Bên cạnh các bài viết, về những vấn đề khái quát trong sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ, có những nghiên cứu về biểu tượng và biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ.. Ngoài ra
Trang 1NGUYỄN THỊ XUYÊN
BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN
TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Công Tài
HÀ NỘI, 2015
Trang 2Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS TS
Hà Công Tài - người thầy đã tận tâm hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô Phòng sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã quan tâm giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin gửi tới người thân – gia đình, bè bạn – những người đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu lời cảm ơn sâu sắc
Do kiều kiện thời gian có hạn luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Kính mong các thầy giáo, cô giáo và bạn đọc lượng thứ và góp ý
Hà Nội, ngày… tháng … năm……
Người thực hiện
Nguyễn Thị Xuyên
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Xuyên
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1 BIỂU TƯỢNG THƠ CA VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ LƯU QUANG VŨ 8
1.1 Biểu tượng 8
1.1.1 Quan niệm về biểu tượng và biểu tượng nhìn từ các góc độ khác nhau 8
1.1.1.1 Quan niệm về biểu tượng 8
1.1.1.2 Biểu tượng nhìn từ các góc độ khác nhau 10
1.1.2 Biểu tượng thơ ca 14
1.1.2.1 Khái lược về biểu tượng thơ ca 14
1.1.2.2 Đặc điểm của biểu tượng thơ ca 14
1.2 Hành trình sáng tác thơ Lưu Quang Vũ 15
1.2.1 Giai đoạn 1: 1963 – 1970 16
1.2.2 Gai đoạn 2: 1971 – 1973 20
1.2.3 Gai đoạn 3: 1974 – 1988 23
CHƯƠNG 2 BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN GẮN VỚI BẦU TRỜI TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ 26
2.1 Biểu tượng mưa 26
2.2 Biểu tượng gió 32
Trang 52.5 Biểu tượng trăng sao 43
2.6 Biểu tượng nắng 46
2.7 Biểu tượng ban mai (bình minh, buổi sáng), mùa xuân 49
2.8 Biểu tượng trưa hè, mùa hạ 51
2.9 Biểu tượng chiều (hoàng hôn), mùa thu 53
2.10 Biểu tượng đêm, mùa đông 54
CHƯƠNG 3 BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN GẮN VỚI CẢNH VẬT MẶT ĐẤT TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ 57
3.1 Biểu tượng sông, suối, biển 57
3.2 Biểu tượng đất, bùn, bùn đất 61
3.3 Biểu tượng đồi núi, rừng 64
3.4 Biểu tượng làn sương 67
3.5 Biểu tượng lửa 69
3.6 Biểu tượng hoa, quả 74
3.7 Biểu tượng cây, cỏ 79
3.8 Biểu tượng loài vật 84
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học giai đoạn kháng chiến chống Mỹ xuất hiện nhiều cây bút để lại những ấn tượng khó phai mờ trên văn đàn như: Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật và không thể không kể đến Lưu Quang Vũ - một con người tài hoa, thể hiện rõ trong sáng tác của ông
Lưu Quang Vũ thành công ở nhiều lĩnh vực: thơ, truyện ngắn, kịch, hội họa, phê bình văn học Ông khởi đầu là thơ và kết thúc với ánh hào quang rực rỡ của kịch Trong vòng tám năm từ năm 1980 đến ngày ông đột ngột ra
đi, Lưu Quang Vũ đã viết khoảng hơn năm mươi vở kịch đều là những tác phẩm có giá trị, được công chúng đón nhận nồng nhiệt Hàng chục vở trong
số đó đã nhận được huy chương vàng các Hội diễn sân khấu toàn quốc Lưu
Quang Vũ được coi là “Moliere ở Việt Nam” Kịch Lưu Quang Vũ là những trăn trở về lẽ sống, lẽ làm người Kịch đã mang lại cho ông ánh hào quang
rực rỡ bởi những đóng góp to lớn Nhưng có lẽ thơ vẫn là nơi nương náu của tâm hồn, là nơi ông gửi gắm nhiều tâm huyết của đời mình Nhà thơ Vũ Quần
Phương đã từng đánh giá: Có cảm giác anh viết kịch để sống với mọi người
và làm thơ để sống với riêng mình, đọc hết các bản thảo anh để lại, tôi thấy thơ mới là nơi anh kí thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng được thời gian
Thơ Lưu Quang Vũ đầy suy tư, trăn trở, và cả những khát khao đến cháy lòng mong cho nhân dân, đất nước được yên ấm, hạnh phúc Có lúc thơ ông như một bó đuốc rực lửa muốn thiêu rụi, muốn đốt cháy tất cả đêm đen,
giả dối, đau thương, đổ vỡ để vươn tới cuộc sống tốt đẹp: Thơ là bó đuốc đốt thiêu là bàn tay thắp lửa
Có lúc thơ ông lại giống như một cánh rừng nguyên sinh rậm rịt đầy bí ẩn, cần được khai phá Có lúc lại giống những mỏ quặng ẩn mình dưới lòng đất
Trang 71.2 Chọn đề tài “Biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ”,
chính là qua những tầng vỉa ngôn từ giàu hình tượng để thấy được những khát khao, trăn trở và cả những hoài nghi đầy nhân bản của một thi nhân luôn nặng lòng với đời, với nhân dân, đất nước Đồng thời chúng tôi muốn làm sáng rõ hơn một tài năng, một bản lĩnh nghệ thuật cá tính mang tên Lưu Quang Vũ Bởi thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ chiếm một vị trí quan trọng Việc đi tìm, giải mã các tín hiệu nghệ thuật và đặc biệt là những biểu tượng thiên nhiên là một con đường, một cách thức để tìm hiểu sự nghiệp thơ ca phong
phú, đa dạng và hết sức độc đáo của nhà thơ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Thời gian qua, đặc biệt là sau sự ra đi đột ngột của Lưu Quang Vũ,
và Xuân Quỳnh, có rất nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết rất sâu sắc
về Lưu Quang Vũ Mỗi bài viết, mỗi công trình tìm hiểu những khía cạnh, những biểu hiện khác nhau trong sự nghiệp của Lưu Quang Vũ Nhưng có một điểm chung thống nhất đều khẳng định Lưu Quang Vũ là một đỉnh cao nghệ thuật “không thể thay thế”
Về cuộc đời Lưu Quang Vũ có nhiều bài viết đáng chú ý như: Lưu Quang Vũ một tài năng một đời người (Ngô Thảo, Vũ Hà), Lưu Quang Vũ cuộc đời năm tháng (Vũ Thị Khánh), Tình yêu đau xót và hi vọng (Lưu
Khánh Thơ)…Đó là những tư liệu quý giá để chúng ta có cái nhìn khá toàn diện về cuộc đời cũng như con người Lưu Quang Vũ
Về sự nghiệp sáng tác và những đóng góp của ông, có rất nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết có giá trị
Lưu Quang Vũ thơ và đời do PGS TS Lưu Khánh Thơ biên soạn được
coi là cuốn sách tổng hợp khá đầy đủ về thơ Lưu Quang Vũ, gồm những bài viết của người thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người yêu mến Lưu Quang Vũ
Trang 8Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật, Lưu Khánh Thơ chủ
biên, xuất bản năm 2001 nhân dịp Lưu Quang Vũ được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ
tuyển chọn và giới thiệu (Nxb giáo dục 2007) là cuốn sách tập hợp những bài viết của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, những người bạn thơ cùng thế hệ với ông và cả những độc giả mến mộ tài năng lao động nghệ thuật của ông Trong
đó Hoài Thanh, một tài năng thẩm thơ tinh tế đã sớm nhận ra Lưu Quang Vũ
là một cây bút trẻ nhiều triển vọng, một tiếng nói nhỏ nhẹ mà sâu (35.12) Hoài Thanh cũng nhận ra ở Lưu Quang Vũ truyện cũng như thơ đều có gì buồn buồn, lặng lặng và cái buồn của anh là một cái buồn trung hậu (35.12)
Lý Hoài Thu trong bài: Sức sáng tạo của một tài năng đã nhận thấy Thơ tình của ông có đủ vị mặn, ngọt, chua, cay của một thân phận tình yêu nhiều nếm trải (42, tr.41) Đối với kịch, tác giả này khẳng định sự hưng thịnh của sân khấu Việt Nam từ năm 1985 trở đi có phần đóng góp rất quan trọng từ tài năng
và bút lực dồi dào củaLưu Quang Vũ (42, tr.42) Và Kịch của ông là tiếng nói dõng dạc cất lên đòi đổi mới, đòi quyền sống và quyền hạnh phúc, đòi trừng trị cái ác, cái phi nhân đang hủy hoại đời sống con người (42, tr.43) Và cũng như thơ và kịch, truyện ngắn của ông có nhiều day dứt, trăn trở về nghề, về đời,
về lẽ sống, tình người (42, tr.54)
Lê Đình Kỵ trong Hương cây - Bếp lửa - Đất nước và đời ta cũng nhận thấy: Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu tâm hồn riêng và không thiếu tâm tình, một tâm tình sâu sắc, tự nhiên không dứt ra được, nó như có tự bao giờ và được đem san sẻ cho các bài thơ (14)
Đọc thơ Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương lại nhận thấy: Đọc thơ anh
có cảm giác anh viết kịch để sống với mọi người và làm thơ để sống với riêng mình, Tôi thấy trước sau cốt cách thi sĩ vẫn là nét trội nhất trong tâm hồn anh
Trang 9(28,4) Vũ Quần Phương còn nhận thấy Lưu Quang Vũ có giọng thơ đắm
đuối: Đắm đuối là bản sắc cảm xúc của Lưu Quang Vũ Nó tạo nên sức lôi cuốn ma quái ở thơ anh và cũng tạo nên lắm vất vả cho đời anh (28,4)
Lưu Khánh Thơ trong Tình yêu - đau xót và hi vọng cũng khẳng định: Những năm tháng ngắn ngủi của đời mình, anh đã sống, đã yêu, đã làm việc hối hả như một bó đuốc rừng rực cháy (42, tr.90) Theo Lưu Khánh Thơ “Lưu Quang Vũ là một người đàn ông may mắn Trong cuộc đời long đong, vất vả của anh, hầu như ở giai đoạn nào anh cũng gặp một tình yêu lớn Cho dù cái tình cảm đó đem lại có thể là một vết thương, một nỗi đau suốt đời (42, tr.90)
Việt Nga khi bàn Vài nét về thơ tình Lưu Quang Vũ nhận thấy mọi sắc màu dáng vẻ của tình yêu có cả trong thơ tình Lưu Quang Vũ từ hạnh phúc đến đau khổ, từ ngọt ngào đến đắng cay, từ tin yêu đến hoài nghi thất vọng Nhưng nổi bật nhất là những dằn vặt ngổn ngang, những ngập ngừng, e ngại của tình yêu (20)
Anh Ngọc nhận thấy ở Lưu Quang Vũ: Ấn tượng đầu tiên mà thơ Vũ gây cho ta là một dòng cảm xúc dạt dào, tuôn trào dường như không bờ bến, bất chấp mọi khuôn khổ của thơ ca thường tình Hình như Vũ đã vượt qua những phép tắc kỹ thuật, chẳng mấy quan tâm đến những cấu tứ, bố cục, những ý tại ngôn ngoại vv và vv và để mặc cho trái tim mình tự do ca hát
(42, tr.148)
Lê Minh Khuê trong Lưu Quang Vũ - Nhà thơ nhận xét thơ Lưu Quang Vũ: như ánh chớp của thần linh ban phát đã hình thành từ tâm trạng bộn bề của Vũ (42, tr.158) Lê Minh Khuê cũng khẳng định: Anh đã cháy lên như một ngọn lửa nồng nhiệt, và trong độ cháy bùng ấy, anh đã cống hiến cho người đọc, người xem tâm hồn cao quý của anh: thơ và kịch (42, tr.160)
Trang 102.2 Bên cạnh các bài viết, về những vấn đề khái quát trong sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ, có những nghiên cứu về biểu tượng và biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ
Trước tiên phải kể đến Phạm Xuân Nguyên với Tâm hồn trở gió Ông khẳng định: Đời anh là gió, thơ anh là mây Gió thổi mát và mây che mát Mây cho gió dừng chân và gió cho mây bay bổng Gió và mây hợp lại có thể
là mưa, mưa tưới nhuần mặt đất Gió lòng anh đang thổi tới lòng ta (23)
Trong Một mảng đời, một mảng thơ thường bị lãng quên, Vương Trí Nhàn nhận thấy: Trong các thi sĩ đương thời, Vũ là người nhạy cảm với mưa, thân thuộc với mưa hơn ai hết Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian
mà con người bất lực, không sao níu kéo nổi Mưa làm cho hiện thực trở nên
vô nghĩa và tương lai trở nên lờ mờ không xác định Sở dĩ Vũ nói nhiều về mưa vì cảm giác bao trùm trong anh lúc này là ngán ngẩm, thất vọng, không tin vào điều gì, không biết hướng đời mình vào việc gì (42, tr.115)
Phan Trọng Thưởng tinh tế khi nhận ra biểu tượng bầy ong trong tập
Hương cây khác với Bầy ong trong đêm sâu: “Từ Hương cây đến Bầy ong trong đêm sâu với Lưu Quang Vũ là cả một cơn biến loạn tâm hồn” (44)
Ngoài ra một số biểu tượng thiên nhiên khác cũng xuất hiện trong
những bài viết của các nhà nghiên cứu và một số luận văn như: Biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ của Trần Thị Hường cũng đề cập đến một số biểu
tượng trong đó có một số biểu tượng thiên nhiên
Những bài viết trên đây thực sự là những gợi mở hết sức quý báu cho
đề tài của chúng tôi Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện
về biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
Tuyển thơ Lưu Quang Vũ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (Nxb
Hội nhà văn - 2010) và các tập thơ Lưu Quang Vũ
Thơ của một số nhà thơ cùng thời với Lưu Quang Vũ như Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật… để so sánh và làm rõ các luận điểm
4 Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ góp phần làm sáng tỏ phong cách thơ Lưu Quang Vũ, thấy được diện mạo tâm hồn cũng như tài năng của ông và những đóng góp to lớn của ông trong nền văn học Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học: Luận văn nhìn các yếu tố của tác phẩm trong sự thống nhất biện chứng của chỉnh thể nghệ thuật Trong
đó tập trung nghiên cứu yếu tố hình thức mang tính nội dung, đặc biệt chú ý vai trò và ý nghĩa của biểu tượng thơ ca trong các kết cấu thơ ca của Lưu Quang Vũ
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Nhìn các yếu tố của tác phẩm không phải là sự tồn tại rời rạc, ngẫu nhiên, mà trong một hệ thống, có sự thống nhất thể hiện nội dung trên nhiều cấp độ, nhiều bình diện.Từ đó có thể nhìn ra đặc trưng sáng tạo hệ thống biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ
- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh thường dùng trong nghiên cứu văn học để so sánh cá thể các hiện tượng cùng loại (như biểu tượng) hoặc các hiện tượng đối lập (như biểu tượng và hình ảnh không phải biểu tượng) để thấy được bản chất của hiện tượng Từ đó giúp chúng ta thấy
vị trí và đánh giá được ý nghĩa của các hiện tượng đó trong hệ thống
Trang 126 Đóng góp của luận văn
- Luận văn nghiên cứu biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ
để từ đó làm cơ sở cho việc tìm hiểu, khám phá thơ Lưu Quang Vũ trên bình diện tổng thể, đặc biệt là đặc trưng sáng tạo của nhà thơ
- Lần đầu tiên biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ được tiếp cận một cách toàn diện Từ đó góp phần khẳng định phong cách, vai trò,
vị trí của Lưu Quang Vũ trong nền văn học Việt Nam hiện đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có
Trang 13CHƯƠNG 1 BIỂU TƯỢNG THƠ CA VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC
THƠ LƯU QUANG VŨ
1.1 Biểu tượng
1.1.1 Quan niệm về biểu tượng và biểu tượng nhìn từ các góc độ khác nhau
1.1.1.1 Quan niệm về biểu tượng
Biểu tượng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Jean
Chevalier khẳng định: Nói là chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta (4, tr.XIV)
Jean Chevalier cũng viết: Dẫu ta có nhận biết ra hay không, đêm ngày, trong hành ngôn, trong các cử chỉ, hay trong các giấc mơ của mình, mỗi chúng ta đều sử dụng các biểu tượng Chúng ta khoác lên các ước muốn một diện mạo, chúng xúi giục một toan tính nào đó, chúng nhào nặn một lối ứng
xử, chúng khơi mào cho thành công hay thất bại (4, tr.XIII)
Vì biểu tượng có vai trò quan trọng như vậy nên việc tìm hiểu cách thức hình thành, lối xếp đặt, cách giải thích các biểu tượng nhiều ngành khoa học quan tâm như: Khoa lịch sử các nên văn minh và các tôn giáo, khoa ngôn ngữ học, khoa văn hóa nhân chủng học, khoa phê bình nghệ thuật, khoa tâm
lý học, khoa y học
Vậy biểu tượng là gì? Biểu tượng trong tiếng Pháp là Symbole, tiếng
Anh là Symbol Nói một cách hình ảnh như Jean Chevalier: Nó giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không năm bắt được Biểu tượng bộc lộ rồi lủi trốn, càng tự phơi bày sáng rõ nó càng
tự giấu mình đi (4, tr.XIV) Nói như Georges Gurvitch: Các biểu tượng tiết lộ
mà che giấu và che giấu mà tiết lộ (4, tr.XIV) Vì thế thật khó để đưa ra một
định nghĩa hoàn chỉnh về biểu tượng Tự bản chất của nó, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong một ý niệm
Trang 14Henry Corbin cho rằng: Biểu tượng báo hiệu một bình diện ý thức khác với cái hiển nhiên lý tính; nó là mật mã của một bí ẩn, là cách duy nhất để nói
ra được cái không thể nắm bắt bằng cách nào khác; nó không bao giờ có thể được cắt nghĩa một lần là xong, mà cứ phải giải mã lại mãi, cũng giống như một bản nhạc không bao giờ chơi một lần là xong mà đòi hỏi một lối biểu diễn luôn luôn mới (4, tr.XVIII)
Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu ở chỗ, dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt (Khách thể hay chủ thể) vẫn
xa lạ với nhau trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt
và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức
Dựa trên công trình của Jung, của Piaget, của Bachelard, Gilbert
Dururrand cho rằng: Căn cứ của lực năng động tổ chức đó là nhân tố tạo nên tính đồng chất trong sự biểu hiện, nằm ngay trong cấu trúc của trí tưởng tượng Trí tưởng tượng không hề là khả năng tạo ra các hình ảnh mà là sức mạnh năng động làm biến dạng các sao chép thực dụng do tri giác cung cấp
và lực năng động có tính cải tạo cảm giác, đó là nền tảng của toàn bộ đời sống tâm thần Có thể nói biểu tượng rộng lớn hơn cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tự sinh (4, tr.XIX)
Trên cở sở tổng hợp nhiều ý kiến có thể có một cái nhìn khái lược về biểu tượng như sau:
Biểu tượng là môt loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt mang tính tất yếu có lý do Mặt hình thức cảm tính, cái biểu đạt tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong trí tưởng tượng của con người
Mặt ý nghĩa hay còn gọi cái được biểu đạt luôn luôn rộng hơn dồi dào hơn
(Chữ dùng của Tz Todorov) rất nhiều cái biểu đạt
Biểu tượng nói một cách khái quát, trước hết là hình ảnh của thế giới khách quan, bên ngoài con người (màu sắc, vật thể, hiện tượng ) với phương
Trang 15pháp biểu trưng hóa của hoạt động ý thức, con người đã phản ánh sự vật khách quan vào trí óc của mình, cấp cho nó một ý nghĩa, một thông tin Từ đó tạo nên một thế giới bên trong – thế giới ý niệm Đó là thế giới vô hình, vô hạn, vô khả tri Nó vừa phản ánh thực tại, vừa từ thực tại mà tưởng tượng, suy luận, đem lại cho con người một khả năng vô tận, khả năng trí tuệ, khả năng tâm linh để con người có thể tư duy, thông báo với nhau Như vậy bằng cách
mô phỏng tự nhiên, con người đã sáng tạo một thế giới biểu tượng đa dạng, phong phú và vô cùng sống động
Biểu tượng không chỉ tồn tại trong một nghành khoa học riêng mà còn
là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như triết học, phân tâm học, mỹ học, thần học, ngôn ngữ học, văn học Dựa trên phạm vi và mục đích nghiên cứu, luận văn này chỉ tập trung tìm hiểu biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ
1.1.1.2 Biểu tượng nhìn từ các góc độ khác nhau
Từ góc độ triết học, biểu tượng là: hình ảnh cảm tính, cụ thể về những hiện tượng của thế giới bên ngoài Biểu tượng cùng với cảm giác và tri giác tạo nên nhận thức cảm tính, hay theo thuật ngữ của Paplop, tạo nên thệ thống tín hiệu thứ nhất của hiện thực Biểu tượng khác tri giác ở hai điểm: tri giác phản ánh một sự vật riêng lẻ tác động vào giác quan của chúng ta trong những trường hợp cụ thể nhất định; biểu tượng là sự phản ánh khái quát và trừu tượng hơn
Trên cơ sở cảm giác, tri giác, trong đầu óc con người xuất hiện một hình thức cao hơn, đó là biểu tượng, bởi bộ não con người có khả năng tái sinh trong ý thức hình ảnh của đối tượng đã được tri giác phản ánh trước đây Biểu tượng là hình ảnh được tái hiện, được hình dung lại với những thuộc tính nổi bật của sự vật Những biểu tượng này nhìn chung còn ở cấp độ thấp, giản đơn, do trực quan hình ảnh đem lại Còn một loại biểu tượng cao hơn hẳn đó
Trang 16là biểu tượng được xây dựng do trí tưởng tượng của con người Biểu tượng trực quan cảm tính và biểu tượng của tưởng tượng mới chỉ là biểu tượng của nhận thức, chưa thể trở thành biểu tượng nghệ thuật
Từ góc độ văn hóa, biểu tượng văn hóa là những khái niệm nằm trong lĩnh vực văn hóa, rộng hơn là môi trường văn hóa Văn hóa là phức thể các giá trị vật chất tinh thần do con người tác động đến tự nhiên, xã hội và bản thân trong quá trình lịch sử dài lâu mà tạo nên Nó tích tụ và thể hiện diện mạo, bản sắc của cộng đồng
Do khái niệm và nội hàm văn hóa rất rộng nên không ai có thể nói rằng mình đã tìm hiểu đến tận cùng của một nền văn hóa Vì vậy việc nghiên cứu biểu tượng văn hóa cũng là một cách chạm đến các yếu tố văn hóa cụ thể để tìm hiểu tổng thể
Biểu tượng trong tiếng Hán, bao gồm hai thành tố: Biểu là dấu hiệu, là
sự bộc lộ, phô bày Tượng là hình Ban đầu biểu tượng được dùng theo nghĩa thực dụng là một vật (đá, ngọc, sành hay gỗ ) được chia làm hai trong một giao ước như tín vật, khi gặp nhau chắp lại để làm tin Về sau, biểu tượng là phương tiện phản ánh tư duy, hành vi khát vọng kể cả điều cấm kỵ, ám ảnh,
sợ hãi Biểu tượng thể hiện những góc khuất của tiềm thức và vô thức
Biểu tượng văn hóa là một loại tín hiệu riêng có chiều sâu và phong phú hơn tín hiệu văn hóa Biểu tượng được hình thành trong quá trình lâu dài
có tính ước lệ và bền vững, là cảm quan nhận thức được lắng đọng, kết tinh, chắt lọc trải qua bao biến cố thăng trầm vẫn không bị phai mờ mà ngược lại càng khắc sâu hơn vào tâm khảm con người Biểu tượng văn hóa được hiểu như là những hình ảnh tượng trưng được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và
sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài Chính vì thế, biểu tượng góp phần làm nên bộ mặt của một nền văn hóa
Trang 17Hàng loạt biểu tượng văn hóa đã hòa nhập cùng tín ngưỡng, thể hiện ở phong tục, náu mình trong thần tích, ký thác ở tâm linh, ẩn tàng trong văn hóa dân gian, trong nghệ thuật truyền thống, lý giải được nó sẽ mở ra những giá trị khoa học và nhân văn vô cùng to lớn Đó là một thế giới có sức hấp dẫn đặc biệt do nó quy tụ nhiều tính chất dường như đối lập nhau, vừa hiện diện, vừa tiềm ẩn, vừa bộc lộ, vừa che giấu, vừa rõ ràng, vừa mông lung
Từ góc độ văn học Các tác giả “Từ điển thuật ngữ văn học” đã có những kiến giải về biểu tượng
Biểu tượng được xây dựng trên hai cấp độ: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đó vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay triết lý về con người và cuộc đời
Biểu tượng văn học có những đặc điểm, ý nghĩa khác với những khái niệm có nội hàm gần gũi như ẩn dụ và hình tượng
Thứ nhất, cần phân biệt giữa biểu tượng và ẩn dụ (Tất nhiên sự phân
biệt chỉ mang tính tương đối) Trong văn học, nói đến biểu tượng người ta chú
ý đến hai dấu hiệu nhận biết: biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan; biểu tượng không chỉ mang nghĩa biểu vật mà còn nói đến hiện tượng chuyển nghĩa (nghĩa bóng và nghĩa biểu cảm)
Như vậy, nếu theo hai dấu hiệu nhận biết trên thì biểu tượng rất giống với ẩn dụ Do vậy muốn phân biệt giữa ẩn dụ và biểu tượng cần phải xác định
rõ đối tượng Theo nhà nghiên cứu văn học Nga V.I Eremina: Ẩn dụ thơ ca
được sinh ra nhất thời và mất đi khá nhanh Biểu tượng được hình thành trong quá trình dài và sau đó sống hàng trăm năm Ẩn dụ là yếu tố biến đổi, còn biểu tượng thì không đổi, bền vững Ẩn dụ là phạm trù thẩm mỹ và phần lớn
Trang 18tự do tách khỏi phong cách ước lệ Biểu tượng thì ngược lại, được giới hạn nghiêm túc bởi hệ thống thi ca xác định
Như vậy V.I Eremina đã phân biệt ranh giới giữa ẩn dụ và biểu tượng ở tính biến đổi và bền vững, tự do và ước lệ
Nhìn chung, biểu tượng là khái niệm bao quát, bao trùm cả ẩn dụ Biểu tượng là việc sử dụng ẩn dụ ở mật độ cao có tính quy ước Việc phân biệt giữa ẩn dụ và biểu tượng giúp người tiếp nhận văn học tránh cách hiểu đánh đồng hai thuật ngữ trên bởi trong văn học, cụ thể là trong thơ Lưu Quang Vũ
có những hình ảnh ẩn dụ không phải là biểu tượng hoặc ngược lại có những biểu tượng thâu tóm cả ẩn dụ trong nó
Thứ hai, cần phân biệt giữa biểu tượng và hình tượng Văn học là loại
hình nghệ thuật phản ánh đời sống bằng các hình tượng nghệ thuật Biểu tượng và hình tượng đều có giá trị trong việc phản ánh hiện thực đời sống và cùng có phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ Tuy nhiên hai khái niệm này có những điểm khác nhau
Sự tồn tại của hình tượng nghệ thuật không bao giờ vượt quá giới hạn của hình thức biểu đạt cụ thể, nó luôn có phương tiện biểu hiện trọn vẹn nghĩa của hình tượng Còn sự tồn tại của biểu tượng thì lại vượt quá giới hạn của một sự biểu đạt, biểu nghĩa Nói cách khác không có một phương tiện nào có thể biểu đạt được trọn vẹn ý nghĩa của biểu tượng
Hình tượng bao giờ cũng tách riêng hoặc có xu hướng tách riêng ra khỏi hệ thống nào đó để phù hợp với yêu cầu: tự do, hoàn thiện, độc đáo và khác biệt Trong khi đó, biểu tượng bao giờ cũng nằm trong một hệ thống nhất định, không thể tách ra đứng độc lập trong nhận thức của con người
Đặc biệt, sự khác nhau cơ bản giữa biểu tượng và hình tượng là: biểu tượng có phạm vi lớn hơn, phong phú hơn hình tượng rất nhiều Nếu hình tượng gợi cho ta hình dung về đối tượng một cách cụ thể, chân xác như nó
Trang 19đang tồn tại khách quan thì biểu tượng giúp ta khám phá ra điều ước muốn, nỗi sợ hãi, niềm tham vọng là những cái khiến cho cuộc đời đượm một ý nghĩa bí ẩn (Jean Chevalier) chính đặc tính này khiến cho một hình tượng văn
học có khi diễn tả được nhiều biểu tượng
Trên đây là những so sánh để chúng ta phân biệt giữa biểu tượng và ẩn
dụ, giữa biểu tượng và hình tượng Giữa chúng có những khác biệt cơ bản, song những thuật ngữ trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời Vì vậy khi nhắc đến biểu tượng người ta thường nhắc đến ẩn dụ, hình tượng và hình ảnh
1.1.2 Biểu tượng thơ ca
1.1.2.1 Khái lược về biểu tượng thơ ca
Biểu tượng thơ ca là loại biểu tượng đa nghĩa và được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm, nhận thức của nhà văn về đời sống xã hội và con người Nhưng thơ ca (loại trữ tình) có cách thể hiện riêng không hoàn toàn giống cách thể hiện trong tự
sự hay kịch Nếu tác phẩm tự sự, nhà văn thường phản ánh đời sống qua những mâu thuẫn xung đột, thì trong thơ ca các thi nhân gửi gắm tình cảm, cảm xúc qua những hình ảnh mang tính biểu tượng Vì vậy biểu tượng trong thơ ca xuất hiện rất nhiều Việc giải mã các biểu tượng trong thơ ca là một thách đố đầy khó khăn nhưng hết sức thú vị, giúp ta vén một bức màn nhung
bí ẩn trong thế giới tâm hồn nhà thơ
1.1.2.2 Đặc điểm của biểu tượng thơ ca
Ngôn ngữ thơ mang tính cô đọng, hàm súc, đa nghĩa Để đáp ứng nhu cầu này, việc sử dụng các biểu tượng là điều tất yếu Thông qua biểu tượng người đọc khám phá ra những tầng ý nghĩa khác nhau qua đó thấy được tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của các nhà thơ
Trang 20Bên cạnh đó thơ cũng yêu cầu ngôn ngữ giàu hình ảnh Hệ thống hình ảnh trong thơ ngoài ý nghĩa tạo hình còn có ý nghĩa biểu hiện Nhà thơ dùng hình ảnh để miêu tả bức tranh đời sống và bức tranh thiên nhiên, đồng thời cũng biểu hiện tâm trạng suy nghĩ của mình trước bức tranh hiện thực ấy Qua
hệ thống hình ảnh quen thuộc, nhà thơ bộc lộ cách cảm, cách nghĩ của mình, hay nói cách khác là bộc lộ kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo của mình Tuy nhiên cũng cần phải nói thêm rằng biểu tượng hình thành trên cơ sở hình ảnh nhưng không phải hình ảnh nào trong thơ cũng được coi là biểu tượng Chẳng hạn khi nói đến các hình ảnh thiên nhiên như: chim, hoa, cây trái, mưa, bão trước tiên là hình ảnh thế giới khách quan tồn tại bên ngoài con người, xung quanh con người Nhưng ngoài ý nghĩa đó nó còn gửi gắm tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ
Nói tóm lại việc giải mã các biểu tượng thơ ca là một con đường giúp người đọc đi vào thế giới tâm hồn hết sức phong phú và độc đáo của người nghệ sĩ
1.2 Hành trình sáng tác thơ Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17/4/1948 mất ngày 29/8/1988 Ông sinh tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ) Cha là nhà thơ nhà viết kịch Lưu Quang Thuận quê ở Thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam Mẹ
là Vũ Thị Khánh nữ sinh trường trung học Đồng Khánh, người Hà Nội gốc
Lưu Quang Vũ nổi danh khá sớm, là cây bút được ái mộ ngay từ những
sáng tác đầu tay Hoài Thanh đã sớm phát hiện ra đây là một cây bút trẻ nhiều triển vọng (35) Trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình, Lưu
Quang Vũ luôn cháy hết mình với nó Nhắc tới Lưu Quang Vũ người ta thường nghĩ ngay đến Lưu Quang Vũ với tư cách là một kịch gia xuất sắc bậc nhất Việt Nam Tuy nhiên ánh hào quang rực rỡ của một kịch gia không làm
lu mờ, che lấp đi tư cách của một nhà thơ giàu cảm xúc Bằng sự nhạy cảm,
Trang 21tinh tế, hơn hết là sự hiểu nghề đồng thời là một tri kỷ trong sáng tạo nghệ thuật Vũ Quần Phương đã nhận thấy: Đọc hết các bản thảo anh để lại, tôi thấy thơ mới là nơi anh ký thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng được thời gian, Đọc thơ anh có cảm giác anh viết kịch để sống với mọi người, và làm thơ để sống mới riêng mình (28)
Đúng vậy! Thơ Lưu Quang Vũ thể hiện một cái tôi đầy nhân bản Những trang thơ ông luôn ngồn ngộn những suy tư, trăn trở, dằn vặt và cả những khát khao đến cháy lòng mong cho nhân dân, đất nước được yên ấm, hạnh phúc
Cũng như hầu hết các nhà thơ khác, hành trình sáng tạo thơ của Lưu Quang Vũ chia thành các giai đoạn khác nhau thể hiện những nhận thức, đổi thay và sự trưởng thành trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật Với hơn 20 năm cầm bút, thời gian không dài nhưng Lưu Quang Vũ đã kịp để lại cho chúng ta
sự nghiệp văn học đáng nể Ông viết cả ba lĩnh vực thơ, truyện và kịch nhưng thành công hơn cả là thơ và kịch
Do mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến hành trình sáng tác thơ Lưu Quang Vũ
Đời thơ Lưu Quang Vũ được chia thành ba giai đoạn
1.2.1 Giai đoạn 1: 1963 – 1970
Đây là chặng đường đầu tiên trong hành trình sáng tác thơ Lưu Quang
Vũ Đặc trưng của giai đoạn này là một cái tôi nhiều mơ mộng, cảm xúc tươi
trong, giàu tin yêu Lưu Quang Vũ có cái tươi tắn chung của những người làm thơ hồi ấy Cũng một cách nhìn đời hồn hậu, lạc quan quay về phía nào cũng thấy sự hài hòa ưu ái (Vũ Quần Phương) (28) Tình cảm của nhà thơ lúc này
chủ yếu hướng về quê hương đất nước, về mẹ, về em như một điểm tựa vững chãi của lòng tin, sự chở che Đó là hình ảnh thôn Chu Hưng tuy nghèo khổ, thiếu thốn nhưng ấm áp, nghĩa tình:
Trang 22Ơi Chu Hưng đêm nằm nghe suối đổ Nghe gió ngàn và tiếng hoẵng giữa rừng sâu
Ơi Chu Hưng sắn vùi trong bếp đỏ
Ấm những ngày gian khổ khó quên nhau
(Thôn Chu Hưng)
Có lúc tâm hồn nhà thơ lại được thanh lọc, được tắm mát trong hình ảnh quê hương yêu dấu như một nỗi ám ảnh khôn nguôi, vừa gần gũi, bình dị,
vừa thiêng liêng, cao vời khi qua Phố huyện:
Ta bước đi thương nhớ những năm nào
Ơi cái phố tuổi thơ, phố nghèo kháng chiến Hương đất hương cây bồi hồi bao kỷ niệm
Quê hương, nơi đó còn có sự hiện diện của người mẹ thân yêu Tình cảm biết ơn, yêu kính đối với mẹ được thể hiện qua các bài thơ giai đoạn này như: “Áo”, “Thôn Chu Hưng”, “Phố huyện”, “Gửi mẹ”, “Phủ Lý tháng hai” Hình ảnh người mẹ hiện lên trong sáng tác của Lưu Quang Vũ thật đẹp: đảm đang, tháo vát, thương khó, tảo tần và hơn hết là giầu đức hi sinh:
Mẹ vui vẻ gánh lấy phần khó nhọc Việc cơ quan, việc Đảng, việc nhà Đánh Pháp năm xưa, đánh Mỹ bây giờ Quen vất vả, mẹ quản gì sương nắng
Nhà thơ dành cho mẹ tình cảm thiêng liêng, chân thành của người con hiếu thảo Ông tự nhận trong cuộc đời nhọc nhằn lam lũ của mẹ có một phần trách nhiệm của mình, vì thế khi xa mẹ Lưu Quang Vũ luôn canh cánh một nỗi lo âu cho sức khỏe của mẹ, và thương mẹ đến đắng lòng trước những hi sinh, gian khổ mà mẹ phải trải qua Càng thương yêu mẹ bao nhiêu, càng căm thù giặc bấy nhiêu Tình cảm ấy được gửi gắm qua những câu thơ thật xúc động:
Trang 23Đêm nay con nằm rừng xa gió lạnh
Mẹ nghỉ chưa hay đã thức rồi Suốt một đời chưa có lúc nghỉ ngơi Nghĩ thương mẹ, giận quân thù quá đỗi
(Gửi mẹ) Bên cạnh hình ảnh quê hương, đất nước, hình ảnh người mẹ, không thể không nói tới hình bóng của người con gái thường xuất hiện trong thơ Lưu Quang Vũ Tình yêu là điều huyền diệu nhất trong những huyền diệu, là nỗi khát khao muôn đời của con người Tuổi nào cũng cần tình yêu, nhưng có lẽ tình yêu của tuổi trẻ rực rỡ nhất, tươi mới nhất và nồng nhiệt nhất Tình yêu đầu đời có cái say mê của tuổi trẻ, có cái vụng dại của buổi ban đầu và có sự trong trẻo, hồn nhiên của tuổi mới lớn tất cả những xúc cảm ấy được Lưu Quang Vũ ghi lại trong thơ vô cùng ấn tượng:
Phút đưa nhau ta chỉ nắm tay mình Điều chưa nói thì bàn tay đã nói Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại Còn bồi hồi trong những ngón tay ta
(Hơi ấm bàn tay)
Có thể nói, trước sau, dấu ấn sâu đậm nhất về một thi sĩ tài hoa, đa cảm
ở Lưu Quang Vũ vẫn là những bài thơ tình Theo Lưu Khánh Thơ: Lưu Quang Vũ là một người đàn ông may mắn Trong cuộc đời long đong vất vả của anh, hầu như giai đoạn nào anh cũng gặp một tình yêu lớn Cho dù cái
mà tình cảm đó đem lại có thể là một vết thương, một nỗi đau suốt đời Lưu Quang Vũ quan niệm rằng sự sống đầy đủ của cuộc đời con người là ở chỗ tìm thấy tình yêu mặc dù tình yêu ấy có thể không ở lại cùng ta suốt cuộc đời
(42,tr.90)
Trang 24Những cảm xúc từ mối tình đầu đã mang đến cho thơ ông hương vị tình yêu ngọt ngào, say đắm, quyến rũ, đó là khu vườn tình ái đầy hương sắc
Vườn em là một cõi đi về đầy mộng mơ, nơi căng tràn nhựa sống, nơi chứa
bao điều bí ẩn, diệu kỳ:
Vườn em là nơi đọng gió trời xa Hoa tím chim kêu bàng thưa lá nắng Con nhện đi về giăng tơ trắng
Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi
(Vườn Trong Phố)
Vũ Quần Phương nhận xét đắm đuối là bản sắc cảm xúc của Lưu Quang Vũ Nó tạo nên sức lôi cuốn ma quái ở thơ anh và cũng tạo nên lắm vất vả cho đời anh (42,tr.79)
Chất đắm đuối được thể hiện qua tất cả những trang thơ của thi sĩ họ
Lưu, nhưng trong thơ tình có lẽ chất đắm đuối ấy được thể hiện đậm đặc nhất
Nếu ai đã một lần đọc Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa sẽ không thể quên được chất
đắm đuối đến mê hoặc ấy:
Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa Xóa nhòa hết những điều em hứa Mây đen tới trời chẳng còn xanh nữa Nắng không trong như nắng buổi ban đầu
(Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa)
Có thể nói, giai đoạn đầu sáng tác, đề tài tình yêu chiếm một vị trí rất quan trọng trong thơ Lưu Quang Vũ, trở thành nỗi ám ảnh thiết tha, đau đáu,
khắc khoải Có lúc em là dòng suối trong trẻo, thuần khiết Em nông nổi như một dòng suối chảy/ Tin bình minh nhưng chỉ gặp sương chiều Có lúc em lại
như một trái xoài căng mọng, ngọt ngào, quyến rũ Lúc khác em lại là một khu vườn rực rỡ sắc màu, tràn đầy sức sống để anh thành chú ong say sưa
Trang 25kiếm mật lạc vào cõi thiên thai không muốn tìm lối ra Có lúc em như trái cây mùa hạ mát lành, ngọt ngào, lúc lại rực rỡ như bảy sắc cầu vồng tất cả những hình ảnh ấy còn neo đậu mãi trong lòng người đọc mọi thế hệ
1.2.2 Gai đoạn 2: 1971 – 1973
Đây là giai đoạn sáng tác khá đặc biệt trong đời thơ Lưu Quang Vũ, với tình cảnh long đong, lận đận và có lúc ông bế tắc Hạnh phúc gia đình tan vỡ, rời quân ngũ, quá nhọc nhằn trong kế mưu sinh, cuộc sống hàng ngày lâm vào thiếu thốn Thêm vào đó, chiến tranh ngày càng ác liệt Cùng một lúc, tâm hồn đa cảm của ông phải gánh chịu nỗi đau, sự mất mát từ hai phía: riêng, chung Vì thế dễ hiểu tại sao giai đoạn này không còn cảm xúc hồn hậu, tươi trong mà thay vào đó là những dằn vặt, chiêm nghiệm, những suy tư, trăn trở
Và có lúc nhà thơ rơi vào tâm trạng cô đơn, bế tắc cùng cực:
Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào
Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao
(Mấy đoạn thơ…) Thậm chí có lúc ông rơi vào tâm trạng trống rỗng, vô nghĩa:
Có những lúc tâm hồn tôi rách nát Như một chiếc lá khô như một chồng gạch vụn Một tấm gương chẳng biết soi gì
Một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì Trời chật chội như chiếc lồng trống rỗng
(Có những lúc)
Nhưng cũng chính những nếm trải ấm lạnh của thế thái nhân tình (Lý
Hoài Thu) đã giúp Lưu Quang Vũ nhận thức lại Lúc này thơ ông trở nên trầm lắng hơn, da diết hơn và cũng đau đáu, khắc khoải hơn Vũ Quần Phương đã
Trang 26khẳng định đây là đỉnh điểm trong nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ Sau này anh viết vui hơn, ấm áp hơn nhưng không tài hơn (42, tr.82)
Đúng vậy! Có thể nói đây là giai đoạn sáng tác rất đặc biệt Biểu hiện trước tiên là tình cảm quê hương đất nước đã bắt rễ sâu hơn vào cảm hứng dân tộc, nhân dân Lúc này Lưu Quang Vũ không còn đứng trong dàn đồng ca của thời đại mà ông tách riêng thành một mạch nguồn Chính mạch nguồn ấy
đã có sức lan tỏa mãnh liệt bởi xuất phát từ lòng yêu thương chân thành, vô
bờ đối với nhân dân, đất nước, không phải bằng những lời ca xuôi chiều, giản
đơn, dễ dãi mà thay vào đó là những chất vấn rát bỏng (Vũ Quần Phương)
Đất nước trong cơn biến thiên hãi hùng, thơ Lưu Quang Vũ lúc này thể hiện những cảm xúc đau đắng trước số phận nhân dân Và cũng chính trong lúc
này nhà thơ đã bừng thức, sự bừng thức trong nỗi buồn thấm đến xương da:
Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều Rách tan cả những làn sương đẹp phủ
(Gửi một người bạn gái)
Lúc này thi sĩ họ Lưu không còn: Con mắt xanh non ngỡ ngàng như mắt trẻ mà đi vào những nỗi đau tột cùng trước tai ương, đồng thời cũng gửi
gắm tình yêu vô bờ đối với nhân dân, đất nước Đây cũng là thời kỳ Lưu Quang Vũ bộc lộ tình yêu nước sâu lắng nhất, da diết nhất và đau đắng nhất Ông muốn thơ phải là ngọn lửa soi sáng đưa nhân dân vượt thoát khỏi những nỗi đau khổ, đêm đen của sự trì trệ:
Thơ là bó đuốc đốt thiêu là bàn tay thắp lửa
Thơ sinh sự với cuộc đời không cho ai dừng bước cả
Càng thương yêu càng không vừa ý mọi điều
(Nói với mình và các bạn)
Lưu Quang Vũ hiểu hơn ai hết chân lý: Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ/ Chỉ dựng xây đời là khó khăn thôi.Ông không ngại góp công sức của mình để
Trang 27dựng xây đời, cho dù việc làm ấy chẳng hề dễ dàng Trái tim ông vẫn luôn cồn cào khát vọng được làm việc gì đó có ích cho nhân dân, đất nước và cho cuộc đời:
Những manh buồm như ngực anh gió táp Những con tàu như hồn anh cuồng loạn Chẳng bao giờ chịu ở với bờ yên
Ánh lân tinh lấp lánh vỏ thuyền Gọi anh đi trên bãi hà nhọn sắc
(Viết cho em từ cửa biển) Giai đoạn này, tình yêu vẫn luôn chiếm vị trí quan trọng trong sáng tác của Lưu Quang Vũ, nhưng không phải là tình yêu trong trẻo, bỡ ngỡ của buổi ban đầu mà lắng sâu, da diết, triết lý hơn nhưng không bớt đắm đuối:
Anh và em, đôi ngực trần trơ trọi Thách thức tương lai
Thách thức hào sâu thách thức bầu trời
(Di chúc tình yêu) Một tình yêu tha thiết mà đầy lo lắng, không yên
Tôi sợ lắm, mùa đông sương buốt thế
Em có là mãi mãi để tôi yêu
(Gửi Hiền mùa đông)
Và dù thế nào, tình yêu ấy vẫn nồng cháy, mãnh liệt trong anh:
ta đi suốt một đời đau khổ chân lỡ lầm bao ảo ảnh chờ mong anh vẫn nhen một ngọn lửa âm thầm hình bóng em chập chờn trong lửa ấy
(Em - tình yêu những năm đau xót và hi vọng)
Trang 28Như vậy về bản chất, cái tôi trữ tình ở chặng hai này mang đậm chất của cái tôi thế sự, đời tư Một mặt tiếp tục chất đắm đuối đến mê hoặc, mặt khác nó đẩy mạnh những suy tư, trăn trở, dằn vặt của một cái tôi cô đơn, khắc khoải và đau đáu của nhà thơ trước số phận của nhân dân, đất nước
đoạn 1971 – 1973 nhưng cũng không né tránh những nghịch cảnh chua chát của cuộc đời
Vậy cái gì đã mang đến sự đổi thay trong tâm hồn cũng như trong sáng tác của Lưu Quang Vũ giai đoạn này? Phải chăng nhà thơ đã tìm thấy cứu cánh của tình yêu, bởi tình yêu ấy lớn hơn một tình yêu thông thường Có thể nói, tình yêu trong giai đoạn một trong trẻo, thuần khiết, ở giai đoạn hai nồng nàn, khắc khoải thì giai đoạn ba da diết, ân tình biết bao
Từ khi gắn cuộc đời anh vào cuộc đời em (gặp gỡ và kết hôn với Xuân Quỳnh), Lưu Quang Vũ đã bước sang một trang đời mới, không còn cô đơn,
bơ vơ, mất điêm tựa, mất niềm tin vào cuộc sống mà bắt đầu tìm lại tình yêu
cuộc sống Xuân Quỳnh không chỉ là người bạn đường tri âm, tri kỷ hiểu thấu
anh, mà chia sẻ với anh mọi niềm vui nỗi buồn trong cõi nhân thế và cùng anh
đi đến cuối con đường đầy chông gai, thử thách Giọng thơ Lưu Quang Vũ trở nên vui tươi, hồ hởi, rạo rực:
Trang 29Có em, anh hiểu lại cuộc đời
Có em, anh bắt đầu tất cả Bắt đầu con đường, bắt đầu nhịp thở Mùa hạ đầu tiên, ngọn gió đầu tiên
(Chiều chuyển gió) Tình yêu và sự hi sinh hết mình của một người đàn bà tài sắc – Xuân
Quỳnh đã làm cho trái tim người trai phiêu bạt trở nên ấm áp hơn, dịu dàng
hơn Vì thế Lưu Quang Vũ trân trọng, chắt chiu từng niềm vui bình dị của đời thường với giọng thơ tha thiết, ân tình:
Điều mong ước đầu tiên đều ở lại sau cùng Chúng ta đi bên nhau trên mặt đất
Dẫu chỉ riêng điều đó là có thật Đủ cho anh mãi mãi biết ơn đời
(Em (II)) Phép màu của tình yêu đối với Lưu Quang Vũ, là khả năng hồi sinh không chỉ là khát vọng sống mà là niềm tin vào cuộc sống ấy:
Thôi mắt đừng xót xa nỗi buồn thời quá khứ
từ nay anh sẽ thở trong mối tình của em
(Giờ anh như con thuyền)
Cảm hứng nhân dân, đất nước giai đoạn này vẫn chiếm một vị trí chủ
đạo trong sáng tác của Lưu Quang Vũ Trong Đất nước đàn bầu (1972 –
1983), với trí tưởng tượng phong phú, đằm sâu, Lưu Quang Vũ đã dẫn dắt người đọc đi từ thủa hồng hoang của dân tộc đến thời hiện tại Lời thơ trĩu nặng ân tình, ám ảnh và neo đậu trong lòng người đọc hình ảnh nhân dân vừa
Trang 30bình dị vừa cao vời Xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn, thương nhân dân quá đỗi, ông đã ước về một tương lai tươi sáng cho dân tộc:
Mọi tai ương khủng khiếp đã qua
Gà đã gáy xôn xao chào buổi sớm Mai gắn lại những vết thương xé thịt Dân tộc mình mở tới một trang vui
Cả cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình, Lưu Quang Vũ đã luôn sống hết lòng, yêu hết mình, cống hiến hết sức cho nghệ thuật và cho cuộc đời Ông yêu gia đình, yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống con người bằng một tình yêu không giới hạn:
Ước chi được hóa thành ngọn gió
Để được ôm trọn vẹn nước non này
Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá
Để mát rượi những mái nhà nắng lửa
Để luôn luôn được trở lại với đời…
(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi)
Trang 31CHƯƠNG 2 BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN GẮN VỚI BẦU TRỜI
TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
Thiên nhiên là một phần quan trọng không thể thiếu của thế giới Giáo
sư Nguyễn Đăng Mạnh nói: Có gì hồn nhiên, bình dị, chất phác như thiên nhiên, nhưng cũng có gì tài hoa diễm lệ bằng thiên nhiên Thiên nhiên cũng mãnh liệt vô cùng như bão táp trên ngàn, sóng cồn dưới biển Thiên nhiên cũng dịu dàng, uyển chuyển ví như trăng thanh gió mát, như hương lan thoang thoảng Không có gì trang nghiêm cổ kính như trái đất này, nhưng cũng không có gì luôn tươi mới trẻ trung như trái đất Thiên nhiên lãng mạn nhất, thiên nhiên cũng hiện thực nhất, thiên nhiên tình cảm nhất, nồng thắm nhất Nó chứa đựng biết bao chân lý thâm trầm mà loài người chưa biết đến bao giờ mới khám phá cho hết được (18, tr.7)
Lưu Quang Vũ đã đóng góp một tiếng nói mới mẻ nhưng rất đỗi ngọt ngào, tinh tế khi viết về thiên nhiên Và hơn hết, thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ cũng như hầu hết các nhà thơ khác thường mang tính biểu tượng Đằng sau bức tranh thiên nhiên ấy ký thác tâm trạng, nỗi niềm và cả những khát khao thầm kín trong tâm hồn nhà thơ Việc giải mã các biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ là cách chúng ta vén một bức màn để đi vào thế giới tâm hồn ông Trong hành trình sáng tác thơ, Lưu Quang Vũ đã xây dựng được hệ thống biểu tượng thiên nhiên khá phong phú, đa dạng, trước hết
là các loại biểu tượng thiên nhiên gắn với bầu trời
2.1 Biểu tượng mưa
Mưa là một biểu tượng xuất hiện khá nhiều trong thơ Lưu Quang Vũ Theo Vương Trí Nhàn trong các thi sĩ đương thời, Vũ là người nhạy cảm với mưa, thân thuộc với mưa hơn ai hết (42, tr.115)
Trang 32Mưa trong thơ Lưu Quang Vũ không đơn thuần là hiện tượng thời tiết
thông thường mà nó trở thành phương tiện để nhà thơ bộc lộ niềm vui, nỗi
buồn hay khổ đau, hạnh phúc Khảo sát 130 bài thơ của tuyển thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, chúng tôi thống kê được có tới 158 lần hình ảnh
mưa xuất hiện
Ở thời kỳ đầu sáng tác với cảm xúc tươi trong, nồng hậu, tâm hồn lãng
mạn, bay bổng, Lưu Quang Vũ đến với mưa như một biểu tượng gửi trao tình cảm trong trẻo, mát lành, dịu ngọt Mưa góp phần thể hiện tình yêu lãng mạn,
bay bổng, quyến rũ đầy hương sắc:
Khi đàn chim bay tới rợp trời trưa Cồn mây về mang cơn mưa đầu hạ Hai vì sao đổi ngôi trong đêm gió…
Đó chính tay mình đang vượt khoảng xa Tìm đến nơi này âu yếm nắm tay ta
(Hơi ấm bàn tay)
Trong bài Vườn trong phố ông cũng viết:
Nơi vòm lá rì rào xao động cơn mưa Quả ngọt chín khi mùa ve lại đến Những chân trời màu hồng những chân trời màu tím Những ngôi sao bàng bạc cả hoàng hôn
(Vườn trong phố)
Cũng có khi mưa biểu tượng cho sự phong nhiên của đất, nhờ mưa mà đất phì nhiêu, màu mỡ Mưa xuất hiện trong những câu thơ với nhịp điệu tươi
vui, thiên nhiên trong trẻo, nhựa sống trào dâng, niềm vui rạo rực:
Cơn mưa vừa thoảng qua Hơi mưa dìu dịu mát
………
Trang 33Thậm chí có lúc mưa không còn mong manh, nhạt nhòa, không còn mưa bụi, mưa xuân đầy lãng mạn, thơ mộng như trong thơ Nguyễn Bính: Bữa
ấy mưa xuân phơi phới bay để lòng em hồi hộp, bồn chồn, phấp phỏng, mà mưa ở đây tàn nhẫn làm vỡ vụn cả những ước mơ, những hoài vọng của em:
Mưa không mơ hồ mà tàn nhẫn từng cơn Quyển sách cũ bài thơ nhòe nét chữ
Em đã tin trời xanh ngoài cửa sổ Trời đen sầm cửa sập nát vai em
(Gửi một người bạn gái) Hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh không cho phép người ta sống mộng mơ, nửa vời, mà phải sống thực, phải đối mặt với đau thương, mất mát
Số phận của tình yêu không nằm ngoài quy luật đó
Mưa trong thơ Lưu Quang Vũ có lúc còn biểu tượng cho sự mãnh liệt,
nồng nàn của một trái tim yêu đang thổn thức trong nỗi nhớ vơi đầy:
Anh nhớ em trong nỗi lá nhớ cành Nhớ nỗi nhớ của vườn xưa tội quá
Trang 34Dẫu mưa mùa đông dẫu dông mùa hạ Dẫu ngày mai chẳng biết sẽ ra sao
(Bài thơ khó hiểu về em) Trong hành trình sáng tác thơ Lưu Quang Vũ, giai đoạn từ 1971-1973,
mưa xuất hiện rất nhiều Đây là giai đoạn khá đặc biệt trong cuộc đời cũng
như sự nghiệp sáng tác của ông Nếu ở giai đoạn đầu, người đọc cảm nhận
được hương bưởi, hương chanh thoang thoảng, ngọt lành với cảm xúc tươi
trong, hồn hậu thì lúc này thơ Lưu Quang Vũ nồng sặc mùi của đạn bom, mùi
của đau thương, rách xé Vì thế lúc này mưa hiện lên đầy ám ảnh Mưa biểu
tượng cho tai họa, li tán, chết chóc, hủy diệt:
Hạt mưa đen rơi trên ô kính vỡ Ngón tay dài trong bóng tối run run
(Giấc mộng đêm)
Có khi mưa gợi lên nỗi buồn tê điếng:
Không chịu được cái bầu trời ướt sũng nước mưa Cái mặt đất lầy nhầy bùn sốt rét
(Mặt trời trong nước lạnh)
Hình ảnh mưa xám trở đi trở lại khá nhiều lần trong sáng tác của Lưu
Quang Vũ gợi lên sự buồn thảm, tê tái
Trang 35Theo Vương Trí Nhàn: Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian
mà con người bất lực, không sao níu kéo nổi Mưa làm cho hiện tại trở nên vô nghĩa và tương lai trở nên lờ mờ không xác định (42, tr.115.) Hơn thế mưa xám còn gợi lên nỗi buồn tê tái, mệt mỏi đến ớn lạnh:
Em về nhà ngày mưa xám Đặt trên bàn chiếc bánh mì lạnh khô Bánh độ này khó mua
gợi lên nỗi buồn tê tái là vì đất nước đang đứng trước cơn biến thiên hãi hùng
của lịch sử Hình ảnh mưa xuất hiện thường biểu tượng cho nỗi buồn, sự hủy
diệt, hay những tai họa:
Đêm giao thừa mù mịt mưa bay Mặt giấy mờ voi ngựa ngả nghiêng quay Xác pháo nát đèn lồng cao đỏ thắm
Trang 36cõi sống Cũng từ giây phút ấy, mưa trong thơ Lưu Quang Vũ không còn mang đến nỗi buồn tê tái nữa mà lúc này mưa biểu tượng cho sự gột rửa, biểu
tượng cho sự thay đổi, mang lại sự tươi mới, trong trẻo, mát lành:
Sẽ có mái hồng sẽ có tổ chim
Nụ cười mới cơn mưa rào cũng mới Anh vẫn như ngày mười bảy tuổi Ngực bồn chồn ước ao
Như chưa hề có chuyện khổ đau
(Viết lại một bài thơ Hà Nội) Lưu Quang Vũ tin tưởng, hi vọng vào một tương lai tốt đẹp:
Trung Hoa khổng lồ, Trung Hoa đau thương Mai tan hết mây mù mưa xám
Trung Hoa Võ Tòng, Trung Hoa Lý Bạch Lại là Trung Hoa từ tuổi nhỏ ta yêu…
(Trung Hoa) Mưa rửa sạch những ưu phiền trong mắt em mang đến sự trong sạch, thuần khiết:
Dành cho em, mưa của mùa hè Chợt ập xuống, sấm chuyển rung trời đất Nước ào ạt trên đường, em ướt đẫm Mưa mát lành cuốn sạch mọi buồn lo
(Dành cho em)
Trong thơ Lưu Quang Vũ, mưa còn biểu tượng cho những vất vả khó
nhọc của mẹ, của em phải trải qua trong gánh nặng cuộc đời:
Mẹ ơi, thương mẹ nhiều mưa nắng Những năm dài khoai sắn nuôi con
(Phố huyện)
Trang 37Xứ sở mưa rào gai ngút mắt Vải dù rách dưới máu đen
(Liên tưởng tháng hai)
Nhà thơ thương em bằng niềm cảm thông, ái ngại: Đôi mắt buồn của một xứ sở có nhiều mưa
Bằng sự nhạy cảm, tinh tế, Lưu Quang Vũ đã để lại trong thơ nhiều
biểu tượng mưa phong phú đầy cảm giác khác lạ, để lại những lắng đọng sâu
sắc trong lòng người đọc
2.2 Biểu tượng gió
Một trong những biểu tượng xuất hiện nhiều nhất và để lại những ám
ảnh trong lòng người đọc đó là gió Phạm Xuân Nguyên khẳng định Đời anh
là gió, thơ anh là mây Gió thổi mát và mây che mát Mây cho gió dừng chân
và gió cho mây bay bổng Gió và mây hợp lại có thể là mưa, mưa tưới nhuần mặt đất Gió lòng anh đang thổi tới lòng ta (23)
Gió trong thơ Lưu Quang Vũ trước hết biểu tượng cho xứ sở vừa nên
thơ, vừa khắc nghiệt Những cơn gió hiện hữu trong thơ Lưu Quang Vũ luôn tồn tại trong những trạng thái đối lập Có lúc nó mang đến sự mát lành, tươi
mới, nó vỗ về, yên vui với những cơn gió heo may, gió mát, gió nồm nam, gió ấm
Hình ảnh ngọn gió heo may có chút bình yên, có chút ấm áp và cả tấm lòng biết ơn đấng sinh thành Gió không mang đến sự lạnh lẽo, tê tái mà ấm nồng biết bao Ngọn gió ấy nhắc nhủ về tình cảm thân thương của mẹ:
Đâu những tối mẹ ngồi khâu lại áo Khi bên thềm xào xạc gió heo may
(Áo)
Cũng có khi là ngọn gió mát lành, trong trẻo, gửi gắm tin yêu Ngọn gió
mang tới không gian thật thơ mộng quyến rũ:
Trang 38Gió xa lạ từ biển nồng thổi đến Một vườn xoài xao động suốt đêm mưa
Gió đung đưa những trái thon vàng rực Như muôn ngàn lục lạc của trời cao
(Mùa xoài chín)
Buồm trắng nắng căng phồng gió mát Phủ Lạng Thương sừng sững thân cầu
(Qua sông thương)
Nhưng gió cũng có thể mang trong mình sức mạnh hủy diệt của sấm chớp bão giông, với gió hú, gió dữ, gió lốc, gió độc Lúc này gió lại biểu
tượng cho sức mạnh hủy diệt, đau thương, đổ vỡ, tan hoang:
Lá đầu thu xao xác bên đường Trời chuyển gió sắp quay cuồng bão lớn
(Lá thu)
Tôi muốn nói, nhưng bốn bề gió lốc Lửa trộn mưa trong điệu nhảy quay cuồng Những mặt người như những quả chuông Sáng lòe chớp giật
(Giấc mộng đêm)
Gió còn gợi lên sự trống trải, quạnh hiu, hoang vắng, thiếu bóng dáng
hơi ấm của sự sống tươi vui:
Bây giờ các em đâu?
Khu nhà đầy tiếng gió Hòn bi xanh đỏ
Còn nằm lăn ở góc sân
(Khu nhà vắng trẻ con)
Trang 39Những cơn gió hú biểu tượng cho chết chóc, hủy diệt đau đớn, tang
thương của chiến tranh:
xác người trôi trên biển sóng xô tan huyệt bom tối ầm ào cơn gió hú
(Em - tình yêu những năm đau xót và hi vọng)
Gió hú ầm ào qua gạch vỡ Người chết vùi thân dưới hố bom
Kẻ sống vật vờ không chốn ở Lang thang trẻ ốm ngủ bên đường
(Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh,
nói về những cuộc chia tay thời loạn)
Người chập choạng tìm nơi ẩn nấp Gió ù ù trên mái ngói ban xô
(Ghi vội một đêm 1972)
Ngọn gió còn biểu tượng cho sức mạnh ghê gớm của nhân dân, có thể
bao phen làm thay đổi sơn hà:
Đôi khi người nổi giận Đôi khi thôi, nhưng thật là khủng khiếp Như gió điên, như nước phá tung bờ Người vung tay: cung điện hóa ra tro
(Người cùng tôi)
Gió không chỉ biểu tượng cho thiên nhiên vừa dữ dội, vừa dịu lành, mà gió trong thơ Lưu Quang Vũ còn biểu tượng cho chính cuộc đời ông, cho những khát vọng lớn lao Cũng như ngọn gió, tâm hồn Lưu Quang Vũ phóng
khoáng, tự do, khát những khoảng rộng, những biển cả phải đi, những chân trời phải đến Luôn luôn kiếm tìm, luôn luôn từ bỏ, chẳng bao giờ chịu ở với
bờ yên Cùng với cơn bão táp của chiến tranh vệ quốc, cơn gió trong tâm hồn
Trang 40Lưu Quang Vũ luôn bấn loạn lúc nào cũng náo nức để lên đường, để làm một việc gì thực sự có ích: Những manh buồm như ngực anh gió táp/ Những con tàu như hồn anh cuồng loạn/ Chẳng bao giờ chịu ở với bờ yên
Giống như gió, Lưu Quang Vũ không bao giờ đầu hàng trước nhữn khó
khăn, cản trở:
con tàu nào mang gió ấy ra khơi chẳng hề có một ngày cập bến đích của nó luôn luôn là phía trước
là chân trời mãi mãi ở trong em
(Em - tình yêu những năm đau xót và hi vọng)
Và đặc biệt ngọn gió trong lòng ông luôn khát khao, bồn chồn Gió
chuyên chở tình yêu thương vô bờ bến của ông gieo khắp mọi nơi:
Gió phương này thao thức phương kia Bếp lửa tắt, gió lại bùng than đỏ Không hình dáng vẫn nhận ra ngọn gió Khi ngàn cây bỗng lật lá sang chiều
(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi)
Gió không bao giờ nguôi yên, không bao giờ ngơi nghỉ, gió gieo trồng, gió thắp lửa những ước mơ, gió lau khô những giọt nước mắt đau thương và gió đưa tới những chân trời mới lạ; vừa yêu thương, trìu mến, vừa dữ dội,
mãnh liệt Lưu Quang Vũ đã tự thú:
Đã có lần tôi muốn nguôi yên Khép cánh cửa lòng mình cho gió lặng Nhưng vô ích làm sao quên được Những yêu thương khao khát của đời tôi
(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi)