1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CƯƠNG môn LUẬT THƯƠNG MẠI

12 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 21,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG môn LUẬT THƯƠNG MẠI mới nhất,ĐỀ CƯƠNG môn LUẬT THƯƠNG MẠi mới nhất 2021 dành cho các bạn sinh viên học chuyên ngành luật,ĐỀ CƯƠNG môn LUẬT THƯƠNG MẠi,ĐỀ CƯƠNG môn LUẬT THƯƠNG MẠ,ĐỀ CƯƠNG môn LUẬT THƯƠNG MẠ,ĐỀ CƯƠNG môn LUẬT THƯƠNG MẠĐỀ CƯƠNG môn LUẬT THƯƠNG MẠ

Trang 1

CÂU 1: so sánh TRƯNG BÀY GIỚI THIỆU HH-DV vs HỘ CHỢ TRIỂN LÃM TM

*điểm giống

-đều là các hình thức xúc tiến thương mại được pháp luật thừa nhận

-chủ thể thực hiện chủ yếu là thương nhân

-trong một số trường hợp, phát sinh trên cơ sở hợp đồng cung ứng dịch vụ (phải được thành lập bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương)

-mục đích nhằm trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ

-cả hai hình thức đều được thực hiện tại một địa điểm cụ thể

-đối tượng của hai hình thức đều là hàng hóa và dịch vụ

-cách thức thực hiện: thương nhân có hàng hóa dịch vụ có thể tự mình trưng bày, giới thiệu hàng hóa dịch vụ, tự mình tổ chức hội chợ triển lãm cho mình hoặc thuê thương nhân khác kinh doanh dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ tổ chức hội chợ, triển lãm hàng hóa, dịch vụ cho mình

*điểm khác

Nội dung Trưng bày, giới thiệu HH,DV Hội chợ, triển lãm thương mại

Cơ sở pháp

Mục 3 chương IV LTM 2005 Mục 4 chương IV LTM 2005

Khái niệm Điều 117 LTM 2005 quy định:

Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hoá, dịch vụ và tài liệu về hàng hoá, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hoá, dịch vụ đó

Điều 129 LTM 2005 quy định: Hội chợ, triển lãm thương mại

là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ Đặc điểm HH, DV được trung bày giới HH, DV được trưng bày và bán

Trang 2

thiệu tại phòng trưng bày, trưng bày tại hội thảo, hội nghị, trung tâm thương mại, trung bày trên Internet

=>đặc điểm thực hiên rất phong phú vì có thể thực hiện ở nhiều nơi khác nhau

tại hội chợ, triển lãm

=>đặc điểm thực hiện hẹp vì chỉ có một địa điểm duy nhất được thực hiện

Chủ thể thực

hiện

-thương nhân có hàng hóa, dịch

vụ cần trung bày, giới thiệu -văn phòng đại diện có thương nhân (văn phòng đại diện của thương nhân phải trung bày hàng hóa dịch vụ của thương nhân ngay tại trụ sở của văn phòng)

-thương nhân kinh doanh dịch

vụ trưng bày giới thiệu hàng hóa dịch vụ->phạm vi rộng

-thương nhân kinh doanh dịch

vụ, tổ chức hàng hóa, triển lãm hàng hóa dịch vụ->phạm vi hẹp -thương nhân có hàng hóa, dịch

vụ cần tổ chức hội chơ, triển lãm hàng hóa dịch vụ

Mục đích Để giới thiệu, trưng bày hàng

hóa, dịch vụ (không bán, không cung cấp dịch vụ trưng bày)

Hàng hóa, dịch vụ vừa để giới thiệu trung bày vừa để bán, nhằm tìm kiếm khách hàng để giao kết hợp đồng

Cách thức

thực hiện

Dùng hàng hóa, dịch vụ và các tài liệu kèm theo để giới thiệu

Bán hàng hóa tại chỗ

CÂU 2: so sánh QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI vs KHUYẾN MẠI

*điểm giống

-Đều là hoạt động xúc tiến thương mại

-chủ thể thực hiện: thương nhân

-Mục đích: nhằm xúc tiến việc mua bán hàng, cung ứng dịch vụ

-cách thức thực hiện: Có thể do thương nhân tự tiến hành hoặc thuê dịch vụ quảng cáo, khuyến mại dựa trên hợp đồng

Trang 3

Nội dung Khuyến mại Quảng cáo thương mại

Cơ sở pháp lý Mục 1 chương IV LTM2005 Mục 2 chương IV LTM 2005 Khái niệm Khoản 1 điều 88 LTM 2005

quy định: Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định

Điều 102 LTM 2005 quy định: Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình TM 2005 quy định:

Chủ thể – Thương nhân có sản phẩm

khuyến mại – Thương nhân kinh doanh dịch

vụ khuyến mại

=>chủ thể tham gia hẹp

– Người quảng cáo;

– Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo;

– Người phát hành quảng cáo; – Người cho thuê phương tiện quảng cáo;

– Người tiếp nhận quảng cáo; – Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo

=>chủ thể tham gia đa dạng Mục đích -Nhằm lôi kéo hành vi mua

sắm, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của khách hàng

-Tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường

Xúc tiến việc bán hàng, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân

Cách thức

thực hiện

Dành cho khách hàng những lợi ích nhất định: có thể là lợi ích vật chất hoặc phi vật chất Tuỳ thuộc mục tiêu của đợt khuyến mại

Sử dụng sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng: hình ảnh, tiếng nói … được truyền tải tới công chúng qua truyền hình, truyền thanh, ấn phẩm

… Chủ thể nhận

lượi ích

Khách hàng đc khuyến mại có thể là người tiêu dùng hoặc trung gian phân phối

Người tiêu dùng biết đến sản phẩm, hàng hóa của thương nhân

Thủ tục – Đăng ký thực hiện khuyến

mại

Phải đăng ký xin cấp phép thực hiện quảng cáo

Trang 4

– Hoặc thông báo thực hiện khuyến mại

Các hành vi

bị nghiêm

cấm

Điều 100 LTM 2005 – Khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng

– Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh;

hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng

– Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi

Điều 109 LTM 2005 – Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội – Quảng cáo có sử dụng sản phẩm quảng cáo, phương tiện quảng cáo trái với truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và trái với quy định của pháp luật

– Quảng cáo hàng hoá, dịch

vụ mà Nhà nước cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh hoặc cấm quảng cáo

CÂU 3: So sánh QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI vs TRƯNG BÀY, GIỚI THIỆU HÀNG HÓA, DỊCH VỤ

*điểm giống:

– Là hoạt động xúc tiến thương mại

– Do thương nhân tự thực hiện hoặc thuê thương nhân khác thực hiện xúc tiến thương mại

– Đều nhằm mục đích giới thiệu sản phẩm, kích thích tiêu dùng

– Xét về bản chất, trưng bày giới thiệu sản phẩm cũng là cách thức đặc biệt để quảng cáo hàng hóa, dịch vụ

Trang 5

Nội dung Quảng cáo thương mại Trưng bày, giới thiệu HH, DV

Cơ sở pháp lý Mục 2 chương IV LTM 2005 Mục 3 chương IV LTM 2005 Khái niệm Điều 102 LTM 2005 quy định:

Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình

Điều 112 LTM 2005 quy định: Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hoá, dịch vụ

và tài liệu về hàng hoá, dịch

vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hoá, dịch vụ đó Chủ thể Thường có nhiều chủ thể tham

gia:

– Người quảng cáo;

– Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo;

– Người phát hành quảng cáo;

– Người cho thuê phương tiện quảng cáo;

– Người tiếp nhận quảng cáo;

– Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo

Thương nhân có hàng hóa cần trưng bày, giới thiệu và

thương nhân kinh doanh dịch

vụ trưng bày giới thiệu hàng hóa

Phương tiện -Sử dụng sản phẩm quảng cáo

và phương tiện quảng cáo

-Sản phẩm quảng cáo bao gồm thông tin bằng hình ảnh, âm thanh, màu sắc, ánh sang chứa đựng các thông tin nội dung quảng cáo Truyền thanh, truyền hình, ấn phẩm, băng, biển, báo chí, chương trình hội chợ, triển lãm…

-Sử dụng hàng hóa, dịch vụ và các tài liệu kèm theo

-Hàng hóa, dịch vụ chính là công cụ để giới thiệu thông tin

về sản phẩm, kiểu dáng, chất lượng, giá cả …

Cách thức

thực hiện

Sử dụng sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng: Bằng tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, … thông qua các phương tiện quảng cáo

-Mở phòng trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ -Tổ chức trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ tại các trung tâm thương mại, hội chợ, triển lãm Hoặc trong các hoạt động giải trí, thể thao, văn hóa,

Trang 6

nghệ thuật.

-Tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ;

-Thực hiện trưng bày, giới thiệu trên internet và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

Hành vi bị

nghiêm cấm

Điều 109 LTM 2005 Điều 123 LTM 2005

Mục đích Xúc tiến việc bán hàng, đáp

ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân

Hàng hóa, dịch vụ vừa để giới thiệu trung bày vừa để bán, nhằm tìm kiếm khách hàng để giao kết hợp đồng

CÂU 4: so sánh ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA vs ĐẤU THẦU HÀNG HÓA, DỊCH VỤ

*điểm giống

-đều là hoạt động thương mại được pháp luật thừa nhận

-chủ thể thực hiện chủ yếu là thương nhân

-đều phát sinh trên cơ sở hợp đồng

-đều tuân thủ nguyên tắc công khai, công bằng

-hợp đồng đều là hợp đồng cung ứng dịch vụ và được thành lập bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

-thủ tục thực hiện theo quy định của pháp luật

-chủ thể tham gia vào quan hệ đều nhằm mục đích sinh lợi

Trang 7

Nội dung Đấu giá hàng hóa Đấu thầu hàng hóa, dịch vụ

Cơ sở pháp lý Mục 2 chương VI LTM 2005 Mục 3 chương VI LTM 2005 Khái niệm Khoản 1 điều 185 LTM 2005

quy định: Đấu giá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất

Khoản 1 điều 214 LTM 2005 quy định: Đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá, dịch vụ thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các thương nhân tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiện hợp đồng (gọi

là bên trúng thầu)

Tính chất Là hoạt động mau bán hàng hóa

có mang tính chất đặc thù

Không phải là hoạt động mua bán hàng hóa

Đối tượng

thực hiện

Hẹp, chỉ áp dụng cho đối tượng

là hàng hóa hợp pháp

Rộng, ngoài hàng hóa còn có dịch vụ theo qy định của pháp luật

Chủ thể Người bán

Người mua Người tổ chức đấu giá Người điều hành đấu giá

Bên mời thầu Bên nộp hồ sơ dự thầu Bên trúng thầu

Thời gian

phát sinh

quyền và

nghĩa vụ của

các bên

Sau khi phiên đấu giá thành công thì người bán hàng và người mua hàng (người đấu giá thành công) sẽ phát sinh quyền

và nghĩa vụ với nhau trong quan hệ mua bán hàng hóa

Sau khi phiên đấu thầu kết thúc thành công thì bên mời thầu và bên trúng thầu phát sinh quyền và nghĩa vụ với nhau theo thỏa thuận

Mục đích Bên bán hàng tìm người mua

hàng trả giá cao nhất

Bên có nhu cầu mua hàng hóa,

sử dụng mong muốn tìm người có khoản cung ứng hàng hóa, dịch vụ phù hợp theo nhu cầu

Hình thức

pháp lý

hợp đồng ủy quyền bán đấu giá

và văn bản bán đấu giá hàng

hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu

Trang 8

hóa Phân loại phương thức trả giá lên và

phương thức hạ giá xuống (Khoản 2 Điều 185 LTM 2005)

-căn cứ vào hình thức đấu thầu

có thể chia thành đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế (Khoản 1 Điều 215 LTM 2005);

-căn cứ vào phương thức đấu thầu thì chia thành đấu thầu một túi hồ sơ và đấu thầu hai túi hồ sơ (Khoản 1 Điều 215 LTM 2005)

ý nghĩa -bên mua: tạo ra sự bình đẳng

và một môi trường cạnh tranh công bằng khi tất cả những người tham gia trả giá đều có

cơ hội ngang nhau; đồng thời cũng giúp cho hàng hóa đến được với những người mua tiềm năng, hiểu đúng giá trị của chúng nhất

-bên bán: thu được lợi ích nhất định mà có khi còn lớn hơn nhiều lần so với giá trị thực của hàng hóa được đem ra bán đấu giá

- xác lập quan hệ mua bán diễn

ra nhanh chóng do tập trung được cung, cầu về các loại hàng hóa đó và một thời gian và địa điểm xác định; từ đó thúc đẩy quan hệ trao đổi thương mại phát triển

-bên mua: giảm chi phí đầu tư

và tăng lợi ích của việc mua sắm hàng hóa, tìm kiếm người cung ứng dịch vụ cho thương nhân đó cũng như cho xã hội -bên bán: tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh về giá

cả, chất lượng của hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực cho thương nhân không ngừng tìm tòi sáng tạo để cải tiến quy trình, công nghệ sản xuất, cắt giảm chi phí, tăng cường năng lực cạnh tranh trong đấu thầu

- Các bên trong quan hệ đấu thầu vì thế mà có thể nâng cao

uy tín và mở rộng mối quan hệ trên thị trường

Trang 9

*điểm giống:

-đều là lĩnh vực thương mại dịch vụ

-đều phát sinh trên cơ sở hợp đồng cung ứng dịch vụ

-đều diễn ra trên thị trường

-hợp đồng phải được thành lập thành văn bản hoặc các hình thức pháp lý khác có giá trị tương đương

-đều gắn liền với phương thức vận chuyển

-đối tượng vận chuyển là hàng hóa

-chủ thể: bên làm dịch vụ và khách hàng

-đều chịu sự điều khiển của pháp luật

-đều là ngành nghề kinh doanh có điều kiện

*điểm khác

Nội dung Dịch vụ vận chuyển HH Dịch vụ logistics

Cơ sở pháp lý LTM 2005 Mục 4 chương VI LTM 2005 Khái niệm Vận chuyển hàng hóa là dịch

vụ tạo ra với mục đích vận chuyển một lô hàng, một khối lượng hàng cụ thể nào đó bằng đường biển, đường bộ, đường hàng không hay ngay cả đường thuỳ, từ địa điểm này sang địa điểm khác

Điều 233 LTM 2005 quy định: Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác,

tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụ

logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc Đặc điểm -chủ thể: là cá nhân, tổ chức -chủ thể: người làm dịch vụ

Trang 10

-vận chuyển hàng hóa gắn liền với các phương tiện vận chuyển -vận chuyển HH thuộc lĩnh vực thương mại dịch vụ

-vận chuyển HH phải thể hiện được sự dịch chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác -vận chuyển HH diễn ra trên thị trường

logistics và khách hàng -người làm dịch vụ logistics phải là thương nhân, có đăng

ký kinh doanh -khách hàng là người có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận và

có nhu cầu sử dụng dihcj vụ giao nhận HH

-nội dung của dịch vụ logistics rất đa dạng

Điều kiện

kinh doanh

cần đáp ứng những điều kiện trên hợp đồng mà hai bên thỏa thuận với nhau để thực hiện

Điều 234 LTM 2005 quy định:

- Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật

- Chính phủ quy định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

Cơ sở phát

sinh

Hợp đồng vận huyển hàng hóa:

là sự thỏa thuận giữa các bên trong đó một bên (bên vận chuyển) có nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa tới địa điểm

đã định theo thỏa thuận và giao hàng hóa đó cho người có quyền nhận, còn bên kia (bên thuê vận chuyển) có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển và các khoản phụ phí khác cho bên vận chuyển theo thỏa thuận

Hợp đồng dịch vụ logistics: là

sự thỏa thuận theo đó một bên (bên làm dịch vụ) có nghãi vụ thực hiện hoặc tổ chức thực hiện một hoặc một số dịch vụ liên quan đến quá trình lưu thông hàng hóa, còn bên kia (khách hàng) có nghãi vụ thanh toán thù lao dịch vụ

Chủ thể -Bên vận chuyển

-Bên thuê vận chuyển

-Bên thực hiện dịch vụ logistics

-khách hàng -bên thứ ba (có thể có hoặc không)

Ngày đăng: 12/06/2021, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w