- Thứ ba, trong mối quan hệ với các cổ đông: Các thành viên Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu và đại diện cho quyền lợi của cổ đông trong quá trình thực hiện trách nhiệm và nhiệm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa khọc: PGS.TS Phạm Hữu Nghị
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Hữu Trí
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 5
7 Kết cấu Luận văn 5
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM Error! Bookmark not defined 1.1 Khái niệm và đặc điểm của Ban kiểm soát, mối liên hệ giữa Ban kiểm soát và các thiết chế khác của công ty cổ phần 7
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm 7
1.1.2 Mối liên hệ 8
1.2 Lý luận về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần 11
1.2.1 Khái niệm đặc điểm quy chế pháp lý về Ban kiểm soát 11
Trang 51.2.2 Các yêu cầu đặt ra đối với quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần 13 1.2.3 Nội dung quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công
ty cổ phần 14 Chương 2: THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM 17 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam 17 2.2 Thành lập Ban kiểm soát 21 2.3 Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát 34 2.4 Mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với các thiết chế khác trong công
ty cổ phần 45 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG
TY CỔ PHẦN VIỆT NAM 52 3.1 Phương hướng hoàn thiện quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam 52 3.2 Giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam 54 KẾT LUẬN……….……….…64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 67
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế thế giới Cụ thể, Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO Sắp tới đây, Việt Nam sẽ mở rộng hơn nữa cánh cửa hợp tác thương mại quốc tế nếu Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết Việc hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu thương mại là
cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức hơn: Liệu rằng các doanh nghiệp Việt Nam có đủ tiềm lực để hội nhập với thế giới hay không? Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang là thiết yếu, mà bước đầu tiên để nâng cao năng lực của các doanh nghiệp chính là các chế định pháp luật
Trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay thì công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp phổ biến Với ưu thế về khả năng huy động vốn cao hơn các loại hình doanh nghiệp khác, quy mô doanh nghiệp càng lớn đòi hỏi năng lực quản trị công ty cổ phần càng cao Ban kiểm soát trong công ty quy mô lớn là không thể thiếu Ban kiểm soát không chỉ có vai trò kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty mà còn có vai trò bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các cổ đông – những người chủ của công ty cổ phần Vai trò của Ban kiểm soát được pháp luật doanh nghiệp nhìn nhận ngày càng đầy đủ hơn, tuy nhiên các quy định của pháp luật chưa thực sự giúp Ban kiểm soát có thể thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình
Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Quy chế pháp lý về Ban kiểm soát
trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam” làm đề tài Luận văn thạc sĩ
luật học của mình
Trang 72 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, chế định liên quan đến quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần cũng như công ty cổ phần trong những năm gần đây, được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đã có những công trình đề cập đến khía cạnh khác nhau về vấn đề này Có thể kể đến một số công trình như:
- “Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần”, Nguyễn Thị Lan Hương, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011)
246 – 251 đề cấp đến một số hạn chế, tồn tại của Ban kiếm soát trong công
ty cổ phần, từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm củng cố vị trí độc lập của Ban kiểm soát trong kiểm tra, giám sát
- “Ban Kiểm soát trong quản trị nội bộ công ty cổ phần theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Trần Thành Long (2012)
đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về địa vị pháp lý của Ban kiểm soát trong cơ cấu quản trị nội bộ của công ty cổ phần Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về Ban kiểm soát trong pháp luật về công
ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay các quy định pháp luật hiện hành liên quan tới tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát tại Việt nam Nghiên cứu so sánh các mô hình hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần, các thông lệ quản trị hiện đại có liên quan đến Ban kiểm soát trong công ty cổ phần Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về Ban kiểm soát trong quản trị nội bộ Công ty cổ phần
Ngoài ra có thể kể đến các công trình khác như: Nguyễn Đình Cung
“Hoàn thiện chế độ quản trị doanh nghiệp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế
ở Việt Nam” Tạp chí quản lý kinh tế số 21/2008, tr 42 “; Trần Thanh Tùng, Vai trò của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần, Thời báo kinh tế Sài Gòn,
Trang 82009 và các công trình nghiên cứu khác liên quan
Những công trình kể trên đã phần nào có những đóng góp nhất định cho khoa học pháp lý Việt Nam Tác giả luận văn kế thừa những đóng góp khoa học đó trong quá trình viết Luận văn Tuy nhiên, đề tài mà tác giả nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam, nên mục tiêu, đối tượng và phạm
vi nghiên cứu của đề tài Luận văn không trùng lặp với các công trình đã công bố nêu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Các nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm của Ban kiểm soát; khái niệm, đặc điểm, các yêu cầu và nội dung quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam
Trang 9- Chỉ ra những vấn đề còn tồn tại và giải pháp khắc phục
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu về các quy định pháp luật về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014 Từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần nói riêng và của Ban kiểm soát nói chung, nhằm đảm bảo việc hoạt động của Ban kiểm soát cũng như công ty cổ phần đạt hiệu quả tốt nhất
Ngoài ra, tác giả tập trung nghiên cứu một số công trình khoa học liên quan đến quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần; các bài viết, sách, tạp chí và các tài liệu khác liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài và quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong một số công ty cổ phần hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã dựa trên cơ sở phương pháp luật của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong mối tương quan với tình hính kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, luận văn còn dựa trên cơ sở của tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích để phân tích các quy định về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần để chỉ rõ, lý giải về nội dung của các quy định đó Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm tổng hợp,
kế thừa lại những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến quy
Trang 10chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần từ trước đến nay trên cơ sở sự kế thừa có cho ̣n lo ̣ c Trên cơ sở các phân tích , bình luận
để thể hiện góc nhìn mới, trực diện vấn đề về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện hành
- Phương pháp so sánh : Đề tài thực hiê ̣n viê ̣c so sánh các qu y định pháp luật hiện hành với các quy định từ thời trước đây , đồng thời so sánh các với các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t một số nước phát triển trên thế giới để phân tích, đưa ra quan điểm của tác giả về các quy định liên quan đến quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam
Và các phương pháp khác nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu luận văn tiếp tục góp phần vào việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần như khái niệm, đặc điểm của Ban kiểm soát, khái niệm, đặc điểm của quy chế pháp lý về Ban kiểm soát, yêu cầu
và nội dung của quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần
- Về ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về doanh nghiệp nói chung cũng như về công ty cổ phần nói riêng Luận văn có dẫn chứng một số quy định liên quan đến Ban kiểm soát trong công ty cổ phần Từ đó, các công ty cổ phần khác có thể tham khảo một cách có chọn lọc các quy định đó để hoàn thiện, bổ sung các văn bản, quy định phù hợp trong nội bộ của công ty mình
7 Kết cấu Luận văn
Ngoài Mở đầu, Danh mục các từ viết tắt, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Trang 11Chương 1: Những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam
Chương 2: Thực trạng quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam
Trang 12Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ
VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN
VIỆT NAM 1.1 Khái niệm và đặc điểm của Ban kiểm soát, mối liên hệ giữa Ban kiểm soát và các thiết chế khác của công ty cổ phần
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
Quản trị công ty nói chung và quản trị công ty cổ phần nói riêng có vai trò quan trọng đối với công ty Việc quản trị công ty tốt sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định hoạt động, nâng cao hiệu quả thị trường, góp phần quan trọng phát triển công ty Trong quản trị công ty cổ phần, việc quản trị tốt mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác giúp cho tổ chức bộ máy của công ty chặt chẽ, hoạt động hiệu quả từ đó nâng cao năng suất, hiệu quả thị trường Trong mối quan hệ đó, Ban kiểm soát là một trong những bộ phận quan trọng trong công ty cổ phần Vậy Ban kiểm soát là gì?
Có nhiều quan điểm khác nhau về Ban kiểm soát: Có quan điểm cho rằng: Ban kiểm soát trong công ty nói chung và trong công ty cổ phần nói riêng được hiểu là một cơ quan quản trị nội bộ trong công ty [9]
Quan điểm khác cho rằng: Ban Kiểm soát (Board of Supervisors) của một công ty có nhiệm vụ giống như các cơ quan tư pháp trong mô hình tam quyền phân lập nhằm giúp các cổ đông kiểm soát hoạt động quản trị và quản lý điều hành công ty [27]
Tóm lại, có thể hiểu Ban kiểm soát của công ty như sau: Ban kiểm soát là bộ phận trong cơ cấu bộ máy quản lý của công ty, do cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty thành lập để giúp cơ quan này kiểm tra tính thích hợp, hợp pháp trong hoạt động quản lý, điều hành công ty; trong việc
Trang 13chấp hành pháp luật, điều lệ và các quyết định của cơ quan đó
Từ khái niệm nêu trên, Ban kiểm soát có các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, Ban kiểm soát là một bộ phận của công ty được thành lập bởi đại diện chủ sở hữu công ty (trong công ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông)
Do đó, việc thành lập Ban kiểm soát phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục nhất định và thành viên Ban kiểm soát phải đáp ứng những điều kiện, tiêu chuẩn nhất định theo quy định của nhà nước, của công ty Do được thành lập bởi chủ sở hữu công ty nên Ban kiểm soát phải có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động của mình đối với đại diện chủ sở hữu công ty (Đại hội đồng cổ đông)
- Thứ hai, Ban kiểm soát hoạt động dựa trên quy định pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành và các quy định nội bộ của công ty nhằm giúp công ty trong việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật, điều lệ và các quyết định khác theo sự phân công Căn cứ theo tình hình thực tiễn tại mỗi công ty, công ty có những quy định cụ thể về hoạt động của Ban kiểm soát cho phù hợp, đảm bảo quy định pháp luật Đây là một trong những căn cứ quan trọng trong việc quyết định hiệu quả hoạt động của Ban kiểm soát
1.1.2 Mối liên hệ
Trong công ty cổ phần, Ban kiểm soát có mối liên hệ với các thiết chế khác, gồm: Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và các
cổ đông của công ty
- Thứ nhất, trong mối liên hệ với Đại hội đồng cổ đông:
Trong công ty cổ phần, có thể nói, Ban kiểm soát là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra nhằm giúp Đại hội đồng cổ đông trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy
Trang 14định của Nhà nước, quy định nội bộ, Điều lệ và Nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị
Như vậy, trong mối quan hệ với Đại hội đồng cổ đông, Ban kiểm soát được khai sinh ra bởi Đại hội đồng cổ đông Do vậy, Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao Mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với Đại hội đồng cổ đông là mối quan hệ cấp trên – cấp dưới hoặc đơn vị - đơn vị chủ quản Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông thành lập và kiểm soát, đồng thời Ban kiểm soát có trách nhiệm báo cáo và chịu trách nhiệm báo cáo trước Đại hội đồng cổ đông kết quả thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền
- Thứ hai, trong mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với Hội đồng quản trị, Ban giám đốc:
Như đã nêu ở trên, do Ban kiểm soát được “khai sinh” bởi Đại hội đồng cổ đông nên về mặt địa vị pháp lý, Ban kiểm soát chịu sự quản lý và
có trách nhiệm với Đại hội đồng cổ đông Do vậy, Ban kiểm soát làm việc theo nguyên tắc bình đẳng và độc lập với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao Nói cách khác, Ban kiểm soát được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tuân thủ quy định của pháp luật, Điều lệ và các quy định nội bộ của công ty cổ phần Ban kiểm soát làm việc theo chế độ tập thể kết hợp với chế độ trách nhiệm cá nhân về phạm vi công việc được phân công của từng thành viên Ban kiểm soát Thành viên Ban kiểm soát chịu trách nhiệm báo cáo về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công phụ trách
Bên cạnh đó, Ban kiểm soát, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ
Như vậy, có thể thấy, Ban kiểm soát có vị trí độc lập và đối trọng với
Trang 15Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Về mô hình, Ban kiểm soát có thể ngang cấp với Hội đồng quản trị và trên cả Ban giám đốc Về chức năng nhiệm vụ, Ban kiểm soát thực hiện việc giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật và Điều lệ công ty
Ban kiểm soát thực hiện chức năng giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật, Điều lệ, Nghị quyết và quy định của Hội đồng quản trị
Do vậy, Hội đồng quản trị có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Ban kiểm soát, cung cấp thông tin và các tài liệu cần thiết cho Ban kiểm soát, tạo môi trường thuận lợi cho Ban kiểm soát có điều kiện thực thi hiệu hiệu quả công tác giám sát của mình theo quy định pháp luật và Điều lệ công ty Hơn nữa, Ban kiểm soát có quyền tham dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị và họp giao ban để qua đó Ban kiểm soát nắm được chủ trương, định hướng phát triển, tình hình hoạt động trên mọi mặt của công ty để thuận lợi trong quá trình triển khai nhiệm vụ được giao
Trong quá trình làm việc với Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát phải giữ vững tính độc lập, khách quan, đồng thời phối hợp chặt chẽ, không gây cản trở lẫn nhau trong khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình Trong trường hợp này, cần lưu ý việc gây “cản trở” và việc gây
“ảnh hưởng” là ở hai mức độ khác nhau Tất nhiên, trong việc thực hiện kiểm tra, giám sát Hội đồng quản trị/Ban giám đốc, Ban kiểm soát cần phải yêu cầu cung cấp tài liệu, thông tin liên quan, cần phải làm việc trực tiếp với các đối tượng liên quan nên việc gây “ảnh hưởng” tới công việc, kế hoạch làm việc của Hội đồng quản trị/ Ban giám đốc là điều không thể tránh khỏi Tuy nhiên, “mức độ cản trở” tác giả muốn nói ở đây là ở mức
độ khác và cao hơn "ảnh hưởng Tức việc làm của Ban kiểm soát sẽ gây cản trở việc thực hiện công việc của bộ phận liên quan trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình Chẳng hạn như: Trong trường hợp Ban giám đốc đang
Trang 16có kế hoạch làm việc với đối tác để ký kết hợp đồng liên kết, hợp tác với nhau Tuy nhiên, mặc dù Ban kiểm soát đã biết trước lịch làm việc nhưng vẫn yêu cầu Ban giám đốc làm việc và cung cấp tài liệu, thông tin liên quan trong thời gian đó Đây chính là việc gây cản trở đối với Ban giám đốc của công ty trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao
- Thứ ba, trong mối quan hệ với các cổ đông:
Các thành viên Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu và đại diện cho quyền lợi của cổ đông trong quá trình thực hiện trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, do vậy, Ban kiểm soát phải thực hiện trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, Ban kiểm soát phải thực hiện và giám sát việc tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật, Điều lệ và Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Đồng thời Ban kiểm soát chịu sự giám sát của Đại hội đồng
cổ đông, của các cổ đông trong công ty theo sự phân công
Ban kiểm soát có trách nhiệm bảo mật thông tin, xem xét, đánh giá tính hợp lý, hợp pháp, trung thực, khách quan trên cơ sở các tài liệu đã được kiểm tra và qua việc nắm bắt thông tin Ban kiểm soát có trách nhiệm báo cáo các cổ đông thông qua Đại hội đồng cổ đông một cách trung thực, chính xác về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao
Bên cạnh đó, Ban kiểm soát có trách nhiệm tiếp nhận, xem xét giải quyết các đề xuất, kiến nghị của cổ đông theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và Điều lệ công ty, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của các cổ đông trong công ty cổ phần, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
1.2 Lý luận về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công
ty cổ phần
1.2.1 Khái niệm đặc điểm quy chế pháp lý về Ban kiểm soát
Trang 17Quy chế pháp lý về Ban kiểm soát là tổng thể các quy định của pháp luật về thành lập, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần và được đảm bảo thực hiện trên thực tế
Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần của mỗi quốc gia là khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và mô hình quản trị công ty của quốc gia đó, nhưng tựu chung lại đều có một số đặc điểm sau đây:
- Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát do pháp luật nhà nước và Điều
lệ công ty quy định Bên cạnh các quyền và nghĩa vụ cơ bản mà pháp luật nhà nước quy định, các công ty có quyền ban hành, quy định các quyền và nghĩa vụ khác cho Ban kiểm soát Tuy nhiên, về nguyên tắc các quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát được công ty trao không được trái các quy định pháp luật của nhà nước Thông thường, trên cơ sở các quy định của pháp luật, công ty sẽ có quy định chi tiết, cụ thể nhằm hướng dẫn việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn tại công ty
- Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát có nội dung liên quan đến các hoạt động quản lý, điều hành của công ty như: việc ban hành các văn bản quản lý, điều hành của công ty; kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của công ty, cụ thể hơn như việc giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty; giám sát việc chấp hành nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, của Hội đồng quản trị và kiểm tra các hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty và các nội dung khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty
- Chủ thể có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ là Ban kiểm soát – tổ chức do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, hoạt động theo quy định của pháp
Trang 18luật và Điều lệ công ty Ban kiểm soát gồm có Trưởng ban và các thành viên là người đáp ứng các tiêu chuẩn do pháp luật và Điều lệ công ty quy định Ban kiểm soát được độc lập đánh giá, kết luận, kiến nghị, đề nghị
trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát
1.2.2 Các yêu cầu đặt ra đối với quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần
Quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát được nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
và các quy định nội bộ công ty ban hành Nói cách khác, quy chế pháp lý
về Ban kiểm soát là những quy định nhằm xác lập địa vị pháp lý của Ban kiểm soát trong quá trình hoạt động chức năng kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát
Do vậy, để đảm bảo tính hợp pháp, quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Quy chế pháp lý về Ban kiểm soát do pháp luật nhà nước quy định, đại diện chủ sở hữu công ty quy định Như vậy, chủ thể có thẩm quyền ban hành quy chế pháp lý về Ban kiểm soát là Nhà nước và công ty thành lập ra Ban kiểm soát Những quy định về quy chế pháp lý do Nhà nước ban hành phải đảm bảo những nguyên tắc chung trong việc ban hành quy định, như: ban hành theo trình tự, thủ tục nhất định; không trái với đạo đức xã hội, Đối với quy định nội bộ của công ty về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát
do đại diện chủ sở hữu ban hành phù hợp với tình hình thực tế tại công ty, đồng thời phải đảm bảo không trái với những quy định pháp luật do nhà nước ban hành
- Quy chế pháp lý thể hiện tính độc lập của Ban kiểm soát trong công
Trang 19ty Với vai trò chính là kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị
và những người quản lý công ty nhằm ngăn chặn và phát hiện kịp thời những hành vi lạm quyền hoặc tư lợi của những chủ thể đó làm ảnh hưởng tới lợi ích của công ty, Ban kiểm soát cần có phải có vị trí độc lập trong quan hệ với Hội đồng quản trị Các hoạt động của Ban kiểm soát cũng cần
có sự độc lập, không chịu sự điều hành của Hội đồng quản trị và được đảm bảo thực hiện bằng các chế định pháp lý
- Quy chế pháp lý về Ban kiểm soát mang tính mềm dẻo Xây dựng quy chế pháp lý về Ban kiểm soát là cần thiết để bảo vệ công ty cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông nhỏ trong công ty Nhưng việc quy định Ban kiểm soát trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp đã là sự can thiệp của Nhà nước vào quyền của chủ sở hữu Do vậy, quy chế pháp lý không được quá cứng ngắt hay quá áp đặt để vừa đảm bảo quyền lợi của các bên nhưng không xâm phạm quyền tự do kinh doanh của chủ sở hữu công ty
1.2.3 Nội dung quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công
ty cổ phần
Nội dung quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần bao gồm các quy định của pháp luật và Điều lệ công ty liên quan đến Ban kiểm soát trong công ty cổ phần Theo đó, nội dung quy chế pháp lý về Ban kiểm soát bao gồm:
- Thành lập Ban kiểm soát trong công ty cổ phần: gồm các nội dung liên quan đến điều kiện thành lập; tiêu chuẩn, số lượng thành viên Ban kiểm soát; đề cử và bầu Ban kiểm soát; miễn nhiệm, bãi nhiệm Kiểm soát viên và các nội dung khác liên quan
- Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát: gồm các quyền và nghĩa vụ
Trang 20do pháp luật quy định và do Điều lệ công ty quy định Một số quyền hạn và nghĩa vụ cơ bản như:
+ Kiểm soát hoạt động của công ty thông qua tình hình thực hiện các quy chế của pháp luật và công ty: Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính
+ Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của Công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của Công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm
cổ đông
+ Kiểm tra bất thường: Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra và phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu
+ Can thiệp vào hoạt động công ty khi cần: Ban kiểm soát có quyền đưa ra các đề xuất, kiến nghị lên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông nhằm khắc phục, sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty
+ Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông, Tổng Giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty phải thông báo tới Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả
- Địa vị pháp lý của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần
Ngoài ra, còn có các nội dung khác liên quan đến nội dung quy chế pháp
lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần như: thù lao, tiền lương và
Trang 21các quyền lợi khách Kiểm soát viên; báo cáo thẩm định của Ban kiểm soát và
các nội dung khác liên quan
Tiểu kết Chương 1:
Tóm lại, trong nội dung chương này, tác giả đã khái quát các nội dung cơ bản về khái niệm, đặc điểm Ban kiểm soát cũng như khái quát về nội dung quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam và các nội dung khác liên quan
Theo đó, ở mỗi quốc gia khác nhau, vị trí và vai trò của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần cũng như về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần là khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động, từ yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội cũng như quan điểm, chủ trưởng của mỗi công ty cổ phần được cụ thể hóa tại quy định nội bộ về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát của mỗi công ty cổ phần
Quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam là cơ sở pháp lý cần thiết và quan trọng để đảm bảo cho các thành viên Ban kiểm soát xác lập được địa vị pháp lý của mình, cũng như thể hiện được vai trò của mình trong quá trình hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần Việt Nam
Trong nội dung Chương 2, Luận văn sẽ phân tích, đánh giá về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
Trang 22Chương 2: THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam
Năm 1972 chính quyền Sài Gòn cũ đã ban hành Bộ luật Thương mại
mà trong đó có các hình thức công ty Bộ luật này có sự kế thừa các luật lệ
về công ty trước đó dưới thời Pháp thuộc Về nguyên tắc lớn, bộ luật này nhấn mạnh tới nghĩa vụ và trách nhiệm của các thành viên hội đồng quản
trị Tại Điều thứ 306 của bộ luật này có qui định kiểm soát các giao dịch có
khả năng tư lợi bằng cách không cho phép công ty ký kết hợp đồng với bất
kỳ thành viên hội đồng quản trị nào của mình mà không được phép của hội đồng quản trị Như vậy, mặc dù pháp luật trong giai đoạn này mặc dù không có quy định cụ thể về Ban kiểm soát, tuy nhiên cũng đã có quy định liên quan đến việc kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi
2.2.2.Giai đoạn thứ hai
Theo Luật Công ty 1990, cơ cấu trị công ty cổ phần gồm có Đại hội
Trang 23đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc điều hành So với mô hình quản trị công ty cổ phần ở giai đoạn thứ nhất, Luật Công ty
1990 đã thay ủy viên hoặc các ủy viên kiểm toán bằng một cơ quan của công ty là “Ban kiểm soát” Thực chất Ban kiểm toán thực hiện các công việc của kiểm toán nội bộ công ty
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty bao gồm đại hội đồng thành lập, đại hội đồng bất thường và đại hội đồng thông thường với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, gồm từ 3 - 12 thành viên, có quyền nhân danh công ty
để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Trong trường hợp chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc (tổng giám đốc) công ty, thì Hội đồng quản trị cử một người trong số họ hoặc thuê người khác làm giám đốc (tổng giám đốc) Giám đốc (tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao
Ngoài ra, trong công ty có hai kiểm soát viên do đại hội đồng bầu ra, trong đó ít nhất một kiểm soát viên phải có chuyên môn về kế toán Thành viên Ban kiểm soát được bổ nhiệm và bãi miễn bởi Đại hội đồng cổ đông (Khoản 2 và 3 Điều 37, Luật Công ty 1990)
Có thể thấy, Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở giai đoạn này chưa có được vai trò chủ động Thực tế, Ban kiểm soát gồm hai thành viên, thường là cổ đông thiểu số có chuyên môn cần thiết theo quy định của pháp luật Qua thực tiễn hoạt động, có thể nhận thấy, Ban kiểm soát thường có vai trò bị động Họ nhận các báo cáo do Giám đốc công ty chuẩn bị, xem xét, đánh giá báo cáo đó rồi đệ trình ý kiến của mình lên Hội đồng quản trị
Trang 242.2.3 Giai đoạn thứ ba
Theo Luật Doanh nghiệp 1999, Ban kiểm soát là chế định quản lý bắt buộc trong công ty cổ phần có trên 11 cổ đông Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên, trong đó ít nhất phải có một thành viên có chuyên môn về
kế toán Một cổ đông được bầu làm Trưởng ban Kiểm soát
Ban kiểm soát có các quyền và nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính;
- Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của công ty; kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, theo yêu cầu của cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật này;
- Thường xuyên thông báo với Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động; tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình các báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông;
- Báo cáo Đại hội đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực, hợp pháp của việc ghi chép, lưu giữ chứng từ và lập sổ kế toán, báo cáo tài chính, các báo cáo khác của công ty; tính trung thực, hợp pháp trong quản
lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty;
- Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức quản
lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty;
Nhiệm kỳ Ban kiểm soát, chế độ làm việc và thù lao cho thành viên Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về những sai phạm gây thiệt hại cho công ty trong khi thực hiện nhiệm vụ
Trang 25So với Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp 1999 đã có một số quy định mới liên quan Ban kiểm soát đó là:
Các cổ đông có quyền biểu quyết được thông qua Đại hội đồng cổ đông (cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần) để thực hiện quyền:
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát;
- Xem xét và xử lý vi phạm của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông của công ty
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (nếu có)
2.2.4 Giai đoạn thứ tư
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc; đối với công ty
cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát (Điều 95)
Có thể thấy so với Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 đã
bổ sung quy định đối với công ty cổ phần có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát Ban kiểm soát trong công ty cổ phần có từ 3 đến 5 thành viên nếu điều lệ công ty không quy định khác Nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá 5 năm, thành viên của Ban kiểm soát có thể được bầu lại với nhiệm kỳ không hạn chế
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, công việc chủ yếu của Ban kiểm soát mang tính nghề nghiệp, do đó họ phải có chuyên môn quản lý về tài chính,
Trang 26bởi vậy, trong pháp luật quy định trong Ban kiểm soát phải có ít nhất 1 thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên
2.2.5 Giai đoạn hiện nay
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nền kinh tế thị trường, Luật Doanh nghiệp được ban hành nhằm phù hợp với hội nhập quốc tế Do vậy, việc tăng quyền tự chủ trong việc chọn lựa cấu cơ tổ chức của công ty
cổ phần đối với chủ sở hữu doanh nghiệp là một trong những điều kiện góp phần vào công cuộc hội nhập cuộc tế Đây chính là một trong những lý do, Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình:
- Mô hình thứ nhất, gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp công ty cổ phần dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số
cổ phần của công ty thì không bắt buộc Ban kiểm soát
- Mô hình thứ hai, gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đốivới việc quản lý điều hành công ty
2.2 Thành lập Ban kiểm soát
Công ty cổ phần giống như một “nhà nước” thu nhỏ, trong đó, nếu coi Đại hội đồng cổ đông của công ty có vai trò như cơ quan lập pháp, là cơ quan quyết định phương hướng, phát triển và những vấn đề trọng đại khác của công ty; Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc là cơ quan hành pháp, cơ quan điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty thì Ban kiểm
Trang 27soát sẽ đóng vai trò như cơ quan tư pháp, cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc công ty Nói cách khác, trong công ty cổ phần Ban kiểm soát có chức năng và nhiệm vụ
là kiểm tra, giám sát và kiềm chế, đối trọng với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc nhằm làm cho hoạt động của công ty được minh bạch vì lợi ích của các cổ đông công ty
Khi quy mô của công ty cổ phần nhỏ, số lượng cổ đông ít thì thường không có sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp, mà các cổ đông thường đồng thời là người điều hành công ty, tức Đại hội đồng
cổ đông sẽ đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị Ví dụ, hiện nay ở Việt Nam có nhiều công ty cổ phần chỉ có 3 cổ đông, cũng là 3 thành viên Hội đồng quản trị, 01 người là Chủ tịch Hội đồng quản trị và thường kiêm luôn Giám đốc, người kia là Phó chủ tịch Hội đồng quản trị và còn 01 người nữa thường là cổ đông cho đủ số lượng để thành lập mô hình công ty
cổ phần và thường những công ty này thì hoạt động vẫn là các thành viên trong đình, hay còn được gọi là “công ty gia đình” Những công ty như này, không nhất thiết phải có Ban kiểm soát, bởi nếu có thêm Ban kiểm soát sẽ làm tăng số lượng nhân sự và làm cho bộ máy hoạt động của công ty trở nên “cồng kềnh” hơn
Tuy nhiên, khi quy mô công ty lớn, số lượng cổ đông nhiều thì sự điều hành và quản lý công ty trở lên phức tạp hơn, do đó, cần có một đội ngủ quản trị chuyên nghiệp Từ đây, người điều hành trực tiếp công ty có thể không đồng thời là chủ sở hữu công ty nữa, họ có thể thuê người khác ngoài công ty làm người quản lý Điều này sẽ nảy sinh các lo ngại của các
cổ đông với tư cách là người sở hữu thực sự của công ty về việc điều hành công ty cổ phần của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc Đây là một trong những lý do dẫn đến sự ra đời của Ban kiểm soát
Trang 28Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: Ban kiểm soát có thể được thành lập khi công ty có trên 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức chức sở hữu từ 50% tổng số cổ phần của công ty Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11
cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát
Bên cạnh đó, công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý theo
mô hình gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty
Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy, vai trò của thành viên Hội đồng quản trị độc lập cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu, kiểm soát hoạt động của bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp Trong công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa các cổ đông công ty với
tư cách là người sở hữu vốn với bên kia là những người quản lý điều hành công ty với tư cách là người trực tiếp sử dụng vốn
Trên thực tế, những người quản lý, điều hành có thể không phải là những cổ đông nắm giữ đa số cổ phần của công ty nhưng có quyền quản lý điều hành công ty, trực tiếp sử dụng vốn Như vậy, hoàn toàn có thể xảy ra nguy cơ những người này sẽ ưu tiên quyền lợi của cá nhân hoặc lợi ích của nhóm mình mà bỏ qua lợi ích của cổ đông nói chung Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc đặt ra các quy định về thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong pháp luật về quản trị doanh nghiệp của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng
Thành viên Hội đồng quản trị độc lập sẽ đóng vai trò như người giám
Trang 29sát, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý, điều hành, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của cổ đông, đặc biệt là các cổ đông nhỏ Muốn vậy, các thành viên Hội đồng quản trị độc lập phải có sự độc lập nhất định đối với công ty, không liên quan về tài sản với công ty để tạo ra sự khách quan, vô tư trong quá trình hoạt động Vì thế, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định thành viên Hội đồng quản trị độc lập phải (a) không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó; (b) không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định; (c) không phải là người có vợ hoặc chồng; cha, mẹ đẻ; cha mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi; anh, chị, em ruột là cổ đông lớn của công ty, là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty; (d) không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty; (đ) không phải là người đã từng làm thành viên của Hội đồng quản trị , Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 5 năm liền trước đó
Tóm lại, có thể thấy tùy theo tình hình về cơ cấu tổ chức của mình, công ty cổ phần có thể lựa chọn, xây dựng một trong 02 mô hình quản trị,
đó là:
- Một là Mô hình một cấp (1-tier board) bao gồm Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị Mô hình này không có Ban kiểm soát, nhưng có các thành viên Hội đồng quản trị độc lập đóng vai trò giám sát, nắm giữ Ủy ban Kiểm toán (Audit Committee - AC)
Hai là Mô hình hai cấp (2-tier board) bao gồm Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát (BKS), Ban giám đốc (BGĐ)
Trang 30Điểm mấu chốt trong cả hai mô hình quản trị này là vai trò của Bộ phận giám sát Mô hình hai cấp với BKS đã quá quen thuộc với Việt Nam
và được phần lớn các công ty đang áp dụng
Về cơ cấu của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần: Ban kiểm soát có
từ 03 đến 05 thành viên, nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá 05 năm
và Kiểm soát viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Thành viên Ban kiểm soát phải thỏa mãn tiêu chuẩn và các điều kiện sau đây:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật này
Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam: + Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn
+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
Trang 31+ Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; + Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng
Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng
ký kinh doanh
- Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác;
- Không được giữ các chức vụ quản lý công ty; không nhất thiết phải
là cổ đông hoặc người lao động của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty
có quy định khác;
- Các tiêu chuẩn và điều kiện khác theo quy định khác của pháp luật
có liên quan và Điều lệ công ty
Ngoài ra, cần lưu ý: Kiểm soát viên công ty cổ phần niêm yết, công
ty do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ phải là kiểm toán viên hoặc
kế toán viên
Các Kiểm soát viên bầu một người trong số họ làm Trưởng Ban kiểm soát theo nguyên tắc đa số Quyền và nghĩa vụ của Trưởng Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm
Trang 32toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn hạn chế
Trường hợp Kiểm soát viên có cùng thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Kiểm soát viên nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì Kiểm soát viên đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ cho đến khi Kiểm soát viên nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ
Như vậy, theo quy định pháp luật hiện hành “Trưởng Ban kiểm soát phải
là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn” Có thể thấy pháp luật hiện hành đã áp đặt quy định cứng về tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát như trên nhằm tăng cường về kinh nghiệm chuyên môn đến hoạt động tài chính (một trong những vấn đề quan trọng nhất của công ty), đồng thời yêu cầu Trưởng Ban phải làm việc chuyên trách tại công
ty để tập trung cho công việc, góp phần đảm bảo hiệu quả công việc cao Tuy nhiên, theo tôi, quy định này không cần thiết và gây khó khăn cho doanh nghiệp Bởi chức năng, nhiệm vụ của Ban kiểm soát cũng như Trưởng Ban kiểm soát là giám sát hoạt động điều hành của công ty
Do đó, Trưởng Ban kiểm soát là người đứng đầu Ban kiểm soát cần có khả năng lãnh đạo và hiểu rõ hoạt động của công ty chứ không nhất thiết phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và càng không phải làm việc chuyên trách Vì vậy, thiết nghĩ các nhà làm luật cần xem xét sửa đổi quy định này cho phù hợp hơn, tránh gây khó khăn cho doanh nghiệp Theo tôi, nên xem xét quy định theo hướng Ban kiểm soát phải có ít nhất
01 thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên Đồng thời không yêu cầu Trưởng ban phải làm việc chuyên trách tại công ty
Bên cạnh đó, theo Luật Doanh nghiệp 2005 quy định thành viên Ban
Trang 33kiểm soát không được giữ chức vụ quản lý công ty (Khoản 2 Điều 122) và thành viên Ban kiểm soát được trả thù lao theo công việc và được hưởng các lợi ích khác theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông quyết định tổng mức thù lao và ngân sách hoạt động hằng năm của Ban kiểm soát căn cứ vào số ngày làm việc dự tính, số lượng và tính chất của công việc và mức thù lao bình quân hằng ngày của thành viên (Khoản
1 Điều 125)
Tuy nhiên, nhận thấy Luật doanh nghiệp 2014 vẫn kế thừa quy định của Luật doanh nghiệp 2005 về thành viên Ban kiểm soát Theo đó, pháp luật quy định: “thành viên Ban kiểm soát không được giữ chức vụ quản lý công ty, và quy định thành viên Ban kiểm soát không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao động của công ty” (Điều 164) Điều này theo tôi là chưa hoàn toàn phù hợp bởi nếu thành viên ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lý công ty Nghĩa là thành viên Ban kiểm soát sẽ chỉ là một người lao động bình thường, một nhân viên cấp thấp trong công ty Trong vai trò kiểm soát, họ cần độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, còn trong vai trò người lao động, họ chịu sự quản lý của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Nhưng chính điều này có thể khiến Ban kiểm soát khó có thể độc lập kiểm soát hoạt động của công ty được, bởi sự mâu thuân giữa hai vai trò vừa giám soát hoạt động đồng thời vừa chịu sự quản lý của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc khiến cho thành viên Ban kiểm soát cùng lúc chịu nhiều áp lực và thông thường, họ sẽ chọn vai trò người lao động với lý do đơn giản là hàng tháng họ vẫn phải nhận tiền lương của công ty
Bên cạnh đó, ngoài tâm lý “ngại va chạm” của các thành viên Ban
kiểm soát, trong nhiều trường hợp, các thành viên Ban kiểm soát còn có sự
Trang 34cấu kết với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc để hưởng lợi bất chính Hơn nữa, Luật doanh nghiệp 2014 không cấm thành viên Ban kiểm soát
là người lao động của công ty, nên khả năng một người lao động đồng thời là
cổ đông sẽ được Đại hội đồng cổ đông bầu làm thành viên Ban kiểm soát Trên thực tế, thành viên Ban kiểm soát được bầu từ những người được cổ đông lớn đề cử và có quan hệ thân quen với các thành viên Hội đồng quản trị, bởi vậy, hoạt động giám sát khi bị chi phối bởi quan hệ phụ thuộc sẽ có khả năng làm giảm tính khách quan trong hoạt động của Ban kiểm soát Do vậy yêu cầu đặt ra là cần quy định cụ thể về tiêu chuẩn và giám sát chặt chẽ việc
áp dụng tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên Ban kiểm soát từ khi ứng cử đến hết nhiệm kỳ Điều này phần nào góp phần đảm bảo vị trí độc lập của thành viên Ban kiểm soát trong thực hiện thẩm quyền và nhiệm vụ được giao
Việc biểu quyết bầu Ban kiểm soát
Như đã nêu ở trên, để giám sát Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, Ban kiểm soát cần độc lập Sự độc lập này cần được thể hiện trước hết trong việc thành lập và hoạt động của Ban kiểm soát Thông qua việc thực hiện chức năng của mình, Ban kiểm soát sẽ đảm bảo rằng các quyết định của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc là phù hợp với pháp luật, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và bảo vệ lợi ích của các cổ đông
Việc biểu quyết bầu Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu (trừ trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác), theo
đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần
sở hữu nhân với số thành viên được bầu của Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát và cổ đông có quyền dồn hết hoặc một phần tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên Người trúng cử thành viên Hội đồng quản trị hoặc Kiểm soát viên được xác định theo số phiếu bầu tính từ
Trang 35cao xuống thấp, bắt đầu từ ứng cử viên có số phiếu bầu cao nhất cho đến khi đủ số thành viên quy định tại Điều lệ công ty Trường hợp có từ 02 ứng
cử viên trở lên đạt cùng số phiếu bầu như nhau cho thành viên cuối cùng của Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát thì sẽ tiến hành bầu lại trong số các ứng cử viên có số phiếu bầu ngang nhau hoặc lựa chọn theo tiêu chí quy chế bầu cử hoặc Điều lệ công ty
Như vậy, Luật Doanh nghiệp 2014 không còn quy định việc bầu thành viên Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, mà có thể chọn phương thức bầu bình thường Sau khi thay đổi quy định về phương thức bầu như trên đã có những quan điểm khác nhau về vấn đề này Quan điểm thứ nhất, đồng tình với sự thay đổi này, vì việc quy định bắt buộc bầu dồn phiếu, có thể dẫn đến tình trạng các cổ đông lớn của công ty lợi dụng để lựa chọn phương án có lợi cho mình thay vì lợi ích chung của công ty Quan điểm thứ hai lại không đồng tính với sự thay đổi này, bởi nếu quy định như vậy sẽ tước bỏ một công cụ quan trọng để bảo vệ nhóm
cổ đông thiểu số Quan điểm của tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai và
đề nghị các nhà làm luật cần xem xét điều chỉnh quy định việc bầu thành viên Ban kiểm soát bắt buộc được thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu như quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, góp phần bảo vệ nhóm
cổ đông thiểu số
Việc miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Ban kiểm soát: theo Luật
Doanh nghiệp 2005, các nhà làm luật đã gộp chung việc miễn nhiệm, bãi nhiệm vào một quy định (Điều 127) và điều đó người đọc đương nhiên hiểu rằng việc miễn nhiệm và bãi nhiệm là một và dẫn đến các điều kiện kiểm soát viên bị miễn nhiệm và bị bãi nhiệm là một Điều này, là chưa phù hợp bởi miễn nhiệm và bãi nhiệm là hai khái niệm khác nhau Miễn nhiệm được hiểu là cho thôi chức vụ do không hoàn thành nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm,
Trang 36do nhu cầu của nhiệm vụ hoặc theo đề nghị của người bị miễn nhiệm vì lý
do sức khỏe hoặc lý do khác Còn khái niệm bãi nhiệm được hiểu là một chế tài kỷ luật buộc thôi giữ chức vụ do bầu trước khi hết nhiệm kỳ đối với người được giao giữ chức vụ có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ công ty Do vậy, đến Luật Doanh nghiệp 2014, các nhà làm luật đã tách bạch rõ ràng hai phạm trù miễn nhiệm và bãi nhiệm
Theo khoản 1 Điều 169 Luật Doanh nghiệp 2014, Kiểm soát viên bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau:
- Không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện làm Kiểm soát viên theo quy định tại Điều 164 của Luật Doanh nghiệp 2014;
- Không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong 06 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng;
- Có đơn từ chức và được chấp thuận;
- Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định
Theo khoản 2 Điều 169 Luật Doanh nghiệp 2014, Kiểm soát viên bị bãi nhiệm trong các trường hợp sau:
- Không hoàn thành nhiệm vụ, công việc được phân công;
- Vi phạm nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần nghĩa vụ của Kiểm soát viên quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và Điều lệ công ty;
- Theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông
Tóm lại, Ban kiểm soát có vai trò, vị trí đó là bộ phận mang tính
“kiềm chế, đối trọng” với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc Tuy nhiên, thực tế ở nước ta hiện nay cho thấy, Ban kiểm soát chưa thể hiện đầy đủ vai trò bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư Bởi thực tế qua đọc báo cáo của Ban kiểm soát trong các kỳ đại hội, cổ đông thường có cảm giác báo cáo có nội
Trang 37dung chủ yếu là “khen” Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc Thậm chí, có trường hợp Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc đã can thiệp vào nội dung các vấn đề cần đưa vào báo cáo của Ban kiểm soát trước khi báo cáo tại các
kỳ đại hội Vì vậy, có thể có rất nhiều việc làm sai trái của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông nhưng trong báo cáo lại không đề cập đến hoặc có thể Ban kiểm soát không phát hiện/không cảnh báo cho đến khi sự việc bị phát hiện Điều này có thể ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các cổ đông
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc Ban kiểm soát chưa phát huy hết được vai trò, trách nhiệm của mình với các cổ đông Thực tế, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc thường không ưa Ban kiểm soát vì nếu có quyết định những vấn đề không đúng quy định, ảnh hưởng đến lợi ích của các cổ đông khác sẽ phải dè chừng vì sợ Ban kiểm soát “thổi còi” Vì vậy, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc luôn tìm cách để tranh khỏi sự kiểm soát
đó Bên cạnh đó, nhiều cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc nhiều khi không hiểu rõ vai trò của Ban kiểm soát, coi Ban kiểm soát chỉ là một phòng Ban trong công ty, thậm chí ngay cả Ban kiểm soát được bầu ra cũng không rõ vai trò và quyền hạn của mình Vì vậy, sự tồn tại của Ban kiểm soát nhiều khi mang tính hình thức
Do đó, để bảo vệ các lợi ích của các cổ đồng công ty, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần, Ban kiểm soát cần được điều chỉnh bởi khung pháp lý rõ ràng hơn, đồng thời chính các cổ đông phải hiểu rõ và sử dụng vai trò của Ban kiểm soát một cách phù hợp, đảm bảo hiệu quả cao Bên cạnh đó, khi được các cổ đông trao quyền, Ban kiểm soát phải có đủ khả năng để thực thi nhiệm vụ, các báo cáo của Ban kiểm soát phải thể hiện tính độc lập và chính xác