết dựa vào dân, coi việc chăm lo súc mạnh của nhân dân làm nền tảng cho việc giữ nước và giải phóng đất nước Hình thức chiến tranh nhân dân sớm xuất hiện, không những kế thừa được phong trào đấu tranh có tính chất quần chúng rộng rãi với truyền thống anh hùng bất khuất đã
có từ xa xưa, mà còn phát triển lên một trình độ mới rất cao, lập nên những kỳ tích vang dội với những chiến công hiển hách Hình thức tổ chức lực lượng quân sự lúc này bao gồm ba thứ quân (quân cấm của triều đình, quân các lộ các địa phương và dân binh) ngày càng hoàn thiện, gồm bộ binh, thuỷ quân và các loại hình binh chủng khác Tổ tiên ta đánh thắng địch không chỉ ở miền rừng núi, trung du mà ở
cả đồng bằng, trên sông nước và ngoài cửa biển Đánh thắng giặc Tống, Nguyên, Minh, Xiêm, Thanh đã chứng minh sức mạnh toàn dân trong nghệ thuật đánh giặc
“toàn dân là binh cả nước đánh giặc”, điều đó được nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn khẳng định “Sở dĩ nước ta thắng được giặc ngoại xâm qua nhiều thời đại là do ta biết đồng lòng đánh giặc, cả nước chung sức…”, ngược lại thời Hồ dựng nước và giữ nước theo tư tưởng “ích kỉ phi gia”, “để trong nước lòng dân oán hận” vì thế dù cho Hồ Quý Ly có xây thành cao, đắp được luỹ dày thì khi chiến tranh xảy ra mà “dân không theo” cũng dẫn đến thất bại thảm hại, làm cho
đất nước bị đô hộ kéo dài hàng ngàn năm
Trang 21Thứ hai, Với sức mạnh“toàn dân là binh, cả nước đánh giặc” đã hình thành nên thế trận đánh giặc độc đáo, sáng tạo ra nhiều cách đánh đạt hiệu quả cao
Trong quá trình đánh giặc, quân và dân nước Đại Việt đã khéo léo vận dụng
kết hợp chặt chẽ giữa mưu, kế, thế, thời, lực để tạo ra sức mạnh của ta đánh phá,
làm suy yếu hạn chế thế mạnh của địch trên phạm vi chiến lược và chiến đấu tiêu diệt chúng Thế trận của ta là kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương (thế của các
lộ, các vương hầu xưa kia, thế bộ đội địa phương và quân du kích) với thế trận chiến tranh bằng hoạt động tác chiến của quân chủ lực (du quân của triều đình) là thế trận chiến lược của các lực lượng vũ trang kết hợp với các lực lượng chính trị triển khai trên các địa bàn xung yếu và kết hợp chặt chẽ với nhau hãm địch vào thế không có lợi
Thời nhà Lý do tạo được thế bất ngờ chủ động đánh trước phá được thành lũy của giặc ở hai đầu đất nước đã làm đảo lộn kế hoạch xâm lược của kẻ thù Trong trận tiến công thành Ung Châu, tướng giặc Tô Giám thúc quân phòng thủ chống trả quyết liệt Quân ta đã sử dụng cách đánh vừa vây hãm vừa công thành, trong đột phá ta sử dụng hoả công, thang mây (vân thê) để nhập thành, đào hầm qua chân thành, dùng bao đất xếp thành bậc cao đưa quân vào thành đánh phá Khi lui về phòng thủ đất nước, quân dân tổ chức thành hai tuyến chặn giặc Tuyến trước
do quân các lộ, phủ cùng dân binh địa phương bố trí lực lượng dọc các tuyến đường
bộ và đường sông mà địch tiến công, dựa vào thế hiểm trở của núi rừng, sông suối, đèo ải để chặn đánh giặc Tuyến sau dựa vào thế núi, thế sông ta xây dựng chiến luỹ dài hàng trăm dặm, cao mấy thước; ở Nam sông Như Nguyệt, phía trước đóng cọc tre dày đặc với nhiều hầm chông Lực lượng bố trí có quân bộ, quân thủy cùng với dân binh tại chỗ có cả thế phòng và thế công tạo nên thế trận vững chắc, có cả chính diện, chiều sâu và trọng điểm phát huy sức mạnh, sở trường của các lực lượng, chặn giặc ở phía trước, tiến đánh giặc ở phía sau, hãm địch vào thế bất lợi để
ta chuyển sang phản công Trong tiến công, quân ta lại dùng kế “dương Đông kích Tây”, tổ chức những trận tập kích bất ngờ làm cho quân Tống không kịp chống đỡ
tổn thất rất nhiều Kết hợp với đòn tiến công ngoại giao, dân tộc ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Tống Thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng
Trang 22chiến trước hết là kết quả của một bước phát triển vượt bậc của dân tộc ta mọi mặt
về tinh thần, vật chất và tổ chức Sau hơn một thế kỉ giành được độc lập (thế kỉ X),
do sự lớn mạnh đó quân dân thời Lý đã tiến hành cuộc kháng chiến với tinh thần chủ động, tư thế đạp lên đầu kẻ thù, khí phách hiên ngang và ý thức sâu sắc về quyền bất khả xâm phạm của dân tộc, làm chủ đất nước và vận mệnh của mình
Thời Trần, quân dân ta đã lợi dụng địa hình, địa vật phát huy sức mạnh quân thuỷ bộ, quân các lộ, phủ cùng nhiều lực lượng dân binh tại chỗ chặn đánh địch từng bước Quân ta còn chủ động rút lui chiến lược phối hợp đánh phá mạnh mẽ ở phía trước bên sườn, phía sau bằng đòn quân sự, binh vận triệt phá quân lương để tiêu hao hạn chế thế mạnh ban đầu của giặc Quân dân thời Trần còn lập kế nghi binh, bí mật cơ động lực lượng làm cho kị binh Nguyên - Mông càng truy đuổi càng không đánh được đối phương mà lực lượng ngày càng tiêu hao mệt mỏi Quân dân ta đánh tan được ý đồ đánh lớn, tiến công hợp vây từ nhiều hướng mũi của kẻ thù, bảo vệ được lực lượng, lập được thế trận nhân dân thời Trần đã hãm được giặc
Nguyên vào thế “Bị treo lơ lửng” làm cho chúng sức cùng lực kiệt (xưa kia quân kị
binh Mông Cổ rất cơ động, giỏi đánh ngoài thành luỹ, trên đồng nội đã phát huy được cao độ sở trường của chúng trên nhiều chiến trường từ á sang Âu” Nhưng trước những cách đánh sáng tạo, mưu mẹo của quân ta, sự gắn bó giữa quân chủ lực triều đình với quân địa phương trong thế trận liên hoàn, quân Mông Cổ đã không phát huy được cách đánh sở trường như chúng muốn; Nguyên Sử đã thừa
nhận trên đất nước Đại Việt “Quân và ngựa Nguyên - Mông đã không thể thi thố được tài năng nào” Tướng giặc là Thoát Hoan phải lệnh cho Toa Đô đóng quân lại
ở Trường Yên để kiếm lương thực Lập được thế trận, tạo được thời cơ; quân dân thời Trần chuyển sang phản công trên cả 3 hướng chiến lược, tiêu diệt cả hai tập đoàn quân của Thoát Hoan và Toa Đô Để tiêu diệt cụm quân Thoát Hoan ở Thăng Long nhà Trần đã phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính binh của Trần Quang Khải với lực lượng kị binh của Trần Quốc Tuấn cùng lực lượng dân binh tại chỗ tạo nên sức mạnh đánh tan quân giặc ở A Lỗ, Giám Khẩu, Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương giải phóng Thăng Long, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn
chạy về nước Đó thực sự là cách đánh “Phàm chiến đấu lấy đạo chính để hợp, lấy
Trang 23đạo kỳ để thắng, chính kỳ biến hoá khôn cùng vậy” Trong vòng 30 năm (1258
-1288) dân tộc ta đã 3 lần đương đầu với những đạo quân xâm lược khét tiếng của
đế quốc Mông Cổ đang chiến thắng khắp trên thế giới Mỗi lần xâm lược, quy mô
và mức độ của chiến tranh lực càng lớn, ác liệt hơn, nhưng mỗi lần kháng chiến, dân tộc ta lại càng kiên cường, sáng tạo, chiến thắng lại càng vẻ vang hơn
Khởi nghĩa Lam Sơn, nghĩa quân đã phát huy thế mạnh của chiến tranh giải phóng dân tộc, sức mạnh của toàn dân, vận dụng cách đánh vây hãm thành, đánh
quân cứu viện Với tư tưởng “Giặc đông ta ít, lấy ít đánh đông, chỉ ở nơi đất hiểm mới được công” ta thực hiện “nhử người đến chứ không để người nhử đến” trong
trận Chúc Động, Tốt Động
Sau chiến thắng Ninh Kiều, nghĩa quân Lam Sơn được tăng cường cả về số lượng cũng như chất lượng và trang bị vũ khí Trên cơ sở đó nghĩa quân tiếp tục vây hãm thành Đông Quan và các thành luỹ nằm sâu bên trong hậu phương của ta (như thành Nghệ An, Diễn Châu, Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh ) còn những thành luỹ nằm trên hai đường tiếp viện của địch từ Vân Nam và Quảng Tây đến Đông Quan (Như thành Điêu Diêu, Thị Cầu, Xương Giang, Khâu Ôn, Tam Giang ) thì nghĩa quân chủ trương kiên quyết tiêu diệt địch cho kỳ hết trước khi viện binh của nhà Minh kéo sang Đặc biệt trong giai đoạn này, công tác vận động và thuyết phục
kẻ thù được đẩy mạnh nhằm hỗ trợ cho cuộc tiến công bằng quân sự Đúng như dự kiến của ta, Vương Thông tập trung 9 vạn binh, sử dụng hai mũi chính kỳ vây chặt
Cao Bộ nhằm tiêu diệt quân khởi nghĩa Nắm được ý đồ của giặc “tương kế tựu kế”, “nhanh chóng như thần máy then đóng mở” (Nguyễn Trãi) quân ta lợi dụng
địa hình hiểm trở lập thế trận mai phục, chặn địch ở Cao Lỗ, khoá đuôi cắt địch ở Ninh Kiều, dồn quân Minh xuống cánh đồng Tốt Động, Chúc Động để tiêu diệt; đúng như dự kiến đến canh năm địch tiến công lên Cao Bộ; tướng Đinh Lễ cho pháo ở nơi yếu hại lừa địch, nghe tiếng pháo Vương Thông lầm tưởng cánh quân
kỳ đã đánh phía sau Cao Bộ, liền xua quân đi tắt vào Cao Bộ Khi quân địch đã qua cầu, toàn bộ quân Minh lọt vào trận địa mai phục của ta Từ 3 phía quân ta xông ra thả sức chém giết, quân địch bị hãm vào đầm lầy người ngựa vướng vào nhau không sao chống cự được, tướng Trần Hiệp tử trận, tổng chỉ huy Vương Thông bị
Trang 24thương, quân chết vô kể, cánh kị binh vội tháo chạy qua cánh đồng Chúc Động lại
bị rơi vào trận địa mai phục của ta quân số chết quá nửa Sau mười năm chiến đấu bền bỉ, gian khổ và ngoan cường cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng dân tộc
Trong khởi nghĩa Tây Sơn, nghĩa quân đã sử dụng kế sách tác chiến “Nghi binh thăm dò”, đưa một bộ phận linh thuyền ra phía trước tiến đánh một số trận tập kích thăm dò rồi bỏ chạy, mặt khác sai người đàm phán với tướng Xiêm “xin” rút
binh làm cho địch càng chủ quan gây được mối nghi ngờ trong nội bộ của chúng, phía ta có thêm thời gian chuẩn bị chiến đấu Chúng lầm tưởng lực lượng Tây Sơn nhỏ yếu, nên quân Xiêm - Nguyễn lợi dụng lúc nước cường, gió chướng, đêm ngày
8 tháng chạp năm Giáp Thìn (18/01/1875) đưa toàn bộ thuyền binh từ Trà Tân tiến thẳng đến Mỹ Tho, để tiêu diệt quân Tây Sơn Nắm được ý định của giặc, quân Tây Sơn tổ chức thế trận phục kích trên sông Tiền Giang tập trung lực lượng tiêu diệt quân địch trên đoạn Rạch Gầm - Xoài Mút Tận dụng địa hình kín đáo, hiểm trở quân Tây Sơn bí mật bố trí thuyền binh chặn đánh đầu, khoá đuôi, hãm địch trong khu quyết chiến tập trung lực lượng ở hai bên bờ và cù lao Thới Sơn đánh tạt sườn quân giặc Khoảng đầu canh năm ngày 19/01/1785 gần 400 thuyền binh của giặc lọt vào thế trận chiến đấu ta đã bày đặt sẵn Bằng một thế trận chiến đấu hiệp đồng thuỷ, bộ, pháo, Tây Sơn đã tiêu diệt gọn 5 vạn quân Xiêm - Nguyễn Từ đó quân
Xiêm “Sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”, vua Xiêm phải thừa nhận tướng Xiêm “Ngu hèn, kiêu căng hung hãn đến nỗi bại trận” làm “Bại binh nhục quốc” Nghệ thuật
đánh giặc tài giỏi của quân Tây Sơn còn được thể hiện trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Thanh Trước thế mạnh của giặc, lại có lực lượng tay sai
Lê Chiêu Thống dẫn đường, quân Tây Sơn ở Bắc Hà không nhiều, Ngô Thì Nhậm
nói “Phép dùng binh chỉ có một đánh, một giữ mà thôi ” Tướng sĩ Tây Sơn đã tìm
ra cách đánh “Lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tuỳ theo tình thế mà bày ra chước lạ” Quân Tây Sơn quyết định rút về giữ vùng
đất hiểm ở Tam Điệp, Bỉm Sơn để bảo toàn lực lượng, không bỏ mất mũi tên, cho chúng ngủ nhờ một đêm rồi lại đuổi đi Nhận được tin quân giặc vào Thăng Long, Quang Trung tổ chức cuộc hành binh thần tốc ra Bắc Hà, biết được quân Thanh
Trang 25đang dựa vào quân đông, tướng nhiều, xem thường đối phương, nói “Quân Tây Sơn như cá chậu chim lồng còn chút hơi thừa thoi thóp không đáng nói đến” Trước tình hình đó, quân ta dùng kế “kích tướng” đẩy quân giặc vào thế chủ quan,
ít đề phòng, sai người mang thư đến Tôn Sỹ Nghị “để xin hàng”, làm cho quân
Thanh càng mất cảnh giác, xem thường ta Tôn Sỹ Nghị ra lệnh cho Quang Trung
“Hãy rút quân về Thuận Hoá để chờ phân xử”, truyền lệnh cho quân sỹ “Nghỉ mười ngày để cùng vui đón xuân” Tận dụng sai lầm đó của giặc, quân Tây Sơn lập
kế hoạch, tổ chức lực lượng tiến công chiến lược đánh địch trên cả 5 hướng Cách đánh: Bí mật cơ động, triển khai lực lượng nhỏ, hình thành thế bao vây, vu hồi chia
cắt, đồng loạt tiến công chính diện, hẹp, chiều sâu lớn Tập trung lực lượng mạnh, đột kích vào các cụm quân lớn của giặc ở Ngọc Hồi, Khương Thượng (Đống Đa), Thăng Long Bị bất ngờ trước cách đánh nhanh hiểm ở phía trước, bên sườn, phía sau của nghĩa quân Tây Sơn, quân Thanh không kịp chi viện cho nhau, quân Tây Sơn đã thọc sâu tiến thẳng tới cung Tây Long Tại bản doanh, Tôn Sỹ Nghị đang lo lắng theo dõi mặt trận phía Nam để sẵn sàng điều quân đi tiếp viện Bỗng nhiên hắn được tin cấp báo đồn Khương Thượng bị tiêu diệt, hắn đang hoảng hốt chưa kịp đối phó thì đạo quân của Đô đốc Long đã tràn vào thành Thăng Long như một mũi tên lao thẳng vào bản doanh của hắn Hắn khiếp sợ đến nỗi không kịp mặc áo giáp và đóng yên ngựa, vội vàng cùng với toán quân kị binh hầu cận vượt cầu phao tháo chạy trước Quân Thanh tan vỡ tranh nhau tìm đường chạy trốn, Tôn Sỹ Nghị ra lệnh cắt cầu phao để cản đường truy kích của quân Tây Sơn Do hành động tàn nhẫn của hắn, hàng vạn quân Thanh bị bỏ xác dưới sông Hồng Tôn Sỹ Nghị và bọn tàn quân chạy trốn một cách thảm hại Khắp nơi trên đường chạy trốn, chúng bị chặn đánh tơi bời và bị tiêu diệt gần hết, số sống sót phải luồn rừng, lội suối theo đường tắt trốn về nước Bại tướng Tôn Sỹ Nghị cũng phải vứt bỏ tất cả sắc thư ấn tín để lo chạy thoát thân, theo lời kể của một viên quan chạy theo Tôn Sỹ Nghị:
“Tôi và Tôn Sỹ Nghị đói cơm khát nước không kiếm ra đâu được, ăn uống cứ phải
đi suốt bảy ngày bảy đêm mới đến chốn Nam Quan” Bằng một cuộc hành binh thần tốc đánh giặc mưu trí sáng tạo chỉ trong thời gian ngắn, nghĩa quân Tây Sơn
đã quét sạch gần 30 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi nước ta
Trang 26Từ đó cho thấy: Nghệ thuật đánh giặc mưu trí sáng tạo của dân tộc ta là giành giữ vững quyền chủ động trong cả công và phòng Trong đánh giặc phải linh hoạt sử dụng mưu kế để lừa địch, tạo lợi thế, tận dụng thời cơ để tập trung lực lượng đánh địch Ta thắng địch là thắng địch ở chỗ khôn khéo như Nguyễn Huệ nói
“Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo”
Một nước nhỏ bị một nước lớn đang lúc cường thịnh chinh phục và nô dịch, lại có thể tự giải phóng hoàn toàn bằng những chiến thắng quân sự hết sức lẫy lừng trong một thời gian ngắn như vậy, thì đó là một sự kiện hiếm có trong thời đại bấy giờ Điều đó chứng tỏ rằng vào thế kỉ XX dân tộc Việt Nam đã là một dân tộc trưởng thành, có ý thức dân tộc sâu sắc, có sức sống phi thường và năng lực sáng tạo phong phú Đó là một dân tộc đã có hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, một dân tộc anh hùng và không một thế lực xâm lược nào có thể khuất phục nổi.
Trang 273.3 Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh
- Cơ sở xác định:
Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh xuất phát
từ điều kiện thực tiễn chiến tranh ở nước ta Một nước đất không rộng, người không nhiều, luôn phải chống lại nhiều kẻ thù lớn mạnh, chúng có lực lượng quân đội, trang
bị vũ khí, kinh tế lớn hơn ta rất nhiều lần Đó là vấn đề tưởng chừng như không thể trong cuộc đối đầu giữa một quốc gia nhỏ bé với những kẻ thù lớn mạnh Tuy thế nhưng lịch sử Việt Nam chứng minh được rằng kẻ địch dù có đến từ đâu, lớn mạnh
cỡ nào ta cũng tìm cách tiêu diệt chúng Trong binh pháp người việt, kỹ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh đã trở thành nghệ thuật quân sự.
Trong các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của dân tộc, nghệ thuật quân sự Việt Nam có nhiều sáng tạo và linh hoạt, phù hợp với tương quan lực lượng giữa địch và ta để định ra phương thức sử dụng lực lượng phù hợp với tình hình đặc điểm của từng cuộc chiến tranh Lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta mỗi
thời một khác nhưng đều để lại truyền thống “Biết địch, biết ta trăm trận không nguy”, nghệ thuật sử dụng lực lượng trên cơ sở đánh giá địch một cách chính xác,
từ so sánh lực lượng và phân tích thế địch, thế ta, dự báo hình thái đôi bên sẽ diễn biến trên chiến trường từ đó đưa ra phương thức để đánh địch Đánh giá so sánh lực lượng địch ta là nghệ thuật quân sự của dân tộc để vận dụng quan điểm tổng hợp không chỉ dựa vào số lượng quân đội, vũ khí, phương tiện mà còn xem xét toàn diện: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá, vật chất và tinh thần, số lượng và chất lượng, điều kiện thế giới và trong nước có liên quan đồng thời không chỉ nhìn trước mắt, ban đầu, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của mỗi bên để định ra hình thức và phương thức cho phù hợp Do đó, đối với một dân tộc nhỏ bé như chúng ta nếu không biết lựa sức mình thì không bao giờ có thể đánh bại được kẻ thù hùng mạnh.
Vì thế chủ động bất ngờ là mạch sống tác chiến trong nghệ thuật quân sự của dân tộc ta
- Nội dung tiến hành
Trong quá trình dựng nước và giữ nước thế kỉ X đến thế kỉ XVIII, nghệ thuật
đánh giặc dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh đã có bước
phát triển mới, được vận dụng rất linh hoạt trong chiến tranh, chiến lược và chiến đấu Quân dân ta kết hợp rất chặt chẽ mưu, kế, thế, thời, lực để nâng cao sức mạnh
Trang 28chiến đấu đạt hiệu quả đánh tan mọi âm mưu, thủ đoạn Thời nhà
Trần, sử dụng cách đánh giặc: “Dĩ đoản chế trường”, lực lượng quân đội chỉ có 20
vạn, nhà Trần đã động viên nhân dân cả nước tham gia đánh giặc Trong đánh giặc quân dân đã kết hợp chặt chẽ giữa đánh giặc phía trước với tiến công ở phía sau, bằng cả đòn quân sự, kinh tế, binh vận, ngoại giao, giỏi sử dụng mưu kế lập được thế trận, tạo được thời cơ, quân dân thời Trần chuyển sang phản công kiên quyết, tiến công liên tục, ba lần đánh bại quân Nguyên, lần cao nhất chúng sử dụng tới 50 vạn quân Khởi nghĩa Tây Sơn, khi quân Thanh xâm lược nươc ta, Nguyễn Huệ đem mười vạn quân mở cuộc hành binh thần tốc, bất ngờ tiến công mạnh, đánh liên tục cả phía trước bên sườn phía sau, chỉ trong 5 ngày đánh tan 29 vạn quân Thanh, cùng 2 vạn tàn quân Lê Chiêu Thống Trong trận Khương Thượng, Đống Đa, ta có một vạn quân vận dụng cách đánh bất ngờ táo bạo, bao vây chặt, tiến công nhanh tiêu diệt 3 vạn quân của Sầm Nghi Đống, thọc sâu vào cung Tây Long tiêu diệt một vạn quân của Tôn Sỹ Nghị
Tuy vậy trong chiến đấu, khi cần thiết tổ tiên ta cũng đã tập trung lực lượng lớn tạo ưu thế để đánh bại kẻ thù Trận đánh vận động ở Bến Đông năm 1258, Trần Hưng Đạo đã tập trung lực lượng ngang bằng với lượng binh Nguyên -Mông, đánh bại chúng Trận công thành Xương Giang, Lê Lợi tập trung 5 nghìn quân, tiêu diệt
2 nghìn quân Minh Trận Ngọc Hồi, Quang Trung sử dụng tới 2 trăm voi chiến, gần hết pháo binh, đánh tan lực lượng phòng ngự ngăn chặn của Hứa Thế Hanh
Qua đó cho thấy nghệ thuật dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh là nghệ thuật đánh giặc độc đáo, sáng tạo của dân tộc ta Đòi hỏi các
nhà lãnh đạo, chỉ huy phải có tài thao lược, biết động viên, phát huy sức mạnh toàn diện, vận dụng cách đánh phải tạo ra được nhiều lợi thế hơn kẻ thù, để tiêu diệt chúng Trong đánh giặc nếu ta chưa tạo được lợi thế hơn địch, thì nhất thiết phải tập trung binh lực mạnh để đánh thắng chúng Nó đã trở thành nét đặc sắc trong nghệ thuât đánh giặc truyền thống của dân tộc ta
3.4 Nghệ thuật kết hợp đấu tranh giữa các mặt trận quân sự chính trị, ngoại giao, binh vận
Nghệ thuật chiến tranh nhân dân của dân tộc ta là giải quyết mối quan hệ
giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, binh vận, địch vận và các mặt đấu tranh khác trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu
Trang 29dài Vì vậy sự kết hợp giữa các mặt đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao và đấu tranh binh vận trong chiến tranh là nét điển hình trong nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên ta
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược, Trần Hưng Đạo đã sử dụng mâu thuẫn giữa người Hán và người Mông Cổ trong đạo quân Nguyên đi xâm lược lôi kéo người dân tộc Hán về phía mình để chống lại quân Nguyên Vì thế Triệu Trung, một viên tướng người Hán trong đạo quân Nguyên đã
ra hàng và tham gia đạo quân của ta do tướng Trần Nhật Duật chỉ huy, đánh tan đạo quân tiên phong của Toa Đô trong trận Hàm Tử
Tiêu biểu nhất là trong cuộc chiến tranh thời Lê, Nguyễn Trãi đã đặt vấn đề chính trị, ngoại giao, binh vận, địch vận lên một vị thế rất cao, tiến hành một cách
có hệ thống và kiên nhẫn, trở thành chiến lược “Đánh vào lòng người” Hàng vạn
tên địch đã phải hạ vũ khí xin hàng, cuối cùng làm tan rã về tổ chức và tinh thần của một đạo quân xâm lược to lớn
Quang Trung trong trận đánh đồn Hạ Hồi tiêu diệt một căn cứ của địch ở Thường Tín (Nam Thăng Long) đã không tốn một mũi tên, một viên đạn nào vì ông
đã dùng mưu kế binh vận, địch vận uy hiếp tinh thần binh lính địch làm chúng hoang mang lo sợ xin đầu hàng Thế trận đó gắn bó ba mặt của cuộc tiến công
(quân sự, chính trị, ngoại giao và binh vận) hình thành ba mũi giáp công trong cả
phạm trù chiến lược, nghệ thuật, chiến dịch, đánh địch cả phía trước, phía sau và trong địch, làm cho địch không những bị tổn thất về lực lượng, vật chất (người và của) mà còn suy sụp về tinh thần, đẩy quân xâm lược vào thế bị tiến công triền miên ở mọi nơi mọi lúc, trên đất nước ta và của đất nước của chúng Không những
đã tác động đến tinh thần, ý chí chiến đấu của địch trên chiến trường mà còn tác động mạnh mẽ đến gia đình, vợ con binh lính của chúng ngay trên đất nước chúng
Trong chiến tranh, đấu tranh quân sự là điều diễn ra rất tất yếu, và có tính quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cuộc chiến tranh Phải tổ chức thực hành các phương thức tác chiến, huy động lực lượng đánh giặc, thực hiện các hình thức, thủ đoạn chiến đấu rất linh hoạt sáng tạo, tiêu diệt nhiều sinh lực địch tạo lợi thế cho các mặt trận khác Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã chỉ ra rằng: nhân dân
ta luôn phải đối chọi với những kẻ thù mạnh hơn ta về mọi thứ, âm mưu của chúng rất nham hiểm, xảo quyệt Muốn đánh thắng, làm chúng hoàn toàn thất bại về ý đồ
Trang 30xâm lược của chúng thì phải đánh thật mạnh, tiêu diệt nhiều binh lực, phá huỷ nhiều phương tiện vật chất của chúng mới làm cho chúng suy yếu mà đi tới thất bại Song mặt khác phải tìm cách khoét sâu nhược điểm, yếu điểm của quân xâm lược về mặt tinh thần thì thắng lợi của ta mới trọn vẹn, giảm bớt được thương vong tổn thất to lớn với ta Đấy chính là nghệ thuật phải biết dựa vào thế mạnh, thế thắng
của ta mà làm công tác chính trị binh vân, ngoại giao Thế mạnh của ta là yếu tố chính nghĩa, thế thắng của ta là thế trận chiến tranh nhân dân Dựa vào hai thế đó
và kết hợp một cách chặt chẽ giữa các mặt trận để giành thắng lợi trong chiến tranh.
Đánh giặc đến xâm lược đất nước mình, tất yếu là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, là thế mạnh về chính trị của nhân dân ta Phát huy cao độ yếu tố chính nghĩa của chiến tranh chống xâm lược đánh vào quân xâm lược phi nghĩa Dân tộc
ta luôn tìm cách làm rõ mục đích chiến đấu chống quân xâm lược, phân biệt rõ tính chất chính nghĩa của ta và tính chất phi nghĩa của chiến tranh xâm lược, tạo ra sự nhất trí của nhân dân ta, lôi kéo được những phần tử trong binh lính địch đứng vào trong hàng ngũ của ta chống lại quân xâm lược, thu hút sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trong nước và trên thế giới
Bên cạnh đó mặt trận ngoại giao cũng rất được chú trọng, ngày càng phát triển và trở thành một mặt trận phối hợp hiệu quả với đấu tranh quân sự, chính trị, đánh mạnh vào ý chí xâm lược của kẻ thù, làm sáng tỏ giá trị nhân văn quân sự của
ta Ngoại giao đã tích cực, chủ động, luôn giương cao ngọn cờ vì hoà bình, độc lập dân tộc, kiên trì kết hợp đấu tranh chính trị, tập trung làm rõ chính nghĩa của ta, vạch trần những âm mưu thủ đoạn và tội ác của kẻ thù
Xuất phát từ tư tưởng “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo”, đây là một nội dung mang bản chất chính nghĩa trong nghệ thuật tác
chiến kết hợp với binh vận, địch vận, nó thể hiện tính nhân đạo sâu sắc trong truyền
thống dân tộc “đánh người quay đi, không đánh người trở lại”, có nghĩa rằng đối
với binh lính địch đã bị bắt làm tù binh hoặc đã đầu hàng thì ta luôn có chính sách đối xử tử tế với họ
Lịch sử đã chứng tỏ rằng, phát huy được tính nhân đạo trong nghệ thuật tác chiến, kết hợp với binh vận, địch vận không những tác động đến tinh thần binh lính địch mà còn tác động đến phong trào phản chiến trên đất họ, thành quả đem lại hết sức rõ ràng
Trang 31Kết hợp giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, binh vận, địch vận với đấu tranh ngoại giao, tiến công địch toàn diện đã thể hiện tính độc đáo sáng tạo, vô cùng phong phú và linh hoạt Nghệ thuật kết hợp cần phải luôn nắm chắc thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận, địch vận làm cơ sở và thế mạnh cho tiến công ngoại giao phát triển Điểm nổi bật ở đây không chỉ là phát triển đấu tranh quân sự ở mức cao mà còn là sự hình thành và phát triển khá hoàn thiện một nghệ thuật đấu tranh chính trị đặc sắc, làm cho chính trị không chỉ là nền tảng cơ bản của cuộc chiến tranh mà còn là phương thức tiến công địch có hiệu lực cao, trực diện tiến công địch trên chiến trường Chính trị trong chiến tranh của ta là chính trị quân
sự, còn quân sự của ta là quân sự chính trị Nghệ thuật tiến hành chiến tranh hay nhất, đạt hiệu lực chiến lược lớn nhất của ta là nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân
sự, đấu tranh chính trị, binh vận và đấu tranh ngoại giao Những bài học kinh nghiệm ấy vẫn giữ nguyên giá trị trong thời đại mới, thời đại xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay
Trang 32CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC GIAI ĐOẠN 1954 - 1975
1 Nghệ thuật quân sự Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo
Kế thừa, phát triển nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, nghệ thuật quân sự Việt nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã không ngừng phát triển, gắn liền với hai thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ mà quan trọng nhất là kháng chiến chống Mỹ đã đưa non sông ta thu về một mối thống nhất nước nhà Nghệ thuật quân sự Việt Nam đã phát triển qua các thời kì phát triển của lịch sử với đỉnh cao của sự thao lược quân sự cộng với các nhà quân sự tài ba đã lam cho nghệ thuật đánh giặc của nước ta từ xưa tới đại thắng mùa xuân 1975 đã đat tới một nghệ thuật đáng tự hào mà ngày nay nó vẫn còn nguyên giá trị.
* Cơ sở hình thành nghệ thuật quân sự Việt Nam
- Truyền thống đánh giặc của tổ tiên
Trải qua mấy nghìn năm chống giặc ngoại xâm, nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta đã hình thành và không ngừng phát triển, trở thành những bì học vô giá cho các thế hệ sau Nhiều tư tưởng quân sự kiệt xuất như : “Binh thư yếu lược”, “ Hổ trướng khu cư”; những trận đánh điển hình như: Như nguyệt, Chi Lăng, Ngọc Hồi, Đống Đa đã để lại những kinh nghiệm quý giá Kinh nghiệm truyền thống đó là
cơ sở để toàn Đảng, toàn dân ta kế thừa, vận dụng, phát triển trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vả trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
- Chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội và bao vệ Tổ quốc
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động Học thuyết chiến tranh, quân đội, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và kinh nghiệm nghệ thuật quân sự được đúc rút qua các cuộc chiến tranh do C Mác, Ph Ănghen, V.I.Lênin tổng kết,
là cơ sở để Đảng vận dụng, định ra đường lối quân sự trong khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng ở Việt Nam.
- Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là sự tiếp thu, kế thừa truyền thống đánh giặc của tổ tiên, vận dụng lí luận Mác - Lênin về quân sự, kinh nghiệm của các
Trang 33nước trên thế giới vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã từng biên dịch “Binh pháp Tôn Tử” viết về “ kinh nghiệm
du kich Tàu”, “du kich nga” phát triển nguyên tắc chiến đấu tiến công, chiến đấu phòng ngự qua các thời kì đấu tranh cách mạng Hồ Chí Minh và Đảng ta đã
đề ra phương châm chỉ đạo chiến tranh, phương thức tác chiến chiến lược, nắm bắt đúng thời cơ, đưa chiến tranh Việt Nam kết thúc thắng lợi.
2 NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH NHÂN DÂN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC GIAI ĐOẠN 1954 - 1975
2.1 Cơ sở hình thành nghệ thuật chiến tranh nhân dân
Khi bàn về chiến tranh nhân dân, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng, và ăng ghen khẳng định: “Một dân tộc muốn giành độc lập cho mình thì không được giới hạn trong những phương thức thông thường
để tiến hành chiến tranh Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội
du kích ở khắp nơi đó là những phương thức duy nhất, nhờ đó cả một dân tộc nhỏ
có thể chiến thắng ” Ông nhấn mạnh: “Trong chiến tranh, thắng lợi và thất bại đề
rõ ràng là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào nhân lực và vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của dân cư và cả kỹ thuật nữa” Lênin cho rằng: “Ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, có nhiều nguồn lực hơn,
ai đứng vững được trong quần chúng nhân dân hơn thì người ấy sẽ dành được thắng lợi trong chiến tranh”
Từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930, tại hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 (từ ngày 27 - 29/9/1947), lần đầu tiên quan điểm chiến
tranh nhân dân đã được Đảng ta đề cập với tên gọi ban đầu là “quần chúng chiến tranh” Từ đây quan điểm chiến tranh nhân dân là quan điểm cơ bản trong đường
lối quân sự của Đảng; sức mạnh của chiến tranh nhân dân là ưu thế tuyệt đối của nhân dân ta để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược Quan điểm của Đảng về chiến
tranh nhân dân: “Chiến tranh nhân dân phải do toàn dân tiến hành, chủ yếu là nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Vì nhân dân lao động có một tinh thần kiên quyết và bền bỉ, vì giai cấp công nhân là giai cấp triệt
Trang 34để cách mạng nhất Rõ ràng chiến tranh nhân dân là do toàn dân tiến hành vì những quyền lợi cơ bản của nhân dân dưới sự lãnh đạo của chính Đảng, của giai cấp công nhân” Như vậy chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh do đông đảo
quần chúng nhân dân tiến hành vì lợi ích nhân dân, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của giai cấp tiến bộ, đấu tranh với địch một cách toàn diện bằng mọi hình thức Mục đích chính trị của chiến tranh nhân dân càng triệt để, sự lãnh đạo càng đúng đắn thì lực lượng tham gia càng đông đảo, mạnh mẽ, sức mạnh
và nghệ thuật của chiến tranh nhân dân, tạo điều kiện cho các dân tộc nhỏ có thể đánh thắng những kẻ thù xâm lược có quân đội lớn mạnh hơn
Quan điểm chiến tranh nhân dân của Chủ Tịch Hồ chí Minh thể hiện rõ ràng
nhất trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân, cứu nước”
Với những kinh nghiệm đã đạt được trong các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược, mà nhất là trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thiên anh hùng ca bất hủ trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trong cuộc đụng đầu lịch sử ấy, quân và dân ta đã đánh hàng ngàn trận,
mở hàng chục chiến dịch lớn đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn, chiến lược, chiến dịch của kè thù Qua từng giai đoạn, qua từng chiến dịch nét đặc sắc và sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam được thể hiện một cách rõ ràng nhất Quy luật chiến tranh của nhân dân ta trước đây là quy luật phát triển từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều, từ yếu thành mạnh, phát triển từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, càng đánh càng mạnh; đến giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, lực lượng vũ trang 3 thứ quân là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân đã có những bước phát triển vượt bậc, tạo ra bước phát triển mới của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân phong phú, sáng tạo, đã phát huy cao nhất sức mạnh của toàn dân đánh giặc một
Trang 35cách toàn diện, rộng khắp với mọi hình thức tổ chức và đấu tranh thích hợp Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân đó khiến địch đông mà hóa thiếu, có sức mạnh lớn mà không phát huy được tác dụng, có sở trường mà không thi thố được, bị sa lầy trong biển lửa của toàn dân, lúng túng và bị động trong một kiểu chiến tranh không biết đâu là tiền tuyến đâu là hậu phương, một kiểu chiến tranh xen kẽ triệt để chiến tranh nhân dân đủ khoét sâu vào những mâu thuẫn cố hữu của bất cứ một đội quân xâm lược nào, đó là mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung, giữa phòng ngự và tiến công, giữa đánh nhanh và đánh kéo dài làm cho lực lượng và phương tiện của địch ngày càng hao mòn, ý chí xâm lược ngày càng sa sút sức mạnh của chiến tranh nhân dân đã chứng tỏ nét đặc sắc và độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam Mà đặc biệt là chiến thắng lịch sử 30/4/1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất nước nhà Bắc - Nam sum họp Cuộc kháng chiến cứu nước toàn thắng đã để lại cho chúng ta những bài học vô cùng quý giá về phương pháp cách mạng, nghệ thuật quân sự, văn hóa quân sự Việt Nam Từ dấu son chói lọi này, lịch sử dân tộc bước sang một trang mới, cả nước thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
2.2 Nội dung cơ bản của nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 – 1975
2.2.1 Chiến lược quân sự chiến tranh nhân dân
Chiến lược quân sự là lý luận, thực tiễn chuẩn bị cho đất nước, lực lượng vũ trang nhằm ngăn ngừa và sẵn sàng tiến hành chiến tranh, lập kế hoạch chuẩn bị và tiến hành chiến tranh Chiến lược quân sự là bộ phận hợp thành và là bộ phận quan trọng nhất, có tác dụng chủ đạo trong nghệ thuật quân sự
Trang 36Chiến lược quân sự đó được thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất: Việc xác định đúng kẻ thù của cách mạng và đối tượng tác chiến
Trong chiến tranh việc xác định đúng kẻ thù của cách mạng và đối tượng tác chiến là vấn đề tối quan trọng của chiến lược quân sự và rất phức tạp Từ đó đưa ra đối sách và phương thức đối phó có hiệu quả nhất Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta
núp dưới chiêu bài “bảo vệ thế giới tự do”, rêu rao “thương lượng hoà bình”, giả
dối nguỵ trang nhằm lừa bịp nhân dân và dư luận
Sau khi phân tích kẻ thù, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định và chỉ rõ kẻ thù mới của dân tộc ta là đế quốc Mỹ và tay sai với chích sách xâm lược thực dân kiểu mới của chúng, sớm vạch ra một cách đúng đắn chiến lược cách mạng, phải tiến hành đồng thời trên hai miền Nam - Bắc, thống nhất đất nước
Ta đã khẩn trương ổn định, củng cố được miền Bắc làm căn cứ địa vững chắc, làm trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng cả nước Đó là nhân tố vô cùng quan trọng trước khi cả nước ta bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước
Thứ hai: Đánh giá đúng kẻ thù
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phân tích đánh giá đúng mặt mạnh, mặt yếu của từng kẻ thù Qua từng giai đoạn, đế quốc Mỹ lại có những thay đổi về chiến lược, chiến thuật, làm cho chúng ta luôn phải biết nhìn nhận đánh giá đúng tình hình, đề ra các giải pháp nhằm khắc phục Giai đoạn 1961 đến giữa năm 1965,
đế quốc Mỹ sử dụng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” Trước tình hình đó trên cơ
sở thế và lực mới do phong trào đồng khởi tạo ra, Đảng ta chủ trương chuyển cách mạng giải phóng miền nam lên giai đoạn mới
Giai đoạn 1965 - 1968 đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
đưa quân viễn Chinh Mỹ vào tham chiến trên quy mô lớn ở miền nam, đẩy mạnh chiến tranh phá hoại, bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Chúng ta đã dự kiến sớm và đúng xu hướng phát triển của chiến tranh, nên có sự chủ động chuẩn bị đối phó Do đó trước sự thay đổi chiến lược và bước leo thang chiến tranh mới, Mỹ đưa hàng chục vạn quân ồ ạt vào miền Nam, dùng hàng ngàn máy bay, hàng chục tàu chiến lớn đánh phá miền Bắc, ta đều chủ động đối phó và đánh thắng bước đi chiến lược mới của Mỹ
Trang 37Đánh giá đúng so sánh lực lượng địch, từ khi Mỹ đưa mấy chục vạn quân ồ
ạt vào miền Nam; Kiên định quyết tâm đánh Mỹ, giữ vững và thực hành chiến lược tiến công và kịp thời xác định quyết tâm trực tiếp đánh quân viễn chinh Mỹ với chủ trương chiến lược kết hợp phản công với tiến công, chỉ đạo đánh thắng Mỹ ngay những trận đầu, chiến dịch đầu, thời kỳ đầu
Giai đoạn từ năm 1969 đến tháng 1 năm 1973, thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, tập đoàn Ních Xơn vừa từng bước đưa quân Mỹ ra khỏi
miền Nam và ra sức củng cổ và tăng cường Ngụy quân, Ngụy quyền; vừa xuống thang chiến tranh, vừa phản công và tiến công rất quyết liệt Chúng tập trung hầu hết các lực lượng, thực hiện liên tiếp các kế hoạch bình định, mở hàng vạn cuộc hành quân càn quét, sử dụng phương thức chiến tranh rất hiện đại kể cả vũ khí hoá học, chiến tranh điện tử và không quân chiến lược Nhưng cuối mùa xuân 1970 nhất là hai năm 71 - 72 ta đã có nhiều nhận định đúng, quyết định đúng, kịp thời và sắc bén là kiên quyết trong hành động phản công và tiến công tạo chuyển biến cục diện chiến trường, cục diện chiến tranh
Giai đoạn từ năm 1973 đến tháng 4 - 1975 trong mấy tháng đầu (từ tháng 2 đến tháng 4 - 1973) sau Hiệp định Pa riscó hiệu lực sự chỉ đạo của ta có nhiều thiếu sót như không quán triệt chủ trương chủ động đối phó với hành động phá hoại Hiệp định, lấn chiếm và bình định của Mỹ - Ngụy để gây cho ta nhiều thiệt hại, mất dân, mất đất nước ở một số vùng Song thiếu sót trên không kéo dài và cũng chưa ảnh hưởng đến cục diện chiến lược Ta đẫ phát hiện kịp thời và ra sức khắc phục nên đã nhanh chóng chuyển thế chiến trường ngay từ giữa năm 1973
Do vậy qua từng giai đoạn lịch sử, kẻ địch luôn có sự thay đổi chiến lược khó lường, đòi hỏi chúng ta phải nhận định và đánh giá đúng kẻ thù đồng thời đưa
ra các phương pháp xử lý đúng đắn, đem đến thắng lợi vẻ vang cho quân và dân ta.
Thứ ba: Nghệ thuật mở đầu và kết thúc chiến tranh đúng lúc
Nghệ thuật mở đầu cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam bằng cuộc khởi nghĩa Đồng Khởi vĩ đại, chuyển thành chiến tranh cách mạng Ta chủ động mở đầu cuộc chiến tranh bằng chính trị và khởi nghĩa bộ phận, đánh vào khâu yếu nhất của địch hồi đó là chính quyền cơ sở tạo ra thế và lực tại chỗ, đẩy địch vào cuộc khủng
Trang 38hoảng triền miên bị động về cả chính trị, ngoại giao, quân sự ngay từ đầu Nghệ thuật kết thúc chiến tranh của ta là đẩy Mỹ ra, tạo điều kiện đánh sập toàn bộ Ngụy quân, Ngụy quyền miền Nam Tiến hành chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị chiến trường, tạo thế tạo lực và nắm thời cơ mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy với tinh thần quyết chiến, táo bạo bất ngờ và chắc thắng
Nghệ thuật chiến tranh của ta là biết mở đầu đúng lúc, biết đánh lâu dài, giành thắng lợi từng bước tạo những bước chuyển biến lớn của chiến tranh Chúng
ta cũng đã biết kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến hợp với thời cơ lịch sử, có lợi nhất cho cách mạng nước ta và thế giới
Truyền thống đó biểu hiện tài thao lược của các lãnh tụ đất nước trong chỉ đạo chiến tranh và trực tiếp cầm quân đánh giặc, vừa biết đoàn kết toàn dân, phát động nhân dân vùng dậy để tiến hành chiến tranh toàn dân, bất ngờ và chắc thắng đồng thời không ngừng biết mở đầu đúng lúc mà còn kết thúc một cách thích hợp
có lợi nhất cho nhân dân và đất nước
Thứ 4: Phương châm tiến hành chiến tranh
Về chỉ đạo chiến lược chúng ta tiến hành đánh lâu dài vì đất nước của chúng
ta luôn phải chống chọi với những kẻ thù lớn mạnh Đánh lâu dài lấy thời gian làm lực lượng, chuyển hoá sức mạnh trong chiến tranh, nắm thời cơ đánh đòn quyết định Đánh lâu dài không đồng nghĩa với việc kéo dài vô thời hạn cuộc chiến tranh
“trường kỳ mai phục” mà phải biết chọn thời điểm kết thúc cuộc chiến tranh càng
sớm càng tốt Từ đánh giá tình hình sát đúng, có quan điểm chủ trương và biện pháp bám trụ phù hợp, vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân vào việc phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng với phương thức sáng tạo, vận dụng đồng bộ các biện pháp đấu tranh, từng bược tạo thế tạo lực, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ tiến lên giành thắng lợi cuối cùng
Thứ năm: Phương thức tiến hành chiến tranh
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc rộng khắp với tinh thần quyết chiến quyết thắng, đấu tranh sáng tạo và độc đáo, đưa cách mạng vượt qua mọi khó khăn tưởng chừng không khắc phục nổi, từng bước tiến lên, đưa chúng đến chỗ thất bại
Trang 39là ý chí kiên cường bất khuất, quyết tâm trụ bám thực hiện khẩu hiệu “một tấc không đi, một ly không rời” dựa hẳn vào dân, lấy dân làm gốc “Đảng bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch” Làm cho thế trận chiến tranhnhân dân
ngày càng vững chắc, địch không thể phá nổi
2.2.2 Nghệ thuật chiến dịch
Chiến dịch là tổng thể các trận chiến đấu (trong đó có những trận chiến đấu then chốt) có tác động liên quan đến nhau chặt chẽ, diễn ra trong một không gian, thời gian nhất định, dưới quyền chỉ huy thống nhất của một bộ phận, nhằm hoàn thành những nhiệm vụ do chiến lược vạch ra Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã có trên 50 chiến dịch được thực hiện Sự hình thành và phát triển chiến dịch - Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ được thể hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất: Loại hình chiến dịch
Trên cơ sở chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch Việt Nam luôn phát triển cả chiều rộng và chiều sâu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Chúng ta đã tổ chức và thực hiện nhiều loại hình chiến dịch như:
Chiến dịch tiến công: Thành công trong vận dụng, phát triển cách đánh
chiến dịch của ta là đã dự kiến, chuẩn bị nhiều phương án tác chiến để tiêu diệt địch trên đường bộ và trên không Tận dụng địa hình, lập thế trận tiến công vững chắc,
cơ động biến hoá Dù trong tình huống nào cũng giành quyền chủ động tiến công tiêu diệt địch Trong tiến công, ta tập trung lực lượng, phương tiện trên những hướng chủ yếu theo phương án tác chiến, tạo ưu thế về lực lượng, đồng thời vận dụng linh hoạt nhiều hình thức chiến thuật (vận động tiến công, đánh đổ bộ đường không, vận động phục kích, tập kích ) kết hợp nhiều thủ đoạn chiến đấu (chốt chặn, chia cắt, thọc sâu, bám sát, đánh gần) để hạn chế hoả lực, khoét sâu chỗ yếu
sợ đánh gần của quân Mỹ; đánh thắng trận then chốt chiến dịch, đánh gẫy từng cánh quân địch làm đảo lộn ý chí tiến công của chúng, buộc địch từ chủ động tiến công sang bị động đối phó, chịu thất bại và rút lui
Chiến dịch phản công ta kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự, ngăn chặn với cơ
động tiến công Bước phát triển về cách đánh chiến dịch thời kỳ này so với thời kỳ
Trang 40kháng chiến chống Pháp là ta sử dụng lực lượng vũ trang tại chỗ để ngăn chặn các mũi tiến công đường bộ của bộ binh, xe tăng, thiết giáp địch, kết hợp với cơ động tiến công tiêu diệt quân đổ bộ đường không trong căn cứ Đồng thời sử dụng một
bộ phận cơ động tiến công vững và lớn vào bên sườn phía sau quân địch, cùng lực lượng vũ trang địa phương bẻ gẫy các hướng tiến công chủ yếu, quan trọng của quân Mỹ
Chiến dịch phòng ngự ta xác định đúng thời điểm, chủ động chuyển vào
phòng ngự (chiến dịch cách đồng Chum) xây dựng các trận địa chính diện có chiều sâu hợp lý, có khả năng bám trụ dài ngày, giảm thương vong, tổn thất cho lực lượng phòng ngự
Kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự tích cực, vững chắc, ngoan cường với liên tục phản kích và các trận phản đột kích; kết hợp các hình thức vận động tiến công, tập kích, phục kích sau lưng địch của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương dân quân
du kích Đánh địch trên nhiều hướng đồng thời tập trung đánh gẫy cánh quân tiến công chủ yếu của địch Có lực lượng dự bị, kịp thời bổ sung quân số, vũ khí, trang
bị Trong phòng ngự có phòng ngự trận địa, phòng ngự kết hợp chốt và vận động, cùng các hình thức chiến thuật khác
Chiến dịch tiến công tổng hợp, phương thức hoạt động chủ yếu là kết hợp
đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị trên quy mô chiến dịch kết hợp chặt chẽ với chiến dịch và chiến thuật giữa tấn công quân sự của chủ lực và lưc lượng vũ trang địa phương với nổi dậy của quần chúng và công tác binh vận
Thứ hai: Quy mô chiến dịch
Về số lượng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nghệ thuật chiến dịch được
phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Trong chiến dịch Hồ Chí Minh (1975) ta huy động 4 quân đoàn và đoàn 232 (tương đương quân đoàn), tổng cộng
có 15 sư đoàn, 2 lữ đoàn, 3 trung đoàn; Bộ binh - pháo binh: 20 lữ đoàn, trung đoàn
và 8 tiểu đoàn; xe tăng thiết giáp, 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn; Đặc công biệt động: 6 trung đoàn, 4 tiểu đoàn, một số đại đội độc lập và 60 tổ biệt động Ngoài ra còn có các đơn vị binh chủng như: Cao xạ, công binh, thông tin, trinh sát,