Sai sót Thuốc Medication errors – ME: - là tất cả các sai sót - không phân biệt bệnh nhân đã dùng hay chưa, có gây tổn hại gì hay không - xảy ra trong quá trình liên quan đến thuốc.. M
Trang 1PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC
(Adverse Drug Reaction)
ThS DS Hoàng Kim Long
Nội dung
Mục tiêu
Các khái niệm, phân loại
Quy trình báo cáo ADR
Kết luận
2
ADR
3
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
1 Khái niệm:
Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction - ADR)
Là phản ứng độc hại, không được định trước , xuất hiện ở liều thuốc thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán hay chữa bệnh hoặc nhằm thay đổi một chức năng sinh lý
Định nghĩa này không bao gồm các trường hợp thất bại trị liệu, quá liều, lạm dụng thuốc, không tuân thủ và sai sót trong trị liệu
có thể dự đoán được / không thể dự đoán được
Tần suất: Thường xuyên -> không thường xuyên
Hậu quả: nghiêm trọng -> không nghiêm trọng
Việc phát hiện nhanh ADR phụ thuộc vào: Thời gian xử trí
và công tác tổ chức hệ thống Cảnh giác Dược.
Trang 2II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
1 Khái niệm:
Biến cố bất lợi (Adverse Drug Event - ADE)
ADE là bất kỳ một biến cố nào xảy ra trong quá trình sử dụng
thuốc nhưng không nhất thiết do phác đồ điều trị bằng thuốc
gây ra, đồng nghĩa có thể không có mối liên hệ nhân quả giữa
thuốc và biến cố Như vậy biến cố bất lợi bao gồm những ảnh
hưởng do thuốc gây ra (ADR) và do cách dùng thuốc (giảm liều,
quá liều, ngừng điều trị )
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
1 Khái niệm:
Tác dụng phụ : Là tác dụng không định trước của một chế phẩm thuốc xảy ra ở liều thường dùng ở người và liên quan đến đặc tính dược lý của thuốc.
Minh họa: Tác dụng kháng cholinergic của các thuốc chống trầm cảm ba vòng có thể gây ra các tác dụng phụ như khô miệng, táo bón, bí tiểu tiện Tuy nhiên , tác dụng phụ không hoàn toàn có hại mà trong một số trường hợp có thể có lợi và trở thành tác dụng điều trị chính
=> Giả sử một bệnh nhân bị trầm cảm và hội chứng ruột kích thích gây tiêu chảy Lúc này, việc sử dụng thuốc chống trầm cảm ba vòng sẽ có lợi ích với tác dụng kháng cholinergic của thuốc ngoài tác dụng chống trầm cảm.
Sai sót Thuốc (Medication errors – ME):
- là tất cả các sai sót
- không phân biệt bệnh nhân đã dùng hay
chưa, có gây tổn hại gì hay không
- xảy ra trong quá trình liên quan đến thuốc.
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
1 Khái niệm:
II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
Trang 3II/ KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ADR
10
2 Phân loại ADR:
2.1 Phân loại theo tác dụng dược lý
90-95%
Năm 1977: PL Rawlins và Thompson
2.2 Phân loại theo mức độ nặng
Nhẹ
Khôngcần xử trí hoặc dùng
thuốc giải độc; không kéo dài
thời gian nằm viện
Kháng histamin Gâybuồn ngủ
Trung
bình
Cần thay đổi điều trị hiện thời
(điều chỉnh liều, thêm thuốc),
nhưng không cần ngừng thuốc;
có thể kéo dài thời gian nằm
viện, hoặc điều trị đặc hiệu
Thuốc tránh thai Thuyênmạch tắc tĩnh
phù
Nặng
ADR cóthể đe dọa tính mạng
vàcần ngừng thuốc, kèm điều
trị đặc hiệu
Thuốc ức chế men
Tử vongADR trực tiếp hoặc gián tiếplàmbệnh nhân tử vong ParacetamolThuốc chống đông Xuất huyếtHoại tử gan
2.3 Phân loại theo thời gian khởi phát
• Cấp : 0-60 phút (chiếm 4,3%)
• Bán cấp : 1- 24 giờ (86,5%)
• Muộn : 1 ngày – nhiều tuần (3,5%)
Trang 42.4 Phân loại theo tần suất gặp phải
Rất thường gặp ADR ≥ 1/10
Thường gặp 1/10 > ADR ≥ 1/100
Ít gặp 1/100 > ADR ≥ 1/1.000
Hiếm gặp 1/1.000 >ADR ≥ 1/10.000
Rất hiếm gặp ADR< 1/10.000
DTQG 2015: Morphin Sulfat Diclofenac
Một NC tổng hợp dựa trên 22 nghiên cứu khác (2015) châu Âu
Trung bình 10.1%
bệnh nhân gặp phải ADR trong quá trình nắm viện
• Thuốc kháng sinh, thuốc chống đông máu, digoxin, thuốc
lợi tiểu, thuốc hạ đường huyết, thuốc chống ung thư và
các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) có trách
nhiệm cho 60% của ADRs dẫn đến nhập viện và 70% của
ADRs xảy ra trong bệnh viện
-> Top 10 thuốc tại châu Âu được báo cáo ADR:
1 Acetylsalicycic acid 6 Enalapril
2 Warfarin 7 Rovecoxib
3 Levofloxacin 8.Digoxin
4 Furosemide 9 Clopidogrel
5 Acenocoumarol 10 Ciprofloxacin
Các thuốc rút khỏi thị trường
Tiêu cơ vân
NMCT và TBMMN
Trang 53 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LQ SAI SAI THUỐC
Bond, C A., Cynthia L Raehl, and Todd Franke
"Medication errors in United States hospitals."
Pharmacotherapy: The Journal of Human Pharmacology and Drug Therapy 21.9 (2001): 1023-1036.
Sai sótthuốc có ảnh hưởng đến người bệnh chiếm0.25%trong tổng số bệnh nhân nhập viện/năm
Mỗi bệnh viện trung bình cứ 19.23 ngày(tương đương401
canhập viện) thì có1sai sót thuốc đến người bệnh xảy ra
Tại Mỹ (2001):
Kê đơn (51%)
• Sai thuốc
• Sai liều dùng
• Sai thời diểm dùng
• Sai đường dùng
• Sai BN
Pha chế và cấp phát thuốc
• Sai BN
• Sai thuốc
• Sai hàm lượng
• Sai đường dùng
• Sai hạn dùng
Thực hiện thuốc (38%)
• Sai BN
• Sai thuốc
• Sai liều lượng
• Sai đường dùng
• Không đúng giờ
ME có thể xảy ra trong tất cả các khâu
Tỉ lệ ME có thể ngăn chặn được
Chua SS, et al (2009), “An observational study of drug administration errors in a Malaysian hospital (study of drug administration errors)”, Journal of Clinical Pharmacy and Therapeutics, 34(2): 215-223
3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LQ SAI SAI THUỐC
ME
NVYT
BN
THUỐC
MÔI TRƯỜNG
Không nắm rõ quy trình, quy định
Thiếu kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm
Giao tiếp không tốt giữa NVYT với nhau, NVYT với BN
• Tình trạng lâm sàng phức tạp (Đa bệnh
lý, sử dụng nhiều
cơ cao)
• Công việc quá tải, áp lực thời gian
• Bị phân tâm và gián đoạn suy nghĩ
• Thiếu quy trình thao tác chuẩn
• Cơ sở vật chất không tốt
• Đồng nghiệp không tuân thủ quy
trình
• Hệ thống phần mềm chưa hỗ trợ
cho người dùng
• Tên thuốc LASA
• Bao bì, dán nhãn
Medication Errors: Technical Series on Safer Primary Care, WHO, 2016
Yếu tố nguy cơ liên quan ME
3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LQ SAI SAI THUỐC
Ảnh hưởng nghiêm trọng Ảnh hưởng trung bình tạm thời hoặc dài hạn
Không gây hại Ảnh hưởng nhẹ tạm thời
Suýt xảy ra 0
1 2 3 4
Phân loại ME theo mức độ nghiêm trọng
3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LQ SAI SAI THUỐC
Trang 6Số ME chúng ta ghi nhận được
Số ME KHÔNG được ghi nhận
CHỦ ĐỘNG BÁO CÁO ME:
NGUY CƠ HAY LỢI ÍCH?
Tại sao phải báo cáo ADR?
Tầm quan trọng của việc báo cáo phản ứng có hại của thuốc và các vấn
đề liên quan đến sử dụng thuốc:
Thử nghiệm lâm sàng với một thuốc trước khi đưa ra thị trường chỉ được tiến
hành trên một số lượng bệnh nhân rất ít so với lượng bệnh nhân sẽ sử dụng
thuốc đó trong thực tế Mặt khác các thử nghiệm lâm sàng thường không
đánh giá trên các đối tượng bệnh nhân đặc biệt như người già, trẻ em, phụ
nữ có thai, bệnh nhân suy gan, suy thận…Điều đó cho thấy những thông tin
về độ an toàn của một thuốc thu được từ các thử nghiệm lâm sàng là rất hạn
chế, đặc biệt là thông tin về các phản ứng nghiêm trọng nhưng tần suất xảy
ra thấp Do vậy, thông tin do các cán bộ y tế cung cấp về các phản ứng có
hại của thuốc sẽ vô cùng hữu ích để tiếp tục đánh giá một cách toàn diện
hơn về các nguy cơ tiềm ẩn của thuốc khi lưu hành trên thị trường
Phát hiện
Báo cáo
Đánh giá
Cập nhật
dữ liệu an toàn của thuốc
Chiến lược giảm thiểu nguy cơ
Trang 71 Cách phát hiện phản ứng có hại của thuốc
Một biến cố bất lợi xảy ra trong quá trình điều trị có thể xuất phát từ tiến
triển bệnh lý của bệnh nhân hoặc do thuốc gây ra và việc phân định rõ do
nguyên nhân nào nhiều khi rất khó khăn Nếu bệnh nhân đã dùng thuốc thì
bất kỳ biến cố nào xảy ra cũng nên được xem xét đến khả năng có phải là
do thuốc gây ra hay không Các cán bộ y tế có thể xem xét những nội dung
sau khi nghi ngờ một biến cố là phản ứng có hại của thuốc:
Mô tả lại phản ứng một cách rõ ràng
Tìm hiểu tiền sử bệnh nhân để loại trừ tất cả những nguyên nhân có thể giải
thích cho biến cố đó như các bệnh mắc kèm, thức ăn và các thuốc dùng
đồng thời có khả năng gây ra tương tác thuốc
Ngừng thuốc và sử dụng lại thuốc
Tình trạng bệnh nhân được cải thiện khi ngừng thuốc là một dấu hiệu có
tính gợi cao cho việc quy kết tác ADR có phải do thuốc hay không
Xem lại tác dụng dược lý của thuốc
và kiểm tra xem liệu phản ứng xảy ra đã được liệt kê ở các tài liệu tra cứu
về thuốc hay chưa (tờ hướng dẫn sử dụng thuốc, bản tóm tắt đặc tính sản
phẩm trong hồ s
2 Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR 2.1 Đảm bảo việc QL mẫu báo cáo phản ứng có hại của thuốc kèm theo bản hướng dẫn báo cáo
- Trung tâm DI & ADR Quốc gia và Hội đồng thuốc và điều trị của các bệnh viện trong việc phân phối mẫu báo cáo này tới các khoa phòng của các cơ sở điều trị
- Khi cần, cán bộ y tế có thể liên hệ với cơ sở y tế hoặc truy
cập chỉ http://canhgiacduoc.org.vn
2.2 Ai là người nên báo cáo về ADR?
Tất cả các cán bộ y tế, bao gồm:
Bác sĩ, Nha sĩ Dược sĩ
Y tá, điều dưỡng, nữ hộ sinh Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác
2 Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR
2.3 Những Sản phẩm báo cáo:
Nên báo cáo tất cả các biến cố nghi ngờ là phản ứng có
hại gây ra bởi: Thuốc ; Vắc xin ; Thuốc cổ truyền và thuốc có
nguồn gốc dược liệu; Thực phẩm chức năng
Đặc biệt nên chú trọng báo cáo các phản ứng có hại
Thuốc mới
Nghiêm trọng
Chưa từng được biết đến với thuốc đó
Ngoài ra, khuyến khích các cán bộ y tế báo cáo các vấn đề
về chất lượng thuốc và những sai sót trong sử dụng thuốc.
2 Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR
2.4 Thời gian báo cáo:
Nên báo cáo sớm nhất có thể sau khi xảy ra phản ứng và ngay cả khi thông tin thu được chưa đầy đủ Báo cáo trong khi bệnh nhân vẫn còn nằm viện sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn để khai thác đủ thông tin và tiến hành các xét nghiệm cận lâm sàng nếu cần thiết
Trường hợp yêu cầu báo cáo khẩn (có nên yêu cầu báo cáo khẩn đối với bệnh viện, hiện tại mới chỉ có yêu cầu báo cáo khẩn đối với các công ty dược như sau:
Phạm vi:
Các phản ứng có hại nghiêm trọng xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam Các phản ứng có hại không định trước xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam
Thời hạn báo cáo khẩn: Đơn vị phải báo cáo trong vòng 15 ngày
làm việc kể từ khi đơn vị nhận được thông tin về phản ứng có hại.)
Trang 82 Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR
2.5 Form mẫu báo cáo:
Cán bộ y tế nên hoàn thành mẫu báo cáo với tối đa
thông tin có được
Mỗi bệnh nhân cần được báo cáo bằng một bản
báo cáo riêng
Hạn chế sử dụng các từ viết tắt
Điền tối đa thông tin có được trên mẫu báo cáo ADR
(phụ lục….) theo những nội dung cơ bản sau
Nơi báo cáo
Ghi tên cơ sở điều trị hay nơi phát hiện phản ứng
FORM BÁO CÁO ADR
2 Cách báo cáo một trường hợp nghi ngờ là ADR
2.6 Gửi báo cáo ADR :
Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo
dõi phản ứng có hại của thuốc
Trường Đại học Dược Hà Nội:
13-15 Lê Thánh Tông, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Website: http://canhgiacduoc.org.vn
Email: di.pvcenter@gmail.com
3 Thẩm định báo cáo ADR 3.1 Thang Naranjo
Trang 93 Thẩm định báo cáo ADR
3.2 Thang WHO
3 Thẩm định báo cáo ADR 3.2 Thang WHO
Quy trình báo cáo ADR
- Báo cho trong vòng 3 ngày sau khi xử lý với ADR ưu tiên
và 15 NGÀY với ADR khác
- ADR ưu tiên:
+ Các phản ứng nghiêm trọng
+ ADR thuốc mới đưa vào sử dụng tại bệnh viện
+ ADR chưa được biết tới trong các tài liệu
+ ADR xảy ra liên tục với một thuốc trong thời gian
ngắn tại khoa phòng
- Gửi báo cáo file hardcopy / file mềm về đầu mối => Gửi
TT Cảnh giác Dược quốc gia
KHUYẾN CÁO
Tổng Kết ADR 2018:
IV KẾT LUẬN
Trang 10Tổng Kết ADR 2018:
IV KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
IV KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
IV KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
IV KẾT LUẬN
Trang 11Tổng Kết ADR 2018:
IV KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018:
IV KẾT LUẬN
Tổng Kết ADR 2018: IV KẾT LUẬN
Trong năm 2018, phản ứng có hại điển hình (typ A, tác dụng phụ)
ghi nhận như:
+ Nhiễm toan lactic và bất sản tuỷ xương liên quan đến linezolid;
+ Độc tính trên huyết học liên quan đến vancomycin;
+ Chảy máu liên quan đến thuốc chống đông (enoxaparin,
rivaroxaban, acenocoumarol, warfarin);
+ Độc tính trên thận liên quan đến thuốc amphotericin B;
+ Suy thận liên quan đến thuốc NSAID(piroxicam, meloxicam,
etoricoxib);
+ Suy thận liên quan đến sử dụng vancomycin phối hợp với
piperacilin/tazobactam;
+ Suy giáp liên quan đến amiodaron;
+ Ngộ độc thuốc gây tê;
+ Tổn thương cơ, tiêu cơ vân liên quan đến thuốc hạ lipid máu
nhóm statin(rosuvastatin, atorvastatin);
+ Rối loạn tâm thần liên quan đến kháng sinh quinolon
(moxifloxacin, levofloxacin)
QUESTION ???
NẾU CÁC ADR NÀY KHÔNG ĐƯỢC BÁO CÁO
VÀ CHIA SẼ PHÂN TÍCH THÌ ĐIỀU GÌ SẼ XẢY RA?
IV KẾT LUẬN
Trang 12IV KẾT LUẬN
Công tác báo cáo ADR cần tiếp tục được thúc đẩy hơn nữa,
đặc biệt tại đơn vị, địa phương chưa tham gia báo cáo ADR
Các ADR thường nhận diện: rối loạn toàn thân và biểu hiện
trên da,
Thuốc liên quan ADR phổ biến: Thuốc kháng sinh, thuốc chống
lao, thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAID)
Cần chú ý theo dõi, phát hiện và báo cáo các biến cố bất lợi
của các nhóm thuốc khác (đặc biệt các nhóm thuốc có nguy
cơ cao gây ADR, thuốc có phạm vi điều trị hẹp),
ADR trên các hệ cơ quan khác, các biến cố bất lợi cần giám
sát thông qua các thăm dò chức năng chuyên sâu hay xét
nghiệm cận lâm sàng.
Thẻ cảnh báo ADR cấp phát thẻ kèm tư vấn an toàn thuốc cho người bệnh:
cách phòng tránh ADR trong tương lai
Thẻ cảnh báo CHO người bệnh