LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan đề tài “Pháp luật về bảo hiểm hưu trí và thực tiễn thực hiện tại UBND Huyện Quốc Oai, Thành Phố Hà Nội ” là do em thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phan Thị Thanh Huyền và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm đề tài cho riêng mình Các thông tin, số liệu sử dụng trong đề tài này đều có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm kỷ luật của khoa và nhà trường nếu như có vấn đề gì xảy ra với đề tài này Hà Nội, ngày.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài: “Pháp luật về bảo hiểm hưu trí và thực tiễn thực hiện tại UBND Huyện Quốc Oai, Thành Phố Hà Nội.” là do em thực
hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phan Thị Thanh Huyền và không sao chépcác công trình nghiên cứu của người khác để làm đề tài cho riêng mình Cácthông tin, số liệu sử dụng trong đề tài này đều có nguồn gốc và được trích dẫn
rõ ràng Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm kỷ luật của khoa và nhà trườngnếu như có vấn đề gì xảy ra với đề tài này
Hà Nội, ngày tháng … năm 2022
Sinh viên thực hiện
Hà Ngọc Thắng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thật tự hào khi được là sinh viên, được tham gia học tập và trau dồikiến thức tại Trường Đại học Công Đoàn Em xin chân thành cảm ơn cácthầy, các cô tại Đại học Công Đoàn, đặc biệt là TS Phan Thị Thanh Huyền đãnhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường cũngnhư trong quá trình thực hiện đề tài về nội dung “Pháp luật về bảo hiểm hưutrí và thực tiễn thực hiện tại UBND huyện Quốc Oai, Thành Phố Hà Nội”.Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tập thể lãnh đạoUBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; tới các cán bộ, công chức côngtác tại phòng Nội Vụ của huyện đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất
để em hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Mặc dù bản thân đã cố gắng, nhưng với điều kiện khách quan cũng nhưkinh nghiệm còn hạn chế của mình, đề tài này không thể tránh được nhữngthiếu sót Chính vì thế, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiếncủa các thầy cô để em có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức của mình,phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5
6 Kết cấu của khoá luận 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm hưu trí 6
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm hưu trí 6
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm hưu trí 9
1.1.3 Nguyên tắc của bảo hiểm hưu trí 12
1.1.4 Vị trí, vai trò của bảo hiểm hưu trí trong hệ thống an sinh xã hội 17
1.2 Quy định pháp luật về bảo hiểm hưu trí 20
1.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí 20
1.2.2 Chế độ bảo hiểm hưu trí 22
1.2.3 Hồ sơ và giải quyết hưởng bảo hiểm hưu trí 34
1.2.4 Tài chính thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí 37
Kết luận chương 1 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ TẠI UBND HUYỆN QUỐC OAI 41
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 41
2.1 Tổng quan về UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 41
2.1.1 Lịch sử hình thành UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 41
2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý UBND huyện Quốc Oai,thành phố Hà Nội 43
2.2 Thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 46
Trang 42.2.1 Thực trạng đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí tại UBND huyện Quốc
Oai, thành phố Hà Nội 46
2.2.2 Thực trạng chi trả chế độ bảo hiểm hưu trí tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 47
2.2.3 Thực trạng hồ sơ và giải quyết hưởng bảo hiểm hưu trí tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 52
2.2.4 Thực trạng tài chính chi trả bảo hiểm hưu trí tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 53
2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 56
2.3.1 Những kết quả đạt được 56
2.3.2 Một số tồn tại bất cập và nguyên nhân 59
Kết luận chương 2 63
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ TẠI UBND HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 64
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí 64
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí 66
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 69
Kết luận chương 3 72
KẾT LUẬN CHUNG 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Quy định về độ tuổi nghỉ hưu theo Khoản 2 Điều 169 của Bộ
luật Lao động 2019Bảng 1.2 Quy định về độ tuổi nghỉ hưu theo Khoản 3 Điều 169 của Bộ
luật Lao động 2019Bảng 1.3 Số năm đóng BHXH tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 45%
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức UBND huyện Quốc Oai
Bảng 2.1 Tình hình tham gia BHHT tại của người lao động làm việc
tại UBND huyện Quốc Oai giai đoạn 2017 - 2021Bảng 2.2 Đối tượng giải quyết hưởng chế độ hưu trí giai đoạn 2017-2021Bảng 2.3 Thực trạng thu BHXH tại UBND huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội giai đoạn 2017- 2021Bảng 2.4 Thực trạng chi bảo hiểm hưu trí tại UBND huyện Quốc Oai,
thành phố Hà Nội giai đoạn 2017- 2021
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đảng ta đã nhấn mạnhngười lao động là yếu tố quyết định, có vai trò to lớn để phát triển đất nướctiến lên chủ nghĩa xã hội Chính vì thế đảm bảo ổn định lực lượng lao độngtham gia sản xuất, công tác là một vấn đề rất lớn Các yếu tố tự nhiên (sinh,lão, bệnh, tử) hay các rủi ro phát sinh khách quan ngoài ý muốn đều ảnhhưởng đến sức khoẻ của người lao động Do đó, việc giải quyết, ứng phó vớinhững khó khăn, rủi ro trong khi lao động là vấn đề rất quan trọng được sựquan tâm của cả xã hội Một trong những biện pháp để giải quyết có thể nhậnthấy là chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động Bảo hiểm xã hội làmột trong các chính sách an sinh xã hội, nó mang bản chất nhân văn sâu sắchướng tới những giá trị tốt đẹp mang hạnh phúc đến với mọi người Điều đó
được quy định cụ thể tại Điều 34, Hiến pháp 2013: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”.
Bảo hiểm xã hội là một giải pháp hiệu quả để giải quyết các rủi ro khingười lao động tham gia vào các quan hệ lao động, sản xuất Ở nước ta, bảohiểm xã hội có chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm thai sản; bảo hiểm tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp; tử tuất; bảo hiểm thất nghiệp và không thể khôngnhắc đến chế độ bảo hiểm hưu trí
Bảo hiểm hưu trí là công cụ trợ giúp đắc lực khi người lao động về giàđã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa Bảohiểm hưu trí còn là thành quả của người lao động sau nhiều năm làm việccũng là sự bù đắp phần thu nhập thiếu hụt cho người lao động khi về già Bảohiểm hưu trí là một trong các chế độ bảo hiểm quan trọng nhất trong pháp luật
an sinh xã hội Xuất phát từ tình hình thực hiện việc triển khai công tác chitrả, giải quyết chế độ bảo hiểm hưu trí còn gặp nhiều bất cập và khó khăn Vàthực tiễn trên địa bàn nghiên cứu tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà
Trang 8Nội phần lớn người lao động là cán bộ, công chức có độ tuổi lao động sắpthuộc đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí Chính vì thế, xuất phát từnhu cầu nói trên và với mong muốn đóng góp một phần công sức của bảnthân vào việc đánh giá thực trạng pháp luật, đưa ra một số giải pháp nhằmhoàn thiện việc thực hiện đối với chế độ bảo hiểm hưu trí, em đã lựa chọn đề
tài: “Pháp luật về bảo hiểm hưu trí và thực tiễn thực hiện tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp cho mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo hiểm xã hội nói chung hay bảo hiểm hưu trí nói riêng là lĩnh vựcđược rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, bình luận Có thể kể đến như cáccông trình nghiên cứu, các đề tài luận án, luận văn, khóa luận hay các sách,báo, tạp chí về chế độ bảo hiểm hưu trí nhằm phân tích những ưu điểm, bấtcập trong những quy định của pháp luật Từ đó đưa ra những kiến nghị hoànthiện các quy định pháp luật cho các cơ quan chuyên môn, các ban, ngànhtham khảo
- Đề án nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Chế độ hưu trí, tử tuất theo quy định của Luật BHXH - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện” do Hoàng Thị
Kim Dung, Phó Trưởng Ban thực hiện chính sách BHXH, BHXH Việt Namlàm chủ nhiệm, năm 2014
- Luận văn thạc sỹ: “Bảo hiểm hưu trí – Thực trạng và kiến nghị” của
Nguyễn Lệ Huyền, năm 2015;
- Luận văn thạc sỹ luật học: “Pháp luật về bảo hiểm hưu trí bắt buộc qua thực tiễn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị”, của Đỗ Thị Trang, năm
2020
Ngoài ra, còn có rất nhiều sách, báo, tạp chí và nhiều bài viết đăng trêncác tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành về chế độ bảo hiểm hưu trí phải kểđến như:
- Sách: “Bình luận khoa học những nội dung cơ bản của Luật bảo hiểm
xã hội” của tác giả Nguyễn Hiền Phương, năm 2018.
Trang 9- Báo, tạp chí: “Kiến nghị sửa đổi chế độ hưu trí trong Luật Bảo hiểm
xã hội” của Bùi Ngọc Thanh, Nghiên cứu lập pháp, số 19, tháng 10/2013
- Nguyễn Hữu Chí và Bùi Thị Kim Ngân: “Một số bình luận pháp lý liên quan đến Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014”, Tạp chí Luật học, số
6, năm 2015
Có thể nói lĩnh vực Bảo hiểm hưu trí là chủ đề có số lượng công trìnhnghiên cứu rất nhiều Nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào nói vềchế độ bảo hiểm hưu trí ở một cơ quan hành chính nhà nước là UBND cấphuyện Nơi mà chế độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc được thực hiện sẽ là trọngtâm nghiên cứu trong đề tài lần này của em Mặt khác, các công trình nghiêncứu trước đã thực hiện trên quy định pháp luật cũ Mà hiện nay, Luật Bảohiểm xã hội năm 2014 được ban hành và trải qua hơn 6 năm thực hiện cũngđã bộc lộ nhiều điểm hạn chế và bất cập
Chính vì nhận thức được vấn đề này, em muốn qua đề tài lần này nêuđược thực trạng thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí tại UBND huyện QuốcOai Qua đó kiến nghị một số giải pháp đề hoàn thiện, nâng cao hiệu quả việcthực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Trong đề tài này, mục tiêu chung là nghiên cứu một số vấn đề lý luận
về chế độ bảo hiểm hưu trí Qua đó, đánh giá được thực trạng thực hiện cácquy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm hưu trí qua thực tiễn nghiên cứu tạiUBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Nhưng mục tiêu chính là đề xuấtmột số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật vềbảo hiểm hưu trí trên địa bàn nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu thì đề tài có các nhiệm vụ chính sau đây:
Trang 10- Một là, nghiên cứu để làm rõ một số vấn đề chung về BHHT và phápluật BHHT
- Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiệnhành về BHHT ở Việt Nam Chỉ ra những ưu điểm và bất cập trong quy địnhcủa pháp luật
- Ba là, nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luậtBHHT tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Từ đó, rút ra nhữngnhận xét về kết quả đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại trong quátrình thực hiện BHHT ở đây
- Bốn là, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật
về BHHT và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHHT tại UBND huyệnQuốc Oai, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Chế độ bảo hiểm hưu trí gồm hai loại là bảo hiểm hưu trí tự nguyện vàbảo hiểm hưu trí bắt buộc Nhưng đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu về chế
độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc áp dụng với người lao động làm việc tại cơ quanhành chính Nhà nước là UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Trong
đó, chủ yếu nghiên cứu các quy định trong Luật BHXH năm 2014 và các vănbản hướng dẫn thi hành Ngoài ra, một số luật có liên quan đến BHHT như
Bộ luật lao động năm 2019, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015sửa đổi, bổ sung năm 2019, … cũng được đề cập đến trong một số nội dungcủa khoá luận Cùng với việc nghiên cứu các quy định của pháp luật vềBHHT hiện hành, đối tượng nghiên cứu của khoá luận còn là thực tiễn thựchiện BHHT trên cơ sở các số liệu của cơ quan BHXH huyện Quốc Oai, thànhphố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Trong đề tài này, sẽ nghiên cứu chế độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc dướicác phương diện nội dung sau: Đối tượng tham gia, chế độ bảo hiểm hưu trí
Trang 11(đối tượng, điều kiện hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng), thủ tục hưởng vàtài chính thực hiện bảo hiểm hưu trí Những vấn đề về xử lý vi phạm, giảiquyết tranh chấp hay thanh tra, kiểm tra về bảo hiểm hưu trí không thuộcphạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Không gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng thực hiện Bảo hiểm hưu tríbắt buộc tại UBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
- Thời gian: Các số liệu, thông tin trong đề tài nghiên cứu được thu thậptrong thời gian từ năm 2017 - 2021
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu là: phương phápnghiên cứu thực tiễn, tra cứu tài liệu, quan sát, phân tích, tổng hợp, thống kê
và so sánh Nhờ đó, những vấn đề liên quan đến việc thực hiện pháp luật vềchế độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc được xem xét, đánh giá từ nhiều góc độkhác nhau, bảo đảm tính khách quan, có hệ thống và xác thực những nộidung, số liệu cụ thể trong đề tài
6 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về bảo hiểm hưu trí
- Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí tạiUBND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
- Chương 3: Định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải phápnâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí tại UBND huyệnQuốc Oai, Thành phố Hà Nội
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
BẢO HIỂM HƯU TRÍ 1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm hưu trí
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm hưu trí
Bảo hiểm hưu trí hay còn gọi là chế độ hưu trí, là một bộ phận của hệthống bảo hiểm xã hội Việt Nam và bắt đầu hoạt động từ năm 1962 Bảo hiểmhưu trí có tính chất và vai trò quan trọng nên có rất nhiều khái niệm, quanđiểm về lĩnh vực này nhưng nhìn chung bản chất các khái niệm, quan điểmnày đều tương đồng nhau
- Trong hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí là chế độ dành chonhững người không còn tham gia quan hệ lao động nữa Vì vậy, nó rất cầnthiết và không thể thiếu được bởi bất cứ người lao động nào cũng sẽ đến lúcgià yếu, hết tuổi lao động nhưng vẫn có nhu cầu đảm bảo cuộc sống và lươnghưu sẽ là nguồn thu nhập chính của họ trong lúc này Được hưởng trợ cấp khi
về hưu là một trong những mục đích, động lực cơ bản để người lao động thamgia quan hệ bảo hiểm xã hội
- Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia bảo hiểm là: “phương thức bảo vệ trước những tổn thất tài chính Đó là hình thức quản lý rủi ro, chủ yếu được sử dụng để bảo hiểm cho những rủi ro ngẫu nhiên hoặc tổn thất có thể xảy ra” Còn hưu trí là: “tên gọi chỉ chung cho những người đã về hưu hoặc nghỉ hưu theo chế độ và được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội Nếu đạt độ tuổi theo quy định cộng với thời gian công tác và thời gian đóng bảo hiểm xã hội thì những người về hưu sẽ được hưởng một khoản tiền trợ cấp cho đến khi chết gọi là lương hưu” Từ đó có thể hiểu “bảo hiểm hưu trí” là khoản tài
chính chi trả cho những người lao động đã hết tuổi lao động (quan hệ laođộng đã chấm dứt) theo quy định của pháp luật
Trên thế giới, nhắc tới bảo hiểm hưu trí thì phải nói đến vai trò của tổchức ILO - Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization) Cụ
Trang 13thể ngày 28/6/1952, ILO thông qua Công ước 102 về những quy phạm tốithiểu về an sinh xã hội, đưa ra 9 chế độ trợ cấp cơ bản Trong đó có chế độ trợcấp tuổi già (hay bảo hiểm hưu trí) quy định tại điều 25 công ước 102 quy
định: “Mọi nước thành viên chịu hiệu lực của Phần này trong Công ước phải đảm bảo cho người được bảo vệ được nhận trợ cấp tuổi già (hưu bổng) theo những điều của Công ước” Chính vì vậy mà trong lịch sử phát triển, bảo
hiểm hưu trí là một trong những chế độ bảo hiểm được thực hiện sớm nhấttrong các chế độ của bảo hiểm xã hội
- Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì “chế độ hưu trí là một dạng trợ cấp trong hệ thống trợ cấp bảo hiểm xã hội dành cho những người tuổi cao không thể tiếp tục làm việc bình thường được nữa” theo trang wed của
Tổ chức lao động quốc tế Từ định nghĩa có thế thấy:
+ Thứ nhất, hưu trí cũng là một dạng trợ cấp xã hội như trợ cấp ốm đau,thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tử tuất … và nó cũng được thực hiệnbởi sự phân phối lại thu nhập giữa các đối tượng tham gia
+ Thứ hai, hưu trí dành cho những người cao tuổi không thể tiếp tụclàm việc được nữa Đây là một nội dung quan trọng nhất của chế độ hưu trí.Trước hết nó thể hiện sự rủi ro về tuổi tác cần được trợ cấp, mặt khác nó lạibảo đảm cho quyền được lao động cho những người chưa bị rủi ro về mặt tuổitác, vẫn làm việc bình thường
Như vậy, quyền được trợ cấp bảo hiểm hưu trí chỉ được xác lập khingười lao động đạt đến một độ tuổi nhất định mà độ tuổi ấy được xác địnhtheo quy định của pháp luật, đồng thời khi ấy quan hệ lao động cũng chấmdứt
- Ở Việt Nam, chế độ hưu trí được quy định ngay trong những năm đầusau khi thành lập nước và tương đối chi tiết khi Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 218-CP năm 1961 về bảo hiểm xã hội Chế độ bảo hiểm hưu trí là chế
độ chi trả lương hưu cho người lao động đã hết tuổi làm việc theo quy địnhcủa pháp luật nhằm đảm bảo lao động khi về già có chi phí chi trả cho những
Trang 14nhu cầu sống cơ bản và chăm sóc sức khỏe Chế độ hưu trí là chế độ BHXHđảm bảo thu nhập cho người lao động đã hết tuổi lao động theo quy định củapháp luật.
- Dưới góc độ pháp luật, chế độ bảo hiểm hưu trí là tổng hợp các quyphạm pháp luật quy định về các điều kiện và mức trợ cấp cho những ngườitham gia bảo hiểm xã hội, khi đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham giaquan hệ lao động
- Hiện nay, theo luật BHXH năm 2014 thì không có quy định nào đểgiải thích như thế nào là bảo hiểm hưu trí, mà chỉ quy định hưu trí là mộttrong các chế độ của BHXH Nhưng theo đó ta có thể hiểu nếu người laođộng tham gia bảo hiểm xã hội khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham giaquan hệ lao động thì sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí một lần hoặchàng tháng theo quy định của pháp luật Đây là khoản tiền trợ cấp nhằm đảmbảo thu nhập và đời sống cho người về hưu, thay thế cho khoản tiền lươngtrước đây mà họ có được khi còn đang tham gia quan hệ lao động Theo đóchế độ hưu trí là chế độ chi trả lương hưu cho người lao động đã hết tuổi làmviệc theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo lao động khi về già có chi phíchi trả cho những nhu cầu sống cơ bản và chăm sóc sức khỏe Đây là mộttrong những chế độ người lao động được hưởng khi tham gia bảo hiểm xã hội.Ngày 20/11/2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua LuậtBảo hiểm xã hội năm 2014 Theo quy định tại khoản 1, điều 3 của Luật Bảohiểm xã hội năm 2014 thì “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bùđắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao độnghoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” Căn cứ vào khái niệmtrên có thể hiểu: Bảo hiểm hưu trí là khoản trợ cấp bảo đảm khoản thu nhậpthay thế cho người lao động khi người lao động đã hết tuổi lao động thôngqua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bêntham gia và có sự ủng hộ của Nhà nước
Trang 15Từ những định nghĩa trên có thể đưa ra định nghĩa về bảo hiểm hưu trí:
Là chế độ BHXH đảm bảo thu nhập cho những người tham gia BHXH khi hếttuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa Chế độ BHHT
là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về các điều kiện và mức trợ cấpcho những người tham gia bảo hiểm hưu trí, khi đã hết tuổi lao động hoặckhông còn tham gia quan hệ lao động
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm hưu trí
Bảo hiểm hưu trí là một bộ phận quan trọng của Bảo hiểm xã hội ViệtNam, vì thế nó mang các đặc điểm chung của Bảo hiểm xã hội và những đặcđiểm riêng vốn có của nó khác biệt với các chế độ bảo hiểm khác trong hệthống Bảo hiểm xã hội Việt Nam
- Đặc điểm chung đầu tiên của bảo hiểm hưu trí đó là tính tuân thủ phápluật Chế độ bảo hiểm hưu trí được phát sinh từ nhu cầu thực tiễn của cuộcsống nhưng được thực hiện trên cơ sở pháp luật, nó phải được thi hành, giámsát dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước và những đóng góp ý kiến của các
cá nhân, tổ chức Vai trò của Nhà nước là thống nhất và quản lý bảo hiểm hưutrí thông qua các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
- Bảo hiểm hưu trí mang tính chất hoàn trả và không hoàn trả Tínhhoàn trả thể hiện ở chỗ, người lao động là người tham gia và đóng BHXHđồng thời họ là đối tượng được nhận chi trả từ quỹ bảo hiểm hưu trí Mặc dùthời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau tùy thuộc vào rủi
ro tuổi tác của họ gặp phải cũng như mức đóng và thời gian đóng BHXH củahọ Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ cùng tham gia và đóng BHXH, nhưng
có người được hưởng lương hưu nhiều năm, nhưng cũng có người đượchưởng với số năm ít hơn, thậm trí không được hưởng nếu không may qua đờikhi đang tham gia quan hệ lao động Chính vì đặc điểm này mà một số đốitượng được mức lương hưu nhiều hơn mức đóng của họ và ngược lại Điều đóthể hiện tính xã hội của chế độ bảo hiểm hưu trí
Trang 16- Tính xã hội hoá cũng là một trong các đặc điểm của bảo hiểm hưu trí.Người lao động tạo ra của cải vật chất nuôi sống chính họ và gia đình họnhưng khi đến một thời điểm sức khoẻ bị suy giảm vì vậy họ cần được nghỉngơi sau nhiều năm cống hiến Mà bảo hiểm hưu trí sẽ làm nhiệm vụ cungcấp, hỗ trợ người lao động khi hết độ tuổi lao động dựa trên cơ sở mức đóngbảo hiểm hưu trí từ lúc người lao động vẫn còn tham gia quan hệ lao động.Như vậy bảo hiểm hưu trí là một chế độ mang tính xã hội hóa cao vì nó đượcthực hiện một cách thường xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệkhác Qua đó trực tiếp thể hiện sự gắn bó, quan tâm của mọi người trong xãhội và gián tiếp thể hiện tinh thần của người Việt Nam.
- Hình thành theo cơ chế ba bên: Bảo hiểm hưu trí giống như các chế
độ bảo hiểm xã hội khác, nó sẽ phụ thuộc chặt chẽ vào sự tham gia của cácbên Đó là người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan nhà nước quản
lý về bảo hiểm hưu trí Nếu thiếu sự tham gia của một trong các bên thì việchình thành bảo hiểm hưu trí để chi trả cho người lao động khi về hưu sẽkhông tồn tại Kể từ lúc hình thành đến quá trình thụ hưởng của người laođộng khi hết độ tuổi lao động là một quá trình rất dài nên cần có sự tham gia,phối hợp của các bên để việc thực hiện chế độ này được đảm bảo đúng người,đúng quyền lợi
- Đặc điểm tiếp theo là mức hưởng của bảo hiểm hưu trí cũng giốngnhư mức hưởng của BHXH đó là được tính trên cơ sở mức đóng và thời gianđóng trong quá trình lao động Đó là hai yếu tố chính quyết định mức hưởngcủa người lao động đối với chế độ bảo hiểm hưu trí
- Bảo hiểm hưu trí còn có đặc điểm nữa là lấy số đông bù số ít và thựchiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữanhững người lao động có thu nhập thấp hơn, giữa những người đang làm việcvới những người đã nghỉ việc do hết tuổi lao động Nói cách khác, bảo hiểmhưu trí góp phần bảo đảm sự cân bằng về thu nhập cho người lao động và gia
Trang 17đình họ khi họ đã hết tuổi lao động Điều này đã góp một phần vào việc thựchiện một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
- Giống như các chế độ bảo hiểm khác thì chế độ bảo hiểm hưu tríngười lao động muốn được hưởng thì phải thuộc đối tượng hưởng và phải đápứng đầy đủ các điều kiện hưởng Nếu thiếu một trong các điều kiện trên thìchế độ bảo hiểm hưu trí sẽ không phát sinh quyền hưởng cho người lao động
Ngoài các đặc điểm chung thì bảo hiểm hưu trí cũng có những đặcđiểm riêng có của chúng nhằm duy trì sự ổn định và đảm bảo sự thực hiện
- Tính cơ bản, tính ổn định của bảo hiểm hưu trí thể hiện ở mục đíchcủa nó, theo đó mục đích chính của BHHT là sự bù đắp thu nhập cho ngườilao động khi người lao động khi hết tuổi lao động hay khi không tham giaquan hệ lao động nữa Hầu hết mọi người tham gia BHXH đều là đối tượngcủa BHHT: nếu như các chế độ BHXH khác chỉ áp dụng cho một số đốitượng lao động nhất định (chế độ ốm đau áp dụng cho NLĐ bị ốm đau, tainạn; chế độ thai sản áp dụng chủ yếu đối với lao động nữ khi mang thai, sinhcon; chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chỉ áp dụng cho những NLĐ
bị tai nạn lao động, bị bệnh nghề nghiệp…) thì chế độ bảo hiểm hưu trí lại ápdụng cho tất cả các đối tượng tham gia BHXH, ngoại trừ người lao động chếtkhi trong độ tuổi lao động Tất cả NLĐ khi tham gia BHXH khi hết tuổi đềuđược hưởng BHHT, đây cũng là động lực chính để NLĐ tham gia BHXH
- Chế độ bảo hiểm hưu trí mang tính chất dài hạn và thường xuyên Dàihạn trong việc hưởng và thường xuyên trong việc đóng góp vào quỹ BHHT.Tại vì người lao động muốn được hưởng chế độ BHHT thì ngay từ khi thamgia BHXH người lao động và người sử dụng lao động đã phải đóng góp mộtphần thu nhập trên tiền lương, tiền công vào quỹ bảo hiểm hưu trí và kéo dàicho tới khi họ đủ điều kiện được hưởng Sau khi về hưu (hết độ tuổi lao động)
và đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì sẽ được quỹ bảohiểm hưu trí chi trả một số tiền nhất định Số tiền đó mang tính chất dài hạn vì
nó đảm bảo cuộc sống của người lao động sau khi không còn tham gia quan
Trang 18hệ lao động nữa Nó là một khoản trợ cấp cố định cho những cống hiến củangười lao động trong suốt những năm tháng tham gia quan hệ lao động vàđóng BHXH đầy đủ Từ đó giúp người lao động khi về già vẫn có thể an tâmsinh sống vui khoẻ, có ích với người thân và cộng đồng
- Bảo hiểm hưu trí có sự tách biệt giữa đóng và hưởng Tức là việcđóng và hưởng sẽ không đồng thời xảy ra cùng một lúc Người lao động đóngkhi còn tham gia quan hệ lao động và hưởng khi đã chấm dứt quan hệ laođộng Khác với các chế độ bảo hiểm khác sẽ được hưởng cùng lúc khi đangtrong quan hệ lao động Như chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp haychế độ bảo hiểm thai sản
Vậy bảo hiểm hưu trí là một chế độ bảo hiểm dài hạn nằm ngoài quátrình lao động nhưng lại được thể hiện ngay trong quá trình lao động Ngườilao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội trong một thời gian dài liên tục đếnkhi đủ tuổi, đủ thời gian đóng BHXH và đủ một số điều kiện (nếu có) theotừng đối tượng theo quy định của pháp luật thì sẽ được hưởng chế độ BHHT
1.1.3 Nguyên tắc của bảo hiểm hưu trí
Bảo hiểm hưu trí là một chế độ của Bảo hiểm xã hội nên nó sẽ tuântheo năm nguyên tắc cơ bản của BHXH được quy định tại điều 5 của LuậtBảo hiểm xã hội năm 2014 Nhưng ngoài ra bảo hiểm hưu trí còn có cácnguyên tắc riêng khác so với các chế độ bảo hiểm khác
Các nguyên tắc cơ bản của chế độ bảo hiểm hưu trí có thể được thốngnhất lại như sau: nguyên tắc công bằng và bình đẳng, nguyên tắc chia sẻ vàbền vững, nguyên tắc an toàn và hiệu quả, nguyên tắc quản lý thống nhất vàcuối cùng là nguyên tắc đóng hưởng tách biệt
- Thứ nhất là nguyên tắc công bằng và bình đẳng: nguyên tắc côngbằng là một trong các nguyên tắc chủ đạo của bảo hiểm hưu trí Công bằngcủa bảo hiểm hưu trí được thể hiện qua việc tất cả những người lao động cótham gia BHXHBB thì sẽ thuộc đối tượng tham gia của bảo hiểm hưu trí bắtbuộc Chế độ bảo hiểm hưu trí ngày càng mở rộng, các đối tượng tham gia
Trang 19không chỉ nằm ở nhóm BHHTBB mà còn có BHHT tự nguyện với nhiều hìnhthức tham gia khác nhau Đây thể hiện sự công bằng giữa các đối tượng thamgia, các tầng lớp xã hội từ đó giảm khoảng cách giàu nghèo và phân biệt cáctầng lớp trong xã hội Bình đẳng được thể hiện ở quyền lợi của mọi người laođộng nếu họ có đầy đủ các điều kiện để được hưởng chế độ BHHT thì họ sẽđược hưởng như nhau Tuy nhiên phải dựa trên sức lao động mà họ bỏ ratrong quá trình lao động là không giống nhau thể hiện ở mức đóng và thờigian của mỗi người lao động là khác nhau nên mức hưởng của họ cũng sẽkhác nhau Nhưng bình đẳng ở đây thể hiện ở đến một độ tuổi nhất định họđều được gia đình và toàn xã hội công nhận về toàn bộ quá trình mà họ cốnghiến trước đó và đến lúc họ được nghỉ ngơi, tận hưởng an nhàn tuổi già Vậynguyên tắc này nói đến sự công bằng và bình đẳng giữa các giới, dân tộc haytôn giáo không phân biệt vùng miền hay khoảng cách xã hội đều được thamgia và hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí như nhau theo quy định của pháp luật.
- Nguyên tắc chia sẻ và bền vững: đây là một nguyên tắc đặc trưng củachế độ bảo hiểm hưu trí Những người lao động khi trong độ tuổi lao động sẽcùng với người sử dụng lao động và Nhà nước đóng góp một phần tiền lương,tiền công của mình vào quỹ bảo hiểm hưu trí và đến lúc khi họ hết tuổi laođộng sẽ được hưởng chế độ này mà không phải đóng góp thêm bất kỳ chi phínào Tức là quá trình đóng góp vào quỹ bảo hiểm hưu trí sẽ liên tục được thựchiện từ người này đến người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác; thế hệ trẻđóng cho lớp thế hệ già hưởng và cứ thế có sự nối tiếp giữa các thế hệ Đó là
sự chia sẻ giữa những người tham gia do đó để hình thành quỹ bảo hiểm hưutrí chi trả cho người lao động khi về già thì người lao động phải đóng từ lúctrẻ (trong độ tuổi lao động) Và cứ thế lớp già được hưởng thì lớp trẻ lại đóng
để bù đắp sự thiếu hụt đó Như vậy, có sự kế thừa giữa các thế hệ lao độngtrong việc hình thành quỹ BHHT, là sự chia sẻ giữa những người tham giachế độ BHHT Chính vì thế đây là sự chia sẻ, chia sẻ không chỉ ở cùng nhữngngười lao động với nhau mà là sự chia sẻ chung tay của cả cộng đồng và cả xã
Trang 20hội hướng tới các đối tượng người lao động khi về già Từ đó giúp cho họ khi
về hưu vẫn có một khoản thu nhập để tự trang trải cho bản thân và khôngkhiến họ cảm thấy mặc cảm tự ti khi phải dựa dẫm vào con cháu Nguyên tắcnày còn được gọi là nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” Nguyên tắc bền vữngđược thể hiện khi người lao động sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí đếncuối cuộc đời của mình, không kể khoảng thời gian là dài ngắn bao lâu Giúpcho họ ngay từ khi còn lao động có thể an tâm cố gắng cống hiến để khi vềgià có thể được thụ hưởng chế độ này một cách trọn vẹn Nguyên tắc bềnvững còn được thể hiện qua việc thực hiện chế độ này sẽ được đảm bảo bằngcác cơ quan của Nhà nước
- Nguyên tắc an toàn và hiệu quả, sự an toàn được thể hiện ở cơ quanquản lý quỹ bảo hiểm hưu trí sẽ do Nhà nước thành lập và quản lý Người laođộng thay vì tích luỹ tài sản của họ qua các kênh đầu tư như gửi tiết kiệm thìngay từ lúc làm việc họ đã trích một phần tiền lương của mình vào quỹ bảohiểm hưu trí và chính quỹ này sau đó sẽ quay lại phục vụ cho chính họ Quátrình tích lũy để bảo tồn quỹ và đầu tư quỹ là mang tính an toàn vì xuất phát
từ chức năng cơ bản nhất của BHHT là đảm bảo an toàn về thu nhập chongười lao động khi hết độ tuổi lao động Vì vậy, bảo hiểm hưu trí phải tự bảo
vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tài chính, giảm giá trị do yếu tố lạmphát Người lao động biết rõ khoản tiền của mình sẽ được quản lý thông qua
cơ quan bảo hiểm xã hội Về hiệu quả của bảo hiểm hưu trí là hướng tới đại
bộ phận người dân hay những người lao động trên cơ sở quan hệ lao động sẽđược hưởng chế độ bảo hiểm này Để nguyên tắc an toàn và hiệu quả đượcthực hiện đúng thì không thể thiếu công tác quản lý bảo hiểm hưu trí
- Quản lý bảo hiểm hưu trí phải thống nhất, dân chủ, công khai, minhbạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo quỹ BHHT(là quỹ bảo hiểm hưu trí và tử tuất) Đây là nguyên tắc thiên về phía những cơquan quản lý Vì quỹ bảo hiểm hưu trí và tử tuất rất lớn ảnh hưởng đến rấtnhiều người nên việc công khai, minh bạch giữa các tổ chức, Nhà nước và
Trang 21người lao động là cực kỳ cần thiết Nó không chỉ được quy định là một quyềncủa công dân mà còn thể hiện sự trong sạch, chính xác của các bên khi thựchiện chế độ bảo hiểm hưu trí Từ đó giúp những người lao động có niềm tinvào chế độ bảo hiểm hưu trí, họ sẽ cố gắng hoàn thành tốt công việc và nhiệm
vụ được giao Công khai, minh bạch trong lĩnh vực BHHT có vai trò rất lớnđối với việc bảo đảm thực hiện các quyền của công dân, giúp người dân nắmbắt được các chính sách ưu đãi, các quy định của pháp luật về BHHT Qua đó,tăng cường niềm tin của người dân vào Đảng và Nhà nước
- Nguyên tắc đóng hưởng tách biệt nguyên tắc này là một nguyên tắcđặc trưng riêng của bảo hiểm hưu trí mà các chế độ bảo hiểm khác không có
Sự khác biệt so với các chế độ bảo hiểm khác là việc đóng và hưởng của chế
độ BHHT sẽ không đồng thời xảy ra cùng một lúc, tức là nếu đã được hưởngthì việc đóng sẽ chấm dứt và ngược lại Mức đóng bảo hiểm hưu trí bắt buộcđược tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động Chế độ bảohiểm hưu trí cũng giống các chế độ khác của BHXH là mức đóng của chế độ
sẽ do Nhà nước quy định, dựa trên các tiêu chí đánh giá giúp vừa cân bằngquỹ BHHT vừa vẫn đáp ứng được nhu cầu đời sống của người lao động khitham gia chế độ BHHT Mức hưởng của bảo hiểm hưu trí được tính trên cơ sởmức đóng, thời gian đóng BHXH và có sự chia sẻ giữa những người tham gia.Mức hưởng của mỗi người lao động khi đã thuộc đối tượng được hưởng chế
độ bảo hiểm hưu trí sẽ không giống nhau Do có sự khác biệt về cơ sở mứcđóng của mỗi người mà cơ sở mức đóng lại phụ thuộc vào vùng, chức vụ haycác khoản thu nhập nên cơ sở mức đóng của mỗi người là không giống nhau.Tương tự như vậy, về thời gian đóng có người tham gia chế độ bảo hiểm hưutrí từ 20 tuổi cũng có người tham gia khi 30 tuổi nên về thời gian đóng BHHTcủa mỗi người cũng rất khác nhau Từ đó dẫn đến mức hưởng chế độ bảohiểm hưu trí của mỗi người là khác nhau
Trang 22Các nguyên tắc riêng của chế độ Bảo hiểm hưu trí Khác với các chế độbảo hiểm khác các nguyên tắc dưới đây là nguyên tắc riêng đặc thù chỉ có ởchế độ bảo hiểm hưu trí, đó là:
- Nguyên tắc điều chỉnh hợp lý chế độ hưởng bảo hiểm hưu trí bắt buộcgiữa lao động nam và lao động nữ Nguyên tắc này được thể hiện giữa laođộng nam và nữ, về mặt sinh học phía nam giới có sức khoẻ và quá trình lãohoá kéo dài hơn so với nữ giới Chính vì thế pháp luật Việt Nam quy định độtuổi kết thúc lao động của nam giới sẽ lớn hơn so với nữ giới Việc quy địnhcùng một độ tuổi để cả hai giới được hưởng chế độ là không hợp lý Tuynhiên, hiện nay sự phát triển của khoa học, công nghệ trong lĩnh vực y tế giúpkéo dài độ tuổi trung bình của con người Thì việc quy định độ tuổi đượchưởng chế độ bảo hiểm hưu trí cần phải dựa vào thực trạng, hoàn cảnh để linhđộng thay đổi phù hợp với từng thời kỳ Do đó vấn đề xác định độ tuổi nghỉhưu cần kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố là sự suy giảm của cơ thể về khả nănglao động và tuổi thọ bình quân của những người trong độ tuổi lao động
- Nguyên tắc giảm độ tuổi nghỉ hưu đối với một số ngành nghề, lĩnhvực nhất định Nếu một người lao động làm những công việc nặng nhọc, nguyhiểm thì sự suy giảm sức khoẻ của họ sẽ diễn ra nhanh hơn so với nhữngngười lao động làm các công việc khác ở điều kiện bình thường Nên phápluật nước ta quy định họ sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí sớm hơn sovới những người lao động làm việc ở điều kiện bình thường Đây là mộtnguyên tắc ưu đãi hướng tới một số công việc đặc thù, lao động chân tay nặngnhọc mà không thể áp dụng khoa học - kỹ thuật hay không có đủ điều kiện để
áp dụng mà vẫn phải sử dụng sức lao động của con người là chủ yếu Chính vìvậy, nguyên tắc ưu đãi ngành nghề, lĩnh vực này có thể thay đổi phụ thuộcvào từng giai đoạn, thời kỳ hay sự phát triển của khoa học - kỹ thuật Nguyêntắc này thường thấy ở các lĩnh vực như khai khoáng kim loại, dầu mỏ hay cáclĩnh vực về hoá chất, hoá dược ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người khilàm việc kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 23Qua các nguyên tắc trên có thể nhận thấy chế độ bảo hiểm hưu trí mangbản chất, nguyên tắc của bảo hiểm xã hội đồng thời cũng mang những bảnchất riêng vốn có của mình Chế độ bảo hiểm hưu trí thực hiện theo đúng cácnguyên tắc trên và kết hợp với các chính sách bảo trợ, chính sách ưu đãi đốivới người có công và các chính sách xã hội khác tạo nên nền móng an sinh xãhội vững chắc Qua đó, thể hiện trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trongviệc giáo dục, tuyên truyền các chính sách về chế độ bảo hiểm hưu trí Giúpmỗi người dân đều nắm vững những lợi ích của chế độ bảo hiểm này mang lạiđồng thời việc thực hiện các thủ tục để được tham gia hay khi được hưởngchế độ BHHT cũng phải nhanh chóng, kịp thời, đúng đối tượng và không cónhũng nhiễu khi thực hiện Từ đó thể hiện sự nhất quán trong mục đích,phương hướng cho tới việc thực hiện chế độ này cần có sự phối hợp chặt chẽgiữa các bên tham gia để chế độ bảo hiểm hưu trí sẽ đúng với ý nghĩa và bảnchất tốt đẹp của nó, phát huy tính ưu việt và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế
độ cũng như dân tộc ta
1.1.4 Vị trí, vai trò của bảo hiểm hưu trí trong hệ thống an sinh xã hội
Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “An sinh xã hội
là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do
bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo các chăm sóc y
tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.” Không thể phủ nhận vai trò to lớn
của hệ thống ASXH đó là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho mọicông dân trong xã hội Phương thức hoạt động có thể thông qua các biện pháptrực tiếp hoặc gián tiếp mà hướng tới các đối tượng trong xã hội cho phù hợp
Bảo hiểm xã hội là trụ cột cơ bản, là xương sống của hệ thống an sinhxã hội Điều đó được khẳng định theo tinh thần Nghị quyết 28-NQ/TW banhành ngày 23 tháng 5 năm 2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội Mà
Trang 24bảo hiểm xã hội lại được cấu thành từ các chế độ bảo hiểm khác, trong đó chế
độ bảo hiểm hưu trí là chế độ quan trọng hướng tới số lượng đối tượng đôngđảo nhất trong BHXH Nên không thể không nhắc tới vị trí và vai trò của bảohiểm hưu trí trong hệ thống ASXH
- Vị trí của bảo hiểm hưu trí trong hệ thống an sinh xã hội là: Nếu nóiBHXH là xương sống, trụ cột cơ bản trong hệ thống ASXH thì bảo hiểm hưutrí là hạt nhân của ASXH, đảm bảo an toàn cho toàn xã hội Tại vì bảo hiểmhưu trí là một trong các chế độ hướng tới số lượng đối tượng đông đảo nhấttrong hệ thống an sinh xã hội Đó là những người lao động tham gia bảo hiểmxã hội sau khi hết tuổi lao động được xem xét nghỉ chế độ hưu trí, vị trí nàykhông thể tách rời hoặc thay thế được bởi bất kỳ một chế độ nào khác Có thểnói, không có bảo hiểm hưu trí thì không thể có một nền ASXH vững mạnh.Nên việc thay đổi chính sách về bảo hiểm hưu trí cũng sẽ ảnh hưởng rất lớnđến hệ thống an sinh xã hội Chính vì vị trí đặc biệt này mà chế độ Bảo hiểmhưu trí có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực như: kinh tế, văn hoá, chínhtrị, xã hội hay pháp luật Thực hiện tốt bảo hiểm hưu trí là thực hiện tốt mộtphần trong chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta
- Vai trò bảo hiểm hưu trí là phải đảm bảo an toàn kinh tế cho người laođộng trong trường hợp giảm hoặc mất khả năng lao động Chế độ BHHT sinh
ra là để đảm bảo năng lực tài chính cho người lao động khi hết độ tuổi laođộng có thể đáp ứng nhu cầu sống của mình khi về độ tuổi “xế chiều” Bảohiểm hưu trí không chỉ thể hiện tính chất nhân văn mà còn đảm bảo chínhsách an sinh xã hội và công bằng cho mọi người Bảo hiểm hưu trí là huyếtmạch của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảođảm ổn định chính trị - xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đấtnước Vai trò cụ thể của bảo hiểm hưu trí như sau:
+ Đối với người lao động sẽ có thêm một khoản trợ cấp bảo hiểm hưutrí góp phần ổn định đời sống của người lao động, người lao động khi hưởng
Trang 25chế độ sẽ có được một khoản thu nhập bù đắp, thay thế cho khoản thu nhập bịmất do họ đã hết tuổi lao động Đặc biệt giúp người lao động đảm bảo cuộcsống của họ khi về già bằng chính khoản tiền tích luỹ của mình từ đó họ sẽcảm thấy khoản trợ cấp từ BHHT vô cùng có giá trị giúp họ yên tâm sống trọnvẹn tuổi già mà không phải sợ là gánh nặng cho gia đình hay xã hội Ngườilao động, người sử dụng lao động và Nhà nước đều tham gia đóng góp vàoquỹ BHHT, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong côngviệc, lao động sản xuất từ đó năng suất lao động sẽ tăng lên.
+ Đối với người sử dụng lao động thì quy định về bảo hiểm hưu tríđược đặt trong chế định BHXHBB khi buộc NSDLĐ phải tham gia thể hiệnđược trách nhiệm của chủ thể này đối với NLĐ của mình Người sử dụng laođộng muốn giữ “chân” người lao động thì ngoài việc trang bị thiết bị, máymóc hiện đại thì phải thực hiện đúng đủ các quyền lợi cơ bản của họ khôngchỉ ở thời điểm hiện tại mà còn phải thực hiện trong tương lai khi họ khôngcòn trong độ tuổi lao động nữa Từ đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữangười lao động và người sử dụng lao động, giúp cho người lao động vì tổchức mà cố gắng làm việc tạo ra nhiều giá trị hơn
+ Đối với xã hội vai trò chính của bảo hiểm hưu trí là tạo ra sự an toàncho các thành viên trong xã hội và vì vậy nó mang tính xã hội và tính nhânvăn sâu sắc Nó thể hiện tinh thần “tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách”của dân tộc Việt Nam Qua đó thể hiện trách nhiệm cũng như sự quan tâm củaNhà nước, của người sử dụng lao động và của toàn xã hội đối với nhữngngười lao động nay đã hết độ tuổi lao động Bảo hiểm hưu trí góp phần bảođảm an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Bảo hiểm hưu trí gópphần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Qũy bảo hiểm hưu tríđược sử dụng để chi trả các chế độ BHHT cho người lao động, phần nhàn rỗiđược đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởngquỹ Vì vậy, BHHT góp phần làm giảm bớt gánh nặng khoảng cách giữanhững người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội
Trang 26Mặt khác, Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động củaquỹ BHHT, bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, cho mọi đối tượng thụ hưởng.Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước - người sử dụnglao động - người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế - xã hội.
- Có thể thấy rằng hệ thống an sinh xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực,trong đó bảo hiểm hưu trí giữ vị trí quan trọng và gắn với thực tiễn phát triểnxã hội trong thời đại hiện nay Bảo hiểm hưu trí là một phần của hệ thống ansinh xã hội, góp phần củng cố các chính sách, các chương trình an sinh xã hộicủa quốc gia Khi BHXH phát triển, số đối tượng tham gia và hưởng BHHTđược mở rộng sẽ góp phần nâng cao đời sống của người lao động nói riêng vàdân cư nói chung, từ đó sẽ góp phần làm giảm số đối tượng được hưởng cácchính sách an sinh xã hội khác như: ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội và làm giảmgánh nặng cho ngân sách Nhà nước Bảo hiểm hưu trí trực tiếp thể hiện vaitrò, mục tiêu, lý tưởng và bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị - xã hội màĐảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang phấn đấu, xây dựng đất nước ViệtNam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
1.2 Quy định pháp luật về bảo hiểm hưu trí
1.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí
Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bao gồm ba nhóm đối tượng chính
là người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước
- Cụ thể đối với người lao động được quy định theo điều 53 của LuậtBảo hiểm xã hội năm 2014 thì đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí sẽ lànhững người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội xã hội bắt buộc.được quy định tại khoản 1, điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 như sau:
“Theo đó người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì sẽ là đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ
Trang 27hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
f) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
g) Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
h) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
i) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.”
Bên cạnh những đối tượng là công dân Việt Nam thì từ 01/01/2018 bổsung thêm những quy định mới nhằm mở rộng đối tượng tham gia NLĐ làcông dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặcchứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyềncủa Việt Nam cấp được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Chínhphủ sẽ thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí theo quy định của pháp luật
Ngoài ra người lao động không thuộc các đối tượng trên mà vẫn muốnhưởng chế độ BHHT thì có thể tham gia BHHT tự nguyện với mức đóng,mức hưởng theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Trang 28- Người sử dụng lao động sẽ tham gia nếu người lao động của họ thuộcmột trong các đối tượng trên và họ sẽ đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Cụ thể căn cứ vào khoản 3, điều 2, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 bao gồmnhững người sử dụng lao động như sau:
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;
+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác;
-+ Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổViệt Nam;
+ Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chứckhác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động
- Nhà nước cũng sẽ tham gia vào chế độ bảo hiểm này thông qua cácnguồn kinh phí hỗ trợ hay ngân sách trung ương để đảm bảo sự hoạt độngxuyên suốt không bị ngắt quãng khi thực hiện chế độ bảo hiểm này
Các đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí rất đa dạng, không chỉ ápdụng với những người lao động trong khu vực Nhà nước mà còn áp dụng đốivới những người lao động khu vực ngoài Nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân,
…
Việc phân chia các đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí cũngthể hiện rõ sự chung tay, góp sức không chỉ với những người trực tiếp hưởngquyền lợi là người lao động và người sử dụng lao động mà Nhà nước cũng lảchủ thể tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm hưu trí Điều đó thể hiện mongmuốn của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm hưutrí tới tối đa phần lớn tới người lao động đang làm việc không phân biệt khuvực làm việc hay nơi làm việc Do đó, cần phải hoàn thiện hơn nữa các quyđịnh của pháp luật theo hướng mở rộng các đối tượng tham gia chế độ bảohiểm hưu trí Đảm bảo hướng tới đại đa số những người lao động khi về hưu
sẽ được hưởng các quyền lợi chính đáng từ chế độ bảo hiểm hưu trí
Trang 29Từ các quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí có thể nhậnthấy bảo hiểm hưu trí không chỉ đem lại những lợi ích nhất định cho phíangười lao động, người sử dụng lao động mà cả sự phát triển bền vững của đấtnước nên việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí cần phải thựchiện đúng quy trình, lộ trình và kế hoạch đã đặt ra.
1.2.2 Chế độ bảo hiểm hưu trí
Chế độ bảo hiểm hưu trí là quyền lợi của người lao động khi tham giaBHXH bắt buộc Theo đó chế độ bảo hiểm hưu trí của một người sẽ phụthuộc vào tuổi đời và thời gian đóng BHXH mà người lao động có thể hưởngchế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng (bao gồm chế độ bảo hiểm hưu trí hàngtháng đầy đủ và chế độ bảo hiểm hưu tháng hưởng ở mức thấp hơn hay còngọi là chế độ nghỉ hưu sớm) và chế độ bảo hiểm hưu trí một lần Chế độ bảohiểm hưu trí gồm bốn yếu tố cấu thành đó là đối tượng hưởng, điều kiệnhưởng, mức hưởng, thời gian hưởng
* Đối tượng hưởng của chế độ bảo hiểm hưu trí:
Đối tượng hưởng của chế độ bảo hiểm hưu trí cũng là đối tượng thamgia Chính là những người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắtbuộc là đối tượng trực tiếp được hưởng chế độ này Theo quy định của LuậtBảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động là công dân Việt Nam thuộc đốitượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo khoản 1, điều 2 Luật Bảo hiểmxã hội năm 2014 sẽ được hưởng lương hưu nếu đáp ứng đủ các điều kiện theoquy định của pháp luật
* Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí:
Sau khi Bộ luật lao động năm 2019 được thông qua ngày 20/11/2019,quy định tăng tuổi nghỉ hưu được áp dụng từ ngày 01/01/2020 và kết hợp vớiLuật Bảo hiểm xã hội năm 2014 các điều kiện hưởng lương hưu của người laođộng như sau:
- Theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 bắt đầu từ năm 2021khi nghỉ hưu lao động nam phải đủ 60 tuổi cộng với 03 tháng, nữ phải đủ 60
Trang 30tuổi cộng với 04 tháng, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nữ và 04tháng đối với nam, cho đến khi lao động nam đủ 62 tuổi vào năm 2028, laođộng nữ đủ 60 tuổi vào năm 2035.
- Điều kiện đối với chế độ hưu trí hàng tháng: Người lao động thuộcnhóm đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i theo khoản 1, điều 2Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 nếu nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểmxã hội trở lên sẽ được hưởng lương hưu nếu thuộc 05 trường hợp sau:
+ Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2, điều 169 của Bộ luật laođộng năm 2019 như bảng dưới đây:
Bảng 1.1: Quy định về độ tuổi nghỉ hưu theo khoản 2, điều 169 của Bộ
luật Lao động năm 2019
(Căn cứ khoản 2, điều 4 NĐ 135/2020/NĐ-CP, quy định về tuổi nghỉ hưu)
Trang 31+ Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 3, điều 169 Bộ luật laođộng năm 2019 và có đủ 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguyhiểm hoặc tối thiểu 5 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặcbiệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số0,7 trở lên trước ngày 01/01/2021 như bảng dưới đây:
Bảng 1.2: Quy định về độ tuổi nghỉ hưu theo khoản 3, điều 169 của Bộ
luật Lao động năm 2019
Trang 322035 trở đi Đủ 57 tuổi Đủ 55 tuổi
(Căn cứ khoản 2, điều 5 NĐ 135/2020/NĐ-CP, quy định về tuổi nghỉ hưu)
+ Người lao động có độ tuổi thấp hơn 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quyđịnh trong trường hợp thông thường nhưng có đủ 15 năm làm công việc khaithác than trong hầm lò
+ Lao động nữ là cán bộ, công chức cấp xã hoặc là người hoạt độngkhông chuyên trách ở địa phương có tham gia BHXH, khi nghỉ việc có đủ 15năm đến 20 năm đóng BHXH và đủ tuổi nghỉ hưu như quy định
+ Người bị nhiễm HIV do rủi ro, tai nạn nghề nghiệp trong khi thựchiện công việc, nhiệm vụ được giao
- Người lao động thuộc nhóm đối tượng quy định tại các điểm đ và etheo khoản 1, điều 2 Luật BHXH năm 2014 và có đủ 20 năm đóng BHXH sẽđược hưởng lương hưu khi thuộc các trường hợp sau đây:
+ Lao động có độ tuổi thấp hơn 05 tuổi nghỉ hưu theo quy định tạikhoản 2, điều 169 Bộ luật lao động 2019, trừ trường hợp các luật sau đây cóquy định khác: Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công annhân dân, Luật Cơ yếu, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viênchức quốc phòng
+ Người bị nhiễm HIV do rủi ro, tai nạn nghề nghiệp trong khi thựchiện công việc
+ Lao động có độ tuổi thấp hơn 05 tuổi nghỉ hưu theo quy định tạikhoản 3, điều 169 Bộ luật lao động 2019 và có tối thiểu 15 năm làm công việcnặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểmthuộc danh mục do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định, hoặc có
đủ 15 năm làm việc ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, baogồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trướcngày 01/01/2021:
Trang 33- Điều kiện đối với chế độ nghỉ hưu sớm do suy giảm khả năng laođộng: Người lao động thuộc quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i theokhoản 1, điều 2, Luật BHXH năm 2014 khi nghỉ việc và có đủ 20 năm đóngBảo hiểm xã hội trở lên sẽ được hưởng lương hưu với mức thấp hơn trườnghợp thông thường nếu thuộc các trường hợp:
+ Độ tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi nghỉ hưu quy định và bị suy giảm khảnăng lao động từ 60% - dưới 81%
+ Độ tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi nghỉ hưu quy định và bị suy giảm khảnăng lao động từ 81% trở lên
+ Có đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độchại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH và bị suy giảm khả nănglao động từ 61% trở lên
- Người lao động thuộc nhóm đối tượng quy định tại các điểm đ và etheo khoản 1, điều 2 Luật BHXH năm 2014 khi nghỉ việc và có đủ 20 nămđóng Bảo hiểm xã hội trở lên sẽ được hưởng lương hưu với mức thấp hơntrường hợp thông thường nếu thuộc các trường hợp:
+ Có độ tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi nghỉ hưu so với quy định tại khoản
- Điều kiện nghỉ hưu trước tuổi theo chính sách tinh giản biên chế:Theo quy định tại khoản 2, điều 3 Nghị định 108/2014/NĐ-CP thì tinh giảnbiên chế được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế nhữngngười dôi dư, không đáp ứng được yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bốtrí, sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách cho những ngườithuộc diện tinh giản biên chế Cụ thể theo quy định tại điều 6, Nghị định
Trang 34108/2014/NĐ-CP; khoản 2, 3, 4, 5, điều 1 Nghị định 113/2018/NĐ-CP vàkhoản 1, điều 1 Nghị định 143/2020/NĐ-CP thì có 13 đối tượng thuộc diệntinh giản biên chế
- Đối tượng có tuổi thấp hơn tối đa đủ 5 tuổi và thấp hơn tối thiểu đủ 2tuổi so với tuổi nghỉ hưu tối thiểu quy định tại khoản 3, điều 169 Bộ luật Laođộng năm 2019 Có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong
+ Không bị trừ tỷ lệ lương hưu vì nghỉ hưu trước tuổi;
+ Trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi;
+ Trợ cấp 05 tháng tiền lương cho 20 năm đầu công tác, đóng đủ bảohiểm xã hội, từ năm 21 trở đi, mỗi năm được trợ cấp thêm một nửa tháng tiềnlương
- Đối tượng có tuổi thấp hơn tối đa đủ 5 tuổi và thấp hơn tối thiểu đủ 2tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động Cóthời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm bảo hiểm xã hội trở lên
Với những đối tượng trên thì chế độ hưởng bao gồm:
+ Chế độ hưu trí;
+ Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi;
+ Trợ cấp 05 tháng tiền lương cho 20 năm đầu công tác, đóng đủ bảohiểm xã hội, từ năm 21 trở đi, mỗi năm được trợ cấp thêm một nửa tháng tiềnlương;
+ Trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi
Trang 35- Đối tượng có tuổi thấp hơn 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu tối thiểu quyđịnh tại khoản 3, điều 169 Bộ luật Lao động Có thời gian đóng bảo hiểm xãhội đủ 20 năm trở lên, trong đó có:
+ Đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;hoặc
+ Đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khókhăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0.7 trở lên
Với những đối tượng trên thì chế độ hưởng bao gồm:
+ Chế độ hưu trí;
+ Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi
- Đối tượng có tuổi thấp hơn 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tạikhoản 2, điều 169 Bộ luật Lao động Có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20năm bảo hiểm xã hội trở lên
Với những đối tượng trên thì chế độ hưởng bao gồm:
+ Chế độ hưu trí;
+ Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi
Như vậy, điều kiện hưởng chế độ hưu trí đối với người tham gia BHXHbắt buộc sẽ có điều kiện về tuổi đời, số năm tham gia BHXH và mức độ suygiảm khả năng lao động
* Mức hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí:
- Trường hợp đối với mức hưởng lương lưu hằng tháng: Căn cứ Điều
56 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, lương hưu của người lao động tham giaBHXH được tính theo công thức sau:
Lương hưu = Tỷ lệ hưởng lương hưu x Mức bình quân tiền lương
tháng đóng BHXH
Trong đó:
- Tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng được tính như sau:
+ Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu trước tuổi quyđịnh do suy giảm khả năng lao động theo quy định thì tỷ lệ phần trăm hưởng
Trang 36lương hưu hàng tháng được tính như trên, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trướctuổi quy định thì giảm 2%.
+ Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, mức lương hưu hằng tháng củaNLĐ nữ nghỉ hưu được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH,sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2%; mức tối đa bằng75%
+ Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, mức lương hưu hàng tháng củaNLĐ nam nghỉ hưu được tính bằng 45% tương ứng với số năm đóng BHXHtheo bảng dưới đây, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH, được tính thêm2%; mức tối đa bằng 75% như bảng dưới đây:
Bảng 1.3: Số năm đóng BHXH tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 45%
Trang 37lương cơ sở tại thời điểm tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểmxã hội.
+ T là số năm đóng bảo hiểm xã hội
- Chế độ bảo hiểm hưu tháng hưởng ở mức thấp hơn (chế độ nghỉ hưusớm) Mức lương hưu hàng tháng trong trường hợp này cũng được tính dựatrên mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội và thời gian đóng bảo hiểmxã hội, vì vậy cách tính lương hưu cũng tương tự như nghỉ hưu đúng tuổi Tuynhiên vì người lao động nghỉ hưu trước tuổi nên cứ mỗi năm nghỉ hưu trướctuổi quy định thì giảm 2% cho cả nam và nữ (quy định trước là 1%) Khi tính
tỷ lệ hưởng lương hưu đối với trường hợp tuổi nghỉ hưu có tháng lẻ đến đủ 06tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ % Mốc tuổi
để tính thời gian nghỉ hưu trước tuổi làm cơ sở tính giảm tỷ lệ lương hưu đốivới người lao động trong điều kiện bình thường là đủ 60 tuổi đối với nam và
đủ 55 tuổi đối với nữ
- Trường hợp lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc khôngchuyên trách ở xã, phường, thị trấn: Mức lương hưu hằng tháng của lao động
nữ đủ điều kiện hưởng lương trong trường hợp này sẽ được tính theo số nămđóng BHXH và mức bình quần tiền lương tháng đóng BHXH như sau: đủ 15năm đóng BHXH tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóngBHXH Từ đủ 16 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH, cứ mỗi năm đóng tínhthêm 2%
- Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu: Trong trường hợp NLĐ có thời gianđóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% thìkhi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần Mức trợ cấpmột lần được tính theo số năm đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ
lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH Mức trợ cấp một lầnđược tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ
Trang 38lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tínhbằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Cụ thể, mức trợ cấp một lần được tính theo công thức sau:
Mức trợ cấp một lần = (Số năm đóng bảo hiểm xã hội - Số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%) x 1/2 tháng mức bình quân tiền
lương đóng bảo hiểm xã hội.
Trong đó:
- Số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% được tính như sau:+ Đối với lao động nam: Đóng đủ 20 năm bảo hiểm xã hội thì được45%; sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính thêm 2%.Khi đó, số năm đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 75% = 20 năm + (75% -45%): 2% = 35 năm
+ Đối với lao động nữ: Đóng đủ 15 năm bảo hiểm xã hội thì được 45%;sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính thêm 2% Khi
đó, số năm đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 75% = 15 năm + (75% 45%): 2% = 30 năm
Bảo hiểm xã hội một lần: Thông thường người lao động sẽ đượchưởng chế độ hưu trí thông qua việc nhận lương hưu hằng tháng Tuy nhiênviệc nhận lương hưu hằng tháng không phải luôn phù hợp hoặc có thể thựchiện được đối với NLĐ trong mọi tình huống Do đó, để bảo đảm quyền lợicho người lao động trong những tình huống như vậy, pháp luật cho phép NLĐđược hưởng BHXH một lần Theo quy định của pháp luật, người lao độngđược hưởng BHXH một lẩn trong những trường hợp sau:
+ Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ 20 năm đóngBHXH hoặc là lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc khôngchuyên trách ở xã, phường, thị trấn mà chưa đủ 15 năm đóng BHXH vàkhông tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện;
+ Ra nước ngoài để định cư;
Trang 39+ Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạngnhư ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đãchuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế;
- Mức hưởng BHXH một lần sẽ được tính theo số năm đã đóng BHXH.Trong trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ 1 năm thì mức hưởngBHXH bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiếnlương tháng đóng BHXH Đối với những trường hợp còn lại có thời gianđóng BHXH từ đủ 1 năm trở lên thì cứ mỗi năm sẽ được tính như sau:
+ 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho nhữngnăm đóng trước năm 2014;
+ 02 tháng mức bình quần tiền lương tháng đóng BHXH cho nhữngnăm đóng từ năm 2014 trở đi
Lưu ý: Trường hợp tính đến trước ngày 01/01/2014 thời gian đóng bảohiểm xã hội có tháng lẻ thì tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóngBHXH từ ngày 01/01/2014 trở đi để làm căn cứ tính bảo hiểm xã hội một lầnvới điều kiện là thời gian đóng bảo hiểm xã hội phải có chuyển tiếp sang năm2014; trường hợp toàn bộ thời gian đóng BHXH trước năm 2014 thì tháng lẻkhông được tính sang năm 2014 Không xem xét giải quyết lại đối với hồ sơhưởng chế độ BHXH một lần đã giải quyết đúng quy định và đã nhận tiền trợcấp BHXH một lần
Khi tăng tuổi nghỉ hưu của lao động thông thường số năm đóng BHXH
sẽ tăng theo Kết hợp với cách tính lương hưu tại thời điểm hiện tại thì cứ mỗinăm đóng thêm BHXH sẽ được tính thêm 2% vào mức hưởng lương hưu.Như vậy, việc tăng tuổi nghỉ hưu đối những người tham gia BHXH bắt buộc
sẽ có mức hưởng lương hưu cao hơn do số năm đóng BHXH tăng
* Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí:
Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí được hiểu là thời gian kể từkhi NLĐ nghỉ hưu cho đến khi NLĐ qua đời Với mỗi người thì thời gianhưởng lương hưu thông thường là có khác nhau vì tuổi nghỉ hưu và tuổi thọ
Trang 40không giống nhau Theo quy định tại điều 3 Nghị định số 135/2020/NĐ-CPquy định về tuổi nghỉ hưu thì thời điểm nghỉ hưu là kết thúc ngày cuối cùngcủa tháng đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định Đối với trường hợp người lao độngtiếp tục làm việc sau khi đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định thì thời điểm nghỉhưu là thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động Thời điểm hưởng chế độ hưutrí là bắt đầu ngày đầu tiên của tháng liền kề sau thời điểm nghỉ hưu Trườnghợp hồ sơ của người lao động không xác định được ngày, tháng sinh mà chỉ
có năm sinh thì lấy ngày 1 tháng 1 của năm sinh để làm căn cứ xác định thờiđiểm nghỉ hưu và thời điểm hưởng chế độ hưu trí Cụ thể như sau:
- Đối với người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc quy địnhtại các điểm a, b, c, d, đ, e và i tại khoản 1, điều 2 của Luật BHXH năm 2014,thời điểm hưởng lương hưu là thời điểm ghi trong quyết định nghỉ việc dongười sử dụng lao động lập khi người lao động đã đủ điều kiện hưởng lươnghưu theo quy định của pháp luật
- Đối với người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc quy địnhtại điểm h khoản 1, điều 2 của Luật BHXH năm 2014, thời điểm hưởng lươnghưu được tính từ tháng liền kề khi người lao động đủ điều kiện hưởng lươnghưu và có văn bản đề nghị gửi cho cơ quan bảo hiểm xã hội
- Đối với người lao động quy định tại điểm g, khoản 1, điều 2 của LuậtBHXH năm 2014 và người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội,thời điểm hưởng lương hưu là thời điểm ghi trong văn bản đề nghị của ngườilao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định
- Thời điểm hưởng chế độ hưu trí hàng tháng được tính từ thời điểmđược hưởng lương hưu ghi trong quyết định nghỉ việc của người lao động đã
đủ điều kiện theo quy định Còn đối với thời điểm hưởng chế độ bảo hiểmhưu trí một lần là thời điểm ghi trong quyết định của cơ quan BHXH
- Thời điểm kết thúc đến khi người lao động qua đời đối với chế độ bảohiểm hưu trí hàng tháng và với chế độ bảo hiểm hưu trí một lần là ngay khi cơ