1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975 ( Luận văn ThS. Văn học )

94 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu Những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 – 1975 chúng tôi muốn giải mã các các hình ảnh biểu tượng để có được chìa khóa đi vào tác phẩm, khám phá đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRỊNH THỊ PHƯƠNG

NHỮNG HÌNH ẢNH BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRỊNH THỊ PHƯƠNG

NHỮNG HÌNH ẢNH BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60.22.01.20

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Văn Lân

Hà Nội – 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới GS.TS Lê Văn Lân, người thầy tận tình đã dành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ, động viên tôi thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các Quý thầy cô đã tận tình chỉ bảo và dạy dỗ, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, người thân và bạn

bè đã luôn ở bên cạnh khuyến khích, động viên giúp tôi vượt qua những khó khăn

để hoàn thành khóa học của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014

Trịnh Thị Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài Những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975 là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi

Tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Các kết luận khoa học chưa công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014

Học viên

Trịnh Thị Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Phạm vi nghiên cứu 11

4 Mục đích nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Kết cấu của luận văn 12

Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 13

1.1 Khái lược về biểu tượng 13

1.1.1 Một số quan niệm về biểu tượng 13

1.1.2 Đặc trưng của biểu tượng 16

1.1.3 Biểu tượng trong văn học nghệ thuật - một loại hình tượng đặc biệt 19

1.2 Hành trình sáng tác thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975 24

1.2.1 Thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1954 25

1.1.2 Thơ Tế Hanh giai đoạn 1954 – 1975 27

Chương 2: CÁC LOẠI HÌNH ẢNH BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 32

2.1 Biểu tượng thiên nhiên 32

2.1.1 Hình ảnh biểu tượng dòng sông 32

2.1.2 Hình ảnh biểu tượng biển 39

2.1.3 Hình ảnh biểu tượng trăng 43

2.1.4 Hình ảnh biểu tượng hoa 50

2.2 Biểu tượng con người 56

2.2.1 Hình ảnh biểu tượng người mẹ 56

2.2.2 Hình ảnh người tình 60

Trang 6

Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH ẢNH BIỂU TƯỢNG

TRONG THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 67

3.1 Hình ảnh 67

3.2 Các biện pháp tu từ 72

3.3 Giọng điệu 78

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Biểu tượng nghệ thuật là một dạng mã hóa những cảm xúc, tư tưởng của người nghệ sĩ về hiện thực đời sống Những hình ảnh xuất hiện với tần số cao, mang nhiều giá trị tượng trưng đã trở thành chìa khóa mã hóa thế giới nghệ thuật Những biểu tượng đó sẽ bộc lộ cá tính sáng tạo, phong cách tác giả, khuynh hướng văn học và cả đặc trưng văn hóa của từng dân tộc Nghiên cứu tác giả, tác phẩm từ góc độ biểu tượng do đó đã và đang thu hút

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật

1.2 Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, Tế Hanh là nhà thơ tiêu biểu

và có nhiều đóng góp đáng kể Thơ Tế Hanh không hướng về thế giới vĩ mô

xa lạ mà tìm về những cảnh đời bình dị, gần gũi của quê hương trong cách cảm nghĩ chân thực, hồn nhiên và giàu ý vị của tuổi hoa niên Đời thơ Tế Hanh như Xuân Diệu nói là dòng suối trong thầm thì, róc rách đi vào những mạch thầm kín của tình đời, tình người Cùng với thế hệ các nhà thơ xuất hiện trước Cách mạng tháng Tám, Tế Hanh đã đi qua chặng đường sáng tác khá dài trên 60 năm và để lại nhiều tác phẩm có giá trị Không kể tập tiểu luận

Thơ và cuộc sống mới và thơ viết cho thiếu nhi, ông có khoảng hơn 20 tập

thơ Đến với thơ Tế Hanh, người đọc dễ dàng bắt gặp một hồn thơ hồn hậu, trong trẻo và tràn đầy cảm xúc Hồn thơ ấy lại được biểu hiện ra bởi một thế giới của những gì rất gần gũi, quen thuộc, bình dị như cuộc sống thường ngày của mọi người mà không thiếu những vẻ đẹp sâu xa Trong đó, ta thấy có những hình ảnh được xuất hiện nhiều lần, mang giá trị tượng trưng và trở thành chìa khóa mã hóa thế giới nghệ thuật của nhà thơ Đó là những loại từ tập trung biểu đạt từng nội dung về thiên nhiên (sông, biển, ánh trăng, hoa…)

và con người (người mẹ, người tình “em”…) Những hình ảnh thực đó của

Trang 8

đời sống đã hiện lên với tất cả nét chân mộc và “điêu huyền” của nó, phù hợp với tạng cảm xúc, quan niệm thẩm mỹ, góp phần đem lại nét riêng, độc đáo của phong cách nghệ thuật thơ Tế Hanh.

1.3 Tế Hanh là cây bút sớm được phát hiện, khẳng định Thơ ông đã thu hút được sự quan tâm, đánh giá, phê bình của đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình Vì thế, từ trước đến nay đã có nhiều bài trên các sách, báo, tạp chí, trang web… viết về sáng tác của Tế Hanh Đa số, các bài viết đều làm nổi bật những đặc sắc, thành công cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện, đồng thời cũng chỉ ra được vị trí của mỗi tập thơ trong chặng đường thơ của Tế Hanh Nhìn chung, các bài viết vẫn chỉ dừng ở thế giới thơ,

phong cách nghệ thuật thơ Tế Hanh hoặc những chặng đường thơ Vì vậy, nghiên cứu Những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 –

1975 chúng tôi muốn giải mã các các hình ảnh biểu tượng để có được chìa

khóa đi vào tác phẩm, khám phá được những mạch ngầm tư tưởng, những cách tân nghệ thuật mới mẻ của Tế Hanh Từ đó khẳng định những đóng góp quan trọng của ông đối với nền văn học nước nhà trong lĩnh vực thơ ca

1.4 Tìm hiểu Những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn

1945 - 1975 với việc khảo sát, thống kê, giải mã những hình ảnh biểu tượng

xuất hiện trong những sáng tác của Tế Hanh 1945 - 1975 sẽ giúp chúng ta có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn về diện mạo và quá trình đổi mới của thơ Việt Nam thời kì 30 năm chiến tranh Hy vọng, đây sẽ là một hướng đi mới,

có triển vọng, đem lại nhiều kết quả nghiên cứu khả quan và có giá trị

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Trước cách mạng tháng Tám (1945)

Tế Hanh là bông hoa nở muộn, thuộc lớp nhà thơ cuối cùng của phong trào Thơ mới nhưng đã ít nhiều khẳng định được bản sắc, tài năng của mình

Trang 9

Năm 1939, tập thơ Nghẹn ngào của Tế Hanh đạt giải thưởng của Tự lực văn đoàn, tên tuổi ông bắt đầu có sức thu hút đối với giới nghiên cứu, phê bình

văn học Đánh giá cao tài năng của nhà thơ trẻ này, Hoài Thanh trân trọng

giới thiệu trong Thi nhân Việt Nam: “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh tế,

Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương Người nghe thấy cả những điều không hình không sắc, không âm thanh như mảnh hồn làng trên cánh buồm giương, như tiếng hát của hương đồng quyến

rũ con đường quê nho nhỏ Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới của những tình cảm ta đã âm thầm trao cho cảnh vật” [40, tr 140] “Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì người sẵn có một tâm hồn tha thiết”… “Sự thành thực của thi nhân không thể ngờ tới được” [40, tr 140]

Cũng với tập thơ đầu tay này, Nhất Linh nhận định: “Ông Tế Hanh có

rất nhiều hứa hẹn trở nên một thi sĩ có tài…Hai bài Quê hương và Những ngày nghỉ học là hai bài thơ hay của thơ ca Việt Nam và hai bài đó đủ định

giá trị của nhà thơ Tế Hanh” [22, tr 283], điệu hồn thơ riêng của ông ngay từ đầu cũng được Nhất Linh nắm bắt tinh tế “Một linh hồn rất phong phú có những rung động rất sâu sắc và để diễn tả tâm hồn, ông có đủ nghệ thuật và

cách đặt câu, tìm chữ”… “Nghẹn ngào là thơ của một người có tấm lòng giàu,

dễ rung động trước muôn nghìn cảnh hoặc tầm thường, hoặc éo le trong đời

Tập Nghẹn ngào gom góp tất cả những rung động phức tạp của một đời thiếu

niên” [22, tr 284]

Quả thật, ngay từ đầu, Tế Hanh đã được khẳng định như một cây bút thơ tinh tế, trong trẻo, nhiều hứa hẹn ngay từ trước cách mạng tháng Tám

2.2 Sau cách mạng tháng Tám

Sau Cách mạng tháng Tám, Tế Hanh hồ hởi sáng tác và liên tiếp cho ra

đời những đứa con tinh thần của mình: Nhân dân một lòng (1953), Lòng miền

Trang 10

Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Bài thơ tháng bảy (1961), Hai nửa yêu thương (1963), Khúc ca mới (1966), Đi suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê hương (1973), Theo nhịp tháng ngày (1974), …Hầu

như mỗi tập thơ của ông ra đời sau đó đều xuất hiện những bài phê bình kịp thời và công phu Bài viết về thơ ông khá phong phú nhưng chủ yếu ở hai dạng sau:

2.2.1 Những bài viết riêng về từng tập thơ

Là cây bút được mến mộ nên có nhiều bài viết tiêu biểu về các tập thơ

dọc theo đời thơ Tế Hanh Lê Đình Kỵ với Tiếng sóng hay tiếng lòng của một nhà thơ Việt Nam; Tiếng sóng một thành công quan trọng của Tế Hanh của

Đỗ Hữu Tấn; Thiếu Mai với Về tập thơ Hai nửa yêu thương của Tế Hanh; Nguyễn Đình với Hai nửa yêu thương - một tập thơ mới trong giai đoạn mới của Tế Hanh; Lê Tố - Nguyễn Xuân Nam với Khúc ca mới của Tế Hanh; Anh

Tố viết Mấy cảm nghĩ khi đọc Đi suốt bài ca Hoài Anh với Đọc Câu chuyện quê hương, Vũ Quần Phương với Đọc tập thơ Theo nhịp tháng ngày của Tế Hanh, Hồng Diệu với Đọc giữa những ngày xuân của Tế Hanh, Mã Giang Lân với Đọc con đường và dòng sông của Tế Hanh, Bài ca sự sống Mỗi bài

viết của mỗi tác giả là những khám phá, tìm tòi về thơ Tế Hanh ở những góc

độ khác nhau Song, những bài viết đều cho thấy những đặc sắc, thành công

cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật, đồng thời cũng chỉ ra nhược điểm của từng tập thơ, vị trí của mỗi tập thơ trong quá trình sáng tác của Tế Hanh Qua

đó, chúng ta có thể hình dung được những bước phát triển của đời thơ ông qua từng mốc cụ thể Dạng bài viết này phổ biến hơn ở giai đoạn đầu, đặc biệt

ở thập niên 60 và 70

Trang 11

2.2.2 Những bài viết chung về thơ Tế Hanh

Khi Tế Hanh khẳng định được vị trí của mình trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại đã xuất hiện nhiều hơn những bài viết hoặc nhìn nhận lại một chặng đường thơ, hoặc đi vào những chủ đề đặc sắc trong thơ ông Đặc biệt, cuối đời thơ của ông càng xuất hiện nhiều hơn những bài viết tâm huyết, công phu, đánh giá thấu đáo đời thơ Tế Hanh

Chế Lan Viên, trong lời bạt viết cho Tuyển tập Tế Hanh (1987): “Nếu

vào trong khu vườn, Xuân Diệu sẽ ngoạm vào cả các trái hồng lẫn các trái xanh, Huy Cận lắng nghe chất nhựa trên cành, người nào đó hì hục tìm thơ trong bộ rễ âm thầm, còn với Hanh thì màu xanh của lá cũng đủ cho anh hạnh phúc” [14, tr 392] Phạm Hổ thì giải thích rằng ngay từ khi mới xuất hiện, Tế Hanh đã mang tâm trạng, giọng thơ riêng, tha thiết, đằm thắm, tinh tế và đặt biệt là những tình cảm hết sức chân thành, hồn nhiên Và khi đánh giá, nhận

xét Tuyển tập thơ Tế Hanh trong bài Thơ Tế Hanh - tâm trạng thơ Tế Hanh,

ông viết: “Trong bầu trời thơ ca Việt Nam, góc trời thơ mà Tế Hanh tạo nên với những màu sắc trầm lặng tin yêu, thật độc đáo và đáng quý Đó là một đóng góp lớn” [22, tr 174]

Mã Giang Lân trong Tế Hanh, về tác giả và tác phẩm nhận định: “Cuộc

hành trình sáng tạo không mệt mỏi của ông đã hơn 60 năm Ông không gây ấn tượng mạnh mẽ, ồ ạt như nhiều nhà thơ cùng thời nhưng tinh tế, trong trẻo, trung thực, thơ ông thấm dần vào người đọc và cư trú lâu dài trong tâm hồn

nhiều lứa tuổi” [22, tr 40] Trong bài Đường thơ của Tế Hanh đăng trên Tạp

chí Văn học số 2, Thiếu Mai đã cảm nhận: “Cái hay của Tế Hanh là một cái hay dễ cảm thấy và khó nói Thơ anh viết dễ dàng, đọc tuồng như không có gì nhưng thực ra có một cái gì đó đi thẳng vào lòng người ta…Đó là tấm lòng chân thành, cảm xúc dồi dào, ý nhị, vốn là một đặc điểm nổi bật trong phong

Trang 12

cách thơ Tế Hanh” Vũ Quần Phương trong cuốn Tế Hanh trong sách Nhà thơ Việt Nam hiện đại khi giới thiệu về Tế Hanh có nhấn mạnh: “Tình cảm chân

thật, cách viết trong sáng là ưu điểm nổi bật ở Tế Hanh” [35, tr 203]

Trong tác phẩm Nhà văn Việt Nam, Hà Minh Đức đã đánh giá về đời

thơ Tế Hanh: “Trong nền thơ ca hiện đại, Tế Hanh không phải là tiếng nói thơ

ca có âm vang sâu rộng Dòng thơ anh như một con suối nhỏ chảy bền bỉ theo tháng năm Gương nước trong ấy phản ánh tấm lòng chân thành của nhà thơ với cuộc sống và cũng là nơi chia sẻ bao yêu thương của nhiều cuộc đời hôm

nay và mai sau” [8, tr 270] Trinh Đường trong bài Tế Hanh - 70 tuổi đời và tuổi thơ cũng có tổng quát: “Tế Hanh với hai mươi tập thơ cho người lớn và

thiếu nhi, mười tập thơ dịch và lý luận đã lưu lại cho chúng ta, cho văn học sử Việt Nam một đóng góp đáng kể trong đó có nhiều bài thơ hay, những viên ngọc quý, càng thêm thời gian càng chói sáng” [10, tr 476]

Ngoài ra, có nhiều bài viết làm nổi bật trước hết quá trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ qua các giai đoạn phát triển (trước cách mạng, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, từ sau năm 1975…) đặc biệt sự chuyển đổi giữa giai đoạn trước Cách mạng và sau cách mạng tháng Tám 1945 trong đời

thơ Tế Hanh: Vương Trí Nhàn với Lời con đường quê, Một cuộc đời sống

trọn vẹn với thơ; Phạm Văn Lan với bài Nhà thơ Tế Hanh và nỗi niềm da diết hướng về miền Nam ruột thịt; Lê Quang Trang với Đường thơ Tế Hanh; Ngô Quân Miện với bài Tế Hanh và thơ tình yêu; Nguyễn Xuân Nam với Tế Hanh

- một hồn thơ đậm tình đất nước…Tất cả các bài viết hầu như không có sự

đánh giá trái chiều, những khen chê khác biệt mà thống nhất ở việc đánh giá tâm hồn thơ Tế Hanh - một hồn thơ tinh tế, trong trẻo và hồn hậu tri âm, là một dòng suối trong thầm thì, róc rách, đi vào những mặt thầm kín của tình đời, tình người Với trên 20 tập thơ - một số lượng không nhỏ cho một đời

Trang 13

thơ, Tế Hanh đã góp vào thi đàn thơ ca Việt Nam hiện đại một diện mạo riêng, độc đáo

Nhìn lại những đánh giá, nhận xét, phê bình trên, chúng ta có thể thấy

rõ Tế Hanh có vị trí không nhỏ trên văn đàn Việt Nam

2.2.3 Những bài viết đánh giá về chủ đề

Để đánh giá chính xác tài năng, sự cống hiến và đóng góp của Tế Hanh đối với nền văn học dân tộc, các nhà nghiên cứu đã tập trung khai thác, tiếp cận thơ ca Tế Hanh ở phương diện những chủ đề chính Có thể dễ dàng nhận

ra những chủ đề về quê hương đất nước, đấu tranh thống nhất nước nhà, tình yêu đôi lứa Trong đó, chủ đề về quê hương đất nước là nội dung cảm hứng xuyên suốt đời thơ Tế Hanh, tiêu biểu cho diện mạo tác giả

Mã Giang Lân trong bài Tế Hanh - tinh tế, trong trẻo đã viết: “Trong

các nhà thơ Việt Nam hiện đại không mấy và hầu như không có nhà thơ nào

có được tình cảm đặc biệt thường trực da diết như Tế Hanh với quê hương và cũng không có nhà thơ nào lại có nhiều thơ viết về quê hương như ông Quê hương là nguồn mạch chính xuyên chảy dạt dào trong cả đời thơ ông và cũng

là mạch thơ hay nhất, thành công nhất” [22, tr 25] Trong Lời giới thiệu tuyển tập thơ Tế Hanh (1997), Hà Minh Đức nhận định “Đi suốt cuộc đời, tình yêu

quê hương đất nước như một cảm hứng lớn bao trùm thơ Tế Hanh và trên nhiều bình diện, nhiều thời điểm Tế Hanh đã để lại những bài thơ hay về chủ

đề gẫn gũi này”

Bên cạnh chủ đề tình yêu quê hương đất nước, Tế Hanh còn ghi lại dấu

ấn riêng của mình trong mảng thơ tình Cùng với Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,…Tế Hanh đã góp vào vườn thơ tình Việt Nam một

sắc diện riêng không thể lẫn Trần Hoài Anh đã từng nhận xét trong bài Về một nét riêng trong thơ tình Tế Hanh: “Khác với Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,

Trang 14

Bích Khê tình yêu trong thơ Tế Hanh dường như ít sự nóng bỏng, vồ vập, nhưng luôn chứa đựng một tâm hồn Đồng thời, bên cạnh cảm xúc sâu lắng…

ta còn thấy một tâm trạng kiếm tìm, một nỗi kiếm tìm đã trở thành khát vọng” [22, tr 438] Mã Giang Lân cũng có ý kiến xác đáng: “Thơ tình Tế Hanh không bộc lộ sôi nổi, ồn ào Nó sâu lắng thủ thỉ, tâm tình một tiếng nói nhỏ nhẹ buồn buồn Nhưng là cái tình thực, cảm xúc thực của nhà thơ” [22, tr.37]

Ngô Quân Miện trong bài Tế Hanh và thơ tình yêu cũng đã tinh tế nhận

ra: “Tế Hanh có một trái tim đầy ắp những khát khao yêu thương Con người

si tình trong thơ Tế Hanh có một trái tim quá nhạy cảm với tình yêu Một sự nhạy cảm cực tinh vi, như một cánh bướm non động một tí đã phập phồng run rẩy, như dây tơ cực mỏng, động một tí đã rung lên phát sáng” [22, tr 429]

Chế Lan Viên, Thiếu Mai, Vương Trí Nhàn, Phạm Văn Lan, Ngô Quân Miện, Nguyễn Xuân Nam…và rất nhiều tác giả khác đã có những bài viết rất tâm huyết về những cảm hứng chính trong thơ Tế Hanh Tuy nhiên, cuối cùng tất cả đều chung một nhận xét: dù viết về chủ đề nào thì Tế Hanh cũng ghi lại dấu ấn cá nhân của mình bằng một hệ thống hình ảnh biểu tượng phong phú

và một phong cách độc đáo, mới mẻ

Điểm qua lịch sử nghiên cứu phê bình thơ Tế Hanh, ta thấy các bài viết

đã đề cập đến phong cách, thế giới thơ Tế Hanh Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài này trên cơ sở tổng hợp thành tựu, công trình nghiên cứu thơ Tế Hanh của những người đi trước, để thấy được vai trò của biểu tượng trong quá trình vận động và đổi mới của nghệ thuật thơ Tế Hanh Từ

đó, khẳng định lần nữa những đóng góp của nhà thơ cho phong trào Thơ mới cũng như trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại Những bài viết, công trình nghiên cứu trên thực sự là những gợi ý quý báu để chúng tôi triển khai và

Trang 15

hoàn thiện đề tài Những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn

1945 - 1975

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu xuyên suốt chặng đường thơ của Tế

Hanh từ năm 1945 đến năm 1975 Đó là các tập thơ: Lòng miền Nam, Gửi miền Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương, Khúc ca mới, Đi suốt bài ca, Câu chuyện quê hương, Theo nhịp tháng ngày và một phần đầu tập Giữa những ngày xuân Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm sáng tác của một số nhà

thơ khác để có căn cứ làm sáng rõ hơn những biểu tượng trong thơ Tế Hanh

4 Mục đích nghiên cứu

Qua việc thống kê, khảo sát, phân tích, giải mã các hình ảnh biểu tượng nghệ thuật trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975, luận văn nhằm hướng tới những mục đích sau:

- Nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh, từ đó nhìn nhận rõ hơn sự sáng tạo và đặc điểm của tư duy nghệ thuật thơ Tế Hanh, thấy được vai trò của hệ thống hình ảnh biểu tượng trong việc góp phần làm nên phong cách độc đáo của nhà thơ này

- Tìm hiểu hệ thống hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh không chỉ là cơ

sở để thâm nhập vào thế giới thơ Tế Hanh mà còn giúp chúng ta có được cái nhìn bao quát hơn về diện mạo và quá trình phát triển của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

- Trên cơ sở đó, góp phần lý giải và phân tích những yếu tố tạo nên sự độc đáo, sức hấp dẫn và phần đóng góp có giá trị của thơ Tế Hanh Từ đó, khẳng định được tài năng, vị trí của nhà thơ trong nền văn học Việt Nam hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

Trang 16

- Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học

- Phương pháp thống kê, hệ thống hóa

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh và một vài thao tác của thi pháp học

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Khái lược về biểu tượng và hành trình sáng tác thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975

Chương 2: Các loại hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945

- 1975

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975

Trang 17

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC

THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

1.1 Khái lược về biểu tượng

1.1.1 Một số quan niệm về biểu tượng

Từ thời cổ Hy Lạp với logic học của Aristot, thuật ngữ “Biểu tượng” đã xuất hiện Đến cuối thế kỉ XVIII, thuật ngữ này xuất hiện nhiều trong các công trình tâm lý học, sinh lí học, logic học… nhưng được dùng với ý nghĩa không nhất quán và ngày càng trở nên phức tạp Do đó, cần phải tìm hiểu quan niệm về biểu tượng của từng ngành khoa học khác nhau trước khi đi vào phạm vi nghiên cứu chủ yếu là biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng thơ ca

1.1.1.1 Biểu tượng dưới góc độ triết học

Theo từ điển triết học: “Biểu tượng là hình ảnh trực quan - cảm tính, khái quát về các sự vật và hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại trong ý thức và không có sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật và các hiện tượng đến giác quan” [42, tr 98]

Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, biểu tượng thuộc về giai đoạn tiền ý thức, nó xuất phát từ hiện thực khách quan và được tái tạo lại trong đầu óc con người Với cách hiểu như vậy, tất cả các sự vật tồn tại trong thế giới khách quan sẽ trở thành biểu tượng khi được con người tiếp nhận theo ý thức chủ quan của mình Vì thế, mỗi người sẽ có thế giới biểu tượng của riêng mình Thế giới biểu tượng ấy có phong phú hay không còn tùy thuộc vào môi trường sống, năng lực hoạt động cá nhân trong việc chiếm lĩnh, thâm nhập vào thế giới xung quanh Và như vậy, trong chúng ta ẩn chứa một kho biểu tượng vô tận mà nói như Guy Schoeler: “sẽ là quá ít, nếu nói rằng chúng ta

Trang 18

sống trong một thế giới biểu tượng, một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta” [2, tr 419]

1.1.1.2 Biểu tượng dưới góc độ tâm lí

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Biểu tượng là một hiện tượng tâm sinh lí do

một số sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được sự vật, kích thước hoặc nhìn thấy hình ảnh của nó trở lại trong trí tuệ hay ý thức” [33, tr 67]

Như vậy, nhìn từ góc độ tâm lí, biểu tượng chỉ có thể xuất hiện khi có những sự vật, sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan của con người và

nó là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan Với đặc điểm như vậy, biểu tượng luôn gắn liền với trí tưởng tượng của con người và

nó có thể chuyển hóa thành biểu tượng trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt ở thể loại thơ ca

1.1.1.3 Biểu tượng dưới góc độ văn hóa

Mỗi một nền văn hóa được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau và

một trong những yếu tố đó chính là biểu tượng Trong cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, nhiều tác giả cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể

xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo…” Với cách hiểu như vậy, biểu tượng chính là một trong những cơ sở

để xác định đặc trưng của một nền văn hóa cũng như mối quan hệ của các nền văn hóa với nhau

Ngoài những đặc điểm trên, ta thấy mỗi nền văn hóa khác nhau thì hệ thống biểu tượng cũng khác nhau, do đó biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa còn mang tính ổn định tương đối Như ta đã biết, cấp độ đầu tiên của biểu tượng là “mẫu gốc” Khi đi vào đời sống văn hóa, mỗi mẫu gốc có thể sản sinh ra những biểu tượng văn hóa khác nhau như trong các thần thoại, truyền

Trang 19

thuyết, lễ nghi, phong tục tập quán Vì vậy, biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa luôn mang đậm hơi thở của dân tộc, của thời đại

1.1.1.4 Biểu tượng dưới góc độ ngôn ngữ

Theo các nhà ngôn ngữ học thì “Biểu tượng là một kí hiệu tùy thuộc vào đối tượng mà nó biểu hiện do một luật lệ thông thường là một sự liên

tưởng chung” [Theo S.X.Pocxo - Dẫn theo Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hóa Việt Nam] F.Saussure cho rằng: “Biểu tượng không hoàn toàn võ đoán, nó

không phải cái trống rỗng”, đồng thời ông cũng thừa nhận biểu tượng thuộc vào năng lực cá nhân nhưng luôn luôn chứa đựng một nội dung nhất định được khái quát và chưng cất từ thực tiễn Do vậy, nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, biểu tượng là một sự vật có hình ảnh mang tính chất thông điệp được dùng để gợi ra một cái ở bên ngoài, theo một quan hệ ước lệ, quan hệ liên tưởng, tưởng tượng và tính ước lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong biểu tượng là cơ sở để tạo nên tính đa nghĩa cho biểu tượng

1.1.1.5 Biểu tượng dưới góc độ văn học

Nhìn từ góc độ văn học, có rất nhiều cách hiểu về biểu tượng, tựu chung lại có những cách hiểu cơ bản sau:

Văn học là nghệ thuật ngôn từ mà đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ là phản ánh hiện thực đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người thông qua hình tượng nghệ thuật Muốn làm được như vậy, nhà văn phải mã hóa ngôn từ, tạo ra một hình thức “lạ hóa” nhằm tạo ra một thế giới nghệ thuật in đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo và xuất hiện những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật có giá trị Những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật này ra đời có sức sống sẽ vượt lên ý nghĩa biểu đạt và làm thành các biểu tượng nghệ thuật

đa nghĩa trong văn học Quan niệm này đề cập đến vấn đề biểu tượng gắn với những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học Tuy nhiên, ở đây chúng ta cũng cần chú ý đến tính đa nghĩa của biểu tượng trong văn học

Trang 20

vì đối lập với tư duy suy lý đơn nghĩa thì tính đa nghĩa là một đặc trưng của tư duy nghệ thuật, nó phản ánh những mối quan hệ phong phú và sinh động của văn học và hiện thực

Các nhà nghiên cứu lý luận văn học cho rằng: Biểu tượng là “phương tiện tạo hình và biểu đạt” có tính đa nghĩa trong tác phẩm văn học Trong lĩnh vực thơ ca, biểu tượng chính là một trong những phương tiện biểu đạt có hiệu quả M.Bakhin đã coi biểu tượng là đặc trưng khu biệt quan trọng nhất của tác phẩm trữ tình với tiểu thuyết : “Chính sự vận động của biểu tượng thơ ca sẽ giả định phải có một ngôn ngữ thống nhất, tương hợp trực tiếp với đối tượng của mình” [22, tr 54]

Như vậy, trong văn học dù được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh đến vai trò, giá trị khái quát

và tượng trưng của biểu tượng, đồng thời nêu bật tính đa nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm văn học

1.1.2 Đặc trưng của biểu tượng

Ở trên, chúng ta đã tìm hiểu nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm biểu tượng Trong luận văn này, chúng tôi tiếp thu cách hiểu của TS Nguyễn Thị

Ngân Hoa trong luận án tiến sĩ Sự phát triển ý nghĩa của hệ Biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam: “Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm Biểu

tượng dùng để chỉ một thực thể gồm hai mặt: mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người (cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt tồn tại cảm tính đó nhưng không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này (cái được biểu trưng) [15, tr.15] Căn cứ vào khái niệm, chúng ta có thể xác định được một số đặc trưng cơ bản của biểu tượng, cụ thể như sau:

Thứ nhất, mối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng của

biểu tượng “mang tính có lí do, tính tất yếu” Chẳng hạn “dòng sông” là một

Trang 21

biểu tượng thuộc hệ biểu tượng nước trong văn hóa nhân loại bởi những đặc điểm bản thể mang tính vật chất của thực thể này như nguồn nước, dòng chảy liên tục…và các ý nghĩa mà con người có thể liên tưởng từ thực thể thiên nhiên này như dòng chảy của thời gian, dòng chảy của cuộc đời, nguồn sống, nguồn chết, sức mạnh thanh tẩy, khả năng tái sinh…có một mối quan hệ nội tại, tất yếu Như vậy, ở biểu tượng, giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt luôn tồn tại mối quan hệ về bản chất

Chính mối quan hệ mang tính có lí do, tính tất yếu giữa hai mặt của biểu tượng là điểm chủ yếu để phân biệt biểu tượng với các tín hiệu quy ước thuần túy đúng như J.Chevaillier đã chỉ ra rằng: “Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [2, tr 420]

Thứ hai, khác với các dấu hiệu, kí hiệu thông thường luôn mang tính đơn

trị thì biểu tượng lại luôn mang tính đa trị bởi trong mối quan hệ giữa hai mặt của biểu tượng, cái được biểu trưng “không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này” [2, tr 413] Nếu như các kí hiệu, dấu hiệu thông thường, tỉ lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là 1:1(một cái biểu đạt, một cái được biểu đạt) thì dung lượng giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng trong biểu tượng không phải là tỉ lệ 1:1,“chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt, hoặc giản đơn hơn, cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt” [2, tr 414], hay nói cách khác, trong biểu tượng có sự

“không thích hợp giữa tồn tại và hình thức …sự ứ tràn của nội dung ra ngoài hình thức biểu đạt của nó” (Tevezan Todorov) [2, tr 417]

Thứ ba, theo TS Nguyễn Thị Ngân Hoa, biểu tượng còn có một đặc

trưng nữa là tính sản sinh: “Biểu tượng khác cơ bản với các dấu hiệu, kí hiệu

Trang 22

khác (kể cả tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên) ở chỗ, ngoài chức năng thay thế, chức năng biểu hiện, chức năng giao tiếp, chức năng quan trọng nhất của biểu tượng là chức năng thẩm mĩ: sản sinh ra các hình tượng nghệ thuật” [15, tr 17] Con đường sản sinh biểu tượng ngôn ngữ bắt đầu từ “mẫu gốc” hay còn gọi là “nguyên mẫu”, “nguyên hình huyền thoại”, “nguyên sơ tượng” hay

“siêu mẫu” Trong thực tế cuộc sống “bản tổng kết đã được công thức hóa của khối kinh nghiệm to lớn của các thế hệ tổ tiên” có thể đi vào đời sống văn hóa

và đời sống nghệ thuật Khi đi vào đời sống văn hóa, mỗi mẫu gốc có thể sản sinh ra nhiều biểu tượng văn hóa khác nhau mà “dấu vết của nó có thể được tìm thấy trong các thần thoại, truyền thuyết, nghi lễ, phong tục” [15, tr 20] Còn khi đi vào nghệ thuật, từ một mẫu gốc, một biểu tượng gốc sẽ sản sinh ra các biến thể loại hình Văn học là nghệ thuật ngôn từ nên cũng không nằm ngoài quy luật đó Chẳng hạn như biểu tượng gốc là “nước” nhưng khi đi vào trong tác phẩm thơ văn nó sẽ sản sinh ra các biến thể loại hình như: dòng sông, biển, suối, mưa, sương, sóng, thác…Trong loại hình nghệ thuật ngôn từ, biểu tượng bắt buộc phải rời xa đời sống, nguyên khởi của nó để khoác lấy cái

vỏ âm thanh ngôn ngữ Để giải mã một biểu tượng nghệ thuật, hoặc cảm thụ một tác phẩm giàu tính biểu tượng, chúng ta cần hiểu rõ: tư duy biểu tượng luôn đối nghịch với tư duy khoa học, không vận hành “theo lối rút gọn từ cái bội đến cái đơn mà bằng lối bùng nổ từ cái đơn đến cái bội” [15, tr 19] Vì vậy, con đường giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học sẽ phải đi từ cái

cụ thể như ngôn từ, các thủ pháp nghệ thuật…để tìm ra những cái hàm ẩn đằng sau những biểu tượng ngôn từ

Như vậy, từ những đặc trưng cơ bản của biểu tượng ta thấy giải mã biểu tượng chính là con đường để tiếp cận những giá trị đích thực của một tác phẩm văn học

Trang 23

1.1.3 Biểu tượng trong văn học nghệ thuật – một loại hình tượng đặc biệt

1.1.3.1 Tính thống nhất giữa biểu tượng và hình tượng

Văn học là hình thức nghệ thuật ngôn từ, nó phản ánh hiện thực cuộc sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người thông qua các hình tượng nghệ thuật Bên cạnh đó, sức sống của các tác phẩm văn học, tính đa nghĩa của một tác phẩm văn học một phần là nhờ các biểu tượng nghệ thuật Vậy hình tượng và biểu tượng khác nhau có mối quan hệ với nhau ra sao?

Hình tượng nghệ thuật là phương tiện đặc thù của nghệ thuật nhằm phản ánh cuộc sống một cách sáng tạo, bằng những hình thức sinh động, cảm tính, cụ thể như bản thân đời sống, thông qua đó nhằm lí giải, khái quát về đời sống, gắn liền với một ý nghĩa tư tưởng, cảm xúc nhất định, xuất phát từ lí tưởng thẩm mĩ của nghệ sĩ Mỗi hình tượng là một tế bào làm nên tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa đựng nội dung cuộc sống, những thông tin về đời sống, những quan niệm, cảm xúc của tác giả Còn biểu tượng theo TS Nguyễn Thị Ngân Hoa: “Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm biểu tượng dùng để chỉ một thực thể gồm hai mặt: mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người (cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa

có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt tồn tại cảm tính đó nhưng không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này (cái được biểu trưng) [15, tr 15]

Biểu tượng và hình tượng là hai mặt biểu hiện tồn tại trong cùng một tác phẩm thuộc phạm trù nghệ thuật Chúng có mối tương quan và gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành nên một tác phẩm nghệ thuật Dưới góc độ nghệ thuật thì biểu tượng được xem là một dạng chuyển nghĩa trong ngôn từ nghệ thuật và là một phạm trù thẩm mỹ Nó được xác lập bởi

hai yếu tố cơ bản: một bên là hình tượng nghệ thuật (ký hiệu biểu thị), một

Trang 24

bên thuộc về nghĩa bóng (ký hiệu ẩn dụ) Biểu tượng là hình tượng được hiểu

ở bình diện ký hiệu và phải là một ký hiệu hàm nghĩa (đa nghĩa) Như vậy

mọi biểu tượng trước hết phải là hình tượng (ký hiệu biểu thị), và mọi hình

tượng đều có thể trở thành biểu tượng (ký hiệu hàm nghĩa) Phạm trù biểu

tượng nhằm chỉ cái phần mà hình tượng vượt khỏi chính bản thân nó (ký hiệu

hiển ngôn) và luôn hàm chứa những ý nghĩa mang giá trị trừu tượng (ký hiệu

Tóm lại, sự thống nhất giữa hai bình diện của một tác phẩm nghệ thuật

- hình tượng nghệ thuật và nghĩa hàm của nó - có thể hoặc là đương nhiên, sẽ dẫn đến sự hình thành biểu tượng (hoặc là ẩn kín, hoặc là bộc lộ) Ở mức giới hạn của quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi yếu tố của hệ thống nghệ thuật

như: ẩn dụ, phúng dụ, tỉ dụ, dụ ngôn, ngụ ngôn, các chi tiết nghệ thuật, hình

Trang 25

tượng nhân vật, ngôn từ, v.v đều có thể trở thành biểu tượng Song, quá

trình biểu tượng hoá có thực hiện được hay không là còn tuỳ thuộc vào các

điều kiện sau: Độ đậm đặc mang tính khái quát cao trong tác phẩm nghệ

thuật; ý đồ của tác giả có muốn hướng tới sự biểu tượng hoá trong tác phẩm hay không; văn cảnh tác phẩm, khi nghĩa hàm của các hình tượng tự bộc lộ, không theo ý định của tác giả mà điều này còn bị quy định bởi lôgíc tâm lý của tuyến nhân vật và sự phát triển về mặt tình huống trong tác phẩm; văn cảnh văn học

- nghệ thuật được quy định bởi thời đại và văn hoá, tức là tính lịch sử và tính nghệ thuật trong tác phẩm

Có thể nói biểu tượng là một hình ảnh tượng trưng mang tính chất thông điệp được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật nhằm chỉ ra một ý nghĩa nào đó, theo một quan hệ ước lệ giữa sự vật trong thông điệp và sự vật ngoài nó Biểu tượng có hai mặt: "cái biểu đạt" và "cái được biểu đạt" Hai mặt này được kết hợp theo sự liên tưởng và theo một quan hệ ước lệ nào

đó Biểu tượng bao giờ cũng có: tính chất biểu hiện một cái gì bằng sự vật có hình ảnh; đại diện cho một cái gì đó, nhằm gợi lên một cái gì theo liên tưởng; tính ước lệ; mã (ký hiệu) và biểu hiện những giá trị mang tính nhân văn

Về mặt chức năng, biểu tượng còn mang tính thay thế (vật môi giới) Biểu tượng không những thay thế cho các đối tượng hiện thực, mà còn thay thế tất cả các quá trình, cả hình tượng, ý niệm của con người Chức năng thay thế là một trong những đặc điểm của biểu tượng Bên cạnh đó, nó còn có những thuộc tính và chức năng khác như: chức năng giáo dục, liên kết, dự

báo, giao tiếp, thông tin v.v Quá trình thay thế trong lĩnh vực nghệ thuật

thường diễn ra một cách ước lệ và ẩn dụ, để nói lên một giá trị, một tư tưởng

nào đó của con người Cũng như hình tượng nghệ thuật, biểu tượng cũng mang tính khái quát cao về các hiện tượng của đời sống Điều đó đã dẫn đến

sự gần gũi với hình tượng nghệ thuật

Trang 26

1.1.3.2 Những yếu tố khác biệt giữa hình tượng và biểu tượng

Xét bên ngoài hình tượng và biểu tượng ít có sự khác biệt Biểu

tượng tuy có sự tương tác, với hình tượng nhưng không đồng nhất hoàn toàn

với hình tượng và không phải mọi hình tượng đều trở thành biểu tượng Có

thể nói hình tượng là một ký hiệu thông thường còn biểu tượng lại là một loại siêu ký hiệu Nhìn chung, hình tượng và “nghĩa hàm” (đa nghĩa) là hai cực

không tách rời nhau của một biểu tượng Bởi lẽ, tách khỏi hình tượng thì ý nghĩa sẽ mất tính biểu hiện, mà tách khỏi ý nghĩa thì hình tượng sẽ bị phân rã trở thành hình tượng thông thường, không còn là biểu tượng

Do vậy, một hình tượng nghệ thuật (ký hiệu nghệ thuật) nào đó chỉ

dừng lại ở tính đơn nghĩa, chưa có sự hàm nghĩa để trở thành một biểu tượng,

thì đó chỉ là một hình tượng đơn thuần nghèo nàn về nội dung, kém về tính thẩm mỹ Nó khó có thể gây xúc động trong lòng người cảm thụ và sẽ mai một, không tồn tại lâu dài mãi với thời gian Chẳng hạn, hình tượng Chí

Phèo và Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nếu thiếu bát cháo

hành thì tác phẩm sẽ thiếu đi mất tính biểu tượng (giá trị nhân văn), mà chỉ

còn lại tính hình tượng (giá trị nghệ thuật) Hai nhân vật nói trên là hai hình tượng điển hình của tác phẩm, mang tính chất đơn nghĩa

Nhưng biểu tượng được bộc lộ chính là ở đặc tính phân ly và liên kết giữa chúng Khi có sự hội nhập vào biểu tượng thì hình tượng trở nên lung linh và trong suốt, ý nghĩa sẽ xuyên thấm qua nó trở thành nghĩa hàm, có chiều sâu và có giá trị Nghĩa của biểu tượng là cái không thể nhận thấy gián tiếp theo kiểu tư duy logic và nắm bắt được nó bằng nỗ lực của lý trí mà cần

có sự thâm nhập trực tiếp để có thể giải mã bằng quá trình liên tưởng và bằng kinh nghiệm bản thân của người cảm thụ Đó cũng là chỗ khác biệt căn bản của biểu tượng so với hình tượng Biểu tượng khác với hình tượng, bởi hình tượng chỉ mang tính đơn nghĩa, nó chỉ đại diện cho một đối tượng cụ

Trang 27

thể, duy nhất, không thể nào khác được Tính đa nghĩa sẽ có hại cho hoạt động chức năng của hình tượng nghệ thuật (ký hiệu biểu thị) Ngược lại với

hình tượng, biểu tượng luôn mang tính đa nghĩa và nó bao hàm rộng hơn cái ý

nghĩa mà người ta gán cho nó Điều đó không thể có được ở các dạng thức ký hiệu biểu thị Bởi lẽ ở mỗi biểu tượng có một sức vang vọng cốt yếu và tự sinh Cái dư âm đó thúc giục ta liên tưởng tiếp theo để tìm ra chuỗi ý nghĩa mới Biểu tượng thực sự có tính cách tân Nó không dừng lại ở chỗ tạo nên những dư âm vang vọng đơn thuần, có sức liên tưởng mà nó còn thúc đẩy

sự biến đổi về chiều sâu của ý nghĩa Thực chất của biểu tượng sẽ mất đi hoàn

toàn nếu như khép lại sự bất tận về tính đa nghĩa của nó bằng sự giải thích theo lối đơn nghĩa Tức là bằng sự giải thích cuối cùng cho một đối tượng

Khi xác định sự khác biệt về mối liên hệ giữa hình tượng nghệ thuật và biểu tượng trong tác phẩm, cần nhấn mạnh bản chất hai mặt của biểu tượng Một mặt nó vẫn giữ mối liên hệ với việc thể hiện tính hiện thực (tính

hình tượng); mặt khác là nó mang tính tượng trưng (tính biểu tượng) biểu đạt

về một giá trị, mang tính trừu tượng, phi hiện thực, khó cảm nhận được Hai quá trình này luôn mâu thuẫn và thống nhất với nhau Tính hai mặt của biểu tượng đã nói lên vai trò của tượng trưng trong nghệ thuật Biểu tượng có thể đưa người đọc, người xem vào lĩnh vực phi lý đồng thời lại là phương tiện để

khái quát về một giá trị, một ý nghĩa nào đó của hiện thực Điều đó nói

lên biểu tượng khi thì tách xa, khi thì xích lại gần với hình tượng nghệ thuật, nhiều khi nó lại có những nét và những thuộc tính của hình tượng nghệ thuật

Và, nếu lặp đi lặp lại nhiều lần, hình tượng nghệ thuật sẽ trở thành biểu tượng

Biểu tượng không chỉ biểu thị một sự việc, nó đã hoàn thành, mà còn biểu thị cái đang phát triển Chẳng hạn, ngọn đuốc tượng trưng cho sự khai sáng, tiến bộ; cờ đỏ tượng trưng cho cách mạng Trong các tác phẩm nghệ thuật có giá trị và nổi tiếng, chúng ta thường hay gặp những biểu tượng biểu

Trang 28

thị cho sự tiến bộ, phản kháng sự lạc hậu hoặc mang ý nghĩa khẳng định công

lý và chủ nghĩa nhân đạo Trong nó tập trung những tình cảm và ước vọng cao cả Do đó, một đặc điểm cực kỳ quan trọng của biểu tượng là cơ cấu cảm xúc của nó Bất kỳ một biểu tượng nào cũng đều mang trong cấu trúc của nó một hệ số cảm xúc nhất định Giữa quan hệ với thực tế thể hiện trong hình tượng nghệ thuật và cảm xúc được ghi nhận trong biểu tượng có sự khác biệt, đương nhiên đối với người cảm thụ nghệ thuật Trong hình tượng nghệ thuật, tổng hợp cảm xúc chủ yếu của tác phẩm hoà vào sự miêu tả thực tế và sự thể hiện cụ thể cảm tính Còn cơ cấu cảm xúc của biểu tượng nói lên khát vọng, mong muốn vươn tới giá trị - chân lý của con người Mặc dù cơ cấu cảm xúc của biểu tượng và quan hệ thực tế thể hiện trong hình tượng nghệ thuật khác nhau, nhưng lại đưa biểu tượng và hình tượng xích lại gần nhau

Do đó những tác phẩm hay và có giá trị luôn luôn có sự trùng khớp giữa hình tượng nghệ thuật với biểu tượng Và, chúng tạo nên những xúc cảm mạnh

mẽ đến người cảm thụ Đó là những tác phẩm luôn luôn sống mãi và trở thành bất tử với thời gian Và nếu hình tượng nghệ thuật tạo nên giá trị thẩm

mỹ thì biểu tượng văn hóa mang lại cho tác phẩm giá trị nhân văn

1.2 Hành trình sáng tác thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975

Hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật, với hơn hai chục tập thơ trĩu nặng những suy tư, trăn trở, những lo toan, trách nhiệm với cuộc sống, thiết tha lòng yêu người, yêu đời và một phong cách độc đáo, có thể nói Tế Hanh đã bộc lộ một cách trọn vẹn tài năng của mình Trong cả đời thơ dài ấy, nguồn cảm xúc trong thơ Tế Hanh không hề vơi cạn, vẫn luôn dạt dào, tươi mới, vẫn giữ cho mình một cách nhìn đời nhân ái, chân tình Như một dòng sông nhỏ, nhưng là nguồn tình cảm trong lành và bền vững, thơ Tế Hanh không có những mùa gặt hái lớn nhưng năm tháng nào cũng có hoa lành, quả ngọt, đặc biệt là giai đoạn 1945 - 1975

Trang 29

1.2.1 Thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1954

Xuất hiện vào cuối phong trào Thơ mới, khi mỗi nhà thơ là một cái tôi kín mít, một ốc đảo cô đơn, Tế Hanh không tránh khỏi những ảnh hưởng của thời cuộc, của thơ Tế Hanh sớm khẳng định được vị trí của mình Tuy nhiên, điểm khác của nhà thơ Tế Hanh so với các nhà thơ lãng mạn cùng thời là buồn, cô đơn mà không bế tắc; gắn bó với quê hương, cuộc sống Tế Hanh đem đến cho Thơ mới những bài thơ hồn nhiên, trong trẻo Tế Hanh đã tô thêm màu sắc, bồi đắp thêm những giá trị mới cho thơ lãng mạn vào chặng cuối của nó

Chế Lan Viên đã từng nói: “Anh không phải chống lại mình, chống lại một thiên đường địa ngục gần gũi hay xa xôi nào để đi vào cách mạng Vào cách mạng rồi, anh cũng không phải dừng lâu bất tận hay sa lầy trong một giai đoạn ấu trĩ nào…” [22, tr 388] Quả thật, cách mạng tháng Tám thành công đã đưa Tế Hanh và những nhà thơ mới trở về với mảnh đất thực của cuộc đời Con đường Tế Hanh đến với cách mạng có phần gần gụi hơn so với Xuân Diệu, Chế Lan Viên…Tuy nhiên, để trở thành nhà thơ cách mạng, Tế Hanh cũng phải tự mình vượt qua tất cả: “Sang bờ tư tưởng ta lìa ta Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà” Trước hết là một sự chuyển đổi trong nhận thức, trong cách sống như ông đã nhận thấy cuộc Cách mạng tháng Tám đã giúp ông thấy được và thoát được “cái buồn, cái bơ vơ”, thấy mình không dính dáng gì với cuộc sống chung quanh… Cái ý thức gắn với vận mệnh của Tổ quốc, của dân tộc, đó là kết quả to lớn nhất mà cuộc cách mạng đã đem lại cho chúng tôi Tôi thấy tâm hồn mình giàu có hơn trước Tôi đã yêu những cái mà trước kia tôi không biết yêu Tôi đã ghét những cái mà trước kia tôi ghét không đúng mức Và tôi có những sướng khổ mới …”

Cũng như nhiều nhà thơ khác, trong những ngày đầu cách mạng, Tế Hanh hết mình tham gia công tác cách mạng và kháng chiến chống Pháp Bởi

Trang 30

vậy có một sự hòa nhập thật sự ở nhà thơ và người cán bộ cách mạng trong ông, để từ đó có được một “nhà văn nghệ của chính quyền dân chủ nhân dân” như Tế Hanh tâm sự:

Hỡi người bạn! Hãy nhập vào đại chúng Cuộc đời riêng hòa với cuộc đời chung

Như con sông dặm ngàn tìm lẽ sống Vào đại dương cho thỏa chí vô cùng

Ta là một, ta vừa là tất cả Nhập vào đời, ta sẽ thấy tôi hơn

(Tâm sự) Với sự chuyển đổi trong nhận thức, trong cách sống, cách nghĩ, cách cảm đã tạo nên những cách tân rõ rệt trong thơ Tế Hanh Đối với Tế Hanh, quả là “cách mạng đã sinh thành cho hai số kiếp: một kiếp người và một kiếp thơ” Tế Hanh chuyển đổi cái Tôi công dân qua cái Tôi hành động Hai tập

thơ Hoa mùa thi (1949) và đặc biệt Nhân dân một lòng (1953) đã ghi nhận

bước chuyển quan trọng này trong thơ Tế Hanh Lúc này, chủ thể nhà thơ không xuất hiện trong trạng thái tĩnh, trầm tư, trữ tình mà trực tiếp tham gia vào các hoạt động kháng chiến, cảm nhận hiện thực mới một cách có ý nghĩa Thơ ông giờ đây xuất hiện những nhân vật trữ tình mới, khỏe khoắn, đặc biệt những người chị, người mẹ, những người cán bộ, chiến sĩ thi đua trong phong

trào sản xuất, chiến đấu Người đàn bà Ninh Thuận trong tập Lòng miền Nam

tiêu biểu cho bước chuyển tìm được chất thơ ở những gì ngoài mình Đi về hướng dân tộc, hướng đại chúng nhưng không rơi vào giản đơn, sơ lược, biết gạt bỏ phương tiện cũ để tìm đến một cách nói mới, Tế Hanh đã khắc họa được hình ảnh một chị phụ nữ kháng chiến có bản lĩnh vững vàng Không khí căm thù bao trùm lên câu chuyện giữa một bên là nhà thơ luôn biết lắng nghe

và chia sẻ với từng nỗi niềm tâm sự và một bên là người phụ nữ đang ghìm

Trang 31

nén nỗi đau khổ của riêng mình: “Tôi mà đau khổ bao năm Chị em đau khổ gấp trăm gấp nghìn” Căm thù dồn lên trong lời khẳng định:

Bao giờ lịnh tổng phản công Chắc là đá cũng xuống đồng giết Tây

Núi rừng tất cả lá cây Không ghi hết tội của bầy chó kia

Tuy nhiên, những bước chuyển trong thơ không phải hoàn toàn suôn sẻ,

dễ dàng Những sáng tác trong kháng chiến chống Pháp của Tế Hanh còn thiên về tính thời sự cập nhật mà ít có giá trị nghệ thuật cao Đó cũng là sự ấu trĩ của một quan niệm quần chúng hóa dễ dãi về văn nghệ lúc đó Vì thế, thơ

Tế Hanh chưa có những bài thật hay và chưa tạo được âm vang trong lòng người đọc

1.1.2 Thơ Tế Hanh giai đoạn 1954 - 1975

Từ sau hòa bình lập lại cho tới đầu những năm 60, thơ Tế Hanh mới viết nhiều, viết khỏe và đạt độ chín Đó là kết quả của một quá trình phấn đấu

để có sự hòa nhập thật sự giữa cái “tôi” và cái “ta” Đất nước tạm chia cắt, Tế Hanh vui với miền Bắc có thêm nhiều công trình mới nhưng lại chạnh lòng xa xót quê hương miền Nam đang còn chịu nhiều đau khổ Tình yêu quê hương đậm đà, nỗi đau đất nước cách chia cùng nỗi niềm thương nhớ xa cách của tình yêu cùng một lúc hòa quyện tha thiết và xót xa trong chủ đề đấu tranh thống nhất đất nước

Nhà thơ từng kể lại: “Tôi bước vào giai đoạn mới trong sáng tác của

mình bắt đầu bằng hai bài Nhớ con sông quê hương và Chiêm bao viết năm

1956 Có thể nói từ những năm 1955-1956 đến hết cuộc chiến tranh năm 1975

là giai đoạn tôi viết được nhiều nhất và có nhiều bài thơ để lại trong trí nhớ người đọc” Có thể nói, Tế Hanh đã tìm được sự hòa hợp nhuần nhị của hồn thơ với chất thơ của đời sống Cả hai bài thơ đều chan chứa tình cảm nhớ

Trang 32

thương đến thấm thía, xót xa của nhà thơ trong những ngày đầu xa quê

hương Ở Chiêm bao, sau cái thảng thốt, bàng hoàng của nỗi lòng nhà thơ:

Chiêm bao bừng tỉnh giấc Biết là em đã xa

Trên tường một tia nắng Biết là đêm đã qua

Là sự tin tưởng vững vàng được tỉnh giấc:

Giấc chiêm bao đêm trước Soi sáng cả ngày sau

Đây là một bước tiến vượt bậc của hồn thơ Tế Hanh Ông đã tìm lại được mình với những nét chân thật trong tình cảm mới, tình cảm cách mạng Cái tôi trữ tình của nhà thơ không còn bó hẹp trong cái riêng tư mà mở rộng hòa hợp với cuộc đời chung, mang hơi thở nồng ấm của tình đời, tình người Cái ý thức “Giấc chiêm bao hôm trước Soi sáng cả ngày sau” là một nhận thức về

cuộc cách mạng Ở Nhớ con sông quê hương, bên cạnh nỗi niềm mong nhớ

quê nhà thấm thía là lòng yêu đất nước sâu sắc Với Tế Hanh, sự nghiệp đấu tranh thống nhất là một vấn đề tình cảm:

Có những trưa tôi đứng giữa hàng cây Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy…

Nỗi nhớ tràn đầy này đã trở thành tình cảm chủ yếu cho ba tập thơ liên

tiếp của Tế Hanh: Gửi miền Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương…Trong đó, Gửi miền Bắc là tập trội nhất về bản sắc thi sĩ, là một nỗi buồn luôn phảng

phất đôi lúc nhói lên sững sờ Trong cách diễn đạt, Tế Hanh không nói mạnh, nói sắc mà viết với giọng tâm tình, lành hiền, dễ thân:

Tôi muốn viết những bài thơ dễ hiểu Như những lời mộc mạc trong ca dao

(Gửi miền Bắc)

Trang 33

Tập thơ Tiếng sóng lại tiếp tục đánh dấu một bước chuyển biến mới nữa trong thơ ông Tiếng sóng kết hợp nhuần nhị chất tự sự và trữ tình, phần

hiện thực của đời sống và hiện thực của tâm trạng Tế Hanh đã thể hiện rõ nét cách nhìn mới về hiện thực, hiện thực được phản ánh thông qua tâm trạng và

cảm xúc sâu lắng của cái tôi nhà thơ Ở Tiếng sóng, Tế Hanh không chỉ viết

về mình và cũng không loại trừ mình mà viết nhiều về những cái “ngoài mình”, về những con người lao động với tất cả sự trìu mến thương yêu Đó là những bà con dân chài vật lộn sinh tử với thiên nhiên và quân thù để giành

giật lại đời sống (Ngoài khơi trong lộng); là những em thiếu nhi thà hy sinh chứ không chịu đầu hang quân giặc (Cái chết của em Ái, Em trả lời); những người thủy thủ tự nhận chìm tàu không để sa vào tay giặc (Người thủy thủ và con chim én); là anh Hải, chị Duyên chiến đấu hy sinh bất khuất ở miền Nam,

là anh Thủy, chị Yên và những người lao động khác đang xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc…và cả nhiều cuộc đời không tên, không tuổi Họ là những con người bình thường mà vô cùng vĩ đại, họ đã “Đem máu đào giữ miếng đất thiêng liêng” và “chống chọi với thiên nhiên” để giành sự sống, giữ gìn và bảo vệ Tổ quốc Những con người ấy hiện lên trong thơ khiến tập thơ có sức sống mới và có màu sắc khác với các tập thơ trước đây của Tế Hanh Trước đây, Tế Hanh chỉ miêu tả mình, nay Tế Hanh bắt đầu tả người, tả nhân vật Chế Lan Viên đã nói: “Sự xuất hiện của những em Ái, chị Duyên…nói rằng nhà thơ chuyên nói về những tâm trạng, nay đã có thể nói thêm qua các hành động, sự việc Là nhà thơ lâu nay chỉ nói đến nhân vật mình, nay có thể nói thêm về những nhân vật ngoài mình Tế Hanh đã làm giàu thêm mình bằng chất tiểu thuyết, chất đời, chất người qua các nhân vật và lối thơ kể chuyện” [22, tr 55] Như vậy, cái tôi trữ tình của nhà thơ đã phong phú, lớn lao, đã có

sự hóa thân của cái tôi trữ tình nhà thơ trong những nhân vật trữ tình Đó là kết quả của sự gắn bó với cuộc sống, con người mà ông hết lòng yêu thương:

Trang 34

Những người ấy với tôi là ruột thịt Trong lời thơ tôi gửi hết yêu thương Đến những ai không quen, không biết Cũng gần tôi trong hai tiếng quê hương

(Tiếng sóng)

Ngoài chủ đề đấu tranh thống nhất, trong tập thơ Tiếng sóng cũng có sự

mở rộng đề tài: bạn bè quốc tế, về Đảng, ngợi ca những đổi thay của miền Bắc những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội… Ở đề tài nào, Tế Hanh cũng thể hiện tấm lòng chân thành và yêu mến Trên hướng cảm xúc mới mẻ này,

Tế Hanh đã sống nhiệt tình, lặng lẽ bồi đắp tâm hồn và mở rộng cảm xúc của mình:

Cái nhìn mới giàu thêm cuộc sống Tiếng nói mới giàu thêm câu thơ

(Đọc thơ bạn) Thơ Tế Hanh do vậy mà càng ngày càng có sự mở rộng đề tài, cuộc sống và con người trong thơ ông ngày một sâu hơn, rộng hơn, khỏe khoắn, sôi động và dạt dào cảm hứng Đó cũng là cơ sở để Tế Hanh hoàn thành tiếp

những tập thơ Hai nửa yêu thương (1963), Khúc ca mới (1966), Đi suốt bài

ca (1970), Theo nhịp tháng ngày (1974)…Ở suốt chặng thơ dài này, cái tôi trữ

tình của Tế Hanh đã ở vị trí cao hơn, lớn hơn, hoàn tất cái tôi trữ tình công dân:

Ta đem thơ ca ngợi cuộc đời Không thể bằng lòng phòng nhỏ hẹp

Mà quên ánh sáng những chân trời

Tế Hanh có nhiều bài thơ hay về quê hương, đất nước, về cuộc chiến

tranh chống Mỹ như Nhớ con sông quê hương, Đi suốt bài ca…Nhà thơ

Thanh Thảo đã khẳng định: “Thơ Tế Hanh không có gì lạ lẫm, gần gũi như con đường làng, dòng sông, nhưng đọng lại trong ta rất lâu khi ta đã đi qua

Trang 35

Không chỉ thành công trong những bài thơ viết về quê hương, nhiều người cho rằng những áng thơ tình của Tế Hanh cũng đã để lại được những dấu ấn sâu đậm” Nhà thơ Ngô văn Phú đã từng nhận xét: “Có thể nói, sau Xuân Diệu, anh là người làm thơ tình nhiều nhất” Thơ tình của Tế Hanh không lãng mạn, bay bổng cũng không dằn vặt, khổ đau mà rất tự nhiên, gắn với hoàn cảnh, cuộc sống cụ thể, thế nhưng chính những điều tưởng như bình thường ấy lại biểu hiện được tình yêu, một trong những nhiệm vụ khó khăn đối với người cầm bút

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, đất nước thống nhất

mở ra một chặng đường mới trong thơ Tế Hanh Sau những năm tháng dài đằng đẵng xa quê, Tế Hanh được trở về Nam - nơi chôn rau cắt rốn của mình

mà tác giả vẫn hằn mong nhớ Tập thơ Giữa những ngày xuân (1977) ra đời

trong hoàn cảnh ấy Nhà thơ tiếp tục tìm tòi, sáng tạo làm nên vẻ đẹp mới ở hai tập

thơ cuối cùng: Con đường và dòng sông (1980) và Bài ca sự sống (1985)

Như vậy, con đường thơ Tế Hanh khởi nguồn từ phong trào Thơ mới đến nay là con đường đi “từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả” (Pôn Eluya) ngày càng rộng mở thênh thang và ông đã ghi dấu ấn riêng trong lòng người đọc nhiều thế hệ bởi bản sắc độc đáo của riêng mình Nhìn lại như trên để thấy rằng phải qua cả đời thơ, với nhiều cố gắng cố gắng bền bỉ, liên tục trong ý thức sống “gắn liền với thời đại chúng ta” và tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, cái tôi của Tế Hanh mới có được sự bồi đắp, mới hòa nhập thực sự được với cái ta cuộc đời Với tâm hồn tinh tế và dạt dào cảm xúc, Tế Hanh rung động trước mọi vấn đề của đời sống Và thi nhân đã nói lên tất cả những rung động ấy bằng tiếng nói chân thật, tha thiết từ trái tim giàu lòng yêu thương

Trang 36

Chương 2 CÁC LOẠI HÌNH ẢNH BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

2.1 Biểu tượng thiên nhiên

2.1.1 Hình ảnh biểu tượng dòng sông

Theo cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier, Alain

Gheerbrand cho rằng hình ảnh dòng sông hay dòng nước chảy tượng trưng cho khả năng của vạn vật, tính lưu chuyển của mọi dạng thể của sự sống và cái chết Biểu tượng dòng sông trên cao là dòng sông của những ân huệ, những ảnh hưởng của Trời Nó là biểu tượng của nước thượng giới, là dòng sông tẩy uế tất cả, cũng là công cụ cho sự giải thoát Các dòng sông còn gợi nên sự tôn kính và sự sợ hãi

Biểu tượng dòng sông tượng trưng cho đời người với chuỗi liên tiếp những mong ước, những tình cảm, những ý định và thiên hình vạn trạng những bước ngoặt Người bước xuống những con sông ấy thường nhận được những dòng chảy khác nhau, rồi lại khác, và từ những thế ẩm ướt ấy toát lên những linh hồn

“Quê hương ai cũng có một dòng sông”, điều đó lí giải tại sao hình ảnh con sông quê hương thường trở đi trở lại trong sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam Trải qua bao thăng trầm lịch sử, dòng sông vẫn luôn là nhân chứng kiên trì gắn bó với người dân Việt Nam qua bao thế hệ Tế Hanh có đến hơn chục bài thơ viết về sông, ngoài bốn bài thơ trực tiếp viết về con sông

quê: Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Trở lại con sông quê hương, Bài thơ mới về con sông xưa Chế Lan Viên đã từng nhận xét rất tinh rằng: “Dù

anh viết khá hay về biển, nghĩ đến anh tôi vẫn nghĩ đến cái êm đềm của

Trang 37

những dòng sông” [22, tr 162] Người ta luôn nhận thấy những dấu ấn của những con sông trên mọi miền Tổ quốc nối tiếp chảy trôi trên những trang thơ

Tế Hanh Từ sông Trà Bồng thơ mộng nơi ông đã sinh ra, đến sông Đáy, sông Hồng, sông Hiền Lương, sông Hiền, sông Hiếu, sông Gianh, Sông Đanuyt, sông Tiền Đường…những nơi ông từng sống và trải nghiệm Mỗi con sông là một kí ức, một trăn trở, hoài niệm, những suy tư, nỗi nhớ mà Tế Hanh muốn bộc bạch gửi trao với thơ ca, với cuộc đời Theo thống kê của chúng tôi trong

142 bài thơ của Tế Hanh giai đoạn 1945-1975 in trong Tuyển tập Tế Hanh thì

có đến 102 lần hình ảnh dòng sông xuất hiện

Trước hết, trong tâm khảm của Tế Hanh, những dòng sông êm trôi ấy

là biểu tượng cho quê hương, cho những dòng ký ức về thời thơ ấu của mình:

Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi

(Nhớ con sông quê hương) Với Tế Hanh, ấu thơ là những ngày tháng lớn lên và gắn bó thân thiết với con sông Trà Bồng trong xanh chảy qua vùng quê Bình Dương rồi quy tụ

ra biển Sa Cần Nơi đây bốn mùa nước sông trong xanh như thu hết vào lòng mình cảnh sắc của một miền quê yên ả với những đồi cây bạch đàn, bãi bắp nối tiếp nương khoai ruộng mía Điều đó giải thích tại sao những dòng sông luôn gợi lại cho nhà thơ những ký ức ngọt ngào, êm đềm và hạnh phúc

Nhớ con sông quê hương, Tế Hanh nhớ từng bờ tre xõa tóc, mặt nước, nhớ bà con mưa nắng ngoài đồng, chài lưới bên sông, nhớ cả những người không quen biết Hình ảnh quê hương hòa cùng những kỉ niệm tuổi thơ cùng

Trang 38

bạn bè như bầy chim non tụm năm tụm bảy lặn hụp trên sông Nỗi nhớ tuy có chút buồn day dứt mà vẫn tha thiết tin yêu Trong kỉ niệm, tình cảm của người con quê hương đã có sự công hưởng mãnh liệt với tình khúc của con sông quê

ân nghĩa đậm đà: “Tôi đưa tay ôm nước vào lòng Sông mở nước ôm tôi vào dạ” Với sự tài tình của Tế Hanh, hình ảnh con sông quê vô tri vô giác đã trở thành một sinh thể sống động, dạt dào ân tình Có lẽ vì thế mà thời gian có trôi, không gian có cách xa đến mấy thì những kỉ niệm nồng nàn về con sông quê vẫn luôn hiện diện trong tâm trí trở thành nỗi ám ảnh vô thường và khát khao da diết:

Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc Tôi nhớ cả những người không quen biết

Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây

(Nhớ con sông quê hương)

Kỷ niệm nồng nàn, trong trẻo ấy về con sông quê của một thời không

mờ dần với năm tháng mà trở thành vĩnh viễn:

Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!

Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ

(Nhớ con sông quê hương)

Và niềm tin yêu càng tha thiết trong tâm hồn Tế Hanh:

Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mong ước Tôi sẽ về sông nước của quê hương Tôi sẽ về sông nước của tình thương

(Nhớ con sông quê hương) Dòng sông quê hương thân yêu đã trở thành chứng nhân của lịch sử, biểu tượng cho một dân tộc tiềm tàng sức sống và ân nghĩa, ân tình, thủy chung, son sắt:

Trang 39

Khi xa nhau tóc tôi đen nhánh Nay trở lại nửa mái đầu nhuốm bạc Nhưng hình dáng con sông thì chẳng khác Vẫn một dòng xanh mát dịu dàng trôi

(Trở lại con sông quê hương) Những năm đất nước bị chia cắt, sự ngăn cách hai bờ Bắc Nam đã trở thành nỗi nhức nhối vô thường trong trái tim thi sĩ Trong thơ Tế Hanh lúc này xuất hiện nhiều những hình ảnh của sông Bến Hải, sông Hiền Lương – những địa danh hiện thân của giới tuyến ngăn cách Bắc Nam, là nỗi nhức nhối nghẹn ngào trong lòng nhà thơ Tế Hanh đã trò chuyện với sông như thổ lộ

một nỗi niềm tâm sự trong bài thơ Nói chuyện với Hiền Lương:

Hiền Lương ơi!

Lần thứ hai tôi đến Bốn năm qua Như trải mấy cuộc đời

(Nói chuyện với Hiền Lương) Vẫn là câu chuyện của một dòng sông nhưng là dòng sông của bao nỗi đau chia lìa Con sông Hiền Lương đã gây xúc động cho nhà thơ về tình cảnh đất nước ngăn cách hai bờ Bắc Nam Nỗi đau xót trào lên trước cảnh hai bờ làng xưa thân thuộc sớm trưa đi về, khoảng trời xanh bát ngát và dòng sông thân thương giờ bị giặc cách ngăn Thiên nhiên vẫn tươi đẹp nhưng cuộc sống thân thuộc lâu đời giữa hai bờ Nam Bắc lại thật nhiều đắng cay buồn tủi Câu hỏi tự nhiên mà nhức nhối:

Tôi chảy ngày đêm không nghỉ Hai bờ Nam Bắc nhìn đau Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị Tận chân trời mây núi có chia đâu

Trang 40

(Nói chuyện với Hiền Lương) Con sông Hiền Lương hiện lên tiêu điều, xót xa, một thực tế nghẹn đau:

Bến vắng bơ phờ cây rũ bóng Những con đò tắc lối sang ngang .Bên kia sông không ra vàng ra đỏ

Cờ ba que hoen ố cả không gian

(Nói chuyện với Hiền Lương)

và lòng người bị chia cách đằng đẵng:

Hai mươi năm lẻ chưa về lại Một chuyến đò ngang mấy nhịp chèo

(Qua bến Súc) Nói tới sông là nói tới sự trôi chảy nhưng những con sông trong thơ Tế Hanh lại tắc nghẹn nỗi đau chia cắt “Muối xát lòng tôi trên bến Cửa Tùng” Đứng trước bờ Hiền Lương, con sông phải mang tên giới tuyến, Tế Hanh đã viết lên những câu thơ đau xót tràn đầy nước mắt:

Sông Hiền Lương bên ấy, bên này Chống cửa giơ tay chừng với tới Bóng mái nhà ai ngả bên đây Chung một đò qua chung bến đợi

Như thế mà miền Nam miền Bắc Trăm thước vì sao rộng quá chừng Con sông hay là dao kéo cắt

Đắng cay hạt muối lệ rưng rưng

(Nước chảy ngang)

Ngày đăng: 06/07/2015, 16:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Xuân Diệu (1983), Tuyển tập thơ tháng 1, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ tháng 1
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1983
6. Phan Cự Đệ (1997), Văn học lãng mạn Việt Nam (1932-1945), Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam (1932-1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1997
7. Nguyễn Đình (1963), Hai nửa yêu thương, một tập thơ mới trong giai đoạn mới của Tế Hanh, Tạp chí Văn học, số 5 năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai nửa yêu thương, một tập thơ mới trong giai đoạn mới của Tế Hanh, Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Đình
Năm: 1963
8. Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam, Nxb ĐH và GD chuyên nghiệp 9. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại,Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam", Nxb ĐH và GD chuyên nghiệp 9. Hà Minh Đức (1998), "Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam, Nxb ĐH và GD chuyên nghiệp 9. Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb ĐH và GD chuyên nghiệp 9. Hà Minh Đức (1998)
Năm: 1998
10. Trinh Đường (1991), Tế Hanh - 70 Năm tuổi đời và tuổi thơ, Tạp chí Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tế Hanh - 70 Năm tuổi đời và tuổi thơ, Tạp chí Văn học
Tác giả: Trinh Đường
Năm: 1991
11. Nhiều tác giả (1984), Nhà thơ Việt Nam hiện đại, Nxb khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb khoa học Xã hội
Năm: 1984
12. Nhiều tác giả (1996), 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 1996
13. Lê Bá Hán (1998), Tinh hoa Thơ mới thẩm bình và suy ngẫm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ mới thẩm bình và suy ngẫm
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Tế Hanh (1987), Tuyển tập thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ
Tác giả: Tế Hanh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1987
15. Nguyễn Thị Ngân Hoa (2005), Sự phát triển ý nghĩa của hệ Biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn), Viện ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển ý nghĩa của hệ Biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngân Hoa
Năm: 2005
16. Bùi Công Hùng (2000), Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
17. Lê Quang Hưng (2002), Tế Hanh trong sách Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tế Hanh "trong sách" Lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Lê Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2002
18. Lê Quang Hưng (2002), Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước 1945, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước 1945
Tác giả: Lê Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 2002
20. Nguyễn Xuân Kính (1991), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1991
21. M. Bakhin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhin
Năm: 1992
24. Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Thành Thế Thái Bình (1995), Lí luận văn học tập III, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học tập III
Tác giả: Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Thành Thế Thái Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
25. Thiếu Mai (1970), Đi suốt bài ca, Tạp chí Tác phẩm mới, số 10 26. Thiếu Mai (1969), Đường thơ Tế Hanh, Tạp chí Văn học, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi suốt bài ca
Tác giả: Thiếu Mai
Nhà XB: Tạp chí Tác phẩm mới
Năm: 1970
27. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Nhà văn Việt Nam hiên đại - chân dung và phong cách, Nxb Trẻ, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam hiên đại - chân dung và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2000
28. Nguyễn Xuân Nam (1997), Tế Hanh - Một hồn thơ đậm tình đất nước, tạp chí Tác phẩm mới, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tế Hanh - Một hồn thơ đậm tình đất nước", tạp chí "Tác phẩm mới
Tác giả: Nguyễn Xuân Nam
Năm: 1997
29. Bàng Sĩ Nguyên (1964), Tế Hanh với hai nửa yêu thương, Báo Văn nghệ, số 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tế Hanh với hai nửa yêu thương", Báo "Văn nghệ
Tác giả: Bàng Sĩ Nguyên
Năm: 1964

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh - Những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975 ( Luận văn ThS. Văn học )
nh ảnh (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w