1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu tượng trong thơ thế hệ đổi mới (qua một số tác giả tiêu biểu)

136 14 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thơ Việt Nam hiện đại, như một xu thế chung, các tác giả đều coi trọng việc xây dựng hệ thống các biểu tượng, từ đó, hình thành nên thế giới thơ riêng biệt mang đậm dấu ấn của chủ

Trang 1

NGUYỄN THỊ YẾN

BIỂU TƢỢNG TRONG THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI

(QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN, 2018

Trang 2

NGUYỄN THỊ YẾN

BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI

(QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 822.01.20 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THỊ HỒ QUANG

NGHỆ AN, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn Biểu tượng trong thơ thế hệ Đổi mới (Qua một

số tác giả tiêu biểu), trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô

khoa Sư phạm Ngữ văn, trường Đại học Vinh đã hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt hai năm học vừa qua Đặc biệt, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên, TS Lê Thị Hồ Quang, người đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và đồng hành với tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Cùng với

đó, tôi muốn gửi lời tri ân tới gia đình, bạn bè, người thân - những người đã luôn ủng hộ, cổ vũ tinh thần và giúp đỡ, tương trợ tôi Tất cả sự giúp đỡ ấy luôn có một ý nghĩa lớn lao và đặc biệt đối với tôi

Vinh, ngày 15 tháng 07 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Yến

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 9

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp mới của luận văn 11

7 Cấu trúc của luận văn 11

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI 12

1.1 Khái niệm biểu tượng 12

1.1.1 Biểu tượng như một ký hiệu ngôn ngữ 12

1.1.2 Biểu tượng như một ký hiệu văn hóa 15

1.1.3 Biểu tượng như một ký hiệu nghệ thuật 17

1.2 Khái lược về các nhà thơ thế hệ Đổi mới 20

1.2.1 Khái niệm nhà thơ thế hệ Đổi mới 20

1.2.2 Một số gương mặt nhà thơ nổi bật của thế hệ Đổi mới 21

1.3 Ý nghĩa, giá trị và cơ sở xã hội - thẩm mỹ của biểu tượng trong sáng tác của các nhà thơ thế hệ Đổi mới 27

1.3.1 Khái lược về ý nghĩa, giá trị của hệ biểu tượng trong thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới 27

1.3.2 Cơ sở xã hội - thẩm mỹ của phương thức mô tả đời sống bằng biểu tượng trong thơ thế hệ Đổi mới 28

Chương 2 CÁC NHÓM BIỂU TƯỢNG VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ CÁC TÁC GIẢ THẾ HỆ ĐỔI MỚI 32

2.1 Các nhóm biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới 32

2.1.1 Nhóm biểu tượng về thế giới tự nhiên và đời sống thế tục 32

2.1.2 Nhóm biểu tượng về thế giới tâm linh 36

2.1.3 Nhóm biểu tượng về những giá trị văn hóa dân tộc 39

Trang 5

2.1.4 Nhóm biểu tượng về tình yêu và sức mạnh dục tính 43

2.1.5 Nhóm biểu tượng về hoạt động sáng tạo nghệ thuật 49

2.2 Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới 52

2.2.1 Đẩy biểu tượng lên bề mặt của văn bản 52

2.2.2 Tô đậm tính chất kì vĩ, lớn lao hoặc dị thường của biểu tượng 55

2.2.3 Mô tả biểu tượng qua những cảm giác vận động trực tiếp, cụ thể 57 2.2.4 Gia tăng khoảng trống giữa câu chữ, hình ảnh khi xây dựng biểu tượng 59 Chương 3 BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ BA TÁC GIẢ NỔI BẬT CỦA THẾ HỆ ĐỔI MỚI: NGUYỄN QUANG THIỀU, MAI VĂN PHẤN, INRASARA 63

3.1 Biểu tượng trong thơ Nguyễn Quang Thiều 64

3.1.1 Biểu tượng làng Chùa 64

3.1.2 Biểu tượng sông Đáy 69

3.1.3 Biểu tượng nấm mộ 73

3.1.4 Biểu tượng Cây ánh sáng 79

3.2 Biểu tượng trong thơ Mai Văn Phấn 83

3.2.1 Biểu tượng Ánh sáng - Bóng tối 84

3.2.2 Biểu tượng Nước - Lửa 89

3.2.3 Biểu tượng Bầu trời - Đất đai 96

3.3 Biểu tượng trong thơ Inrasara 105

3.3.1 Biểu tượng tháp Chàm 106

3.3.2 Biểu tượng sông Lu 109

3.3.3 Biểu tượng cây xương rồng 114

3.3.4 Biểu tượng vũ nữ Chàm Apsara 117

KẾT LUẬN 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

DANH MỤC TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU 128

Trang 6

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Nxb: Nhà xuất bản

Tp: Thành phố

Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số trang

đứng sau Ví dụ: [6; 21] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo là 6 nhận định trích dẫn nằm ở trang 21 của tài liệu này.

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Hiện nay, trong nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại, tiếp cận thơ

ca theo hướng biểu tượng đang dành được nhiều quan tâm, chú ý Điều này, một mặt xuất phát từ tính chất đa nghĩa, phức tạp và khó lý giải của biểu tượng; mặt khác việc khám phá từ góc nhìn biểu tượng sẽ giúp người nghiên cứu mở ra những ý nghĩa độc đáo, thú vị của văn bản thơ Trong thơ Việt Nam hiện đại, như một xu thế chung, các tác giả đều coi trọng việc xây dựng

hệ thống các biểu tượng, từ đó, hình thành nên thế giới thơ riêng biệt mang đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo

1.2 Thơ Việt Nam sau 1975, đặc biệt từ công cuộc Đổi mới (12/1986)

đã có những bước chuyển mình đầy mạnh mẽ Một thế hệ các nhà thơ mới ra đời, gây được tiếng vang và sớm khẳng định bản lĩnh của mình trên thi đàn

Có thể kể đến những tên tuổi như Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Dư Thị Hoàn, Trần Quang Quý, Trần Hùng, Inrasara, Trần Tiến Dũng, Trương Đăng Dung,

Đỗ Minh Tuấn, Đỗ Trọng Khơi, Trần Anh Thái, Nguyễn Việt Chiến, Đặng Huy Giang, Giáng Vân, Nguyễn Linh Khiếu… Trong đó, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara được xem là những đại diện nổi bật của thơ Việt thời Đổi mới Nếu Nguyễn Quang Thiều được xem là đại diện tiên phong, mở đầu cho xu hướng cách tân thơ Việt sau 1975; Mai Văn Phấn là người nối tiếp và làm phát triển thêm thành tựu cho thơ giai đoạn này thì Inrasara được xem là thi sĩ tiêu biểu cho giai đoạn cuối của thơ Đổi mới, tạo tiền đề sáng tạo cho lớp các nhà thơ trẻ sau này Họ là những người đã giúp cho thơ Việt có nhiều khởi sắc và đóng góp tiếng nói tích cực trên thi đàn cả trong và ngoài nước Họ là ba gương mặt mang ba phong cách thơ khác nhau

Trang 8

nhưng đều có chung một đích đến: làm phát triển thêm tiếng nói của thơ dân tộc trong cái nhìn của bạn đọc trong và ngoài nước

1.3 Trong thế giới thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới, biểu tượng được xem là một phương diện, thủ pháp nghệ thuật độc đáo Từ hệ thống các biểu tượng nổi bật, người đọc có thể “lần” ra những dấu chỉ hiệu quả để có cách nhìn và lý giải mới, độc đáo về con người và thế giới xung quanh trong sáng tác của các nhà thơ Đổi mới Nhờ vậy, việc đọc/ tiếp nhận văn bản thơ qua

“kênh” biểu tượng được xem là một cách đọc có - hiệu - quả cho các hiện tượng thơ lâu nay vẫn bị/ được xem là “khó” của thơ Việt đương đại Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề biểu tượng trong thơ các tác giả thuộc thế hệ Đổi mới vẫn được ít người quan tâm, tìm hiểu

Vì những lí do trên chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài:

“Biểu tượng trong thơ thế hệ Đổi mới” (Qua một số tác giả tiêu biểu)

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Cho đến nay, thơ Việt Nam thời kỳ Đổi mới là đối tượng nghiên cứu của khá nhiều công trình khoa học Tuy nhiên, vấn đề biểu tượng trong thơ Việt Nam thời kỳ Đổi mới vẫn chưa được nghiên cứu sâu Những công trình, bài viết về đề tài này chủ yếu mới chỉ dừng lại ở một số tác giả, tác phẩm cụ thể, hoặc chỉ là những ý kiến kết hợp nói thêm khi bàn đến những vấn đề khác của thơ Đổi mới Sau đây là những ý kiến nhận định, đánh giá tiêu biểu

Trang 9

quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm riêng về đời sống Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời lý thuyết khô khan mà phải hóa thân vào chữ nghĩa và hình tượng Đó là lý do khiến các nhà thơ sau 1986 chú

ý nhiều hơn đến tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ ca Bên cạnh xu hướng đưa thơ gần với đời sống là một cực khác: ý thức tạo ra tính nhòe mờ trong ngôn ngữ và biểu tượng Xu hướng này muốn gia tăng chất ảo trong thơ, buộc người đọc phải giải mã các sinh thể nghệ thuật qua nhiều chiều liên tưởng văn hóa khác nhau” [5]

Nhà phê bình Lê Hồ Quang trong bài viết Tư duy thơ Việt Nam sau

1975 qua sáng tác của một số tác giả thế hệ Đổi mới (2016) mặc dù không

trực tiếp bàn về vấn đề biểu tượng trong thơ thế hệ Đổi mới, tuy nhiên, khi phân tích về sự đổi mới trong mặt kết cấu thơ, cụ thể là chất liệu thơ đã mô tả

về những biểu tượng phổ biến trong thơ thế hệ Đổi mới: “Không ngẫu nhiên

mà trong thơ Nguyễn Quang Thiều xuất hiện phổ biến hệ sinh vật “cấp thấp”

hiếm gặp trong thơ trước đó, chẳng hạn ốc sên, rắn, chó, mèo, chuồn chuồn, cào cào…; những sự vật, sự việc bình thường, thậm chí tầm thường trong thơ Mai Văn Phấn: chiếc tất, buồng chuối, tiếng giã giò, ăn dưa hấu, ăn bánh, tắm biển, xem tivi…; hoặc đời sống đường phố trong thơ Inrasara: bia 333, hát karaoke, say xỉn, bụng bia, ly đen, quán café, cô gái mười bảy bán bia ôm Sài Gòn… Dù mục đích và cách sử dụng chất liệu có khác nhau, song chúng

đều được nhìn qua lăng kính nhân sinh phổ quát và gắn liền với đời sống con người ở thì hiện tại Song hành và có phần “lấn át” chất liệu đời thực là các chất liệu “siêu thực”, những chất liệu dường như chỉ tồn tại trong giấc mơ và

trí tưởng tượng hoang dại Một thế giới của những khu rừng ma, con hươu

ma, những con chim ngủ yên trong mặt trăng bằng nước, những ngọn nước rào rào chảy ngược, cơn giông trong suốt, bầy ngựa phi tím tái lưng

Trang 10

trăng… trong thơ Nguyễn Bình Phương hay những ảo giác kỳ dị, lạ lùng

trong thơ Trần Tiến Dũng là những ví dụ…” [28]

Nhà thơ Mai Văn Phấn trong công trình Khuynh hướng cách tân trong thơ Việt Nam sau 1975 (2016) đã đề cập đến những cách tân, đổi mới của thơ

sau 1975 Trong đó, khi nhắc đến sự thay đổi, cách tân về đề tài đã nhận xét:

“Các nhà thơ cách tân đã kết hợp hài hòa giữa cái “Tôi” trong Thơ Mới, tính

“đại tự sự” trong thơ thời chiến với tâm thức mở nhiều chiều của đời sống văn minh hiện đại Sự kết hợp ấy được đẩy xa một khoảng cách bằng những ẩn

ức, trực giác, mê sảng,… bằng những mô-đun, lát cắt, biểu tượng, để bạn đọc bình tĩnh minh định nó trong một thế giới thơ mới lạ” [26; 368] Như vậy, theo tác giả này, biểu tượng chính là một trong những phương tiện nổi bật khiến thơ thế hệ Đổi mới phản ánh được những ẩn ức, trực giác, mê sảng của con người trong sự nới rộng phạm vi mô tả hiện thực của các tác giả

2.2 Các công trình, bài viết về biểu tượng trong thơ một số tác giả tiêu biểu thuộc thế hệ Đổi mới

Tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên trong công trình Inrasara - người thơ trầm tưởng (2003) viết về những biểu tượng gắn với văn hóa Chăm, con

người Chăm trong thơ Inrasara: “Hình ảnh tháp Chàm đi vào thơ Inrasara với đầy đủ trạng thái: tháp nắng, tháp lạnh, tháp nghiêng, tháp đợi mà mỗi trạng thái là một biểu tượng đẹp về quê hương vừa linh thánh lại vừa gần gũi Nhịp

vỗ Ginăng, Baranưng, tiếng kèn Saranai và thanh âm, sắc màu lễ hội cũng ùa vào thơ anh đôi khi như ký ức đồng vọng, đôi khi là thực tại tha thiết gọi mời

Và dòng sông Lu như sợi chỉ xanh trằn trọc vắt qua làng dệt kia cứ thao thiết tắm gội ngữ ngôn anh, dạy anh cách vươn nhìn và giở ra những vòm trời mới

của sáng tạo khi xuôi về biển cả cuộc đời” [22]

Trong Thơ sinh ra để nói về niềm hi vọng của con người (2011), tác giả

Văn Giá đã dành một mục (trong tổng số ba mục của bài viết) để nói về một

Trang 11

trong những đặc trưng của thế giới thơ Mai Văn Phấn - đó là sự xuất hiện dày đặc của các biểu tượng Cụ thể, trong công trình này, tác giả bài viết đã phân tích về ba hình ảnh mà theo ông là “cô đọng nhất, chụm nhất nên trở thành tiêu biểu nhất” trong thơ Mai Văn Phấn: Đất đai, Ánh sáng và Em/ Người tình Từ đó, đưa ra nhận định khái quát: “Cả ba hình ảnh này đều nằm trong

sự quy chiếu của lẽ phồn sinh và hóa sinh bất định với tất cả sự sống động của chúng” và “nói theo cách nói của thi pháp học, đó chính là thế giới nghệ thuật đặc sắc của thơ Mai Văn Phấn” [9]

Nhã Thuyên trong công trình Khí quyển thơ - sinh thái của Mai Văn Phấn: Thơ, bầu trời và những linh hồn (2011) đã tìm hiểu về hệ thống biểu

tượng trong thơ Mai Văn Phấn, mà với Nhã Thuyên chúng đã cùng tạo nên một không gian - hệ sinh thái giàu có trong thơ Phấn Trong bài viết này, tác giả đi sâu phân tích về biểu tượng “bầu trời” và nhận xét: “Thực ra, nếu so sánh với các hình tượng các yếu tố nguyên thủy khác như đất (biến thể là cánh đồng, đất đai…), nước (biến thể là sông, biển…), lửa (biến thể là ánh sáng, mặt trời…) thì “bầu trời” (đúng ra là biến thể của yếu tố “khí” nguyên thủy, cùng với các biến thể khác như hơi gió, làn hơi…) xuất hiện có vẻ thưa vắng hơn Tuy nhiên, hình tượng không gian này lại trở nên giàu có, bởi tiềm năng khêu gợi tưởng tượng về một không gian vô tận của tự nhiên và suy tưởng của nó, bởi đó là chiều cao, chiều rộng và cả chiều sâu, bởi nó

hướng về một viễn tượng xa xôi” Đồng thời, tác giả Nhã Thuyên đã mở

rộng phân tích tới các biểu tượng thiên nhiên khác trong thơ Mai Văn Phấn

và có đánh giá đáng chú ý: “Người đọc cũng dễ dàng nhận ra hàng loạt những hình tượng thiên nhiên có tính chất biểu tượng, ẩn dụ trong thơ Mai Văn Phấn Tôi muốn nói thêm rằng: đó không phải là những biểu tượng bất biến, cố định, chết cứng, mà nó sinh thành cùng kinh nghiệm cảm giác của

Trang 12

chính tác giả trong mỗi lần phát kiến một bài thơ, một câu thơ, thậm chí một

từ ngữ” [19; 429-455]

Nhà thơ - nhà phê bình Dương Kiều Minh trong bài viết Cuộc trở về tâm không trong tập Bầu trời không mái che của nhà thơ Mai Văn Phấn

(2011) đã chỉ ra cách thi sĩ này trở về với bản thể của mình trong thinh lặng,

đó là cái tôi ẩn mình trong/ sau các biểu tượng của thiên nhiên: “Nhà thơ trong thinh lặng tìm thấy mình ẩn dưới các biểu tượng của thiên nhiên, là đá trong lòng suối, nơi đỉnh gió, nhà thơ lại thấy mình là gió…”, để từ đó “được bao phủ bởi không gian và ánh sáng từ cuộc trở về tĩnh lặng đến cái đích của Tâm không và tái sinh ở một đời sống mới” [19; 34-45]

Tác giả Lưu Tấn Thành ở bài viết Bước đầu tìm hiểu phong cách thơ Inrasara (2012) đã có nhận xét đáng chú ý khi nhận thấy phong cách thơ

Inrasara mang đậm dấu ấn của những biểu tượng gắn liền với quê hương: “Có thể nói, Inrasara yêu dân tộc mình bằng tình yêu của một đứa con xa quê Ông luôn tha thiết hướng về quê hương trên mỗi bước đường phiêu bạt Nỗi nhớ quê là niềm hoài bão và tơ tưởng mà ông dành cho vùng đất sỏi khô cằn Quê hương đẹp đẽ bao dung như tâm hồn người, nên Inrasara luôn khắc khoải

mơ tưởng và tìm về Trong đó, những biểu tượng của nền văn hóa dân tộc, những nét văn hóa phi vật thể luôn tồn tại không thể xóa nhòa trong tiềm thức nhà thơ” [34]

Hồ Thế Hà trong công trình Thơ Nguyễn Quang Thiều nhìn từ Mẫu gốc

(2013) đã đi sâu phân tích thơ Nguyễn Quang Thiều dưới góc độ biểu tượng

Ở đó, Hồ Thế Hà nhấn mạnh về một Nguyễn Quang Thiều luôn luôn bị ám ảnh thường trực bới các mẫu gốc trong cả hữu thức và vô thức Trong bài viết này, tác giả phân tích kỹ về làng Chùa - một biểu tượng đầy ám ảnh trong thơ Nguyễn Quang Thiều: “Hình tượng mẫu gốc ám gợi nhất trong thơ Nguyễn Quang Thiều là làng Chùa - nơi chôn nhau cắt rốn của anh, nơi mà anh - với

Trang 13

tư cách một nhà thơ đã tự cho phép mình phải tuyên ngôn về nó như một tình

cảm và mệnh lệnh tối thượng mà anh gọi là Bản tuyên ngôn của giấc mơ”

Đồng thời, Hồ Thế Hà xem mẫu gốc làng Chùa là nơi sản sinh ra các biểu tượng tái sinh khác trong thơ Nguyễn Quang Thiều Đấy là dòng sông Đáy - biểu tượng của sự “ám gợi da diết, dòng sông chảy trong tâm thức làng Chùa

mà Nguyễn Quang Thiều đã tắm suốt tuổi thơ, tắm cả trong những giấc mơ mộng mị”; là biểu tượng Đất “cổ mẫu then chốt, ám ảnh để nhận ra chất thơ riêng của anh Đất trong thơ anh cũng lạ và được nhìn ngắm từ cội nguồn văn hóa làng quê”; và nấm mộ như là “biểu tượng về mặc cảm chết (complexe de mort) trong thơ anh, nó có liên quan đến thế giới hiện sinh, những ám ảnh về

sự ra đi, sự tan rã vào đất đai, cây cỏ và hư vô” [12]

Nhà phê bình Lê Hồ Quang trong cuốn sách Âm thanh của tưởng tượng

(2015) đã có hàng loạt bài viết đề cập đến vấn đề biểu tượng trong thơ của các tác giả thuộc thế hệ nhà thơ Đổi mới Có thể kể đến những bài viết nổi bật

như: Biểu tượng thơ Hoàng Hưng, Nguyễn Lương Ngọc và quan niệm thơ lập thể, Dương Kiều Minh ra đi và trở về, Đọc thơ Nguyễn Bình Phương, Âm thanh của tưởng tượng, Thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn Công trình

này thể hiện một cách nhìn/ cách đọc khá - đặc - biệt của người viết về thơ:

“bớt đi cái tỉnh táo ráo riết của lý trí, gia tăng sự phiêu lưu của trí tưởng tượng, sự buông bắt xa lạ và ngẫu hứng của trực giác” để từ đó, thấu cảm về một thế giới thơ mang tính đặc trưng của các tác giả thế hệ Đổi mới: sự xuất hiện dày đặc của hệ thống các biểu tượng nổi bật Tiêu biểu như công trình:

Dương Kiều Minh, ra đi và trở về, Lê Hồ Quang giúp độc giả có cái nhìn sâu

sắc về thơ Dương Kiều Minh: “Thơ Dương Kiều Minh là một thế giới biểu tượng, trong đó, giấc mơ là biểu tượng trung tâm, nối kết với các biểu tượng

khác thành một hệ thống khá chặt chẽ” [27; 255]; Trong Đọc thơ Nguyễn Bình Phương, tác giả bài viết đã có những phát hiện mới mẻ về thơ Nguyễn

Trang 14

Bình Phương và chỉ ra “đa dạng hóa hệ thống biểu tượng” là một trong những thao tác kỹ thuật trong thơ ông: “Những suy ngẫm về đời sống - tồn tại như một “chủ âm” trong thơ Nguyễn Bình Phương - cũng hiếm khi được tổ chức theo kiểu luận đề lộ liễu, chúng chủ yếu được “trình bày” qua những hình

ảnh, biểu tượng liên tưởng phóng túng, nhiều khi khá mơ hồ” [27; 266]; Trong Âm thanh của tưởng tượng, tác giả Lê Hồ Quang tiếp tục có sự khảo sát và phân tích về các biểu tượng nổi bật trong tuyển thơ Châu thổ của

Nguyễn Quang Thiều Tuyển thơ gắn liền với những biểu tượng đầy ám ảnh của âm thanh - một thứ âm thanh đặc biệt: âm thanh của tưởng tượng, của vô

thức, tâm linh Đó là các biểu tượng giọng nói, cái tai; Hay trong Thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn , Lê Hồ Quang đã chỉ ra những nét độc đáo

trong thi pháp thơ Mai Văn Phấn, trong đó nhấn mạnh về biểu tượng như là một trong những yếu tố tạo nên vẻ đẹp siêu thực lạ lùng của thế giới thơ Mai

Văn Phấn… Trong Thơ Inrasara “nhập cuộc về hướng mở” (2017), tác giả

này cũng cho thấy mối quan hệ chặt chẽ, sức ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Chăm đã hóa thân thành các biểu tượng nổi bật trong sáng tác của Inrasara: “Ý thức xác định/ khẳng định bản thân trong mối quan hệ máu thịt với cội nguồn dân tộc đã trở thành cảm hứng chủ đạo của tác giả Theo đó, cả một hệ thống biểu tượng của nền văn hóa Chăm đã sống dậy trong thơ Inrasara…” Đồng thời, tác giả công trình cũng chỉ ra hạn chế trong cách xây dựng biểu tượng của Inrasara và đặt ra vấn đề: “Trong khi sự phổ biến của những hình ảnh này trên các phương tiện thông tin đại chúng phần nào cũng làm “nghèo” đi ý nghĩa tượng trưng của chúng, biến chúng thành các “ký hiệu đơn”, thì việc nhà thơ phải “tái cấu trúc” biểu tượng, cấp thêm cho chúng

những ý nghĩa “lạ hóa” giàu có và tươi mới hơn là điều cần thiết” [29]

Luận văn thạc sĩ Đặc điểm thơ Mai Văn Phấn (2015) của Nguyễn Thị

Hương Giang, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã đi sâu tìm hiểu về

Trang 15

đặc điểm thơ của tác giả Mai Văn Phấn qua ba tập thơ Bầu trời không mái che, hoa giấu mặt và Vừa sinh ra ở đó và rút ra nhận định: “Những hình ảnh

mang tính biểu tượng xuất hiện trong ba tập thơ của Mai Văn Phấn khá nhiều

và đa dạng, có thể chia là ba nhóm chính: hình ảnh đất đai, sông nước, cỏ cây; hình ảnh ánh sáng, ban mai, ngọn lửa; hình ảnh người mẹ, người tình

Các biểu tượng này đan cài, đồng hiện trong thơ một cách tích cực tạo thành một chuỗi biểu tượng chồng xếp lên nhau, tạo nên một thế giới nghệ thuật đa

tầng đa nghĩa và đầy biến ảo” [10]

Như vậy, qua việc khảo sát các tư liệu, bài viết, công trình nghiên cứu

về các nhà thơ thuộc thế hệ Đổi mới, chúng tôi nhận thấy vấn đề biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới mới chỉ được nghiên cứu một cách riêng

lẻ, ở một số tác giả cụ thể Luận văn hy vọng sẽ có điều kiện đi sâu nghiên cứu về biểu tượng trong thơ một số tác giả thế hệ Đổi mới trên cơ sở tiếp thu,

kế thừa các nghiên cứu của người đi trước, hướng tới một cái nhìn toàn diện

và khách quan về một phương diện đóng góp nổi bật của thế hệ nhà thơ Đổi mới vào hành trình cách tân chung của văn học Việt Nam đương đại

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biểu tượng trong thơ một số tác giả thế hệ Đổi mới

3.2 Phạm vi văn bản khảo sát

Luận văn này khảo sát văn bản thơ của một số tác giả thế hệ Đổi mới, đặc biệt tập trung vào ba tác giả: Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm hướng đến những mục đích sau: Làm rõ đặc điểm nội dung, ý nghĩa và nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong

Trang 16

thơ của một số tác giả thế hệ Đổi mới, đặc biệt đi sâu nghiên cứu ba tác giả: Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Biểu tượng trong thơ một số tác giả thế hệ Đổi mới,

chúng tôi xác định có những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ khái niệm biểu tượng và đặc điểm của các tác giả thế hệ Đổi

mới Đồng thời làm rõ ý nghĩa, giá trị và cơ sở xã hội - thẩm mỹ của hệ thống

biểu tượng trong sáng tác của các nhà thơ thế hệ Đổi mới

- Phân loại các nhóm biểu tượng và làm rõ nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ của một số tác giả thuộc thế hệ Đổi mới

- Khảo sát hệ thống biểu tượng nổi bật trong thơ của Nguyễn Quang

Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:

5.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi cần tổng hợp nhiều kiến thức của các nhóm ngành/ lĩnh vực khác nhau: văn hóa - văn học - triết học; văn học

sử, thi pháp học… Do đó, phương pháp này sẽ giúp người viết có cái nhìn nhiều chiều, nhiều góc độ để phân tích, đánh giá đối tượng

5.2 Phương pháp hệ thống - cấu trúc

Quan niệm thế giới biểu tượng trong thơ là một chỉnh thể, xuất phát từ đặc điểm riêng của thế giới biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới, luận văn chú trọng tìm hiểu hệ thống biểu tượng trong thơ các tác giả này về các đặc điểm, ý nghĩa, cách tổ chức xây dựng nghệ thuật cấu tạo nên chỉnh thể ấy

5.3 Phương pháp hình thức

Trang 17

Vận dụng phương pháp này, chúng tôi đi sâu phân tích các khía cạnh hình thức của văn bản thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới Từ đó, nhận diện biểu tượng trong cấu trúc chỉnh thể văn bản

5.4 Phương pháp so sánh

Phương pháp này giúp người viết có thể nhìn nhận rõ hơn sự khác biệt giữa thế giới biểu tượng trong thơ các tác giả; đồng thời nhận ra nét riêng biệt trong từng cách xây dựng hệ thống biểu tượng trong thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới, khẳng định cá tính sáng tạo riêng của họ

Ngoài các phương pháp nêu trên, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác nghiên cứu như thống kê, phân loại; phân tích, tổng hợp…

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ những đặc điểm, ý nghĩa nổi bật của hệ thống biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới, đặc biệt ở ba tác giả: Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính

của luận văn được triển khai gồm 3 chương:

Chương 1: Nhìn chung về biểu tượng trong sáng tác của các nhà thơ

thế hệ Đổi mới

Chương 2: Các nhóm biểu tượng và nghệ thuật xây dựng biểu tượng

trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới

Chương 3: Biểu tượng trong thơ ba tác giả nổi bật của thế hệ Đổi mới:

Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara

Trang 18

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG TRONG SÁNG TÁC

CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI

1.1 Khái niệm biểu tượng

Biểu tượng (symbol) là thuật ngữ được dùng khá phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, văn học Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn chưa được định nghĩa một cách thống nhất Điều này, có lẽ đúng như Jean

Chevarlie trong cuốn Từ điển văn hóa biểu tượng đã khẳng định: “Không

cách gì định nghĩa được một biểu tượng Tự bản chất của nó, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm Nó

giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại

không nắm bắt được Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra một hay nhiều ý nghĩa của biểu tượng; nên phải luôn nhớ rằng các từ không thể diễn đạt được

tất cả giá trị của biểu tượng” [8; XIV] Song, dường như việc bị/ được xem là

cái “không thể nắm bắt” nên bản thân biểu tượng càng chứa đựng sức hút mạnh mẽ đối với các nhà nghiên cứu

Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ trình bày khái niệm biểu tượng dưới các góc độ: biểu tượng như một ký hiệu ngôn ngữ, biểu tượng như một

ký hiệu văn hóa và biểu tượng như một ký hiệu nghệ thuật

1.1.1 Biểu tượng như một ký hiệu ngôn ngữ

Xét theo nghĩa từ nguyên, biểu tượng trong tiếng Hán được cắt

nghĩa như sau: biểu có nghĩa là bày ra , trình bày , dấu hiệu để nhận biết một điều gì đó ; tượng có nghĩa là hình tượng Biểu tượng là một hình tượng nào

đó được phô bày r a để trở thành một dấu hiệu , ký hiệu tượng trưng nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng Còn trong Tiếng Anh, biểu

Trang 19

tượng là symbol Thuật ngữ “symbol” được bắt nguồn từ Hi Lạp là

“Symbolon” Nó có nghĩa là ký hiệu, lời nói, dấu hiệu, triệu chứng

Có thể nói, trong quá trình cố gắng cắt nghĩa, lý giải biểu tượng, các nhà nghiên cứu, nhà ngôn ngữ học đều thống nhất với nhau ở việc biểu tượng mang bản chất ký hiệu, nó gồm hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt

“Cái biểu đạt của biểu tượng có thể là một vật, hành vi, hình ảnh trong nghệ thuật, đám rước, lễ hội Cái được biểu đạt là nội dung (ý nghĩa , khái niệm) hàm chứa trong đó Nội dung ấy có tính bao quát, tính chung, tính quy luật” [6; 21] Và chính ký hiệu học là khoa học nền tảng và quan trọng nhất khi chúng ta tiếp cận nghiên cứu về biểu tượng

Người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết ngôn ngữ mang bản chất ký hiệu là F De Saussure - người sáng lập ra ngành ngôn ngữ học hiện đại thế kỉ

XX, trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương Ở đó, ông đã đi sâu nghiên cứu về tính hai mặt của ký hiệu thông qua mô hình: kí hiệu (sign) = cái biểu

đạt (signifier) + cái được biểu đạt (signified) Tức là một ký hiệu gồm có hai bình diện là cái biểu đạt (hình thức) và cái được biểu đạt (nội dung) Tuy không đề cập đến biểu tượng như là đối tượng được nói đến, song “với mô hình này, nhân tố cơ bản nhất của biểu tượng cũng đã được xác lập và trở thành nền tảng cho rất nhiều những nghiên cứu về biểu tượng sau này” [38]

Tiếp nối những lý thuyết ban đầu của F De Saussure về mối quan hệ

giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, các tác giả cuốn Từ ký hiệu đến biểu tượng, đã trích dẫn một số ý kiến khác nhau và nêu ra nhận định của mình Cụ

thể, họ chỉ ra ba loại ý kiến khi đề cập đến mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt như sau:

Loại ý kiến thứ nhất, hiểu biểu tượng theo nghĩa rất rộng, bao gồm tất

cả các hình thức biểu hiện văn hóa loài người: nghi lễ, ngôn ngữ, nghệ thuật, thần thoại, khoa học đều là biểu tượng Tiêu biểu cho quan niệm này là E

Trang 20

Cassirer và Ch Pierce Biểu tượng ở đây hầu như đồng nhất với kí hiệu (sign), tính biểu tượng tương đương với tính kí hiệu

Loại ý kiến thứ hai, có thể gọi là quan niệm hẹp, coi biểu tượng như một dạng kí hiệu đặc biệt, mà “cái được biểu đạt” (hình ảnh, sự vật, sự việc) gợi người đọc đến một nội dung khác ngoài nghĩa hiển lộ trực tiếp Nội dung khác này đa nghĩa, mơ hồ, xa lạ, tàng ẩn, chỉ với lí trí không thể nắm bắt và diễn tả hết được Theo quan điểm này có thể kể ra các tác giả tiêu biểu như A.F Losev, Iu Lotman, Tz Todorov, S Freud, C Jung

Loại ý kiến thứ ba, coi biểu tượng là một hiện tượng thiêng liêng, thần

bí, một thông điệp của đấng tối cao gửi đến cho con người Một số cách diễn giải các biểu tượng thời cổ như Kinh Dịch của Trung Hoa, Hà Đồ, Lạc Thư hay một số tôn giáo sau này là như vậy [6; 21-22].

Từ đó, các tác giả cuốn Từ ký hiệu đến biểu tượng đã đồng tình với loại

ý kiến thứ hai, và theo họ “nghiên cứu của chúng tôi đi theo hướng ký hiệu học văn hóa, có tham chiếu những thành tựu của phân tâm học”; đồng thời rút

ra kết luận: “Biểu tượng cũng là dạng siêu ngôn ngữ” và “biểu tượng là một

ký hiệu mà bình diện nội dung của nó là một ký hiệu khác, có ý nghĩa văn hóa cao hơn, điều ấy dẫn đến việc nó làm trung hòa nghĩa thứ nhất, biến một ký hiệu chỉ có chức năng thông tin thuần túy thành sự biểu đạt văn hóa” [6; 24]

Như vậy, có thể thấy rằng, khi xét biểu tượng như một ký hiệu ngôn ngữ thì trước tiên nó là công cụ, là phương tiện phục vụ cho hoạt động giao tiếp của con người Nhưng không đơn thuần gắn với những nội dung đơn nghĩa, ngược lại, biểu tượng luôn mang chứa sự đa nghĩa, và bản thân nó có thể giúp con người cụ thể hóa, định danh hóa những gì mà ngôn ngữ thông thường không thể mô tả được Cụ thể, nó vượt lên lớp nghĩa bề mặt ban đầu, mang chứa trong nó nhiều lớp nghĩa khác nhau Chính vì vậy, tự thân biểu tượng luôn có tính mơ hồ, đa nghĩa

Trang 21

1.1.2 Biểu tượng như một ký hiệu văn hóa

Khi xem xét biểu tượng như một ký hiệu văn hóa, người ta thường nhìn nhận nó trong mối quan hệ với khái niệm văn hóa và chức năng của nó trong việc hình thành và xây dựng văn hóa Theo Unesco, văn hóa là “tập hợp hệ thống các biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết thành một cộng đồng riêng biệt” Như vậy, khái niệm này đã chỉ ra biểu tượng là một thành tố của văn hóa, nó cấu thành văn hóa, và đồng thời tạo dựng văn hóa Do đó, ta không thể không tìm hiểu về biểu tượng (và ý nghĩa của nó) khi muốn đi sâu tìm hiểu về văn hóa của một đất nước, cộng đồng dân tộc nào đó Tất cả những điều này đã tác động vào việc nghiên cứu biểu tượng, khiến nó trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu cơ bản của văn hóa học

Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới là một công trình nghiên cứu quy

mô, công phu, kỹ lưỡng của các soạn giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant

về vấn đề biểu tượng - một trong những mảng quan trọng của văn hóa Trong cuốn sách này các tác giả đã có sự so sánh, phân biệt thuật ngữ biểu tượng với

các thuật ngữ thường hay bị lẫn lộn với nó: biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, ẩn

dụ, loại suy, triệu chứng, dụ ngôn, ngụ ngôn luân lý Và họ rút ra kết luận

điểm chung của những lối diễn đạt bằng hình ảnh đó “là những dấu hiệu và không vượt quá mức độ của sự biểu nghĩa” và sự khác biệt cơ bản giữa biểu tượng với dấu hiệu là “ở chỗ dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [8; XIX] Từ đó, họ thấy rằng “biểu tượng phong phú hơn là một dấu hiệu, ký hiệu đơn thuần: hiệu lực của nó vượt ra ngoài ý nghĩa, nó phụ thuộc vào cách giải thích và cách giải thích thì phụ thuộc vào một thiên hướng nào đó Nó đầy gợi cảm và

Trang 22

năng động Nó không chỉ vừa biểu hiện, theo một cách nào đó, vừa che đậy;

nó còn vừa thiết lập, cũng theo một cách nào đó, vừa tháo dỡ ra” [8; XX]

Khi xét dưới góc độ văn hóa, biểu tượng được xem là sản phẩm đặc biệt của con người Từ đời sống thực tại, con người đã sáng tạo nên một thế giới mới - thế giới của các biểu tượng Đó là cách con người "gọi tên” cho những giá trị mang ý nghĩa cao hơn "sự vật” mang hình hài của chính nó Nhưng đó còn là cách con người cụ thể hóa, vật thể hóa và định danh hóa những điều bí ẩn đang còn chìm sâu trong cõi vô thức của thế giới nhân sinh Điều quan trọng, "nó còn là hạt nhân của sự di truyền xã hội, từ đời này sang đời khác theo dòng đi của lịch sử, bằng các khuôn mẫu văn hoá cổ truyền -

Cổ mẫu (Archetypes) chìm sâu trong vô thức của cộng đồng - xã hội” [15]

Theo cách lí giải này, khái niệm biểu tượng có thể hiểu là việc các hình ảnh,

sự vật vượt qua lớp vỏ ngôn ngữ ban đầu của nó, thông qua tri giác, nhận thức của con người, trở thành vật tượng trưng cho một ý nghĩa nào đó và khác nghĩa ban đầu của nó Ý nghĩa ấy phải là sự thống nhất đại diện cho một cộng đồng xã hội nhất định

Nó được xem là “hình thức dùng hình này để tỏ nghĩa nọ, hay nói khác

đi là mượn một cái gì đó để tượng trưng cho một cái gì khác” [13] Song giữa hình thức và ý nghĩa nảy sinh của biểu tượng phải có mối - liên - hệ - mật - thiết với nhau Bởi lẽ, chỉ khi được gắn kết trong một mối quan hệ “thầm kín”

và sâu xa nào đó thì hình ảnh mới mang nghĩa của một biểu tượng thật sự; thiếu sợi dây liên kết đó, chúng không thể trở thành biểu tượng mà chỉ dừng lại là những hình ảnh đơn thuần Chẳng hạn, hình ảnh bông lúa trên nền phù điêu làm biểu tượng cho các nước trong khối Asean - vốn gắn liền với nền nông nghiệp trồng lúa nước; năm vòng tròn được xếp đặt, lồng ghép nhau trên logo của các giải đấu thể thao vốn là biểu tượng được biết đến với ý nghĩa tượng trưng cho năm châu lục trên thế giới

Trang 23

Biểu tượng văn hóa có nhiều cấp độ Nó có thể mang tính tượng trưng chung cho tất cả các quốc gia trên thế giới, như là biểu tượng chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình; biểu tượng cái cân tượng trưng cho lẽ phải, sự công bằng Bên cạnh đó, có những biểu tượng chỉ là sản phẩm của một cộng đồng, một dân tộc Nó phản ánh nét đặc thù trong đời sống tinh thần riêng biệt của cộng đồng, dân tộc đó Chẳng hạn, cây tre vốn được xem là biểu tượng cho tinh thần bất khuất, kiên cường của người Việt trước những khó khăn trong quá trình gây dựng và bảo vệ nền độc lập; đồng hồ Big Ben đã trở thành biểu tượng của sự bền vững, an ninh và nền dân chủ nước Anh nhưng ở Trung Quốc, Hàn Quốc hay Mỹ , chúng chưa hẳn đã có những ý nghĩa như vậy Do

đó, biểu tượng văn hóa thay đổi theo thời gian và nó cũng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trong những nền văn hóa khác nhau Chẳng hạn, cái gật đầu ở Việt Nam là biểu tượng cho sự đồng ý, ưng thuận; tuy nhiên, ở Bulgaria lại có nghĩa là không Điều này, xuất phát từ việc lựa chọn khác nhau về văn hoá giữa cộng đồng văn hoá này với cộng đồng văn hoá khác Mô hình lựa chọn đó sẽ tạo nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, dân tộc Chính vì thế, biểu tượng không chỉ “có tác dụng mang lại tính đồng nhất của cộng đồng hay nhóm” mà còn là “công cụ hữu hiệu để con người có thể cùng chia sẻ với

nhau về mặt văn hóa” [13]

1.1.3 Biểu tượng như một ký hiệu nghệ thuật

Xét dưới góc độ văn học, khi xem xét biểu tượng như là thuật ngữ của

mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học thì nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo Từ điển thuật ngữ văn học , “trong nghĩa rộng biểu tượng là đặc trưng

phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật Theo nghĩa

hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại

hình tượng nghệ thuật đặc biệt c ó khả năng truyền cảm lớn , vừa khái quát được bản chất của một hình tượng nào đấy , vừa thể hiện một quan niệm , một

Trang 24

tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời” [14; 24] Từ điển

này cũng chỉ rõ: “Biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong

đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [14; 23] Từ

góc độ văn học, biểu tượng còn được xem là một phương thức, phương tiện sáng tạo nhằm phản ánh và nhận thức thế giới Nhờ có biểu tượng, những

vấn đề lý luận trừu tượng mới trở nên cụ thể, sống động và dễ hiểu, nói như nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc: “Biểu tượng không chỉ làm cho cái không tri giác được trở thành cái tri giác được, mà cũng chính trong quá trình “tri giác hóa” cái “bất khả tri giác”, nó gây khoái cảm, nhất là cho người tiêu thụ, như nghe một bản nhạc, xem một vở kịch, đọc một bài thơ” [3; 58] Do đó, có thể thấy, biểu tượng chính là phương tiện hữu hiệu mà nhà thơ, nhà văn có thể sử dụng để truyền tải cái ẩn ý thầm kín mà ngôn từ bình thường khó (thậm chí không thể) diễn tả được; đồng thời người đọc từ biểu tượng lại có thể nắm bắt những ẩn ý sâu xa đó của tác giả, chuyển hóa chúng thành những ý nghĩa cụ thể trong nhận thức, tư duy thẩm mĩ của mình

Riêng trong thơ ca, đặc biệt là thơ ca tượng trưng - nơi các nhà thơ vốn sáng tạo/ thể hiện chủ yếu thông qua các biểu tượng thì khái niệm biểu tượng

được định nghĩa là một hình ảnh/ sự vật có ý nghĩa tượng trưng chỉ một cái gì

rộng lớn hơn chính nó; được lặp đi lặp lại nhiều lần với tần số cao Đồng thời,

hình ảnh/ sự vật đó phải được tổ chức theo một cách đặc biệt, từ đó, nghĩa của

nó không còn dừng lại ở nghĩa đen nữa mà có sự chuyển nghĩa, mang nghĩa rộng hơn nghĩa ban đầu (lúc này là nghĩa tượng trưng) Do đó, biểu tượng chỉ tồn tại và mang các ý nghĩa, các giá trị khi ở trong văn cảnh nhất định của tác phẩm đó; rời khỏi tác phẩm, nó không còn mang ý nghĩa biểu tượng ấy nữa

Ý nghĩa của biểu tượng có sự trùng phức, phức tạp, đa dạng về nghĩa, thậm chí giữa các nghĩa có thể đối nghịch nhau Như vậy, biểu tượng thể hiện

Trang 25

những sáng tạo về nghĩa của nhà văn nhưng người đọc lại đóng vai trò mang tính quyết định trong việc tìm kiếm các giá trị nghĩa ấy

Với tư cách là phương tiện sáng tạo nghệ thuật, biểu tượng phân biệt với hình ảnh, hình tượng bởi tính chất, cấp độ ý nghĩa của nó Hình ảnh là sự phản chiếu sự vật trong cuộc sống đời thường, nó giống như một “lát cắt” của đời sống, thường đơn giản về nghĩa Hình tượng, cao hơn hình ảnh, là những bức tranh đời sống được đưa vào trong tác phẩm một cách cảm tính, sống động, là sự thể hiện hiện thực đầy đặn hơn so với hình ảnh Còn biểu tượng là những hình tượng đặc biệt, mang tính đa nghĩa và thường có hàm nghĩa đánh giá về giá trị, nhất là trong thơ tượng trưng Tức là các nghĩa nằm trong cùng một biểu tượng chúng có khi không đồng nhất với nhau, ngược lại, sẵn sàng đối nghịch nhau Chẳng hạn, biểu tượng miệng trong thơ Hàn Mặc Tử không

chỉ thể hiện cho cái chết với những trạng thái nôn, mửa, ọc, rên mà đó cũng

là nơi sự sống được khởi phát; hay biểu tượng Đất trong thơ Mai Văn Phấn không chỉ thể hiện cho hình tượng người phụ nữ, người Mẹ, người tình mang

vẻ đẹp phồn thực mà nó còn là sự hóa thân của người đàn ông Tuy nhiên, mặc dù chúng đối nghịch nhau song khi cùng nằm trong một biểu tượng, các nghĩa ấy vẫn luôn luôn thống nhất với nhau

Trong công trình này, chúng tôi nhìn nhận, sử dụng khái niệm biểu tượng chủ yếu từ góc độ nghệ thuật, cụ thể là biểu tượng trong thơ hiện đại Biểu tượng, lúc này , được xem là những hình ảnh mang tính ngụ ý , mang tính quan niệm, bao hàm trong nó nhiều ý nghĩa, gây được ấn tượng sâu sắc đối với người đọc Được xây dựng bằng ngôn từ và những thủ pháp đặc biệt ,

nó vượt qua những hình ảnh cụ thể , cảm tính bề mặt để trở thành những ảnh hình tượng trưng tích chứa quan niệm , tư tưởng sáng tạo của tác giả Những hình ảnh, sự vật này có ý nghĩa trùng phức, đa nghĩa và nó chỉ nảy sinh trong một văn cảnh nhất định, rời khỏi văn cảnh đó, biểu tượng đó sẽ không

Trang 26

còn tồn tại những giá trị ý nghĩa như vậy nữa, do đó nó là kết quả sáng tạo của nhà văn Biểu tượng thường chứa đựng nhiều ý tứ kín đáo , thâm trầm thậm chí bí hiểm

1.2 Khái lược về các nhà thơ thế hệ Đổi mới

1.2.1 Khái niệm nhà thơ thế hệ Đổi mới

“Thế hệ nhà thơ Đổi mới” là thế hệ nhà thơ như thế nào? Họ có đặc điểm gì đặc biệt so với các thế hệ nhà thơ trước đó? Thật ra câu trả lời đã

được đề cập đến ở khá nhiều công trình, bài viết, chẳng hạn trong Thế hệ nhà văn Việt Nam sau 1975, họ là ai? của Chu Văn Sơn, Tư duy thơ Việt Nam sau

1975 qua sáng tác của một số tác giả thế hệ Đổi mới của Lê Hồ Quang, hay Một cái nhìn vào Thế hệ nhà văn sau 1975 của Đỗ Lai Thúy, Khuynh hướng cách tân trong thơ Việt Nam sau 1975 của Mai Văn Phấn…

Tham khảo những công trình, bài viết nói trên, chúng tôi đi đến cách hiểu về khái niệm “thế hệ nhà thơ Đổi mới” như sau: “thế hệ nhà thơ Đổi mới” là cách định danh có tính quy ước, nhằm chỉ một thế hệ tác giả cầm bút sau năm 1975 với những đặc điểm khá riêng biệt Về độ tuổi, họ phần đông là những cây bút thuộc thế hệ 5x, 6x Về thời điểm đăng đàn, họ chủ yếu sáng tác và công bố tác phẩm từ sau 1986 đến những năm 1998 - 2000 Dĩ nhiên, đến nay, một số tác giả nổi bật của thế hệ vẫn tiếp tục và mạnh mẽ sáng tác,

có những đóng góp nổi bật cho thơ Việt Nam đương đại Về mặt lịch sử, họ là những cây bút được xem là thế hệ trung gian giữa thế hệ nhà thơ kháng chiến

và thế hệ các nhà “thơ trẻ” sau này (“thơ trẻ” cũng là một thuật ngữ quy ước, nhằm chỉ thế hệ nhà thơ sinh sau năm 1975, sống và viết trong thời bình”[28] Điều nổi bật ở thế hệ nhà thơ này là ý thức về trách nhiệm cách tân thi

ca cùng với nỗ lực phá bỏ các giới hạn sáng tạo cũ, đem lại những giá trị mới cho thơ Việt trong thời kì hội nhập với thơ ca thế giới Đây là một thế hệ cầm bút có nhiều đóng góp cho thơ Việt Nam đương đại trong quan niệm mĩ học cũng như thi pháp

Trang 27

1.2.2 Một số gương mặt nhà thơ nổi bật của thế hệ Đổi mới

Trong giới hạn của công trình này, chúng tôi xin được “điểm mặt” bảy nhà thơ, theo sự nhìn nhận và đánh giá (mang tính chủ quan của tác giả công trình) là đã gặt hái được những thành công nổi bật trong hành trình tìm kiếm

và khẳng định đó Cụ thể đó là các tác giả: Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Mai Văn Phấn, Trần Tiến Dũng, Inrasara

Trước hết, xin nói về Nguyễn Lương Ngọc Ông sinh năm 1958 tại Sơn Tây, nguyên quán ở Tòng Bạt, Ba Vì, Hà Tây; mất năm 2001 khi mới 43 tuổi

Sự ra đi đột ngột ấy đã để lại nhiều tiếc nuối trong lòng bạn đọc trước hành trình sáng tạo dở dang của một nhà thơ luôn có ý thức cách tân và một sự nghiệp đang trên đà khởi sắc Nhìn về hành trình thơ Nguyễn Lương Ngọc có

thể thấy từ Từ nước qua Ngày sinh lại đến Lời trong lời là cả một quá trình

cách tân thơ rõ rệt từ những vần thơ còn chịu ảnh hưởng của thi pháp truyền thống cho đến một tiếng thơ giàu tinh thần của chủ nghĩa hiện đại Đã nhiều lần Nguyễn Lương Ngọc thể hiện quan điểm sáng tác, tuyên ngôn thơ trong

các sáng tác của mình Chẳng hạn, trong Hội họa lập thể, ông đã khẳng định làm thơ là quá trình mà người sáng tạo dám: “…đập vụn mình ra mà ghép lại/ Nung chảy mình ra mà tìm lõi/ Xé toang mình ra mà kết cấu” Đấy là một

hành động mạnh mẽ, dứt khoát của một tinh thần thơ luôn dấn thân quyết liệt cho công cuộc đổi mới thi ca Thậm chí, người thơ ấy đã tự nhận mình là một

kẻ “không biết làm diễn viên” trước “sân khấu” của sự sáng tạo: Sân khấu là sáng tạo khủng khiếp/ sàn gỗ cùng chất liệu cây thập ác/ có thể dừng chăng chuyện bút nghiên/ Ơi nhà thơ không biết làm diễn viên” (Không khóc nữa)

Chính sự “gai góc”, bản lĩnh ấy, Nguyễn Lương Ngọc đã gây ấn tượng mạnh

mẽ với người đọc bởi sự "nổi loạn" trong thơ Ông không chấp nhận những

cái gì đã cũ, những cái "không ổn", những cái "như bệnh tật": “Khi mắt đã no

Trang 28

nê/ Những quy tắc lên men/ Khi sự thật bị thay bằng cái giống như sự thật/

Có gì không ổn/ Có gì như bệnh tật/ Khi mồ hôi vẫn ê a thiên chức nghệ sĩ/ Anh không còn muốn nhìn những gì mình đã vẽ/ Chính nước mắt, hay máu

tứa từ cái nhìn bền bỉ/ Đã cho anh chiếc lăng kính này đây” (Hội họa lập

thể) Mặc dù cuộc đời ngắn ngủi nhưng những đóng góp của Nguyễn Lương

Ngọc cho thơ Việt Nam sau 1975 là rất ý nghĩa, xứng đáng có được sự ghi nhận và nghiên cứu sâu hơn từ bạn đọc, giới phê bình

Dương Kiều Minh (1960 - 2012), quê ở Mê Linh, Hà Nội Ông từng giữ chức Phó chủ tịch thường trực Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam Nếu Nguyễn Lương Ngọc gây ấn tượng bởi sự mạnh mẽ, quyết liệt có phần gai góc, thì Dương Kiều Minh lại làm người ta nhớ đến bằng một thứ thơ đầy nội tâm, đầy nỗi buồn, ẩn chứa nỗi niềm chua xót, đắng cay đã trở

thành “thương hiệu” của thi sỹ này: Nhiều khi buồn nức nở/ ngóng cánh đồng bên sông Hồng cuộn đỏ/ có nấm mồ cha/ nấm mồ của mẹ/ đấy cố hương/ và đây cố hương (Cố hương) hay Ô một đời ngắn ngủi/ một đời cô độc/ một đời nghiệt ngã/ một đời ôm gối đợi đêm tàn (Những ngày u ám)

Con người thơ Dương Kiều Minh luôn khiến người đọc có cảm giác “nặng lòng” trước những bước đi đầy nặng nhọc trong hành trình “kiếm tìm mình”,

kiếm tìm một giọng điệu, một bản ngã riêng: Tôi uống bao nhiêu phiền muộn/ Dài dặc sao cuộc kiếm tìm mình/ Nhọc nhằn sao cuộc kiếm tìm mình (Vô thanh) Đọc thơ Dương Kiều Minh sẽ thấy có một điểm lạ là ông khởi

nguồn từ hiện đại nhưng càng về sau lại càng mang sắc thái cổ điển, hướng

về truyền thống Điều này tưởng như đi ngược lại với quy luật phát triển của thơ ca đương đại Song, đó “thực chất, cũng là một quá trình sáng tạo liên tục, nhằm tìm kiếm những giá trị thẩm mĩ mới, vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời đại” [27; 259]

Trang 29

Thế hệ nhà thơ Đổi mới còn ghi dấu ấn của Nguyễn Quang Thiều - một trong những nhà thơ đi đầu cho phong trào cách tân thơ Việt những năm đổi mới Ông sinh năm 1957 tại Thôn Hoàng Dương (Làng Chùa), Xã Sơn Công, Huyện Ứng Hòa, Tỉnh Hà Tây Đây cũng chính là không gian thơ nổi bật trong thơ Nguyễn Quang Thiều, gắn liền với sự xuất hiện dày đặc của các biểu tượng: sông Đáy, làng Chùa Nguyễn Quang Thiều được biết đến như một tác giả đa tài, khi ông không chỉ làm thơ mà còn viết tiểu thuyết, truyện ngắn, sách dịch, làm báo Tuy nhiên, có lẽ Nguyễn Quang Thiều vẫn thành công nhất ở mảng thơ ca Thơ ông khởi nguồn là tiếng nói lãng mạn, mang xúc cảm của trái tim được bày tỏ một cách trực tiếp, dễ hiểu (thể hiện rõ nhất

qua tập thơ đầu tay Ngôi nhà 17 tuổi (1990)); nhưng về sau dần chuyển sang tiếng nói của suy tưởng, đậm chất tượng trưng, siêu thực mà “Sự mất ngủ của lửa” (1992) chính là tập thơ đánh dấu cho sự chuyển giao đó Thơ ông, từ đó

đã vượt ra khỏi khuôn sáo ước lệ của vần điệu, mở ra chiều kích khác nhau của những dòng suy tưởng mang tính khái quát cao Đồng thời, với không gian thơ được mở rộng hơn, sâu hơn, thơ Nguyễn Quang Thiều ngày càng tiến sâu, chìm đắm vào tiếng nói của suy tư, mơ mộng, tưởng tượng Đó còn là tiếng nói, là không gian thơ của rất nhiều khái niệm, cảm giác, ý tưởng và suy ngẫm được trộn hòa với nhau trong những thi phẩm mang tâm thế sẵn sàng

“thức dậy để chào đón một giọng nói” (Nhịp điệu châu thổ mới) của người thi

sĩ ấy!

Một tên tuổi khác đã ghi đậm dấu ấn trong thế hệ Đổi mới là nhà thơ Nguyễn Bình Phương Ông sinh năm 1965 tại một làng quê của tỉnh Thái Nguyên Nhắc đến Nguyễn Bình Phương, nhiều người sẽ nhớ đến ông nhiều

hơn với tư cách là một nhà tiểu thuyết với các tập Vào cõi (1991), Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thuỷ (2004) Tuy nhiên, Nguyễn Bình Phương còn là một thi sỹ Nó không

Trang 30

dừng lại là một thú vui lúc nhàn rỗi, cũng chẳng phải dạng “lâu lâu xuất hứng”, trái lại Nguyễn Bình Phương đến với thơ bằng một niềm đam mê thực

sự, bằng trách nhiệm cách tân thơ ca của một “kẻ nhà nghề” Điều này, được

thể hiện rõ qua các tập thơ của ông: Lam chướng (1992), Xa thân (1997), Từ chết sang trời biếc (2001), Buổi câu hờ hững (2011), Xa xăm gõ cửa (2015)

Thơ Nguyễn Bình Phương rất khó đọc! Nó không chỉ bởi ngôn ngữ đầy những ma mị, ảo ảnh ; những thi ảnh chập chờn, kì dị, khó hiểu của những

dấu vết siêu thực, tượng trưng: linh miêu, lụa vàng, con phượng đen, những con hươu ma, bầy nghê đá cười, khuôn mặt xanh, cây ngải vàng, cây cậm cam, cỏ trắng, ngôi sao màu hung, ngọn gió xanh, ngôi sao chết trắng mà

còn bởi sự đứt đoạn, phân mảnh trong cách tổ chức bài thơ, gây cho người đọc sự mơ hồ, khó nắm bắt, lí giải Tuy nhiên, thế giới thơ Nguyễn Bình

Phương vẫn đem đến một vẻ đẹp diệu kì, đầy biến hóa: Tiếng nói em màu lam chuyển dần sang màu lục/ Và cuốn lên một cái cây chưa tỉnh táo/ Cuốn lên những quả chuông vang reo trận mưa rào/ Ngân nga giọng của trăng sao (Em và hoa) Thơ ông cho thấy những cách tân hình thức và mang đậm dấu

ấn của xu hướng thể nghiệm một tiếng thơ mới trong dòng chảy của thơ Việt hiện đại Và đằng sau những cách tân về mặt hình thức ấy chính là mục đích lớn lao của người thi sĩ: “không chỉ muốn dừng lại ở cái hiện thực bên ngoài,

mà còn muốn tìm đến cái hiện thực ở bề sâu bề xa, ẩn tàng sau bề mặt cái - được - nhìn - thấy” [27; 269]

Là đại diện được xem là người tạo nên sự phát triển cho phong trào cách tân thơ Việt những năm đổi mới, Mai Văn Phấn đã không ngừng sáng tạo trên hành trình tìm kiếm giọng điệu riêng biệt của mình, như cách đánh

giá của các tác giả cuốn chuyên luận Mai Văn Phấn và hành trình thơ vào cõi khác: “Mai Văn Phấn bắt đầu làm thơ ở cái tuổi mà sự chín chắn trong kinh

nghiệm sống đã cho phép lí trí của anh tìm ra một lối đi , một cách nhìn cuộc

Trang 31

sống đủ lớn để xác định cho mình một thế giới nghệ thuật riêng biệt” [11; 103] Ông sinh năm 1955 tại Kim Sơn, Ninh Bình nhưng hiện sống và sáng tác tại thành phố “hoa phượng đỏ” - Hải Phòng Bởi quá trình nỗ lực tìm và tạo nên một tiếng thơ riêng biệt, thơ Mai Văn Phấn không chịu bó buộc trong một phong cách cố định nào Thơ ông đã đi từ cổ điển sang hậu lãng mạn đến siêu thực, tượng trưng, vắt qua hậu hiện đại và đang dần khẳng định trong việc sáng tạo lối viết tân cổ điển mang đậm tinh thần người Việt nhưng có sự tiếp thu tinh hoa nhân loại Thế nên, theo dõi hành trình thơ của thi sỹ này, người đọc sẽ thấy sự thay đổi trong thi pháp từ những vần thơ còn mang âm

hưởng truyền thống, từ Giọt nắng (1992), Gọi xanh (1995) đến những tập thơ thể hiện rõ sự cách tân, hiện đại, mới mẻ với Bầu trời không mái che (2010), hoa giấu mặt (2012), Vừa sinh ra ở đó (2013) đến sự “bừng ngộ”

trong không gian thơ thấm đẫm tinh thần Việt cùng màu sắc tôn giáo trong

thả (2015) Mai Văn Phấn là một nhà thơ có sức sáng tạo dồi dào và luôn ý

thức lớn lao với công cuộc cách tân thơ

So với một số tác giả thế hệ Đổi mới như Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều thì Trần Tiến Dũng là một tài năng thi ca

có phần “nở muộn”, bởi ông “trình làng” tập thơ đầu tay Khối động (1997)

khi đã 39 tuổi Tuy nhiên, không phải vì thế mà thơ Trần Tiến Dũng bị đánh giá thấp hơn so với các nhà thơ cùng thời, ngược lại, nó “càng tiệm cận hơn với đời sống xã hội bằng một ngôn ngữ trực diện, rất dữ dội” [26; 65] Nhà thơ Trần Tiến Dũng sinh năm 1958 tại Gò Công, Tiền Giang, nhưng hiện nay

ông đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh Ngoài Khối động, Trần Tiến Dũng đã cho xuất bản bốn tập thơ khác, gồm: Hiện (2000, Nxb Trẻ) cùng ba

tập thơ được xuất bản dưới dạng “Samizat” (tức là công bố tác phẩm bằng

Trang 32

cách photocopy bản thảo thơ rồi truyền tay nhau đọc) là Bầu trời lông gà lông vịt (2003), Hai đóa hoa trên trán cho công dân hạng hai (2006), Mây bay là bay rồi (2010) Thế giới thơ Trần Tiến Dũng gây ấn tượng mạnh với người

đọc bởi hiện thực “được phơi bày” trên đó đầy ngổn ngang, phức tạp như đời sống đang diễn ra Và những bài thơ của ông hiện diện như những mẩu đối thoại bình thường song ẩn chứa những ý nghĩ sâu xa, trầm lặng của một người nghệ sỹ mang nhiều khát khao đổi thay, cải tạo xã hội

Cuối cùng trong danh sách bảy gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ Đổi mới mà chúng tôi muốn nói đến trong công trình này là Inrasara - một gương mặt đặc biệt của thơ Việt đương đại Ông sinh năm 1957 tại làng Chakleng - Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Inrasara là nhà thơ “của dân tộc Chăm” với sự gắn kết hài hòa giữa văn hóa Chăm và tâm thức hiện đại Trong sáng tác của mình, hướng về dân tộc Chăm với sự ngưỡng vọng, tôn vinh vẻ đẹp của văn hóa Chăm dường như

đã là một điều mặc định trong quá trình sáng tạo của tác giả này: con là Chăm ngay ban đầu vỡ ra tiếng khóc/ (còn hơn thế: chín tháng mười ngày trước khi

vỡ tiếng khóc)/ khi con cắm rễ nơi đây/ hay khi con lang bạt tận cùng trời/

con cứ là Chăm cả lúc cháy lên cùng ngọn lửa cuối đời (Lễ tẩy trần tháng Tư

- Ẩn ngữ Pauh Catwai) Bên cạnh đó, việc gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc qua tập thơ “Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ tân hình thức” (2006),

Inrasara đã cho thấy khả năng vận dụng linh hoạt thủ pháp của thơ tân hình thức và hậu hiện đại Ở đó, tinh thần Chăm vẫn hiện lên là một điểm nhấn tinh thần nổi bật xuyên suốt tập thơ và “thú vị ở chỗ, cách vắt dòng của Inrasara không bị rối, hay lộ rõ sự cố tình như một số tác giả khác” [26; 155]

Trang 33

1.3 Ý nghĩa, giá trị và cơ sở xã hội - thẩm mỹ của biểu tượng trong sáng tác của các nhà thơ thế hệ Đổi mới

1.3.1 Khái lược về ý nghĩa, giá trị của hệ biểu tượng trong thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới

Mọi yếu tố xuất hiện trong tác phẩm nghệ thuật không phải ngẫu nhiên,

nó thể hiện tư duy, ý đồ sáng tạo nghệ thuật của người thi sĩ Và hệ thống biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới cũng không nằm ngoài quy luật đó Chúng một mặt có giá trị thể hiện nét đặc trưng trong văn hóa của dân tộc Việt Nam; một mặt mang những ý nghĩa thẩm mỹ, cách nhìn nhận và lý giải hiện thực riêng, độc đáo của cá nhân mỗi nhà thơ

Trước hết, có thể thấy rằng hệ thống các biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới được xây dựng mang đậm đặc trưng cho lối sống, tư duy, tín ngưỡng người Việt Đó là hệ thống các biểu tượng sinh sôi, nảy nở (bầu trời, đất đai, cánh đồng, sông nước, cỏ cây, không khí, gió…) với tần số xuất hiện lớn trong thơ thế hệ Đổi mới đã phản ánh rõ nét nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước của Việt Nam nói riêng và các dân tộc Đông Nam Á nói chung Đồng thời, hệ thống các biểu tượng trong thơ các tác giả còn tượng trưng cho cội nguồn văn hóa cũng như đời sống tinh thần của người Việt (đặc biệt là văn hóa tâm linh) Thông qua các biểu tượng, sự diễn đạt, mô tả những đặc trưng văn hóa càng thêm phong phú, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc

Bên cạnh đó, hệ thống biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới còn mang những ý nghĩa, giá trị thẩm mĩ độc đáo Nói đến ý nghĩa, giá trị thẩm mĩ trong văn học là nói đến cái hay, cái đẹp của tác phẩm Việc xây dựng hệ thống các biểu tượng trong thơ thế hệ Đổi mới cũng là một yếu tố làm nên cái hay, cái đẹp đó của bài thơ

Ý nghĩa, giá trị của biểu tượng chính là việc từ một hình ảnh, sự vật cụ thể qua hoạt động sáng tạo của thi sĩ, trở thành biểu tượng mang ý nghĩa trùng

Trang 34

phức, khái quát và nó chỉ tồn tại trong một văn cảnh nhất định; thoát ra ngoài văn bản, văn cảnh đó, biểu tượng đã mất đi ý nghĩa Hoặc nói cách khác: “Giá trị của biểu tượng được xác định chính trong sự chuyển vượt từ cái đã biết sang cái chưa biết, từ cái đã diễn đạt sang khó tả nên lời Nếu cái phần giấu kín một ngày nào đó lộ ra hết, thì biểu tượng sẽ chết” [8; XXV] Theo đó, ý nghĩa, giá trị thẩm mỹ của hệ thống biểu tượng trong thơ thế hệ Đổi mới là góp phần tạo ra sự đa nghĩa cho thi ảnh, dẫn dụ người đọc vào sự “đa chiều liên tưởng” khác nhau Đồng thời, nó giúp cho thi nhân diễn đạt được những điều “khó tả nên lời”, những cái ẩn giấu còn nằm sâu trong thế giới mới - thế giới của tưởng tượng, vô thức, tâm linh Đó cũng chính là đối tượng hướng đến của các tác giả thế hệ Đổi mới

Vốn đề cao hình thức thẩm mĩ của thơ ca, các tác giả thế hệ Đổi mới đang ngày càng tiến gần hơn trên con đường chối từ lối biểu đạt truyền thống của những ẩn dụ, hoán dụ, so sánh… mở ra những chiều liên tưởng khác nhau

về giá trị của mĩ cảm thơ trong sự tiếp nhận của người đọc Chính vì thế nên khi đọc thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới, người đọc thường có những cách giải thích, suy nghĩ khác nhau khi tiếp cận cùng một văn bản, cùng một biểu

tượng Điều này, được gợi lên từ các ý nghĩa trùng phức của biểu tượng

1.3.2 Cơ sở xã hội - thẩm mỹ của phương thức mô tả đời sống bằng biểu tượng trong thơ thế hệ Đổi mới

Trang 35

chọi với các thế lực thù địch ở biên giới phía Bắc và Tây Nam Đồng thời, những hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại vẫn chưa thể khắc phục Tiếp

đó, những chính sách sai lầm trong cơ chế quản lý quan liêu bao cấp cùng với chính sách cấm vận của Mỹ một lần nữa, đẩy nước ta vào muôn vàn khó khăn Bởi vậy, thơ ca cũng không thể tiếp tục giọng điệu, cảm hứng sử thi như trước nữa

Đến năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề

ra chính sách đổi mới, mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Công cuộc đổi mới không chỉ làm thay đổi diện mạo đất nước trên bình diện kinh tế, chính trị, xã hội mà còn làm thay đổi một cách sâu sắc và tác động trực tiếp đến đời sống văn hóa, trong đó có văn học

Sự nghiệp đổi mới, chính sách mở cửa giao lưu kinh tế - văn hóa đã đưa nước ta hòa nhập vào xu thế phát triển chung của thế giới Cùng với đó, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm thay đổi nền sản xuất, kiến tạo lại hạ tầng cơ sở xã hội Nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa

đã tác động nhiều mặt tới đời sống cũng như tới hoạt động sáng tạo nghệ thuật Việt Nam từ một nền văn hóa mang đậm tính cộng đồng, làng xã đã và đang chuyển mình thành một nền văn hóa dân tộc mang tính hiện đại Điều đó

đã tác động không nhỏ tới ý thức cá nhân, nhận thức xã hội, nghề nghiệp của người nghệ sỹ Nếu như giai đoạn trước đó, các tác giả không xem viết văn, thơ là nghề, mà chỉ là một thứ “công cụ hỗ trợ” đắc lực, là vũ khí chiến đấu cho sự nghiệp cách mạng; thì giờ đây, các nhà thơ, nhà văn trực tiếp đối diện với văn chương và xem nó là một nghề chân chính, đích thực; họ buộc mình phải có trách nhiệm với chính nó Tất cả những điều đó, đã thúc đẩy họ tìm tòi, học hỏi những khuynh hướng sáng tạo mới và dĩ nhiên, cần kiến tạo một lối viết khác, một hướng đi khác cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật

Trang 36

Trách nhiệm, ý thức về nghề nghiệp đã thúc đẩy các nhà thơ đi sâu tìm hiểu về các kỹ thuật viết hiện đại Trước hết, phải kể đến văn học phương Tây, mà đại diện tiêu biểu là Baudelaire với “tính biểu trưng”, tức là chủ trương phản ánh thế giới bằng hệ thống các biểu tượng Và đi đầu cho các khuynh hướng sáng tạo được tiếp thu trở lại một cách nhanh chóng là chủ nghĩa tượng trưng siêu thực trong thơ (vốn được một số nhà thơ mới học tập trước đó, như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên )

Chính những điều kiện thuận lợi về kinh tế, giao thông, tiếp xúc văn hóa đã góp phần không nhỏ trong việc học hỏi các khuynh hướng sáng tạo, những kỹ thuật viết mới của các nhà thơ, tạo đà cho sự phát triển của hoạt động sáng tạo thi ca

1.3.2.2 Cơ sở thẩm mỹ

Những sự thay đổi về điều kiện lịch sử - xã hội đã tạo đà cho sự thay đổi trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật Ý thức cá nhân và trách nhiệm về nghiệp viết đã thúc đẩy sự chuyển biến trong cách nhìn, quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ; cùng với đó là sự xuất hiện thế hệ nhà thơ Đổi mới với những cách tân thi pháp mạnh mẽ là những cơ sở thẩm mỹ của phương thức

mô tả đời sống bằng hệ thống biểu tượng trong thơ

Trước hết là sự thay đổi trong quan niệm thẩm mỹ về con người và đời sống Nếu như trong văn học cách mạng, con người thường được mô tả với vẻ đẹp phi thường, đại diện cho sức mạnh của cả dân tộc thì thơ sau 1975, đặc biệt từ sau 1986, lại mô tả con người với những gì bình dị nhất, gắn với tất cả nỗi lo toan của cuộc sống thường nhật Giờ đây, hiện thực được phản ánh cũng không còn đơn tuyến như trước, ngược lại, đầy hỗn tạp như nó vốn có Bên cạnh đó, thế giới mô tả được mở rộng ở bề sâu trong thế giới đầy bí ẩn của con người: thế giới của tưởng tượng, vô thức, tâm linh Và để diễn tả thế giới của những “mộng và ảo” ấy, không gì hơn, sự diễn đạt bằng hệ thống các

Trang 37

biểu tượng Chính sự “mờ nhòe” về nghĩa của nó hoàn toàn đáp ứng được những gì mà nhà thơ muốn/ cần sáng tạo

Bên cạnh sự thay đổi về con người, đời sống, các nhà thơ cũng có sự thay đổi trong quan niệm về bản chất của thơ ca Nếu như văn học trung đại xem thơ ca là để tải đạo, giáo huấn “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí” thì sang thời hiện đại, ngoài chức năng xã hội, chức năng giáo dục, các nhà thơ còn chú trọng đề cao thơ ca ở chức năng thẩm mỹ Tôn vinh và sáng tạo cái Đẹp buộc các nhà thơ phải có sự mở rộng chủ đề, đề tài và phạm vi phản ánh Chính những sự thay đổi trong quan niệm sáng tạo đã đưa đẩy sự thay đổi về hình thức, ngôn ngữ thơ ca Đặc biệt, nhiều nhà thơ nhanh chóng tiếp thu các

kỹ thuật viết hiện đại, các khuynh hướng, trào lưu thơ mới trên thế giới, tạo nên sự cách tân về thi pháp vô cùng mạnh mẽ trong thơ giai đoạn này Và một trong những kỹ thuật viết được tiếp thu ấy chính là việc sử dụng phương thức

mô tả đời sống bằng hệ thống các biểu tượng

Trang 38

Chương 2 CÁC NHÓM BIỂU TƯỢNG VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG

BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ CÁC TÁC GIẢ

THẾ HỆ ĐỔI MỚI

2.1 Các nhóm biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới

Thế giới nghệ thuật trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới được mô tả thông qua hệ thống đa dạng các biểu tượng khác nhau Tuy nhiên, giữa các biểu tượng ấy luôn có những sợi dây liên kết với nhau về một nội dung phản ánh cụ thể nào đó tuỳ theo ý đồ sáng tạo nghệ thuật của tác giả Như vậy, từ những biểu tượng đơn lẻ, chúng tập hợp thành những nhóm biểu tượng gần gũi nhau về nội dung, ý nghĩa Xét trên tiêu chí nội dung, ý nghĩa phản ánh của biểu tượng, có thể thấy, trong thơ thế hệ Đổi mới, nổi bật lên là các nhóm biểu tượng: nhóm biểu tượng về thế giới tự nhiên và đời sống thế tục; nhóm biểu tượng về thế giới tâm linh; nhóm biểu tượng về những giá trị văn hóa dân tộc; nhóm biểu tượng về tình yêu và sức mạnh dục tính; nhóm biểu tượng

về hoạt động sáng tạo nghệ thuật

2.1.1 Nhóm biểu tượng về thế giới tự nhiên và đời sống thế tục

Có thể thấy ý nghĩa đầu tiên của hệ thống biểu tượng trong thơ các tác giả thế hệ Đổi mới là sự thể hiện thế giới tự nhiên và đời sống thế tục Ở đó, bằng hàng loạt các biểu tượng nổi bật trong thơ của mình, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đã khắc họa một cách rõ nét, đủ đầy mọi hình dạng, trạng thái với tất

cả các hoạt động của tự nhiên và con người

Thật ra, sự phản ánh thế giới tự nhiên và đời sống thế tục là một đề tài

đã quen thuộc trong thơ ca Việt Nam Song với quan niệm phản ánh thế giới một cách chân thực, thậm chí “thật hơn cả sự - thật - được - nhìn - thấy”, các nhà thơ thế hệ Đổi mới rõ ràng đã có những sự miêu tả “cận cảnh”, trực diện

Trang 39

những hình ảnh, sự vật vốn bị coi là tầm thường, thô tục, bẩn thỉu của hiện thực đời sống vào trong thơ mình Tuy nhiên, đằng sau vẻ hiện thực, thậm chí nhiều khi cực thực, trần trụi ấy là một nhãn quan, tư duy nghệ thuật rất khác trước - tư duy hiện đại chủ nghĩa Bởi lúc này, hiện thực đã được soi chiếu dưới một góc nhìn khác, không chỉ dừng lại ở sự bê nguyên hiện thực bên ngoài như hiện thực được “tả thực” trong thơ tiền hiện đại

Các nhà thơ thế hệ Đổi mới đi sâu khai thác, mô tả, phản ánh, lí giải hiện thực đời sống xã hội trong tất cả mối quan hệ phức tạp, đa dạng của nó Đặc biệt, họ còn phản ánh xã hội trong những mặt trái, mặt tối, sự bất toàn của nó Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa các nhà thơ đang cố gắng “bôi đen” xã hội ấy mà nó gắn liền với nhu cầu được nhận thức bản chất của hiện thực ở bề sâu bề xa, cùng với đó là sự thể hiện ý thức trách nhiệm xã hội, lương tri của người nghệ sĩ, đồng thời phản ánh những khát khao được xây dựng một xã hội văn minh hơn, tốt đẹp hơn

Trước hết, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đã xây dựng trong thơ mình một thế giới tự nhiên đầy sống động thông qua hệ thống các hình ảnh - biểu tượng

tự nhiên Đó là những đám mây trôi, làn sương giăng, cánh đồng hoa cỏ

trong thơ Dương Kiều Minh: Ôi những đám mây - con thuyền trôi về thơ ấu Bình dị, xinh xinh bông hoa cỏ, những bông hoa nở rộ tô điểm cho sự trống trải quên lãng cánh đồng./ Những buổi sớm mờ sương băng qua bờ ruộng ướt, người ngây ngất sốt, mùi cỏ tỏa lên ngai ngái Những bông cúc dại nở muộn mằn vì một thời rất xa nào đó (Mục V - Chạnh niềm thôn dã); là một

chiếc lá vàng, một vầng trăng, một bụi cây, một dải cầu vồng trong thơ

Nguyễn Bình Phương: Một chiếc lá vàng/ Một vầng trăng/ Một khuôn mặt xanh/ Một chiếc lá/ Một cô gái mơ màng trống trải/ Một con mèo hoang đợi chủ bên thềm// Một dải cầu vồng trắng đen/ Một bụi cây không gió/ Một giọt nước miên man/ Một im lặng (Tặng em) Có thể thấy mọi vật trong thế giới

Trang 40

ấy thường có xu hướng “động”, chuyển dịch, sinh sôi nảy nở như chính bước

đi của thời gian tự nhiên, thời gian của tạo hóa, đất trời: Trái đất bắt đầu vòng quay khác/ Nhanh hơn// Mặt trời về với bóng tối/ Hoa trái, dấu chân/ Những ngôi nhà kín cửa// Đàn ong thợ bay về/ Không còn chiếc tổ và con ong chúa/ Hương đất lạ hạt mưa// Con ngựa trời say tốc độ/ Lảo đảo bám chặt nhành cây/ Đại bàng xoải cánh đỉnh núi/ Biển dồn nghẹn thở cửa sông (Tỉnh dậy trong mưa - Mai Văn Phấn)

Đặc biệt, thế giới tự nhiên ấy còn được thể hiện bằng hệ thống biểu tượng về các loài côn trùng, bò sát vốn bị xem là nhỏ bé, ghê rợn, tầm thường

Chẳng hạn, “gián”, “cóc” trong thơ Nguyễn Quang Thiều: Con gián xòe cánh bay/ Chuyến vận hành mông lung mang theo ổ trứng/ / Con cóc già lơ đễnh

và tinh quái/ Nó vuốt trăng trên mặt nhìn tôi/ Bàn tay nó mềm và lạnh (Dưới trăng và một bậc cửa); “rắn”, “chuột” trong thơ Trần Quang Quý: Trong mắt rắn, dĩ nhiên rồi ta cũng loài rắn/ ngôn ngữ của trườn bò/ bóng tối phục binh trong bình minh nọc độc/ quen lẩn khuất rập rình và tiến thân lươn lẹo/ những già cỗi cũ mèm rồi có thể lột da/ chỉ tính rắn không lột được cùng lốt rắn (Đồng loại); Ta thấu những bình mình của chuột lặn trong mắt mèo/ Những cây rơm rạn gió sương từ thưở còn bùn đất (Giấc mơ hình chiếc thớt);

“con sẻ”, “con kiến” trong thơ Inrasara: Sau Lễ Tẩy trần thág Tư năm nay/ cả con sẻ nhỏ yếu, cái kiến mọn hèn nhất/ cũng có đất để sống để chơi (Ẩn ngữ Pauh Catwai) Tuy nhiên, dưới con mắt của các nhà thơ thế hệ Đổi mới,

những sinh vật nhỏ bé, tầm thường ấy lại có thể mang trong mình sứ mệnh

thiêng liêng, cao cả: Bỏ lại cánh đồng có vòng lưng cúi gập, chiếc nón mê ngự trên đầu ngàn năm ngọn tháp, nghe xa xăm tiếng côn trùng ếch nhái vẫn cầu kinh Chúng cầu nguyện cho mùa màng tươi tốt, cho chiếc nón mê úp lên thành vòm cây, thành nắm rơm, đống thóc, thành tuổi thơ ta vẫn đứng đợi bà

về (Chương III: Cộng hưởng I - Mai Văn Phấn)

Ngày đăng: 01/08/2021, 11:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w