1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật quân sự việt nam từ thế kỷ II trước công nguyên đến thế kỷ x

12 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề TàiNghệ thuật quân sự Việt Nam từ thế kỷ II trước Công Nguyên đến thế kỷ X Bài Làm Trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc từ khi các Vua Hùng mở nước Văn Lang, dân tộc Việt Nam bắt

Trang 1

Đề Tài

Nghệ thuật quân sự Việt Nam từ thế kỷ II trước Công Nguyên đến thế kỷ X

Bài Làm

Trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc từ khi các Vua Hùng mở nước Văn Lang, dân tộc Việt Nam bắt đầu dựng nước và giữ nước, do yêu cầu tự vệ chống giặc ngoại xâm và yêu cầu làm thủy lợi của nền kinh tế nông nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến sự hình thành nhà nước trong buổi đầu lịch sử của nước

ta

Nhà nước Văn Lang là nhà nước đầu tiên của nước Việt Nam, vị trí địa lí quan trọng và lãnh thổ khá rộng bao gồm cả vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, nằm ỏ bắn đảo Đông Dương phía Đông Nam Châu Á

Bản đồ nước Văn Lang.

Văn minh Văn Lang hay con gọi là văn minh sông Hồng, văn minh Việt

cổ, văn minh Đông Sơn là nên văn minh bản địa của người Việt, tồn tại sớm nhất trên đất Việt Nam, nó cũng là cái gốc của nền văn minh Đại Việt sau nay,là thành quả đáng tự hào của thời Hùng Vương

Về địa lí: Nước ta có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á

và biển Đông, chúng ta có hệ thống giao thông đường bộ, đường sông, đường biển, đường không bảo đảm giao lưu trong khu vực Châu Á và thế giới thuận

Trang 2

lợi Đã từ lâu nhiều kẻ thù đã nhòm ngó, đe dọa và tiến công xâm lược nước ta nhưng ông cha ta đã đoàn kết và phát huy tối đa ưu thế để lập thế trận đánh giặc giành thắng lợi cho dân tộc

Về kinh tế: Nền kinh tế của Việt Nam là tự cung, tự cấp, sản xuất nông nghiệp là chính, trình độ canh tác thấp, trồng trọt, chăn nuôi là chủ yếu, trình độ phát triển thấp ảnh hưởng một phần không nhỏ đến nghệ thuật đánh giặc của dân tộc Dựng nước phải đi đôi với giữ nước, vì vậy trong thời kỳ đầu dựng nước của dân tộc, ông cha ta đã biết củng cố quốc phòng để sẵn sàng đánh giặc giữ

nước, thực hiện nhiều kế sách như “phú quốc, binh cường” và “ngụ binh ư nông”…

Về chính trị văn hóa – xã hội:

Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống hòa thuận đoàn kết, dân tộc ta đã sớm xây dựng được nhà nước, xác định chủ quyền lãnh thổ, tổ chức ra quân đội để cùng toàn dân đánh giặc ,xây dựng bảo vệ đất nước, xây dựng nền văn hóa truyền thống: đoàn kết, yêu nước thương nòi, sống hòa thuận, thủy chung, lao động cần cù, sáng tạo, đấu tranh anh dũng kiên cường bất khuất Chúng ta đã xây dựng được nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với kết cấu vững chắc Đất nước bao gồm làng, xã, thôn, bản có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi làng, xã , thôn, bản đều có phong tục tập quán riêng

Các yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên

ta, nó không ngừng phát triển và đã tạo thành sức mạnh cho dân tộc trong chiến tranh bảo vệ và xây dựng lãnh thổ chủ quyền quốc gia của tổ quốc

Nghệ thuật quân sự trong cuộc khởi nghĩa chiến tranh giữ nước đầu tiên của dân tộc từ thế kỷ III đến thế kỷ X

Cuộc kháng chiến chống Tần (từ năm 214 – 208 trước công nguyên) là cuộc chiến tranh đầu tiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, thiết lập nhà nước quân chủ chuyên chế , năm 214 trước công nguyên, đã phát động

Trang 3

50 vạn quân xâm lược do tướng Đồ Thư chỉ huy để thôn tính các tộc Việt ở phía Nam Trước sức mạnh của kẻ thù, tổ tiên ta đã có phương thức đánh giặc hợp lí

đó là người Việt ngày ẩn, đêm hiện, tiến hành cuộc chiến tranh du kích lâu dài

Cuộc chiến đấu mưu trí dưới sự lãnh đạo của Thục Phán đã làm cho quân Tần lương thực bị tuyệt và thiếu “đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong” khi quân giặc đã bị dồn vào tình trạng căng thẳng, nguy khốn đến tuyệt vọng, nhân cơ hội quân địch đang suy thoái người Việt đã phản công đánh lớn và giành thắng lợi

Mũi cung ten thời An Dương Vương.

Sau khi chiến thắng quân Tần, An Dương Vương quyết định xây thành Cổ Loa nhằm củng cố thêm khả năng phòng thủ quân sự Tục truyền rằng thành xây nhiều lần đều đổ Sau khi có thần Kim Quy hiện lên, bò đi bò lại dưới chân thành Thục phán An Dương Vương bèn xây theo dấu chân rùa vàng Từ đó thành xây không đổ nữa, An Dương Vương cũng phát triển thủy binh và cho chế tạo vũ khí lợi hại, tạo lợi thế quân sự vững chắc cho Cổ Loa

Trang 4

Thành Cổ Loa.

Không lâu sau Triệu Đà từ Nam Hải, sang đánh Âu Lạc nhờ vào sự chuẩn

bị tốt nên , An Dương Vương đã giành thắng lợi, không chinh phục được Âu Lạc Triệu Đà xin cầu hòa rồi cầu hôn công chúa Mị Châu cho con trai tên là Trọng Thủy và cho xin ở rể âm mưu tìm cách lấy bí mật quân sự gây mâu thuẫn nội bộ triều đình làm suy yếu lực lượng quân sự của Âu Lạc nhân cơ hội đó Triệu Đà đã cho quân xâm lược, An Dương Vương bị thất bại

Kẻ từ khi An Dương Vương thất bại năm 179 trước công nguyên cho đến năm 938 sau khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, lịch

sử ta đã kéo dài một nghìn năm Bắc thuộc Trong suốt chiều dài lịch sử đó, không biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa đứng lên dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, chính giai đoạn này nghệ thuật khởi nghĩa đã hình thành với các cuộc nghĩa lớn nhỏ, khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân Đông Hán năm 40, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng nhân dân ta đứng lên khởi nghĩa và giành độc lập,

Trang 5

dến năm 42 quân Hán tiếp tục sang xâm lược nước ta lần thứ hai, cuộc khởi nghĩa Hai Ba Trưng lãnh đạo đến năm 44 đã bị thất bại

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng(năm 40)

Tuy nhiên đó là bước đầu của cuộc khởi nghĩa toàn dân, đã biểu hiện rõ nét tài nghệ của tổ tiên ta, họ đã biết tổ chức lực lượng, xây dựng địa bàn và phương thức tiến hành khởi nghĩa

Khởi nghĩa Bà Triệu Thị Trinh (năm 248)

Năm 248 Bà Triệu Thị Trinh khởi nghĩa từ núi Nưa Thanh Hóa, lãnh đạo nhân dân chống lại giặc Ngô Giặc Ngô cử Lục Dận đàn áp, do lực lượng

Trang 6

chênh lệch, cuộc khởi nghĩa bị thất bại, Bà Triệu hy sinh, đất nước ta lại tiếp tục

bị các thế lực phương Bắc đằm áp

Khởi nghĩa Lý Bí (542 544)

Đến năm 542, Lý Bí phát động cuộc khởi nghĩa toàn dân chưa đầy ba tháng cuộc khởi nghĩa đã quyết sạch bộ máy chính quyền đô hộ nhà Lương, châu thành Long Biên được giải phóng.Ông lên ngôi Hoàng Đế, xưng là Lý Nam Đế lập ra nước Van Xuân Nhà Lý giữ nước được 25 năm, đến năm 603 nhà Tùy xâm lược nước Van Xuân thất bại

Năm 905 nhân sự suy yếu của nhà Đường, Khúc Thừa Dụ đã đứng lên khởi nghĩa được nhân dân ủng hộ đánh chiến Tống Bình giành chính quyền tự chủ

Sau khi Ông mất đã trao lại quyền cho cho con trai là Khúc Hạo.Năm 907 Khúc Hạo lên thay đã tiến hành một số cải cách về kinh tế, hành chính nhằm ổn định tình hình xã hội

Cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta suốt nghìn năm Bắc Thuộc

đã giành được thắng lợi về căn bản, đặc biệt là những cải cách của Khúc Hạo trong toàn bộ quá trình khởi nghĩa của nhân dân ta trong thời Bắc Thuộc, đưa đến thắng lợi của trận Bạch Đằng năm 938

Trang 7

Năm 931 quân Nam Hán đưa quân sang xâm lược nước ta, dưới sự lãnh đạo của Dương Đình Nghệ quân dân ta đã đánh thắng quân Nam Hán và xưng la Tiết đô sứ thay cho họ Khúc, nhưng sau đó ông bị Kiều Công Tiễn giết hại, thang 10 năm 938 Ngô Quyền đưa quân ra đánh Kiều Công Tiễn, Công Tiễn cho người sang cầu cứu nhà Nam Hán Nhân cơ hội đó quân Nam Hán lại tiếp tục đưa quân sang xâm lược nước ta một lần nữa, Ngô Quyền đã lãnh đạo nhân dân

để đánh bại quân Nam Hán bằng mưu kế, đóng cọc trên sông Bạch Đằng

Hình trận chiến sông Bạch Đằng

Khi nước thủy triều lên cả bãi cọc ngập chìm dưới nước khi thủy triều xuống đã bãi cọc đã chặn lại đường lui của địch, bằng kế sách đó khi quân Nam Hán, do Hoàng Tháo chỉ huy tiến vào sông Bạch Đằng Ngô Quyên đã cho quân thủy nhẹ đón đánh từ xa và giả vờ thua và rút chạy, Hoàng Tháo cho quân theo đổi khi đi qua bãi cọc và vào sâu trong trận địa Sau khi thủy triều xuống Ngô Quyền đã cho quân ta phản công lại và giành thắng lợi, Hoàng Tháo và Kiều Công Tiễn bị giết, đội quân xâm lược tan rã

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã đánh đấu sự chấm dứt thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc, đưa nước ta bước vào thời kỳ mới, thời kỳ tự chủ

Trang 8

lâu dài Chiến thắng Bạch Đằng năm 938, đã mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử dân tộc Thời kỳ phát triển của quốc gia phong kiến độc lập, chiến thắng đó đã đánh bại mọi mưu đồ xâm lược của nhà Nam Hán, khẳng định sự tồn tại vững chắc của dân tộc Việt nam

Lược đồ về trận chiến Bạch Đằng

Chiến thắng Bạch Đằng đã thể hiện tài năng quân sự và ý chí quyết thắng của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền, đồng thời là thành quả của cuộc kháng chiến anh dũng và đầy sáng tạo của nhân dân ta Thắng lợi ấy nói lên sự lớn mạnh của dân tộc ta bằng trí tuệ, tính sáng tạo của nhân dân để đánh bại kẻ thù

Trang 9

xâm lược không chỉ bằng du kích mà cả bằng chính quy, không chỉ ở trên bộ mà

cả thủy chiến

Chiến thắng Bạch Đằng là sự mưu trí, sáng tạo và có tính toán một cách chính xác trong nghệ thuật chiến dịch của lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta

Chiến thắng oanh liệt của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài hơn nghìn năm, dân tộc ta đã giành lại quyền làm chủ đất nước

Với sử sáng tạo và tư duy quân sự tài ba, nước ta đã tạo nên những kỳ tích trong lịch sử Ông cha ta luôn nắm vững tư tưởng tiến công, tiến công liên tục, mọi lúc mọi nơi, từ cục bộ đến toàn bộ, coi đó như là một quy luật để giành thắng lợi Đây được xem như là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình chuẩn

bị và tiến hành chiến tranh giữ nước

Tư tưởng đó thể hiện rất rõ trong đánh giá đúng kể thù, chủ động đề ra kế sách đánh, phòng, khẩn trương chuẩn bị lực lượng kháng chiến, tìm mọi biện pháp làm cho địch suy yếu, tạo ra thế và thời cơ có lợi để tiến hành phản công

và tiến công

Về mưu kế đánh giặc và kế sách đánh giặc của ông cha ta không những sáng tạo mà còn rất mềm dảo khôn khéo là “biết tiến, biết thoái, biết công, biết thủ”, biết kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận, ngoại giao, tạo thế mạnh cho ta, biết phá thế mạnh của giặc, trông đó tiến công luôn giữ vai trò quyết định

Nghệ thuật chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc Đây là một nét độc đáo trong nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta được thể hiện cả trong khởi nghĩa và giải phóng dân tộc

Nghệ Thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh.Thực tiễn trong chiến tranh ở nước ta, luôn phải chống quân xâm lược hùng mạnh hơn

Trang 10

nước ta gấp nhiều lần với vũ khí trang bị lớn hơn ta rất nhiều lần đây là net đặc sắc và tất yếu trong nghệ thuật quân sự của ông cha ta

Nghệ thuật kết hợp đấu tranh với các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và binh vận Mặt trận chính trị nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân, qui tụ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, là cơ sở tạo ra sức mạnh quân đội Mặt trận quân sự là măt trận quyết liệt nhất, thực hiện tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh của địch quyết định thắng lợi trực tiếp của chiến tranh.Mặt trận ngoại giao có vị trí rất quan trọng, đề cao tính chính nghĩa của nhân dân ta, phân hóa, cô lập, kẻ thù, tạo thế có lợi cho cuộc chiến Mặt trận ngoại giao kết hợp với mặt trận quân sự, chính trị tạo lợi thế để kết thúc chiến tranh càng sớm càng tốt Mặt trận binh vận để vận động làm tan rã hàng ngũ của địch, góp phần quan trọng để tổn thất ít cho nhân dân ta trong chiến tranh

Nghệ thuật quân sự là lý luận, thực tiễn chuẩn bị và thực hành chiến tranh, chủ yếu chiến tranh bằng vũ trang gồm; Chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật Ba bộ phận của nghệ thuật quân sự thống nhất, liên hệ chặt chẽ, tác động bổ sung cho nhau, trong đó chiến lược quân sự đóng vai trò quyết định chủ đạo, chi phối nghệ thuật và chiến thuật; nghệ thuật chiến dịch va chiến thuật trở thành phương tiện thực hiện những nhiệm vụ do chiến lược vạch ra đồng thời tác động trở lại với chiến lược quân sự

Nhìn lại chiều dài lịch sử dân tộc, ngay từ thế kỷ III trước công nguyên người Việt đã biết vận dụng phương thức tác chiến du kích để tiêu hao, làm suy yếu địch, nắm thời cơ tiến hành phản công, tiến công lớn tiêu diệt địch, trong đó hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu được vận dụng nhiều đó là tập kích, phục kích quy mô nhỏ, phát huy thế mạnh của yếu tố địa lí… Thời kỳ nhà nước

Âu Lạc đã vận dụng phòng ngự tích cực, dùng quân thành Cổ Loa làm chỗ dựa,

tổ chức chặn địch từ xa, nhiều lần đánh tan lực lượng của đối phương Những cuộc chiến tranh giữ nước trước công nguyên dưới thời nhà nước Văn Lang, Âu Lạc nền nghệ thuật quân sự đã hình thành và bước đầu phát triển hai bộ phận

Trang 11

chủ yếu là chiến lược quân sự và chiến thuật, trong đó nội bật là sự tham gia rộng rãi của lực lượng quần chúng Về chiến lược quân sự, đã quan tâm tổ chức nắm địch, chuẩn bị lực lượng và chuẩn bị đất nước cho chiến tranh, vận dụng các loại hình tác chiến, phương thức tác chiến.Về chiến thuật, có tiến công thành trại,đánh vận dụng phòng ngự, hiệp đồng với thủy binh với bộ binh và sử dụng chiến thuật đánh du kích… Đến đầu thế kỷ X, dân tộc Việt Nam bị đô hộ, của nhiều vùng miền của đất nước các nhân sỹ yêu nước đã tổ chức nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang, tiến hành chiến tranh giải phóng, nền nghệ thuật quân sự Việt Nam tiếp tục phát triển, mặc dù ở trình độ thấp, nhưng đã khẳng định được những giá trị ban đầu, đặt nền móng cho sự phát triển rực rỡ ở các giai đoạn sau này

Nghệ thuật quân sự Việt Nam là lịch sử của quá trình hình thành và phát triển các nghệ thuật chỉ đạo, tổ chức và thực hành toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt trên cả ba quy mô của đấu tranh vũ trang là chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật trong từng cuộc chiến tranh, trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam.Dân tộc Việt Nam có truyền thống đánh giặc độc đáo, mang bản sắc riêng, đó là nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lây yếu chống mạnh, quyết đánh, biết đánh và biết đánh thắng những kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn nước ta gấp nhiều lần

Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc ta được hình thành, phát triển gắn liền với các yếu tố địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội, thể hiện tư tưởng tích cực chủ động tiến công, với sách lược khôn khéo mềm dẻo, với nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa quân sự, chính trị, ngoại giao, binh vận…

Sau khi tiếp thu chuyên đề này, em có những nhận thức sâu sắc về nghệ thuật quân sự Việt Nam hơn, về phương thức tác chiến, chiến thuật và nghệ thuật toàn dân đánh giặc… Đồng thời cũng nhận thức sâu sắc về lịch sử nghệ

Trang 12

thuật quân sự Việt Nam, những cơ sở hình thành và phát triển về nghệ thuật toàn dân đánh giặc, giữ nước của nhân dân ta

Bắt nguồn từ truyền thống yêu nước, yêu hòa bình, yêu công lý, là sự đoàn kết cả nước chung sức cùng toàn dân đánh giặc, chủ động tiến công địch một cách toàn diện, bằng sức mạnh quyết đánh, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược Truyền thống quân sự Việt Nam được người Việt Nam giữ gìn, kế thừa, phát huy, phát triển ngày càng rực rỡ Là một trong những bài học quý báo để cho thế hệ trẻ Việt Nam đặc biệt là học sinh, sinh viên, thanh niên và nhân dân cũng như lực lượng vũ trang Việt Nam vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay trong tương lai

Ngày đăng: 25/07/2021, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w