Về mảng công trình bàn khái quát về thơ Dương Kiều Minh, xin điểm tên một số công trình, bài viết tiêu biểu sau: Cảm thức thời gian trong thi pháp thơ Dương Kiều Minh Đỗ Ngọc Yên, Cảm nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ UYÊN
BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ DƯƠNG KIỀU MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ UYÊN
BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ DƯƠNG KIỀU MINH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THỊ HỒ QUANG
NGHỆ AN - 2018
Trang 3Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Lê Thị Hồ Quang, người đã định hướng và giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, khoa đào tạo Sau đại học trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành khóa học cũng như luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô và đồng nghiệp
Nghệ An, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Phạm Thị Uyên
Trang 4Nhà thơ Dương Kiều Minh (1960 - 2012)
Trang 5Trang
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ DƯƠNG KIỀU MINH 7
1.1 Khái niệm biểu tượng 7
1.1.1 Biểu tượng 7
1.1.2 Biểu tượng nhìn từ góc độ văn hóa 7
1.1.3 Biểu tượng nhìn từ góc độ văn học 9
1.2 Dương Kiều Minh - gương mặt nổi bật của thơ Việt Nam thời kỳ Đổi mới 11
1.2.1 Khái lược về thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới 11
1.2.2 Con người và hành trình thơ Dương Kiều Minh 13
1.3 Biểu tượng - một phương diện sáng tạo nổi bật trong thơ Dương Kiều Minh 14
3.1.1 Về biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh 14
1.3.2 Cơ sở hình thành biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh 15
Tiểu kết chương 1 19
Trang 62.1 Biểu tượng về quê hương, nguồn cội 20
2.1.1 Cảm hứng sáng tạo về quê hương, nguồn cội trong thơ Dương Kiều Minh 20
2.1.2 Những biểu tượng nổi bật về quê hương, nguồn cội trong thơ Dương Kiều Minh 21
2.2 Biểu tượng về thế giới tâm linh 38
2.2.1 Cảm hứng sáng tạo về thế giới tâm linh trong thơ Dương Kiều Minh 38
2.2.2 Những biểu tượng tâm linh nổi bật trong thơ Dương Kiều Minh 40
2.3 Biểu tượng về sáng tạo nghệ thuật 50
2.3.1 Cảm hứng sáng tạo về nghệ thuật trong thơ Dương Kiều Minh 50
2.3.2 Những biểu tượng nổi bật về hoạt động sáng tạo trong thơ Dương Kiều Minh 51
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ DƯƠNG KIỀU MINH 65
3.1 Chất liệu xây dựng 65
3.1.1 Tái sử dụng chất liệu cổ thi 65
3.1.2 Khai thác những trải nghiệm cá nhân, riêng tư 69
3.2 Các thủ pháp xây dựng 71
3.2.1 Sử dụng hình thức liên tưởng ngẫu hứng, đột ngột 71
3.2.2 Tô đậm biểu tượng bằng nhiều chi tiết, hình ảnh tượng trưng, siêu thực 73
3.2.3 Kết hợp các hình ảnh, sự vật, tính chất đối nghịch 75
3.2.4 Dùng mơ, mộng như một thủ pháp khắc họa 78
3.2.5 Kết hợp kể, tả với suy tưởng, triết lý 80
3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu, thể thơ văn xuôi 82
Trang 73.3.2 Giọng điệu 85
3.3.3 Thể thơ văn xuôi 87
Tiểu kết chương 3 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Biểu tượng là một yếu tố quan trọng trong thi pháp văn học nói chung và thơ nói riêng Đặc biệt, đối với thơ ca, biểu tượng trở thành một phương diện nghệ thuật nổi bật, là nơi thể hiện tập trung quan niệm thẩm mỹ
và đặc trưng bút pháp của tác giả Hệ thống hóa và khai thác ý nghĩa của các biểu tượng là một cách hiệu quả giúp người đọc nắm bắt được những thông điệp nhân sinh - thẩm mỹ mà nhà thơ muốn gửi đến Việc nghiên cứu, lý giải giá trị nghệ thuật của thơ ca thông qua biểu tượng ngày càng được nhiều người quan tâm và mang lại hiệu quả tích cực
1.2 Từ sau năm 1986, thơ ca Việt Nam có nhiều chuyển biến quan trọng Sự đổi mới trong tư duy sáng tạo của các tác giả đã đem đến cho thơ ca giai đoạn này nhiều thành tựu nghệ thuật nổi bật Dương Kiều Minh là một gương mặt độc đáo, nổi bật của thơ Việt Nam giai đoạn Đổi mới Với quan niệm “thi ca nằm ở những khoảng trống trong thế giới của con người Nơi đời sống tinh thần của mỗi người hướng tới cái bí ẩn, cái vô biên và cái vô cùng” [23], ông đã có những đóng góp hết sức đáng ghi nhận vào diễn trình đổi mới thơ ca Việt Nam đương đại
1.3 Đọc thơ Dương Kiều Minh, một thế giới biểu tượng hiện ra hết sức phong phú, vừa quen vừa lạ, nhiều hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng, thể hiện chiều sâu cảm xúc, sự lắng đọng trong tâm hồn nhà thơ Những biểu tượng nghệ thuật ấy làm nên tính hấp dẫn của thơ Dương Kiều Minh, để lại những tình cảm tốt đẹp trong lòng độc giả Cho đến nay, đã có nhiều công trình, bài viết quan tâm, tìm hiểu thế giới nghệ thuật độc đáo trong thơ Dương Kiều Minh Tuy vậy, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề biểu tượng trong thơ ông Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh”
Trang 92 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những công trình, bài viết bàn chung về thơ Dương Kiều Minh Trên thi đàn Việt Nam đương đại, thơ Dương Kiều Minh ít gây tranh cãi nhưng lại cuốn hút người đọc bởi vẻ mộc mạc, trầm lắng, bởi cách ông đem những đứa con tinh thần đến với thế giới thật giản dị và lặng lẽ, không phô trương, ồn ào, nhưng cũng đầy bí ẩn, nhiều suy tư, triết lí Về mảng công trình bàn khái quát về thơ Dương Kiều Minh, xin điểm tên một số công trình, bài viết tiêu biểu sau:
Cảm thức thời gian trong thi pháp thơ Dương Kiều Minh (Đỗ Ngọc Yên), Cảm nhận thơ Dương Kiều Minh (Bích Thu), Những mùa thu ám ảnh trong cõi lửng lơ (Đặng Thân), Dương Kiều Minh - Thuở niềm tin chưa có trên đời (Khánh Phương), Thơ Dương Kiều Minh mang hơi xuân từ những cánh đồng (Mai Văn Phấn), Dương Kiều Minh - Thi sỹ của những thôi thúc
và quyến rũ từ khoảng trống đời người (Ngô Kim Đỉnh), Nhà thơ Dương Kiều Minh với những thi tầng minh triết Phương Đông (Nguyễn Việt Chiến), Ngày xuống núi, đôi điều cảm nhận (Ngô Xuân Diện), Dương Kiều Minh lá vàng kiếp kiếp rơi mờ hoàng hôn (Trần Anh Thái), Thơ Dương Kiều Minh ngọn lửa đêm hàn (Văn Chinh), Một khoảng trống sau“Mùa xuân gấp gấp”(Vi Thùy Linh), Dương Kiều Minh với thể thơ văn xuôi (Lưu Khánh Thơ), Nhà thơ Dương Kiều Minh - Thơ đi giữa đời không lấm bụi (Nguyễn Sỹ Đại), Dương Kiều Minh vẫn còn hơi ấm từ củi lửa (Nguyễn Ngọc Phú), Dương Kiều Minh tràn ngập âm thanh mê đắm và khoái cảm (Nguyễn Linh Khiếu)…
2.1 Những bài viết bàn về biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh Biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh cũng là vấn đề đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Về vấn đề này, chúng tôi xin điểm qua những công trình, bài viết tiêu biểu sau:
Trang 10Tác giả Mai Văn Phấn trong bài viết Thơ Dương Kiều Minh mang hơi xuân từ những cánh đồng (2012) đã ghi nhận những cách tân trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ: “Thơ Dương Kiều Minh là một giọng điệu riêng biệt trong dòng chảy thơ cách tân sau 1975 tại Việt Nam” [29] Cũng trong bài viết trên, tác giả Mai Văn Phấn đã chỉ ra một số hình ảnh quen thuộc thường xuất hiện trong thơ Dương Kiều Minh như “ô ban công”, “chùm mùng tơi”,
“bông cúc”, “rèm cửa”, “cô gái mù”, “tiếng lá”, “bóng đêm”, “heo may”,
“dòng sông”, “chiếc giày”, “mầm cây”, đặc biệt là hình ảnh “người mẹ” như biểu tượng của cội nguồn… và khẳng định, thơ Dương Kiều Minh “vẫn luôn giữ được nét tinh tế trong kiến tạo hình ảnh và tiết chế cảm xúc” [29]
Tác giảBình Nguyên Trang trong Thơ Dương Kiều Minh - bài học quý cho nhiều nhà thơ trẻ (2012) cảm nhận về những hình ảnh trong thơ Dương Kiều Minh là những hình ảnh được soi chiếu từ kí ức và gợi lên những kỉ niệm đẹp: “Dường như đối với ông, mọi biểu đạt về vẻ đẹp của đời sống đều được khơi gợi từ ký ức Đó là hình ảnh người mẹ, cánh đồng lúa rộ vàng, khu vườn tuổi thơ, ngôi nhà có bậc thềm “giàn giụa ánh trăng mỗi tối”, những bụi hoa cúc dại, những đồi núi lô xô của vùng đất nơi ông sinh ra và lớn lên, những tiếng thầm thì của ngày xưa” [45] Điều đó cho thấy những hình ảnh có tính biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh chính là những hình ảnh mà ông từng gắn bó thân thiết trong cuộc đời
Gần gũi với cảm nhận của Bình Nguyên Trang, nhà phê bình Văn Giá trong bài viết Dương Kiều Minh - Lữ thứ đời, lữ thứ thơ (2012) cũng chỉ ra trong thơ Dương Kiều Minh, “hình ảnh quê cũ mang một phổ rất rộng, từ những không gian cánh đồng thoáng đãng, trong lành, với những tiếng cười trẻ nhỏ, thấp thoáng bóng hình thôn nữ, đến những hình ảnh mất mát, ngậm ngùi Tất cả làm nên hồn vía quê nhà khiến người lữ thứ không thể nguôi quên được” [11]
Trang 11Hoàng Kim Ngọc trong bài viết Thi pháp ngôn ngữ thơ Dương Kiều Minh (2012) đi sâu hơn vào việc chỉ ra những biểu tượng nghệ thuật trong thơ Dương Kiều Minh Nhìn một cách khái quát, tác giả nhận định có hai dạng biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh, đó là biểu tượng thời gian và biểu tượng không gian Biểu tượng thời gian có biểu tượng thời gian đêm và biểu tượng thời gian mùa xuân và mùa thu Hoàng Kim Ngọc viết: “Những
từ đêm, đêm đêm, đêm khuya, nửa đêm… đã tái hiện một lớp thời gian ám ảnh của tâm trạng, chúng có mặt ngày càng nhiều trong các tập thơ về sau, khi ông đã chớm bước vào tuổi già và bệnh tật hoành hành” Và, “bốn mùa thời gian luôn đủ mặt trong thơ ông với những cảm hứng và tâm trạng khác nhau” Biểu tượng không gian có “không gian phồn sinh của miền núi, trung
du và miền thôn dã châu thổ sông Hồng với những đặc trưng phong phú riêng biệt” [25] Theo tác giả Hoàng Kim Ngọc, có ba biểu tượng không gian cơ bản trong thơ Dương Kiều Minh, đó là: Con đường - cánh đồng và người mẹ
Tác giả Lê Hồ Quang trong bài viết Dương Kiều Minh - Ra đi và Trở
về (2013) đã khẳng định “thơ Dương Kiều Minh rất giàu tính tượng trưng Đây là kết quả của một ý thức tìm tòi, học hỏi nghiêm túc từ nhiều nguồn thi
ca hiện đại thế giới, cụ thể là thơ tượng trưng phương Tây Điều đó biến thơ ông thành một “thế giới biểu tượng” đầy ám gợi, trong đó, giấc mơ là biểu tượng trung tâm, nối kết với các biểu tượng khác thành một hệ thống khá chặt chẽ Lắng nghe cẩn trọng tiếng nói nội tâm, nương níu vào cảm giác, nhà thơ lặng lẽ chuyển tải tất cả những trạng thái đời sống ngày thường thành những giấc mơ, những trạng thái tâm linh đầy mơ màng, sâu xa, hư ảo” [35]
Nhìn chung, đã có nhiều bài viết nghiên cứu, cảm nhận về nghệ thuật thơ Dương Kiều Minh và một số ý kiến đánh giá rải rác về biểu tượng nghệ thuật trong thơ ông Tuy nhiên, chưa có một công trình nào
Trang 12nghiên cứu về biểu tượng nghệ thuật trong thơ ông như một vấn đề khoa học riêng biệt Qua luận văn này, chúng tôi mong muốn được tìm hiểu khám phá một cách toàn diện hơn ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật trong thơ Dương Kiều Minh
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là biểu tượng nghệ thuật trong thơ Dương Kiều Minh
- Những thời đại thanh xuân (1991)
- Ngày xuống núi (1995)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi xác định một số nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:
- Xác định vị trí của nhà thơ Dương Kiều Minh trong thế hệ các nhà thơ Đổi mới
- Phân tích nội dung, ý nghĩa của hệ thống biểu tượng và nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp và thao tác nghiên cứu sau:
- Phương pháp cấu trúc
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích hình thức
Và một số thao tác: thống kê, khảo sát; mô tả, phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Dương Kiều Minh đã đưa ra những phân tích, đánh giá, lí giải tương đối có tính hệ thống về đặc điểm, ý nghĩa, giá trị các biểu tượng nghệ thuật trong thơ Dương Kiều Minh, góp phần khẳng định vị trí và những đóng góp của tác giả này trong hành trình cách tân thơ Việt sau 1975
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Nhìn chung về biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh Chương 2: Đặc điểm biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh
Trang 14Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ DƯƠNG KIỀU MINH
1.1 Khái niệm biểu tượng
1.1.1 Biểu tượng
Biểu tượng là một khái niệm có nhiều cách hiểu Từ những góc độ tiếp cận, khảo sát khác nhau, khái niệm này có thể được hiểu với những nội hàm ý nghĩa không giống nhau Do đó, dựa trên tài liệu tham khảo, chúng tôi tạm đưa ra một số góc tiếp cận biểu tượng, trên cơ sở đó, nhằm hướng đến một định nghĩa gần gũi hơn cả với đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn
1.1.2 Biểu tượng nhìn từ góc độ văn hóa
Trong “Tuyên bố chung của Unesco về tính đa dạng văn hóa” (2002), UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”[50] Toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa (International thesaurus on cultural development) của UNESCO cũng khẳng định: “Văn hóa là tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt” Như vậy, có thể hiểu biểu tượng văn hóa là những thực thể vật chất hoặc tinh thần có khả năng biểu hiện những ý nghĩa trừu tượng bên ngoài hình thức của nó, quy định cách ứng xử của cộng đồng, làm nên đặc trưng cho những nền văn hóa nhất định: nghi lễ, tín ngưỡng, phong tục, thần linh,…
Trong văn hóa dân tộc Việt Nam, hình ảnh những bức tranh lợn, tranh
gà Đông Hồ cũng mang ý nghĩa phồn thực với mong muốn có một cuộc sống
Trang 15nảy nở, sinh sôi Biểu tượng về Hà Nội là Tháp Rùa, Khuê Văn Các Trống đồng Đông Sơn không chỉ là chứng tích di vật của nền văn hóa cổ Văn Lang-
Âu Lạc mà nó còn là biểu tượng cho sức sống, niềm tự hào bao thế hệ người Việt, là biểu tượng hướng về cội nguồn, về nền văn hóa dân tộc từ lâu đời Như vậy, từ góc độ văn hóa thì “những gì được gọi là biểu tượng khi nó được một nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó” (C.G.Liungman 1991, tr.25) Từ đây ta thấy có biểu tượng phổ quát mang tính nhân loại, như hoa hồng biểu tượng của tình yêu, chim bồ câu biểu tượng của hòa bình… Mỗi dân tộc đều cố tạo riêng một biểu tượng tiêu biểu để thế giới biết đến, như Việt Nam là hình ảnh tà áo dài, chiếc nón lá; Cam-pu-chia là hình ảnh chùa tháp… Mỗi vùng văn hóa cũng có biểu tượng riêng, như đấu trường La Mã là biểu tượng của thành Rô-ma, tháp đồng
hồ Big Ben là biểu tượng của Luân Đôn
Về vấn đề chức năng của biểu tượng, J.Chevalies trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đã chỉ ra một cách có hệ thống và toàn diện Theo tác giả, biểu tượng văn hóa có các chức năng cơ bản sau: chức năng nhận thức (khám phá, thăm dò, đưa dẫn đến cái chưa biết trong nhận thức về thực tại); chức năng biểu hiện; chức năng trung chuyển (liên kết các yếu tố của đời sống văn hóa: con người và vũ trụ, cái nội tại và cái siêu tại, giữa các góc độ tinh thần); chức năng giáo dục và trị liệu (điều chỉnh và hoàn thiện nhân cách con người trong các mối quan hệ nói trên); chức năng xã hội hóa (tạo ra đặc trưng của một thời đại, một nền văn hóa, là cơ sở cho sự giao lưu, thẩm thấu của các nền văn hóa); chức năng siêu nghiệm (thiết lập mối liên thông giữa các năng lực đối kháng tinh thần và từ đó vượt lên mở đường cho sự tiến bộ của ý thức…Từ đó, họ khẳng định vai trò của biểu tượng “một thế giới không
có biểu tượng thì sẽ ngạt thở: nó sẽ tức thì giết chết đời sống tinh thần của con người” [47, 32]
Trang 161.1.3 Biểu tượng nhìn từ góc độ văn học
Nhìn từ góc độ văn học (còn gọi là nghệ thuật ngôn từ), có thể hiểu biểu tượng là những cách thức dùng cái biểu đạt (biểu hình) để biểu hiện cái được biểu đạt (biểu ý) Trong đó, cái biểu đạt có thể là một sự vật, một hiện tượng, một hình ảnh cụ thể trong hiện thực khách quan hoặc trong tưởng tượng của con người Cái được biểu đạt là những ý nghĩ, tâm tư, tình cảm trừu tượng của con người về cuộc sống, xã hội, thế giới Tuy nhiên, phương tiện, chất liệu để biểu thị, xây dựng biểu tượng không phải là những hình ảnh, sự vật, hoạt động vật chất, hữu hình mà là ngôn từ, một phương tiện, chất liệu đặc thù, phi vật thể
Biểu tượng nghệ thuật được coi là kí hiệu thẩm mĩ đa nghĩa bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt, cái được biểu đạt phong phú, dồi dào hơn cái biểu đạt Cái biểu đạt có thể vẫn giữ nguyên nhưng ý nghĩa của nó được
bổ sung, không chỉ trong sáng tác mà cả trong tiếp nhận Bên cạnh những ý nghĩa truyền thống, biểu tượng nghệ thuật luôn luôn có xu hướng cách tân hoặc bổ sung ý nghĩa cho những biểu tượng cũ, hoặc là phát sinh những biểu tượng hoàn toàn mới Trong ca dao có câu: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” thì thuyền là biểu tượng cho người con trai với ý nghĩa về sự ra đi - trở về Nhưng trong thơ ca hiện đại, có khi thuyền lại là biểu tượng cho người con gái: “Nếu từ giã thuyền rồi/ Biển chỉ con sóng gió/ Nếu phải cách xa em/ Anh chỉ còn bão tố” (Xuân Quỳnh) Trong biểu tượng nghệ thuật luôn có sự đan xen giữa yếu tố truyền thống và yếu tố cách tân
Biểu tượng nghệ thuật là kết quả của quá trình sáng tạo với nhiều dụng
ý của nhà văn Để có những biểu tượng trong tác phẩm, trước hết nhà văn phải tạo ra được những hình ảnh cụ thể cảm tính, có đường nét, màu sắc, hình hài mà người đọc có cảm giác có thể nhìn thấy, sờ thấy, nghe thấy Nếu thiếu
Trang 17đi cái thân xác này (cái biểu đạt) thì không có bất kì một ý nghĩa biểu tượng nào (cái được biểu đạt) Tiếp đến, nhà văn chú ý sắp xếp bố cục sao cho hình ảnh cụ thể cảm tính đó trở nên nổi bật, gây ấn tượng sâu sắc về mặt ý nghĩa Ngoài ra, sự lặp đi lặp lại có chủ ý của một số hình ảnh, hình tượng trong nhiều tác phẩm của một tác giả cũng là cách tạo thành biểu tượng nghệ thuật Những tác phẩm sử dụng nhiều biểu tượng thể hiện sự chối từ cách viết trực tiếp giãi bày tâm tư tình cảm (nhất là trong thơ hiện đại chủ nghĩa)
Biểu tượng văn hóa và biểu tượng văn học có mối quan hệ qua lại khăng khít, chặt chẽ Khởi phát từ biểu tượng văn hóa, nhiều biểu tượng văn học, thơ ca đã được nghệ sỹ sáng tạo thêm, làm đa dạng và mới mẻ thêm những ý nghĩa của chúng, và đến một lúc nào đó, những ý nghĩa của biểu tượng văn học, thơ ca lại hội nhập vào ý nghĩa của biểu tượng văn hóa, làm phong phú hơn ý nghĩa của biểu tượng văn hóa và cũng qua đó mà thể hiện sự tri nhận ngày một sâu sắc hơn về một biểu tượng trong đời sống văn hóa, văn học của dân tộc
Tất nhiên, biểu tượng văn hoá và biểu tượng văn học còn có sự khác biệt nhất định Tuy trong lịch sử, biểu tượng văn hoá có xu hướng được bổ sung ý nghĩa nhưng sau một thời gian ý nghĩa đó trở nên cố định và nhiều khi khó hiểu đối với con người thời sau Còn biểu tượng văn học nghệ thuật luôn luôn có xu hướng tái sinh về mặt ý nghĩa không chỉ trong sáng tác mà còn cả trong tiếp nhận Biểu tượng văn hóa thuộc về quy ước chung của cộng đồng nhưng biểu tượng nghệ thuật là sáng tạo mang dấu ấn cá nhân của người nghệ
sỹ Ví dụ, Chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình, ý nghĩa đó thuộc về quy ước chung của nhân loại, nhưng biểu tượng “đất” trong thơ Mai Văn Phấn,
Mẹ trong thơ Dương Kiều Minh… lại mang những nét nghĩa riêng trong cấu trúc văn bản, trong dụng ý sáng tạo của nhà thơ Độc giả tiếp xúc và nhận ra các hình ảnh quen thuộc đó, đồng thời khám phá ra các giá trị thẩm mĩ của
Trang 18những hình ảnh mà nhà văn, nhà thơ đã dụng công xây dựng
Từ những luận điểm có tính chất lí luận trên, chúng tôi hướng đến việc đưa ra một cách hiểu khái quát về khái niệm biểu tượng nghệ thuật trong thơ nhằm làm rõ đặc điểm, ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật trong thơ Dương Kiều Minh Theo đó, biểu tượng nghệ thuật, cụ thể hơn là biểu tượng nghệ thuật trong thơ hiện đại là một phương tiện tạo hình và biểu đạt có tính đa nghĩa được xây dựng thông qua các biện pháp, phương thức, ngôn ngữ thơ với cấu trúc trùng phức, mở về nghĩa; tuy nhiên chỉ “phát nghĩa” trong văn cảnh cụ thể Nó là kết quả sáng tạo của người nghệ sỹ, vừa là đối tượng, nội dung mô
tả, phản ánh, vừa là phương thức phản ánh, có giá trị gợi cảm cao
1.2 Dương Kiều Minh - gương mặt nổi bật của thơ Việt Nam thời kỳ Đổi mới
1.2.1 Khái lược về thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới
Xu hướng vận động chung của văn học Việt Nam từ những năm sau
1986 trở đi là dân chủ hóa, hiện đại hóa Đại hội lần thứ VI của Đảng kêu gọi đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, từ đó tạo cơ sở cho tư tưởng dân chủ hóa trong văn học phát triển Tháng 10 năm 1987 diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với giới văn nghệ sỹ cả nước, ý thức đổi mới đã đem đến sự thay đổi sâu sắc về tư duy đời sống, tư duy sáng tạo Dân chủ hóa đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ, nhiều bình diện của đời sống văn học, nhất là sự thay đổi lớn ở bình diện ý thức nghệ thuật với những quan niệm mới về vai trò, vị trí và chức năng của văn học, của nhà văn về hiện thực Trong lĩnh vực thơ ca đã có những cách tân theo hướng hiện đại chủ nghĩa và hậu hiện đại, thu hút nhiều sự chú ý của bạn đọc và giới nghiên cứu
Về lực lượng sáng tác, sau 1986, trong thơ Việt Nam có sự song hành
và nối tiếp của nhiều thế hệ nhà thơ với tinh thần bứt phá, cách tân, sáng tạo
Trang 19mạnh mẽ như: Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Ý Nhi, Thi Hoàng, Hoàng Hưng, Đặc biệt, trong giai đoạn này, xuất hiện một thế hệ nhà thơ
mà ta có thể định danh họ bằng tên gọi “thế hệ nhà thơ Đổi mới” Đó là các tác giả Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Lương Ngọc, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Irasara, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Linh Khiếu, Giáng Vân, Dư Thị Hoàn Họ là những người dám chấp nhận thử thách, dám chối bỏ sự hoà lẫn đơn điệu vào dòng thơ truyền thống với những bạn đọc quen thuộc Họ là một thế hệ sáng tạo sung sức và khao khát cách tân, làm mới thơ ca dựa trên nền tảng mĩ học hiện đại Họ mong muốn được giải phóng khỏi những quan niệm hẹp hòi, khô cứng, để không còn quá băn khoăn tôi hay ta, hiện thực hay không hiện thực Thơ ca đối với họ là sự ghi lại những xúc cảm chân thật nhất của tâm hồn với những tiếng nói hết sức mãnh liệt, nhiều khi gây sốc Chính
sự đổi mới và cách tân thi pháp của thế hệ thơ thời hậu chiến và Đổi mới này
có ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy sáng tạo của từng cá nhân nhà thơ, trong đó
có Dương Kiều Minh
Bên cạnh đó, điều dễ nhận thấy trong thơ ca thời kỳ đổi mới là xu hướng trở về cái tôi cá nhân, những lo âu của đời sống thường nhật Nhà thơ nói nhiều hơn về những cảm nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt, trong cơ chế thị trường - con người sống với nhau lạnh lùng hơn, mối quan hệ
cá nhân trong xã hội lỏng lẻo hơn, khiến con người cảm thấy bất an, mất niềm tin vào thời cuộc Nỗi buồn trong thơ giai đoạn này được bộc lộ với chất giọng tự thú, tự bạch với những nỗi niềm riêng tư, với những ảo tưởng bị tan
vỡ hay những nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh… trong những rung động sâu kín nhất Sau những suy tư về thực tại có phần bất an, nhà thơ tìm cảm giác bình an trong những "vùng mờ tâm linh" với những cố gắng phát hiện chiều sâu vô thức, tâm linh của con người
Trang 20Về phương diện nghệ thuật, thơ ca thời kỳ đổi mới có những đổi thay trong cách thức kiến tạo hình ảnh, hình tượng và biểu tượng thơ Bằng cách
sử dụng các thao tác liên tưởng, tưởng tượng, suy tưởng, các biện pháp nghệ thuật vốn có trong tư duy thiết tạo hình ảnh như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, chơi chữ, điệp, hoán dụ… quen thuộc trong thơ, kết hợp với quan niệm mới
về chất thơ đã tạo ra những hình ảnh, hình tượng, biểu tượng đa nghĩa, mang dấu ấn cá nhân rõ nét
Nhìn chung, xét từ đề tài, chủ đề, thể loại, ngôn ngữ, đến hình tượng cái tôi trữ tình, trong thơ sau Đổi mới đều có những thành tựu đáng kể Có nhiều tác phẩm ở dạng thể nghiệm nhưng cũng đã mang lại ý nghĩa sâu sắc đối với thực tiễn sáng tạo
1.2.2 Con người và hành trình thơ Dương Kiều Minh
1.2.2.1 Tiểu sử nhà thơ Dương Kiều Minh
Nhà thơ Dương Kiều Minh sinh ngày 6/1/1960, quê Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Từ 1980 - 1991, ông công tác tại Tổng công ty xây dựng Sông Đà - Hòa Bình Năm 1989, ông tốt nghiệp trường Viết văn Nguyễn Du khóa III Từ
1991, ông công tác tại Sở Văn hóa thông tin, Hội văn học nghệ thuật Hà Tây (cũ), Hội văn học nghệ thuật Hà Nội, Phó Chủ tịch thường trực liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Thủ đô (từ 2011)
Năm 2012, ông lâm bệnh hiểm nghèo, mặc dù đã được gia đình và các
y, bác sỹ tận tình chăm sóc, cứu chữa nhưng vì bệnh nặng, nhà thơ đã từ trần vào hồi 11h08 phút, ngày 28/3/2012 tại bệnh viện Hà Đông
Dương Kiều Minh đã phải nếm trải nhiều nỗi nhọc nhằn do gia cảnh khó khăn và cuộc sống mưu sinh nhiều vất vả, nhưng trái tim ông đã sống hết mình với thơ ca Ông để lại 7 tập thơ với một số tập bản thảo sau này in trong Tuyển thơ Dương Kiều Minh (2011), 2 tập tiểu luận và một số tùy đàm văn chương
Đọc thơ Dương Kiều Minh, người đọc dễ hình dung ông là người có bản tính thâm trầm, hiền hậu, dễ gần, nhưng nhiều tâm tư, suy ngẫm Thơ ông
Trang 21được dư luận khá quan tâm và ông được coi là một gương mặt thơ cách tân sáng danh của thế hệ nhà thơ xuất hiện sau 1975
1.2.2.2 Sáng tác của nhà thơ Dương Kiều Minh
Dương Kiều Minh tốt nghiệp trường Viết văn Nguyễn Du vào năm
1989 Năm 1991, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Khi ấy ông 31 tuổi, đã hoàn thành 3 tập thơ: Củi lửa (xuất bản năm 1989), Dâng mẹ (1990), Những thời đại thanh xuân (1991) Sau đó Dương Kiều Minh tiếp tục cho ra đời các tập thơ: Ngày xuống núi (thơ, 1995), Tựa cửa (thơ, 2001), thơ Dương Kiều Minh (tuyển thơ, 2001); Tôi ngắm mãi những ngày thu tận (thơ, 2008)
và những tùy đàm văn chương: Tìm hiểu người xưa qua sách cổ (2006); Những viên ngọc sáng (tùy đàm văn chương, 2008) Ở thể loại tiểu luận, nhà thơ có tất cả 30 tiểu luận
Dương Kiều Minh là một gương mặt xuất sắc của thơ Việt Nam thời kỳ Đổi mới Điểm nổi bật trong hoạt động cách tân thơ của Dương Kiều Minh là đến hiện đại từ truyền thống Trong khi các nhà thơ cùng thời nỗ lực cách tân thơ với tinh thần hướng về phương Tây thì Dương Kiều Minh luôn hướng về phương Đông nguồn cội Trên nền tảng những tìm tòi theo hướng tượng trưng, ông là nhà thơ cách tân, hiện đại trong cách diễn đạt từ ngữ, liên tưởng, tạo được nhiều cảm xúc mới mẻ Trong thơ Dương Kiều Minh xuất hiện một
hệ thống biểu tượng mang đậm dấu ấn văn hóa phương Đông, thể hiện nhãn quan và bút pháp riêng, độc đáo của thi nhân về thiên nhiên, vũ trụ và cuộc sống con người
1.3 Biểu tượng - một phương diện sáng tạo nổi bật trong thơ Dương Kiều Minh
3.1.1 Về biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh
Biểu tượng là một phương diện sáng tạo độc đáo, nổi bật trong thơ Dương Kiều Minh Tuyển tập Thơ Dương Kiều Minh (2011) với 7 tập thơ tiêu
Trang 22biểu in đậm dấu ấn của những biểu tượng về quê hương nguồn cội với con người ra đi - trở về, cánh đồng, củi lửa, đồi trung du, mẹ ; biểu tượng về thế giới tâm linh với giấc mơ, ngôi mộ, tiếng gọi mơ hồ; biểu tượng về đời sống sáng tạo nghệ thuật với con đường, trang giấy, tháp bút, tiếng địch, con người
cô đơn… Rất nhiều biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh là sự tập hợp các hình ảnh được soi chiếu từ kí ức Dường như đối với nhà thơ này, những gì đẹp nhất của đời sống đều được khơi gợi từ kí ức Kí ức như một mảnh đất đẹp đẽ nhất mà cuộc đời ông có được, cứ trở đi trở lại trong dòng hoài niệm của nhà thơ Bên cạnh đó, thông qua các biểu tượng, người đọc còn nhận thấy một hồn thơ khắc khoải với cuộc đời, không ngừng tìm kiếm những giá trị mới trên nền tảng của truyền thống phương Đông với đam mê sáng tạo không mệt mỏi
Khi tập thơ đầu tay Củi lửa ra đời, Dương Kiều Minh đã vẽ lên được một diện mạo thơ rõ ràng, điều rất ít nhà thơ làm được Với sự xuất hiện của những tập thơ tiếp theo như: Dâng mẹ, Những thời đại thanh xuân, Ngày xuống núi, Tựa cửa, Tôi ngắm mãi những ngày thu tận, Khúc chuyển mùa…, tầm vóc của nhà thơ Dương Kiều Minh càng được khẳng định Đọc thơ ông, thấy một cảm giác nhẹ nhàng, êm dịu len lỏi trong tâm hồn, đằng sau nỗi buồn, nỗi cô đơn, nỗi nhớ day dứt là tinh thần lạc quan, niềm hy vọng và khát khao được sống trọn với đam mê sáng tạo nghệ thuật Những xúc cảm ấy trong tâm hồn nhà thơ hiện rõ qua các biểu tượng khi sống trong một cảnh huống cụ thể
1.3.2 Cơ sở hình thành biểu tượng trong thơ Dương Kiều Minh 1.3.2.1 Bối cảnh lịch sử - thẩm mĩ Việt Nam sau 1975
Văn học là tấm gương phản chiếu xã hội, phản ánh hiện thực qua từng giai đoạn, thời kỳ Giữa văn học và lịch sử có mối quan hệ khăng khít với nhau Quá trình phát triển đi lên của đất nước ta từ sau kết thúc chiến tranh đã
Trang 23dẫn đến những đổi thay trong tư duy của con người Cùng với đó là chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam (Đại hội VI) có tác động trực tiếp đến đời sống văn hóa - xã hội, trong đó có văn học nghệ thuật
Văn hóa Việt Nam với những nét truyền thống mang tính cộng đồng, làng quê đang có sự thay đổi Nền văn hóa đó góp phần thúc đẩy sự hình thành ý thức cá nhân Từ đó, nhiều nhà thơ có sự cách tân trong sáng tạo nghệ thuật xuất hiện, đem đến những quan niệm thẩm mĩ mới mẻ về con người, đời sống và thơ ca Đề tài, chủ đề thơ cũng trở nên phong phú và đa dạng hơn, phát huy khả năng sáng tạo, làm phong phú thêm hệ thống biểu tượng và ý nghĩa của các biểu tượng trong thơ ca
Trong bối cảnh lịch sử đó, Dương Kiều Minh một mặt kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của thơ ca xưa, mặt khác, đã không ngừng tìm tòi, tiếp thu cái mới, sáng tạo thích nghi với những đổi thay trong đời sống thơ ca đương đại, đặc biệt đưa thơ ca về gần với đời sống con người, phát huy những hướng mở trong tư duy nghệ thuật Sự xuất hiện hệ thống biểu tượng có tính đa nghĩa trong thơ Dương Kiều Minh đã thể hiện nhu cầu bộc lộ cá nhân trước những đổi thay của xu thế, thời cuộc, chứng minh khả năng sáng tạo và sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trong đời sống nghệ thuật
1.3.2.2 Đời sống cá nhân và quan niệm sáng tạo của tác giả
Tác giả Văn Giá trong bài viết Dương Kiều Minh- Lữ thứ đời, lữ thứ thơ đã nhận xét: “Ai đã từng gặp, nhất là đọc thơ Dương Kiều Minh, tôi dám chắc rằng cả trăm người đều bảo Dương Kiều Minh không phải là người sướng Lúc nào trông ông cũng rầu rầu, chẳng mấy khi có cái cười rạng rỡ; ít tham gia vào các sinh hoạt đám đông, nếu buộc phải có mặt xem chừng cũng
cố thu mình lại Đọc thơ thì thấy, với một cái tâm vần vụ, ngổn ngang tâm sự như thế thì làm sao có thể gọi là người sướng được Một người sướng phải có tâm nhàn Dương Kiều Minh lại là người tâm khổ Người thơ phong vận như thơ ấy Với Dương Kiều Minh, câu thơ của thi sĩ họ Hàn đặc biệt đúng với tất
Trang 24cả sự sắc nét của nó” [11]
Trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sỹ thường có khả năng thiên bẩm trong quan sát, tái hiện Một mặt sản phẩm được tạo ra nhờ quá trình thai nghén, ấp ủ và bừng sáng khi “đứa con tinh thần chào đời” nhờ vốn sống, kinh nghiệm, vốn tri thức Mặt khác, người nghệ sĩ còn có khả năng nhận thức đối tượng bằng cảm tính, bằng trực giác, không cần thông qua suy luận của lý trí, khiến “câu chữ trào ra đầu ngọn bút” Dương Kiều Minh là nhà thơ mạnh về trực giác, ông thường dùng trực giác để đi vào những miền sâu miền xa của không gian, thời gian và tâm tưởng trong thế giới kỳ diệu của tinh thần con người Khi cái tôi mạnh về trực giác, nhà thơ có khả năng tái hiện những cái gì mang tính trừu tượng, giúp nhà thơ nhận ra “thế giới tâm hồn của con người thật không đơn giản mà chứa đựng những quằn quại, giằng
xé, giông bão, rối bời” [31, tr.115]
Trong thơ, Dương Kiều Minh luôn ý thức rõ ràng về cái tôi của mình
Đó là cái tôi tinh thần được chiếm lĩnh như một đối tượng, cái tôi lặng lẽ trú ngụ trong những con người bình thường và nhỏ bé, nhiều khi thấy cô đơn giữa mọi người: “Quanh ta quen biết thì nhiều, tri âm khó kiếm” (Tựa cho tập Tựa cửa-2000) Trong cảm nhận của nhà thơ, “Những gì giản dị nhất đếu mang theo bí mật” (Tôi ngắm mãi những ngày thu tận) Và, vì thế, xây dựng biểu tượng nghệ thuật có tính trừu tượng, đa nghĩa là cách nhà thơ gửi gắm nỗi niềm, suy tư về thân phận, con người, về cuộc đời
Dương Kiều Minh đến với thơ ca như để thực hiện “sứ mệnh” Ông quan niệm, đối với người làm thơ, dù đời sống khó khăn, vất vả nhưng phải hoàn thành “sứ mệnh” của “kẻ được chọn” Trong bài thơ Trở về từ ảo giác, Dương Kiều Minh đã bộc lộ quan điểm về người sáng tạo: “Ôi, mấy trang giấy trắng, vài ba câu chữ nghĩa, thấm thoắt hết cả đời/ Ngẩng nhìn mây, mây vẫn nhởn nhơ bay như ngày bé đang mải miết chở những chân trời hoài vọng/ Đằng sau mỗi bài thơ tàng chứa số phận cùng nỗi hoang mang, mối
Trang 25hoài nghi theo đến tận cùng trái đất Những gì giản dị nhất đều mang theo bí mật” Có thể thấy sự cảm nhận của ông về cuộc đời thi sĩ: ngắn ngủi, chứa đựng nhiều âu lo, bất trắc nhưng đó lại là “sứ mệnh”, để biết được những điều giản dị nhất, những vẻ đẹp bình dị mà cao cả trong cuộc đời
Trước nỗi đau, niềm bi quan về cuộc đời Dương Kiều Minh tìm đến thơ như một sự giải tỏa, bù đắp rất lớn Trong thơ Dương Kiều Minh, thế giới của ngày xưa như một cứu cánh của người thơ Ông quan niệm: “Thi ca nằm ở những khoảng trống” trong thế giới của con người Nơi đời sống tinh thần của mỗi người hướng tới cái bí ẩn, cái vô biên, cái vô cùng Không ngừng hoàn thiện những ước vọng phía trước; hoặc bù đắp những mất mát mà con người luôn phải đối mặt với những bất hạnh, những tổn thương không gì có thể xoa dịu” (Lời phụ ghi bên bản thảo tập thơ chưa hoàn thành)
Dương Kiều Minh quan niệm nhà thơ là người biết khơi dậy những vẻ đẹp bí ấn trong những điều giản dị nhất và thơ ca là nguồn sáng xoa dịu những đau khổ, mất mát, bất hạnh, tổn thương của đời người Vì thế, nhà thơ lựa chọn biểu tượng có tính đa nghĩa để chuyển tải những vẻ đẹp bí ẩn của cuộc sống, khơi dậy khả năng tiềm ẩn của con người trong cảm nhận cái đẹp, thấy “thanh bình” ở cõi nhân gian tưởng chừng như chỉ có khổ đau
Đặc biệt, người đọc thấy xuất hiện trong thơ Dương Kiều Minh rất nhiều những hình ảnh được soi chiếu từ kí ức “một đi không trở lại” như cậu
bé tuổi thơ, cánh đồng thơ ấu, ngôi nhà lợp rạ, bờ dậu, kí ức thanh xuân, con đường Chúng tạo nên những biểu tượng nghệ thuật giàu sức gợi, chứng minh quan niệm: “Chỉ những gì một đi không trở lại/ dựng lên vẻ đẹp cõi người” (Dâng Lý Bạch)
Nhìn chung, giữa quan niệm sáng tạo và việc lựa chọn hình thức biểu hiện của nhà thơ có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ Lựa chọn cách biểu hiện ý tưởng nghệ thuật thông qua xây dựng biểu tượng như là một điều tất yếu trên
Trang 26con đường sáng tạo nghệ thuật của Dương Kiều Minh, giúp nhà thơ bày tỏ những tâm sự sâu kín của cõi lòng, thực hiện khát khao “chở thanh bình về với cõi người”
Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi điểm qua một số khái niệm liên quan đến biểu tượng nhìn từ góc độ văn hóa, văn học, đồng thời giới hạn cách hiểu của khái niệm biểu tượng được sử dụng trong luận văn Cũng trong chương này, chúng tôi điểm một số nét sơ lược về Dương Kiều Minh nhằm thấy được những điểm khái quát về con người và hành trình sáng tạo nghệ thuật, vị trí của nhà thơ trong thế hệ các nhà thơ thời kì Đổi mới Có thể nói, đây là những tiền đề tạo cơ sở cần thiết để chúng tôi triển khai phần trọng tâm của luận văn ở những chương sau
Trang 27Chương 2 ĐẶC ĐIỂM BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ DƯƠNG KIỀU MINH
2.1 Biểu tượng về quê hương, nguồn cội
2.1.1 Cảm hứng sáng tạo về quê hương, nguồn cội trong thơ Dương Kiều Minh
Văn học Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau nhưng xuyên suốt dòng chảy lịch sử của văn học là cảm hứng yêu nước, yêu quê hương Đấy là một tình cảm gắn bó tha thiết, thể hiện rõ từ ca dao đến thơ ca trung đại cho đến thơ hiện đại Tuy cách thể hiện tình yêu đối với quê hương
ở mỗi nhà thơ có khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả luôn tự hào về cảnh đẹp và con người nơi quê hương mình Khi đi xa, họ luôn nhớ và mong ngóng được trở về với quê hương, nguồn cội, nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng ước mơ và thanh lọc tâm hồn nhà thơ
Nhà thơ Dương Kiều Minh là người sống trong hiện tại mà không nguôi hoài vọng quá khứ Sống trên quê hương mà luôn thấy "thiếu quê hương" Về điều này, nhà phê bình Văn Giá đã viết: “Dương Kiều Minh có một tuổi thơ ở đồng đất thôn quê Lớn lên, do run rủi thế nào lại phiêu dạt lên thủy điện Hòa Bình Như một lẽ thông thường có tính truyền thống, đến khi trưởng thành phải trở về quê sinh cơ lập nghiệp, lấy vợ đẻ con, nối dõi tổ tông Nhưng như chúng
ta biết, cuối cùng Dương Kiều Minh đã có một đời sống khác: sinh cơ lập nghiệp
ở Hà Đông, một nơi chốn có thể nằm ngoài dự định, thậm chí đối với chính nhà thơ, đến lúc cuối đời vẫn cứ còn là một bí ẩn Và như vậy, con người hữu thể của ông thực chất là kẻ sống tha hương, sống gửi quê người Và từ nơi này nhìn về, quê hương như là một cố hương, quê nhà" [11]
Quê hương, nguồn cội, vì thế, là nguồn cảm hứng nổi bật của Dương Kiều Minh, thể hiện, chi phối trên nhiều phương diện nội dung và nghệ thuật thơ ông Từ tập thơ đầu tay Củi lửa (1989) đến Khúc chuyển mùa (2011),
Trang 28người đọc luôn bắt gặp trong thơ Dương Kiều Minh những biểu tượng của quê hương như mẹ:”Nhiều khi buồn nức nở/ ngóng cánh đồng bên sông Hồng cuộn đỏ/ có nấm mồ cha/ nấm mồ của mẹ/ đấy cố hương/ và đây cố hương…(Cố hương), cánh đồng: “Cánh đồng bao la dập dờn tiếng hát/ Hồ nước/ Đụn rơm/ Cây cầu gỗ/ Hội hè thôn quê sênh sáo nhặt khoan/ Bông hoa cỏ dịu dàng thiếu nữ/ Các nàng tiên thiên giới tụ về (Thôn quê), củi lửa: “…xưa cũ rừng cây/ xưa
cũ bếp lửa/ xưa cũ nhà sàn/ xưa cũ lứa đôi dắt nhau về dưới núi (Những ngày u ám);đồi trung du: “Thác nước, núi non, bản làng sương phủ/ buổi sớm bừng tiếng chày nện lúa/ hồn chắc lạc thâm sơn cùng cốc/ xác phiêu diêu đồng áng ruộng vườn (Ngày xuống núi)… Trong khi nhiều nhà thơ trẻ cùng thời hăm hở, bứt phá với những thể nghiệm xúc cảm một cách táo bạo, ồn ào thì Dương Kiều Minh tìm về với những khoảnh khắc sâu lắng của tâm hồn với “Khúc tưởng niệm mẹ tôi”, với “Củi lửa”, với “Đồi trung du”, “Thôn quê”, “Những quả đồi mùa đông” và thấy “Hiện về những cánh đồng chờ đổ ải”… Và, trong những
“mái nhà thân thuộc” mang đặc trưng của quê hương Trung du Bắc Bộ ấy ông
đã có những vụ mùa thi ca bội thu
Cảm hứng sáng tạo về quê hương, nguồn cội trong thơ Dương Kiều Minh luôn gắn liền với những dòng xúc cảm về quá khứ được nối liền với hiện tại Vì thế, đọc thơ ông, người đọc vừa có ý thức nhớ về truyền thống cha ông, nơi mình sinh ra, vừa cảm nhận thấy những xúc cảm êm dịu, giúp con người có những giây phút lắng mình trước dòng chảy của cuộc sống nhiều lo toan Chính cảm hứng này đã làm hình thành nên một hệ biểu tượng độc đáo trong thơ tác giả này - hệ biểu tượng về quê hương, nguồn cội
2.1.2 Những biểu tượng nổi bật về quê hương, nguồn cội trong thơ Dương Kiều Minh
2.1.2.1 Cánh đồng
Cánh đồng là một biểu tượng nổi bật trong hệ biểu tượng về quê hương, nguồn cội của thơ Dương Kiều Minh Không gian ấn tượng nhất trong thơ Dương Kiều Minh là cánh đồng với đa dạng âm thanh, màu sắc, mùi vị
Trang 29Trong Tuyển thơ Dương Kiều Minh rất nhiều bài thơ nhắc đến cánh đồng Tần số xuất hiện của những từ ngữ, hình ảnh mô tả, thể hiện về cánh đồng (có khi tác giả chỉ gọi ngắn gọn là đồng, hoặc ruộng đồng, đồng lúa, đồng cỏ ) khá đậm đặc: Đồng lúa rộ vàng, Đồng cỏ đầm sương, cánh đồng tím nhạt, những cánh đồng trồng Sả kéo suốt những chân đồi, mùi khói đốt đồng, cánh đồng ngày thơ ấu, ruộng đồng, cánh đồng rộng, Cánh đồng mùa xuân vẫn xưa cũ, cánh đồng nứt nẻ, Những cánh đồng viôlet, Những cánh đồng ven đồi khô kiệt… Gắn liền với cánh đồng là những danh từ chỉ các sự vật, con vật, vật thể liên quan, gần gũi: lúa, cỏ, sương, gió,, Viôlet, ngôi làng, làng mạc, gò đống, chú dế nhỏ, mưa, khói đốt đồng,rơm rạ…; là những từ chỉ mùa, đặc biệt là mùa xuân và những âm thanh, màu sắc, mùi hương… mang đặc trưng của không gian làng quê vùng trung du Bắc Bộ Tất cả những “mã” ngôn ngữ này trở đi trở lại trong những bài thơ của Dương Kiều Minh nối tiếp nhau vẽ ra một thế giới của tuổi thơ ông, của quê hương ông và những suy tư
về cuộc đời
Trước hết, cánh đồng là biểu tượng của thiên nhiên đầy màu sắc, hương thơm và thanh âm Dùng khứu giác tinh tế để cảm nhận về không gian cánh đồng, Dương Kiều Minh đã đem đến trong thơ ông thế giới mùi vị của thiên nhiên, của hoa trái cỏ cây, của cuộc sống thanh bình thôn dã: mùi khói tỏa lên nồng nã, mùi khói đốt đồng, hương trầm, hương ngải cứu sực nức sau mưa, hơi mưa, hơi đêm, hơi xuân mùi rơm rạ, lá sen già, lá bạch xộc vào giấc ngủ, mùi thơm ngát hạt gạo nếp trắng ngần, mùi cây vườn vắng hăng hăng, mùi hăng hăng của những chồi cây lộc biếc, mùi thôn ổ, mùi ẩm mốc, mùi thơm từ những vạt ngải tiên khuếch tán, mùi ngòn ngọt cây ngọc lan già, mùi men rượu, củ cải, sả, sung chín, bưởi chín, cỏ cháy, mùi khói rơm níu bước khách chiều,… Và đặc biệt, chỉ với một tâm hồn hết sức nhạy cảm, ông mới cảm được mùi sương, mùi nước, mùi bẳn gắt, mùi tết nhất nghèo khó nồng
Trang 30nàn tinh khiết, mùi vị của ảo giác, mùi vị khí thu, vị hương tinh khiết của nắng
Không gian cánh đồng trong thơ Dương Kiều Minh tràn ngập cỏ cây hoa lá Dường như rất hiếm nhà thơ Việt Nam đương đại nói về sự có mặt của các loài hoa nhiều như ông Rất nhiều loài hoa có mặt trong thơ ông: hoa sớm
nở tối tàn, bông hoa hiền dịu, hoa lim, phượng vĩ, bằng lăng, hoa gai, ngọc lan, hoa cỏ, hoa đồng nội, hoa không tuổi tên, hoa dại, cúc dại, hoa cải, hoa cải cúc, hồng dại, hoa bưởi, mận, đào, táo, nhãn, hoa gạo, hoa sể, thiết mộc lan, thục lan, tiểu li lan, bạch liên, hải đường, trạng nguyên, đỗ quyên, xương rồng, phù dung, sen, súng, khế, lau trắng, lau tím, vi ô lét tím, loa kèn đỏ, hoa ngô đồng, phương đình, tầm xuân, dành dành, hoa sam đất, hoa rau khúc, hoa lạc tiên, trinh nữ, hoa mùng tơi, hoa rong riềng, râm bụt, hoa vối, ngâu, thanh trà, thủy tiên, hoa bàng, dâu da xoan, hoa trúc ngải tiên,
Tỉ lệ những loài hoa dại, không tuổi tên và những loài hoa nhỏ bé, bình
dị, quê kiểng có mặt trong thơ ông nhiều hơn các loài hoa sang quý, chúng đều gợi cho ông sự chạnh lòng, niềm trắc ẩn, nỗi hoài vọng về một cố hương đẹp mà buồn thương
- Buồn nẫu ruột bên đường bụi hoa hoang dại mùa xuân nở trắng
- Những bông hoa đồng nội mỏng mảnh quên lãng đua nhau nở bên bờ quê như nhắc nhớ sự đơn sơ, đạm bạc
- Những bông hoa khế nhỏ xíu tím nhạt rơi đầy trên nền đất
- Kìa những nụ hoa bé tí xíu nhú lên như những hạt nấm
Không gian cánh đồng trong thơ Dương Kiều Minh ngập tràn âm thanh Đó là các dàn, bè âm thanh của thiên nhiên:tiếng dế, tiếng két đồng, tiếng tước đồng, hồng tước, thanh tước, tước nâu, tước xám, tiếng ngỗng trời, chim hạc, âm thanh điền dã, bản giao hưởng bốn mùa, bản hòa âm, dàn đồng
ca, dàn thiên nhạc khổng lồ, khuông nhạc thế gian, các tiểu thiên thần vừa
Trang 31bay vừa hát, tiếng gió sột soạt… Ngoài ra, không gian ấy còn ngập tràn âm thanh của nhiều loại nhạc cụ: tiếng kèn, sáo, tiêu, nhị cổ, chuông, âm thanh cây đàn một dây và hai mươi sáu dây, nhạc Johann Sebastian Bách, tiếng tập đàn ngắt nhịp, tiếng vĩ cầm, dương cầm, đàn tranh, tỳ bà, đàn đá, đàn nguyệt, đàn tế, tiếng thụ cầm, thiên cầm, phong cầm, thủy cầm…
Cánh đồng còn là biểu tượng của tuổi thơ êm đềm Dương Kiều Minh dành rất nhiều tình cảm cho quê hương, tuổi thơ, những ký ức trong sáng, đẹp
đẽ Vì thế, trong thơ ông biểu tượng cánh đồng bộc lộ niềm trắc ẩn, nỗi hoài vọng về một cố hương đẹp, chất chứa đầy kỉ niệm với khát khao được trở về Cánh đồng, do đó, còn là biểu tượng của tuổi ấu thơ êm đềm, ngọt ngào
Như những người con sinh ra và gắn bó với làng quê nhưng mang trong mình ước mơ “bay cao bay xa”, mười bảy tuổi Dương Kiều Minh đã “tạ từ những ngôi nhà lợp rạ; tạ từ âm thanh điền dã” để đến những vùng đất mới Khi
đã trưởng thành, đặc biệt là trong những phút giây lắng đọng cảm xúc, trong ông luôn khắc khoải một nỗi nhớ nhà, nhớ “Đồng cỏ đầm sương lóa ướt dưới trời”, nhớ“những gò đống nhấp nhô như nấm”, với “những đụn rơm mùa gặt khô vàng”, nhớ “âm thanh ngày náo nức/ Con chạy trên đồng lúa rộ vàng”…
Trong nỗi niềm nhớ thương vời vợi, ký ức ấu thơ trên những cánh đồng chợt ùa về:
Thơ ấu chạy trên cánh đồng tím nhạt Giữa nước nôi, giữa bờ cỏ đầm sương Vụng dại khát khao và trong trẻo
(Ban mai) Đấy cánh đồng ngày thơ ấu
Ta chỉ như là khách thôi
(Cánh đồng thơ ấu) Gió rì rào dưới vòm xanh sẫm đem giấc mơ hão huyền của cậu
Trang 32bé lang thang trên cánh đồng Những ngôi làng nổi lên lốm đốm như những gò đống xanh xanh giữa biển lúa rực vàng sắp vụ
Ba mươi năm, năm nào tôi cũng trở về Chợt nhận thấy mình đã
là người khác Một cảm giác xa lạ lẫn cùng làn sương khói buổi cuối thu phủ sẫm dần làng mạc ruộng đồng”
(Khúc tưởng niệm) Cánh đồng mùa xuân vẫn xưa cũ, vẫn trẻ trung như ngày thơ ấu, nỗi buồn dấu kỹ nơi những gò đống nằm quên trong mưa xuân phơi phới
(Khúc tưởng niệm) Những bước chân trẻ thơ con đường xuân náo nức
Những cánh đồng viôlet dâng ngập màu xuân tím ngắt Dâng niềm nuối tiếc
Đặc biệt, hình ảnh cậu bé thường xuất hiện trong tâm tưởng nhà thơ cùng với sự bao bọc chở che của mẹ: “Ngày ấy cậu vừa sáu tuổi/ cùng người về bên quê ngoại/ xanh ơi những bãi ngô dài/ con đò lần đầu cậu biết/ thiếu nữ tóc vừa ngang vai” (Ơi làng quê xứ lạ); “Mẹ dắt con/ ngày đẹp trời gió nắng/cỏ và hoa, dòng suối vươn dài/ con ríu rít, cuộc đời ríu rít” (Cổ tích I); “Sớm nào con chạy
Trang 33ra trời rộng/gặp cánh đồng bao la là lúa/ bao la mùa vàng” (Cổ tích III) Điều này được thể hiện rõ nhất trong tập thơ đầu tiên của ông, Củi lửa (1989) Càng
về sau, hình ảnh này thưa dần, gần như là mất hẳn, nhường chỗ cho hình ảnh quê xưa và mẹ gắn liền với nỗi niềm thân phận
Cánh đồng tượng trưng cho khát vọng bình yên Cánh đồng trong thơ Dương Kiều Minh có sức ám gợi sâu sắc với nhiều liên tưởng độc đáo, với niềm tin vào sự vĩnh hằng của cái đẹp, của xúc cảm chân thật Vượt lên những nỗi đau “khô cằn”, “nứt nẻ”, cánh đồng biểu trưng cho khát vọng và ước mơ bình yên của con người
Bình yên trên những ban mai lộng lẫy, những đồng cỏ đầm sương chợt hiển hiện như trong cổ tích: Đâu phải nữa con búp bê bằng cỏ/ Con đường hoa vối rụng đầy/ Ban mai đổ về xa vắng/ đồng cỏ đầm sương loá ướt dưới trời (Bản giao hưởng đồng quê) Khi rời xa “tai ách trần gian” về với cánh đồng, ở đó con người được sống hết mình, có đủ sức mạnh thách thức với nhân gian nhiều tai ương:
“Ta trả ngươi về với bầu đêm thanh tĩnh, những giọt sương tinh khiết treo trên ngọn cỏ, bầu khí trời ngươi hít thở thật sâu, ngươi cất tiếng gáy vang xa qua cánh đồng rộng vượt qua đêm vọng tới nhân gian”
(Về đi chú dế nhỏ) Lời thì thầm với chú dế nhỏ lạc mẹ đã gợi ra không gian đồng quê thanh tĩnh, nơi nuôi dưỡng khát khao, vỗ về những giấc mơ và là bến bờ bình yên giúp con người vượt qua những khó khăn của cuộc sống thường nhật, sẵn sàng “cất tiếng gáy vang xa qua cánh đồng rộng vượt qua đêm vọng tới nhân gian” Trong những câu thơ hiện lên một niềm tin mãnh liệt về sức mạnh tinh thần của con người, một niềm vui trong trẻo rất đáng trân trọng
Bởi vậy, có những khi cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức “Ôi! Người cho con chẳng được bao nhiêu- thể xác con bị dày vò kiệt sức…/ Ôi! Lạy người - sức chịu đựng của con đã cùng kiệt” là khi nhà thơ liên tưởng đến những cánh
Trang 34đồng của cố hương với hương thơm “sâu đằm”: “Con mơ thấy những cánh đồng trồng Sả kéo suốt những chân đồi, mùi hương sâu đằm tỏa đầy bầu trời trong đêm” Và trong tâm trạng tuyệt vọng ấy, ông tìm về với “cánh đồng bên dòng sông Hồng cuộn đỏ”:
Nhiều khi buồn nức nở Ngóng cánh đồng bên sông Hồng cuộn đỏ
có nấm mộ cha nấm mộ của mẹ đấy cố hương
và đây cố hương
(Bộc bạch) Nhà thơ tìm về trên cánh đồng cố hương - trong tâm tưởng - để được chia sẻ, được đồng cảm, được xoa dịu những nỗi đau thể xác và cả tâm hồn trong kiếp người cô đơn, đau khổ
Nhìn chung, biểu tượng cánh đồng trong thơ Dương Kiều Minh gắn liền với tuổi thơ lam lũ, khó khăn, vất vả nhưng cũng hết sức yên bình Đó là không gian của tình thân, nơi nuôi dưỡng ước mơ, lưu giữ nhiều kỉ niệm khiến mỗi người khi đi xa vẫn luôn thổn thức tìm về
2.1.2.2 Củi lửa
Cùng với biểu tượng cánh đồng, củi lửa cũng là một biểu tượng mang nhiều ý nghĩa, kết đọng tình yêu quê hương trong thơ Dương Kiều Minh Củi lửa là biểu tượng trung tâm, và xoay quanh, gắn kết với biểu tượng này là hàng loạt hình ảnh, chi tiết quen thuộc, gần gũi: Cột khói, làng khói, bếp lửa, củi lửa, hơi ấm đụn rơm, mùi khói, đốm lửa, ngọn lửa, cột khói, bập bùng lửa,… Chúng gợi nhắc những kỉ niệm ấu thơ, tình cảm ấm nồng của quê hương và những người thân Đồng thời, củi lửa còn là hiện thân của niềm tin vào sự sống và khát vọng sáng tạo Sau đây là một số ý nghĩa tượng trưng của biểu tượng Củi lửa mà chúng tôi nhận thấy trong thơ Dương Kiều Minh
Trang 35Củi lửa là hình ảnh kí ức ấm áp êm đềm nhất trong đời tác giả Đó là
kí ức về tuổi thơ, về quê hương, về tình mẹ bao la, ấm áp Trong bài thơ Củi lửa trích từ tập thơ cùng tên, “củi lửa” biểu trưng cho kí ức tuổi thơ, mảng kí
ức ấm áp, êm đềm nhất trong cuộc đời của mỗi người Ở đó có dáng mẹ hao gầy, có ao xưa, mảnh vườn xưa, bậc thềm giàn giụa ánh trăng, những ngọn đồi, đặc biệt bếp lửa ngày đông, mái rạ, mùi lá bạchđàn… là những kỉ niệm tuổi thơ không sao quên được Khi thời gian đã đi qua, rời xa “mùi khói” bếp lửa, chứng kiến bao nỗi đời cực nhọc, tâm hồn nhà thơ lại muốn tìm về với ngày xưa, tìm hơi ấm bình yên bên bếp lửa ngày đông của mẹ:
Đời con thưa dần mùi khói
mẹ già nua như những buổi chiều Lăng lắc tuổi xuân
lăng lắc niềm thôn dã bếp lửa ngày đông…
Mơ được về bên mẹ
ao xưa, mảnh vườn nhỏ ngày xưa bậc thềm giàn giụa trăng mỗi tối Bên những hoàng hôn loang lổ gò đồi mùi lá bạch đàn xộc vào giấc ngủ con về yêu mái rạ cuộc đời
Một sớm vắng
ùa lên khói bếp
về đây củi lửa ngày xưa…
(Củi lửa) Trong một số bài thơ khác, lửa cũng chính là biểu tượng của hơi ấm tình
mẹ, tình quê hương, điều mà suốt cuộc đời lúc nào cũng muốn được tìm về:
Nhân gian cô quạnh
Cô quạnh kiếp người
Trang 36Mẹ hiện về lửa ấm Con như làn gió hoang trở lại ngôi nhà (Con lạy mẹ, mùa xuân gần quá)
Xưa cũ rừng cây Xưa cũ bếp lửa Xưa cũ nhà sàn Xưa cũ lứa đôi dắt nhau về dưới núi (Những ngày u ám)
Ham muốn chen lấn trong lòng phó mặc cho ngọn lửa thiêu đốt
…Vị rét ngọt gợi mùi lửa từ những ngôi nhà mờ lạnh xa xa phía bên kia cánh đồng
(Chiều xuống rồi)
Thanh xuân mãi mãi đi tìm một làn hơi ấm, đi mãi, đi mãi những đống lửa cuộc đời lùi xa lùi xa phía đường viền chân trời
(Chiều xuống rồi)
Đối với mỗi con người Việt Nam lửa, bếp lửa gần gũi lắm, thân thương lắm Trong thơ ca Việt Nam, nhiều nhà thơ đã mượn hình ảnh bếp lửa để diễn tả những tình cảm thân thương, gắn bó Chẳng hạn nhà thơ Chế Lan Viên với Con nhớ mế lửa hồng soi tóc bạc; nhà thơ Bằng Việt với Một bếp lửa chờn vờn sương sớm/ Một bếp lửa ấp iu nồng đượm/ Cháu thương
bà biết mấy nắng mưa; nhà thơ Tố Hữu với Sớm khuya bếp lửa người thương đi về; nhà thơ Lưu Quang Vũ trong bài thơ Mấy đoạn thơ về lửa cũng viết: Hãy cho tôi chút lửa/ Trong ngôi nhà mùa đông/ Để tôi nướng sắn ăn/ Để tôi sưởi ấm/ Để tôi đốt rừng gai đen rậm/ Chống lũ rắn thiêu bầy muỗi độc/ Để tôi soi tỏ mặt người yêu/Đôi mắt nhiều bóng tối/ Giá buốt cào
Trang 37vầng trán sớm nhăn nheo/ Lửa hãy cho em gương mặt sáng
Như vậy, đồng cảm với nhiều nhà thơ khác, lửa trong thơ Dương Kiều Minh chính là biểu tượng của những kí ức về tuổi thơ, về tình người, tình quê
ấm nóng Nó như một nguồn sáng lan tỏa, sưởi ấm lòng người Những bài thơ của ông như những bức thông điệp lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của ngày xưa, hồi cố và tìm kiếm những bóng dáng của quá khứ, góp phần đánh thức nỗi niềm của rất nhiều người con xa quê hương đằng sau lớp ngôn ngữ hết sức giản dị, thân thuộc, lắng đọng cảm xúc
Củi lửa, hiện thân của sự sống và khát vọng sáng tạo Với ý nghĩa mẫu gốc lửa - mang đến hơi ấm, mang đến sự hồi sinh, biểu tượng lửa trong thơ Dương Kiều Minh cũng có ý nghĩa là sự sống, thắp lên lửa là thắp lên sự sống, thắp lên niềm tin, sự lạc quan và là khởi nguồn của sự sáng tạo
Theo Thần thoại Hy Lạp, khi dùng đất sét để sáng tạo ra thế giới, thần Promêtê và thần Êpimêtê đã ban cho mỗi loài một đặc ân để tự vệ Có loài thì sức mạnh, loài thì móng vuốt sắc, loài thì có đôi cánh Nhưng đến con người, do hết nguyên liệu nên không có được đặc ân nào, vì vậy mà con người trở nên bé nhỏ, yếu ớt trong cái vũ trụ hỗn mang ấy Thấy vậy, thần Promêtê tạo cho con người một tư thế đứng thẳng và đánh cắp ngọn lửa từ thiên đình mang xuống hạ giới trao tặng cho loài người Từ khi có lửa, con người có trong tay mình một sức mạnh vô địch để làm chủ thế giới Lửa có thể được xem là yếu tố quan trọng giúp con người thoát khỏi thế giới hỗn mang và là thành tố quan trọng cấu thành nền văn minh của con người vào thuở hồng hoang…
Trong bài thơ Prô-mê-tê và lửa, nhà thơ Dương Kiều Minh viết:
Ngọn lửa ấy tôi đánh cắp từ trời Ngọn lửa ấy tôi đổi bằng đêm tối
Trang 38Cánh đại bàng vỗ chiều rờn rợn Mỗi hoàng hôn đến móc tim tôi
Thân xác này tan vào cát bụi Thân xác này tan cùng ngọn lửa Nồng nàn, giục giã
Khởi hơi ấm cùng ánh sáng cõi người
Bên vách núi thời gian trơ vơ buốt giá Trong cô độc và cảnh mù lòa
Tôi mơ thấy ngọn lửa Ngọn lửa chính tay tôi cắp về trái đất…
Ôi, ngọn lửa Tôi đã ném ngọn lửa vào thánh thất loài người Liệu họ lưu truyền?
Liệu họ gìn giữ Tôi e họ lãng quên
E họ đánh mất vào buổi mai nào đó Dưới gầm trời và dưới các tầng trời (Prô-mê-tê và lửa)
Qua bài thơ, có thể thấy, ngọn lửa mà nhân gian có được là kết quả của quá trình tìm tòi, vượt qua đêm tối, vượt qua nguy nan Người sáng tạo thơ ca cũng chính là người đem hơi ấm, đem ánh sáng về với cõi người, để từ đó xem kết quả của sự sáng tạo ấy là đấng cứu rỗi giúp con người vượt qua đêm tối và cảnh mù lòa Bài thơ Prô-mê-tê và lửa đã bộc lộ niềm tin và sự vĩnh hằng của sản phẩm sáng tạo, như một điều không thể thiếu của cõi nhân gian, dẫu ở đó
Trang 39vẫn còn những băn khoăn, nghi hoặc Liệu họ lưu truyền?/ Liệu họ gìn giữ?
2.1.2.3 Đồi núi
Trong hệ thống biểu tượng về quê hương, nguồn cội của thơ Dương Kiều Minh, đồi núi cũng là biểu tượng thiên nhiên rất tiêu biểu Hình ảnh núi đồi được nhắc đến nhiều qua các tập thơ: Dâng mẹ, Những thời đại thanh xuân, Ngày xuống núi, Tựa cửa… với những kỉ niệm ấu thơ, những kí ức về vùng đất suốt 13 năm ông sống ở Hòa Bình
Núi đồi miền trung du là biểu tượng của một miền đất hoang sơ, xa vắng, gắn liền khát vọng thanh xuân của nhà thơ Trong bài thơ Thanh tước (tập Dâng mẹ), rất nhiều kỉ niệm thôn quê tầng tầng, lớp lớp ùa về trong trí nhớ của Dương Kiều Minh: cánh diều mỏng dính/ Cha kể quả đồi tước về đẻ trứng/ Tiếng gà thức bừng bản lạnh/ Vắt ngang lối mòn heo hút; Bơ phờ quả đồi mùa đông/ Ôi màu áo đỏ quê hồn hậu; Thôn dã bờ vườn chớm heo may/ Con ngựa lênh khênh gập ghềnh đường núi… Ký ức hiện về những hình ảnh gắn liền tuổi thiếu thời của riêng ông như lối mòn heo hút, con đường núi gập ghềnh… Đâu đó thấp thoáng hình ảnh màu áo đỏ quê hồn hậu, làm bừng sáng cái không khí heo may của bản lạnh Dường như, khi viết về không gian núi đồi, cảm xúc của nhà thơ cứ trào dâng không dứt Vì thế, hình ảnh thơ cứ ùa
về liên tục theo dòng cảm xúc: Bên này đồi, bên kia núi; bên này sông, bên kia rừng cây; Những vách núi thâm nghiêm, những dòng sông gào đổ…Xưa
cũ rừng cây, xưa cũ bếp lửa, xưa cũ nhà sàn, xưa cũ lứa đôi dắt nhau về dưới núi (Những ngày u ám)/Tôi chợt nhớ núi đồi những đêm tĩnh lặng trong trẻo, ngôi sao xanh ánh sáng bị làn hơi ẩm tách ra thành nhiều sợi tinh khiết Núi đồi mênh mông, sông nước chảy vòng, gió lồng lộng thổi qua những thung lũng… Những quả đồi đứng đó đài kỷ niệm phủ đầy gió nắng Thanh xuân đổ bóng xuống dòng sông độc chảy, hai bên bờ chất chồng đá tảng, tiếng nước gào thét dữ dội, bóng đêm đen đặc Đêm trắng suy tư về kiếp người Triền
Trang 40đồi hoang vắng… Không tiếng trẻ con reo hò, không ngọn khói bò lan man tít tắp, không bóng người gánh nước buổi mai… Đi mãi đi mãi, trước mặt núi đồi dựng đứng… (Sực nhớ núi đồi)
Một mặt, núi đồi trung du là biểu tượng về một vùng quê thiên nhiên trù phú, lòng người hồn hậu với không gian rộng mở, khoáng đạt Mặt khác, không gian ấy còn gợi nhắc nỗi buồn về mảnh đất đã từng nuôi lớn tâm hồn
và khát vọng thơ ca của tác giả Trở về với mảnh đất ấy là trở về với những khát khao mạnh mẽ của tuổi thanh xuân, được đắm chìm trong vẻ đẹp nguyên
sơ nhưng cũng chất chứa buồn thương xa vắng của xứ núi Hòa Bình với những con đường dốc, những thác, những bản lạnh, những cơn mưa lút mặt,
ao đầm gò bãi, hiu hắt núi đồi, với Niềm thương cảm quanh quất bao năm dâng ngùn ngụt núi rừng chập chùng dòng sông vách đứng
Càng về sau, trong thơ Dương Kiều Minh, không gian núi đồi càng có
vẻ hiu hắt, lạnh lẽo, hoang vắng:
Những quả đồi mùa đông phủ phục ôm mặt khóc Nhất loạt đang quỳ trước dòng sông
(Những quả đồi mùa đông)
Ôi, năm tháng cuốn phăng bao số phận nhỏ nhoi
Mơ hồ con đường qua bản, mơ hồ lối mòn cheo leo tít tắp
Mơ hồ kiếp người sương gió phôi pha”
(Tựa cửa) Thiên nhiên trở nên thâm trầm, vắng lặng bởi vì nó được nhìn từ một trái tim vướng nhiều sầu muộn trước cuộc đời, càng đi càng thấy gần đỉnh non sườn dốc, vực thẳm, càng ngộ ra nhiều sự thật bi đát Những khát vọng thời thanh xuân còn đó nhưng càng khát khao càng nghiệt ngã bởi những đắng cay của kiếp người
2.1.2.4 Mẹ