Ông là một gương mặt thi ca đầy ấn tượng trong đội ngũ nhà thơhậu chiến và có đóng góp không nhỏ vào diễn trình đổi mới nền thơ đương đại.Dương Kiều Minh là một trong những
Trang 1NGUYỄN THỊ HÀ
THI PHÁP THƠ DƯƠNG KIỀU MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
Trang 2NGUYỄN THỊ HÀ
THI PHÁP THƠ DƯƠNG KIỀU MINH
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HỒ QUANG
NGHỆ AN - 2014
Trang 3Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đượcsự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòngkính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Tiến sĩ Lê Thị Hồ Quang, người đã định hướng và giúp đỡ tận tình để tôihoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn,khoa đào tạo Sau đại học trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợicho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên,khích lệ để tôi hoàn thành khóa học cũng như luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắngnhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhậnđược sự góp ý chân thành của các thầy cô và đồng nghiệp
Vinh 09/2014Tác giả
Nguyễn Thị Hà
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 DƯƠNG KIỀU MINH TRONG THẾ HỆ NHÀ THƠ ĐỔI MỚI 1.1 Sự đổi mới của thơ Việt Nam sau 1986 9
1.1.1 Điều kiện lịch sử, xã hội dẫn đến sự đổi mới thơ Việt Nam sau 1986 9
1.1.2 Sự hình thành thế hệ nhà thơ Đổi mới 12
1.2 Dương Kiều Minh - gương mặt xuất sắc của thơ Việt Nam thế hệ Đổi mới .21
1.2.1 Tiểu sử nhà thơ Dương Kiều Minh 21
1.2.2 Hành trình sáng tác 21
1.2.3 Các thể loại sáng tác 22
1.3 Nhìn chung về sự đổi mới thi pháp trong thơ Dương Kiều Minh 23
1.3.1 Khái niệm thi pháp 23
1.3.2 Về những đổi mới thi pháp trong thơ Dương Kiều Minh 23
Chương 2 THI PHÁP THƠ DƯƠNG KIỀU MINH NHÌN TRÊN PHƯƠNG DIỆN HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI VÀ KHÔNG GIAN, THỜI GIAN 2.1 Hình tượng cái tôi trong thơ Dương Kiều Minh 26
2.1.1 Cái tôi đơn độc, sầu muộn 27
2.1.2 Cái tôi khao khát những giá trị tinh thần cao khiết 44
Trang 62.2.1 Thời gian trong thơ Dương Kiều Minh 53
2.2.2 Không gian trong thơ Dương Kiều Minh 64
Chương 3 THI PHÁP THƠ DƯƠNG KIỀU MINH NHÌN TRÊN PHƯƠNG DIỆN KẾT CẤU, GIỌNG ĐIỆU VÀ BÚT PHÁP TẠO HÌNH 3.1 Kết cấu 77
3.1.1 Kết cấu hình tượng 77
3.1.2 Kết cấu văn bản 87
3.2 Giọng điệu 100
3.2.1 Giọng tự sự từ tốn da diết 100
3.2.2 Giọng suy tư, tiếc nuối, hoài thương 103
3.2.3 Giọng triết lí trầm mặc 104
3.3 Biểu tượng và bút pháp tạo hình 106
3.3.1 Biểu tượng 106
3.3.2 Bút pháp tạo hình 114
KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu thơ ca từ góc độ thi pháp là một hướng mới trong thẩm
định, phê bình văn học hiện đại Nó thể hiện cái nhìn biện chứng thống nhấtgiữa nội dung và hình thức, thể nghiệm những khám phá sâu sắc về văn chươngnói chung, thơ ca nói riêng “Tinh thần chủ đạo của phương pháp nghiên cứu thipháp học hiện đại là hướng tới cách tiếp cận nội quan, tức là nghiên cứu văn học
từ bản thân văn học, quan tâm đến tính văn học, tính nghệ thuật của văn bản vănhọc, coi tác phẩm như một chỉnh thể, như một hệ thống”[48] Chính vì vậy, nókhắc phục được một số sai lầm mà phương pháp truyền thống mắc phải nhưquan niệm quá sơ lược, một chiều về tác phẩm văn học, gán ghép gượng gạonhững ý nghĩa xã hội, thiếu nhiều điểm nhìn, bỏ qua tiềm năng trực giác và tiềmthức của chủ thể sáng tạo, giúp người nghiên cứu khai thác được những ýnghĩa đa dạng của tác phẩm, tìm ra bản chất sáng tạo của tác phẩm, tránh đượccái nhìn áp đặt, phiến diện đối với văn bản nghệ thuật Sự lớn mạnh của thi pháphọc hiện đại đã mở ra những “ô cửa” mới trong tiếp nhận và lý giải các hiện tượngnghệ thuật Thi pháp học đặt ra vấn đề nghiên cứu chủ thể sáng tạo thông qua hàngloạt các khái niệm cơ bản như: quan niệm nghệ thuật, hình tượng, kết cấu, giọngđiệu, ngôn từ, bút pháp
Thi pháp học Việt Nam góp phần đổi mới, tạo ra một giai đoạn mới củaphê bình văn học Đặc biệt, những nghiên cứu về thi pháp thơ Việt Nam sau
1975 lại càng cần thiết bởi sự xuất hiện của nhiều thế hệ nhà thơ đổi mới vớinhững quan niệm sáng tạo mới với những sản phẩm thơ ca chứa đựng nhữngcách tân đổi mới về thi pháp mà họ đem tới
1.2 1975 là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước chuyển cả về lịch sử
lẫn thơ ca Việt Nam Nhiều nhà thơ, thế hệ nhà thơ đã nhận thức lại cuộc sốngnhận thức lại bản thân và nhận thức lại thơ Họ đã nỗ lực dấn thân trong sáng tạo
Trang 8mong muốn khẳng định nhân cách, tài năng của người nghệ sĩ; cách tân đổi mớithơ ca để tạo dựng hệ hình thi pháp thơ sau 1975 trong đó phải nhắc đến thế hệnhà thơ đổi mới Họ là Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Lương Ngọc, NguyễnQuang Thiều, Dương Kiều Minh, Mai Văn Phấn, Inrasara, “Tất cả đều ý thứcđược rằng: “đổi mới không có nghĩa là đoạn tuyệt với truyền thống và haykhông đồng nghĩa với những thuật xiếc chữ để tạo nên sự tân kì mà trống rỗng”[11] Có thể nói, thế hệ những nhà thơ hậu chiến Việt Nam sau 1975 đã cónhững bước chuyển mới rất cơ bản về nội dung phản ánh, về nghệ thuật và thipháp và Dương Kiểu Minh là một nhà thơ sáng danh của thế hệ ấy.
1.3 Dương Kiều Minh là một trong những hiện tượng thi ca Việt Nam
thời kì đổi mới Ông là một gương mặt thi ca đầy ấn tượng trong đội ngũ nhà thơhậu chiến và có đóng góp không nhỏ vào diễn trình đổi mới nền thơ đương đại.Dương Kiều Minh là một trong những người hiếm hoi thuộc thế hệ các nhà thơhậu đánh Mỹ đã dành trọn cả cuộc đời mình cho sáng tạo thi ca, đặc biệt là quátrình đổi mới thi pháp thơ Còn những công việc khác đối với ông chẳng qua chỉlà “áng mây sà buổi mai” Ông bắt đầu làm thơ từ những năm 1980 và thủychung với thi ca cho tới những giây phút cuối cùng của cuộc đời Năm mươi banăm sống trong đời sống và hơn ba mươi năm gắn bó với thi ca, Dương KiềuMinh đã đi đến tận cùng của đam mê và sự sáng tạo mãnh liệt Ông đã thể hiệnnhững nỗ lực hết mình trong việc cách tân, đổi mới thơ ca đặc biệt là thi phápthơ Bảy tập thơ cùng nhiều tùy đàm văn chương là bằng chứng ấn tượng chokhát vọng sáng tạo nghệ thuật và nỗ lực cách tân thi pháp thơ của Dương Kiều
Minh Ngoài những bài viết được công bố trong buổi tọa đàm mang tên Thơ
Dương Kiều Minh trong diễn trình đổi mới thơ đương đại do Hội nhà văn Việt
Nam tổ chức vào tháng 5/2012, cho tới nay chưa có một công trình nào chuyênsâu về thi pháp thơ ông
Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài:
Thi pháp thơ Dương Kiều Minh
Trang 92 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đã có nhiều bài viết khá sâu sắc, có ý nghĩa học thuật để giải mã hiệntượng Dương Kiều Minh cũng như những đóng góp của ông với thơ ca đươngđại của các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình văn học, bạn bè của ông
a Những bài nghiên cứu thiên về cảm nhận chủ quan có bài: Những mùa
thu ám ảnh trong cõi lửng lơ (Đặng Thân), Dương Kiều Minh - Thuở niềm tin chưa có trên đời” (Khánh Phương), Dương Kiều Minh - Thi sỹ của những thôi thúc và quyến rũ từ khoảng trống đời người (Ngô Kim Đỉnh), Ngày xuống núi, đôi điều cảm nhận (Ngô Xuân Diện), Dương Kiều Minh lá vàng kiếp kiếp rơi
mờ hoàng hôn (Trần Anh Thái), Thơ Dương Kiều Minh ngọn lửa đêm hàn (Văn
Chinh), Một khoảng trống sau“Mùa xuân gấp gấp”(Vi Thùy Linh), Dương
Kiều Minh với thể thơ văn xuôi (Lưu Khánh Thơ), Nhà thơ Dương Kiều Minh Thơ đi giữa đời không lấm bụi (Nguyễn Sỹ Đại), Dương Kiều Minh vẫn còn hơi
-ấm từ củi lửa (Nguyễn Ngọc Phú), Dương Kiều Minh tràn ngập âm thanh mê đắm và khoái cảm (Nguyễn Linh Khiếu)…
b Liên quan đến vấn đề thi pháp thơ, đáng chú ý có những bài viết sauđây:
Tác giả Nguyễn Bích Thu trong bài Cảm nhận thơ Dương Kiều Minh có
những cảm nhận khái quát về thơ Dương Kiều Minh, những nhận định, phântích về cái tôi trữ tình, thể loại thơ tự do và thơ văn xuôi, tính tượng trưng trong
ngôn ngữ thơ Tác giả cho rằng: “Thơ Dương Kiều Minh hiện diện một kiểu
ngôn ngữ, lời nói, một lối biểu đạt vừa giản dị vừa “thôi xao” cho thấy sự xâm nhập đan xen của các yếu tố thực và ảo, đời thường và tâm linh, cội nguồn và thời đại, thực tại và quá vãng, chất thơ và chất văn xuôi với những đồng vọng tương phản” [53]
Tác giả Nguyễn Việt Chiến trong bài Nhà thơ Dương Kiều Minh với
những thi tầng minh triết Phương Đông đã chỉ ra thành tựu nổi bật trong nội
Trang 10dung của nhà thơ Dương Kiều Minh: “Một trong số những thành tựu nổi bật
của thế hệ nhà thơ hậu chiến Việt Nam sau 1975 là họ đã có những bước chuyển cơ bản về nội dung phản ánh, nghệ thuật và thi pháp, mà Dương Kiều Minh là một trong những nhà thơ sáng danh của thế hệ ấy Thơ anh gần gũi với cuộc đời thiên nhiên và gần gũi với tâm sự buồn vui của con người, cái mà thế
hệ thơ trước đó từng xao lãng” [7]
Tác giả Đỗ Ngọc Yên trong bài: Cảm thức thời gian trong thi pháp thơ
Dương Kiều Minh đã thể hiện cái nhìn cụ thể về thi pháp thời gian Theo tác giả
thời gian nghệ thuật trong thơ Dương Kiều Minh thể hiện rõ: thời gian thực (thời
gian vật chất) và thời gian ảo (thời gian sáng tạo) Tác giả kết luận: “Thời gian
với Dương Kiều Minh không chỉ là thước đo hiệu quả hoạt động sống của con người mà hơn thế nó còn để đo chiều sâu của lòng người, cõi đời, cũng tức là
để đo tầm vóc tư duy sáng tạo nghệ thuật của chính ông”[64]
Tác giả Hoàng Kim Ngọc trong bài: Thi pháp ngôn ngữ thơ Dương Kiều
Minh đã nghiên cứu khá toàn diện về ngôn ngữ thơ Dương Kiều Minh Ông
khẳng định: “Trên nền tảng cổ điển thấm đẫm văn hóa phương đông, Dương
Kiều Minh là nhà thơ cách tân hiện đại trong biểu đạt từ ngữ liên tưởng kết hợp với yếu tố thực hư đã mang đến cho người đọc những xúc cảm mới mẽ, tươi ròng Một số sáng tạo ngôn ngữ đã trở thành bản quyền riêng của Dương Kiều Minh” Song cách đặt tiêu đề lại không trùng hợp với nội dung bài viết Đọc bài
nghiên cứu này, dễ có cảm nhận là bài nghiên cứu về thời gian và không giannghệ thuật chứ không rành rõ là bài nghiên cứu về thi pháp ngôn ngữ Mặc dùthao tác thống kê, tổng hợp của tác giả rất khoa học [29]
Mai Văn Phấn - Một trong những bạn thơ thuộc thế hệ nhà thơ sau đổi
mới với Dương Kiều Minh trong bài viết: Thơ Dương Kiều Minh, mang hơi xuân
từ những cánh đồng đã tinh tế và khá sắc sảo trong việc phát hiện sự vận động
của tình cảm, cảm xúc thể hiện theo những chiều kích khác nhau, cũng như hình
Trang 11thức nghệ thuật qua các tập từ Củi lửa cho tới Tôi ngắm mãi những ngày thu
tận Tập đầu tay - Củi lửa được tác giả nhận định: “Tập thơ được viết bằng thi
pháp mới, chắc tay, được chuẩn bị kỹ lưỡng….cho đến những bài thơ cuối cùngDương Kiều Minh đã mở rộng suy tưởng nhưng vẫn giữ cho mình vẻ đẹp giản
dị và hiện đại ấy” Kết thúc bài viết tác giả nhận định: “Dương Kiều Minh cùngvới các nhà thơ cùng thế hệ đã làm cuộc “vượt thoát” ngoạn mục, tạo nên mộtkhuynh hướng thơ sau 1975, góp phần quan trọng vào cuộc cách tân thơ Việttrong những thập niên qua” [33]
Cùng tiếp cận từ góc độ thi pháp, Văn Giá trong bài: Dương Kiều Minh,
Lữ thứ đời lữ thứ thơ, khám phá thơ Dương Kiều Minh từ góc độ Cái tôi cá
nhân Tác giả cho rằng cái tôi Dương Kiều Minh là một cái tôi lữ thứ bất an, thahương mà vẫn hoài hương và một cái tôi cô độc, hướng nội cao độ Thế giới mà
cái tôi lữ thứ hoài niệm là “Thế giới ngày xưa đã mất”: Cậu bé, mẹ, quê xưa Về hình thức nghệ thuật “có sự chuyển biến về giọng điệu: Từ hình thức trữ tình
sang hình thức tự tình” Bài viết này có cơ sở khoa học do đó có được sự lý giải
ở mức độ nhất định Thực chất đây sự khám phá một phương diện trong thế giớinghệ thuật thơ nhưng tác giả chưa đi sâu lý giải cặn kẽ [13]
Tác giả Lê Hồ Quang trong bài: Dương Kiều Minh - ra đi và trở về đã khai thác hành trình thơ Dương Kiều Minh từ Củi lửa đến Khúc giao mùa qua
hình tượng cái tôi trữ tình, và dấu ấn phương Đông Tác giả đã đánh giá tổng
quan về thơ Dương Kiều Minh: “Trong khi nhiều nhà thơ cùng thời chủ trương
hiện đại hóa thơ theo hướng phương Tây thì Dương Kiều Minh lại chủ động và khá kiên định hướng những tìm tòi thơ mình về phương Đông cội nguồn Sự kết hợp độc đáo nhuần nhị giữa tinh thần sáng tạo hiện đại và những thủ pháp thi
ca cổ điển chính là nét “độc sáng” tạo nên phong vị cốt cách riêng của ông”.
[41]
Trang 12Nhìn chung, các bài viết chỉ tập trung nghiên cứu một phương diện thơDương Kiều Minh hoặc khái lược về thế giới nghệ thuật thơ ông Chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu chuyên sâu về cả 7 tập thơ đặc biệt là thi pháp nghệthuật trong 7 tập thơ ấy Để tỏ lòng tri ân tác giả cũng như nhận thức được vấn
đề tiếp nhận thơ sau 1975, nhất là thơ thế hệ sau 1975 trên tinh thần thi phápchúng tôi sẽ nghiên cứu toàn bộ gia tài thơ của Dương Kiều Minh trong tuyển
Thơ Dương Kiều Minh (2011) Và đây sẽ là công trình khoa học đầu tiên về thi
pháp thơ của thi sĩ này
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là Thi pháp thơ Dương Kiều Minh
3.2 Phạm vi khảo sát
Với đề tài này, chúng tôi đi sâu khảo sát 7 tập thơ Dương Kiều Minh trong
tuyển Thơ Dương Kiều Minh, NXB gồm có:
- Củi lửa (1989)
- Dâng mẹ (1990)
- Những thời đại thanh xuân (1991)
- Ngày xuống núi (1995)
- Tựa cửa (2000)
- Tôi ngắm mãi những ngày thu tận (2008)
- Khúc chuyển mùa (2011)
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm các tùy đàm văn chương của ông:
Tìm hiểu người xưa qua sách cổ, NXB Lao động, 2006; Những viên ngọc sáng,
NXB Hội nhà văn, 2008; các tiểu luận về thơ, văn xuôi, thơ cách tân và một sốnhà thơ hiện đại Việt Nam (chưa xuấtbản)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi xác định một số nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản:Dương Kiều Minh trong thế hệ nhà thơ đổi mới, thi pháp thơ Dương Kiều Minh
Trang 13nhìn trên phương diện tổ chức hình tượng nghệ thuật, thi pháp thơ Dương KiềuMinh nhìn trên phương diện tổ chức lời thơ.
Ở phương diện tổ chức hình tượng nghệ thuật, luận văn tập trung nghiêncứu ba hình tượng nghệ thuật tiêu biểu: hình tượng cái tôi trữ tình, không giannghệ thuật và thời gian nghệ thuật
Còn trên phương diện tổ chức lời thơ, luận văn sẽ nghiên cứu các phươngdiện: Kết cấu, giọng điệu, biểu tượng và bút pháp tạo hình
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp thống kê, so sánh;
- Phương pháp phân tích
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn Thi pháp thơ Dương Kiều Minh nghiên cứu thơ của Dương
Kiều Mình từ góc độ thi pháp, do vậy nó sẽ thể hiện những thẩm bình đánh giácuả người viết từ góc độ hình thức, từ đó hiểu đúng và đánh giá được các giá trịthơ ca của Dương Kiều Minh cũng như góp phần khằng định những đóng gópcủa ông trong hành trình cách tân thơ Việt Nam sau 1975
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham khảo, luận văn Thi pháp
thơ Dương Kiều Minh gồm 3 chương:
Chương 1 Dương Kiều Minh trong thế hệ nhà thơ Đổi mới
Chương 2 Thi pháp thơ Dương Kiều Minh nhìn trên phương diện hìnhtượng cái tôi và không gian, thời gian
Chương 3 Thi pháp thơ Dương Kiều Minh nhìn trên phương diện kết cấu,giọng điệu và bút pháp tạo hình
Trang 14Chương 1
DƯƠNG KIỀU MINH TRONG THẾ HỆ NHÀ THƠ ĐỔI MỚI
1.1 Sự đổi mới của thơ Việt Nam sau 1986
1.1.1 Điều kiện lịch sử, xã hội dẫn đến sự đổi mới thơ Việt Nam sau 1986
1.1.1.1 Điều kiện lịch sử xã hội
Từ sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, đất nước chuyển sang thời bình, bướcngoặt chính trị ấy kéo theo nhiều đổi thay lớn lao Con người bước vào thời bìnhvới tâm trạng hân hoan Tuy nhiên, họ còn đối diện với những khốc liệt thời hậuchiến, là dư chấn của một cuộc chiến tranh khủng khiếp Bên cạnh đó, cơ chếquản lí quan liêu bao cấp, sự tiếp diễn của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc,Tây Nam, chính sách cấm vận của Mỹ (1994) khiến những khó khăn càng thêmchồng chất Đúng thời điểm khó khăn đó, Đại hội VI - Đại hội đổi mới của Đảngđã kịp thời nhìn thẳng sự thật, để ra đường lối đổi mới đúng đắn về mọi lĩnh vựctrong đó có thơ ca Ngoài ra, sự mở cửa thông thương về kinh tế, thương mạikéo theo các hành động tiếp xúc, giao lưu rộng rãi Bối cảnh đó góp phần tạonên sự đổi mới, thay đổi tích cực trong thơ ca Việt Nam
1.1.1.2 Sự đổi mới trong quan niệm sáng tạo của người nghệ sĩ
Song hành với hoàn cảnh lịch sử xã hội mới, nhiều nhà thơ đã nhận thứclại cuộc sống, nhận thức lại bản thân, nhận thức lại thơ Cuộc sống mới nhiềubộn bề gai góc và nhiều miền xa thẳm khuất lấp chưa được chạm tới Bản thânnhà thơ thấy cần phải trung thực hơn, thành thực hơn với bản thân mình và vớithơ Vì vậy, đối với họ thơ cần tôn trọng sự thật, quan tâm đến đời sống hơnnữa “Nhà thơ không thể sống trong tình trạng phân thân Con người thật thìkhông khỏi xót xa, đau buồn trước thảm cảnh của nhân dân và bản thân mìnhtrong khi thơ ca vẫn ca hát vui tươi trong ánh sáng ảo giác của cảm hứng lãngmạn”[31] Nhiều nhà thơ tự thấy chán ghét lối thơ công thức, giả tạo Động lực
Trang 15ấy khiến họ nỗ lực dấn thân vào cuộc đời, mong muốn sáng tạo những vần thơ
có ích hơn và khẳng định tài năng nhân cách của người nghệ sĩ
Và nhà thơ đã thay đổi quan niệm sáng tạo
Trong quan niệm về bản chất của thơ, ta thử làm một phép đối sánh Thờiphong kiến coi trọng bản chất xã hội của thơ ca là giáo huấn, tải đạo; song hànhvới quan niệm này là thơ đường luật - hình thức thơ phổ biến với sự quy địnhnghiêm nhặt về niêm, luật, vận; bởi thế mọi sự sáng tạo hầu như được xem làphá luật, phản thơ Đến thơ thời cách mạng, quan niệm sáng tác có phần tươngđồng với thơ trung đại ở chức năng nhiệm vụ chính trị của nó “thơ là tiếng nóicủa tình đồng chí, đồng ý, đồng tình” (Tố Hữu), thơ để tuyên truyền chính trị,tuyên truyền cách mạng Vì thế hình thức thơ chỉ như bình chứa nội dung, chắcchắn, bền vững là được và thơ càng giản dị (thậm chí là giản đơn), trong sángcàng tốt Sau 1975, quan niệm sáng tạo thơ đã có sự thay đổi Nhà thơ không chỉcoi trọng chức năng xã hội của thơ ca mà còn đề cao chức năng thẩm mỹ của nó.Nhà thơ quan tâm đến hình thức thơ từ nhan đề cho tới hình ảnh, ngôn từ vàcách tổ chức hình tượng thơ Nói cách khác là quan tâm đến thi pháp thơ Và kếtquả là có rất nhiều sự thể nghiệm có lúc là phá cách độc đáo Lê Đạt, HoàngHưng, Dương Tường, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Bình Phương, NguyễnQuang Thiều, Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh, Inrasara, Nguyễn Hữu HồngMinh, là những điển hình về sự thể nghiệm ấy
Quan niệm về mối quan hệ giữa thơ và hiện thực cuộc sống cũng thay đổi.Văn chương nói chung, thơ ca nói riêng luôn phản ánh hiện thực Hiện thựctrong thơ sau 1975 không chỉ là hiện thực bên ngoài với cuộc sống thời hậuchiến mà còn đặc biệt quan tâm tới hiện thực bên trong là đời sống tinh thần, sâuhơn là đời sống tâm linh, vô thức vốn khuất lấp và bị bỏ quên Hiện thực vì thếnổi lên trong cái nhìn tỉnh táo, mang tính tra vấn về đời sống
Trang 16Nhiều nhà thơ sau 1975 đã đề cao tính chuyên nghiệp của nghề thơ Họcần phải sáng tạo để làm giàu cảm quan thẩm mỹ cho chính mình và độc giả Họkhông muốn rơi vào tình trạng “có những mùa thơ Việt Nam mất trắng vì cácnhà thơ nắm tay nhau tự tử”, họ nghĩ giống nhau, viết giống nhau Nhà thơ có tàinăng thực sự không chỉ đáp ứng thơ mà còn khiêu khích, mở rộng thị hiếu thẩm
mỹ của người đọc thậm chí để gây hấn với người đọc nữa - dĩ nhiên là trênphương diện thẩm mỹ chứ không phải trên phương diện chính trị Tuy nhiên đểthay đổi “lỗ tai thẩm mỹ” của người đọc không phải chuyện một sớm một chiều,
đó là kết quả của sự nỗ lực của cả người viết lẫn người đọc
1.1.1.3 Những đòi hỏi mới trong tiếp nhận của độc giả
Lí luận văn học đầu thế kỉ XX đánh giá rất cao vị thế của người đọc vớivăn chương nói chung, thơ ca nói riêng Người đọc trở thành người đồng sángtạo với tác giả “Bằng những trải nghiệm, sở thích, tình cảm riêng biệt, mỗingười đọc tự tìm cho mình tiếng nói tri âm, mà kết quả thu được có khác biệtvới những người đọc khác Họ không buộc theo đuổi ý chí tình cảm, nói cáchkhác là không bị định hướng, áp đặt hay bị dạy dỗ điều gì…Họ được tự do đọctheo cách của mình, tự tìm lấy chìa khóa để bước vào ngôi nhà thi ca”[32] Vănbản văn học chỉ là một cấu trúc ngôn từ tĩnh khi chưa được độc giả biết đến Nó
sẽ trở thành tác phẩm - một cấu trúc ngôn từ động nếu được tiếp nhận bởi độcgiả - dù là độc giả bình dân hay độc giả tinh hoa, văn bản sẽ được cấp mớinhững giá trị
Người đọc thơ sau 1975 đã sống trong một bầu không khí khác của lịch
sử Sự thay đổi của hoàn cảnh sống, vị thế của độc giả thế kỉ XX đã phần nàoquy định những đòi hỏi mới của độc giả và ngưỡng tiếp nhận của chính họ Mặtkhác, ở người đọc thơ hôm nay quan điểm thẩm mỹ cũng rất phức tạp do sự đadạng về tâm lý, lối sống của thời hiện đại Hơn thế nữa, người đọc đã quá quentai với những vần điệu du dương của cảm xúc trong thơ Sự lạm phát đến “quá
Trang 17tải”, đến bão hoà của thơ tình (xin nhấn mạnh là loại thơ tình không hay) đã gâycảm giác nhàm chán, làm người đọc thất vọng và làm công chúng quay lưng lạivới thơ” [6] Cộng thêm đời sống nghệ thuật ở Việt Nam đang tồn tại nhữngkhoảng cách giữa sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ với nhu cầu và khả năngthưởng ngoạn của công chúng; giữa mục tiêu nâng cao thị hiếu thẩm mỹ, thỏamãn nhu cầu thưởng thức nghệ thuật thật sự của công chúng với chất lượng nghệthuật của tác phẩm; giữa các chuẩn mực văn hóa đạo đức của người Việt Namvà tính tiền phong của tác phẩm nghệ thuật
Chính vì thế, sự đòi hỏi mới trong tiếp nhận của độc giả là điều chínhđáng “Người đọc thơ hôm nay có khuynh hướng đòi hỏi cái mới, cái hiện đại cả
về hình thức lẫn nội dung Họ xem bài thơ như một tác phẩm nghệ thuật ngôn từđộc đáo hơn là một thế giới tinh thần để nhập cảm” [3]
Nhu cầu thẩm mỹ của lớp công chúng mới đòi hỏi xuất hiện một nền thơkhác trước Và “phải là cuộc song hành, đồng bộ, nhà thơ và bạn đọc mới có thểgặp nhau, cùng kích hoạt những tác phẩm văn học có giá trị Đổi mới thẩm mỹcủa người đọc là đóng góp xứng đáng vào tài sản tinh thần dân tộc trong thời đạimới” [32]
1.1.2 Sự hình thành thế hệ nhà thơ Đổi mới
1.1.2.1 Nhìn chung về các thế hệ nhà thơ Đổi mới
Thơ sau 1975 là hợp lưu của nhiều dòng chảy, nhiều thế hệ cầm bút.Trước hết, phải nói đến nhóm nhà thơ “dòng chữ” Tuổi đời tuổi nghề đã nhiềunhưng họ chính là những tác giả có tinh thần cách tân mạnh mẽ, đắp những viêngạch nền cho sự cách tân thơ ca Việt Nam sau này Họ là: Trần Dần, Lê Đạt,Hoàng Hưng, Dương Tường, Hoàng Cầm, Hoàng Hưng v.v… Trong số các tácgiả này tiêu biểu là nhà thơ Trần Dần Ông là người chấp bút cho nhóm thơtượng trưng là Dạ đài Sau 30 năm trong bóng tối với những tác phẩm chưađược nhìn nhận đúng đắn, qua thời gian, dưới cái nhìn mới của các nhà phê
Trang 18bình, tác giả được nhận giải thưởng Thành tựu suốt đời, giải thưởng vinh danhnhững tác phẩm cũng như nỗ lực cách tân của ông.
Thứ hai là nhóm tác giả cách tân Họ gồm: Thanh Thảo, Thi Hoàng, ÝNhi, Nguyễn Trọng Tạo,…Đây là thế hệ góp phần cách tân thơ ca sau 1975 Tuynhiên, nhóm tác giả này về cơ bản họ cách tân trên nền cơ sở mỹ học truyềnthống - Hệ mỹ học hình thành từ thời thơ mới và chỉ cách tân một phần trong thểtài, bút pháp
Thứ ba, phải kể đến thế hệ trẻ hơn - thế hệ thành danh sau 1986: NguyễnLương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Đỗ Minh Tuấn, TrươngNam Hương, Phạm Thị Ngọc Liên, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Bình Phương,
Inrasara,… Họ “là một thế hệ sung sức, sáng tạo” [2, tr.40] Nhà thơ Tố Hữu đã
nhận định về họ: “Được giải phóng khỏi những quan niệm hẹp hòi, khô cứng, họkhông còn quá băn khoăn tôi hay ta, hiện thực hay không hiện thực Họ chỉ mải
mê ghi lại những chấn động đột ngột từ tâm hồn, đắm mình trong dòng chảy củacảm xúc, cứ như thế, càng trọn vẹn bao nhiêu, hoàn hảo bao nhiêu càng thơ bấynhiêu”
Trẻ hơn nữa đó là thế hệ 7X, 8X: Nguyễn Quyến, Vi Thùy Linh, PhanHuyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Vĩnh Tiến, Nhóm Mở miệng, LyHoàng Ly, Trần Nguyễn Anh, Văn Cầm, Từ Huy, Nhóm Năm con ngựa trời…Đây được xem là nhóm tác giả có sự cách tân hình thức mạnh Và “dư luận côngchúng đánh giá về thơ họ còn rất phân tán” [2,40] Người ta gọi thơ của họ là
“Thơ trẻ”
1.1.2.2 Một số gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ Đổi mới
* Nguyễn Lương Ngọc: Sinh năm 1958 ở Ba Vì, Hà Nội Sau khi tốt
nghiệp kĩ sư cơ điện, năm 1981 nhà thơ về công tác tại công trường thủy điệnsông Đà, bắt đầu sáng tác thơ Sau đó, ông theo học trường viết văn Nguyễn Durồi làm báo ở Hà Nội Nhà thơ qua đời ở cái tuổi mà thơ ca còn độ sung sức
Trang 19nhất, “để lại bao dự định ngổn ngang cho cuộc khởi hành kế tiếp” [36] Nhà thơDương Kiều Minh đã nhận định: “Anh để lại cuộc cách tân thơ ca đầy hứa hẹnvới triển vọng của một sức bật mãnh liệt và vạm vỡ, đã gây nên sự chấn động
trong giới văn chương và bạn bè” Các tập thơ tiêu biểu của ông gồm: Từ nước
-1990, Ngày sinh lại - 1991, Lời trong lời – 1994 Nói đến Nguyễn Lương Ngọc
là nói đến một bầu nhiệt huyết tràn đầy, một tinh thần dũng cảm và thật sựnghiêm túc trong sáng tạo nghệ thuật Khát vọng cách tân thơ ca được ông diễn
đạt rất hay qua Hội họa lập thể - bài thơ được xem như một tuyên ngôn nghệ thuật của tác giả:
Khi mắt đã no nê Những quy tắc lên men Khi sự thật bị thay bằng cái giống như sự thật
Có gì không ổn
Có gì như bệnh tật Khi mồ hôi vẫn ê a thiên chức nghệ sỹ Anh không muốn nhìn những gì mình đã vẽ Chính nước mắt, hay máu tứa ra từ cái nhìn bền bỉ
Đã cho anh chiếc lăng kính này đây
Để anh đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại Nung chảy mình ra mà tìm lõi
Xé toang mình ra mà kết cấu
Với Nguyễn Lương Ngọc, nói về hội họa chính là để nói về thơ, về việccách tân quan niệm và thi pháp thơ Ông đề cao hội họa lập thể (rộng hơn lànghệ thuật hiện đại), trước hết, bởi cái tinh thần cách tân quyết liệt của nó Đối
với ông, thơ ca của giai đoạn trước chỉ là những khuôn mẫu hay “qui tắc lên
men” cho nên cần phải cách tân hay nói theo cách hài hước của chính nhà thơ
trong một cuộc trò chuyện ngoài đời: “phải quên ngay cái thơ cũ rích của các
Trang 20bác để làm một cuộc thơ mới, các bác hãy tránh ra để cho chúng em chơi cuộcchơi của thế hệ mình” Như vậy, Nguyễn Lương Ngọc đã ý thức một cách rõràng việc cần thiết phải tạo ra cho thế hệ mình một sân chơi thi ca hoàn toàn mới
so với sân thơ truyền thống mà ông coi là những cái đã mốc meo, “lên men”, giả
dối, không còn thích hợp với tâm thế của thi ca cũng như của công chúng thời
“gây hấn”, “nổi loạn” với chính mình - nhằm chống lại những giá trị thẩm mĩ đãtrở nên lỗi thời và để xây dựng những chuẩn mực giá trị mới
* Nguyễn Bình Phương: Ông sinh năm 1965 Sinh ra ở Thái Nguyên.
Nguyễn Bình Phương là gương mặt thơ xuất hiện vào nửa đầu thập kỷ 90 củathế kỷ XX cùng một lúc với nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc Gắn bó với quân ngũvà sớm bén duyên với văn chương, Nguyễn Bình Phương bắt đầu cho ra mắtnhững tác phẩm ấn tượng của mình từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước Ởthời điểm đó, ông đã hòa đồng được với không khí sáng tạo ở Trường Viết vănNguyễn Du với Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc…nhưng vẫn rất đậm
đà tố chất độc đáo của mình Gia tài thơ ca của tác giả gồm: Lam
chướng (1994), Xa thân (1997), Từ chết sang trời biếc (2001) và tập thơ mới
nhất, Buổi câu hờ hững (2011)
Nguyễn Bình Phương được xem là một trong những gương mặt cách tânthơ ca xuất sắc thời đổi mới Nhà thơ công nhận hồn thơ của ông không đơngiản: “Thơ tôi là loại phức tạp bởi tâm trạng phức tạp Tôi hay nói đùa mà cũnglà nói thật: Trong mỗi bài thơ của tôi có bóng dáng một con ma, một cái bónglẩn khuất, một tâm trạng gì đó không nắm bắt được”
Vì vậy,thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bình Phương thường mangmàu sắc hiện thực huyền ảo pha lẫn tâm linh, ma quái, dường như chúng khôngthực hiện hữu “Đó là một thi giới đầy những sự vật, hình ảnh lạ lùng, thậm chí
kì dị” [40] Trong thế giới ấy, có: linh miêu, quạ vàng, con phượng đen, những
Trang 21con hươu ma, bầy nghê đá cười, khuôn mặt xanh, cây ngải vàng, cây cậm cam,
cỏ trắng, ngôi sao màu hung, ngọn gió xanh, ngôi sao chết trắng, rừng tím, làn môi xanh, cơn mưa vàng, khu rừng ma và con người cũng là những cái bóng kì
dị, là những người điên: “Những người đàn bà điên/ Nở/ Những khuôn mặt xa
vời trong ánh sáng màu hung buồn ủ rũ”; “những bà điên thân xác còm nhom”,
“thằng bạn điên sớm tối chỉ cười”;
Thơ Nguyễn Bình Phương phản ánh hiện thực thông qua những biểutượng liên tưởng phóng túng, kỳ lạ và mê hoặc nhiều khi khá mơ hồ Ngôn ngữthơ Nguyễn Bình Phương là “thứ ngôn ngữ của mộng mị, của những ảo giácchập chờn, phi thực, hư ảo Ngôn ngữ ấy “đòi hỏi” ta phải bớt đi cái tỉnh táo ráoriết của lí trí, gia tăng sự phiên lưu của trí tưởng tượng, sự buông bắt xa lạ vàngẫu hứng của trực giác, nó buộc ta phải “buông thả” thật hoàn toàn trong tầngtầng liên tưởng và sự mơ hồ bất định của nó Ở một góc độ nào đó, có thể nói
ngôn ngữ ấy đã mã hóa thế giới theo cách riêng của nhà thơ và muốn giải
mã nó, người đọc buộc phải tự mày mò tìm kiếm hệ công cụ đọc/ giải mã tương
thích.” [40]
* Nguyễn Quang Thiều: Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều sinh ngày
13/2/1957 tại Làng Chùa, Ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội) Bắt đầu viết văn từ
năm 1983, ông đoạt giải thưởng Hội Nhà văn 1993 cho tập thơ Sự mất ngủ của
lửa Cho đến nay, Nguyễn Quang Thiều đã xuất bản 10 tập thơ và tuyển chọn
trong số đó để in thành tuyển thơ lần thứ nhất Châu thổ (NXB Hội nhà văn,
2011) Tập thơ "Châu thổ" được tuyển từ 6 tập thơ đã xuất bản của Nguyễn
Quang Thiều: Ngôi nhà 17 tuổi (1990), Sự mất ngủ của lửa (1997), Những
người đàn bà gánh nước sông (1995), Nhịp điệu Châu thổ mới (1997), Bài ca những con chim đêm (1999), Cây Ánh Sáng (2009).
Trang 22Thơ Nguyễn Quang Thiều đã trở thành hiện tượng nghệ thuật gây nhiềutranh cãi trên thi đàn Đúng như nhà thơ Hữu Thỉnh đã nói, Nguyễn QuangThiều sinh ra là để cho những cuộc cãi vã về thơ, qua những cuộc thi và nhất là
sau tập Sự mất ngủ của lửa - Tập thơ đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam
năm 1993, và, nhanh chóng làm xáo trộn tư duy đời sống thơ ca đương đại
Thơ Nguyễn Quang Thiều được không ít người cho là khó đọc, khó hiểu.Thậm chí, có người còn gọi đó là thứ thơ dịch, thơ lai căng, hoàn toàn đi ngượcvới truyền thống Tuy nhiên hầu hết các nhà nghiên cứu đã khẳng định thành tựuthơ ông Hữu Thỉnh khẳng định: “Nguyễn Quang Thiều thuộc về truyền thốngvăn học, mà truyền thống của văn học đó là truyền thống của cách tân” Ôngđược xem là nhà thơ đầu tiên, bằng những nỗ lực vượt bậc và tài năng xuất sắccủa mình đã xác lập một giọng điệu mới trong thơ Việt Nam đương đại Điềunày được thể hiện qua nhiều phương diện
Lộ trình thơ Nguyễn Quang Thiều khởi đầu từ tập thơ Sự mất ngủ của lửa
đến những tập thơ về sau đã định hình một phong cách riêng biệt Ông đã khẳngđịnh tài năng, bản lĩnh thi sĩ và sự dũng cảm của mình bằng khả năng thiên bẩm,bằng kiến thức và trải nghiệm phong phú Đó là sản phẩm tinh thần tất yếu củasự cảm nhận đời sống công nghiệp hiện đại Thơ Nguyễn Quang Thiều nhậnđược nhiều luồng ý kiến đánh giá khác nhau nhưng có một điều không thể phủnhận là những vần thơ của ông đã đem đến một luồng gió mới, trong trẻo và đầysức sáng tạo cho thi ca Việt Thật đúng khi nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệpđã nhận xét về thơ ông: “Xét về bản chất, thơ Nguyễn Quang Thiều là tiếng nóihướng thượng Nhưng đó không phải là hướng thượng chính trị (thôngthường) mà hướng thượng tới những giá trị nhân sinh cao cả, những vẻ đẹp kìdiệu của cuộc sống, của sức mạnh nghệ thuật Đó mới là thứ chính trị của thơ cahướng tới Nó cần đến sự sám hối và cứu rỗi chân thành”
Trang 23* Mai Văn Phấn: Nhà thơ Mai Văn Phấn sinh năm 1955 tại Kim Sơn, tỉnh
Ninh Bình, hiện sống và sáng tác tại thành phố Hải Phòng, là Hội viên Hội Nhàvăn thành phố Hải Phòng, Hội Nhà văn Việt Nam
Mai Văn Phấn được biết đến với tư cách một nhà thơ có khả năng lao
động nghệ thuật bền bỉ và sức sáng tạo thơ ca dồi dào: 1992: Giọt nắng, 1995:
Gọi xanh, 1997: Cầu nguyện ban mai, 1999: Nghi lễ nhận tên, Người cùng thời, 2003: Vách nước, 2009: Hôm sau, Và đột nhiên gió thổi, 2010: Bầu trời không mái che, 2012: Hoa giấu mặt, 2013: Vừa sinh ra ở đó Đồng thời trên mạng ông
đã phát hành sách của Amazon các tập thơ song ngữ: Firmament without Roof
Cover (Bầu trời không mái che), Out of the Dark Out of the Dark (Buông tay cho trời rạng), Seeds of Night and Day (Những hạt giống của đêm và ngày Cho
đến nay, rất ít nhà thơ Việt Nam có được thành công lớn như vậy Nói như nhàvăn Bão Vũ, “Hiện tượng Mai Văn Phấn không thể coi đó là “cơ duyên” nhưngười ta thường nói, mà cần gọi đúng tên thật của sự việc: Đó là tài năng.”
Thuộc thế hệ nhà thơ đổi mới, Thơ Mai Văn phấn là một hành trình tìmtòi cách tân Trước năm 2000, Mai Văn Phấn cách tân thi pháp theo tinh thầncực đoan, thường theo đuổi đến cùng những ý tưởng mà ông đã tri nhận, biểuhiện bằng hệ thống ngôn ngữ của riêng ông Điều ấy không sai, nhưng rất ítngười thấu hiểu và chia sẻ
Những năm gần đây, vẫn cách thiết lập không gian và thời gian đa chiều,vẫn cách liên tưởng những hình ảnh biệt lập tưởng chừng không liên quan…nhưng thơ của Mai Văn Phấn hướng tới sự tối giản và trong sáng Ông cũng tìmcách đồng hóa ngôn ngữ thi ca và với ngôn ngữ đời thường để thơ có giá trị hiệnthực hơn Người nghệ sĩ khát khao lí giải về thế giới trong chiều sâu bản chấtcủa nó, đằng sau cái hiện thực bề mặt được nhìn thấy; mối liên hệ “âm u và sâuxa” giữa những hiện tượng tưởng chừng rời rạc, xa lạ; cái logic của đời sốngtrong những biểu hiện dị thường tăm tối, thậm chí phi lí, nghịch dị…
Trang 24Ngôn từ trong Mai Văn Phấn vừa là thứ ngôn ngữ lạ hóa, ghi nhận sự thửnghiệm cách tân nhưng đồng thời cũng là thứ ngôn ngữ đời thường giản dị MaiVăn Phấn còn tạo ra được giọng điệu thơ riêng với hai chất giọng tiêu biểu làgiọng giễu nhại, hoài nghi và giọng triết lý, chiêm nghiệm Tích cực tiếp thu kinhnghiệm sáng tác của những trường phái thơ hiện đại chủ nghĩa, Mai Văn Phấn đặcbiệt chú ý đến tiếng nói của trực giác, vô thức, tâm linh trong sáng tạo Rõ ràng,
“Mai Văn Phấn đã khiến người ta buộc phải kể tên mỗi khi nhắc đến thế hệ củamình” [14]
* Inrasara: Inrasara - nhà thơ dân tộc Chăm, hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam, tên thật là Phú Trạm, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1957 tại làng Chakleng,huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Ông là nhà thơ, đồng thời là nhà lí luận -phê bình, nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, nhưng ông thành công hơn ở lĩnh vựcthơ ca Inrasara đã được trao giải thưởng ASEAN 2005 (giải thưởng dành chonhững người có đóng góp về văn hoá và văn học của các nhà văn trong khu vựcchâu Á) Nhắc đến Inrasara có người cho rằng Inrasara là nhà thơ“cách tân nhấthiện nay”, là một “thiên tài”, là “kỳ nhân” Ông là tác giả của 5 tập thơ nổi
tiếng: Tháp nắng (1996), Sinh nhật cây xương rồng (1997), Hành hương
em(1999), Lễ tẩy trần tháng Tư (1996), Chuyện 40 năm mới kể
Là người con của dân tộc Chăm, vẻ đẹp tâm hồn ông được nuôi lớn bằngvăn hóa Chăm, trí tuệ Chăm, triết học Chăm, vì thế thơ Inrasara phản ánh khônggian văn hóa Chăm rực rỡ màu sắc Đó là tiếng trống Gineng giục giã, đó làđiệu múa Apsara say đắm hồn người, đó là tháp Chàm cổ kính với bao nỗi niềmdâu bể, là lễ hội Katê tưng bừng, lễ tẩy trần linh thánh…Tháp Chàm không chỉlà hiện thân của quê hương Chăm mà còn là hiện thân của nền văn hóa Chăm.Tháp Chàm luôn ẩn chứa nhiều bí ẩn trong thơ Inrasara Nó trường tồn, vĩnh cửucùng thời gian:
700 năm tháp thét gào với bão
Trang 25300 năm tháp lãng du thế giới cỏ cây
Ngàn năm sau tháp chuyện trò cát bụi
(Tháp Chàm muôn mặt) Tôi, đứa con của ngọn gió lang thang cánh đồng miền Trung nhỏ hẹp đứa con của nắng lửa bốn mùa cát trắng hanh hao
đứa con của biển khơi trùng trùng bão thét
và của đôi mắt tháp Chàm mất ngủ xanh xao
(Đứa con của Đất) Nhảy múa giữa hoàng hôn / Đường cong bay bay
Nhảy múa gọi bình minh / Baranưng miệt mài ngàn năm vỗ
(Apsara-Vũ nữ Chàm)
Rõ ràng, “dân tộc Chăm là ngọn nguồn của hồn thơ ông, là đề tài, là dònghiện thực, dòng cảm hứng không bao giờ vơi cạn trong sáng tác của Inrasara”
[52] Viết về văn hóa Chăm là hướng đến vẻ đẹp truyền thống Thơ Inrasara gìn
giữ những vẻ đẹp truyền thống của dân tộc bằng “giọng thơ tân thời”.
“Với tiếng Chăm ông rất yêu quí, say mê như máu mủ của mình, với tiếngViệt ông luôn tha thiết, trau giồi Inrasara quả là nhà thơ dân tộc thiểu số biếtdung hợp cả hai yếu tố Chăm - Việt để làm sáng lên ánh hào quang văn hóa củacả hai dân tộc Chăm - Việt”[52] Tiếng Việt với những kí tự Latinh bình thường,giờ đây dưới con mắt của Inrasara, như một tác phẩm nghệ thuật mà người đẽogọt nó nhất định phải yêu và hiểu ngôn ngữ như chính giọt máu của mình vậy
Tóm lại, là nhà thơ có giọng điệu cách tân nhất hiện nay nhưng đườnghướng cách tân của Inrasara lựa chọn là cách tân trên cơ sở truyền thống, thơInrasara vẫn không bị “Kinh hoá”, không “lai căng” Thơ ông đi giữa truyềnthống và hiện đại với cội nguồn cổ kính mà “âm điệu tân kì”
Trang 261.2 Dương Kiều Minh - gương mặt xuất sắc của thơ Việt Nam thế hệ Đổi mới
1.2.1 Tiểu sử nhà thơ Dương Kiều Minh
Nhà thơ Dương Kiều Minh sinh ngày 6/1/1960; quê quán: huyện MêLinh, tỉnh Vĩnh Phúc Từ 1980-1991, ông công tác tại Tổng công ty xây dựngSông Đà-Hòa Bình Tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du khóa III (1986-1989) Từ năm 1991 đến nay, ông công tác tại Sở Văn hóa thông tin, Hội vănhọc nghệ thuật Hà Tây (cũ), Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, phó chủtịch thường trực Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội, Tổng biên tập tạp chíVăn nghệ Thủ đô Ông để lại 7 tập thơ với một số tập bản thảo sau này in trong
Tuyển thơ Dương Kiều Minh (2011), 2 tập tiểu luận và một số tùy đàm văn
chương
Năm 2012, ông lâm bệnh hiểm nghèo, mặc dù đã được gia đình và các y,bác sỹ tận tình chăm sóc, cứu chữa nhưng vì bệnh nặng, nhà thơ đã từ trần vàohồi 11h08 phút ngày 28/3/2012 tại bệnh viện Hà Đông
Bạn bè, đồng nghiệp và những ai đã tiếp xúc với Dương Kiều Minh, họđều có chung một ấn tượng: vóc dáng nhỏ nhắn, hiền hậu, dễ gần; gia cảnh khókhăn và cuộc mưu sinh lắm khi gian nan, vất vả; cái tâm chẳng mấy khi đượcthanh nhàn, gương mặt chẳng mấy khi có cái cười rạng rỡ Gia đình nhỏ của ôngchỉ có vợ và một con gái Nhưng những điều ấy không ngăn trở được một tráitim luôn khát khao đổi mới thơ ca 53 mùa xuân ở cõi trần, Dương Kiều Minh
đã sống trọn vẹn từng phút giây với thơ ca - “Người thơ phong vận như thơ ấy”.
1.2.2 Hành trình sáng tác
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã vinh danh tên tuổi của Dương KiềuMinh bằng việc đưa ra nhận xét: nền thơ Việt Nam hiện đại có hai tác giả "đángđọc nhất" là Dương Kiều Minh và Nguyễn Quyến Dương Kiều Minh từng họctại trường viết văn Nguyễn Du Tại đây, cái tên Dương Kiều Minh không chỉ nổi
Trang 27tiếng, được quan tâm với những bạn văn đương thời mà còn được biết đến vớinhiều thế hệ học sinh sau đó Nhà thơ được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam ởcái thời điểm không phải ai cũng dễ dàng ngồi trong cái chiếu làng ấy - năm
1991 Dương Kiều Minh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam ở tuổi 31 Xét
về tuổi tác thì Dương Kiều Minh là trường hợp trẻ thứ hai Hội Nhà văn ViệtNam khi ấy (sau Hồ Anh Thái) Điều quan trọng nhất, Dương Kiều Minh đã là
tác giả của 3 tập thơ chững chạc: Củi lửa (xuất bản năm 1989), Dâng mẹ(1990),
Những thời đại thanh xuân(1991) Sau đó là Ngày xuống núi (thơ,1995); Tựa cửa (thơ, 2001); Thơ Dương Kiều Minh (tuyển thơ, 2001); Tôi ngắm mãi những ngày thu tận (thơ, 2008); và những tập tùy đàm văn chương: Tìm hiểu người xưa qua sách cổ (2006); Những viên ngọc sáng (tùy đàm văn chương, 2008).
Con đường văn chương của Dương Kiều Minh như vậy kể cũng hanh thông,thuận lợi Chính tình yêu thơ ca đã khiến ông gắn bó với nó như máu thịt, niềmsay thơ chảy trong huyết quản và cùng với những nhà thơ: Nguyễn Lương Ngọc,Nguyễn Quang Thiều, Inrasara, Nguyễn Bình Phương, Mai Văn Phấn…, DươngKiều Minh đã trở thành người đặt nền tiên phong cho cuộc cách tân thơ ca ViệtNam thời kì đổi mới
* Tùy đàm văn chương: Dương Kiều Minh để lại hai tùy đàm văn chương
tương đối có giá trị: Tìm hiểu người xưa qua sách cổ, NXB Lao động, 2006;
Những viên ngọc sáng, NXB Hội nhà văn, 2008;
Trang 28* Ở thể loại tiểu luận, nhà thơ có tất cả 30 tiểu luận trong đó có hai tiểu
luận khá nổi bật là Suy tưởng về thơ ca và sự vận hành của thi pháp, Hai đoạn
suy tưởng về cổ ý và thi ca
1.3 Nhìn chung về sự đổi mới thi pháp trong thơ Dương Kiều Minh
1.3.1 Khái niệm thi pháp
Thi pháp là khái niệm xuất phát từ rất lâu trong lịch sử, thi pháp của
Aristot ra đời cách đây 2.400 năm Những thế kỉ tiếp sau ông, có rất nhiều côngtrình khác, sách báo tiếp tục công trình nghiên cứu này theo hướng hiện đại Thipháp không còn là thuật ngữ xa lạ mà quen thuộc trong nghiên cứu, phê bìnhvăn học hiện đại, xuất hiện và được định nghĩa trong nhiều công trình:
“Thi pháp là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiệnđời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sang tác văn học.” [5, tr.304]
Nghiên cứu thi pháp là “nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ hìnhthức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật, để tìm hiểu ý nghĩa hiển hiện hoặc chìm
ẩn của tác phẩm: ý nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học
v.v.” [17, tr.9]
Nghiên cứu thẩm bình văn chương nhất là thơ ca từ góc độ thi pháp trởthành bước đột phá quan trọng và mới mẻ trong văn chương thế kỉ 20 Nhànghiên cứu, độc giả được soi chiếu, thưởng thức nó trước hết từ góc độ hìnhthức văn bản để thấy được sự quyện hòa cả về hình thức lẫn nội dung của bàithơ Từ hình thức đọc ra nội dung, nội dung và ý nghĩa bài thơ chỉ được thể hiệnsâu sắc trong một hình thức nghệ thuật phù hợp Nghiên cứu phê bình thơ dướiánh sáng của thi pháp học đạt được những thành tựu to lớn
1.3.2 Về những đổi mới thi pháp trong thơ Dương Kiều Minh
Vào những năm 1989-1995, trên thi đàn Việt Nam, không có nhà thơ trẻnào sánh nổi Dương Kiều Minh về sự nổi tiếng Dương Kiều Minh quả là một
hiện tượng hiếm có Càng khai phá, càng bứt phá càng thành tựu” [20] Cùng
Trang 29với Nguyễn Quang Thiều, Trần Anh Thái, Dương Kiều Minh là một trong ít cácnhà thơ cùng thế hệ với mình có khát vọng cách tân thơ Việt thứ khát vọng thật
“quí hóa” Có thể thấy Dương Kiều Minh thuộc thế hệ những nhà thơ hậu chiến
có tinh thần cách tân mạnh mẽ cho thơ ca đổi mới Khát vọng ấy trở luôn thườngtrực trong ông và càng trở nên thôi thúc khi ông bước sang cái tuổi xế bóng vàsự nguy kịch của bệnh tình Dường như chỉ có cái chết mới chia cách ông vớithơ và niềm say mê sáng tạo
Sự đổi mới thi pháp trong thơ Dương Kiều Minh tập trung thể hiện trêncác phương diện: Cái tôi trữ tình, nghệ thuật phối dựng không gian và thời gian,kết cấu, giọng điệu, hình ảnh, từ ngữ, bút pháp tạo hình
Khi các nhà thơ cùng thời nỗ lực cách tân thơ với tinh thần hướng vềphương Tây, thì Dương Kiều Minh luôn hướng về Phương Đông nguồn cội,không phải hồi nhớ, quá vãng về một thời vàng son đã tiêu tan mà để tạo nềncho những cuộc vong thân sáng tạo, chở nặng “những ưu tư đáng trân trọng củamột cá thể hiện đại trước những bộn bề của cuộc sống thời đại ấy”[41] Bêncạnh đó nhà thơ vẫn tiếp thu một số đặc điểm thi pháp phương Tây nhằm thểhiện những nỗ lực tìm tòi của nhà thơ với thi ca Việt Nam thời kì đổi mới, cũnglà cách ông tạo nên dấu ấn cho thơ của mình Vì vậy, “sự kết hợp độc đáo,nhuần nhị giữa tinh thần sáng tạo hiện đại và những thủ pháp thi ca cổ điểnchính là nét độc sáng tạo nên phong vị cốt cách riêng của Dương Kiều Minh.Đến hiện đại từ truyền thống, Dương Kiều Minh là một gương mặt tiêu biểu củathơ Việt Nam thế hệ đổi mới” [41]
Dương Kiều Minh từng tâm sự:“Đối với cuộc kiếm tìm thì không bao giờ
cũ, kể cả sự kiếm tìm cái cũ, thì cuộc kiếm tìm vẫn mới Cuộc cách tân tìm tòi
thơ ca luôn tựa “luồng gió lao rừng rực” tới về những miền bí ẩn của đời sống,
của cuộc đời và của thiên nhiên trải ra vô tận trước sự chiêm ngưỡng, chiêm
nghiệm của con người” [26] Suốt 52 năm sống trên trần gian, nhà thơ đã sống
Trang 30thủy chung với thơ ca, có lúc trọn vẹn đến từng giây phút với thơ, “tràn đầy mêđắm và khoái cảm” để sáng tạo không ngừng Những cách tân trong thơ củaDương Kiều Minh đã đặt dấu mốc đáng chú ý cho thơ ca Việt Nam thế hệ đổimới - Thế hệ thơ đi ra từ khói lửa, chiến tranh đã sống với hơi thở thi ca thời đạimới Tinh thần ấy thật đáng trân trọng.
Tiểu kết chương 1
Bản chất nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng là không ngừng đổi mới,sáng tạo và không lặp lại Khi đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình,những thay đổi thay lớn lao về mặt chính trị kéo theo những sự thay đổi trongđời sống xã hội, văn hóa và thơ ca Các nhà thơ nhận thức lại cuộc sống, nhậnthức lại bản thân, nhận thức lại thơ Các thế hệ nhà thơ đổi mới lần lượt trìnhlàng những tác phẩm góp phần đổi mới thơ ca đồng thời thể hiện vẻ đẹp cuộcsống và con người thời hiện đại Những đóng góp của thế hệ thơ sau đổi mới đãtạo nền tảng cho sự phát triển thơ ca Việt Nam đương đại và là minh chứng rõràng cho dòng chảy không ngừng của lộ trình cách tân thơ ca Việt
Trong số những gương mặt nổi bật của thơ ca thế hệ đổi mới, không thểkhông nhắc đến nhà thơ Dương Kiều Minh Chính tình yêu thơ ca đã khiến ônggắn bó với nó như máu thịt, niềm say thơ chảy trong huyết quản và ông dànhtrọn vẹn đời mình để thủy chung với thơ ca ấy Cách mà Dương Kiều Minh đãcách tân thơ khá đặc biệt và không giống các nhà thơ cùng thế hệ Ông trở vềvới phương Đông nguồn cội, đặt dấu ấn ngay trên nền thơ ca truyền thốngnhưng vẫn phản chiếu được hơi thở mới mẻ của cuộc sống hiện đại
Trang 31Chương 2
THI PHÁP THƠ DƯƠNG KIỀU MINH NHÌN TRÊN PHƯƠNG DIỆN HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI
VÀ KHÔNG GIAN, THỜI GIAN
2.1 Hình tượng cái tôi trong thơ Dương Kiều Minh
C.Mac đã nói: “Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa cácmối quan hệ xã hội” Theo đó, “cái tôi con người là tổng hòa của vô vàn quan
hệ, nó luôn vận động biến đổi mà nghệ sĩ lại là người luôn khao khát kiếm tìmnhững giá trị tinh thần mới, vì thế hành trình đi tìm mình là một hành trình vô
hạn, vô đích.” [3, tr.108] Cái tôi là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều
góc độ: triết học, văn học, tâm lí học
Trong tác phẩm trữ tình cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng,thường xuất hiện dưới dạng nhân vật trữ tình Cái tôi trữ tình là một phạm trùthẩm mỹ nhằm biểu thị tính chất độc đáo, cá biệt của con người cá nhân, đánhdấu sự phát hiện của con người về chính mình với tư cách là một cá thể Đây làmột khái niệm rộng, không chỉ thể hiện tính chất độc đáo của cá nhân nhà thơmà còn bao gồm các bình diện xã hội, công dân, cộng đồng, lịch sử, văn hóathẩm mỹ
Cái tôi trữ tình có sự vận động qua các thời đại thơ ca Trong thơ ca cổđiển Việt Nam (thơ ca trung đại), thiếu vắng hình tượng cái tôi cá nhân cá thể,như cách nói của Hoài Thanh “Xã hội Việt Nam xưa không có cá nhân chỉ cóđoàn thể… cái bản sắc cá nhân chìm đắm trong gia đình trong quốc gia như giọtnước chìm trong biển cả” Thơ ca cổ điển đề cao cái “vô ngã” và không đề cao
“bản ngã” Mọi sự biểu hiện của cái “bản ngã” đều không mấy dễ dàng và khó lòngtìm được sự tri âm Mục đích và chức năng cơ bản của thơ trung đại là “tải đạo”,
“tỏ chí”
Trang 32Đến thơ ca lãng mạn 1932-1945, cái tôi cá nhân được thể hiện hết mình,bung nở trên các nẻo đường sáng tác của các thi nhân Việt Nam Thơ mới đãlàm một cuộc cách mạng, thay đổi cả hệ thống thi pháp Cuộc cách mạng trongThơ mới gắn với quá trình giải phóng cái tôi cá nhân khỏi những ràng buộc của
con người phận vị, “con người chức năng trong xã hội luân thường”(Trần Đình Hượu) Thơ mới là sản phẩm của “khát vọng thành thật”(Hoài Thanh), đưa cái
tôi cá nhân vào trung tâm của thơ ca, cho phép biểu đạt mọi cung bậc của cảmxúc và suy tưởng Cái tôi cá nhân, cá thể bùng nổ trong thơ làm đảo lộn mọiquan niệm Quan niệm thẩm mĩ thay đổi, nội dung tư tưởng đổi khác và chúnghiện lên trong bộ cánh hình thức cũng mới mẻ vô cùng Không còn là thơ để tảiđạo, để nói chí, thơ ca bây giờ bám rễ vào cuộc đời trần thế với tất cả niềm vui,nỗi buồn, sự đam mê, cô đơn, hoài nghi, chán nản…Và Thơ mới chính là hếtmình tiếng lòng con người cá nhân thời đại thơ mới
Sau thời đại Thơ mới, thơ cách mạng lại nhường chỗ cho tiếng nói lịch sửtrước hoàn cảnh đất nước gồng mình với những cuộc chiến tranh vệ quốc mộtmất một còn
Kết thúc chiến tranh, đất nước hòa bình, thơ ca chuyển mình từ thơ cacách mạng sang thơ ca hậu chiến Khát vọng sáng tạo lại được thắp cháy tronghành trình sáng tạo của thế hệ thơ sau 1975, nhất là thế hệ nhà thơ Đổi mới Cáitôi trong thơ càng được khẳng định, không nhà thơ nào muốn “nghĩ theo”, “viếttheo” Hơn bao giờ hết họ muốn cất lên tiếng thơ của riêng mình Nhà thơDương Kiều Minh là một trong những đại diện cho thơ ca thế hệ đổi mới Với 7tập thơ, cái tôi trữ tình trong thơ Dương Kiều Minh hiện lên đa dạng mà thốngnhất
2.1.1 Cái tôi đơn độc, sầu muộn
Buồn và cô đơn là một trạng thái có thực khi con người có ý thức cao độ
về mình Với thơ ca, nỗi buồn và sự cô đơn “là căn nhà ở đời của thơ và mộtquyền của thi sĩ là quyền được buồn” (Hoàng Phủ Ngọc Tường) Nỗi buồn và sự
cô đơn là một phạm trù tình cảm phổ quát của con người
Trang 33Trong thơ Dương Kiều Minh, đơn độc và sầu muộn là trạng thái tinh thầnngự trị Thơ ông tràn ngập nỗi buồn Tập thơ nào cũng ngập tràn nỗi buồn.Dường như chưa bao giờ thấy thi nhân “xa rời nỗi buồn” Không chỉ dừng lại ở
những tín hiệu ngôn ngữ như buồn sầu (với nhiều biến thể như đau thương,
muộn phiền, trống vắng, sầu muộn, lẻ loi, cô độc) mà nỗi buồn sầu hiện lên như
một trạng thái tinh thần thống ngự Từ Củi lửa qua Tôi ngắm mãi những ngày
thu tận đến Khúc chuyển mùa, nỗi buồn sầu ấy ngày càng đậm đặc và ngả sang
sắc thái bi thương bởi sự trơ trọi và đơn độc, bởi bệnh tật giày vò Đấy là trạng
thái tinh thần thể hiện rõ nhất tập trung và sắc nét nhất diện mạo tinh thần củatác giả “Qua sự thể hiện của cái tôi cá nhân, ta nhận ra thế giới nghệ thuật trongthơ ông là hồi quang của một cái nhìn nội tâm đầy khắc khoải, như từ một cõi xanào, nó phản chiếu cái tức thời của đời sống cá nhân trong những thời khắc cụthể, vừa có khả năng trừu xuất khỏi chính nó, vượt thoát ra ngoài nó, để nghiệmsinh thấm thía hơn, thương cảm hơn về thân phận con người”[41]
Ngay từ tập thơ đầu tay, nỗi đơn độc sầu muộn đã thấp thoáng được thể
hiện trong chuỗi kí ức đẹp của tuổi thơ Trong tập thơ Dâng mẹ, 31 lần nhà thơ nhắc tới sự cô đơn, cô độc, buồn, sầu Còn những tập thơ sau: Những thời đại
thanh xuân, Tựa cửa và Ngày xuống núi, trạng thái tinh thần ấy thấm thía hơn,
vò xé hơn, trở thành tiếng nói chiêm nghiệm u sầu về cuộc đời và thời thế
Trong tập Những thời đại thanh xuân, độc giả có thể hình dung ra một con
người đang trẻ nhưng lúc nào cũng mang ám ảnh về sự cô đơn, già nua, tàn tạ,
đơn độc; thanh xuân mà như đang tàn tạ, như xuân sắp qua, như kẻ bên kia đêm
tối, một đời ôm gối đợi đêm tàn; một con người luôn mang nỗi ám ảnh về kiếp
sống ngắn ngủi Sự cô độc và trống rỗng tận cùng ngự trị và bao trùm tâm hồn nhân vật trữ tình Nỗi cô đơn sầu muộn trong tập Ngày xuống núi chính là nỗi
buồn tuổi xế bóng với những ám ảnh về sự ra đi, về cái chết đang cận kề bên kiasườn dốc Dường như thi nhân đã linh cảm hết những điều chẳng lành sẽ xảy ra
Trang 34trong những ngày gần đây Vì thế nỗi sầu muộn và cô đơn lại càng được khắchọa đậm đặc hơn, sâu sắc hơn, cách sử dụng ngôn từ cũng mới mẻ và phong phú
hơn: chất ngất khối sầu li biệt, tiếng nói quăng ra hận sầu ném lại….
Nỗi đơn độc sầu muộn được nhắc đến với nhiều biến thể:
Cô đơn, cô độc, cô tịch, lẻ loi Buồn, Sầu
-Lẻ loi trời hun đúc khí chất vầng
nhật nguyệt,
-Đài phun nước lẻ loi
-Trên cả ăn năn, trên cả niềm cô
độc
- Thời buồn đau - Niềm kiêu hãnh
đơn độc
- Trước niềm cô độc
- Niềm cô tịch cao ngất
-Niềm cô tịch sinh thiên thần và các
bài ca…
Ta về đắm chìm trong niềm cô tịch
Ta yêu niềm cô tịch
-Hoàng hôn dựng ngất sầu -Cậu bé huýt buồn bên giậu cây thưa
- -Bên giậu buồn cậu bé đứng trầm tư -Nỗi niềm sầu muộn ngất ngư
-Kìa nỗi buồn nguyệt qua cửa sổ -Dâng đoá hoa giờ phút nghẹn buồn -Chìm nỗi buồn man mác
-Phải ta tìm thấy mình trong niềm sầu xứ -Phải ta đánh mất mình trong miền sầu xứ
- Con biết mẹ buồn -Mang mang đẩy tháng ngày buồn tẻ
- Tôi nhặt trên nỗi buồn ngọn lửa
Cô độc, cô phẫn, cô quạnh Buồn, Sầu
- nỗi đau kinh hoàng
niềm căm giận kinh hoàng (118)
-Tôi buồn nhớ mười ba năm xưa cũ
Trang 35- vẫn sống niềm cô độc (tr.139)
- tôi sống đây mười mấy năm
ròng
người đầy khí núi
đầy niềm cô phẫn thanh xuân
-Chẳng cong nơi nương tựa, đành
bấu víu vào trang giấy trắng –vô
Chắc mẹ hiểu nỗi đau con nếm trải
con ôm nỗi đau băng qua triệu kiếp người (tr.124)
-Quá nhiều đổi thay, nỗi buồn không đổi Quá nhiều đổi thay, buồn chồng chất
buồn (tr.126)
-Cánh đồng trải rộng u sầu (tr.128) -Cửa ngõ niềm đau nỗi buồn dai dẳng
- Nỗi buồn lênh bênh quá
niềm vui còn quá lênh bênh
Nỗi đau nhấn chìm (tr.149)
-Câu thơ toác những đêm không ngủ
Câu thơ toác nỗi đau thế kỉ (tr.150) -Ngẫm thời khắc chứa nhiều những nỗi
buồn muốn bỏ đi không được
…
Tôi uống bao nhiêu phiền muộn (tr.152) -Nỗi buồn xâm chiếm Nỗi buồn xâm
chiếm những thế kỉ vượt lên, trèo lên chính
Trang 36Xóm núi nghèo vườn thu xơ xác Quá nhiều cảnh đời diễn ra trước mắt
Sự nghèo khó của mẹ, của làng quê nghèo như một ám ảnh mãi khôn
nguôi trong cuộc đời nhà thơ: “Sự đơn sơ cảnh sắc thôn quê đồng áng và sự
nghèo khó của mẹ như những nốt nhấn vuốt dài bản tứ tấu”(Tứ tấu xuân hè).
Đó còn là cái nghèo của chính cuộc đời nhà thơ:
Thi thoảng trong mơ ta vẫn khóc ròng Cơn mơ lạ lùng gục đầu trước mẹ
Mẹ tha thứ chăng đứa con khờ dại Ngông cuồng ôm giấc phiêu diêu
…
Trang 37Con lết qua cuộc đời khốn khó
Ôm nỗi buồn to lớn hơn vầng trăng
(Cổ tích II)
Tuổi trẻ ôm giấc mộng lớn ra đi, về già vẫn đơn độc trong cảnh nghèo
Những khó nhọc thời thanh xuân theo mãi đến tuổi già Đó không chỉ là cuộc
mưu sinh nóng rát của riêng nhà thơ mà còn cả một thế hệ cùng thời: “Hạnh phúc mỏng manh, tai ương rình rập Cuộc mưu sinh nóng rát những con đường trườn vượt qua khấp khểnh bùn lầy nước đọng” (Tựa cửa) Càng về sau, tâm sự
của nhà thơ càng được bộc lộ nhiều hơn nữa Nói với cha đầy nghẹn ngào “Cha
ơi, ngày tháng này làm con phiền lòng…Từ lâu con thấy gánh nặng cuộc đời đè lên đôi vai bé nhỏ Nhiều khi con tưởng quỵ xuống rồi gắng gượng đi tiếp” (Cha
ơi, ngày tháng này làm con phiền lòng) Nói với mẹ đầy xót xa“Con lạy mẹ mùa xuân gần quá/Đằng đẵng theo con giấc mơ nghèo khó”(Con lạy mẹ, mùa xuân gần quá)…Rõ ràng cái nghèo ám ảnh nhà thơ suốt cuộc đời.
Thêm nữa, cuộc sống vắng xa người thân, nhất là khi mẹ cha mất màkhông được gặp hai thân lúc lâm chung, thực là những niềm đau khó chia sẻ, ámảnh thi nhân cả cuộc đời và nó được tái hiện đậm nét trong thơ:
- Nhiều khi buồn nức nở ngóng cánh đồng bên sông Hồng cuộn đỏ
có nấm mồ cha nấm mồ của mẹ
(Cố hương)
- Ngôi mộ cha lặng lòng năm tháng Vòng cỏ xanh cố xoa dịu đau thương Tiếng két đồng thét lên giật thốt
(Những con thuyền tựa đêm ngủ yên)
Trang 38Người ta nói: “Nơi ẩn náu yên ổn nhất là lòng mẹ” (Florian) và “Trái tim
của người mẹ là vực sâu muôn trượng mà ở dưới đáy, bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ “ (Balzac) Có lẽ vì thế mà trong tâm trí thi nhân, mẹ là hình ảnh đặcbiệt nhất, có sức ám gợi và lay dộng mạnh mẽ Đó là động lực cuộc sống cũng
như cái đích tìm về của tác giả Tập thơ Dâng mẹ trở thành tiếng lòng tri ân đặc
biệt mà tác giả dành riêng để tưởng nhớ về mẹ Nhân vật trữ tình tự thấy mìnhchưa báo đáp xứng đáng với công lao của cha mẹ, nhà thơ buồn khi phải sốngkiếp sống phiêu lưu dạt trôi vô định, để mẹ ngóng chờ mỏi mòn:
Con biết mẹ buồn Bên rặng xoan đầu đông trút lá
Mẹ ngóng chờ biền biệt Niềm tin nhòa màn sương trắng xa xa
(Niềm quê)
Xa vắng mẹ cha thời trẻ, có gia đình riêng thì cách xa con, điều ấy càng rộlên những lo âu, phấp phỏng của một con người quá nhạy cảm trước những biến
thiên của đời mình “Thời trẻ chìm trong day dứt nỗi nhớ xa mẹ, chớm già bao
phủ trong sự trống vắng bất an khi con gái đi xa” (Tự sự bên mùa) Để rồi cùng
với sự xa vắng hẫng hụt nhân vật trữ tình một mình sải bước trong hành trìnhđơn độc của cuộc đời:
Mắt thao thức nhìn xa vắng đoạn đường
gập ghềnh…
lầm lụi không bóng dáng người thân
(Cứu rỗi)
Tuổi già, “bệnh tật và những áp lực của cuộc đời xô tôi ngã gục” (Mùa
nghiêng đổ những ngày buồn bã), “gánh nặng của thế tục và thời cuộc đè dúi
Trang 39xuống” (Thụy miên) và “Chưa đến năm mươi đã nhận ra văn chương không chống đỡ một đời người” (Thụy miên) Chính vì thế tâm thức nhà thơ luôn cảm
nhận được cái lạnh, đâu đâu cũng thấy lạnh, cả cái lạnh của thiên nhiên cả nỗilạnh lẽo của lòng người:
Giếng nước lạnh khói bếp chiều cũng lạnh hoa trái rụng khô lối vắng hoàng hôn
(Cổ tích I)
Sự cô đơn được uống từng ngụm:
Phải, tôi uống ngụm trống vắng Không gì ghê rợn bằng trống vắng Đám đông lánh xa một ngày đông lạnh Con đường hút hắt về nguồn.
(Ngày xuống núi)
Cũng từ sự thấu nhận cái lạnh lẽo trong cuộc đời mà ám ảnh cái chết được
nhắc đến rất nhiều trong các tập thơ Ngày xuống núi, Tựa cửa, Tôi ngắm mãi
những ngày thu tận, Khúc chuyển mùa Bài thơ Ngóng bạn thể hiện rõ ám ảnh
về cái chết đang tới gần Ấn tượng chung nhất về bài thơ là những hình ảnh đầy
ám gợi về cõi chết: căn nhà lạnh vắng, ánh sáng phủ đầy, âm khí, miền tây,
người xa biền biệt, viền trăng cuối bãi, cơn lốc thủy thần, khí miền Tây,…Trở lại
với nhan đề bài thơ là Ngóng bạn Bạn ở đây không ám chỉ một cá nhân cụ thể
nào cả Bạn cũng là một hình ảnh ám gợi Đó có thể là một người bạn đã ra đi vànhân vật trữ tình chưa nguôi quên hay bạn chính là cái chết, cõi âm đang được
dự cảm rất gần: quá ngọ, quá tuần, quá thì, âm khí qua mé bên kia hồ Bài thơ là
một tâm sự, một sự dự cảm của nhà thơ về đời mình Lẽ nào cái chết đang đónđợi?
Trang 40Tuổi xế bóng và ám ảnh ngày ra đi mỗi gần hơn và dày đặc hơn từ tậpngày xuống núi Màu trắng tang tóc được nhắc đến không chỉ một lần Đó làmàu trắng khăn tang mẹ:
Áo dài khăn trắng Vành khăn chít trắng
(Khúc tưởng niệm mẹ tôi)
Đó có thể màu hoa tang tóc về một người trẻ đã ra đi nơi phố núi:
Ai về mùa hè cũ Tiếng ve khê nồng núi đồi thắc thỏm Vòng hoa trắng rợn góc rừng
(Ngày xuống núi)
Hoặc là màu tím lạnh đầy ám ảnh: Tôi chợt sợ/Những bông lau tím lạnh
hiện lên bất ngờ…/Những bông lau tím lạnh phất nỗi sầu dằng dặc
Âm khí được nhắc nhiều trong các bài thơ: Lam sơn chướng khí, âm khí
tràn giấc mộng, cuối xuân âm khí động, …
Cái chết thể hiện qua âm thanh bản nhạc cầu hồn: “Bản nhạc cầu hồn rầu
rĩ kéo qua như những ngón tay lùa mạnh vào tóc…”, trong những cô hồn mẹ
khấn ngày rằm tháng bảy: “Kết cục rồi cũng nhắm mắt buông xuôi…mẹ khấn
lầm rầm ngày rằm tháng bảy, những oan hồn lang thang rung nhẹ rồi tan theo gió” (Tựa cửa) Cái chết hiện hữu qua hình ảnh nghĩa địa dân bản, nghĩa địa công trường Cái chết gọi tên nhà thơ Những hình ảnh thơ, câu thơ như chết cả
một con người: Ai đó gọi tôi vào một chiều rất lạnh, Mấy trăm năm ngươi cất
giữ mình trong ánh sáng/Oan hồn theo ngươi tìm về…
Càng về sau cái chết càng được hình dung một cách rõ ràng hơn, nhânvật trữ tình cảm nhận sự cận kề của cái chết qua khí lạnh và sự tan loãng của thể
xác vào không gian, thời gian: “Cuối buổi chiều thu tôi thấy mình rơi hẫng vào