Vẫn còn quá sớm cho việc đánh giá hiệu quả của Luật Phá sản nói chung và hoạt động của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản nói riêng, song về phương diện pháp lý có thể
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHAN THỊ THANH THỦY
TS TRẦN VĂN BIÊN
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của
cá nhân tôi Các tài liệu và số liệu sử dụng trong Luận án đều được trích dẫn rõ ràng Các kết luận khoa học trong Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đặng Văn Huy
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 11
1.1 Xuất phát điểm để đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Luận án 11
1.2 Phân loại nội dung nghiên cứu đề tài Luận án 12
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước 13
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về kết cấu bên trong của Luật Phá sản liên quan tới chế định Quản tài viên 13
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về bản chất, vai trò, ý nghĩa pháp lý của Quản tài viên trong quy trình phá sản 19
1.3.3 Tình hình nghiên cứu về khái niệm Quy chế pháp lý của Quản tài viên 20
1.3.4 Tình hình nghiên cứu về nội dung chủ yếu của Quy chế pháp lý của Quản tài viên 21
1.3.5 Tình hình nghiên cứu về đánh giá thực trạng Quy chế pháp lý của Quản tài viên hiện hành 22
1.3.6 Tình hình nghiên cứu về những định hướng và giải pháp hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên hiện hành 23
1.4 Những thành tựu nghiên cứu được kế thừa và những vấn đề phải nghiên cứu tiếp 25
1.4.1 Những thành tựu nghiên cứu được kế thừa 25
1.4.2 Những vấn đề cần được nghiên cứu tiếp 26
1.5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 26
1.6 Cơ sở lý thuyết và sử dụng các phương pháp nghiên cứu 29
Trang 51.6.1 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 29
1.6.2 Sử dụng các phương pháp nghiên cứu 30
Kết luận Chương 1 34
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN 36
2.1 Khái quát về Luật Phá sản 36
2.1.1 Khái luận về phá sản 36
2.1.2 Khái luận về Luật Phá sản 39
2.2 Khái niệm Quản tài viên, khái niệm Quy chế pháp lý của Quản tài viên và nội dung của Quy chế pháp lý của Quản tài viên 43
2.2.1 Khái niệm Quản tài viên và khái niệm Quy chế pháp lý của Quản tài viên 43
2.2.2 Nội dung của Quy chế pháp lý của Quản tài viên 53
2.3 Cấu trúc bên trong và nguồn của Quy chế Quản tài viên 75
2.3.1 Cấu trúc bên trong của Quy chế pháp lý của Quản tài viên 75
2.3.2 Nguồn của Quy chế pháp lý của Quản tài viên 77
Kết luận Chương 2 79
Chương 3 : THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TÀI VIÊN TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 80
3.1 Tổng quan về Luật Phá sản năm 2014 80
3.2 Quan niệm Quản tài viên trong pháp luật Việt Nam hiện hành 88
3.3 Thực trạng các quy định pháp luật về hành nghề Quản tài viên 98
3.4 Thực trạng các quy định về tranh chấp, kỷ luật và chấm dứt nghề nghiệp Quản tài viên 105
3.5 Các bất cập của pháp luật phá sản hiện hành liên quan tới Quản tài viên 110
3.6 Nguyên nhân chính của các bất cập của Quy chế pháp lý Quản tài viên hiện hành 112
Kết luận Chương 3 115
Trang 6Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY
CHẾ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN TRONG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 116
4.1 Các định hướng hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên trong pháp luật Việt Nam hiện hành 116
4.1.1 Sự cần thiết của các định hướng hoàn thiện 116
4.1.2 Các định hướng cụ thể 119
4.2 Giải pháp tổng thể hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên 121 4.3 Các giải pháp cụ thể hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên trong pháp luật Việt Nam hiện hành 124
4.3.1 Giải pháp thứ nhất 124
4.3.2 Giải pháp thứ hai 127
4.3.3 Giải pháp thứ ba 128
4.3.4 Giải pháp thứ tư 129
4.3.5 Giải pháp thứ năm 132
4.3.6 Giải pháp thứ sáu 133
4.3.7 Giải pháp thứ bảy 134
4.3.8 Giải pháp thứ tám 135
Kết luận Chương 4 137
KẾT LUẬN CHUNG 139
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 141
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thị trường với bàn tay vô hình điều tiết một cách tài tình hoạt động kinh tế của con người không chỉ trong phạm vi của một quốc gia, mà còn trên cả phạm vi quốc tế Những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả sẽ tự loại bỏ mình ra khỏi thị trường để nhường chỗ cho những nhà đầu tư có hiệu quả hơn tạo lập ra các doanh nghiệp mới
Quy luật đó được coi như là một hệ quả của bàn tay vô hình tác động trong nền kinh tế thị trường, và chính quy luật ấy được con người nhận biết lại trở thành công cụ để điều chỉnh, vận hành bản thân nền kinh tế, mở đường,
hỗ trợ sự phát triển của các chủ thể của nền kinh tế, đồng thời loại bỏ những chủ thể không đủ khả năng tham gia sân chơi vốn có nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thử thách này Sự đào thải các doanh nghiệp không còn khả năng tồn tại trong nền kinh tế được thực hiện thông qua nhiều hình thức, cơ chế khác nhau, và trong nền kinh tế hiện đại thì thủ tục phá sản là một trong những cơ chế phổ biến, giàu tính nhân văn nhất
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta được khởi xướng tại Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã và đang vận hành cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế - xã hội thế giới Nằm trong quy luật chung đó, các doanh nghiệp trong nền kinh tế nước ta ra đời, tồn tại và phát triển và cũng không tránh khỏi trường hợp có những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, cần phải có một hành lang pháp lý đảm bảo sự chấm dứt tồn tại của các doanh nghiệp đó một cách phù hợp, có trật tự nhằm giải quyết được quyền lợi cho bản thân doanh nghiệp và các chủ thể có liên quan, qua đó góp phần ổn định và tái cơ cấu lại nền kinh tế
Trang 8Đáp ứng yêu cầu đó, Luật Phá sản năm 1993 của nước ta đã được ban hành Tuy nhiên quá trình thực thi Luật này cho thấy còn nhiều những tồn tại, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế Tại kỳ họp thứ 5, ngày
15 tháng 6 năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Phá sản và có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2004 thay thế cho Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 Luật Phá sản năm 2004 ra đời đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật pháp luật phá sản ở nước ta, đem đến những kỳ vọng thúc đẩy các hoạt động phá sản với tính cách là một hiện tượng kinh tế - pháp lý trở lên sôi động, phổ biến hơn
Tuy nhiên, thực tiễn Luật Phá sản năm 2004 đã không tạo nên những chuyển biến đáng kể nào và phá sản vẫn còn là một hiện tượng khá mới mẻ ở nước ta, việc sử dụng cơ chế giải quyết phá sản như một phương thức để doanh nghiệp “rút khỏi thị trường” vẫn là điều xa lạ với cộng đồng doanh nghiệp Tiếp nối vết xe đổ của Luật Phá sản năm 1993, Luật Phá sản 2004 lại đứng trước nguy cơ “phá sản”
Thực trạng đó bắt nguồn từ nhiều phía, song một nguyên nhân quan trọng là từ chính những bất cập trong các quy định của Luật, tạo nên những khó khăn trong việc tiếp cận thủ tục phá sản của các chủ thể có quyền đệ đơn, thời gian giải quyết việc phá sản dài, việc nâng đỡ, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể phục hồi không hiệu quả, đặc biệt là hoạt động quản lý, thanh lý tài sản đạt hiệu quả rất thấp
Theo báo cáo tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004 của Tòa án nhân dân tối cao, tính đến hết ngày 30/9/2012, trong tổng số 63 Tòa án cấp tỉnh, 49 Tòa án nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, với tổng số đơn
là 336 đơn Như vậy có đến 14 Tòa án cấp tỉnh không nhận được đơn yêu cầu, đồng nghĩa với việc 14 địa phương không có các hoạt động phá sản
Trang 9diễn ra Trong tổng số 336 đơn, Tòa án đã ra 236 quyết định mở thủ tục phá sản và chỉ có 83 quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp Số còn lại do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc phá sản chưa hoặc thậm chí không thể thực hiện được
Những yếu kém của Luật Phá sản đã đóng góp vào những hạn chế yếu kém của môi trường kinh doanh của Việt Nam những năm qua Theo báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2008 do Ngân hàng Thế giới (WB) và Tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) công bố, Việt Nam xếp thứ 91/178 quốc gia được khảo sát Trong đó tiêu chí thứ 10 là tiêu chí về đóng cửa doanh nghiệp báo cáo cho rằng, việc giải quyết phá sản ở Việt Nam mất ít nhất 5 năm, tốn kém đến 25 % giá trị tài sản doanh nghiệp, đối với những doanh nghiệp vỡ nợ thì các bên liên quan chỉ thu hồi được 18% giá trị tài sản Đây là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp không áp dụng cơ chế giải quyết phá sản
Cũng theo báo báo mới nhất về môi trường kinh doanh “Doing businissess 2014” của Ngân hàng Thế giới (WB), thứ hạng của Việt Nam năm
2013 không có thay đổi so với năm 2012 Trong đó tiêu chí về giải quyết phá sản ở Việt Nam vẫn bị đánh giá rất thấp (149/189 nền kinh tế)
Như vậy, để cải thiện môi trường kinh doanh của đất nước, đem đến những động lực mới cho nền kinh tế, đòi hỏi phải tạo sự đột phá trong nhiều lĩnh vực, trong đó có việc hoàn thiện hơn nữa các quy định cũng như cơ chế thực thi pháp luật về phá sản có hiệu quả hơn Tại Hội nghị về kế hoạch và ngân sách năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo “Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Toà án nhân dân tối cao rà soát lại thủ tục phá sản doanh nghiệp, trình Thủ tướng Chính phủ cải cách thủ tục này theo thông lệ quốc tế trong quý II năm 2008” (Thông báo số 193/VPCP-ĐMDN ngày 09 tháng 01 năm
2008 của Văn phòng Chính phủ)
Ngày 19/6/2014 tại kỳ họp thứ 7, khóa XIII, Quốc hội đã thông qua
Trang 10Luật Phá sản mới (Luật số 51/2014/QH13), thay thế Luật Phá sản năm 2004 Một trong những nội dung quan trọng trong Luật Phá sản năm 2014 là quy định về chủ thể mới thực hiện chức năng quản lý và thanh lý tài sản thay thế
Tổ quản lý và thanh lý tài sản theo Luật Phá sản năm 2004, đó là Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phá sản
Vẫn còn quá sớm cho việc đánh giá hiệu quả của Luật Phá sản nói chung và hoạt động của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản nói riêng, song về phương diện pháp lý có thể đánh giá đây là một bước tiến mới của pháp luật phá sản Việt Nam, bởi thiết chế này được xây dựng dựa trên tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật phá sản ở nước ta thời gian qua, khảo cứu kinh nghiệm và mô hình thiết chế này của nhiều nước trên thế giới;
và điều có thể khẳng định trước hết là Luật đã tạo cơ hội để các doanh nghiệp được lựa chọn người thực hiện chức năng quản lý, thanh lý tài sản – những hoạt động đặc trưng và chính yếu của thủ tục giải quyết phá sản
Cụ thể hóa các quy định của Luật Phá sản năm 2014, Chính phủ cũng
đã ban hành Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản Các văn bản pháp lý nêu trên đã xác lập địa vị pháp lý của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hoạt động có hiệu quả trên thực tế Điều này trước hết cần phải nhận diện rõ bản chất của Quản tài viên là gì cũng như các đặc trưng pháp lý của chủ thể này; bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam… Do đó, đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện về chủ thể này cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn hoạt động nằm trong sự đối chiếu, so sánh với pháp luật các nước, nhằm thấy rõ những ưu điểm cũng như những bất cập trong các quy định của pháp luật và đưa ra những kiến giải cần thiết, xây dựng, hoàn
Trang 11thiện Quy chế pháp lý của các chủ thể này một cách hợp lý; vừa phù hợp với bản chất của Quản tài viên, phù hợp với thông lệ chung của thế giới, vừa đáp ứng yêu cầu thực thi có hiệu quả Luật Phá sản ở nước ta Xuất phát từ những
lý do cơ bản này, Nghiên cứu sinh đã chọn đề tài "Quy chế pháp lý của
Quản tài viên ở Việt Nam" làm đề tài cho Luận án tiến sĩ luật học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Luận án
Mục đích nghiên cứu chung
Luận án có mục đích nghiên cứu toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về
Quy chế pháp lý của Quản tài viên thích hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường pháp lý kinh doanh ở Việt Nam hiện nay để tiến tới hoàn thiện Quy chế này góp phần thúc đẩy qúa trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế
và hòa nhập Cách mạng công nghiệp 4.0
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
Từ mục đích nghiên cứu chung nói trên, Luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Thứ nhất, Luận án xây dựng nền tảng lý luận mà trong đó bao gồm
phương pháp tiếp cận khoa học, các luận điểm lớn và logic khoa học để phát triển hệ thống lý luận toàn diện và sâu sắc về Quy chế pháp lý của Quản tài viên;
Thứ hai, Luận án tiến hành nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan trực
tiếp tới Quy chế pháp lý của Quản tài viên thích hợp với các điều kiện ở Việt Nam có ý nghĩa ứng dụng thực tiễn cao;
Thứ ba, Luận án tìm ra những vấn đề cần nghiên cứu tiếp tục để triển
khai nghiên cứu trên cơ sở phân tích các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan tới Quy chế này phù hợp với các điều kiện của Việt Nam hiện nay;
Trang 12Thứ tư, Luận án đánh giá thực trạng Quy chế pháp lý của Quản tài viên
hiện hành ở Việt Nam để tìm ra những ưu và nhược điểm hướng tới việc hoàn thiện Quy chế này trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam;
Thứ năm, Luận án nghiên cứu các định hướng và các giải pháp cụ thể
hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên trong pháp luật Việt Nam hiện hành có tính khả thi cao nhất và thích hợp nhất với bối cảnh hiện nay
ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận án
Luận án chủ yếu tập trung vào các vấn đề pháp lý, không nghiên cứu các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan tới phá sản nói chung và Quản tài viên nói riêng Các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan có thể được nhắc tới trong Luận án nhưng chỉ có ý nghĩa chứng minh cho những lập luận
về mặt pháp lý
Luận án chỉ nghiên cứu Quy chế pháp lý của Quản tài viên trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay, không nghiên cứu các vấn đề có tính lịch
sử và các vấn đề ở phạm vi quốc tế trừ khi do yêu cầu của việc thực hiện nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể, nhưng chỉ trong phạm vi cụ thể của các yêu cầu đó
Luận án không nghiên cứu với mục đích so sánh pháp luật của Việt Nam với pháp luật của các nước, cũng như không nghiên cứu so sánh Luật Phá sản nói chung hay Quy chế pháp lý của Quản tài viên nói riêng Luận án chỉ sử dụng phương pháp so sánh pháp luật nhằm các mục tiêu và nhiệm vụ
cụ thể của Luận án
Luận án cũng nhắc tới lịch sử của Luật Phá sản và của Quy chế pháp lý của Quản tài viên ở Việt Nam khi có yêu cầu cụ thể của việc nghiên cứu nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của Luận án
Trong quy trình phá sản, Luận án không nghiên cứu thủ tục phục hồi của con nợ, không nghiên cứu những vấn đề liên quan tới phá sản có yếu tố
Trang 13nước ngoài và cũng không nghiên cứu những thủ tục phá sản đặc biệt như phá sản đối với các doanh nghiệp thực thi chính sách lớn về an ninh, quốc phòng hay dịch vụ công cộng hoặc phá sản ngân hàng hay định chế tài chính
Luận án tập trung nghiên cứu trên căn bản các số liệu lấy từ một số công trình nghiên cứu được phát biểu chính thức tại các hội thảo do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức liên quan tới phá sản
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và các phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài Luận án Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu này có thể bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp; thống kê xã hội học; phương pháp phân tích lịch sử; phương pháp mô tả; phương pháp so sánh pháp luật; phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa…
Việc sử dụng từng phương pháp cụ thể cho các vấn đề nghiên cứu khác nhau của Luận án được luận giải tại Chương 1 của Luận án này
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Qua nghiên cứu và viết Luận án, các phát hiện và thành quả nghiên cứu mới được nói tới ở mục dưới đây cho thấy Luận án có những ý nghĩa khoa học quan trọng chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, Luận án đã xây dựng được mô hình lý luận khá chi tiết về
Quy chế pháp lý của Quản tài viên và đã nghiên cứu khá cụ thể về mô hình lý luận này để có thể phát triển các nghiên cứu tiếp tục chuyên sâu hơn về từng khía cạnh của mô hình này (Theo nhận thức của tác giả, xây dựng mô hình lý luận có nghĩa là việc chỉ rõ các thành tố và mối liên hệ giữa chúng với nhau của một hệ thống lý luận đầy đủ về đề tài nghiên cứu
từ làm rõ bản chất, các thuộc tính, sự phát sinh, phát triển và tiêu vong
Trang 14của một sự vật, hiện tượng cụ thể, cùng với các thành tố liên quan nhưng chỉ tập trung chuyên sâu vào việc xây dựng nền tảng lý luận và một số yếu tố liên quan trực tiếp);
Thứ hai, Luận án đã phát hiện và chứng minh về cả phương diện lý
luận và thực tiễn logic hay kết cấu bên trong của luật phá sản liên quan tới việc xây dựng một cách khoa học và đúng đắn Luật Phá sản nói chung và Quy chế pháp lý của Quản tài viên nói riêng;
Thứ ba, Luận án đã phân tích thực trạng Quy chế pháp lý của Quản tài
viên khá sâu sắc và rõ ràng để tìm ra các nguyên nhân chủ yếu và hướng khắc phục trong hoạt động lập pháp
Nói tóm lại, Luận án có ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn cao,
nhất là về phương diện lý luận pháp luật và xây dựng pháp luật
6 Tính mới của Luận án
Về tổng quát, Luận án là công trình ở Việt Nam nghiên cứu một cách hệ
thống, toàn diện, chuyên sâu cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn về Quy chế pháp lý của Quản tài viên ở Việt Nam trong bối cảnh cụ thể hiện nay
Cụ thể, Luận án đã có những đóng góp mới cho khoa học pháp lý Việt
Nam như sau:
Thứ nhất, Luận án đã nêu bật mối liên hệ giữa chế định Quản tài viên
với các chế định pháp lý khác theo logic của Luật Phá sản để qua đó tìm hiểu chuyên sâu về bản chất, vai trò và ý nghĩa pháp lý của Quản tài viên Thực tế Luận án đã làm rõ hoàn toàn và minh chứng cho bản chất pháp lý, vai trò pháp lý và ý nghĩa pháp lý của Quản tài viên trong logic của Luật Phá sản nói chung
Thứ hai, Luận án đã làm rõ được nội hàm của Quy chế pháp lý của
Quản tài viên và nêu rõ các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như vạch ra được
Trang 15phương hướng cụ thể trong việc nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về Quy chế pháp lý của Quản tài viên hay vấn đề đại diện trong Luật Phá sản
Thứ ba, Luận án đã xây dựng được mô hình lý luận về Quy chế pháp lý
của Quản tài viên theo logic: từ phân tích bản chất, vai trò, ý nghĩa pháp lý của Quản tài viên trong cơ cấu của Luật Phá sản nói chung; tiếp đến xác định phạm vi và mối liên hệ của chế định Quản tài viên; sau đó phân tích các nội dung cơ bản và chuyên sâu của mỗi nội dung cụ thể của Quy chế pháp lý của Quản tài viên; và tiến tới xây dựng những nguyên tắc và quy tắc pháp lý cần thiết nhất phải chứa đựng trong Quy chế pháp lý của Quản tài viên
Thứ tư, Luận án đã đánh giá khá đầy đủ về tình hình nghiên cứu ở trong
và ngoài nước liên quan tới nội dung của đề tài Luận án, cũng như đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam khá đầy đủ và chi tiết, đồng thời rút ra các kết luận có ý nghĩa trong việc nghiên cứu đề tài Luận án và nghiên cứu mở rộng hơn ở một phạm vi, mức độ khác
Thứ năm, Luận án đã đưa ra những kiến nghị cụ thể và có ý nghĩa ứng
dụng cao trong việc thiết lập mô hình Quy chế pháp lý của Quản tài viên ở Việt Nam với các điều kiện hiện nay trong cơ cấu chung của Luật Phá sản
Về chi tiết, Luận án đã (1) kiến nghị về giảm vai trò của Tòa án, tăng cường
ý nghĩa của chế định Hội nghị chủ nợ và chế định Quản tài viên; (2) chỉnh sửa lại vai trò của cơ quan Thi hành án dân sự để làm đúng chức trách của một cơ quan tiến hành các hành vi hành chính tư pháp nằm trong hệ thống các cơ quan hành pháp; (3) xác định rõ phạm vi hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự, Hội nghị chủ nợ và Quản tài viên; (4) xác định rõ bản chất, vai trò, ý nghĩa pháp lý của Quản tài viên cũng như phạm vi hoạt động của Quản tài viên trong mối quan hệ với cơ quan tư pháp, Hội nghị chủ nợ và cơ quan Thi hành án dân sự trong cơ cấu của Luật Phá sản; và (5) kiến nghị các
Trang 16chế tài pháp lý cần thiết để bảo đảm yếu tố thực thi và hiệu quả của Quản tài viên ở Việt Nam
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án gồm 4 Chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 2: Những vấn đề lý luận về Quy chế pháp lý của Quản tài viên Chương 3: Thực trạng Quy chế pháp lý về Quản tài viên trong pháp
luật Việt Nam
Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện Quy chế pháp lý của
Quản tài viên trong pháp luật Việt Nam hiện hành
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Xuất phát điểm để đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Luận án
Luật Phá sản trước hết, theo lịch sử phát sinh và phát triển, là một Quy chế đặc biệt áp dụng cho thương nhân mất khả năng trả nợ tới hạn, sau đó
có thể được sử dụng mở rộng cho các chủ thể khác Do vậy, Luật Phá sản nói chung không tách rời hoàn toàn khỏi các quy tắc tập quán của thương nhân hình thành từ thời kỳ Trung cổ Do đó Luật Phá sản (một chế định quan trọng của Luật Thương mại) mang tính quốc tế rộng rãi hơn so với Luật Dân sự [15, tr 31] Nhưng Luật Thương mại là một ngành luật tư nằm trong hệ thống pháp luật quốc gia, nên vẫn mang những điểm đặc thù nhất định do hoàn cảnh cụ thể của quốc gia đó quy định Chẳng hạn ở Việt Nam hiện nay, luật về các thương nhân được xây dựng không đầy đủ tách khỏi Luật Thương mại, trong khi Luật Thương mại năm 2005 chủ yếu chỉ nói không đầy đủ về một số hành vi thương mại không thật điển hình và không có quy định nào về phá sản; đặc biệt các quy định về phá sản lại bị tách riêng ít
có sự gắn kết trong một luật riêng… Bản thân Luật Phá sản cũng không có sự tương đồng hoàn toàn về mô hình ở các nước trên thế giới Mô hình Luật Phá sản ở Châu Âu lục địa được phân biệt với mô hình Luật Phá sản Hoa Kỳ
Vì vậy, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu phải dựa trên tiền đề
thứ nhất như sau: Không có Luật Phá sản cụ thể của một quốc gia nào tách
rời khỏi các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý của quốc gia đó
Việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu phải xuất phát từ tiền đề này
để trước hết không đưa vào đánh giá những công trình nghiên cứu cụ thể ở
Trang 18nước khác mà không có liên quan hoặc không nhằm mục đích học tập kinh nghiệm từ nước đó
Luật Phá sản như trên đã nói được xây dựng thích ứng với một giai đoạn lịch sử cụ thể Cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng trên thế giới diễn ra vào những năm cuối của Thiên niên kỷ thứ hai và những năm đầu của Thiên niên
kỷ thứ ba vừa qua buộc nhiều nước phải xem xét lại Luật Phá sản của mình và xây dựng Luật Phá sản mới thích hợp hơn, trong đó có cả Trung Quốc Các Luật Phá sản ở Việt Nam trong suốt mấy thập kỷ qua bị hủy bỏ và xây dựng mới liên tục để thích nghi với môi trường mới kể cả về nhận thức Đó là những minh chứng sống động cho tính biến đổi theo hoàn cảnh của Luật Phá sản
Vì vậy, việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu không thể dựa hoàn toàn vào các công trình nghiên cứu đã có trong lịch sử để bác bỏ sự cần thiết nghiên cứu hay tính không cần nghiên cứu tiếp của các đề tài nghiên cứu sau này liên quan tới phá sản Tiền đề thứ hai cần phải tiếp nhận khi đánh giá
tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài này như sau: Các công trình nghiên cứu
liên quan tới Luật Phá sản của một quốc gia cụ thể không thể phủ nhận hoàn toàn các công trình nghiên cứu tiếp theo ở quốc gia đó về cùng một lĩnh vực, trừ những nghiên cứu chung định hình có ý nghĩa phân biệt Luật Phá sản với các lĩnh vực pháp luật khác Do đó việc sử dụng các công trình nghiên cứu
trước đây về các vấn đề chuyên biệt trong Luật Phá sản chủ yếu có ý nghĩa tiếp thu kinh nghiệm lịch sử
1.2 Phân loại nội dung nghiên cứu đề tài Luận án
Quy chế pháp lý của Quản tài viên là một vấn đề pháp lý phức tạp nằm
ở trung tâm của Luật Phá sản Xuất phát từ yêu cầu thực tế của việc xây dựng Quy chế pháp lý này và các vấn đề học thuật có liên quan, Luận án chia các nội dung nghiên cứu của đề tài Luận án thành các nội dung chủ yếu sau để đánh giá tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước:
Trang 19Thứ nhất, kết cấu bên trong của Luật Phá sản liên quan tới chế định
Quản tài viên
Thứ hai, bản chất, vai trò, ý nghĩa pháp lý của Quản tài viên trong quy
trình phá sản
Thứ ba, khái niệm Quy chế pháp lý của Quản tài viên
Thứ tư, nội dung chủ yếu của Quy chế pháp lý của Quản tài viên
Thứ năm, đánh giá thực trạng Quy chế pháp lý của Quản tài viên hiện hành Thứ sáu, những định hướng và giải pháp hoàn thiện Quy chế pháp lý
của Quản tài viên hiện hành
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về kết cấu bên trong của Luật Phá sản liên quan tới chế định Quản tài viên
Hầu hết các công trình lớn nghiên cứu về Luật Phá sản ở Việt Nam từ trước tới nay đều tập trung vào việc nghiên cứu tổng thể Luật Phá sản, tức là nghiên cứu kết cấu bên trong của Luật Phá sản, nhất là ở giai đoạn đổi mới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các công trình nghiên cứu này không chỉ nhằm mục đích xây dựng Luật Phá sản, mà còn nhằm mục đích quan trọng là bồi dưỡng nhận thức chung đúng đắn của mọi người về Luật Phá sản vì Luật Phá sản là một đặc thù của pháp luật điều tiết kinh tế thị trường mà pháp luật của nền kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp không có Thực tế Luật Phá sản của Pháp du nhập vào Việt Nam sau khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam Trước đó Việt Nam không có Luật Phá sản
và ở thời kỳ bao cấp Việt Nam cũng không có Luật Phá sản
Các công trình lớn và tiêu biểu nghiên cứu về Luật Phá sản ở Việt Nam bao gồm:
(1) Công trình “Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải” của các tác giả
Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân (Nhóm nghiên cứu dự
Trang 20hoạch) nhằm mục đích xây dựng Bộ luật Thương mại của Việt Nam Cộng hòa năm 1972, xuất bản tại Sài Gòn Công trình đồ sộ này nghiên cứu lý luận về Luật Thương mại nói chung, nhưng có một phần lớn và quan trọng nghiên cứu về Luật Phá sản, trong đó đã đề cập đến nhiều nội dung về
“khánh tận”, “phá sản” tập trung vào việc phân tích quy trình giải quyết phá sản, địa vị pháp lý của các chủ thể trong quy trình này mà trong đó có nói tới cả chế định Quản tài viên
(2) Công trình “Phá sản và xử lý phá sản ở các nước và Việt Nam” do
Hoàng Công Thi chủ biên dưới sự bảo trợ của Viện khoa học tài chính, xuất bản năm 1993 Công trình này thiên về cung cấp thông tin ở Việt Nam và một số nước ở khía cạnh liên quan tới tài chính của phá sản, có đề cập tới các chế định quan trọng của Luật Phá sản nhưng không có các thông tin đủ
rõ về Quy chế pháp lý của các chủ thể tham gia vụ việc phá sản, trong đó có Quản tài viên
(3) Công trình “Phá sản doanh nghiệp – một số vấn đề thực tiễn” của
Nguyễn Tấn Hơn xuất bản năm 1995
(4) Công trình “Pháp luật về phá sản doanh nghiệp trong luật kinh tế
Việt Nam” của Bùi Nguyên Khánh xuất bản năm 1996
(5) Công trình Luận án tiến sĩ luật học “Luật Phá sản Việt Nam dưới
góc độ luật so sánh và phương hướng hoàn thiện” của Trương Hồng Hải bảo
vệ tại Đại học luật Hà Nội năm 2004
(6) Công trình “Pháp luật phá sản của Việt Nam” của Dương Đăng
Huệ xuất bản năm 2005 là lý luận tổng quát về quy trình phá sản, trong đó có
đề cập sơ bộ tới địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng phá sản
(7) Công trình “So sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số
nước về phá sản và định hướng sửa đổi Luật Phá sản năm 2004” của Ngô
Huy Cương đăng trên Tạp chí Tòa án Nhân dân số 3& số 4 năm 2014
Trang 21Công trình này nghiên cứu tổng quát về lý luận Luật Phá sản bằng phương pháp so sánh pháp luật
Các công trình này đều nói tới kết cấu bên trong của Luật Phá sản ở một mức độ nào đó bởi việc không làm rõ được kết cấu này thì khó có thể làm
rõ được quy trình phá sản, trong khi quy trình này là mục tiêu quan trọng bậc nhất của Luật Phá sản Các công trình nghiên cứu này đều xác định cốt lõi quan trọng của Luật Phá sản là thiết lập một cơ chế lấy nợ tập thể khác với việc đòi nợ thông thường của cá nhân đơn lẻ Từ vấn đề cốt lõi đó mới có thể xây dựng quy trình phá sản Quy trình này dựa vào những chế định không thể thiếu của Luật Phá sản có quan hệ nội tại với nhau như Hội nghị chủ nợ, con
nợ bị phá sản, Thẩm phán tiến hành tố tụng phá sản và Quản tài viên hay chế định làm chức năng quản lý, thanh lý tài sản phá sản
Các công trình “Phá sản doanh nghiệp – một số vấn đề thực tiễn” của Nguyễn Tấn Hơn năm 1995,“Pháp luật về phá sản doanh nghiệp trong
luật kinh tế Việt Nam” của Bùi Nguyên Khánh năm 1996,“Đi tìm triết lý của Luật Phá sản” của Phạm Duy Nghĩa năm 2003; “Luật Phá sản 2004 với việc cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam” của Dương Đăng
Huệ năm 2005 và “Pháp luật phá sản của Việt Nam” của Dương Đăng Huệ
năm 2005 đã đề cập đến các vấn đề chung của Luật Phá sản ở những mức
độ khác nhau Trong số các công trình đó, có công trình “Pháp luật phá
sản của Việt Nam” của Dương Đăng Huệ đã thể hiện tương đối toàn diện
các nội dung liên quan đến pháp luật phá sản ở Việt Nam Tác giả này đã đi
từ những nghiên cứu chung nhất về phá sản và pháp luật phá sản như: lịch
sử, cơ sở, điều kiện hình thành của pháp luật phá sản, tính chất, đặc điểm, vai trò của pháp luật phá sản, các nội dung chung nhất về thủ tục phá sản, vai trò, vị trí và mối quan hệ của các chủ thể trong tố tụng phá sản; trên cơ
sở đó tác giả nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật phá sản ở
Trang 22Việt Nam; đưa ra những kiến nghị, định hướng nhằm hoàn thiện hơn nữa
hệ thống pháp luật này
Về so sánh pháp luật phá sản, công trình“Pháp luật phá sản của Việt
Nam và pháp luật phá sản Úc: Những nét tương đồng và khác biệt” của
Dương Đăng Huệ năm 1995, “So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật của
một số nước về phá sản và định hướng sửa đổi Luật Phá sản năm 2004” của
Ngô Huy Cương năm 2013; “Luật Phá sản Việt Nam dưới góc độ luật so
sánh và phương hướng hoàn thiện” của Trương Hồng Hải năm 2004 đã cung
cấp nhiều thông tin về kết cấu bên trong, tính logic và tính hệ thống của Luật Phá sản nói chung
Trong các công trình trên, vấn đề chủ thể quản lý, thanh lý tài sản được nghiên cứu, so sánh, đánh giá trong chỉnh thể các nội dung của pháp luật phá sản của Việt Nam với các nước Trong Luận án của mình, tác giả Trương Hồng Hải đã có những so sánh, đánh giá sâu sắc về mô hình chủ thể quản lý tài sản của Việt Nam và các nước, và của các nước với nhau Thông qua việc nghiên cứu pháp luật phá sản của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hoà Liên bang Nga, Cộng hoà Liên bang Đức tác giả đi đến khẳng định về nét tương đồng trong cấu trúc chủ thể quản lý tài sản: Việc quản lý tài sản được giao cho một thiết chế có tính chất trung gian và độc lập Thiết chế này có một quyền hạn to lớn trong việc quản lý và định đoạt tài sản phá sản, thậm chí còn là người đại diện pháp luật cho doanh nghiệp với mục đích chung là nhằm tránh những rủi
ro, bảo toàn tài sản phá sản Và đây cũng là nét khác biệt với pháp luật phá sản của Việt Nam Tác giả cũng làm rõ sự tương đồng giữa pháp luật phá sản của Việt Nam và pháp luật phá sản của Trung Quốc khi đều thiết kế mô hình chủ thể quản lý tài sản là một thiết chế tập thể, người quản lý tài sản chỉ có những quyền hạn nhất định trong việc quản lý tài sản của doanh nghiệp mà
Trang 23không có quyền điều hành, quản lý các hoạt động liên quan đến tài sản cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung
Dưới giác độ Luật so sánh, tác giả đã đặt ra những yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật phá sản của Việt Nam, theo đó, một nội dung quan trọng của Luật Phá sản là việc chế định lại thiết chế chủ thể quản lý tài sản, khắc phục những bất cập trong các quy định về Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản trong pháp luật phá sản năm 1993 Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng từ những hạn chế của cơ sở kinh tế, xã hội nên khuyến nghị của tác giả mới chỉ dừng lại ở việc hợp nhất Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản thành một chủ thể thống nhất là Tổ quản lý và thanh lý tài sản mà chưa kiến nghị mô hình thiết chế này là những cá nhân hành nghề độc lập, chuyên nghiệp, phù hợp với xu thế chung của thế giới
Ở nước ngoài có rất nhiều công trình nghiên cứu toàn diện về Luật Phá
sản Gần đây có những công trình nghiên cứu khá tiêu biểu như: “Bankruptcy”
của Robert L Jordan, William D Warren xuất bản tại The Foundation Press,
Inc., Westbury, New York năm 1989; “Australian Bankruptcy Law” của Dennis
Rose xuất bản tại The Law Book Company Limited, Australia năm 1990;
“The Law of Bankruptcy” của Charles Jordan Tabb xuất bản tại Foundation Press năm 2009… Các công trình của nước ngoài đã nghiên cứu và phát triển nhiều học thuyết liên quan
Cùng với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường thì phá sản và pháp luật về phá sản đã trở thành vấn đề quen thuộc của nền kinh tế Giới luật gia và các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều quan tâm đến việc nghiên cứu hiện tượng kinh tế - pháp lý đặc thù này, ở bình diện chung nhất cũng như chuyên sâu về các nội dung cụ thể của phá sản, pháp luật phá sản
Với học thuyết này tác giả Elizabeth Warren đã khẳng định vai trò xã
Trang 24hội to lớn của pháp luật phá sản, đó không chỉ là việc giải quyết vấn đề đòi nợ tập thể, ngoài việc đảm bảo quyền lợi của tập thể chủ nợ, pháp luật phá sản còn thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội khác thông qua việc đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động, đảm bảo khả năng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tái cơ cấu nền kinh tế; tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mình mà mỗi quốc gia có thể xây dựng pháp luật phá sản có tính đặc thù và theo các thủ tục không nhất thiết phải giống nhau
Tư tưởng của Elizabeth Warren có ý nghĩa xác lập nguyên tắc, định hướng trong việc xây dựng các quy định nội dung của Luật Phá sản cũng như vai trò, trách nhiệm của các thiết chế, trong đó có chủ thể quản lý sản tài phải đảm bảo thực hiện được vai trò, ý nghĩa kinh tế - xã hội của pháp luật phá sản
Đầu những năm 1990, nền kinh tế kế hoạch của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, kinh tế thị trường là hướng đi tất yếu của các quốc gia này Những vấn đề mới phát sinh của nền kinh tế, trong đó có vấn đề phá sản đặt ra những yêu cầu về các giải pháp đảm bảo sự hoà nhập có hiệu quả của nền kinh tế vào xu thế chung của thế giới Năm 1996, tác giả Michael Kim đã có công trình nghiên cứu giới hạn trong phạm vi bài viết đăng tải trên tạp chí Fodham Law Rewiew với tiêu đề “When nonuse is Useful: Bankruptcy law in Post – Communist Central and Estern Europe”, nghĩa là
“Khi Luật Phá sản không được sử dụng có hiệu quả ở các nước Trung và Đông Âu” thời kỳ hậu cộng sản
Trong tác phẩm của mình Michael Kim đã làm rõ thực trạng áp dụng
mô hình Luật Phá sản ở các nước Trung và Đông Âu thời kỳ hậu chủ nghĩa cộng sản qua mô hình “tăng tốc” với Cộng hoà Séc là đại diện và mô hình “từ từ” với đại diện là Hungary; phân tích rõ nguyên nhân dẫn tới Luật Phá sản không được sử dụng có hiệu quả ở các quốc gia này Từ đó, tác giả đã đi đến nhận định: Luật Phá sản khó có thể được sử dụng hiệu quả ở những quốc gia
Trang 25có nền kinh tế chuyển đổi (chưa hoàn hảo) Những dự đoán của các chuyên gia phương Tây về việc sử dụng Luật Phá sản tràn lan khắp các nước CEE dựa trên sự chấp nhận của thị trường đã không tồn tại
Có thể thấy “When nonouse is Useful: Bankruptcy law in Post – Communist Central and Estern Europe” là công trình nghiên cứu hữu ích cho Việt Nam khi nghiên cứu hoàn thiện các quy định của Luật Phá sản, về sự lựa chọn mô hình
Luật Phá sản nói chung và mô hình chủ thể quản lý tài sản phá sản nói riêng
Người đề xuất học thuyết chia sẻ rủi ro là Thomas H Jackson và Robert E.Scott với mục đích hướng tới làm rõ các cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của Luật Phá sản, trong đó quan trọng nhất là việc tái tổ chức hoạt động của con nợ Mọi quy định của Luật Phá sản đều xoay quanh tư tưởng chủ đạo là: Mục tiêu quan trọng của pháp luật phá sản là tối đa hoá giá trị tài sản của con nợ, bên cạnh đó việc các chủ nợ cùng tham gia chia sẻ nguy cơ thất bại với các chủ nợ cũng được coi là mục tiêu thứ yếu Tư tưởng trên đã chi phối việc thiết kế các quy định về chức năng, nhiệm vụ cũng như quyền hạn của các chủ thể trong giải quyết phá sản hướng tới việc hoà giải giữa chủ nợ và con nợ, tạo điều kiện để con nợ có thể tìm ra các giải pháp hiệu quả trong việc thanh toán nghĩa vụ với các chủ nợ
Quy trình phá sản và các chế định của Luật Phá sản trong các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã được làm rõ gắn với những mô hình phá sản cụ thể
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về bản chất, vai trò, ý nghĩa pháp lý của Quản tài viên trong quy trình phá sản
Bản chất, vai trò và ý nghĩa pháp lý của Quản tài viên được nêu rất rõ
trong công trình “Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải” của các tác giả Lê Tài
Triển, Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân Các tác giả phân tích và làm rõ rằng Quản tài viên là “thụ ủy tư pháp” và có các nhiệm vụ cụ thể liên quan tới quản trị sản nghiệp của con nợ bị phá sản
Trang 26Về chủ thể quản lý, thanh lý tài sản, tác giả Dương Đăng Huệ trong
công trình “Pháp luật phá sản của Việt Nam” đã khái quát hai mô hình chủ
thể quản lý tài sản trên thế giới: (1) Mô hình với tư cách là một thiết chế tập thể ở các nước có nền kinh tế thị trường chưa thực sự phát triển; (2) Mô hình phổ biến hơn đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, đó là các
cá nhân hành nghề độc lập, chuyên nghiệp; đồng thời, có những phân tích cơ bản về căn nguyên của sự hình thành các mô hình đó Kết hợp với việc đánh giá những bất cập, hạn chế của pháp luật phá sản nói chung, chế định về chủ thể quản lý, thanh lý tài sản nói riêng, tác giả cũng đưa ra định hướng hoàn thiện hơn nữa thiết chế này theo hướng xã hội hoá, chuyển giao chức năng quản lý tài sản từ Nhà nước cho các cá nhân, tổ chức kinh tế tư nhân thực hiện, phù hợp với xu thế chung của thế giới
1.3.3 Tình hình nghiên cứu về khái niệm Quy chế pháp lý của Quản tài viên
Hiện chưa có một công trình nào đưa ra định nghĩa hay nội hàm của khái niệm về Quy chế pháp lý của Quản tài viên Tuy nhiên qua các công trình nghiên cứu chuyên về Quản tài viên hay chủ thể quản lý, thanh lý tài sản phá sản có đề cập tới các khía cạnh khác nhau của Quy chế này với những chủ thể quản lý, thanh lý tài sản phá sản là tổ chức hay cá nhân
Chẳng hạn trong bài tham luận“Một số vấn đề về hoạt động của Tổ quản lý
và Thanh lý tài sản trong thủ tục giải quyết phá sản” của Đinh Thị Thu
Hương tại Hội thảo về pháp luật phá sản, những vướng mắc và hướng khắc
phục, tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2006, bài tham luận“Cần kịp
thời ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết về hoạt động của Tổ quản lý và thanh lý tài sản; Quy chế về sự phối hợp giữa Thẩm phán và Chấp hành viên và Quy chế sử dụng kinh phí của Tổ quản lý, thanh lý tài sản” tại Hội
Trang 27thảo về Luật Phá sản những vướng mắc và giải pháp khắc phục, thành phố
Hồ Chí Minh có thể thấy phần nào nội hàm của khái niệm Quy chế pháp lý của Quản tài viên
1.3.4 Tình hình nghiên cứu về nội dung chủ yếu của Quy chế pháp
lý của Quản tài viên
Công trình Luận án tiến sĩ luật học “Quản lý và xử lý tài sản phá sản
theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam” của Vũ Thị Hồng Vân bảo vệ
tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008 đã nghiên cứu một phần nội dung chủ yếu của Quy chế pháp lý của Tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản theo Luật Phá sản năm 2004 Ở đó có nhiều điểm tương đồng với chế định Quản tài viên theo Luật Phá sản năm 2014 bởi Tổ quản lý và thanh lý tài sản phá sản và Quản tài viên có những chức năng tương đồng dù có điểm khác biệt trong việc xác định bản chất pháp lý của hai định chế này ở hai thời điểm lịch sử khác nhau Xét về hình thức, chế định có chức năng quản lý và thanh lý tài sản phá sản trong Luật Phá sản năm 2014 là sự kế thừa chế định
Tổ quản lý và thanh lý tài sản trong Luật Phá sản năm 2004 Dư âm của Tổ quản lý và thanh lý tài sản phá sản của Luật Phá sản năm 2004 chính là chế định “doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản” trong Luật Phá sản năm 2014
Luận án của Vũ Thị Hồng Vân là một công trình nghiên cứu rất chuyên sâu về các hạn chế, yếu kém trong các quy định của pháp luật có liên quan đến công tác quản lý và thanh lý tài sản phá sản và một thiết chế rất quan trọng được quy định trong Luật Phá sản là Tổ quản lý và thanh lý tài sản Tuy nhiên mục đích nghiên cứu trình bày trong Luận án của mình, tác giả Vũ Thị Hồng Vân không đề ra việc nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về loại chủ thể này nói chung, hơn nữa phạm vi nghiên cứu nằm trong khuôn khổ đã ấn định theo tên gọi là “Tổ quản lý và thanh lý tài sản phá sản” theo Luật Phá sản năm 2004
Trang 281.3.5 Tình hình nghiên cứu về đánh giá thực trạng Quy chế pháp lý của Quản tài viên hiện hành
Công trình “Luật Phá sản ở Việt Nam – Một số điểm mới và tính khả
thi” của Lê Ngọc Thắng năm 5/2004, công trình “Kế thừa những ưu điểm của Luật Phá sản năm 2004 trong bối cảnh hoàn thiện pháp luật phá sản ở Việt Nam” của Lê Ngọc Thắng năm 2014, “Một số vấn đề về Luật Phá sản” của
Nguyễn Thái Hà, Bùi Hữu Toàn năm 2005, “Kế thừa những ưu điểm của
Luật Phá sản năm 2004 và tăng cường tính khả thi trong thực tiễn thi hành”,
của Lê Ngọc Thắng năm 2014 đã đánh giá thực trạng pháp luật phá sản của Việt Nam nói chung mà trong đó có một phần về thực trạng của chế định Quản tài viên Trong Luận án của mình, tác giả Lê Ngọc Thắng đã tập trung làm rõ những ưu điểm của Luật Phá sản năm 2004 trên cơ sở tham chiếu Pháp luật phá sản của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Trung Quốc; tuy nhiên để đánh giá chính xác những ưu điểm cũng như hạn chế của Luật Phá sản năm 2004, tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng thi hành Luật Phá sản
ở Việt Nam những năm qua, chỉ rõ những ưu điểm của tính quyền lực nhà nước, tính dân chủ rộng rãi trong việc thiết kế mô hình chủ thể là Tổ quản lý
và thanh lý tài sản, đồng thời đánh giá sâu những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của chủ thể này qua những khảo sát thực tiễn thi hành Luật, từ đó thấy rõ những bất cập trong quy định của Luật Phá sản năm 2004 Tác giả cũng đã đưa ra những kiến nghị có giá trị về phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động của Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong điều kiện các mô hình chủ thể này đã được chế định trong Luật Phá sản năm 2014
Đặc biệt những công trình nghiên cứu nằm trong khuôn khổ Hội thảo mang tên “Thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn” do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức tại thành phố Đà Nẵng từ ngày 20
Trang 29đến ngày 21 tháng 09 năm 2018 là những bản đánh giá thực trạng sâu sắc, gần gũi về Luật Phá sản năm 2014 nói chung và chế định Quản tài viên trong đó nói riêng Qua những bài tham luận này của những người làm công tác thực tiễn, những bất cập chủ yếu của Luật Phá sản năm 2014 nói chung và chế định Quản tài viên nói riêng đã được phát hiện
1.3.6 Tình hình nghiên cứu về những định hướng và giải pháp hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên hiện hành
Có một số công trình khá tiêu biểu nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên, bao gồm:
(1) Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thực trạng pháp luật phá
sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” của Bộ
Tư pháp năm 2009 Công trình có phân tích khá sâu sắc những ưu và khuyết điểm của các Luật Phá sản trước đó của Việt Nam, nhất là Luật Phá sản năm
2004 và định ra định hướng hoàn thiện Luật Phá sản nhằm tiến tới lành mạnh hóa môi trường pháp luật kinh doanh ở Việt Nam
(2) Công trình Luận án tiến sĩ luật học“Kế thừa những ưu điểm của
Luật Phá sản năm 2004 và tăng cường tính khả thi trong thực tiễn thi hành”
của Lê Ngọc Thắng bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm
2014 đã phân tích những ưu điểm của Luật Phá sản năm 2004 để kế thừa trong việc xây dựng Luật Phá sản hiện hành Công trình có nhấn mạnh tới những điểm kế thừa có tính khả thi cao
(3) Công trình “Bảo vệ các quan hệ pháp luật phá sản bằng luật hình
sự” của Ngô Huy Cương đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2 + 3
(258 + 259), Kỳ 2 (T1) + Kỳ 1 – (T2)/2014 năm 2014 Công trình này phân tích rõ những bất cập của pháp luật phá sản Việt Nam đương thời và làm rõ lý luận về việc bảo vệ các quan hệ pháp luật phá sản bằng luật hình sự và kiến nghị các chế tài hình sự cụ thể
Trang 30Ngoài ra, có các công trình khác rất đáng chú ý như: “Những giải pháp
pháp lý cần xây dựng và hoàn thiện nhằm đảm bảo doanh nghiệp rút khỏi thị trường” của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 2002; “Một số ý kiến về
dự thảo pháp luật phá sản (sửa đổi)” của Dương Đăng Huệ và Cao Đăng
Vinh – Tạp chí Tòa án nhân dân tối cao – số 01, năm 2004; “Đánh giá thực
tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004” của Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối
cao” – tài liệu phục vụ Hội nghị chuyên đề năm 2008; “Thực trạng pháp luật
về phá sản và việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” của Bộ Tư
pháp và MPI-GTZSME Development Programme, năm 2008; “Dự thảo báo
cáo tổng kết đánh giá tác động của Luật Phá sản Việt Nam năm 2004”, tổng
kết của Tòa án nhân dân tối cao năm 2013; “Các giải pháp pháp lý nhằm giải
quyết tốt hơn việc phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam”, đề tài nghiên cứu cấp
bộ của Bộ Tư pháp năm 2009 do Dương Đăng Huệ làm chủ biên; “Thi hành
Luật Phá sản năm 2004 – thực trạng và giải pháp” của Dương Đăng Huệ tại
Hội nghị chuyên đề đánh giá thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004
Nhìn chung các công trình trên xuất phát từ những bất cập, hạn chế của pháp luật và những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn dẫn tới Luật Phá sản
ở Việt Nam không phát huy được hiệu quả, trên cơ sở khảo cứu kinh nghiệm của nước ngoài đã đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản, hoàn thiện hệ thống pháp luật này, trong đó những bất cập, hạn chế về Tổ quản lý tài sản, Tổ thanh toán tài sản theo Luật Phá sản năm 1993 và Tổ quản
lý và thanh lý tài sản theo Luật Phá sản năm 2004 được nhận diện, tạo nên căn cứ lý luận và thực tiễn cho những kiến nghị về giải pháp đổi mới các chủ thể này trong ngắn hạn là thay đổi, bổ sung thành viên của tập thể thực hiện chức năng quản lý, thanh lý tài sản và trong dài hạn là thiết lập mô hình thiết chế là những cá nhân thực hiện chức năng này
Trang 31Đặc biệt Hội thảo mang tên “Thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014
và các văn bản hướng dẫn” do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức tại thành phố
Đà Nẵng từ ngày 20 đến ngày 21 tháng 09 năm 2018 có nhiều tham luận xuất phát từ thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014 đưa ra một số kiến nghị về việc hoàn thiện Luật Phá sản năm 2014 nói chung và chế định Quản tài viên trong đó nói riêng
1.4 Những thành tựu nghiên cứu được kế thừa và những vấn đề phải nghiên cứu tiếp
1.4.1 Những thành tựu nghiên cứu được kế thừa
Tình hình nghiên cứu tổng quan được luận giải ở trên cho thấy, các công trình nghiên cứu đã đặt nền tảng cơ sở lý luận về phá sản và pháp luật phá sản Về chủ thể quản lý, thanh lý tài sản nói chung, Quản tài viên nói riêng, các công trình đã có những nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, gắn liền với việc nghiên cứu theo từng nội dung của phá sản và pháp luật phá sản, tuy nhiên như đã khẳng định ở phần trên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ toàn diện cả về phương diện lý luận và thực tiễn về Quản tài viên Đây chính là khoảng trống mà tác giả Luận án đã tập trung khai thác, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình trước đó
Cụ thể Luận án tiếp thu và kế thừa các thành tựu nghiên cứu sau:
Thứ nhất, bản chất, vai trò, ý nghĩa pháp lý của các định chế chủ yếu
của Luật Phá sản như Hội nghị chủ nợ, con nợ bị phá sản, Thẩm phán phụ trách vụ việc phá sản và Quản tài viên;
Thứ hai, kết quả xác định tính chất của mối quan hệ pháp lý mấu chốt
giữa Quản tài viên với các định chế chủ yếu khác như Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán phụ trách vụ việc phá sản và con nợ bị phá sản;
Thứ ba, những nét lớn về các mô hình của Luật Phá sản, nhất là mô
hình của Luật Phá sản của Pháp du nhập vào Việt Nam từ thời Pháp thuộc;
Trang 32Thứ tư, một phần chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quản tài viên
theo một số mô hình Luật Phá sản nhất định;
Thứ năm, một phần đánh giá những ưu điểm và bất cập của Luật Phá
sản hiện hành của Việt Nam liên quan tới đề tài Luận án
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu gần đây về chế định quản tài viên thường là các công trình nghiên cứu nhỏ lẻ liên quan tới một hoặc một vài khía cạnh của chế định này Các nghiên cứu này chủ yếu nhằm tới những bất cập trong việc áp dụng chế định này trong một vài vụ việc thực tiễn hay nghiên cứu tập trung vào quản lý tài sản phá sản trong sự so sánh với chế định
tổ quản lý, thanh lý tài sản theo Luật Phá sản năm 2003
1.4.2 Những vấn đề cần được nghiên cứu tiếp
Thứ nhất, lý luận toàn diện và chuyên sâu về Quy chế pháp lý của
Quản tài viên ở Việt Nam hiện nay, nhất là mối quan hệ pháp lý giữa Quản tài viên với Thẩm phán tiến hành tố tụng phá sản, các chủ nợ, con nợ bị phá sản
và cơ quan Thi hành án theo pháp luật hiện hành;
Thứ hai, mô hình của Quy chế pháp lý của Quản tài viên;
Thứ ba, phân tích một cách toàn diện và chuyên sâu các bất cập của
Quy chế pháp lý của Quản tài viên hiện hành ở Việt Nam;
Thứ tư, nhu cầu hoàn thiện và các kiến nghị về định hướng và các giải
pháp tổng thể và cụ thể hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam
1.5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
* Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu chung
Qua sự cần thiết nghiên cứu đề tài của Luận án, mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu và những vấn đề cần nghiên cứu tiếp như đã phân tích ở trên, các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được đặt ra như sau:
Trang 33- Câu hỏi nghiên cứu chung
Nền tảng lý luận và các thành tố của mô hình lý luận về Quy chế pháp
lý của Quản tài viên bao gồm những gì và những nội dung của chúng là gì, cụ thể như thế nào? Quy chế pháp lý của Quản tài viên theo pháp luật Việt Nam hiện hành có những bất cập gì so với lý luận và thực tiễn thi hành, và nguyên nhân của những bất cập đó là gì? Các bất cập của Quy chế pháp lý của Quản tài viên trong pháp luật phá sản hiện hành có cần thiết phải khắc phục không,
và nếu cần thì cần phải hoàn thiện Quy chế này với những định hướng và giải pháp như thế nào?
- Giả thuyết nghiên cứu chung
Trong hệ thống lý luận về pháp luật của Việt Nam hiện nay, nền tảng lý luận và các thành tố của mô hình lý luận về Quy chế pháp lý của Quản tài viên, cũng như những nội dung chủ yếu của nó chưa được làm rõ Những bất cập của Quy chế pháp lý của Quản tài viên chưa được nghiên cứu và đánh giá toàn diện và chuyên sâu với góc nhìn từ lý luận toàn diện và chuyên sâu về Quy chế này, cũng như với góc nhìn từ thực tiễn thi hành Quy chế này một cách tổng quát trong toàn bộ pháp luật về phá sản Hiện nay rất cần hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên, nhưng hiện tại các định hướng và giải pháp hoàn thiện tổng thể chưa được làm rõ
Từ các câu hỏi và giả thuyết chung này, theo kết cấu của nội dung nghiên cứu của Luận án, các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu cụ thể của từng Chương (ngoài Chương về tổng quan tình hình nghiên cứu) như sau:
- Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu cụ thể của Chương 1
Câu hỏi nghiên cứu cụ thể của Chương 1
Bản chất, vai trò và ý nghĩa của chế định Quản tài viên là gì xét trong mối quan hệ với các chế định chủ yếu khác của Luật Phá sản và theo logic thông thường của Luật Phá sản? Quy chế pháp lý của Quản tài viên bao
Trang 34gồm những thành tố nào? Nội dung lý luận của từng thành tố của Quy chế pháp lý của Quản tài viên có những gì và thể hiện như thế nào xét trong tổng thể Quy chế này?
Giả thuyết nghiên cứu cụ thể của Chương 1
Bản chất pháp lý của Quản tài viên là thụ ủy tư pháp nhưng chưa được làm rõ trong mối quan hệ với các định chế khác để thấy hết vai trò và ý nghĩa pháp lý của chế định này ở Việt Nam hiện nay Quy chế pháp lý của Quản tài viên chưa được làm rõ cả về các thành tố bao gồm trong đó và cả về nội dung
lý luận cụ thể của từng thành tố và tổng thể ở hệ thống lý luận pháp luật của Việt Nam hiện nay
- Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu cụ thể của Chương 2
Câu hỏi nghiên cứu cụ thể của Chương 2
Luật Phá sản năm 2014 có phản ánh đúng kết cấu bên trong của pháp luật phá sản không, và có thể hiện được đúng bản chất pháp lý của Quản tài viên là một thụ ủy tư pháp hay không? Các quy định của pháp luật phá sản hiện hành của Việt Nam có những bất cập gì liên quan tới Quy chế pháp lý của Quản tài viên và nguyên nhân chủ yếu của các bất cập đó là gì?
Giả thuyết nghiên cứu cụ thể của Chương 2
Luật Phá sản năm 2014 không phản ánh được kết cấu bên trong của pháp luật phá sản, thiếu tính logic và thiếu tính hệ thống, đồng thời không phản ánh đúng bản chất pháp của Quản tài viên là một thụ ủy tư pháp Pháp luật phá sản hiện hành của Việt Nam có nhiều bất cập liên quan tới Quy chế pháp lý của Quản tài viên do nguyên nhân chủ yếu là không có nhận thức đúng và đầy đủ về chế định Quản tài viên, và có những vướng mắc xung quanh cơ quan Thi hành án dân sự, cũng như vai trò của Tòa án trong quy trình phá sản
Trang 35- Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu cụ thể của Chương 3
Câu hỏi nghiên cứu cụ thể của Chương 3
Có cần thiết hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên không trong điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay? Cơ sở chính trị, kinh tế và xã hội có thuận lợi cho việc hoàn thiện Quy chế này không? Những định hướng và giải pháp chủ yếu cho việc hoàn thiện này là gì?
Giả thuyết nghiên cứu cụ thể của Chương 3
Hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên thực sự cần thiết để bảo đảm cho Luật Phá sản năm 2014 thực sự đi vào đời sống và để hoàn thiện một môi trường pháp lý kinh doanh lành mạnh Cơ sở chính trị, kinh tế, và văn hóa hiện nay ở Việt Nam hoàn toàn thuận lợi cho việc hoàn thiện Quy chế này Hoàn thiện Quy chế này phải hướng tới quy định đúng bản chất pháp lý của Quản tài viên, tăng cường vai trò của chủ nợ trong vụ phá sản với các giải pháp thích hợp với các định hướng đó
1.6 Cơ sở lý thuyết và sử dụng các phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Với các nội dung cần nghiên cứu cụ thể theo các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu nói trên, Luận án dựa vào các cơ sở lý thuyết sau để nghiên cứu đề tài Luận án:
Phá sản có một vai trò và ý nghĩa lớn trong kinh tế thị trường Thông qua nó người ta có thể tác động vào nền kinh tế Tuy nhiên phá sản vẫn luôn luôn được quan niệm là một lĩnh vực pháp luật thuộc luật tư
Do đó lý thuyết đầu tiên mà Luận án dựa vào là lý thuyết phân chia các
ngành luật hay phân loại pháp luật Từ lý thuyết này chúng ta mới có thể tìm
hiểu rõ tính chất của từng ngành luật hay từng lĩnh vực pháp luật
Vì vậy cơ sở lý thuyết tiếp theo mà Luận án dựa vào là học thuyết tự do
ý chí bởi học thuyết này là linh hồn và quyết định tính chất điều chỉnh của luật
Trang 36tư Theo đó việc xác định rõ vai trò của các chủ nợ, vai trò của Thẩm phán tiến hành tố tụng phá sản trong quy trình phá sản được làm rõ để từ đó có thể xác định đúng đắn bản chất pháp lý của Quản tài viên và xây dựng mối quan
hệ giữa Quản tài viên và các chế định chủ yếu khác của Luật Phá sản
Quản tài viên là đại diện của các chủ nợ và của con nợ Do đó học
thuyết về đại diện được Luận án dựa vào để làm rõ Quy chế pháp lý của Quản
tài viên, nhất là về mối liên hệ giữa Quản tài viên với các chủ nợ và Quản tài viên với con nợ bị phá sản
Để xác định tính logic hay tính hệ thống của Luật Phá sản, Luận án dựa
vào lý thuyết lấy nợ tập thể của thương nhân bởi Quản tài viên và Quy chế
pháp lý của Quản tài viên phải bảo đảm tính hợp lý hay tính hệ thống trong cơ chế lấy nợ tập thể này Phương thức lấy nợ tập thể có những đặc thù so với các phương thức lấy nợ thông thường
1.6.2 Sử dụng các phương pháp nghiên cứu
Từ việc xác định giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu chung và
cụ thể ở trên, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu để tiến hành nghiên cứu các vấn đề cụ thể sau:
(1) Phương pháp mô tả quy phạm hay mô tả vụ việc
Phương pháp này được Luận án sử dụng chủ yếu ở Chương 3 để mô
tả các quy định của pháp luật và các vụ việc liên quan Thông qua đó, Luận
án tạo dựng nên bức tranh toàn cảnh, chân thực của pháp luật Việt Nam về Quản tài viên Tùy theo ý đồ nghiên cứu, hoàn cảnh, phương pháp mô tả được thực hiện theo hai hướng là sao lại và phản ánh lại Phương pháp này cũng được sử dụng để nói về các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đó
(2) Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt các nội dung của Luận án
Trang 37nhằm tìm kiếm các tình tiết cần phải chứng minh trong quá trình chứng minh các lập luận, giả thiết nghiên cứu, đưa ra những kết luận khoa học; đồng thời được sử dụng để tìm hiểu các quy định của pháp luật, cũng như các vụ việc liên quan đến việc xác định ngữ, nghĩa và hoạt động của Quản tài viên Phương pháp này cũng được sử dụng để tìm hiểu các cơ sở của việc hình thành các định hướng và giải pháp hoàn thiện Quy chế của Quản tài viên
(3) Phương pháp so sánh pháp luật
Phương pháp này được sử dụng nhiều trong Chương 2, nhằm so sánh giữa mô hình chủ thể quản lý tài sản của Việt Nam và các nước trên thế giới, giữa Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản ngay trong Luật Phá sản hiện hành; nó cũng được sử dụng kết hợp với phương pháp phân tích, lịch sử nhằm tìm kiếm những kết luận, đánh giá có ý nghĩa về các nội dung cần nghiên cứu, đặc biệt làm nổi bật nên tính cần thiết, tất yếu cũng như những ưu điểm của mô hình Quản tài viên trong Luật Phá sản hiện hành so với các thiết chế cùng chức năng trong lịch sử pháp lý Việt Nam
(4) Phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa
Phương pháp này được sử dụng ngay trong Chương 1, với việc xác định các tiền đề, giả thiết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu Tại các Chương còn lại của Luận án, phương pháp này góp tìm ra những đặc điểm chung về chủ thể quản lý, xử lý tài sản của Việt Nam và các nước trên thế giới, từ đó xây dựng nên cơ sở lý luận của việc hình thành chủ thể này trong pháp luật phá sản, xác định vị trí, vai trò của Quản tài viên trong Luật Phá sản, đồng thời được sử dụng nhằm xác định rõ định hướng, nhóm giải giải pháp hoàn thiện Quy chế pháp lý về Quản tài viên ở Việt Nam trong thời gian tới
(5) Phương pháp phân tích lịch sử
Phương pháp này được sử dụng nhiều ở Chương 2 khi trình bày các vấn đề liên quan đến sự hình thành chủ thể quản lý, thanh lý tài sản qua các
Trang 38thời kỳ lịch sử khác nhau ở Việt Nam, từ đó góp phần làm rõ tính tất yếu, khách quan trong việc lựa chọn môn hình chủ thể trong Luật Phá sản hiện hành là Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý tài sản Phương pháp này được
sử dụng kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh nhằm đưa ra những đánh giá về ưu điểm, hạn chế của mỗi mô hình chủ thể quản lý và thanh lý tài sản
(6) Phương pháp phân loại pháp lý
Được sử dụng tại Chương 2 để xác định những cơ sở của việc hình thành thiết chế Quản tài viên ở Việt Nam, tại Chương 3 khi phân loại những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thi hành chế định này Phương pháp này được sử dụng nhiều tại Chương 4 khi xác định những căn cứ cho việc đề ra các định hướng, giải pháp, cũng như xác định các định hướng, nhóm giải pháp để hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên ở Việt Nam
(7) Sự tổng hoà các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu với tính chất là chìa khoá, là công cụ để chủ thể nghiên cứu tiếp cận và tìm kiếm thông tin của các nội dung nghiên cứu, Trong khi đó, yêu cầu của một kết luận khoa học cần được hình thành nên từ nhiều thông tin, tri thức, những lập luận, giả thiết khác nhau, do đó, cùng lúc cần thiết phải sử dụng các “chìa khoá” khác nhau cho việc khai thác và tạo dựng tri thức về các nội dung nghiên cứu cụ thể Khẳng định trên giúp ta thấy được tính tất yếu trong việc sử dụng tổng hoà các phương pháp nghiên cứu đối với các nội dung của Luận án, không có phương pháp nào tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ khi được sử dụng để nghiên cứu các nội dung của Luận
án, chúng là tiền đề của nhau, bổ sung, hỗ trợ và có cả sự giao thoa, khó phân tách trong các nội dung nghiên cứu cụ thể Khi sử dụng phương pháp lịch sử
để nghiên cứu sự hình thành các chủ thể quản lý tài sản phá sản ở Việt Nam
có sự phân tích, tổng hợp, so sánh để đưa ra những đánh giá, kết luận về
Trang 39những ưu điểm, những hạn chế của mỗi mô hình; sự so sánh, đối chiếu các giữa mô hình thiết chế quản lý tài sản của Việt Nam và các nước được tạo nên
từ sự mô tả, trình bày nội dung quy định trong pháp luật phá sản của Việt Nam cũng như của các nước, đồng thời kết hợp với việc phân tích là tiền đề cho việc tổng hợp, khái quát hoá nên thành cơ sở thực tiễn và lý luận cho sự hình thành thiết chế Quản tài viên trong Luật Phá sản hiện hành Tương tự, sự
mô tả thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về Quản tài viên nằm trong sự phân tích, đánh giá, so sánh chủ thể này với doanh nghiệp quản lý tài sản trong Luật Phá sản hiện hành cũng như Tổ quản lý tài sản, Tổ thanh lý tài sản trong Luật Phá sản năm 1993, Tổ quản lý và thanh lý tài sản trong Luật Phá sản năm 2004
Tóm lại từ mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa các nội dung nghiên cứu đã tự nhiên tạo ra sự logic, quan hệ biện chứng trong việc sử dụng các
phương pháp nghiên cứu
Trang 40Kết luận Chương 1
Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài này phải xuất phát từ hai xuất phát điểm quan trọng, bao gồm: chủ thể quản lý, thanh lý tài sản là chế định tất yếu trong luật phá sản, và chủ thể quản lý, thanh lý tài sản được hình thành trên những cơ sở kinh tế - xã hội nhất định
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có các nghiên cứu bao quát cũng như trên từng giác độ cụ thể và đã đạt được những thành tựu khoa học nhất định không thể không kế thừa Các công trình của các học giả Việt Nam có nhiều thành tựu quan trọng và có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn, tuy nhiên vẫn chưa phải là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về chủ thể quản lý, thanh lý tài sản nói chung, Quản tài viên nói riêng
Bởi lẽ đó, Luận án đã xác định hướng nghiên cứu mới là nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện về mô hình phổ biến trong Luật Phá sản là Quản tài viên với các nội dung như: cơ sở hình thành thiết chế Quản tài viên ở Việt Nam; Quan niệm về Quản tài viên, vị trí, vai trò và các mối liên hệ cơ bản và chức năng của Quản tài viên; khái niệm, đặc điểm, nội dung Quy chế pháp lý của Quản tài viên; thực trạng quy định pháp luật về Quản tài viên; những cơ sở đảm bảo để Quản tài viên hoạt động có hiệu quả; kiến nghị một
số vấn đề liên quan đến việc hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên trong giải quyết các vụ việc phá sản
Luận án từ đó đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu chung, các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu cụ thể liên quan tới lý luận, thực trạng và kiến nghị về việc hoàn thiện Quy chế pháp lý của Quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam Dựa trên cơ sở các lý thuyết phân chia các ngành luật, học thuyết tự do ý chí, học thuyết đại diện và lý thuyết lấy nợ tập thể để nghiên cứu Luận án sử dụng các phương pháp đã được lựa chọn