LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU
LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU
Câu 1: Giải thích về tính bắc cầu của sở thích?
Khái niệm tính bắc cầu của sở thích ngụ ý rằng nếu như người tiêu dùng nào đó thích A hơn B hay thờ ờ, thờ ơ hay thích
Khi người tiêu dùng B có sự ưa thích hơn C, điều này cho thấy họ có thể thờ ơ hoặc thích A hơn C Tình trạng không bắc cầu trong sở thích có thể xuất hiện khi sự lựa chọn của người tiêu dùng thiếu tính nhất quán.
Trẻ em thường chưa xác định rõ sở thích của mình, dẫn đến việc sở thích có thể thay đổi nhanh chóng Qua thời gian, người tiêu dùng sẽ hiểu rõ hơn về sở thích cá nhân và có sự lựa chọn có tính bắc cầu hơn.
Tỷ lệ thay thế cận biên giữa hai hàng hóa bằng tỷ lệ giá cả của chúng là điều kiện cần thiết để tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng Khi người tiêu dùng đạt được sự cân bằng này, họ sẽ không thể cải thiện lợi ích của mình bằng cách thay đổi lượng tiêu thụ hai hàng hóa Điều này có nghĩa là, tại điểm tối ưu, giá trị mà người tiêu dùng nhận được từ việc tiêu thụ hàng hóa đầu tiên sẽ tương đương với chi phí mà họ phải trả cho hàng hóa đó, dẫn đến việc sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả nhất.
Tỷ lệ thay thế cận biên cho thấy tỷ lệ mà người tiêu dùng sẵn sàng hoán đổi một hàng hóa này lấy một hàng hóa khác mà không làm giảm mức độ thỏa mãn.
Tỷ lệ giá cả biểu thị sự đánh đổi mà thị trường cho phép thực hiện giữa hai hàng hóa đó
Người tiêu dùng tìm cách tối đa hóa sự thỏa dụng khi hai tỷ lệ đánh đổi bằng nhau, điều này được thể hiện tại điểm tiếp tuyến giữa đường ngân sách và đường bàng quan.
Câu 3: Giải thích tại sao người tiêu dùng dường như khó khăn hơn khi một sản phẩm mà họ mua bị định lượng?
Sự định lượng cho thấy người tiêu dùng không thể mua hàng hóa theo ý muốn, và để tối đa hóa độ thỏa dụng, họ phải từ bỏ một hàng hóa để mua hàng hóa khác Nếu không có quy định nào làm thay đổi số lượng tối đa của mỗi hàng hóa, việc đạt được độ thỏa dụng cao nhất sẽ không đảm bảo Tuy nhiên, nếu số lượng hàng hóa vượt quá mức tiêu dùng mong muốn, người tiêu dùng vẫn có thể tối đa hóa độ thỏa dụng mà không bị giới hạn Cuối cùng, sự định lượng cũng ám chỉ đến một mức phúc lợi xã hội cao hơn nhờ vào sự công bằng và vô tư.
Khi một người tiêu dùng phân bổ ngân sách cho thực phẩm và quần áo, nếu thực phẩm được xem là hàng thứ cấp, thì quần áo không thể được coi là hàng thứ cấp hay hàng thông thường Điều này bởi vì sự phân loại hàng hóa phụ thuộc vào nhu cầu và ưu tiên của người tiêu dùng, trong đó thực phẩm thường được xem là nhu cầu thiết yếu hơn so với quần áo.
Khi một cá nhân chỉ chi tiêu cho thực phẩm và quần áo, mọi sự gia tăng thu nhập sẽ phải được phân bổ hoàn toàn cho hai khoản chi này, vì họ không có khoản tiết kiệm nào.
Khi thực phẩm được coi là hàng hóa thứ cấp, sự gia tăng thu nhập dẫn đến việc giảm chi tiêu cho thực phẩm Nếu giá cả không thay đổi, phần thu nhập tăng thêm sẽ được chuyển sang chi tiêu cho quần áo Do đó, khi thu nhập tăng, chi tiêu cho quần áo cũng tăng, cho thấy quần áo là hàng hóa thông thường.
Bài số 1:Quyết định về mua xe ô tô do thị hiếu
Hình 1.1 minh họa việc phân tích hai nhóm khách hàng tiêu dùng trong việc mua ô tô, với mỗi nhóm có ngân sách 10.000 USD cho hai tính năng chính là “kiểu dáng” và “hiệu suất hoạt động” Mặc dù cả hai nhóm đều có ngân sách giống nhau, nhưng sở thích về hai tính năng này lại khác nhau, trong khi các đặc tính khác được giữ cố định.
Hình 1.1: Hai tình huống quyết định mua xe ô tô theo thị hiếu
Hiệu suất hoạt động Hiệu suất hoạt động
1 Dựa vào hình 1.1, hãy giải thích về quyết định của các nhóm khách hàng tiêu dùng
2 Theo bạn phương án nào đa số khách hàng mong muốn thực hiện?
Nhóm 1: Người tiêu dùng trong nhóm này ưu tiên hiệu suất hoạt động hơn kiểu dáng, thể hiện qua việc họ chọn mua xe ô tô với đánh giá hiệu suất 7.000 và kiểu dáng 3.000, khi tìm điểm tiếp tuyến giữa đường bàng quan và đường ngân sách.
Nhóm 2: Người tiêu dùng thích xe ô tô có hiệu suất hoạt động đánh giá 3.000 và kiểu dáng đánh giá là 7.000
Hiểu được thị hiếu của các nhóm, hãng sản xuất ô tô có thể vạch ra kế hoạch sản xuất và marketing
Một phương án triển vọng là sản xuất 1 kiểu xe chú trọng đến kiểu dáng ít hơn 1 chút so với mức người tiêu dùng trong hình 1.1
Phương án 2 tập trung vào việc sản xuất một số lượng lớn xe với kiểu dáng nổi bật, đồng thời cũng sản xuất một số lượng ít xe chú trọng đến hiệu suất hoạt động.
Nghiên cứu thống kê chỉ ra rằng đa số người tiêu dùng thích kiểu dáng hơn là hiệu suất hoạt động
Giả sử có bốn đường ngân sách I1, I2, I3, I4, với đường ngân sách ban đầu là I1, và bốn giỏ hàng hóa A, B, C, D được thể hiện trong hình 1.2.
Hình 1.2: Các phương án lựa chọn tối ưu khi thu nhập thay đổi
Dựa vào hình 1.2, hãy phân tích xem trong các giỏ hàng hóa A, C, D giỏ hàng hóa nào được ưa thích hơn? Tại sao?
Giả sử đường ngân sách I3 đi qua điểm A, người tiêu dùng sẽ chọn giỏ hàng hóa D Mặc dù A có giá tương đương và nằm trên cùng đường ngân sách, nhưng D vẫn được ưa chuộng hơn A.
– Giả sử đường ngân sách là I4 (đi qua A), người tiêu dùng lựa chọn giỏ hàng hóa C Vì rằng C được lựa chọn còn A thì không, nên C được ưa thích hơn A
Chúng ta tiếp tục với giả thiết sở thích lồi, trong đó D được ưa thích hơn A Do đó, tất cả các giỏ hàng hóa nằm trên và bên phải đường AD trong hình 1.2 đều phải được ưa thích hơn A Nếu không, đường bàng quan đi qua A sẽ phải cắt qua một điểm nằm trên và bên phải đường AD và sau đó đi xuống dưới đường này tại D, dẫn đến việc đường bàng quan không thể lồi Tương tự, tất cả các điểm trên hoặc phía trên đường AC cũng được ưa thích hơn A.
– Tóm lại, A là giỏ hàng hóa được ưa thích hơn mọi giỏ hàng hóa khác trong phạm vi của 4 đường ngân sách: I1,
PHÂN TÍCH TRONG THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH
PHÂN TÍCH TRONG PHÂN TÍCH TRONG PHÂN TÍCH TRONG
PHÂN TÍCH TRONG THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH
Câu 1: Khoản mất không là gì? Tại sao một mức giá tối đa lại thường đưa đến mất không của xã hội?
Mất không của xã hội xảy ra khi thị trường hoạt động không hiệu quả, dẫn đến việc cả người tiêu dùng và người sản xuất đều chịu thiệt Thuật ngữ “mất không” ám chỉ đến lợi ích không được khai thác bởi bất kỳ ai tham gia vào thị trường.
Mức giá trần ràng buộc là mức giá thấp hơn giá cân bằng trên thị trường, dẫn đến việc thay đổi thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất Khi sản lượng giảm xuống dưới mức hiệu quả, điều này gây ra tổn thất không cho xã hội.
Nếu hàm cung của một hàng hóa hoàn toàn không co giãn và chính phủ áp đặt mức giá tối đa trên thị trường, điều này sẽ dẫn đến một khoản mất không xã hội Nguyên nhân là do mức giá tối đa làm giảm động lực sản xuất của nhà cung cấp, gây ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa Khi nguồn cung không đủ để đáp ứng nhu cầu, người tiêu dùng không thể tiếp cận hàng hóa một cách công bằng, dẫn đến sự phân bổ tài nguyên không hiệu quả và tổn thất về phúc lợi xã hội.
Khi cung hoàn toàn không co giãn, việc áp đặt mức giá trần ràng buộc sẽ chuyển toàn bộ mất không từ thặng dư sản xuất sang thặng dư tiêu dùng Thặng dư sản xuất bị mất sẽ được bù đắp bởi thặng dư tiêu dùng, do đó không xảy ra mất không xã hội.
Mức giá tối đa có thể không đảm bảo cải thiện tình hình tài chính của người tiêu dùng Trong một số điều kiện nhất định, như lạm phát hoặc sự giảm sút trong thu nhập, người tiêu dùng có thể rơi vào tình trạng khó khăn hơn Việc áp dụng mức giá tối đa cần được xem xét kỹ lưỡng để tránh ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng chi tiêu của người tiêu dùng.
Cầu co giãn ít và chính sách kiểm soát giá có thể dẫn đến việc tiêu dùng bị mất thặng dư ròng Điều này xảy ra khi người tiêu dùng không thể mua sản phẩm hoặc dịch vụ với mức giá thị trường, trong khi họ lại sẵn sàng chi trả nhiều hơn.
Trong trường hợp này, thặng dư tiêu dùng giảm nhiều hơn so với thặng dư sản xuất được bù đắp Điều này dẫn đến việc xã hội phải chịu một khoản mất mát, và người tiêu dùng rơi vào tình trạng sa sút.
Giá tối thiểu do chính phủ đặt ra cho một hàng hóa có thể ảnh hưởng đến các nhà sản xuất Nếu mức giá này cao hơn giá thị trường tự do, nó có thể dẫn đến tình trạng dư cung, khiến cho một số nhà sản xuất không thể tiêu thụ sản phẩm của mình Tuy nhiên, nếu mức giá tối thiểu hợp lý và hợp tác với chi phí sản xuất, nó có thể bảo vệ lợi ích của nhà sản xuất và đảm bảo họ có lợi nhuận ổn định Do đó, tác động của giá tối thiểu đến các nhà sản xuất phụ thuộc vào mức giá cụ thể và điều kiện thị trường.
Giá sàn có thể tạo ra tín hiệu sai cho nhà sản xuất, khiến họ tin rằng cần phải tăng sản xuất để đáp ứng doanh thu cao hơn, mặc dù thực tế là nhu cầu giảm Mặc dù một phần thặng dư tiêu dùng được chuyển cho nhà sản xuất, nhưng doanh thu lại bị ảnh hưởng tiêu cực do người tiêu dùng mua ít hàng hóa hơn Khi các nhà sản xuất nhận tín hiệu sai này, họ có thể chấp nhận gia tăng chi phí sản xuất, nhưng chi phí bổ sung này khó có thể được bù đắp nếu không có sự cắt giảm sản lượng đồng loạt từ tất cả các nhà sản xuất.
Câu 5: Những hạn chế sản xuất được sử dụng như thế nào để làm tăng mức giá hàng hóa trong các trường hợp thực tiễn dưới đây:
2 Các loại thức uống trong một khách sạn hay quán rượu
Khi chính quyền địa phương kiểm soát số lượng taxi bằng cách cấp phép, số lượng taxi sẽ giảm so với khi không có sự quản lý Điều này dẫn đến việc các taxi có thể tính giá cao hơn mức giá thị trường.
Nhà nước quản lý việc bán đồ uống có cồn bằng cách yêu cầu quán rượu, khách sạn và nhà hàng phải có giấy phép, đồng thời hạn chế số lượng giấy phép cấp trong một khoảng thời gian nhất định Việc giới hạn này giúp những người sở hữu giấy phép có thể định giá cao hơn cho các loại đồ uống.
Chính quyền quản lý diện tích canh tác lúa và ngũ cốc thông qua các chương trình tài chính, khuyến khích nông dân để lại một phần đất trống Hành động này dẫn đến việc giảm cung và làm tăng giá cả.
Chính phủ muốn nâng cao thu nhập cho nông dân thường áp dụng các chương trình trợ giá hoặc hạn ngạch sản xuất Tuy nhiên, những biện pháp này có thể dẫn đến chi phí xã hội cao hơn so với việc cấp tiền trực tiếp cho nông dân Nguyên nhân là do trợ giá có thể làm tăng giá hàng hóa, gây ra lãng phí nguồn lực và làm giảm hiệu quả kinh tế Hạn ngạch sản xuất cũng có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt hàng hóa và tạo ra sự không ổn định trên thị trường Do đó, cấp tiền trực tiếp cho nông dân có thể là giải pháp hiệu quả hơn, giúp họ sử dụng nguồn lực một cách tối ưu và nâng cao thu nhập mà không làm tăng gánh nặng cho xã hội.
Trợ giá và hạn ngạch sản xuất gây ra chi phí cao hơn cho xã hội so với chương trình trợ cấp trực tiếp, do sản lượng bị sụt giảm Sản lượng thấp làm giảm thặng dư tiêu dùng và dẫn đến mất không xã hội, bao gồm cả khoản chi trả cho nông dân, chỉ là sự phân phối lại thặng dư từ khu vực phi nông nghiệp sang nông nghiệp Do đó, nếu không có sự phân phối lại này, xã hội sẽ phải đối mặt với mất mát phúc lợi.
Nếu chính phủ muốn hạn chế nhập khẩu một mặt hàng nào đó, việc áp dụng chính sách hạn ngạch nhập khẩu sẽ hiệu quả hơn so với thuế quan Hạn ngạch nhập khẩu cho phép chính phủ kiểm soát số lượng hàng hóa được nhập vào, từ đó bảo vệ ngành sản xuất trong nước và duy trì giá cả ổn định Ngược lại, thuế quan chỉ làm tăng chi phí hàng nhập khẩu mà không giới hạn số lượng, có thể dẫn đến việc hàng hóa vẫn tràn vào thị trường Do đó, để đạt được mục tiêu kiểm soát và bảo vệ sản xuất nội địa, chính sách hạn ngạch là lựa chọn tối ưu.
LỰA CHỌN TRONG ĐIỀU KIỆN RỦI RO
LỰA CHỌN TRONG LỰA CHỌN TRONG LỰA CHỌN TRONG
LỰA CHỌN TRONG ĐIỀU KIỆN RỦI RO ĐIỀU KIỆN RỦI RO ĐIỀU KIỆN RỦI RO ĐIỀU KIỆN RỦI RO
Người không thích rủi ro thường là những người có xu hướng tìm kiếm sự an toàn và ổn định trong cuộc sống Họ có thể cảm thấy lo lắng khi phải đối mặt với những tình huống không chắc chắn và thường tránh xa các quyết định có thể dẫn đến mất mát Ngược lại, một số người lại thích rủi ro vì họ tìm kiếm sự mới mẻ, thách thức và cơ hội phát triển bản thân Sự khác biệt này có thể do tính cách, kinh nghiệm sống hoặc môi trường mà mỗi người lớn lên.
Người không thích rủi ro là người thích rủi ro ít hơn là rủi ro nhiều Có một số người thích rủi ro nhiều hơn là rủi ro ít
Giải thích có tính kinh tế của vấn đề này dựa trên sự thay đổi trong hàm lợi ích đối với sự giàu có
Câu 2: Tại sao một người muốn bảo hiểm hoàn toàn chống lại các tình trạng không chắc chắn khi việc bảo hiểm thực chất mang tính chất công bằng?
Nếu phí bảo hiểm tương đương với dự đoán về tổn thất, những người không thích rủi ro sẽ chọn bảo hiểm hoàn toàn để bảo vệ tài sản Điều này đảm bảo thu nhập của họ không thay đổi, bất chấp tổn thất có thể xảy ra Bảo hiểm công bằng giúp tạo ra thu nhập chắc chắn tương đương với thu nhập dự đoán trong tình trạng rủi ro Sự đảm bảo này mang lại lợi ích lớn hơn cho những người có thu nhập cao khi không gặp tổn thất, và cho những người có thu nhập thấp khi có tổn thất Như vậy, sự không thích rủi ro được thỏa mãn khi E[U(x)] ≤ U(E[x]).
Một công ty bảo hiểm thường hoạt động trung lập với rủi ro, bởi vì mục tiêu chính của họ là quản lý và phân tán rủi ro thay vì tránh né nó Những người quản lý trong công ty bảo hiểm, mặc dù có xu hướng không thích rủi ro, vẫn cần phải đánh giá và phân tích các yếu tố rủi ro để thiết lập các chính sách bảo hiểm hợp lý Họ sử dụng dữ liệu và thống kê để dự đoán khả năng xảy ra rủi ro, từ đó đưa ra các giải pháp bảo vệ tài chính cho khách hàng Việc này giúp công ty duy trì sự ổn định tài chính và cung cấp sự an tâm cho người tham gia bảo hiểm.
Các công ty lớn thường có nhiều cơ hội để đa dạng hóa rủi ro thông qua các khoản đầu tư khác nhau Các nhà quản lý, làm việc cho các ông chủ, có nhiệm vụ lựa chọn các đầu tư rủi ro nhằm tối đa hóa lợi nhuận Đặc biệt, các công ty bảo hiểm cũng thực hiện việc đa dạng hóa rủi ro bằng cách bảo hiểm cho nhiều khách hàng khác nhau Nhờ quy mô hoạt động lớn, các công ty bảo hiểm có khả năng tự bảo đảm, vì tổng số phí bảo hiểm thu được thường sẽ bù đắp cho tổng số tiền chi ra để bồi thường tổn thất Do đó, hoạt động của công ty bảo hiểm có vẻ trung lập, mặc dù các nhà quản lý có thể là những người không thích rủi ro.
Câu 4: Khi nào đáng bỏ tiền ra để có thêm thông tin cho việc giảm tính không chắc chắn?
Các cá nhân thường sẵn lòng đầu tư chi phí để có được thông tin phong phú hơn, vì lợi ích từ việc đưa ra lựa chọn dựa trên thông tin vượt trội hơn so với việc lựa chọn mà không có thông tin.
Câu 5: Sự đa dạng hóa danh mục đầu tư để tránh rủi ro như thế nào?
Khi các công ty bảo hiểm giảm thiểu rủi ro thông qua việc đa dạng hóa, họ bảo hiểm nhiều cá nhân không liên quan đến nhau; tương tự, các nhà đầu tư cũng có thể giảm rủi ro bằng cách đầu tư vào các dự án riêng lẻ.
Một quỹ hỗ trợ là danh mục cổ phiếu của một công ty độc lập, trong đó phương sai lợi tức trên một cổ phiếu không liên quan đến phương sai lợi tức trên cổ phiếu khác Do đó, một danh mục cổ phiếu sẽ có phương sai thấp hơn khi so sánh với từng cổ phiếu riêng lẻ Khi số lượng cổ phiếu trong danh mục tăng lên, phương sai trong tỷ lệ lợi tức tổng thể sẽ giảm Mặc dù danh mục cổ phiếu có ít rủi ro hơn, nhưng vẫn tồn tại một số rủi ro nhất định, đặc biệt khi so sánh với tài sản không rủi ro như tín phiếu kho bạc của Chính phủ.
Do đó, ở đây rủi ro chỉ giảm đi, chứ nó không bị xóa hoàn toàn
Một số nhà đầu tư chọn đầu tư vào các tài sản rủi ro vì họ tìm kiếm lợi nhuận cao hơn, trong khi những người khác ưu tiên tài sản không rủi ro để bảo toàn vốn Quyết định đầu tư phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro, mục tiêu tài chính và chiến lược đầu tư của từng cá nhân Những nhà đầu tư mạo hiểm thường tin tưởng vào khả năng sinh lời từ các tài sản biến động, trong khi những người thận trọng lại tìm kiếm sự ổn định và an toàn trong danh mục đầu tư của họ.
Trong thị trường tài sản rủi ro, nhà đầu tư không thích rủi ro thường yêu cầu lợi tức cao hơn cho các khoản đầu tư có mức rủi ro lớn Một số nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao hơn để đổi lấy tỷ suất lợi tức cao hơn Điều này không có nghĩa là họ không thích rủi ro, mà là họ chỉ đầu tư khi được đền bù xứng đáng.
Xét một loại xổ số với ba kết cục có thể xảy ra: thắng 100 đôla với xác suất 0,1; thắng 50 đôla với xác suất 0,2; thắng 10 đôla với xác suất 0,7
1 Giá trị kỳ vọng của loại xổ số này là bao nhiêu?
2 Phương sai của các kết cục của loại xổ số bằng bao nhiêu?
3 Một người trung lập với rủi ro sẽ trả bao nhiêu để chơi xổ số này?
1 Giá trị kỳ vọng của xổ số bằng trung bình có quyền số của các kết quả với trọng số là xác suất của chúng:
2 Phương sai của kết quả xổ số là:
27) 2 = 841 đôla Độ lệch chuẩn của kết quả xổ số là VAR 0,5 = 29 đôla
3 Một người bàng quan với rủi ro sẽ trả tại giá trị kỳ vọng của kết quả xổ số hay 27 đôla để mua xổ số
Một người tiêu dùng đang xem xét việc mua xổ số của chính phủ với giá mỗi vé là 10.000 đồng Xác suất trúng thưởng của các giải thưởng sẽ ảnh hưởng đến quyết định của họ.
1 Giá trị kỳ vọng của tiền thưởng cho người tiêu dùng này là bao nhiêu nếu anh ta mua một vé xổ số? Phương sai là bao nhiêu?
2 Nếu anh ta là người cực kỳ ghét rủi ro thì liệu anh ta có mua xổ số hay không?
3 Nếu anh ta có mua bảo hiểm để phòng mọi tổn thất Nếu anh ta mua 1000 vé xổ số thì anh ta sẽ trả bao nhiêu tiền bảo hiểm?
2 Người tiêu dùng không mua vé xổ số cho dù kết cục dự tính cao hơn giá cả
3 Người tiêu dùng mua 1000 vé số thì anh tà phải trả số tiền bảo hiểm là:
10.000 × 1.000 = 10.000.000 đồng Nếu mua 1.000 vé, có thể anh ta sẽ có:
Vì vậy, anh ta không mua bảo hiểm mà mua nhiều vé số hơn
Giả sử một nhà đầu tư đang xem xét một phương án kinh doanh với ba kết cục khác nhau, mỗi kết cục có xác suất và lợi tức riêng biệt Việc phân tích các xác suất và lợi tức này là rất quan trọng để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý và tối ưu hóa lợi nhuận Nhà đầu tư cần đánh giá kỹ lưỡng các phương án để lựa chọn hướng đi phù hợp nhất với mục tiêu tài chính của mình.
Xác suất Lợi tức (100.000 đồng)
1 Xác định giá trị kỳ vọng của khoản đầu tư bất định này
2 Xác định phương sai của chúng
Bạn là đại lý bán bảo hiểm và bạn phải cấp một đơn bảo hiểm cho một khách hàng mới có tên là Dũng Công ty của anh
Dũng, người sáng lập SCAM, đang phát triển một sản phẩm thay thế cho nước sốt Mayonnaise với đặc điểm ít cholesterol và ít béo Ngành công nghiệp bánh mì sẵn sàng chi trả cao cho sản phẩm đổi mới này, khiến đây trở thành một cơ hội hấp dẫn nhưng cũng đầy rủi ro cho công ty của Dũng Lợi nhuận tiềm năng từ sản phẩm của Dũng có thể rất lớn nếu thành công trên thị trường.
0,999 – 1.000.000 đôla Anh ta thất bại
0,001 1.000.000.000 đôla Anh ta thành công và bán được công thức sản phẩm
1 Xác định giá trị kỳ vọng của khoản đầu tư bất định này là bao nhiêu?
2 Phương sai là bao nhiêu?
Ba người Hạnh, Hà và Nga được mời mua một bức phác họa được cho là của một họa sĩ nổi tiếng với giá 500 bảng Nếu bức tranh này là thật, giá trị của nó có thể lên tới 1.000 bảng.
Nếu phương án là giả, nó sẽ không có giá trị Mỗi lựa chọn đều có xác suất 50/50 Hạnh từ chối không mua, Hà quyết định mua ngay, trong khi Nga sử dụng đồng xu để đưa ra quyết định.
1 Hãy nêu thái độ của mỗi người đối với mạo hiểm?
2 Còn bạn có mua bức họa không?
3 Thái độ của bạn đối với mạo hiểm là như thế nào?
4 Thái độ của bạn sẽ như thế nào nếu bạn vừa thắng cược 1 triệu bảng?
1 Hạnh không thích mạo hiểm
– Hà là người thích mạo hiểm
– Nga là người trung hòa với mạo hiểm
2 Bạn có thể là người không thích mạo hiểm giống như
Hạnh khi lựa chọn không mua Tuy nhiên, Hạnh nói với chúng ta rằng nếu anh có tiền, anh có thể chấp nhận mua
Tất nhiên, điều này phản ánh độ thỏa dụng biên giảm dần của của cải
Trong những trường hợp nào dưới đây, rủi ro được dàn trải?
1 Bảo hiểm đôi chân của hoa hậu thế giới
3 Bảo hiểm cho những thứ trong một máy ước lạnh
4 Bảo hiểm đối với tai nạn nhà máy điện nguyên tử
5 Bảo hiểm y tế đối với kỳ đi nghỉ ở nước ngoài
Dàn trải rủi ro xảy ra khi một số lượng lớn người gặp rủi ro, dẫn đến xác suất mỗi cá nhân yêu cầu bảo hiểm trở nên tương đối nhỏ Điều này có thể xảy ra trong các trường hợp (2), (3), (5).
Những hoàn cảnh nào dưới đây minh họa cho sự tổn hại về tinh thần và những tình trạng nào là lựa chọn ngược?
1 Hà không bao giờ khóa xe hơi vì biết rằng xe đã được bảo hiểm đầy đủ?
2 Sau khi mua bảo hiểm tính mạng của mình, trong điều kiện bất trắc cho gia đình mình được hưởng, Hạnh tiếp tục hút thuốc nhiều hơn
3 Nga mua bảo hiểm tính mạng vì biết rằng việc cô nghiện thuốc lá làm cho cô bị ứng thư phổi nặng
4 Hoàn đã mua thêm bảo hiểm sức khỏe ngay trước đi nghỉ trượt tuyết
Tổn hại nguy về tinh thần xảy ra trong các trường hợp (1) và (2); còn (3) và (4) liên quan đến lựa chọn ngược
LỰA CHỌN SẢN XUẤT TỐI ƯU
LỰA CHỌN SẢN XU LỰA CHỌN SẢN XU LỰA CHỌN SẢN XU
LỰA CHỌN SẢN XUẤT ẤT ẤT ẤT TỐI ƯU TỐI ƯU TỐI ƯU TỐI ƯU
Câu 1: Hàm sản xuất là gì? Hàm sản xuất dài hạn khác hàm sản xuất ngắn hạn như thế nào?
Hàm sản xuất là một mô hình về sự biến đổi các đầu vào để cho ra các đầu ra của một hãng kinh doanh
Chúng ta tập trung vào hãng kinh doanh với đầu ra và tổng tất cả các đầu vào như lao động, vốn Đây là các yếu tố sản xuất
Trong ngắn hạn, doanh nghiệp bị giới hạn bởi các yếu tố đầu vào hiện có Tuy nhiên, khi thời gian kéo dài, doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn để điều chỉnh mức sử dụng các đầu vào Trong sản xuất dài hạn, tất cả các yếu tố đầu vào đều có thể thay đổi.
Câu 2: Tại sao lợi tức giảm dần đối với một yếu tố sản xuất duy nhất và lợi tức không đổi theo quy mô lại không mâu thuẫn nhau?
Lợi tức giảm dần đối với một yếu tố sản xuất duy nhất xuất hiện trong nhiều quá trình sản xuất khi mức sử dụng đầu vào tăng lên Hiện tượng này được nhiều nhà kinh tế gọi là “quy luật năng suất cận biên giảm dần” Khi năng suất cận biên giảm dần, ít nhất một yếu tố sản xuất sẽ giữ nguyên không thay đổi.
Không giống như lợi tức theo yếu tố duy nhất, với lợi tức theo quy mô, có sự gia tăng cân xứng trong tất cả các đầu vào
Khi tất cả các yếu tố sản xuất được tăng cường đồng thời, sản lượng có thể tăng với tỷ lệ cao hơn, bằng hoặc thấp hơn so với tỷ lệ tăng của các yếu tố, dẫn đến lợi tức có thể tăng dần, không đổi hoặc giảm dần theo quy mô.
Trong bối cảnh các điều kiện kinh doanh thay đổi liên tục, các công ty thường giữ một yếu tố cố định để đảm bảo sự ổn định và nhất quán trong hoạt động của mình Yếu tố này có thể là giá trị cốt lõi, chiến lược thương hiệu hoặc chất lượng sản phẩm Sự xác định một yếu tố là cố định hay biến đổi phụ thuộc vào khả năng của nó trong việc duy trì tính nhất quán trong khi vẫn thích ứng với những thay đổi bên ngoài Việc giữ yếu tố cố định giúp doanh nghiệp xây dựng lòng tin và sự trung thành từ khách hàng, đồng thời tạo ra một nền tảng vững chắc để phát triển trong môi trường cạnh tranh.
Nếu yếu tố cố định hay biến đổi phụ thuộc vào thời kỳ đang xem xét Tất cả các yếu tố đều cố định trong nhất thời
Trong dài hạn, tất cả các yếu tố đều biến đổi, vì vậy doanh nghiệp cần xác định một hoặc nhiều yếu tố ổn định trong ngắn hạn Một chiến lược hữu ích để đảm bảo sự ổn định ngắn hạn là lựa chọn các giải pháp mang lại lợi ích dài hạn, chẳng hạn như thuê thiết bị thay vì mua sắm.
Một hãng kinh doanh có thể gặp ba loại lợi tức theo quy mô: lợi tức tăng dần, lợi tức không đổi và lợi tức giảm dần Khi sản lượng tăng, lợi tức tăng dần cho thấy hiệu quả sản xuất được cải thiện; lợi tức không đổi cho thấy sản lượng và chi phí tăng đồng đều; trong khi lợi tức giảm dần chỉ ra rằng việc mở rộng sản xuất có thể dẫn đến giảm hiệu quả Việc hiểu rõ các loại lợi tức này là rất quan trọng trong quản lý và phát triển chiến lược kinh doanh.
Hầu hết các hãng sản xuất có thể thay thế cho nhau với tỷ số năng suất cận biên không đổi và đường đồng lượng là đường thẳng Khi các đầu vào sản xuất hoàn toàn bổ sung cho nhau, việc tăng thêm một đơn vị đầu vào sẽ không làm tăng sản lượng, trừ khi có sự bổ sung của đầu vào khác Trong trường hợp này, đường đồng lượng sẽ có hình dạng chữ L, với độ dốc của nhánh ngang bằng không và nhánh đứng không xác định.
Câu 5: Nếu chi phí cận biên của sản xuất tăng, chi phí biến đổi trung bình tăng dần hay giảm dần? Giải thích?
Chi phí cận biên có thể tăng trong khi chi phí biến đổi bình quân tăng hoặc giảm
Chi phí cận biên có vai trò quan trọng trong việc xác định mối quan hệ với chi phí biến đổi bình quân Nếu chi phí cận biên nhỏ hơn chi phí bình quân, mỗi đơn vị sản phẩm thêm vào sẽ làm tăng tổng chi phí ít hơn so với đơn vị trước Ngược lại, nếu chi phí cận biên lớn hơn chi phí bình quân, tổng chi phí sẽ tăng nhiều hơn Do đó, việc phân tích chi phí cận biên giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hiệu quả sản xuất và quyết định đầu tư.
Nếu một hãng kinh doanh A phát hiện tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên của vốn cho lao động trong sản xuất lớn hơn tỷ lệ tiền thuê máy móc so với tiền công cho dây chuyền sản xuất, hãng cần điều chỉnh cách sử dụng vốn và lao động Cụ thể, hãng nên giảm bớt việc sử dụng vốn và tăng cường sử dụng lao động để tối ưu hóa chi phí sản xuất, từ đó đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn.
Để giảm thiểu chi phí, doanh nghiệp cần kết hợp hợp lý giữa vốn và lao động, đảm bảo rằng tỷ lệ đánh đổi giữa chúng trong quá trình sản xuất tương đương với tỷ lệ giá cả của từng yếu tố.
Do đó, hãng sẽ cải tiến bằng cách tăng sử dụng vốn và giảm sử dụng lao động; giảm tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên
(MRTS); sự thay thế này tiếp tục cho đến khi MRTS ngang bằng tỷ lệ giá cả hai đầu vào
Cho hàm tổng chi phí về một sản phẩm của một doanh nghiệp có dạng:
Trong đó: K là tổng chi phí cố định
1 Viết phương trình biểu diễn chi phí bình quân
2 Viết phương trình biểu diễn chi phí biến đổi bình quân
3 Viết phương trình biểu diễn chi phí cố định bình quân
4 Xác định chi phí cận biên của sản phẩm
5 Xác định mức sản lượng tại chi phí biến đổi bình quân tối thiểu
6 Chứng minh rằng đường chi phí cận biên cắt đường chi phí bình quân tại điểm chi phí bình quân cực tiểu
Từ hàm tổng chi phí đã cho: TC = K + aQ – bQ 2 /2 + cQ 3 /3 ta có:
2 AVC = VC/Q = (aQ – bQ 2 /2 + cQ 3 /3)/Q = a – bQ/2 + cQ 2 /3
4 Để suy ra được chi phí cận biên (MC) từ (AVC) ta có chi phí biến đổi
VC = Q.AVC = aQ – bQ 2 /2 + cQ 3 /3 Vậy: (MC) = ( TC ) ' Q = ( VC ) ' Q = a – bQ + cQ 2
5 Chi phí biến đổi bình quân bằng chi phí cận biên tại mức sản lượng tại đó AVCmin hay Q = 3b/4c
6 Tại điểm đáy của ATC thì:
Ta có thể biến đổi tương đương như sau:
= –1/Q(ATC – MC) = 0 Hay ATC = MC
Mỗi hàm sản suất dưới đây thể hiện lợi suất tăng dần, giảm dần hay không đổi theo quy mô?
Khi tăng t lần các đầu vào ta được hàm:
Kết quả này cho thấy lợi tức tăng dần theo quy mô
Khi tăng t lần các đầu vào ta được:
Vậy hàm này có lợi tức không đổi theo quy mô
Q * = 100.(tK) 0,8 (tL) 0,2 = 100 K 0,8 L 0,2 t 0,8+0,2 = t.Q Hàm không đổi theo quy mô
Q * = (tK) 2 (tL) = t 3 Q Hàm tăng dần theo quy mô
Q * = (tKtL) 0,5 = t.Q Hàm không đổi theo quy mô
Sản phẩm cận biên của lao động trong một quy trình sản xuất sản phẩm vi mạch máy tính điện tử bằng 50 vi mạnh/giờ
Tỷ suất thay thế kỹ thuật cận biên của giờ lao động cho giờ máy móc (vốn) là 1/4
Hãy tính toán sản phẩm cận biên của vốn
MRTS = 1/4 = MPL/MPK = 50/MPK⇒ MPK = 200
Giả sử một doanh nghiệp H có:
Hàm cầu về sản phẩm A biểu diễn dưới dạng:
Hàm tổng chi phí bình quân có dạng : ATC = 0,5Q A
Trong đó: Q là sản lượng và A là chi phí quảng cáo
1 Nếu với A = 9, xác định mức sản lượng và giá bán tối ưu
2 Hãy phân tích tác động của chi phí quảng cáo A tới mức sản lượng và giá bán tối ưu
1 Ta có TC = 0,5.Q 2 A 0,5 do đó MC = Q.A 0,5
2 Để phân tích tác động của A đến Q * , ta cần tính: dQ * /dA = (–0,5Q * A 0,5 )/(4 + A 0,5 ) do A > 0; Q * > 0, nên dQ * /dA < 0
Theo công thức tính đạo hàm hàm hợp ta được: dP * /dA = dP * dQ * /dQ * dA
Chi phí quảng cáo tăng lên thì doanh nghiệp sẽ bán được ít hàng hóa hơn nhưng giá cao hơn
Khi A = 9 và Q * = 70, ta có thể sử dụng các biểu thức dQ * /dA để tính toán sự thay đổi của Q * và P * khi tăng một đơn vị chi phí quảng cáo Cụ thể, Q * sẽ giảm và P * sẽ tăng một số đơn vị nhất định.
Hàm sản xuất của một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm A trong điều kiện sản xuất hàng loạt từ 10.000 đến 50.000 đơn vị sản phẩm được xác định như sau :
ATC = 10.000 – 0,1CQ + 0,3Q Trong đó: CQ là sản lượng cộng dồn
Q là số lượng đơn vị sản phẩm
1 Xác định tính kinh tế theo quy mô
Doanh nghiệp đã sản xuất 40.000 đơn vị sản phẩm và năm nay dự kiến sản xuất 10.000 đơn vị Nếu kế hoạch cho năm tới là 15.000 đơn vị, cần xem xét sự thay đổi trong chi phí sản xuất bình quân.
1 Để đo tính kinh tế và phi kinh tế theo quy mô
Chúng ta sử dụng chỉ tiêu: hệ số co giãn của tổng chi phí theo sản lượng, nó được xác định như sau:
Khi MC > ATC (vì 0,6Q > 0,3Q), điều này cho thấy rằng Ec > 1, tức là chi phí tăng nhanh hơn tỷ lệ với sản lượng Hiện tượng này dẫn đến tình trạng phi kinh tế theo quy mô, hay nói cách khác là lợi tức giảm theo quy mô.
– Tính ATC bình quân của năm nay:
– Tính chi phí bình quân năm tới:
Vậy, chi phí bình quân giảm
Hàm sản xuất của một sản phẩm có dạng:
Giá của vốn là 200.000 đồng và giá của lao động là
Hãy tính toán chi phí tối thiểu để sản xuất 1.000 đơn vị sản phẩm
Thế L vào hàm sản xuất và tính K để sản xuất 1.000 sản phẩm
Giả sử có một hàm sản xuất được biểu diễn dưới dạng:
Giá của vốn là 100.000 đồng; giá của lao động là 200.000 đồng
Xác định phương án phối hợp vốn và lao động tối ưu để tối thiểu hóa chi phí
MPL = 2KL và MPK = L 2 MRTS = MPL/MPK = 2KL/L 2 = 2K/L = 200.000/100.000
= 2/1 ⇒ K = L Vậy tỷ lệ giữa vốn và lao động sẽ là 1/1 để tối thiểu hóa chi phí sản xuất một sản phẩm nhất định
Sản xuất lúa mì tại một quốc gia được biểu diễn bằng hàm sản xuất : Q = 100.K 0,8 L 0,2
Bắt đầu với số vốn K = 4 và số lao động L = 49, ta có thể thấy rằng năng suất cận biên của vốn và lao động đều có xu hướng giảm dần Điều này cho thấy khi tăng cường thêm vốn hoặc lao động, hiệu suất sản xuất từ mỗi đơn vị vốn và lao động mới sẽ không tăng lên tương xứng, phản ánh quy luật giảm dần năng suất cận biên trong sản xuất.
2 Hàm sản xuất cho thấy lợi tức theo hướng nào?
1 Khi lao động cố định và vốn thay đổi, ta được:
Khi vốn cố định và lao động thay đổi:
Như vậy, năng suất cận biên của cả vốn và lao động đều giảm dần khi đầu vào biến đổi tăng dần
Q = tQ Vậy, đây là hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô
Một doanh nghiệp cần hai yếu tố sản xuất K và L để tạo ra sản phẩm X theo hàm sản xuất Q = 2K(L – 2) Doanh nghiệp đã đầu tư 15.000 USD cho hai yếu tố này, với giá K là 600 USD và L là 300 USD.
1 Xác định hàm năng suất cận biên của K và L Xác định MRTS
2 Tìm phương án sản xuất tối ưu và mức sản lượng tối ưu là bao nhiêu?
3 Nếu hãng muốn sản xuất 900 sản phẩm, thì sản xuất tối ưu với mức chi phí tối thiểu là bao nhiêu?
1 Hàm năng suất cận biên của K và L:
2 Phương án sản xuất tối ưu
⇒ Mức sản lượng tối ưu là: Q = 2(12) x (26 – 2) = 576
3 Để sản xuất Q = 900 đơn vị sản phẩm, hàm sản xuất thỏa mãn điều kiện:
Thế (1’’) vào hàm sản xuất ta được:
Chi phí sản xuất tối thiểu là:
Một hãng sản xuất có tổng chi phí ngắn hạn được xác định bởi hàm:
TC là tổng chi phí, Q là tổng sản lượng; đơn vị tính: 10.000
1 Chi phí cố định của hãng là bao nhiêu?
2 Nếu hãng sản xuất 100.000 đơn vị sản phẩm, chi phí biến đổi bình quân là bao nhiêu?
3 Chi phí cận biên mỗi đơn vị sản xuất là bao nhiêu?