Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Luật sư năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm: Văn phòng Luật sư do một Luật sư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM NGỌC ANH
QUY CHÕ PH¸P Lý VÒ C¤NG TY LUËT
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM NGỌC ANH
QUY CHÕ PH¸P Lý VÒ C¤NG TY LUËT
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRỌNG ĐIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Ngọc Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TY LUẬT 8
1.1 Những vấn đề lý luận về công ty luật và quy chế pháp lý về công ty luật 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Công ty luật 8
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm quy chế pháp lý về công ty luật 13
1.1.3 Nguồn pháp luật về Công ty luật 15
1.2 Quy chế pháp lý về công ty luật theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TY LUẬT Ở VIỆT NAM 23
2.1 Thực trạng quy chế pháp lý về công ty luật theo pháp luật Việt Nam 23
2.1.1 Thực trạng về các loại hình của công ty luật 23
2.1.2 Thực trạng về thủ tục thành lập công ty luật 28
2.1.3 Thực trạng về tổ chức và hoạt động của các công ty luật 31
2.1.4 Thực trạng về quản trị công ty luật 33
2.1.5 Thực trạng về hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi công ty luật 38
2.1.6 Thực trạng về tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động công ty luật 45
Trang 52.2 Đánh giá hoạt động thực hiện quy chế pháp lý về công ty luật
ở Việt Nam hiện nay 48
2.2.2 Những kết quả đạt được 48
2.2.3 Những hạn chế còn tồn tại 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT Ở VIỆT NAM 59
3.1 Sự cần thiết hoàn thiện quy chế pháp lý về công ty luật ở Việt Nam hiện nay 59
3.1.1 Đáp ứng nhu cầu của thực tiễn ở Việt Nam 60
3.1.2 Đáp ứng nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật về luật sư 61
3.2 Các phương hướng hoàn thiện quy chế pháp lý về công ty luật 61
3.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý về công ty luật 62
3.3.1 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý về công ty luật 62
3.3.2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về công ty luật 71
3.3.3 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường nhận thức pháp luật về công ty luật 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công ty luật là một hình thức tổ chức hành nghề luật sư Theo quy định pháp luật của nhiều nước, hình thức tổ chức hành nghề luật sư phổ biến là văn phòng luật sư cá nhân và công ty luật Ngoài hai hình thức phổ biến nêu trên thì ở nhiều nước cho phép luật sư thành lập công ty luật trách nhiệm hữu hạn như Mỹ, Pháp, Canada, Bỉ, Singapore, Thái Lan, Đức Bên cạnh đó, một số nước như Hy Lạp, Arhentina, Italia, Mexico, Đài Loan, Brazil, Thuỵ Sỹ, Nhật Bản, hình thức công ty luật trách nhiệm hữu hạn không được chấp nhận vì không phù hợp với chế độ trách nhiệm vô hạn đối với luật sư trong hoạt động nghề nghiệp Đối với nghề luật sư ở Anh, Mỹ thì hình thức công ty luật hợp danh lại rất phổ biến Một số nước còn quy định hình thức luật sư hành nghề độc lập mà không cần thành lập tổ chức hành nghề như Mỹ, Anh, Singapore, Canada hoặc cho phép hai hay nhiều luật sư biện hộ có chung văn phòng, chia
sẻ một số chi phí văn phòng nhưng không tham gia hợp danh với nhau như Italia, Đài Loan, Anh, Pháp, Thuỵ Sỹ, Nhật
Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Luật sư năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm: Văn phòng Luật sư do một Luật sư thành lập được tổ chức
và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân Luật sư thành lập văn phòng Luật sư là Trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của văn phòng Trưởng văn phòng là người
đại diện theo pháp luật của văn phòng; Công ty luật bao gồm công ty luật
hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn Thành viên của công ty luật phải là Luật sư Công ty luật hợp danh do ít nhất hai Luật sư thành lập Công
ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn Công ty luật trách nhiệm hữu
Trang 8hạn bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất hai Luật sư thành lập và công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một Luật sư thành lập và làm chủ sở hữu Hiện nay, số lượng tổ chức hành nghề luật sư ở nước ta ngày càng tăng cho thấy nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của cá nhân, tổ chức cũng đang tăng lên một cách rõ rệt Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện mình về phương diện pháp luật về hình thức tổ chức hành nghề luật sư nói chung và pháp luật về công ty luật nói riêng nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty luật
Trong những năm gần đây, những quy định pháp luật về công ty luật đã
có những thành quả tích cực mà biểu hiện sinh động là việc sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản pháp luật còn khiếm khuyết nhằm hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, thực tế cho thấy các văn bản pháp luật này cũng không tránh khỏi việc gây nên nhiều khó khăn cho quá trình thực hiện có sự mâu thuẫn, không thống nhất giữa Luật Luật sư, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Luật sư và Luật Doanh nghiệp Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả lựa chọn đề tài
“Quy chế pháp lý về công ty luật theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn
nghiên cứu mong muốn có cái nhìn sâu hơn về vấn đề quan tâm
2 Tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu ngoài nước về các vấn đề pháp lý của công
ty nói chung và công ty luật nói riêng là rất đa dạng, ở các khía cạnh khác nhau Các nghiên cứu để cung cấp một nền tảng lý luận và thực tiễn về các công ty góp phần làm rõ những vấn đề pháp lý cơ bản, cơ cấu tổ chức nội bộ của các loại hình công ty Trong đó, chủ đề nghiên cứu về công ty luật cũng được các tác giả ngoài nước nghiên cứu sâu sắc, toàn diện do sự ra đời và phát triển rất sớm của nghề luật sư và các dịch vụ pháp lý Ở Việt Nam, thì
Trang 9nghề luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư gần đây mới được quan tâm phát triển trên cơ sở đòi hòi khách quan của sự phát triển kinh tế và xã hội
Đến nay, các công trình nghiên cứu trong nước tiêu biểu liên quan trực tiếp đến các vấn đề pháp lý của công ty luật có thể kể đến như:
Đề tài khoa học cấp Bộ của tác giả Nguyễn Văn Thảo (2003): “Cơ sở
lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam” và Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ (năm 2005) do Tác giả Nguyễn Văn Tuân làm chủ nhiệm: “Dịch vụ pháp
lý ở Việt Nam, thực trạng, nhu cầu và định hướng phát triển Các đề tài
nghiên cứu này đã tiếp cận, phân tích các khía cạnh của hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trên cả phương diện
lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Qua các nghiên cứu của mình, các tác giả đã đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư nhằm đáp ứng đòi hỏi của nhu cầu thực tiễn đặt ra Mặc dù những công trình nghiên cứu này đến nay nhiều nội dung đã không còn tính thời sự bởi trên cơ
sở của Pháp lệnh luật sư năm 2001, nhưng một số kiến nghị, đề xuất vẫn còn giá trị tham khảo cao để hoàn thiện pháp luật hiện hành
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phan Trung Hoài (2003), “Cơ sở lý
luận của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam hiện nay”, Học
viện Chính trị Hồ Chí Minh Các nghiên cứu trong luận án đã phân tích các
cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về luật sư, đồng thời định hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam Công trình đã nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về pháp luật luật sư trước nhu cầu của thực tiễn và yêu cầu của cải cách tư pháp
ở Việt Nam
Trang 10Bên cạnh đó, các bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã
đề cập, phân tích các khía cạnh pháp lý liên quan đến hoạt động của luật sư và
tổ chức hành nghề luật sư Như: Nguyễn Hà Trang (2011), “Hình thức hành
nghề luật sư”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề: Pháp luật về luật
sư, tr 80-81 Gần đây, tác giả Đồng Thái Quang (2018), “Công ty luật hợp
danh trách nhiệm hữu hạn - Một mô hình tổ chức kinh doanh mới của luật sư”, Tạp chí Pháp luật và phát triển Tác giả Nguyễn Quý Trọng và Nguyễn
Minh Đức (2017), “Quản trị nội bộ công ty luật hợp danh - góc nhìn từ thực
tiễn”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Các công trình trên đã đưa ra và phân
tích những tồn tại của pháp luật hiện hành và đưa ra những định hướng hoàn thiện như có thể tham khảo kinh nghiệm của các nước để nghiên cứu
và tạo khung khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của loại hình tổ chức hành nghề luật sư mới nhằm thu hút được các nguồn vốn đầu tư, vừa đảm bảo quyền tự do và tăng khả năng lựa chọn hình thức kinh doanh của các nhà đầu tư đồng thời cũng phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế Một
số kết quả nghiên cứu được đề cập trong các công trình này, được luận văn
kế thừa và phát triển
Có thể thấy, đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu một cách cụ thể, sâu sắc, mang tính hệ thống liên quan đến các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật hiện hành liên quan đến quy chế pháp lý đối với loại hình công ty luật Từ đó, tìm ra những tồn tại, bất cập trong các quy định pháp luật
và đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện quy chế pháp lý về công ty luật nhằm thực thi có hiệu quả trong thực tiễn Vì thế, tác giả luận văn này, mong muốn sẽ góp một phần nhỏ tìm ra những nguyên nhân của bất cập, tồn tại của quy chế pháp lý về công ty luật và định hướng, đưa ra giải pháp toàn diện để hoàn thiện chế định này ở Việt Nam hiện nay
Trang 113 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ những nội dung cơ bản của pháp luật về công ty luật ở Việt Nam, chỉ ra những điểm bất cập cũng như thực tiễn hoạt động của công ty luật ở Việt Nam trong bối cảnh đất nước hội nhập như hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty luật, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty luật ở Việt Nam
về công ty luật ở Việt Nam với một số nước trên thế giới
- Hệ thống hóa các quy định pháp luật thực định về công ty luật, bình luận, đánh giá các quy định đó
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý về công ty luật theo pháp luật Việt Nam
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
4.1 Tính mới của đề tài
Trong những năm qua, có khá nhiều đề tài khoa học cũng như bài viết liên quan đến vấn đề pháp luật về hình thức tổ chức hành nghề luật sư nói chung và pháp luật về công ty luật nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học chỉ đề cập nhiều đến các vấn đề lý luận liên quan đến tổ chức luật sư và hành nghề luật sư Chính vì vậy đề tài nghiên cứu “Quy chế pháp lý
về công ty luật theo pháp luật Việt Nam” sẽ tập trung nghiên cứu một cách có
Trang 12hệ thống, chuyên sâu, toàn diện nội dung quy chế pháp lý về công ty luật theo pháp luật Việt Nam
4.2 Những đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý về công ty luật ở Việt Nam với tư cách là hành lang pháp lý cho hình thức hành nghề luật sư Từ kết quả nghiên cứu vận dụng đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm điều chỉnh một cách toàn diện các quy định pháp luật về công ty luật, các quy định của Luật Luật sư, Luật Doanh nghiệp cho phù hợp với đặc trưng của nghề luật sư cũng như thông lệ trên thế giới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty luật ở Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Luận văn đi sâu nghiên cứu các quy chế pháp lý về công ty luật cũng như thực trạng pháp luật về công ty luật
6 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Nội dung nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những nội dung sau đây:
- Những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý về Công ty Luật;
- Thực trạng quy chế pháp lý về công ty luật ở Việt Nam;
- Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về công ty luật ở Việt Nam
Trang 136.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sử dụng phương pháp tư duy của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo tư tưởng Mác – Lênin nhà nước và pháp luật
và một số các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp suy luận, phương pháp so sánh và phương pháp thống kê
để giúp nghiên cứu đề tài một cách hệ thống và hiệu quả
7 Kết cấu của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn dự kiến được kết cấu theo nội dung sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý về Công ty Luật; Chương 2: Thực trạng quy chế pháp lý về công ty luật ở Việt Nam; Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về công ty luật ở Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ
VỀ CÔNG TY LUẬT
1.1 Những vấn đề lý luận về công ty luật và quy chế pháp lý về công ty luật
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Công ty luật
Pháp luật các quốc gia trên thế giới cũng như pháp luật tại Việt Nam chưa có quy định cụ thể nào về khái niệm công ty luật Tuy nhiên để đưa ra một khái niệm cụ thể về công ty luật thì trước hết phải hiểu rõ khái niệm về
“công ty” cũng như tính chất đặc thù của nghề luật sư
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm công ty, như Luật
Công ty Anh tại phần 1 mục 1 quy định: “Công ty nghĩa là công ty được
thành lập và đăng ký theo luật này…” Luật công ty của Úc cũng có quy định
tương tự Luật công ty Nhật Bản lại không đưa ra khái niệm mà quy định công ty nghĩa là: Công ty cổ phần, Hợp danh thông thường, Hợp danh trách nhiệm hữu hạn và Công ty TNHH Còn theo Luật Công ty 1990 Việt Nam cũng có quy định tương tự khi đưa ra khái niệm chung về hai loại hình Công
ty cổ phần và Công ty TNHH quy định như sau: “là doanh nghiệp trong đó
các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
Khái quát các khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm công ty như sau:
“Công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người (cá nhân hay pháp nhân) bằng
một sự kiện pháp lý trong đó các bên thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của họ nhằm tiến hành các hoạt động để đạt mục tiêu chung”
Xuất phát từ khái niệm công ty và với tính chất đặc thù của nghề luật
sư đó là: hành nghề độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động nghề
Trang 15nghiệp của mình; Người muốn thành lập công ty luật phải là Luật sư và ngành, nghề kinh doanh trong công ty luật phải đáp ứng đủ các điều kiện của luật định, có thể tổng quát khái niệm công ty luật như sau: Công ty luật là một loại hình công ty do một hoặc nhiều luật sư tự bỏ vốn hoặc cùng nhau góp vốn để thành lập một pháp nhân với mục đích chung là kinh doanh dịch vụ pháp lý Tùy theo loại hình công ty, thành viên công ty có thể chịu trách nhiệm về khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn
đã góp vào công ty hoặc chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình về các nghĩa
vụ của công ty
Công ty luật có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, đặc thù của Công ty luật so với các công ty hoạt động trong lĩnh vực khác đó là cung cấp dịch vụ pháp lý cho xã hội Khác với các công ty
thương mại được thành lập trong Luật Doanh nghiệp có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Thì Công ty luật chỉ được cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác như: giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính; giúp đỡ về pháp luật trong trường hợp giải quyết khiếu nại; dịch thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch và giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật
Cùng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các luật sư trong các công
ty luật dựa trên các quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của khách hàng “hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm mục đích góp
phần bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; góp phần phát triển kinh tế, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” [11] Công ty luật đứng giữa khách hàng với các chủ
thể khác trong xã hội và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 16Thứ hai, Chủ sở hữu Công ty luật hoặc thành viên công ty luật phải là luật sư đáp ứng các quy định về năng lực hành vi dân sự, về trình độ năng lực, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp Tiêu chuẩn này được quy định tùy
thuộc vào luật của từng quốc gia Sự tham gia của luật sư là điều kiện bắt buộc đối với việc thành lập công ty luật dù số lượng tối thiểu có thể có sự khác nhau ở trong từng nền tài phán cũng như đối với từng loại công ty luật
Ví dụ, công ty luật HD ở Việt Nam phải do ít nhất hai luật sư thành lập Công
ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư thành lập
và làm chủ sở hữu [18, Điều 34]
Thứ ba, công ty luật là một tổ chức có tư cách pháp nhân Công ty
luật thường là một pháp nhân đối nhân Ngay cả khi có yếu tố đối vốn thì yếu tố này có vai trò khiêm tốn Công ty luật phải được đăng ký dù cơ quan đăng ký có thể khác nhau Ví dụ như ở một số quốc gia, công ty luật được đăng ký tại tòa án, song ở một số quốc gia như ở Việt Nam, công ty luật được đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư
mà Giám đốc công ty luật là thành viên [18, Điều 35] Việc đăng ký hoạt động của công ty luật khác việc đăng ký thành lập đối với các công ty thương mại hay các pháp nhân khác
Thứ tư, các công ty luật thể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định Hầu hết pháp luật của các quốc gia và ở Việt Nam đều quy định các
công ty luật phải được thành lập dưới những hình thức nhất định Đây cũng là đặc thù trong hoạt động của công ty luật Có nghĩa các sáng lập viên là các luật sư buộc phải thành lập loại hình công ty nhất định theo quy định của pháp luật Theo pháp luật Việt Nam, công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên)
Trang 17Thứ năm, Chế độ chịu trách nhiệm của công ty luật cũng phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp và quy định pháp luật của mỗi quốc gia Công ty luật
trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của các thành viên Công ty luật hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, nếu nghĩa vụ lớn hơn tài sản công ty, các thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đó bằng tài sản cá nhân Trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý, công ty luật là một chủ thể của Hợp đồng dịch vụ pháp lý Công ty luật cung cấp các dịch vụ pháp lý tới khách hàng sau đó giao cho luật
sư thực hiện các dịch vụ đó Khách hàng là người sử dụng dịch vụ và có trách nhiệm thanh toán cho công ty luật
Vai trò của công ty luật trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Xuất phát từ đặc thù của hoạt động hành nghề luật sư, vai trò của các công ty luật trong nền kinh tế cũng có những khác biệt so với các loại hình công ty thương mại khác Hành nghề luật sư được hiểu là hoạt động của luật
sư thực hiện cung cấp các dịch vụ pháp lý bao gồm các hoạt động cụ thể như: tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và làm các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (bao gồm giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính; giúp đỡ về pháp luật trong trường hợp giải quyết khiếu nại; dịch thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch và giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật) Vì thế, vai trò của công ty luật nói riêng và của các tổ chức hành nghề luật sư nói chung là rất quan trọng trong nền kinh
tế thị trường hiện nay ở Việt Nam
Thứ nhất, hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý hầu hết là của các tổ chức hành nghề luật sư Một luật sư có thể một mình hoặc cùng với các luật
sư khác thành lập tổ chức hành nghề luật sư theo một trong các hình thức sau
đây: Văn phòng luật sư: Do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động
Trang 18theo loại hình thức doanh nghiệp tư nhân; Công ty luật hợp danh: Do ít nhất hai luật sư thành lập và không có thành viên góp vốn; Công ty luật trách
nhiệm hữu hạn một thành viên: Do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu; Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Do ít nhất hai luật sư
thành lập và làm chủ sở hữu
Pháp luật hiện hành ở Việt Nam cũng cho phép luật sư hành nghề với
tư cách cá nhân, tức là làm luật sư theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư (như các doanh nghiệp hoặc ngân hàng) Tuy nhiên, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan,
tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp tham gia tố tụng hình
sự hoặc trợ giúp pháp lý theo chỉ định của cơ quan tố tụng hoặc Đoàn luật sư
mà luật sư là thành viên
Thứ hai, các công ty luật hiện đang hoạt động hành nghề ở hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội Dịch vụ pháp lý của các công ty luật nhằm đáp ứng
các nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý đa dạng của các chủ thể trong xã hội Khi nền kinh tế phát triển và hội nhập, thì việc xây dựng và phát triển các công ty luật có đội ngũ luật sư đông về số lượng, mạnh về chất lượng, có khả năng đáp ứng các nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của khách hàng và cộng đồng xã hội là nhu cầu rất cần thiết
Thứ ba, thông qua hoạt động của mình, các công ty luật với đội ngũ luật sư nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh Về bản chất, nghề
luật sư không chỉ đơn thuần thể hiện tinh thần phục vụ khách hàng mà còn thể hiện mối liên hệ và phối hợp giữa luật sư với các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ luật pháp Hoạt động tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp
lý khác của luật sư “là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo lập
môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh theo đúng pháp luật,
Trang 19đồng thời hỗ trợ tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển thị trường dịch vụ, giải quyết việc làm Sự tham gia tích cực của các luật sư trong các dự án đầu tư, các giao dịch kinh doanh, thương mại không chỉ góp
phần huy động nội lực mà còn thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” [2]
Hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của công ty luật không những có khả năng giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn kinh tế - xã hội một cách văn minh, làm cho xã hội ổn định, an toàn cho mọi người mà còn góp phần vào việc phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra nếu như được sử dụng ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư sản xuất - kinh doanh, hay tham gia vào bất kỳ một quá trình nào đó của xã hội
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm quy chế pháp lý về công ty luật
Thuật ngữ “Quy chế pháp lý” thông thường được dùng để chỉ tổng thể các quy phạm pháp luật liên quan tới một đối tượng điều chỉnh nhất định Theo Đại từ điển tiếng Việt:
Quy chế là những điều đã được quy định thành chế độ để mọi người theo đó mà thực hiện trong những hoạt động nhất định
nào đó [26, tr.550]
Theo Từ điển Luật học:
Quy chế là một văn bản hoặc toàn thể các văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc quy phạm xã hội do cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự nhất định, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các thành viên của cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chế [25, tr.624]
Qua nghiên cứu cho thấy, quy chế pháp lý là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong khoa học pháp lý Quy chế pháp lý có nghĩa khác với nội quy Quy chế chính là thuật ngữ chỉ tổng thể các quy định được đặt ra để điều chỉnh một đối tượng nhất định, có hiệu lực bào trùm toàn bộ một hệ thống
Trang 20pháp luật nhất định Còn nội quy được dùng để chỉ quy tắc ứng xử mang tính nội bộ cho một tập thể nhất định liên quan tới một hoạt động nhất định Như vậy, có thể hiểu đơn giản Quy chế pháp lý về công ty luật được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh về các nội dung trong công ty luật nhằm tạo khung pháp lý cần thiết để công ty luật hoạt động một cách hiệu quả, bao gồm:
Thứ nhất, các quy định về các loại hình của công ty luật;
Thứ hai, các quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập công ty luật; Thứ ba, các quy định về tổ chức và hoạt động của các công ty luật; Thứ tư, các quy định về quản trị công ty luật;
Thứ năm, các quy định về hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi công ty luật; Thứ sáu, các quy định về tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động công ty luật
Đặc điểm quy chế pháp lý về công ty luật
Quy chế pháp lý về công ty luật được điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp luật điển hình trong đó là Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và Luật Doanh nghiệp năm 2014 Pháp luật quy định về các nội dung trong công ty luật bao gồm: quy định về các loại hình của công ty luật; quy định về thủ tục thành lập công ty luật; Quy định về tổ chức và hoạt động của các công ty luật; Quy định về quản trị công ty luật; Quy định về hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi công ty luật; Quy định về tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động công ty luật Các quy định trên đã tạo khung pháp lý cần thiết
để công ty luật hoạt động một cách hiệu quả Với những quy định mang tính nguyên tắc thì công ty luật có quyền tự quyết định trong khuôn khổ những quy định đó Các quy định của công ty luật rõ ràng, đồng bộ, minh bạch sẽ là nhân tố thuận lợi cho quá trình phát triển của công ty luật
Trang 211.1.3 Nguồn pháp luật về Công ty luật
Nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp căn
cứ pháp lý mà các chủ thể thực hiện hành vi thực tế, nói cách khác, nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lý cho hoạt động của cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền cũng như các chủ thể khác trong xã hội [23, tr.238]
Nguồn pháp luật chủ yếu và trực tiếp của chế định công ty luật là Luật Luật sư Luật Luật sư năm 2006 được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 Luật Luật sư quy định về nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình thức hành nghề, tiêu chuẩn, quyền, nghĩa vụ của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, quản lý hành nghề luật
sư, hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam Luật Luật sư năm 2006 đã kế thừa những điểm tiến bộ được quy định tại Pháp lệnh Luật sư năm 2001 Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện và với những thay đổi lớn trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, Luật Luật sư năm 2006 vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, đặc biệt khi Việt Nam tham gia và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì những yêu cầu đổi mới tổ chức hành nghề luật sư là tất yếu Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 là để đáp ứng yêu cầu đó
Một nguồn luật quan trọng khác cho chế định công ty luật là Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật này Luật Doanh nghiệp 2014 quy định các loại hình doanh nghiệp,
cơ cấu tổ chức và cấu trúc phân chia quyền lực trong các doanh nghiệp, vốn
và các phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp được quyền thiết kế và huy động Các loại hình doanh nghiệp quy định trong Luật Doanh nghiệp năm
2014 được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực Trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý
và hành nghề luật sư, các luật sư lựa chọn cho mình trong số đó loại hình
Trang 22doanh nghiệp phù hợp để hành nghề luật sư Do đó, các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của công ty luật ở nước ta vì chúng xác định nền tảng tổ chức cho sự tồn tại của công ty luật
Luật Luật sư và Luật Doanh nghiệp là hai nguồn pháp luật quan trọng
để chế định về công ty luật hoàn thiện theo đúng nghĩa
1.2 Quy chế pháp lý về công ty luật theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới
Ở Vương quốc Anh Các cơ sở được công nhận là những công ty luật có
tất cả người quản lý và người góp vốn là luật sư đó là: công ty HD, công ty
HD TNHH, và công ty TNHH:
Trước đây hầu hết các công ty luật được thành lập dưới hình thức công
ty HD Công ty HD không có sự phân chia giữa tài sản của công ty với các luật sư HD (luật sư thành viên) Do đó, chủ nợ có thể yêu cầu các luật sư thành viên dùng tài sản riêng của mình để thanh toán những nghĩa vụ nợ cho
dù nghĩa vụ nợ đó do các luật sư thành viên khác gây nợ Khi công ty HD giải thể, các luật sư thành viên sẽ không có bất kỳ sự bảo vệ nào trước những chủ
nợ Công ty HD TNHH là loại hình công ty được sử dụng phổ biến hiện nay Tuy nhiên, khác với công ty HD, công ty HD TNHH phải:
+ Đăng ký với Phòng đăng ký công ty (Companies House)
+ Nộp tờ khai hàng năm cho Phòng đăng ký công ty
+ Nộp hồ sơ tài khoản với Phòng đăng ký công ty
Công ty HD TNHH phải được thành lập và đăng ký tại Anh và xứ Wales, Scotland hoặc Bắc Ailen theo quy định của Luật về công ty HD TNHH năm 2000
Công ty TNHH: Cũng giống như công ty HD TNHH, công ty chịu TNHH trong số vốn góp của mình Tuy nhiên, cấu trúc của loại công ty này thường
Trang 23có tính phân cấp hơn so với công ty HD TNHH Công ty TNHH được thành lập và đăng ký tại Anh và xứ Wales, Scotland hoặc Bắc Ailen theo quy định Luật công ty năm 2006 [5, tr.75-76]
Ở Hoa Kỳ Cũng giống như ở Vương quốc Anh, hình thức công ty HD
ở Hòa Kỳ cũng rất phổ biến
Thành viên công ty HD thì phải có tư cách luật sư Điều kiện để trở thành luật sư theo pháp luật Hoa Kỳ cơ bản là thống nhất Phần lớn các bang của Hoa Kỳ đều quy định sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học luật muốn hành nghề luật sư phải trải qua một kỳ thi vào Đoàn luật sư Pháp luật Pháp luật không bắt buộc luật sư phải hành nghề trong một công ty HD Lý do được đưa ra đó là, công ty HD chủ yếu xác định tính chịu trách nhiệm vô hạn của các luật sư thành viên Tính chịu trách nhiệm vô hạn không chỉ đảm bảo sự liên kết trách nhiệm giữa các thành viên mà còn đảm bảo hạn chế rủi ro cho khách hàng khi công ty phá sản Nghề luật sư là phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động nghề nghiệp của mình Vì vậy, hình thức công ty TNHH không được chấp nhận vì hình thức này không phù hợp với nghề luật sư Quan điểm này tương đồng với quan điểm của các nước như: Ở nhiều nước như Hy Lạp, Arhentina, Italia, Mexico, Đài Loan, Brazil, Thuỵ Sỹ, Nhật Bản… Các nước này cho rằng, luật sư là nhà chuyên nghiệp, có trách nhiệm cao trước khách hàng cho nên hình thức tổ chức hành nghề luật sư chủ yếu dưới hai hình thức là Công ty HD và Văn phòng cá nhân
Bên cạnh hình thức HD, luật sư có thể hành nghề dưới tất cả các hình thức của các công ty kinh doanh như công ty TNHH, công ty CP, công ty liên doanh… [5, tr.77-78]
Ở Trung Quốc: Theo điều 14 Luật Luật sư của Trung Quốc quy định về
điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư Theo đó luật sư thành lập, tham gia thành lập công ty luật phải có số năm kinh nghiệm nhất định là 05 năm
Trang 24Công ty luật phải có tên gọi, trụ sở hoạt động và có Điều lệ công ty Tổ chức hành nghề luật sư do một nhóm luật sư thành lập phải có từ 03 luật sư trở lên
và chỉ cần có từ 03 năm kinh nghiệm hành nghề luật sư Bên cạnh đó, điểm khác biệt là để thành lập công ty luật ở Trung Quốc phải có vốn pháp định Mức vốn này theo quy định hiện hành là 10.000 nhân dân tệ, tương đương khoảng 350.000.000 VNĐ Đồng thời, các quy định về kinh nghiệm hành nghề, điều kiện thành lập công ty do 01 luật sư thành lập có yêu cầu cao hơn
so với công ty do nhiều luật sư thành lập nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của khách hàng trong quá trình công ty này cung cấp dịch vụ pháp lý trên thị trường (về vốn pháp định và số năm kinh nghiệm hành nghề luật sư)
Về quản lý, điều hành công ty luật theo quy định của Trung Quốc chủ yếu được dẫn chiếu và áp dụng các quy định về doanh nghiệp được quy định tại luật doanh nghiệp Theo đó, công ty luật được tổ chức, quản lý bởi hội đồng gồm các luật sư thành viên
- Các luật sư thành viên chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn đối với nghĩa vụ tài sản và khoản nợ công ty Trong quá trình hoạt động của luật sư, nếu luật sư vi phạm pháp luật hay cam kết với khách hàng trong việc thực hiện nghĩa vụ thì có thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật Thực tế cho thấy, thẩm quyền áp dụng kỷ luật đối với luật sư thuộc về cơ quan hành chính tư pháp thuộc Bộ Tư pháp [21, tr.23] Cơ quan hành chính tư pháp sau khi nhận được đơn khiếu nại từ khách hàng, hoặc biết được luật sư hoặc văn phòng luật
sư vi phạm luật hoặc các quy định khác họ sẽ điều tra cụ thể việc cáo buộc và sau đó quyết định áp dụng hình phạt Nếu luật sư không đồng ý với quyết định đó, luật sư có thể kiện lên cơ quan hành chính cấp cao hơn, nếu vẫn không đồng ý với quyết định đó thì luật sư hoặc hãng luật có quyền yêu cầu tòa hành chính tư pháp xem xét theo thủ tục tố tụng Sau khi nhận được đơn yêu cầu, tòa hành chính tư pháp sẽ thành lập một hội đồng lâm thời để xem
Trang 25xét vụ việc trong một thời gian nhất định Khi xét xử, cán bộ điều tra vụ việc
sẽ làm nhiệm vụ như một công tố viên, còn luật sư và hãng luật ở vị trí như luật sư bào chữa Cuối cùng hội đồng xét xử sẽ cung cấp một bản báo cáo chi tiết bao gồm cả đề xuất phương án giải quyết vụ việc Trên cơ sở bản đề xuất này, tòa hành chính tư pháp sẽ ra quyết định cuối cùng [21, tr.23]
Qua nghiên cứu quy chế pháp lý về công ty luật của một số quốc gia nói trên, so sánh với quy chế pháp lý công ty luật ở Việt Nam cho thấy:
* Về điều kiện thành lập công ty luật
Nhìn chung các quốc gia đều quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn, điều kiện trở thành luật sư, điều kiện hành nghề luật sư Đa số pháp luật các nước đều
quy định tiêu chuẩn người muốn trở thành luật sư bao gồm: Thứ nhất, Tiêu
chuẩn về chuyên môn pháp lý là phải có bằng cử nhân luật, được đào tạo nghề luật sư, trải qua thời gian tập sự hành nghề luật sư và qua kỳ thi công nhận đủ
điều kiện hành nghề luật sư; Thứ hai, Tiêu chuẩn về đạo đức, sức khỏe Đa số
pháp luật các nước cũng thống nhất quy định điều kiện hành nghề luật sư bao gồm hai điều kiện: Có chứng chỉ hành nghề luật sư (hoặc chứng chỉ đủ điều kiện hành nghề luật sư); Là thành viên một Đoàn luật sư Tuy nhiên, ở mỗi nước cũng có những quy định khác nhau: Về đào tạo nghề, thời gian đào tạo nghề luật sư, thời gian tập sự hành nghề luật sư Đây là những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chuẩn, điều kiện trở thành luật sư Ví dụ: Ở Anh, thời gian đào tạo 12 tháng, tập sự 24 tháng; Hoa Kỳ, thời gian đào tạo luật và nghề luật sư là 03 năm, không phải tập sự hành nghề luật sư; (ii) Anh và Hoa Kỳ cho phép người có bằng cử nhân chuyên ngành khác, không phải cử nhân luật được đào tạo nghề luật sư
Ở Việt Nam, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư đã từng bước quy định cụ thể hóa các tiêu chuẩn, điều kiện trở thành luật sư, điều kiện hành nghề luật sư Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì công dân Việt Nam
Trang 26trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư [18, Điều 10] Về cơ bản, pháp luật Việt Nam cũng khá tương đồng với pháp luật các nước trong việc quy định tiêu chuẩn trở thành luật sư Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cần quy định rõ hơn tiêu chuẩn về mặt định lượng, hạn chế các tiêu chuẩn định tính
* Về mô hình công ty luật
Pháp luật của mỗi quốc gia có những quy định đặc thù song về cơ bản đều có sự đa dạng về hình thức tổ chức hành nghề nhằm tạo điều kiện cho các luật sư có nhiều cơ hội lựa chọn Về cơ bản, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư của các nước quy định rất khái quát về cơ cấu tổ chức công ty luật nhưng rất chặt chẽ về chủ thể thành lập công ty luật Thành viên của công ty luật bắt buộc phải là luật sư Chủ thể quản trị công ty luật là các luật sư thành lập chủ sở hữu hoặc luật sư thành lập, tham gia thành lập công ty luật Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) hiện hành ở nước ta cũng quy định mô hình công ty luật, điều kiện thành lập công ty luật Cụ thể: Điều 23 quy định hai hình thức hành nghề luật sư bao gồm: (i) Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư; (ii) Hành nghề với tư cách cá nhân; Điều 32 quy định hai hình thức tổ chức hành nghề luật sư, bao gồm: (i) Văn phòng luật sư; (ii) Công ty luật; Điều 34 quy định hai hình thức công ty luật, bao gồm: (i) Công
ty luật HD; (ii) Công ty luật TNHH một thành viên và Công ty luật TNHH từ hai thành viên trở lên; Khoản 3 Điều 32 quy định về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư trong đó có công ty luật Pháp luật Việt Nam cần quy định thêm hình thức HD cho hoạt động hành nghề luật sư vì mô hình này rất phù hợp với tính chất của hoạt động này và về cơ bản là nó rất phổ biến ở các nước trên thế giới
Trang 27* Về quản trị công ty luật
Các quốc gia trên thế giới mà điển hình là các quốc gia được tham khảo trong Luận văn đều trao cho các công ty luật, các hiệp hội luật sư quyền hạn rất rộng trong điều tiết hoạt động hành nghề luật sư Chính vì vậy, Việt Nam cần chú trọng nhiều hơn đến chế độ tự quản của luật sư và Hiệp hội luật sư Một số hạn chế trong thủ tục cho phép thành lập, công nhận và cho đăng ký hành nghề nên chuyển sang cho Liên đoàn luật sư Việc đào tạo luật sư, việc xác định đủ điều kiện hành nghề luật sư cũng nên do Liên đoàn luật sư thực hiện [5, tr.82-83]
Trang 28KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hoạt động hành nghề của luật sư và các công ty luật mang tính đặc thù, một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh theo đúng pháp luật, đồng thời hỗ trợ tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển thị trường dịch vụ, giải quyết việc làm Từ những kết quả nghiên cứu của Chương, cho thấy:
Thứ nhất, những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý về công ty luật được
nghiên cứu xuất phát từ khái niệm, bản chất của công ty và quy chế pháp lý đối với công ty nói chung
Thứ hai, trong chương 1, luận văn đã đưa ra và luận giải khái niệm và
đặc điểm của công ty luật Theo đó, công ty luật là một loại hình doanh nghiệp do một hoặc nhiều luật sư cùng nhau thành lập Công ty luật có tư cách pháp nhân và thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý theo quy định pháp luật
Thứ ba, xuất phát từ đặc thù của hoạt động hành nghề luật sư, vai trò
của các công ty luật trong nền kinh tế cũng có những khác biệt so với các loại hình công ty thương mại khác
Thứ tư, chương 1 cũng nêu ra và phân tích các vấn đề lý luận liên quan
đến quy chế pháp lý của công ty luật, nêu lên những nội dung chính của quy chế pháp lý Thông qua đó thấy rằng, quy chế pháp lý về công ty luật được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh về các nội dung nhằm tạo khung pháp lý cần thiết để công ty luật hoạt động một cách hiệu quả
Thứ năm, ở chương 1 đã phân tích quy chế pháp lý về công ty luật của
một số quốc gia trên thế giới để từ đó có những chia sẻ kinh nghiệm đối với việc xây dựng và thực hiện quy chế pháp lý về công ty luật ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TY LUẬT
Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng quy chế pháp lý về công ty luật theo pháp luật Việt Nam
2.1.1 Thực trạng về các loại hình của công ty luật
Theo quy định của pháp luật hiện hành, một luật sư có thể một mình hoặc cùng với các luật sư khác thành lập tổ chức hành nghề luật sư theo một trong các hình thức công ty luật sau đây:
* Công ty luật hợp danh
Theo quy định của Luật luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), Công ty luật hợp danh do ít nhất hai luật sư thành lập Trong đó các luật sư thỏa thuận
cử một luật sư thành viên làm Giám đốc công ty
Công ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn Công ty luật hợp danh có chế độ trách nhiệm vô hạn về tài sản đối với khoản nợ của công ty, các luật sư hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các khoản nợ của công ty hợp danh
Tên của công ty hợp danh do các thành viên thỏa thuận lựa chọn nhưng phải bao gồm cụm từ “công ty luật hợp danh”, không được trùng hoặc nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề luật sư khác đã được đăng ký hoạt động, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc
* Công ty luật TNHH một thành viên
Công ty luật TNHH một thành viên do một luật sư thành lập và làm chủ
sở hữu Luật sư làm chủ sở hữu công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Giám đốc công ty
Công ty luật TNHH một thành viên có chế độ trách nhiệm hữu hạn về
Trang 30tài sản đối với khoản nợ của công ty, luật sư chủ sở hữu công ty chỉ phải chịu trách nhiệm đối với tất cả các khoản nợ của công ty trong phạm vi tài sản mình đã đầu tư vào công ty
* Công ty luật TNHH hai thành viên trở lên
Công ty luật TNHH hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập Trong đó các luật sư thỏa thuận cử một thành viên làm Giám đốc công ty Công ty luật TNHH hai thành viên trở lên có chế độ trách nhiệm hữu hạn về tài sản đối với khoản nợ của công ty, các luật sư chỉ phải trách nhiệm đối với tất cả các khoản nợ của công ty trong phạm vi tài sản đã góp vào công ty
Tên của công ty TNHH hai thành viên trở lên do các thành viên thỏa thuận lựa chọn nhưng phải bao gồm cụm từ “công ty luật trách nhiệm hữu hạn”, không được trùng hoặc nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề luật
sư khách đã được đăng ký hoạt động, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu
vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc
Trên cơ sở các quy định về loại hình công ty luật hiện nay có thể được đánh giá ở những khía cạnh như sau:
Một là, pháp luật hiện hành cho phép các luật sư có quyền lựa chọn loại hình tổ chức kinh doanh Các sáng lập viên là luật sư được tự do lựa chọn
hình thức hành nghề luật sư phù hợp với năng lực chuyên môn, điều kiện của mình Khi các luật sư tự thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư, luật sư có quyền lựa chọn hình thức tổ chức hành nghề luật sư là văn phòng luật sư hoặc công ty luật
Đa số các hệ thống pháp luật chỉ cho phép thành lập mô hình kinh doanh này khi gắn với những nghề nghiệp nhất định, chẳng hạn lĩnh vực như
kế toán, kiến trúc sư, bác sĩ, luật sư Hoạt động hành nghề luật sư mang tính chất đặc thù, ở pháp luật hầu hết các quốc gia đều bắt buộc tổ chức hành
Trang 31nghề luật sư đều được giới hạn những hình thức nhất định Các luật sư có quyền lựa chọn hình thức tổ chức hành nghề phù hợp khi đáp ứng các yêu cầu của pháp luật
Tuy vậy, vấn đề đặt ra là pháp luật phải điều chỉnh những hình thức tổ chức hành nghề luật sư như thế nào để đảm bảo quyền tự do lựa chọn các loại hình tổ chức hành nghề của luật sư Về nguyên tắc, mỗi loại hình công ty luật
sẽ mang lại cho chủ sở hữu (các luật sư) những ưu nhược điểm nhất định Vì thế, việc lựa chọn loại hình công ty nào phụ thuộc vào ý chí và điều kiện của các luật sư Vì vậy, việc xem xét quy định loại hình nào trong pháp luật nhằm phù hợp với hoạt động hành nghề luật sư cũng phải dựa trên kinh nghiệm của pháp luật các nước và thực tiễn pháp luật quốc gia
Việc thừa nhận và quy định các loại hình công ty luật ở pháp luật của nhiều quốc gia có sự khác nhau Có ý kiến cho rằng, ngoài các loại hình công
ty luật hiện hành ở Việt Nam, cần thiết bổ sung loại hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn (công ty luật HD TNHH) Theo pháp luật một số nước, công ty luật HD TNHH là hình thức doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó các thành viên không những được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn mà còn có thể linh động khi thiết kế cấu trúc quản lý bên trong giống
công ty luật hợp danh thông thường
Hai là, về chủ thể thành lập công ty luật Sáng lập viên của công ty luật
phải là luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho văn phòng luật sư hoặc công ty luật hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức (khoản 3 Điều 32) Việc quy định ít nhất hai năm hành nghề luật sư liên tục của luật sư nhằm đảm bảo các luật sư phải có kinh nghiệm hành nghề trước khi thành lập và quản lý công ty luật Tuy vậy, khi xem xét ở khía cạnh khác, thì quy định trên cũng gây khó khăn cho các
Trang 32luật sư mới nhưng họ đã hoạt động liên quan đến lĩnh vực pháp luật trong nhiều năm như: các thẩm phán, kiểm sát viên… Khi họ bỏ việc, hoặc nghỉ hưu và đáp ứng các điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề và thẻ luật sư, thì họ lại chưa được đăng ký thành lập công ty luật mà vẫn phải đáp ứng điều kiện tối thiểu hai năm hành nghề luật sư liên tục
Ba là về vốn điều lệ của công ty luật Các quy định của Luật Luật sư
2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và các văn bản hướng dẫn đều không đề cập đến vốn điều lệ của các công ty luật Theo khoản 6 Điều 4 của Nghị định
số 28/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Luật sư 2006 quy định về nội dung của Điều lệ: “Phần vốn góp của luật
sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên)” Tuy vậy, Nghị định 28 này đã được thay thế bởi Nghị định số
123/2013/NĐ-CP và không còn quy định nội dung này Như vậy, có thể hiểu vốn điều lệ của công ty luật là không bắt buộc hay không? Và nếu không có vốn điều lệ thì có mâu thuẫn gì với quy định của LDN hay không? Theo tác giả vấn đề này có thể nhận định ở các khía cạnh sau:
Quan điểm thứ nhất, việc Luật Luật sư không có quy định về vốn điều
lệ của công ty luật cho thấy do đặc thù của hoạt động hành nghề luật sư nên các công ty luật không cần thiết phải có vốn điều lệ Tuy vậy, lập luận này là không xác, bởi một trong những bản chất của công ty đó là việc các thành viên phải đóng góp tài sản vào công ty Tài sản được hiểu theo nghĩa rộng, có thể là của cải như: tiền, tài sản tương đương tiền… nhưng cũng có thể là công sức, uy
tín kinh doanh Trong trường hợp mà “tất cả các thành viên đều chỉ góp công
sức không thôi thì không thể lập được công ty Cần phải có ít nhiều phần tài sản được đem đóng góp mới có thể thành lập được công ty” [24, tr.17-18] Tài
sản là điều kiện vật chất không thể thiếu cho sự tồn tại, hoạt động của công ty
Vì thế, “không có góp vốn thì cũng không có công ty Mọi người muốn trở
Trang 33thành hội viên điều phải đóng góp một thứ: tài sản, một khoản tiền, tài năng hoặc uy tín của mình Bằng hành vi đóng góp ấy, các hội viên đã tạo lên một hợp đồng công ty và tỏ rõ ý định muốn cùng nhau làm ăn, nói một cách khác
là họ đều có nguyện vọng vào công ty” [14] Như vậy, nếu xét về bản chất, thì
vốn điều lệ là yếu tố bắt buộc khi thành lập công ty
Quan điểm thứ hai, vốn điều lệ của công ty luật phải tuân thủ theo
quy định của LDN, trong đó việc góp vốn là bắt buộc Tuy vậy, quan điểm này cũng chưa xác đáng Bởi theo quy định của Luật Luật sư và Nghị định hướng dẫn, các nội dung chính của điều lệ công ty luật không có nội dung về góp vốn Trong nội dung của Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề
luật sư bao gồm những nội dung chính sau đây: “1 Tên, địa chỉ trụ sở;
2 Lĩnh vực hành nghề; 3 Họ, tên, số và ngày cấp Thẻ luật sư của người đại diện theo pháp luật; 4 Họ, tên, địa chỉ nơi thường trú của luật sư thành viên” [7] Như vậy, nếu có việc góp vốn mà lại không được thể hiện trong
Điều lệ và trong Giấy đăng ký hoạt động thì có ý nghĩa như thế nào nếu khi xảy ra tranh chấp giữa các thành viên công ty luật với nhau về phần vốn góp,
tỷ lệ chia lợi nhuận
Mặc khác, ngay trong khái niệm, đặc điểm về các loại hình công ty được quy định trong LDN đã thể hiện rõ đặc điểm pháp lý về vốn góp và vốn điều lệ của các loại hình công ty theo quy định tại các điều 47, 73, 174 của LDN 2014
Có thể nhận thấy cả hai quan điểm trên đều có phần chưa thích đáng và trái ngược nhau Nguyên nhân là do quy định trong Luật Luật sư không rõ ràng, tạo ra nhiều quan điểm khác nhau Vấn đề này trong pháp luật Trung Quốc quy định công ty luật phải có vốn pháp định, chứ không phải vốn điều
lệ Mức vốn này theo quy định hiện hành là 10.000 nhân dân tệ, tương đương khoảng 350.000.000 VNĐ
Trang 34Công ty luật phải có hồ sơ đăng ký hoạt động gửi Sở Tư pháp Hồ sơ đăng ký hoạt động của Công ty luật gồm có: (i) Giấy đề nghị đăng ký hoạt động theo mẫu thống nhất; (ii) Dự thảo điều lệ của công ty luật; (iii) Bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao Thẻ luật sư của luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật; (iv) Giấy tờ chứng minh về trụ sở của công ty luật
Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật Công ty luật được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động, Giám đốc công ty luật phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao Giấy đăng ký hoạt động cho Đoàn luật sư mà mình là thành viên
Để chính thức đi vào hoạt động, cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, công ty luật phải công bố nội dung đăng ký hoạt động của công ty luật, trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động, công ty luật phải đăng báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương nơi đăng ký hoạt động hoặc báo chuyên ngành luật trong ba số liên tiếp về những
nội dung chính sau đây: Tên công ty luật; Địa chỉ trụ sở của công ty luật, chi
nhánh; Lĩnh vực hành nghề; Họ, tên, địa chỉ, số Chứng chỉ hành nghề luật sư của luật sư là Giám đốc công ty luật và các thành viên sáng lập khác; Số Giấy đăng ký hoạt động, nơi đăng ký hoạt động, ngày, tháng, năm cấp Giấy đăng ký hoạt động
Trang 35Quy định này cũng được áp dụng đối với trường hợp thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của công ty luật Khi có sự thay đổi tên, địa chỉ trụ sở, chi nhánh, lĩnh vực hành nghề, danh sách luật sư thành viên, người đại diện theo pháp luật của công ty luật, các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký hoạt động thì trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày quyết định thay đổi, công ty luật phải đăng ký với Sở Tư pháp nơi công ty luật đăng ký hoạt động Trường hợp có thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt động, công ty luật được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày thay đổi hoặc kể từ ngày nhận được Giấy đăng ký hoạt động cấp lại, công ty luật phải thông báo bằng văn bản cho Đoàn luật sư về việc thay đổi
Có thể nhận thấy rằng, trong quy định về trình tự, thủ tục và hồ sơ đăng đăng ký hoạt động của công ty luật, chi nhánh công ty luật được tiến hành tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Có ý kiến cho rằng, quy định của Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) giao cho Sở Tư pháp thực hiện việc đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nói chung, công ty luật, chi
nhánh công ty luật nói riêng bởi “các tổ chức hành nghề luật sư không phải
là một loại hình doanh nghiệp thông thường mà thực hiện một trong các hoạt động bổ trợ tư pháp, gắn liền với hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng” [5] Tuy nhiên lý giải này chưa
mang tính thuyết phục và chưa bao quát được các hoạt động của các công ty luật Bởi những lý do như:
Một là, các công ty luật mặc dù chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật
Luật sư, nhưng bên cạnh đó cũng phải chịu điều chỉnh bởi LDN Trình tự, thủ tục thành lập các loại hình công ty được thực hiện theo quy định của LDN, theo đó cơ quan thực hiện đăng ký hoạt động là Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Việc
Trang 36Luật Luật sư quy định giao cho Sở Tư pháp thực hiện việc đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nói chung, công ty luật, chi nhánh công ty luật nói riêng chưa hẳn đã phù hợp với
vị trí và chức năng của sở tư pháp Theo quy định của Thông tư liên tịch giữa
Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ số 23/2014/TTLT-BTP-BNV quy định:
Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; pháp chế; phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; hộ tịch; quốc tịch; chứng thực; nuôi con nuôi; lý lịch tư pháp; bồi thường nhà nước; trợ giúp pháp lý; luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; giám định tư pháp; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác
theo quy định của pháp luật [3]
Hai là, trong trường hợp, việc đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung
đăng ký của các hình thức tổ chức hành nghề luật sư (trong đó có công ty luật) giao cho Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì cũng không thể cho rằng, các Sở
Tư pháp khó thực hiện việc quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề luật sư Bởi, khi được thành lập, các tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm phải gửi thông báo đến Sở Tư pháp và Đoàn Luật sư với những nội dung theo yêu cầu Trong quá trình hoạt động, các công ty luật phải báo cáo định kỳ, chịu sự thanh, kiểm tra bắt buộc của cơ quan quản lý nhà nước
là các Sở Tư pháp
Trang 37Ba là, mặc dù các công ty luật thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ
pháp lý mang tính đặc thù, tuy vậy xét về bản chất, đây cũng là hoạt động kinh doanh Theo đó, các công ty luật thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý đáp ứng nhu cầu của khác hàng để được hưởng thù lao theo hợp đồng dịch vụ pháp lý được giao kết giữa công ty luật với khác hàng
Bốn là, theo quy định của luật hiện hành về điều kiện thành lập, tham
gia thành lập, hình thức tổ chức hành nghề luật sư còn khá chung chung, chưa phân biệt rõ ràng giữa văn phòng luật sư, công ty luật Chưa tạo ra cơ sở pháp
lý rõ ràng để cho sự lựa chọn của các luật sư khi thành lập
2.1.3 Thực trạng về tổ chức và hoạt động của các công ty luật
Tổ chức và hoạt động của các công ty luật phụ thuộc vào loại hình của công ty luật đó, loại hình khác nhau thì việc tổ chức và hoạt động là khác nhau
- Tổ chức và hoạt động của công ty luật hợp danh: Công ty luật hợp
danh do ít nhất hai luật sư thành lập Công ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn” Các thành viên HD thỏa thuận cử một thành viên làm Giám đốc công ty Theo Luật Luật sư không có quy định cơ cấu tổ chức, điều hành của công ty luật HD Hâu hết các công ty luật HD được thành lập đều vận dụng quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 để thiết lập cơ cấu tổ chức, quản
lý, điều hành công ty luật như các quy định về HĐTV, Chủ tịch HĐTV, Giám đốc hoặc TGĐ, vốn góp, phân chia lợi nhuận, chế độ tài chính, thuế… Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên HD phân công nhau
đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty
- Tổ chức và hoạt động của công ty luật trách nhiệm hữu hạn: Công ty
luật TNHH được tổ chức theo hai mô hình: công ty luật TNHH một thành viên và công ty luật TNHH hai thành viên trở lên Theo Luật Luật sư không
có quy định cơ cấu tổ chức, điều hành về hai loại hình công ty luật này
Trang 38+ Công ty luật TNHH một thành viên: do một luật sư thành lập và làm
chủ sở hữu Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) không quy định loại hình công ty luật TNHH mà chủ sở hữu là tổ chức Luật sư làm chủ
sở hữu công ty luật TNHH một thành viên là Giám đốc công ty
Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định, công ty TNHH một thành viên
do cá nhân là chủ sở hữu có Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc TGĐ nên hiện nay một số công ty luật TNHH một thành viên do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu áp dụng quy định này
Ví dụ: Điều lệ công ty luật TNHH SMIC quy định: Quyền, nghĩa vụ của Giám đốc, việc kiểm soát công ty Giám đốc công ty là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Giám đốc công ty có quyền sau: “Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty;
Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương hướng đầu tư của công ty; Ban hành quy chế nội bộ công ty; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty; Ký kết hợp đồng nhân danh công ty; quyết định phương án, cơ cấu tổ chức công ty; Quyết định báo cáo, quyết toán tài chính hàng năm của công ty [8, Điều 10]
+ Công ty luật TNHH hai thành viên trở lên: do ít nhất hai luật sư
thành lập, thỏa thuận cử một thành viên làm Giám đốc công ty Thành viên của công ty luật TNHH hai thành viên trở lên gồm các luật sư thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật, Điều lệ công ty
HĐTV là cơ quan quyết định cao nhất của công ty bao gồm tất cả các luật sư Theo đó, HĐTV có quyền cao nhất quyết định mọi vấn đề nhân sự, thành viên, vốn góp và các hoạt động khác của công ty luật Các thành viên sẽ thỏa thuận cử ra một luật sư thành viên là Giám đốc
Có thể nhận thấy, mối quan hệ giữa luật chuyên ngành là Luật Luật sư
Trang 39với luật chung Luật Doanh nghiệp trong các quy định về tổ chức và quản lý các loại hình công ty luật Trong trường hợp Luật Luật sư không có quy định, thì áp dụng Luật Doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các công ty luật sẽ được áp dụng các quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 Tuy vậy, vấn đề này sẽ phát sinh nhiều vấn đề bất cập, thiếu thống nhất, một phần vì Luật Doanh nghiệp mới được sửa đổi, bổ sung năm 2014, còn Luật Luật sư
2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 Những vấn đề trong các quy định về tổ chức và hoạt động của công ty luật có thể nhận thấy là:
Thứ nhất, về người đại diện theo pháp luật của công ty luật Nếu ở loại
hình công ty luật HD, mỗi thành viên hợp danh là các luật sư đều là người đại diện theo pháp luật của công ty Thì ở loại hình công ty luật TNHH, LDN quy
định “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc
nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” Các quy định của Luật Luật sư hiện hành vẫn quy định với
loại hình công ty luật TNHH thì chỉ có một người đại diện theo pháp luật để nhân danh, thay mặt công ty xác lập các quan hệ pháp luật
Thứ hai, cơ cấu tổ chức, hoạt động của công ty luật hiện nay được
quy định ở những vấn đề chủ yếu trong Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và Luật Doanh nghiệp năm 2014 Luật Doanh nghiệp năm
2014 với tư cách là luật chung tập trung quy định về mô hình công ty áp dụng chung cho tất cả các lĩnh vực, trong đó có công ty luật; quy định về
cơ cấu tổ chức của công ty; cách thức phân chia quyền lực và kiểm soát trong công ty v.v Tuy vậy, việc thiếu thống nhất, chưa bao quát được đặc thù của công ty luật
2.1.4 Thực trạng về quản trị công ty luật
Quản trị công ty luật là các hoạt động quản lý, phối hợp giữa các yếu tố
Trang 40về tổ chức, nhân sự, thông tin, tài chính, cơ sở vật chất… của công ty luật thông qua tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra quá trình hoạt động của các khâu, bộ phận trong quan hệ đối nội, đối ngoại của công ty luật nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng đảm bảo tổ chức và hoạt động của công ty luật phát triển đúng hướng, hiệu quả và bền vững
Quản trị công ty luật có nhiều đặc điểm giống với quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên cũng có sự khác biệt ở các điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, đảm bảo sự tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp
luật sư đối với công ty luật, đối với từng cá nhân luật sư và người lao động trong công ty luật
Thứ hai, công ty luật phải tuân thủ giá trần dịch vụ pháp lý theo quy
định của Chính phủ trong vụ án hình sự Để đảm bảo quyền được bào chữa trong vụ án hình sự cho công dân, có khả năng mời được luật sư bào chữa cho mình, pháp luật quy định mức giá trần về thù lao của luật sư trong vụ án hình
sự Mặc dù công ty luật ký hợp đồng với khách hàng trong lĩnh vực hình sự theo thỏa thuận nhưng không được thỏa thuận về giá vượt mức cao nhất do pháp luật quy định
Thứ ba, công ty luật phải thực hiện trách nhiệm xã hội – nghề nghiệp
của mình, trách nhiệm trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật Đồng thời thực hiện trách nhiệm bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng Theo Luật Luật sư, công ty luật phải cử luật sư để bào chữa theo chỉ định và thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật
Quản trị công ty luật là hệ thống các cấu trúc, chức năng, nhiệm vụ, quy trình và truyền thống vốn có được huy động để vận hành hiệu quả và minh bạch công ty luật, đảm bảo thực hiện đúng chương trình, kế hoạch cung cấp dịch vụ pháp lý hướng tới lợi ích của luật sư thành viên và các chủ thể