1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hồ sơ diễn án số 06 - Đinh Thị Tám

17 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 34,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo hồ sơ vụ án, Ông Chu Khắc Trường ( mất 1945 ) và bà Chu Thị Cúc ( mất 1990 ) có tất cả 4 người con là Chu Thị Hồng Thanh ( Chu Thị Thanh ) sinh năm 1930, Chu Thị Loan sinh năm 1934, Chu Khắc Sinh ( Chu Văn Sinh) sinh năm 1939, Chu Thị The ( sinh năm 1944 ). Ông Trường mất năm 1945, năm 1990 bà Cúc chết đi không để lại di chúc, để lại di sản thừa kế là mảnh đất diện tích 777 m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.Vào ngày 20011994, ông Chu Khắc Sinh tự ý lập giấy chuyển quyền thừa kế diện tích đất nói trên cho vợ chồng ông Chu Khắc Thuyên và bà Đinh Thị Tám mà không có sự đồng ý của những người thừa kế khác. Vào ngày 10041944, UBND xã Phù Vân ra Thông báo số 05TBUB tạm đình chỉ việc chuyển nhượng nói trên giữa ông Sinh và vợ chồng ông Thuyên.Vào ngày 15041994, bốn chị em bà Thanh, bà Loan, ông Sinh và bà The đã thống nhất giao diện tích đất trên cho ông Thuyên và bà Tám trong coi và quản lý. Thời hạn giao 05 năm kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1994 đến tháng 15 tháng 4 năm 1999. Người được sử dụng phải có giao ước sau: Nhà cửa tu sửa giữ để ở, thờ cúng tổ tiên không để dột nát, đất đai tự sản xuất ra sản phẩm sử dụng và nộp nghĩa vụ với nhà nước (trồng các cây ngắn ngày) không được xây dựng cơ bản như: làm nhà, đất phải giữ nguyên mặt bằng không được đào khoét. Các cây cối lưu niên không được chặt phá.Tổng giá trị thu nhập cây lưu niên hàng năm phải có sự chứng kiến của hai bên nội ngoại. Số tiền đó ông Chu Khắc Thuyên được hưởng 50% ( năm mươi phần trăm ) phần còn lại do bốn chị em bà Thanh sử dụng mở sổ ở ngân hàng do bà Chu Thị Hồng Thanh đứng tên. Đến năm 2007 Ông Chu Khắc Thuyên chết, phần tài sản nói trên tiếp tục được vợ Ông Thuyên là bà Định Thị Tám quản lý.Thế nhưng vào tháng 52016 bà Tám xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 khoảng 100 m2 trên mảnh đất kể trên. Không đồng ý với việc xây cất nói trên nên ông Sinh có đơn gửi UBND xã Phù Vân đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai giữa bốn chị em ông với bà Đinh Thị Tám. UBND xã Phù Vân đã tiến hành 2 phiên hòa giải vào ngày 19062016 và ngày 25102016 nhưng không có kết quả.Vào ngày 05112016, bà Thanh và ông Sinh cùng đứng đơn khởi kiện đòi quyền sở hữu quyền sử dụng đất đối với mảnh đất tranh chấp nói trên đối với bà Đinh Thị Tám. Yêu cầu bà Đinh Thị Tám trả lại diện tích đất 777 m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho bà Chu Thị Thanh, ông Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Loan, bà Chu Thị The. Buộc bà Đinh Thị Tám phải trả nhà, đất, cây cối trên diện tích đất 777 m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 của gia đình và hoa màu trên đất với 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 1541994.

Trang 1

PHẦN I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN.

Theo hồ sơ vụ án, Ông Chu Khắc Trường ( mất 1945 ) và bà Chu Thị Cúc ( mất 1990 ) có tất cả 4 người con là Chu Thị Hồng Thanh ( Chu Thị Thanh ) sinh năm 1930, Chu Thị Loan -sinh năm 1934, Chu Khắc Sinh ( Chu Văn Sinh) sinh năm 1939, Chu Thị The ( sinh năm 1944 ) Ông Trường mất năm 1945, năm 1990 bà Cúc chết đi không để lại di chúc, để lại di sản thừa kế là mảnh đất diện tích 777 m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Vào ngày 20/01/1994, ông Chu Khắc Sinh tự ý lập giấy chuyển quyền thừa

kế diện tích đất nói trên cho vợ chồng ông Chu Khắc Thuyên và bà Đinh Thị Tám mà không có sự đồng ý của những người thừa kế khác

Vào ngày 10/04/1944, UBND xã Phù Vân ra Thông báo số 05/TB-UB tạm đình chỉ việc chuyển nhượng nói trên giữa ông Sinh và vợ chồng ông Thuyên Vào ngày 15/04/1994, bốn chị em bà Thanh, bà Loan, ông Sinh và bà The

đã thống nhất giao diện tích đất trên cho ông Thuyên và bà Tám trong coi và quản lý Thời hạn giao 05 năm kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1994 đến tháng 15 tháng 4 năm 1999 Người được sử dụng phải có giao ước sau: Nhà cửa tu sửa giữ để ở, thờ cúng tổ tiên không để dột nát, đất đai tự sản xuất ra sản phẩm sử dụng và nộp nghĩa vụ với nhà nước (trồng các cây ngắn ngày) không được xây dựng cơ bản như: làm nhà, đất phải giữ nguyên mặt bằng không được đào khoét Các cây cối lưu niên không được chặt phá

Tổng giá trị thu nhập cây lưu niên hàng năm phải có sự chứng kiến của hai bên nội ngoại Số tiền đó ông Chu Khắc Thuyên được hưởng 50% ( năm mươi phần trăm ) phần còn lại do bốn chị em bà Thanh sử dụng mở sổ ở ngân hàng do

bà Chu Thị Hồng Thanh đứng tên

Đến năm 2007 Ông Chu Khắc Thuyên chết, phần tài sản nói trên tiếp tục được vợ Ông Thuyên là bà Định Thị Tám quản lý

Trang 2

Thế nhưng vào tháng 5/2016 bà Tám xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 khoảng

100 m2 trên mảnh đất kể trên Không đồng ý với việc xây cất nói trên nên ông Sinh có đơn gửi UBND xã Phù Vân đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai giữa bốn chị em ông với bà Đinh Thị Tám UBND xã Phù Vân đã tiến hành 2 phiên hòa giải vào ngày 19/06/2016 và ngày 25/10/2016 nhưng không có kết quả Vào ngày 05/11/2016, bà Thanh và ông Sinh cùng đứng đơn khởi kiện đòi quyền sở hữu quyền sử dụng đất đối với mảnh đất tranh chấp nói trên đối với bà Đinh Thị Tám

* Yêu cầu bà Đinh Thị Tám trả lại diện tích đất 777 m2 tạithửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho bà Chu Thị Thanh, ông Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Loan, bà Chu Thị The

* Buộc bà Đinh Thị Tám phải trả nhà, đất, cây cối trên diện tích đất 777 m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 của gia đình và hoa màu trên đất với 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 15/4/1994

PHẦN II

Trang 3

CÁC VẤN ĐỀ TỐ TỤNG 1/ Quan hệ pháp luật tranh chấp

* Tranh chấp giữa các nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất

2./ Thẩm quyền của Tòa án

Theo Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai 2013 tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải Thực hiện theo quy định này, các nguyên đơn đã 02 lần làm đơn đề nghị hòa giải gửi UBND xã Phù Vân UBND xã Phù Vân đã tiến hành hòa giải 02 lần vào các 19/06/2016 và 25/10/2016 nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau Do đó, các nguyên đơn có quyền khởi kiện vụ án

Việc khởi kiện của các nguyên đơn sau khi đã hòa giải tại cơ sở không thành

là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 9 Điều 26 BLTTDS năm 2015

Theo Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015, TAND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam thụ lý và giải quyết vụ án

3./ Tư cách đương sự

*** Nguyên đơn:

Bà Chu Thị Hồng Thanh (tên gọi khác Chu Thị Thanh) sinh năm:

1930

Địa chỉ: Số 12, tổ 16, Phường Nam Thanh, TP Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Đại diện theo ủy quyền: Chu Thị Hồng Tâm, sinh năm: 1970

Địa chỉ: Số 61, tổ 16, Phương Nam Thành, TP Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Trang 4

Ông Chu Văn Sinh, sinh năm: 1936

Địa chỉ: Thôn Vạn Thắng, xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

*** Bị đơn:

- Bà: Đinh Thị Tám, sinh năm: 1930

Địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

*** Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà: Chu Thị Loan, sinh năm 1935.

Địa chỉ: Tổ 3 phường Cầu Thía, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái

Đại diện theo ủy quyền: Ông Chu Anh Quyết, sinh năm: 1952.

Địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Bà: Chu Thị The, sinh năm: 1944.

Địa chỉ: Đội 1 thôn Diên Điền, xã Bình Hòa, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Đại diện theo ủy quyền: Ông Chu Anh Quyết, sinh năm: 1952.

Địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Ông: Chu Khắc Hồng, sinh năm: 1956

Bà: Trần Thị Đắc, sinh năm: 1957

Bà: Chu Thị Mai, sinh năm: 1952

Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

4./ Các chứng cứ đã có/bổ sung

* Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 5

* Giấy chứng tử của bà Chu Thị Cúc

* Giấy xác nhận ông Chu Khắc Trường mất năm 1945

* Tờ bản đồ hiện trạng năm 1998 và tờ bản đồ năm 1990

* Bản sao hộ khẩu gia đình

* CMND của các đương sự: bà Thanh, bà Loan, ông Sinh và bà The

* Giấy khai sinh của các nguyên đơn và người có quyền, lợi ích liên quan (nếu có)

* Thông báo tạm đình chỉ việc chuyển quyền sử dụng đất của UBND xã Phù Vân ngày 10/04/1994

* Biên bản giao đất ngày 15/04/1994

* Đơn đề nghị UBND xã can thiệp, giải quyết

* Biên bản hòa giải của UBND xã Phù Vân ngày 19/06/2016, ngày 25/10/2016

5./ Văn bản pháp luật áp dụng

*** Luật đất đai 2013

*** Bộ Luật dân sự 2005

*** Luật Tố tụng dân sự 2015

PHẦN III

KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ CỦA

NGUYÊN ĐƠN Nhằm làm sáng tỏ thêm các yêu cầu đối với thân chủ của mình, với vai trò

là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho Nguyên đơn Được sự cho phép của HĐXX.

Trang 6

Kính thưa HĐXX cho phép tôi được hỏi:

1/ Hỏi nguyên đơn: ( Bà Chu Thị Thanh )

* Hiện tại, giấy tờ chủ quyền, tên trong sổ quản lý đất đai của xã là do ai đứng tên?

* Các nguyên đơn có bán hay tặng cho bị đơn không?

* Tại sao đất của mình mà bị đơn lại là người sử dụng?

* Các nguyên đơn đòi lại đất khi nào?

* Bị đơn xây nhà, các nguyên đơn có đồng ý không? Các nguyên đơn đã làm gì?

2/ Hỏi ông Chu Văn Sinh:

* Việc ông lập đơn “chuyển quyền thừa kế” mảnh đất và tài sản trên đất

có sự nhất trí của những người thừa kế còn lại không?

* Việc ông lập đơn “chuyển quyền thừa kế” mảnh đất và tài sản trên đất thì chính quyền địa phương có ý kiến như thế nào?

2/ Hỏi bị đơn: Bà Đinh Thị Tám )

* Khi cha mẹ chết đi thì tài sản để lại là cho con cái hưởng hay cho người ngoài?

* Theo tập tục địa phương thì chỉ cho con trai hưởng hay tất cả các con đều được hưởng như nhau?

* Mảnh đất trên trước khi bà Cúc mất là của ai?

* Vậy bà Cúc chết thì mảnh đất trên là của chung cho tất cả các con của

bà Cúc đúng không?

* Đã là tài sản chung của nhiều người thì 1 người tự ý bán có được không?

Trang 7

* Như vậy, việc ông Sinh tự ý bán mảnh đất là thừa kế của 4 chị em cho

bà là có đúng không?

* UBND xã Phù Vân đã có văn bản hủy việc chuyển nhượng đất của ông Sinh và ôngThuyên, phía bị đơn có được thông báo điều này không?

* Đến giờ, mảnh đất vẫn do bà Cúc đứng tên đúng không?

* Mảnh đất trên các con của bà Cúc đã thống nhất giao cho bà và chồng

bà quản lý, sử dụng từ khi nào?

* Họ có lập giấy tờ cho bà không?

* Giấy đó ghi là giấy bán đất, chuyển nhượng đất hay là giấy giao quyền trong nôm?

* Ngoài giấy đó ra, 4 chị em họ có lập giấy hay nói là bán đất cho bà, biếu tặng đất cho bà không?

* Như vậy, đất trên vẫn là tài sản của 4 chị em họ và họ giao cho bà giữ đúng không?

* Tài sản của họ, họ đòi lại mà bà không chịu trả Bà có thấy bà sai không?

* Bà xây căn nhà vào năm nào? có cho các con của bà Cúc biết không?

* Họ có đồng ý cho bà xây không?

* Có phải vì không đồng ý nên họ đã kiện bà lên UBND xã?

* Họ đã không đồng ý, có nộp đơn lên UBND xã mà bà vẫn tự ý xây?

PHẦN IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP CHO NGUYÊN

ĐƠN

Kính thưa: Hội đồng xét xử!

Trang 8

Thưa Đại diện Viện kiểm sát và Luật sư đồng nghiệp!

Kính Thưa quý vị có mặt trong phiên toà hôm nay!

Tôi là Luật sư Lương Thanh Nhiệm, Thuộc văn phòng Luật sư Công Lý thuộc Đoàn Luật Sư tỉnh Hậu Giang Tôi có mặt tại phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là Bà Chu Thị Hồng Thanh trong vụ án dân sự thụ lý 20/2016/TLST-DS ngày 08/11/2016 về việc “ Tranh chấp về quyền sử dụng đất ”

Sau khi nghiên cứu kỹ toàn bộ hồ sơ vụ án, cũng như qua phần hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bà Chu Thị Hồng Thanh

Tôn xin trình bày cụ thể từng vấn đề sau đây:

Căn cứ vào sổ quản lý đất đai của UBND xã Phù Vân và các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, cũng như sự thừa nhận của các đương sự,

có thể khẳng định rằng: Mảnh đất tranh chấp nói trên bao gồm 777 m2 thửa đất

số 40 tờ bản đồ số 2, lập năm 1998 ( bút lục 21 ) cụ thể:

* Diện tích nhà ở: 183,4 m2;

* Diện tích vườn: 384,9 m2;

*Diện tích ao: 209,1 m2;

Là tài sản của ông Chu Khắc Trường và bà Chu Thị Cúc Sau khi ông Trường mất thì giao lại cho bà Cúc quản lý Do bà Cúc mất, không để lại di chúc Cho nên căn cứ vào quy định tại điều 636, điểm a khoản 1 điều 675, điểm

a khoản 1 điều 676 thì các con của bà Cúc đều là đồng thừa kế đối với phần di sản của bà Cúc Từ các căn cứ trên, ta xác định được các ông bà Chu Thị Hồng Thanh, Chu Thị Loan, Chu Thị The và Chu Văn Sinh là những người có quyền thừa kế đối với phần di sản mà bà Cúc để lại

Trang 9

Trên thực tế do các ông bà Sinh, Loan, The, Thanh đều đã lập gia đình ở địa phương khác Vì vậy, các ông bà nói trên đã thống nhất giao cho người bà con của mình cư ngụ tại gần đó là ông Chu Khắc Thuyên ( Chu Khắc Kha ) để ông Thuyên trông coi phần đất đai, tài sản đó Sự thỏa thuận của các bên được lập vào ngày15/4/1994 đã xác định rõ trách nhiệm cũng như quyền lợi của ông Thuyên khi trông coi đất đai vườn tược là: “Thời hạn giao 05 năm kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1994 đến tháng 15 tháng 4 năm 1999 Người được sử dụng phải có giao ước sau: nhà cửa tu sửa giữ để ở, thờ cúng ông bà không để dột nát, đất đai

tự sản xuất ra sản phẩm sử dụng và nạp nghĩa vụ với nhà nước ( trồng các cây ngắn ngày ) không được xây dựng cơ bản như: làm nhà, đất phải giữ nguyên mặt bằng không được đào khoét Các cây cối lưu niên không được chặt phá” Như vậy, việc bà Đinh Thị Tám đang trực tiếp quản lý phần đất đai và tài sản có trên đất thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn được xuất phát từ nghĩa vụ của ông Chu Khắc Thuyên

Căn cứ vào điểm d khoản 1 điều 639 BLDS 2005 thì “ người quản lý di sản có nghĩa vụ giao lại di sản thừa kế theo yêu cầu của những người thừa kế ” Như vậy, trong mọi thời điểm khi tất cả các đồng thừa kế yêu cầu người quản lý

di sản thừa kế giao trả lại di sản thì họ phải giao trả lại theo đúng quy định của pháp luật về thừa kế Do đó, việc các nguyên đơn yêu cầu bà Đinh Thị Tám giao trả phần đất 777 m2 thửa đất số 40 tờ bản đồ số 2, lập năm 1998 cụ thể: Diện tích nhà ở: 183,4 m2; Diện tích vườn: 384,9 m2 Diện tích ao: 209,1 m2 là hoàn toàn có cơ sở Thêm vào đó, Văn bản xác định thời hạn giao quản lý di sản thừa

kế là 05 năm ( 15/04/1994 – 15/4/1999 ), hết thời hạn trên thì người quản lý di sản không còn quyền quản lý di sản trên nữa Việc các đồng thừa kế không yêu cầu giao trả ngay khi hết thời hạn giao nói trên không có nghĩa là di sản thừa kế

đó trở thành tài sản thuộc sở hữu của người quản lý di sản Tài sản nói trên đang

bị bà Đinh Thị Tám chiếm hữu trái pháp luật

Trang 10

Việc bà Đinh Thị Tám dựa vào hợp đồng chuyển quyền thừa kế giữa ông Chu Văn Sinh và ông Chu Khắc Thuyên để nói rằng, tài sản đang tranh chấp là của gia đình bà, là điều không đúng Bởi vì, ngày 10/4/1994, UBND xã Phù Vân đã có thông báo về việc tạm đình chỉ việc chuyên quyền thừa kế giữa chồng bà và ông Sinh, nên văn bản ký kết giữa 2 người đã không còn có hiệu lực nữa

Ngoài ra, Căn cứ điểm b khoản 1 điều 639 BLDS 2005 thì người quản lý

di sản không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản Do đó, ngay cả khi việc ông Sinh và ông Thuyên (tức chồng bà Tám) có thực hiện việc chuyển nhượng phần diện tích đất và tài sản có trên đất thì việc chuyển nhượng trên cũng hoàn toàn trái với các quy định của pháp luật

Việc bà Tám xây dựng căn nhà cấp 4 diện tích 100 m2 vào năm 2016 là vi phạm thỏa thuận giữa các bên Các đương sự không đồng ý, có đơn đề nghị UBND xã Phù Vân can thiệp giải quyết Do đó, bà Tám phải tháo dỡ đi, trả lại diện tích đất nói trên cho các đương sự Các đương sự không có nghĩa vụ phải bồi thường chi phí tháo dỡ, thiệt hại do việc tháo dỡ tài sản của bà Tám để trả lại di sản thừa kế cho họ

Trên cơ sở lập luận nêu trên và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

Tôi xin kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu:

Một là: Công nhận tài sản tranh chấp là thuộc quyền sở hữu chung, hợp

pháp của các nguyên đơn và các người có quyền lợi liên quan

Hai là: Buộc bà Đinh Thị Tám trả lại tài sản trên cho các chủ sở hữu hợp

pháp nêu trên

Ba là: Buộc bà Đinh Thị Tám tháo dỡ nhà trả lại hiện trang đất như ban

đầu, trả lại tài sản cho các nguyên đơn và các người có quyền lợi nghĩa vụ liên

Trang 11

quan để họ có điều kiện thờ cúng cha, mẹ Họ không có nghĩa vụ bồi thường cho việc tháo dỡ nhà cửa do Bị đơn xây dựng trái phép

Kính thưa HĐXX

Trên đây là toàn bộ quan điểm và yêu cầu của tôi về vụ việc, rất mong được sự xem xét của để có được phán quyết công bằng, để đảm bảo quyề và lợi ích cho tất cả các đương sự trong vụ án

Một lần nữa tôi xin cảm ơn HĐXX, những người tham dự phiên toà hôm nay đã dành thời gian lắng nghe và xem xét ý kién của tôi

Xin trân trọng cảm ơn!

PHẦN V NỘI DUNG NHẬN XÉT CÁC VAI DIỄN 1/ Thủ tục chung của phiên toà

Trang 12

2/ Thẩm phán ( Huỳnh Chí Sĩ " Đống vai " )

3/ Hội thẩm nhân dân ( Trang Hồng Thiên & Mai Ngọc Mẫn " Đống vai

" )

Trang 13

4/ Thư ký phiên toà ( Nguyễn Thị Hoàng Dung " Đống vai ")

Trang 14

5/ Đại diện viện kiểm sát ( Hà Quốc Khánh " Đống vai " )

6/ Luật sư 6.1/ Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ( Bùi Văn Đại -Lê Ngọc Lan và Trần Trọng Phi " Đống vai " )

Trang 15

6.2/ Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ( Nguyễn Thị Kim Anh & Trần Đăng Khoa " Đống vai " )

.7/ Nguyên đơn ( Đoàn Thị Tuyết Lan & Huỳnh Văn Vương " Đống vai " )

Ngày đăng: 26/07/2021, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w