Trong đó việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp sau này.Trong thực thể doanh nghiệp, vốn lưu động được ví như dòng huyết mạch giúp mọi hoạ
Trang 1i
BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Khoa Tài chính doanh nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động của Công ty TNHH Thương Mại Hải Đăng Quang
Đơn vị thực tập: Công ty TNHH Thương Mại Hải Đăng Quang Sinh viên thực tập: Trần Văn Tuấn
Lớp: CQ51/11.15
Giáo viên hướng dẫn: TS Diêm Thị Thanh Hải
Hà Nội
Trang 21
PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt những năm gần đây nền kinh tế thế giới nói chung đang phải đối mặt với khủng hoảng và nền kinh tế
Việt Nam cũng không ngoại trừ rơi vào tình trạng khó khăn luôn nảy sinh, đặc biệt là vấn đề lạm phát, giá cả thị trường luôn biến động thất thường, cạnh tranh gay gắt trong tiêu thụ… do vậy đây chính là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Vốn là không thể thiếu đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp Một trong những vấn đề quan trọng mà các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp quan tâm là công tác quản lý vốn hợp lý, hiệu quả Dưới góc độ
quản trị tài chính, việc tạo lập, sử dụng và quản lý vốn hợp lý sẽ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường, đạt hiệu quả kinh
tế cao và cuối cùng là góp phần vào sự gia tăng giá trị doanh nghiệp
Vai trò của vốn lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với các doanh nghiệp Việt Nam Vốn là chìa khóa, là phương tiện để biến các ý tưởng trong kinh doanh thành hiện thực Sử dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ góp phần quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, chính vì vậy bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ, dù to hay bé thì đều quan tâm đến vốn và vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và quản lý vốn lưu động nói riêng
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia làm: vốn cố định và vốn lưu động Trong đó việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp sau này.Trong thực thể doanh nghiệp, vốn lưu động được ví như dòng huyết mạch giúp mọi hoạt động diễn ra trơn tru và thuận lợi, bởi đặc điểm vận động tuần hoàn liên tục gắn với chu kỳ hoạt động
sản xuất kinh doanh Qua đó có thể thấy vốn lưu động là một bộ phận quan
trọng không thể thiếu trong cơ cấu vốn kinh doanh, và tất nhiên, quản trị vốn
Trang 3Mại Hải Đăng Quang em đã chọn và nghiên cứu đề tài “Giải pháp chủ yếu
nh ằm tăng cường quản trị vốn lưu động của Công ty TNHH Thương Mại
H ải Đăng Quang” cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Đề tài góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về vốn lưu động và công tác quản trị vốn lưu động tại doanh nghiệp Mặt khác, đề tài còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tạ Công ty TNHH Thương Mại Hải Đăng Quang làm cơ sở để cho các nhà quản trị Công
ty làm tài liệu tham khảo
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về vốn lưu động và quản trị
vốn lưu động tại doanh nghiệp
- Phân tích thực trạng quản trị vốn lưu động của Công ty TNHH Thương
Mại Hải Đăng Quang trong những năm vừa qua, chỉ ra những ưu điểm, hạn
chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc quản trị vốn lưu động tại công ty
- Đề xuất các biện pháp chú yếu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động ở công ty trong những năm tới
4 Đối tương, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Vốn lưu động và tình hình quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH
Thương Mại Hải Đăng Quang
Trang 43
Phạm vi nghiên cứu:
- V ề không gian:Công ty TNHH Thương Mại Hải Đăng Quang tại Hà
Nội
- V ề thời gian: Nghiên cứu về vốn lưu động và tình hình quản trị vốn lưu
động tại Công ty TNHH Thương Mại Hải Đăng Quang năm 2014 - 2016
Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh với kỹ thuật lập bảng
so sánh, tổng hợp, phân tích thống kê, diễn giải, đồ thị
5 K ết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, phần kết luận và danh mục mục tài liệu tham khảo,
luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về vốn lưu động và tình hình
quản trị vốn lưu động ở doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng vốn lưu động và quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Thương Mại Hải Đăng Quang
Chương 3: Một số biện pháp tăng cường quản trị vốn lưu động tại Công ty TNHH Thương Mại Hải Đăng Quang
Mặc dù đã cố gắng tìm tòi và nghiên cứu nhưng do những hạn chế nhất định về trình độ chuyên môm và thời gian nghiên cứu nên đề tài không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em rất mong nhận được những góp ý của các anh
chị phòng Kế toán – Tài chính của công ty, thầy hướng dẫn TS Diêm Thị Thanh H ải cùng các thầy cô và các bạn để đề tài có thể được hoàn thiện hơn
nữa
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 54
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm vốn lưu động
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, để tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định để đầu tư mua sắm, hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh Số vốn tiền tệ ứng trước đó được gọi là vốn kinh doanh
Có thể nói vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước
mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, đó là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận Phân loại theo đặc điểm luân chuyển, vốn kinh doanh được chia làm hai loại: vốn lưu động và vốn cố định
Trong đó, vốn lưu động là số vốn tiền tệ doanh nghiệp ứng trước để mua sắm, hình thành các tài sản lưu động dùng trong sản xuất kinh doanh như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các khoản vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán Tài sản lưu động chính là biểu hiện ở hình thái hiện vật của vốn lưu động thường được chia thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông
Tài sản lưu động sản xuất là những nguyên liệu, vật tư dự trữ để chuẩn
bị cho quá trình sản xuất hay đang nằm trong quá trình sản xuất và những tư
liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định như bán thành phẩm,…
Tài sản lưu động lưu thông bao gồm : Các sản phẩm, hàng hóa chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước,…
Trang 65
Trong quá trình sản xuất, các tài sản lưu động nằm trong quá trình lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh được liên tục
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, để hình thành các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông, doanh nghiệp phải bỏ ra số vốn đầu tư ban đầu nhất định.Vì thế, có thể nói vốn lưu động của doanh nghiệp là
số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm các tài sản lưu động của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp sản xuất: Vốn lưu động từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hóa, kết thúc quá trình tiêu thụ thì trở về hình thái ban đầu là tiền Có thể
mô tả chuyển hóa ấy qua sơ đồ sau:
T – H – SX – H’ – T’
Giai đoạn 1 (T-H): doanh nghiệp mua sắm nguyên nhiên liệu, vật tư, nhằm dự trữ cho phục vụ sản xuất kinh doanh Lúc này, vốn lưu động chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư dự trữ
Giai đoạn 2 (H-SX-H’): Các vật tư dự trữ trải qua quá trình bảo quản, sơ
chế, được đưa vào dây chuyền công nghệ sản xuất để chuyển sang hình thái
sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, rồi hình thành vốn thành phẩm
Giai đoạn 3 (H’-T’): doanh nghiệp tiến hành công tác tiêu thụ sản phẩm, vốn thành phẩm chuyển sang hình thái tiền tệ, tức là trở về hình thái ban đầu nhưng với lượng tiền tệ khác với lượng vốn tiền tệ ban đầu
Đối với doanh nghiệp thương mại: sự vận động của vốn chỉ trải qua hai giai đoạn, tương tự giai đoạn 1 và giai đoạn 3 ở trên:
T – H – T’
Như vậy, sự tuần hoàn của vốn lưu động được tạo nên bởi sự thay đổi liên
tục hình thái biểu hiện của nó Do hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là thường xuyên, liên tục nên sự tuần hoàn của vốn lưu động cũng diễn ra liên
Trang 76
tục, từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu, có tính
chất chu kỳ tạo thành sự luân chuyển của vốn lưu động
Kết luận: Vốn lưu động của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng ra để
hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của các doanh nghi ệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Thời gian luân chuyển
v ốn lưu động nhanh, hình thái biểu hiện luôn thay đổi, giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ và ngay một lần vào giá trị sản phẩm sau mỗi chu k ỳ kinh doanh
1.1.1.2 Đặc điểm vốn lưu động
Do bị chi phối bởi tài sản lưu động nên VLĐ có những đặc ddierm khác
so với vốn cố định
Thứ nhất, VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu
hiện Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên vận động chuyển hóa lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau
Th ứ hai, giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào
giá trị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại toàn bộ khi
thu được tiền bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
Th ứ ba, VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh
doanh Quá trình vận động chuyển hóa của VLĐ diễn ra thường xuyên, liên
tục và lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh, tạo thành vòng tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động
1.1.2 Phân loại vốn lưu động
Vốn lưu động của các doanh nghiệp được phân loại theo nhiều tiêu
thức khác nhau Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu sau:
1.1.2.1 Theo hình thái biểu hiện của vốn
Với cách phân loại này có thể chia vốn lưu động thành vốn bằng tiền và các khoản phải thu và vốn về hàng tồn kho
Vốn bằng vật tư, hàng hoá:
Trang 87
Trong doanh nghiệp sản xuất, vốn vật tư hàng hóa gồm: Vốn vật tư
dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm Các loại này được gọi chung
là vốn về hàng tồn kho Xem xét chi tiết hơn cho thấy, vốn về hàng tồn kho của doanh nghiệp gồm:
Vốn nguyên vật liệu chính là các giá trị nguyên vật liệu chính dự trữ cho sản xuất, khi tham gia vào sản xuất, chúng hợp thành thực thể của sản
phẩm
Vốn vật liệu phụ là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp cho việc hình thành sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính
của sản phẩm, chỉ làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài của sản
phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi
Vốn công cụ dụng cụ: Là giá trị các loại công cụ dụng cụ không đủ tiêu chuẩn tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Vốn sản phẩm đang chế là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất ( giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm )
Vốn về chi phí trả trước là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng
có tác dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nghiệp nên chưa thể tính
hết vào giá thành sản phẩm các kỳ tiếp theo như chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phí nghiên cứu thí nghiệm…
Vốn thành phẩm là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho
Trang 98
Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động kinh
doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định
Các khoản phải thu chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, là số
tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp trong quá trình bán hàng, cung ứng dịch
vụ dưới hình thức bán trước trả sau
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp thuận lợi trong việc xem xét, kiểm tra, đo lường mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của mình Mặt khác, thông qua cách phân loại này có thể nhận biết, tìm ra các biện pháp phát huy vai trò của thành phần vốn và biết được kết cấu vốn lưu động theo hình thái
biểu hiện để định hướng điều chỉnh hợp lý có hiệu quả
1.1.2.2 Theo vai trò của vốn đối với quá trình sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này, vốn lưu động có thể chia thành các loại chủ yếu sau:
Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất : Gồm vốn nguyên vật liệu
chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật liệu đóng gói, vốn công cụ dụng cụ nhỏ
Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Gồm vốn phẩm dở dang, bán thành
phẩm
Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Gồm vốn thành phẩm, vốn bằng
tiền, vốn trong thanh toán, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn hạn,…
Cách phân loại này giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn với quá trình sản xuất kinh doanh nghiệp Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức, quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng được tốc độ lưu chuyển vốn lưu động
Trang 101.1.3.1 Theo quan hệ sở hữu về vốn
Nếu căn cứ quan hệ về vốn trong doanh nghiệp thì nguồn VLĐ của doanh nghiệp được chia làm 2 loại:
Nguồn vốn chủ sở hữu
Là số vốn huy động được thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phôi và định đoạt Tuỳ theo loại hình sở hữu doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
mà vốn chủ sở hữu có những nội dung cụ thể như: Nguồn vốn từ ngân sách
cấp hay có nguồn gốc từ ngân sách cho các Công ty nhà nước; Vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; Vốn góp cổ phần trong các Công ty cổ phần; Vốn
bổ sung từ lợi nhuận để lại nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất
của doanh nghiệp …
Các khoản nợ phải trả
+ Nguồn vốn tín dụng: là số vốn vay của các ngân hàng thương mại, các
tổ chức tín dụng hoặc qua phát hành trái phiếu
+ Nguồn vốn chiếm dụng: phản ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng
một cách hợp pháp của các chủ thể khác Trong nền kinh tế thị trường phát sinh các quan hệ thanh toán như: phải trả người bán, phải nộp ngân sách, phải
trả công nhân viên…
Cách phân loại này cho thấy kết cấu VLĐ của doanh nghiệp được hình thành từ vốn bản thân hay từ các nguồn ngoại sinh Từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng VLĐ một cách hợp lý, đảm bảo an toàn
về tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp Thông thường các doanh nghiệp luôn có các cách sử dụng kết hợp cả hai loại này
1.1.3.2 Theo th ời gian huy động vốn và sử dụng vốn
Trang 1110
Nguồn VLĐ được chia thành: Nguồn VLĐ thường xuyên và nguồn VLĐ tạm thời
Nguồn VLĐ thường xuyên
Là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết
Để đảm bảo quá trình sản xuất, kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục thì ứng với một quy mô kinh doanh nhất định, thường xuyên phải có
một lượng TSLĐ nhất định nằm trong các giai đoạn luân chuyển như các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành
phẩm và nợ phải thu từ khách hàng Nguồn VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm được xác định như sau:
Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có
thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này thường bao gồm: Các khoản vay ngắn hạn, các khoản phải trả người bán, các khoản phải trả phải nộp khác…
Mỗi doanh nghiệp có cách thức phối hợp khác nhau giữa nguồn VLĐ thường xuyên và nguồn VLĐ tạm thời trong công việc đảm bảo nhu cầu chung về VLĐ của doanh nghiệp
Trang 121.1.3.3 Căn cứ vào phạm vi huy động vốn
Dựa vào tiêu thức này thì nguồn VLĐ của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn bên trong doanh nghiệp và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp
Là nguồn vốn có thể huy động từ bản thân các hoạt động của doanh nghiệp như tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại tái đầu tư, các khoản dự phòng…
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ việc vay ngân hàng, vay tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu, cổ phiếu…
Cách phân loại này giúp nhà quản lý tài chính nắm bắt được tỷ trọng của
từng nguồn vốn theo phạm vi huy động, để từ đó có hoạch định những chính sách huy động vốn hợp lý tạo lập được một cơ cấu vốn tối ưu nhất
1.2 Quản trị vốn lưu động
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn lưu động
Khái ni ệm:
Quản trị vốn lưu động là quá trình hoạch định, tổ chức, thực hiện, điều
chỉnh, kiểm soát tình hình tạo lập và sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
để đảm bảo quá trình tái sản xuất diễn ra thường xuyên và liên tục
M ục tiêu:
Quản lí sử dụng hợp lý tài sản lưu động cũng như vốn lưu động có ảnh hưởng rất lớn tới việc hoàn thành các mục tiêu chung của doanh nghiệp, quản
trị vốn lưu động có hai mục tiêu cơ bản sau:
- Quản trị vốn lưu động nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn lưu động cho hoạt động của doanh nghiệp: điều này có nghĩa là các doanh
Trang 13dụng tiết kiệm, không ngừng nâng cao hiệu quả, tránh lãng phí Việc tổ
chức vốn kịp thời, đầy đủ sẽ giúp cho doanh nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận Lựa chọn hình thức huy động
và sử dụng vốn thích hợp sẽ đảm bảo cơ cấu vốn tối ưu giúp doanh nghiệp giảm bớt được chi phí sử dụng vốn tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
1.2.2 Nội dung quản trị vốn lưu động
1.2.1.1 Xác định nhu cầu vốn lưu động
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết của doanh nghiệp là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết doanh nghiệp phải có để đảm bảo cho hoạt động
sả’n xuất kinh doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục Đó là số
tiền doanh nghiệp chi ra để hình thành một lực lượng dự trữ hàng tồn kho cần thiết và khoản phải thu khách hàng khi sử dụng khoản tín dụng của nhà cung cấp Số vốn lưu động mà doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra tùy thuộc vào nhu cầu vốn lưu động lớn hay nhỏ trong từng thời kỳ kinh doanh Trong điều
kiện hiện nay, khi mọi nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh doanh nghiệp đều phải tự tài trợ, việc xác định nhu cầu vốn lao động thường xuyên
cần thiết tương ứng với quy mô kinh doanh và điều kiện kinh doanh trong
từng thời kỳ nhất định là một vấn đề hết sức quan trọng
Xác định nhu cầu vốn lưu động hợp lý là cơ sở để tổ chức tốt các nguồn tài trợ Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp sẽ gây ra căng thẳng về vốn, thiếu vốn, sản xuất bị đình trệ, doanh nghiệp không đạt được các hợp đồng đã kí… Ngược lại nếu xác định nhu cầu vốn quá cao thì
Trang 1413
việc sử dụng vốn sẽ gây ra lãng phí do thừa vốn dẫn đến ứ đọng, vốn chậm luân chuyển, phát sinh những chi phí quản lý không cần thiết, làm tăng giá thành, giảm lợi nhuận
Với quan niệm nhu cần vốn lưu động là số vốn tối thiểu, thường xuyên
cần thiết nên nhu cầu vốn lưu động được xác định theo công thức :
Nhu c ầu VLĐ = Vốn HTK + Nợ phải thu – Nợ phải trả nhà cung cấp
Việc xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp là
một vấn đề phức tạp Tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trong từng thời kỳ mà có thể lựa chọn áp dụng các phương pháp khác nhau để xác định nhu cầu vốn lưu động Hiện nay có hai phương pháp
chủ yếu: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp
Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp có thể được
thực hiện theo trình tự sau:
+ Xác định nhu cầu vốn lưu động dự trữ hàng tồn kho cần thiết
+ Xác định chính sách tiêu thụ sản phẩm và khoản tín dụng cung cấp cho khách hàng
+ Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp
+ Tổng hợp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Trên cơ sở tính toán nhu cầu vốn dự trữ hàng tồn kho, dự kiến khoản phải thu và khoản phải trả Có thể xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
cần thiết năm kế hoạch của doanh nghiệp theo công thức sau:
Trang 15do việc tính toán tương đối phức tạp, khối lượng tính toán nhiều, mất nhiều
thời gian nên phương pháp này ít được sử dụng
Phương pháp gián tiếp
Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn
+ Trường hợp 2: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở thời
kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu về vốn lưu động cho các
thời kỳ tiếp theo
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối liên hệ giữa các
yếu tố hợp thành vốn lưu động gồm: hàng tồn kho, nợ phải thu từ khách hàng
và nợ phải trả nhà cung cấp với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định
tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo
Phương pháp này được xác định theo trình tự sau:
+ Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành vốn lưu động trong năm báo cáo
+ Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh nghiệp thu thuần trong năm báo cáo Trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động so với doanh thu thuần
Trang 1615
+ Xác định nhu cầu vốn lưu động cho kỳ kế hoạch
1.2.2.2 Tổ chức đảm bảo nguồn vốn lưu động
Sau khi đã xác định được nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết, doanh nghiệp cần tập trung nguồn lực để đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu VLĐ đó Tổ
chức đảm bảo nguồn VLĐ thực chất là việc tìm nguồn để đáp ứng nhu cầu VLĐ phát sinh Theo như phần nguồn hình thành VLĐ ở trên, ta sẽ đi xem xét việc tổ chức đảm bảo nguồn VLĐ dựa vào cách phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Theo đó để hình thành nên vốn lưu động, doanh nghiệp có thể lấy từ 2 nguồn: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời Đặc điểm của 2 loại nguồn này đã được phân tích ở trên Căn cứ vào ưu nhược điểm của các loại
vốn và đặc điểm luân chuyển của VLĐ – tài sản lưu động trong từng doanh nghiệp mà nhà quản trị quyết định tìm nguồn nào để đáp ứng các nhu cầu VLĐ phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp mình
Việc lựa chọn nguồn tài trợ cho VLĐ cũng chính là doanh nghiệp đang lựa chọn mô hình tài trợ vốn của mình Có 3 loại mô hình tài trợ vốn như sau:
Mô hình 1:
Toàn bộ tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên được đảm bảo
bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ tài sản lưu động tạm thời được đảm
bảo bằng nguồn vốn tạm thời:
Ưu điểm của mô hình này là:
Th ứ nhất, giúp doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán, mức
độ an toàn cao hơn
Th ứ hai, giảm bớt được chi phí sử dụng vốn
Tuy nhiên, mô hình này có những hạn chế nhất định như:
Th ứ nhất, chưa linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn khi nguồn
chiếm dụng có tính chất chu kỳ, chi phí nhỏ có thể sử dụng như một nguồn thường xuyên để tài trợ cho TSLĐ thường xuyên nhưng mô hình này lại không nói đến
Trang 1716
Th ứ hai, doanh nghiệp thường phải duy trì một lượng vốn thường xuyên
khá lớn ngay cả khi khó khăn buộc phải giảm bớt quy mô kinh doanh
Thời gian
Hình 1: Mô hình tài tr ợ thứ nhất
Mô hình 2:
Toàn bộ tài sản cố định, tài sản lưu động thường xuyên và một phần tài
sản lưu động tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, phần tài
sản lưu động tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời
Sử dụng mô hình này có ưu điểm là tăng cường khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp an toàn ở mức cao
Và mô hình này cũng có những hạn chế nhất định như:
Đẩy cao chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp khi phải sử dụng phần
lớn nguồn vốn thường xuyên như vay dài hạn và vốn chủ sở hữu là nguồn có chi phí sử dụng cao hơn nguồn tạm thời rất nhiều
Gây lãng phí vốn của doanh nghiệp khi mà phải duy trì một lượng vốn thường xuyên nhất định để tài trợ cho TSLĐ tạm thời trong khi có những thời điểm doanh nghiệp không phát sinh các nhu cầu về loại tài sản này
Tiền TSLĐ TT
Trang 18
Hình 2: Mô hình tài tr ợ thứ hai
Hạn chế khi sử dụng mô hình này là doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ
rủi ro cao và không đảm bảo khả năng thanh toán do đó đòi hỏi doanh nghiệp
cần có sự năng động trong việc tổ chức nguồn vốn