1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy chế pháp lý về quản tài viên theo pháp luật hoa kỳ và kinh nghiệm cho việt nam

58 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 861,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Báo cáo thường niên về những thành tích nổi bật năm tài chính 2017-2018 của Chương trình ủy thác Hoa Kỳ USTP thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, trong hơn 30 năm vừa qua, toàn Hoa Kỳ có hơn 32

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

NGUYỄN THỊ KIM DUNG

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM

CHO VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ KIM DUNG Khóa: 41 MSSV: 1653801011043

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS LÊ NHẬT BẢO

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TÀI VIÊN

THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM

CHO VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

“Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Lê Nhật Bảo, đảm bảo tính

trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này”

Sinh viên

Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DNMKNTT Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

LPSDN 1993 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993

(United States Trustee Program)

Luật mẫu UNCITRAL

Luật mẫu của UNCITRAL về phá sản xuyên

lý, thanh lý tài sản

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TÀI VIÊN 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm quản tài viên 7

1.1.1 Khái niệm quản tài viên 7

1.1.2 Đặc điểm của quản tài viên 10

1.2 Vai trò của quản tài viên trong quá trình phá sản doanh nghiệp 16

1.2.1 Về vấn đề điều hòa lợi ích của chủ nợ và con nợ trong quá trình giải quyết phá sản 16

1.2.2 Về vấn đề hỗ trợ Tòa án, cơ quan thi hành án và mối liên hệ với các chủ thể khác trong quá trình giải quyết phá sản 19

1.2.3 Về vấn đề xây dựng các thiết chế phi chính phủ theo xu hướng chung của thế giới 20

1.3 Khái quát một số nội dung pháp luật quy định về quản tài viên 21

1.3.1 Quản lý nhà nước đối với quản tài viên 21

1.3.2 Vai trò của quản tài viên trong vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài (phá sản xuyên quốc gia) 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA HOA KỲ VỀ QUẢN TÀI VIÊN – NHỮNG KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM 25

2.1 Quản lý nhà nước đối với quản tài viên 25

2.1.1 Hệ thống quản lý quản tài viên 26

2.1.2 Vấn đề chỉ định quản tài viên 28

2.1.3 Cơ chế giám sát quản tài viên 30

2.1.4 Vấn đề quản lý thông tin có liên quan và đào tạo quản tài viên 33

2.2 Vai trò của quản tài viên trong vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài (phá sản xuyên quốc gia) 35

Trang 6

2.2.1 Các nội dung quy định về vai trò của quản tài viên trong pháp luật

phá sản xuyên quốc gia 36

2.2.2 Nhận xét và kiến nghị cho Việt Nam 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45

KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xét về chiều dài lịch sử, Hoa Kỳ là một trong số những quốc gia có nền pháp luật phá sản lâu đời với Luật phá sản (LPS) đầu tiên được thông qua vào ngày 04 tháng 4 năm 1800 Dù tại thời điểm đó, Luật này gần như có sự tiếp thu trọn vẹn từ pháp luật Anh.1 Nhưng với tinh thần nỗ lực cải cách, LPS đã trải qua nhiều lần sửa đổi để có được những quy định hoàn thiện, nhân văn hơn và từng bước tiệm cận với bối cảnh

xã hội hiện đại Theo Báo cáo thường niên về những thành tích nổi bật năm tài chính 2017-2018 của Chương trình ủy thác Hoa Kỳ (USTP) thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, trong hơn 30 năm vừa qua, toàn Hoa Kỳ có hơn 32 triệu vụ kiện về phá sản được giải quyết.2 Riêng năm tài chính 2017-2018, USTP đã giám sát 1.300 quản tài viên (QTV) trong hoạt động quản lý và phân chia tài sản gần 10 tỷ đô la Mỹ trung bình mỗi năm.3Những con số ấn tượng này phần nào thể hiện được bề dày kinh nghiệm giải quyết cũng như tính hiệu quả của các quy định về phá sản và QTV của Hoa Kỳ Mặt khác, việc tiếp xúc với nhiều vụ việc phá sản khác nhau xuyên suốt các biến động lịch sử

đã phản ánh thực tiễn đa dạng, phong phú của pháp luật phá sản Hoa Kỳ Đây chính

là nguồn tư liệu tham khảo thiết thực và hữu ích đối với những quốc gia với nền pháp luật phá sản có tuổi đời còn trẻ như Việt Nam

Tại Việt Nam, pháp luật về phá sản ra đời như một giải pháp tất yếu với vai trò

là một loại tố tụng tư pháp đặc biệt giúp chuyển đổi từ thói quen đòi nợ một cách độc lập, riêng lẻ sang cơ chế đòi nợ tập trung và có hệ thống.4 Tuy nhiên, kể từ khi Nhà nước ban hành LPS đầu tiên dưới tên gọi Luật phá sản doanh nghiệp (LPSDN 1993) đến nay và đã trải qua hai lần thay thế, thực tiễn thi hành vẫn còn là trở ngại lớn Cụ thể, trong 09 năm đầu tiên, toàn ngành Tòa án chỉ thụ lý 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp nhưng chỉ giải quyết được 95 đơn, chiếm 62,9%.5 Tổng số đơn yêu cầu này thấp hơn nhiều so với số liệu thống kê của riêng năm 2019: Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 211 đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, ra quyết định không mở thủ tục phá sản đối với 36 trường hợp, ra thủ tục mở phá sản đối với 46 trường hợp.6 Tuy

1 Charles Jordan Tabb (1995), “The history of bankruptcy laws in the United States”, American Bankruptcy Institute Law Review, Volume 3, No 5/1995, tr 7

2 United States Department of Justice (2019), “United States Trustee Program Annual Report of Significant Accomplishments”, the United States, tr 1

3 United States Department of Justice, tlđd (2), tr 3

4 Dương Đăng Tuệ (2005), Pháp luật phá sản của Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 11

5 Báo cáo tình hình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (từ năm 1994 đến hết năm 2002) của Tòa án nhân dân tối cao ngày 5/9/2003, tr 1 (Dẫn theo: Dương Đăng Tuệ, tldđ (4), tr 90)

6 Cổng thông tin điện tử Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Thẩm tra báo cáo công tác của ngành Tòa án năm 2019”, http://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=41760, truy cập ngày 27/02/2020

Trang 8

nhiên, nếu đặt trong sự đối sánh với tổng số doanh nghiệp trên cả nước, đây vẫn chỉ

là một con số vô cùng khiêm tốn Điển hình như năm 2012, cả nước gồm 541.103 doanh nghiệp nhưng có đến 92.710 doanh nghiệp không thể xác minh được tình trạng hoạt động.7 Con số này chứng tỏ hàng nghìn doanh nghiệp đang trong tình trạng

“sống thực vật”8 nhưng thay vì chọn thủ tục phá sản, họ giữ im lặng Ngoài tâm lý

“vô phúc đáo tụng đình” từ chủ nợ và các doanh nghiệp, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng các chủ thể e dè trong việc lựa chọn phá sản làm phương án giải quyết hàng đầu nằm ở vai trò của những người tiến hành thủ tục phá sản, trong đó có QTV

Dù đã có lịch sử tồn tại lâu đời với nhiều tên gọi khác nhau ở Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới nhưng tại Việt Nam, QTV là một nghề rất mới mẻ và lần đầu tiên được thể chế hóa thành các quy định pháp luật trong Luật Phá sản 2014 (LPS 2014) Tuy nhiên, thực tiễn chứng minh địa vị của QTV vẫn chưa được chú trọng và nhìn nhận đúng đắn Điển hình, có ý kiến cho rằng: việc doanh nghiệp phá sản để phát triển “nghề” quản lý tài sản phá sản là điều không ai khuyến khích, do đó, không nên đưa ra các tiêu chí đối với quản lý tài sản phá sản như một nghề độc lập.9 Quan điểm này vô hình trung làm giảm thiểu trách nhiệm của QTV trong thủ tục phá sản, tức QTV sẽ thiếu đi động lực và ý thức hoàn thành nhiệm vụ vì không được ghi nhận vai trò, còn các chủ khác, họ sẽ thiếu đi lòng tin tưởng và thêm phần dè chừng khi đứng trước quyết định lựa chọn con đường phá sản Bên cạnh đó, Sở Tư pháp ở một số tỉnh thành đã có động thái quan tâm đến QTV thông qua các buổi họp trao đổi các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động10 cũng như Hội nghị tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ cho người hành nghề quản lý, thanh lý tài sản11 Thế nhưng, các hoạt động này không diễn ra thường xuyên và chỉ giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố đó nên không đem lại tác động sâu rộng cho hệ thống QTV trong phạm vi cả nước Với thực trạng trên, tác giả nhận thấy việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác là một

7 Tổng cục Thống kê, “Báo cáo kết quả rà soát số lượng doanh nghiệp năm 2012”, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=419&idmid=&ItemID=12481&fbclid=IwAR1Qd1g2RS8qfs-loK- CLN3gFmvC8dDIyKkw-14Se0X7AtStCBBRe97Gxp8, truy cập ngày 03/3/2020

8 Tạ Quang Bình, Nguyễn Thị Thuận, “Ảnh hưởng của những doanh nghiệp “sống thực vật” tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/anh-huong-cua-nhung-doanh-nghiep-song- thuc-vat-toi-tang-truong-kinh-te-viet-nam-313639.html, truy cập ngày 03/3/2020 [Tình trạng “sống thực vật”

có đặc điểm nổi bật là các doanh nghiệp mắc nợ và không có khả năng trả nợ.]

http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View_Detail.aspx?ItemID=1793, truy cập ngày 05/3/2020

10 Nguyễn Thị Vân Anh, “Họp trao đổi các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý, thanh lý tài sản trên

https://stp.binhduong.gov.vn/bo-tro-tu-phap/Lists/QuanTaiVien/DispForm.aspx?ID=14&CategoryId=Tin%20ng%C3%A0nh%20t%C6%B0%20ph

%C3%A1p&InitialTabId=Ribbon.Read, truy cập ngày 05/3/2020

11 Kế hoạch số 6170/KH-STP-BTTP Tổ chức hội nghị tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ cho người hành nghề quản

lý, thanh lý tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

phương pháp cần thiết nhằm tiếp thu có chọn lọc các điểm ưu việt và hạn chế những tồn đọng có thể xảy ra

Từ những nhận định trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Quy chế pháp lý về

quản tài viên theo pháp luật Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm nội dung

nghiên cứu cốt lõi cho toàn bộ khóa luận này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Một số nguồn tài liệu tiêu biểu:

2.1 Các tài liệu trong nước viết về quản tài viên

2.1.1 Tạp chí chuyên ngành

 Hà Thị Thanh Bình (2003), “Tài sản phá sản và phân chia tài sản của con nợ

bị phá sản”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2003: bài viết chỉ ra những hạn chế

về thành phần và nguyên tắc làm việc của hội đồng định giá tài sản phá sản Từ đó, tác giả kiến nghị xây dựng hội đồng định giá tài sản phá sản với tư cách là một bên thứ ba độc lập, gồm những chuyên gia chuyên về định giá theo giá cả thị trường, được hưởng thù lao và chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền (CQNNCTQ) và các bên có liên quan trong việc định giá tài sản

 Dương Kim Thế Nguyên (2014), “Quản tài viên trong Luật phá sản các nước

– Kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2014: bài viết có sự

so sánh, đối chiếu giữa pháp luật của Pháp, Đức và Liên Bang Nga với Việt Nam trên một số tiêu chí: tính độc lập của QTV, điều kiện về chuyên môn, kinh nghiệm quản

lý tài sản, nhiệm vụ và quyền hạn của QTV Từ đó đưa ra kiến nghị về điều kiện hành nghề QTV và cơ chế giám sát hoạt động đối với chủ thể này

 Đặng Văn Huy (2018), “Hoàn thiện chế định quản tài viên trong Luật Phá

sản”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20 (372)/2018: bài viết phân biệt khái niệm

và bản chất pháp lý về QTV theo pháp luật một số quốc gia như Úc, Anh và Canada Tác giả có đề cập đến các hạn chế và đưa ra kiến nghị nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi sửa đổi, bổ sung LPS 2014 và xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của QTV

 Phạm Thị Huyền (2016), “Vấn đề bất cập về quản tài viên theo pháp luật hiện

hành”, Tạp chí Luật học, số 2/2016: bài viết chỉ ra những điểm chưa hợp lý khi quy

định về chế định QTV như: điều kiện hành nghề, việc chỉ định, thay đổi QTV tham gia vụ việc phá sản, chi phí đối với QTV, tạm đình chỉ hành nghề đối với QTV, chấm dứt hành nghề và đề xuất một số giải pháp dựa trên những đặc điểm này

Trang 10

Nhìn chung, các bài viết đều đã chỉ ra được một số hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật về QTV trên thực tế để đưa ra kiến nghị điều chỉnh Một số bài viết có liên hệ đến pháp luật nước ngoài để so sánh, đối chiếu Tuy nhiên, với dung lượng gói gọn trong vài trang viết, các tác giả chưa thể đi sâu phân tích và đánh giá toàn diện những vấn đề đặt ra

2.1.2 Luận văn

Nguyễn Đức Hải (2018), Pháp luật về quản tài viên và doanh nghiệp hành

nghề quản lý, thanh lý tài sản, qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc

sĩ luật học, Trường Đại học Luật – Đại học Huế: bài viết làm rõ thực trạng về đội ngũ QTV và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản tại thành phố Đà Nẵng và

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể này

2.2 Các tài liệu nước ngoài viết về quản tài viên theo pháp luật Hoa Kỳ

Martin A Frey, Sidney K Swinson (2012), Introduction to Bankruptcy Law,

Nhà xuất bản Cengage Learning: trong cuốn sách, tác giả dành một phần để giới thiệu khái quát một số vấn đề về QTV như các yêu cầu đối với QTV để được tham gia một

vụ phá sản cụ thể và vấn đề chỉ định QTV Các nội dung này mang tính khái quát dựa trên các quy định pháp luật, không đi sâu phân tích, đánh giá thực tiễn

 Elizabeth H McCullough (2011), “Bankruptcy trustee liability: Is there a

method in the madness?”, Lewis & Clark Law Review, Volume 15, No 1/2011: bài

viết phân tích về trách nhiệm pháp lý của QTV trong hoạt động quản lý, thanh lý tài sản và phục hồi hoạt động kinh doanh (PHHĐKD) Thông qua các vụ việc thực tế, các tác giả đưa ra các căn cứ xác định trường hợp được miễn hay phải chịu trách nhiệm pháp lý Từ đó, tác giả Elizabeth H McCullough đã khái quát phương pháp 4 bước để xác định trách nhiệm pháp lý của QTV

 Hon Steven Rhodes (2006), “The Fiduciary and Institutional Obligations of

a Chapter 7 Bankruptcy Trustee”, American Bankruptcy Law Journal, Volume 80,

No 2/2006: tác giả phân tích nghĩa vụ của QTV trong hoạt động quản lý, thanh lý tài sản thông qua hai phương diện gồm: (i) các nguồn quy định nghĩa vụ của QTV và (ii) các nghĩa vụ của QTV đối với từng vụ việc cụ thể nói riêng cũng như trong hoạt động phá sản nói chung

Nhìn chung, các tài liệu đều đã trình bày một khía cạnh của chế định QTV dù ở mức độ khái quát hay chuyên sâu Tuy nhiên, các bài viết chỉ dừng lại trong phạm vi pháp luật Hoa Kỳ, chưa có sự so sánh, đối chiếu với hệ thống pháp luật của các quốc gia khác

Trang 11

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Từ lý do chọn đề tài và tình hình nghiên cứu đã phân tích, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài với các mục tiêu trọng tâm sau:

Thứ nhất, cung cấp cái nhìn tổng quan về các vấn đề lý luận chung liên quan đến

chế định QTV, bao gồm: các khái niệm về QTV theo pháp luật Hoa Kỳ, Việt Nam và Luật mẫu UNCITRAL; đặc điểm của QTV; vai trò của QTV trong quá trình phá sản doanh nghiệp và một số nội dung quy định về QTV sẽ được tiến hành phân tích trong khóa luận

Thứ hai, phân tích một số khía cạnh về QTV thông qua các quy định pháp luật

và các vụ việc xảy ra trên thực tế theo pháp luật Hoa Kỳ, từ đó đưa ra nhận xét về khả năng và hiệu quả áp dụng tại quốc gia này

Thứ ba, so sánh đối chiếu với các điều kiện của pháp luật Việt Nam, từ đó kiến

nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống QTV tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chế định QTV vốn gồm nhiều yếu tố cấu thành và đa dạng Do đó, trong giới hạn khóa luận này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề tiêu biểu sau: (1) quản lý nhà nước đối với QTV và (2) vai trò của QTV trong vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài (phá sản xuyên quốc gia)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Các văn bản pháp luật liên quan của Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ được sử dụng chủ yếu, bao gồm: LPS 2014; Nghị định 22/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản (Nghị định 22/2015/NĐ-CP), Bộ luật Phá sản Hoa Kỳ12 và Bộ Quy tắc liên bang Ngoài ra, Luật mẫu của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL)13 về phá sản xuyên quốc gia (Luật mẫu UNCITRAL) và một số quy định pháp luật của các quốc gia khác cũng sẽ được sử dụng để phục vụ đề tài

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Khóa luận được thực hiện thông qua một số phương pháp chủ yếu gồm:

Trang 12

 Phương pháp lịch sử: được sử dụng để (i) lý giải nguồn gốc tạo nên sự khác biệt về khái niệm và cơ sở hình thành chế định QTV ở Chương 1 và (ii) lược sử hình

thành USTP và pháp luật phá sản xuyên quốc gia ở Chương 2

 Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng gần như xuyên suốt khóa luận để đảm bảo các nội dung của từng phần đều được làm rõ và trình bày có hệ

thống

 Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng chủ yếu để (i) phân tích phần khái niệm QTV tại Chương 1 và (ii) đánh giá, bình luận về thực tiễn pháp luật Hoa

Kỳ để kiến nghị cho Việt Nam tại Chương 2

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Kết cấu khóa luận gồm hai chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về quản tài viên

Chương 2: Đánh giá một số quy định pháp luật của Hoa Kỳ về quản tài viên –

những kiến nghị cho Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TÀI VIÊN 1.1 Khái niệm và đặc điểm quản tài viên

1.1.1 Khái niệm quản tài viên

Nếu giải thích nghĩa của từ QTV theo lối chiết tự thì: “quản” có nghĩa là trông coi, điều khiển14, “tài” là viết tắt của từ tài sản và “viên” có nghĩa là người chuyên làm một công việc nào đó15 Vậy, có thể hiểu khái quát QTV là người chuyên trông coi, điều khiển tài sản Ngoài ra, về mặt pháp lý, khái niệm QTV cũng được quy định

rõ là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết phá sản.16

Từ những phân tích về mặt ngữ nghĩa và quy định pháp luật, tác giả nhận thấy sự tương đồng về chức năng giữa khái niệm QTV theo pháp luật Việt Nam với khái

niệm“trustee” (ủy thác viên) theo pháp luật Hoa Kỳ cũng như các khái niệm về người

quản lý, thanh lý tài sản ở các quốc gia khác Do đó, trong khóa luận này, để tiện cho việc trình bày thống nhất, QTV sẽ là thuật ngữ được sử dụng chung để chỉ đối tượng này

Lịch sử ghi nhận văn bản đầu tiên về pháp luật phá sản hiện đại và chính thức được ban hành vào năm 1542, dưới thời vua Henry VIII trị vì17, với tên gọi: Luật

chống lại những kẻ phá sản (An act against such persons as do make bankrupts) xem

con nợ như những kẻ phạm tội và trao thêm quyền xử lý vào tay chủ nợ; sau đó, một đạo luật khác được ra đời dưới thời Nữ hoàng Elizabeth I vào năm 1570, có hiệu lực cho đến khi Cách mạng Mỹ (1765 – 1783) nổ ra.18 Theo đó, chỉ có chủ nợ mới là người được phép bắt đầu thủ tục phá sản thông qua đơn thỉnh cầu được gửi đến Đại pháp quan19 và với vai trò của mình, Đại pháp quan sẽ chỉ định “commissioners” (các

ủy viên) để giám sát thủ tục phá sản

Các ủy viên có nhiều thực quyền và giữ vai trò quan trọng, nguyên bản giống như sự kết hợp giữa vai trò của QTV và thẩm phán ngày nay Ngoài những hoạt động chuyên về QTV như thu thập, thanh lý và phân chia tài sản của con

nợ cho các chủ nợ, các ủy viên có quyền nắm giữ tài sản, triệu tập các cá nhân

14 Viện Ngôn ngữ học (2019), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 1012

15 Viện Ngôn ngữ học, tlđd (14), tr 1415

16 Khoản 7 Điều 4 LPS 2014

17 Roy Goode (1997), Principles of Corporate Insolvency Law, Nhà xuất bản Sweet and Maxwell Ltd, tr 7

18 Charles Jordan Tabb (1995), tlđd (1), tr 7, 8

19 Trần Ngọc Hà, Đỗ Thị Mai Hạnh, Nguyễn Thị Hằng, Phan Hoài Nam, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Ngô Kim

Hoàng Nguyên (2017), Luật so sánh: Tài liệu hướng dẫn học tập, Nhà xuất bản Lao động, tr 108 [“Đại pháp

quan theo cách gọi ngày nay là Trưởng ban thư ký nhà vua Quyền hạn của Thư ký nhà vua bao gồm việc tiếp nhận và trình lên Đức vua các đơn thỉnh cầu Cho đến thế kỷ XVI, chức danh này thường do các giám mục Cơ đốc giáo – chức năng chính là nghe Nhà vua xưng tội và là cố vấn về mặt tinh thần cho Nhà vua”.]

Trang 14

có mặt và ra quyết định bỏ tù Mặc dù được chỉ định bởi Đại pháp quan, song các ủy viên không bị lệ thuộc vào phạm vi quyền hạn của chủ thể này.20

Như vậy, trong khoảng thời gian này, tên gọi “commissioners” chỉ thể hiện một

phần bản chất của QTV bởi các chủ thể này không có sự tách bạch trong vai trò giữa QTV và thẩm phán Các ủy viên này sẽ cùng nhau tạo thành một hội đồng và thực hiện các nghĩa vụ kể trên Sau khi Cách mạng Mỹ giành thắng lợi, Hiến pháp ra đời với vai trò là bộ luật tối cao của đất nước đã lập ra một chính phủ quốc gia cân bằng thông qua việc phân chia quyền lực giữa ba ngành độc lập – hành pháp, lập pháp và

tư pháp (tức Tòa án Tối cao và các Tòa án liên bang khác).21 Đồng thời, Hiến pháp cũng đề ra mục tiêu xây dựng luật thống nhất trong toàn lãnh thổ Hoa Kỳ về các vấn

đề phá sản.22 Do đó, kể từ khi LPS đầu tiên của Hoa Kỳ ra đời vào năm 1800, vai trò

của Tòa án hạt liên bang (District Court) dần được chú trọng thông qua việc chỉ định

các ủy viên để giám sát quá trình phá sản và những ủy viên này có quyền được chỉ

định “assignees” (người ủy quyền) để tiến hành hai hoạt động chính là thanh lý và

phân chia tài sản.23 Khái niệm này vẫn được duy trì trong những giai đoạn sau giữa các lần sửa đổi LPS Hoa Kỳ vào năm 1841 và 1867 Cuối cùng, khi LPS Hoa Kỳ

được sửa đổi vào năm 1898, người ủy quyền được thay thế bằng tên gọi “trustee”

(ủy thác viên) và được sử dụng cho đến ngày nay.24 Đây là danh từ chỉ người được

cấu thành từ tiền tố “trust” dùng để chỉ luật ủy thác (trust law) trong quan hệ về tài

sản của các nước thông luật Đặc trưng chung của ủy thác viên là việc quản lý tài sản được tách biệt với việc hưởng lợi đối với tài sản đó và được trả công cho việc quản

lý của mình chứ không nhận được thu nhập từ chính tài sản.25

Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, tên gọi của QTV cũng trở nên khác nhau trong cùng một quốc gia Mặt khác, với sự đa dạng về văn hóa cũng như ngôn ngữ, các quốc gia cũng có những tên gọi riêng về QTV Nhận biết rõ đặc điểm đó, UNCITRAL

khi đưa ra hướng dẫn đối với Luật mẫu UNCITRAL với định nghĩa về the insolvency

representative (người đại diện phá sản) đã liệt kê nhiều tên gọi được sử dụng đa dạng

ở các quốc gia khác nhau để chỉ QTV như: “administrators” (quản trị viên),

“trustees” (ủy thác viên), “liquidators” (người thanh lý), “supervisors” (giám sát

viên), “receivers” (người nhận), “curators” (người phụ trách), “officials” (công

20 Charles Jordan Tabb, tlđd (1), tr 8

21 Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2004), Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và chú thích, Ấn phẩm của Chương trình

Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 7/2004, tr 3

22 Điều I khoản 8.(4) Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

23 Charles Jordan Tabb, tlđd (1), tr 14

24 Charles Jordan Tabb, tlđd (1), tr 25

25 Jay M Feinman (2014), Luật 101: Mọi điều bạn cần biết về pháp luật Hoa Kỳ, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr

388

Trang 15

chức, viên chức), “judicial managers” (người quản lý tư pháp) hoặc

“commissioners” (ủy viên) Dù có khác nhau về tên gọi nhưng các chức danh vẫn có

điểm giao thoa về đặc điểm, cụ thể:

Người đại diện phá sản có thể là một cá nhân hoặc, tại một số quốc gia, có thể

là một doanh nghiệp hoặc pháp nhân riêng biệt khác Một khi được chỉ định, người đại diện phá sản đóng vai trò trung tâm trong việc thực thi có hiệu quả luật phá sản, với một số quyền hạn nhất định đối với con nợ và tài sản của họ

và nghĩa vụ bảo vệ các tài sản và giá trị của tài sản đó, cũng như lợi ích của chủ nợ và người lao động, để đảm bảo rằng pháp luật được áp dụng hiệu quả

và công bằng Theo đó, điều cần thiết là người đại diện phá sản phải có trình

độ phù hợp, có kiến thức, kinh nghiệm và phẩm chất cá nhân sẽ đảm bảo được hiệu quả không chỉ trong các thủ tục tiến hành tố tụng mà còn là niềm tin đối với hệ thống phá sản.26

Tại Việt Nam, LPSDN 1993 là dấu mốc đầu tiên cho văn bản pháp luật riêng biệt điều chỉnh về phá sản Trong đó, Điều 15 quy định về Tổ quản lý bao gồm nhiều chủ thể có tư cách khác nhau, đại diện cho các cá nhân, tổ chức cần thiết cho vụ việc phá sản Trách nhiệm chủ yếu của Tổ quản lý là giám sát, kiểm tra việc quản lý tài sản của doanh nghiệp Đến khi Luật Phá sản 2004 (LPS 2004) có hiệu lực, tên gọi Tổ quản lý được thay thế bằng Tổ quản lý, thanh lý tài sản để phản ánh đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ quản lý theo Điều 10 Sau thời gian áp dụng thực tế, hoạt động của

Tổ quản lý, thanh lý tài sản không đem lại hiệu quả Bởi các thành viên mang tính chất kiêm nhiệm, liên kết lỏng lẻo và có sự chênh về trình độ trong khi trách nhiệm

và quyền hạn của tổ chức này rất quan trọng, trong đó có những nhiệm vụ yêu cầu ở trình độ chuyên môn.27 Để khắc phục những hạn chế này, LPS 2014 đã quy định trách nhiệm quản lý, thanh lý tài sản cho QTV và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản với những điều kiện hoạt động chặt chẽ hơn

Như vậy, xét về thời gian hình thành, có thể thấy trước khi có được định nghĩa QTV như hiện tại, pháp luật phá sản của Việt Nam và Hoa Kỳ đều đã trải qua nhiều tên gọi, phản ánh những vai trò và vị trí khác nhau theo các mốc thời gian Trong khi khái niệm QTV của Hoa Kỳ có hơi hướng ảnh hưởng từ pháp luật Anh cùng những biến thiên của lịch sử sau này thì khái niệm QTV của Việt Nam dần dần được chuyển hóa dựa trên kinh nghiệm áp dụng thực tiễn cũng như tham khảo các mô hình QTV

26 UNCITRAL (2005), Legislative Guide on Insolvency Law, United Nations publication, tr 174

27 Nguyễn Thị Diệu Hồng, “Khó xử lý tài sản, Luật Phá sản không vào cuộc sống”, xu-ly-tai-san-luat-pha-san-khong-vao-cuoc-song-d4054.html, truy cập ngày 14/3/2020

Trang 16

https://baodautu.vn/kho-theo pháp luật nước ngoài Xét về cách định nghĩa, QTV https://baodautu.vn/kho-theo pháp luật Việt Nam được quy định rõ tại “Điều 4 Giải thích từ ngữ” LPS 2014, trong khi QTV theo pháp

luật Hoa Kỳ được định nghĩa tại “Điều 323 Vai trò và khả năng của QTV” (Role and

capacity of trustee) Bộ luật Hoa Kỳ Theo đó, QTV trong vụ việc theo Tiêu đề 11 là

người đại diện tài sản phá sản (the representative of the estate)28, đồng thời QTV

cũng có khả năng kiện hoặc bị kiện (to sue and be sued)29 Mặt khác, QTV theo pháp luật Việt Nam chỉ bao gồm cá nhân để phân biệt đối với doanh nghiệp quản lý, thanh

lý tài sản30; còn pháp luật Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ QTV cho cả cá nhân lẫn doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản31 Tuy nhiên, như đã đề cập từ đầu, tác giả chỉ tiến hành phân tích QTV trong pháp luật Hoa Kỳ đối với cá nhân để tạo sự tương đồng với khái niệm QTV theo pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó, để thống nhất về mặt khái niệm, tác giả sử dụng thuật ngữ “doanh nghiệp mất khả năng thanh toán” (DNMKNTT) để sử dụng chung cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh

toán trong pháp luật Việt Nam và khái niệm “debtor” trong pháp luật Hoa Kỳ Dù

định nghĩa QTV tuy có sự khác nhau song pháp luật hai quốc gia vẫn có những đặc điểm chung theo tinh thần hướng dẫn của Luật mẫu UNCITRAL được đề cập, sẽ được phân tích cụ thể hơn tại Tiểu mục 1.1.2

1.1.2 Đặc điểm của quản tài viên

Thứ nhất, QTV thực hiện các hoạt động liên quan đến chức năng quản lý, thanh

lý tài sản và hỗ trợ PHHĐKD

Một số hoạt động chính yếu của QTV có thể kể đến như sau:

 Xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của DNMKNTT.32

 Lập bảng kê một số đối tượng cụ thể.33

28 Tiêu đề 11 Điều 323(a) Bộ luật Hoa Kỳ

29 Tiêu đề 11 Điều 323(b) Bộ luật Hoa Kỳ

30 Khoản 7 và 8 Điều 4 LPS 2014

31 Tiêu đề 11 Điều 321(a) Bộ luật Hoa Kỳ

32 Điểm a khoản 1 Điều 16 LPS 2014 và Tiêu đề 11 Điều 704(a)(4), 704(a)(5), 704(a)(7) và 1106(a)(3) Bộ luật Hoa Kỳ

[Theo pháp luật Hoa Kỳ, QTV có nghĩa vụ điều tra các hoạt động tài chính của DNMKNT; xác minh các chứng

cứ được ra và phản đối nếu thấy không phù hợp; trừ khi Tòa án có yêu cầu khác, QTV phải cung cấp các thông tin liên quan đến tài sản và việc quản lý tài sản khi được yêu cầu bởi một bên thứ ba có lợi ích liên quan và trừ trường hợp Tòa án có yêu cầu khác, QTV phải tiến hành điều tra các hoạt động, việc thực hiện, tài sản, trách nhiệm pháp lý, điều kiện tài chính của DNMKNTT, hoạt động kinh doanh của DNMKNTT, nguyện vọng tiếp tục kinh doanh và những vấn đề khác liên quan đến vụ việc cũng như kế hoạch PHHĐKD.]

33 Theo pháp luật Việt Nam, QTV phải lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ (Điểm

b khoản 1 Điều 16 LPS 2014)

Trong khi đó, theo pháp luật Hoa Kỳ, công việc này thuộc về DNMKNTT (Điều 521(a)(1)), QTV chỉ thực hiện trong trường hợp DNMKNTT chưa hoàn tất (Điều 1106(a)(2)) Đồng thời, ngoài lập bảng kê tài sản, danh

Trang 17

 Bảo quản tài sản; ngăn chặn các hành vi gian dối, không được phép thực hiện và tối đa hóa giá trị tài sản của DNMKNTT khi bán, thanh lý tài sản.34

 Giám sát hoạt động kinh doanh, đại diện hoặc được ủy quyền để tiếp quản hoạt động kinh doanh.35

 Tiến hành thanh lý tài sản.36

 Gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản ngân hàng hợp lệ.37

 Báo cáo liên quan đến PHHĐKD.38

 Báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo yêu cầu của cá nhân, CQNNCTQ.39

Nhìn chung, các hoạt động này liên quan mật thiết đến tài sản phá sản – đối tượng được quan tâm hàng đầu trong một vụ việc phá sản Bên cạnh đó, sự cần thiết của QTV còn được thể hiện cụ thể thông qua vai trò của chủ thể này trong quá trình phá sản doanh nghiệp Tác giả sẽ tiến hành phân tích sâu tại Mục 1.2

Thứ hai, QTV là ngành nghề hoạt động có điều kiện

Để QTV chứng tỏ khả năng thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản, pháp luật các quốc gia đã đặt ra những điều kiện hành nghề đối với chủ thể này Tính “hoạt động có điều kiện” được thể hiện chủ yếu

sách chủ nợ thì các đối tượng khác cũng phải được liệt kê (trong trường hợp Tòa án không có yêu cầu khác) như: bảng kê các khoản thu nhập và tiêu dùng hiện tại, các trách nhiệm pháp lý, minh chứng về vấn đề tài chính v.v

34 Điểm c khoản 1 Điều 16 LPS 2014 và Tiêu đề 11 Điều 345(a), 548 và 703(a)(2) Bộ luật Hoa Kỳ

35 Theo pháp luật Việt Nam, QTV phải giám sát hoạt động kinh doanh của DNMKNTT theo quy định của pháp luật và đại diện cho DNMKNTT trong trường hợp DNMKNTT không có người đại diện theo pháp luật (Điểm

d khoản 1 và khoản 2 Điều 16 LPS 2014)

Theo pháp luật Hoa Kỳ, Tòa án có thể cho phép QTV tiếp quản hoạt động kinh doanh của DNMKNTT trong một khoảng thời gian nhất định, nếu xét thấy hoạt động kinh doanh đem lại lợi ích tốt nhất về tài sản và phù hợp với trình tự thanh lý tài sản (Tiêu đề 11 Điều 721 Bộ luật Hoa Kỳ) Khi đó, QTV có trách nhiệm thực hiện các báo cáo định kỳ, các bản tóm tắt về hoạt động kinh doanh hoặc những yêu cầu khác (khi được Uỷ thác viên Hoa Kỳ hoặc Tòa án yêu cầu) (Tiêu đề 11 Điều 704(a)(8) Bộ luật Hoa Kỳ)

36 Điểm e, g, h khoản 1 Điều 16 LPS 2014 và Tiêu đề 11 Điều 725 Bộ luật Hoa Kỳ

37 Theo pháp luật Việt Nam, QTV gửi tiền vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở (điểm i khoản 1 Điều 16 LPS 2014)

Theo pháp luật Hoa Kỳ, tài khoản ngân hàng sẽ do QTV mở, quản lý và gửi lại cho Tòa án, Uỷ thác viên Hoa

Kỳ giải quyết (Tiêu đề 11 Điều 704(a)(9) Bộ luật Hoa Kỳ)

38 Theo pháp luật Việt Nam, QTV báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của DNMKNTT tham gia xây dựng kế hoạch PHHĐKD (khoản 3 Điều 16 LPS 2014)

Theo pháp luật Hoa Kỳ, QTV phải lập báo cáo trong trường hợp: giải trình nguyên nhân không nộp kế hoạch PHHĐKD, đề xuất chuyển đổi tính chất vụ việc phá sản theo Chương 7, đề xuất hủy bỏ vụ việc phá sản và những báo cáo khác xét thấy cần thiết hoặc Tòa án yêu cầu sau khi đã thông qua kế hoạch PHHĐKD (Tiêu đề

11 Điều 1106(a)(5) và 1106(a)(7) Bộ luật Hoa Kỳ)

39 Theo pháp luật Việt Nam, QTV phải báo cáo theo yêu cầu của Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự (khoản

6 Điều 16 LPS 2014)

Theo pháp luật Hoa Kỳ, QTV báo cáo khi có yêu cầu của Tòa án hoặc Uỷ thác viên Hoa Kỳ (Tiêu đề 11 Điều 704(a)(9) và 1106(a)(7) Bộ luật Hoa Kỳ)

Trang 18

qua hai phương diện: (1) các tiêu chuẩn chung để được hành nghề và (2) thủ tục đăng

ký hành nghề với CQNNCTQ

(1) Các tiêu chuẩn chung để được hành nghề:

Ngoài các yếu tố cần thiết về phẩm chất đạo đức, năng lực hành vi dân sự thì trình độ chuyên môn là yếu tố được đề cao từ các “ứng cử viên” Các quốc gia thường

có những xu hướng: (i) chỉ yêu cầu về kiến thức chuyên môn/kinh nghiệm40, (ii) cấp chứng chỉ khi đã đáp ứng các điều kiện về kiến thức lẫn kinh nghiệm41 hoặc (iii) ngoài đáp ứng yêu cầu về kiến thức, chuyên môn thì QTV còn phải trải qua một khóa đào tạo nghiệp vụ.42 Tuy có sự khác biệt song xét về nền tảng, cả hai xu hướng đều đòi hỏi QTV phải là người có kiến thức chuyên môn và năng lực để tham gia giải quyết

vụ việc phá sản

(2) Thủ tục đăng ký hành nghề với CQNNCTQ:

Nếu các tiêu chuẩn chung được xem là “điều kiện cần” thì tại một số quốc gia, thủ tục đăng ký hành nghề với CQNNCTQ chính là “điều kiện đủ” để công nhận hành nghề đối với QTV Khi đã đáp ứng các tiêu chuẩn chung, QTV sẽ tiến hành làm hồ

sơ đăng ký với CQNNCTQ Việc đăng ký nhằm mục đích ghi nhận tư cách hành nghề của từng QTV và có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý hành chính Mặt khác, thủ tục đăng ký này được xem là bước sàng lọc cuối cùng để công nhận rằng liệu một người có thể trở thành QTV hay không Dựa trên hồ sơ nhận được, CQNNCTQ có thể yêu cầu thêm những minh chứng khác để đảm bảo rằng người này đã đáp ứng đủ các điều kiện và không thuộc trường hợp bị cấm đăng ký hành nghề Do đó, khi thủ tục đăng ký đã được thông qua, QTV đã đảm bảo tư cách hành nghề có giá trị pháp

Tại Việt Nam, không phải hiển nhiên mà QTV được liệt kê trong danh mục các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đối với lĩnh vực tư pháp tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư 2014 Xét thấy, điều kiện kinh doanh áp dụng đối với một số ngành, nghề

40 Theo pháp luật Hoa Kỳ, QTV không cần được cấp chứng chỉ hành nghề nhưng phải là một trong những đối tượng sau: (i) luật sư có uy tín tại bất kỳ bang nào hoặc quận Columbia, (ii) kế toán đã được cấp giấy chứng nhận, (iii) cử nhân trong lĩnh vực kinh doanh hoặc bằng cấp cao hơn trong lĩnh vực kinh doanh, (iv) sinh viên luật năm cuối hoặc người dự tuyển thạc sĩ quản trị kinh doanh và làm việc dưới sự giám sát trực tiếp từ: một thành viên thuộc khoa luật trường đại học, một thành viên thuộc hội đồng QTV hoặc một thành viên của một chương trình được thành lập bởi hiệp hội luật sư địa phương để cung cấp kinh nghiệm cơ bản cho sinh viên, hoặc (v) người có kinh nghiệm liên quan đến lĩnh vực nói trên được chấp nhận bởi Uỷ thác viên Hoa Kỳ (Tiêu

đề 28 Điều 58.3(b)(6) Bộ Quy tắc liên bang)

41 Theo pháp luật Việt Nam, QTV được cấp chứng chỉ hành nghề QTV khi thuộc một trong những trường hợp sau: (i) luật sư, (ii) kiểm toán viên và (iii) người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng

và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo (Khoản 1 Điều 12 LPS 2014)

42 Theo pháp luật Liên bang Nga, QTV phải có nền tảng giáo dục bậc đại học, đã trải qua quá trình tập sự với vai trò hỗ trợ một QTV khác trong thời hạn ít nhất là sáu tháng và đã hoàn thành kỳ thi lý thuyết theo chương trình đào tạo QTV (Điều 20.1 LPS Liên Bang Nga 2002)

Trang 19

vì tính chất đặc thù của ngành, nghề đó có những tác động tới lợi ích công cộng đến mức buộc Nhà nước phải quản lý bằng các điều kiện trước khi hoạt động so với những ngành nghề khác.43 Chính vì thế, với tình hình các vụ việc phá sản ngày càng trở nên

đa dạng cùng diễn tiến phức tạp liên quan đến các vấn đề về tài sản, các điều kiện hành nghề QTV cần được siết chặt hơn để đảm bảo người hành nghề quản lý, thanh

lý tài sản có đủ tài, đủ tâm giúp thủ tục phá sản diễn ra nhanh chóng và có hiệu quả

Về phía QTV, các điều kiện hành nghề mang nhiều ý nghĩa tích cực Đối với những cá nhân có mong muốn trở thành QTV, họ nhận thức được những yêu cầu về chuyên môn cũng như những đạo đức cần phải trải qua quá trình trau dồi để đạt được Đối với những cá nhân đã và đang hành nghề QTV, họ nhận thấy các yêu cầu đối với QTV là khuôn mẫu để tiếp tục hoàn thiện bản thân mình phù hợp với công việc Đồng thời, các điều kiện này cũng phản ánh được vị thế của QTV: phải trải qua nhiều chặng đường để có thể nhận được chức danh này Vì vậy, QTV sẽ cảm thấy mình có vị trí nhất định và ý thức hoàn thành trách nhiệm trong mỗi vụ việc phá sản

Về phía các chủ thể khác, các quy định về điều kiện hành nghề bước đầu tạo niềm tin về QTV và thủ tục phá sản Hai hoạt động chính của quá trình giải quyết phá sản

là thủ tục liên quan đến tài sản và PHHĐKD Các chủ nợ sẽ quan tâm: liệu QTV có

đủ kinh nghiệm và kiến thức để quản lý, thanh lý để đảm bảo tài sản được phân chia tối đa giá trị hay không Còn các con nợ sẽ băn khoăn: liệu QTV có đủ năng lực để giúp thanh toán các khoản nợ tồn đọng hay không Chính những điều kiện để hành nghề QTV sẽ là minh chứng cho sự phù hợp năng lực và củng cố được lòng tin từ phía chủ nợ và con nợ

Thứ ba, QTV có tư cách độc lập trong vụ việc phá sản 44

Tư cách độc lập của QTV trước tiên được thể hiện bởi mối quan hệ trong thủ tục phá sản đối với hai chủ thể quan trọng là chủ nợ và con nợ Với phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, QTV không phải là người cung cấp dịch vụ do cho bất kì bên nào.45 Tức giữa QTV và các chủ thể này không tồn tại bất cứ hợp đồng làm việc nào hay ràng buộc về nghĩa vụ, lợi ích cá nhân46 mà tư cách của QTV được một

43 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2017), Báo cáo rà soát điều kiện kinh doanh và quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam, Hà Nội, tr 10

44 Dương Kim Thế Nguyên (2014), “Quản tài viên trong Luật phá sản các nước – Kinh nghiệm cho Việt Nam”,

Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2014, tr 8

45 Mária Veterníková – Ján Mišura (2011), Bankruptcy Trustee in Insolvency Proceedings as an Entrepreneur

and as a Subject of the Proceeding, Studia Commercialia Bratislavensia, Volume 4, No 13 (1/2011), tr 157

46 Quan điểm này cũng được Tòa án hạt liên bang Florida công nhận:“Mặc dù nghĩa vụ của QTV là sắp đặt theo thứ tự các tài sản vì lợi ích của các chủ nợ, nhưng nhiệm vụ đó được coi là mối quan hệ ủy thác đối với tài sản chứ không phải là một kiểu “người được thuê”(hired gun) QTV không phải là nhân viên hoặc đại diện của các chủ nợ; chủ nợ không có quyền chỉ đạo QTV thực hiện các nhiệm vụ theo luật định cho vị trí này QTV

Trang 20

CQNNCTQ chỉ định với vai trò là người tiến hành thủ tục phá sản Do đó, QTV phải bảo đảm được cán cân lợi ích không bị thiên lệch: một mặt, giá trị tài sản của con nợ phải được quản lý chặt chẽ, hỗ trợ trong quá trình PHHĐKD; mặt khác, tài sản được thanh lý phải thu lại được giá trị có lợi nhất để phân chia cân bằng cho các chủ nợ Quan điểm này đã được một số quốc gia ghi nhận minh thị, chẳng hạn tại Điều 56.(1)

Luật Phá sản Cộng hòa Liên Bang Đức 1999 quy định: “…Tòa phá sản phải lựa chọn

và chỉ định QTV là một người độc lập tự nhiên phù hợp với vụ việc, có nhiều kinh nghiệm trong các vấn đề kinh doanh và độc lập với các chủ nợ và con nợ” Hay trong

một bản án, Tòa án Dân sự và Thương mại tối cao Cộng hòa Séc cho rằng: “QTV

không phải là một bên tham gia thủ tục phá sản Với tư cách là một chủ thể tiến hành

tố tụng đặc biệt QTV có địa vị độc lập đối với con nợ cũng như đối với các chủ nợ…”.47

Ngoài ra, tư cách độc lập của QTV còn được thể hiện trong mối quan hệ về nhân thân đối với chủ nợ, con nợ và các chủ thể có liên quan đến thủ tục tiến hành tố tụng Thông thường, các quốc gia có xu hướng không công nhận hoặc yêu cầu thay đổi QTV, từ chối thực hiện nếu phát hiện trường hợp này Chẳng hạn, theo pháp luật Hoa

Kỳ thì một trong những yêu cầu bắt buộc của QTV là: “Không có quan hệ thân thuộc

hoặc cùng huyết thống trong phạm vi là anh em họ với bất kỳ nhân viên nào thuộc Văn phòng Hành chính Uỷ thác Hoa Kỳ trực thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, hoặc với bất

kỳ nhân viên nào thuộc Văn phòng Ủy thác Hoa Kỳ ở hạt mà nhân viên đó làm việc”.48

Về pháp luật Việt Nam, QTV phải từ chối thực hiện trong trường hợp: “Là người có

liên quan với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp”, 49 Thẩm phán có thể quyết định thay đổi QTV nếu có căn cứ chứng minh QTV không khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ hay QTV không phải là người thân thích của người tham gia thủ tục phá sản50

Tóm lại, các quy định có tính tạo lập tư cách QTV độc lập trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản đều nhằm mục đích tạo cơ hội cho QTV được phát huy vai trò của mình mà không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố ngoài luồng Từ đó, QTV có những quyết định, hành động đúng đắn, khách quan vô tư và hợp lý hợp tình

thực chất là một bên thứ ba độc lập chịu trách nhiệm tối đa hóa tài sản phá sản” (United States Bankruptcy Court Southern District of Florida (2005), Memorandum decision and order approving stipulation between debtors and trustee, the United States, tr 7)

47 Ďurica, M (2006) Konkurzné právo na Slovensku a v Európskej únii (Dẫn theo: Mária Veterníková – Ján Mišura, tlđd (32), tr 158)

48 Tiều đề 28 Điều 58.3(b)(5) Bộ Quy tắc liên bang

49 Khoản 1 Điều 19 Nghị định 22/2015/NĐ-CP

50 Điềm b khoản 1 Điều 46 và điểm đ khoản 2 Điều 45 LPS 2014

Trang 21

Thứ tư, QTV được chỉ định theo từng vụ việc

Việc chỉ định QTV tham gia giải quyết thủ tục phá sản có thể được thực hiện bởi các chủ thể sau:

 Thông qua Hội đồng các chủ nợ: chẳng hạn, theo Điều 14 và Điều 102.(5) LPS và vỡ nợ Canada 1985, thông qua nghị quyết đặc biệt tại hội nghị chủ nợ, các chủ nợ có quyền chỉ định QTV hoặc thay thế bởi một QTV được cấp phép khác

 Thông qua một CQNNCTQ: chẳng hạn, theo Tiêu đề 11 Điều 701 và Điều

1104 Bộ luật Hoa Kỳ, việc chỉ định QTV sẽ được gia cho ủy thác viên Hoa Kỳ (United

States Trustee) thuộc USTP Các vấn đề liên quan đến việc chỉ định QTV sẽ được

phân tích sâu tại Chương 2

 Thông qua Tòa án: chẳng hạn, theo Điều 74.(1) và Điều 75.(1) LPS Nhật Bản 2004, Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền chỉ định và giám sát QTV Còn theo LPS 2014 của Việt Nam, người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo Điều 5 có quyền đề xuất chỉ định QTV và phải ghi rõ tên, địa chỉ QTV được lựa chọn trong đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều

27, khoản 4 Điều 28 và khoản 2 Điều 29) Sau đó, Tòa án sẽ dựa trên thông tin mà người nộp đơn cung cấp và các căn cứ khác theo quy định pháp luật để ra quyết định chỉ định QTV cho vụ việc phá sản đó (Điều 45)

Để đảm bảo tính thống nhất, pháp luật các quốc gia thường quy định một chủ thể duy nhất thực hiện quyền chỉ định Tuy nhiên, cũng có những quốc gia công nhận

nhiều thẩm quyền kết hợp, chẳng hạn theo pháp luật Ý thì: “Nhiều QTV khác nhau

có thể cùng được triệu tập bởi Tòa án và/hoặc hội đồng các chủ nợ để cùng phối hợp với nhau nhằm mục tiêu chung nhất là tối đa hóa giá trị các tài sản” 51 Tùy vào đặc trưng riêng về nền pháp luật phá sản mà các quốc gia có quan điểm khác nhau về chủ thể chỉ định QTV: hội đồng chủ nợ có quyền chỉ định QTV vì về bản chất, việc quản

lý, thanh lý tài sản là nhằm phân chia tài sản để bảo vệ lợi ích của chủ nợ, do đó việc cho phép chỉ định QTV thể hiện sự ghi nhận quyền lợi và tạo sự an tâm cho chủ nợ Cũng có quốc gia đã xây dựng nền pháp luật phá sản lâu đời cũng như số vụ phá sản hằng năm lớn, do đó, các quốc gia này có xu hướng trao cho một CQNNCTQ khác thực hiện để chuyên môn hóa nghiệp vụ quản lý, thanh lý tài sản Các quốc gia còn lại thì công nhận duy nhất Tòa án có quyền chỉ định QTV vì dấu ấn của chủ thể này

51 J William Boone (2012), International Insolvency: Jurisdictional Comparisons, Nhà xuất bản Sweet &

Maxwell, tr 248

Trang 22

rất mạnh mẽ, với vai trò là chủ thể trung tâm trong thủ tục phá sản, Tòa án tất nhiên

có quyền được chỉ định QTV tham gia vụ việc

Tuy quan điểm về chủ thể chỉ định có sự khác nhau, song các quốc gia đều gặp nhau ở điểm chung là QTV được lựa chọn và chỉ định theo từng vụ việc cụ thể Điều này là dễ hiểu vì các vụ việc phá sản có sự biến thiên muôn hình vạn trạng, mỗi vụ việc lại đòi hỏi những khả năng chuyên môn, kinh nghiệm khác nhau nên các QTV cũng cần phải được lựa chọn linh động Mặt khác, việc xem xét QTV trên từng vụ việc cụ thể là cơ sở để rà soát lại các điều kiện liên quan đến tư cách độc lập của QTV

1.2 Vai trò của quản tài viên trong quá trình phá sản doanh nghiệp

Một trong hai chức năng chủ yếu của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội.52Khi các quan hệ xã hội ngày càng vận động, phát triển và trở nên đa dạng thì nhu cầu cần được điều chỉnh bởi pháp luật cũng nảy sinh Vì vậy, để nhận định được sự cần thiết của pháp luật điều chỉnh một vấn đề nào đó, trước tiên cần phải tiếp cận từ góc nhìn khách quan đối với các quan hệ xã hội đó Để đánh giá chế định QTV cũng không là ngoại lệ, trong mục này, tác giả sẽ tiến hành xem xét bao quát vấn đề đan xen ở cả góc độ về lý luận và thực tiễn như sau:

1.2.1 Về vấn đề điều hòa lợi ích của chủ nợ và con nợ trong quá trình giải quyết phá sản

Ngay từ khi thiết lập các thỏa thuận cho vay, chủ nợ luôn tìm cách đề phòng nhằm hạn chế tối đa rủi ro con nợ không thực hiện đúng cam kết; trong khi con nợ quan tâm đến việc bảo vệ mình trước những hành động ép buộc thực hiện hoặc xâm phạm

từ phía chủ nợ.53 Như vậy, ngay từ vạch xuất phát, giữa hai chủ thể này luôn tồn tại

sự đối lập trong ý chí bảo vệ quyền lợi của mình Bên cạnh đó, giải quyết thủ tục phá sản thực chất xoay quanh việc giải quyết các vấn đề lợi ích về tài sản giữa chủ nợ với con nợ mà chủ yếu là hoạt động quản lý, thanh lý tài sản Vì vậy, một khi đã bắt đầu thủ tục phá sản, thiết chế đối với hoạt động này cũng cần được hình thành

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: ai sẽ là chủ thể thực hiện hoạt động này Chắc chắn không thể là chủ nợ hoặc con nợ Mặc dù, chủ nợ là người cho vay và có quyền yêu cầu nhận lại phần tài sản chính đáng thuộc về mình và con nợ thì lại là người thấu rõ tình trạng tài sản đang nắm giữ nhất Nếu giao cho một trong hai chủ thể này đảm

Trang 23

nhiệm hoạt động quản lý, thanh lý tài sản thì sẽ làm phát sinh những xung đột khác Chẳng hạn, về phía chủ nợ sẽ dễ có mâu thuẫn giữa một với nhiều chủ nợ về quyền, cách thức thực hiện khi cùng tham gia quản lý, thanh lý tài sản Còn con nợ, với tâm thế tìm mọi cách cứu vãn tình hình sẽ dễ dùng tài sản làm đối tượng thực hiện các biện pháp phi pháp như trốn nợ, tẩu tán tài sản, giả mạo giấy tờ v.v.54 Và về Tòa án,

dù được xem là trung tâm giải quyết thủ tục phá sản nhưng cũng thể đảm nhiệm tốt được vai trò này.55

Ngoài mâu thuẫn về lợi ích tài sản, giữa con nợ và chủ nợ cũng có sự đối nghịch

về tâm lý Trong khi chủ nợ nhận thấy khả năng thu hồi các khoản nợ càng mong manh thì càng có xu hướng thúc giục vội vã để “có còn hơn không” và lo sợ liệu con

nợ có thiện chí, trung thực để thanh toán theo thủ tục phá sản hay không Còn con nợ thì vẫn chần chừ “còn nước còn tát”, phần vì sợ tuyên bố phá sản thì sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng, uy tín, phần vì chưa có phương hướng cụ thể để thanh toán các khoản

nợ

Như vậy, tâm lý giữa chủ nợ và con nợ rất đối nghịch nên không thể tránh khỏi

các hành vi gian dối về tài sản (frauds) của con nợ trong phá sản nhằm trốn tránh thực

hiện nghĩa vụ thanh toán với chủ nợ Dù đã manh nha có những quy định từ thời pháp luật Roma về con nợ và chủ nợ,56 nhưng trên thực tế, pháp luật phá sản bắt đầu quan tâm đến việc phòng ngừa và ngăn chặn con nợ lừa dối chủ nợ sớm nhất là từ thời Trung cổ, tiêu biểu như Luật chống lại những kẻ phá sản của Anh đã trừng phạt các con nợ bằng cách bỏ tù và có thể sẽ lấy đi một bên tai nếu con nợ không chứng minh được lý do duy nhất dẫn đến phá sản là vì kém may mắn.57 Ngoài ra, pháp luật Anh cũng trao quyền cho các ủy viên điều tra xem liệu các con nợ này có che giấu tài sản hay không.58 Những hình phạt hà khắc này thiếu tính nhân đạo và thực tế, đã giới hạn quyền của con nợ, không quan tâm rằng con nợ đó lừa dối hay trung thực và không làm vơi bớt sự mâu thuẫn giữa con nợ và chủ nợ Đồng thời, nó cũng không mang lại hiệu quả khi đến đầu thế kỷ XVIII, các hành vi gian dối trong phá sản đã trở thành tội phạm chủ yếu trong xã hội.59 Các tội phạm phá sản được xếp vào nhóm tội phạm

57 Michael D Sousat (2011), “A Delicate Balancing Act: Satisfying the Fourth Amendment While Protecting

the Bankruptcy System from Debtor Fraud”, Yale Journal on Regulation, Volume 28/2011, tr 369, 370

58 Michael D Sousat, tlđd (57), tr 370

59 Stephanie Wickouski (2007), Bankruptcy Crimes, Nhà xuất bản Beard Books, tr 5

Trang 24

cổ cồn trắng (white – collar crime)60 với các hình thức vi phạm tinh vi và có tổ chức.61

Bộ luật Hoa Kỳ cũng đã quy định các tội phạm phá sản từ Điều 152 đến Điều 157 tại Tiêu đề 18

Cho đến thế kỷ XIX, pháp luật Anh và Hoa Kỳ bắt đầu công nhận sự phân định riêng biệt giữa các con nợ gian dối với các con nợ thành khẩn.62 Thay vào đó, vai trò của QTV bắt đầu có sự tách biệt với vai trò của các ủy viên và dần được củng cố bởi các quy định về quyền hạn của QTV trong vụ việc phá sản Đặc biệt, quyền và nghĩa

vụ của QTV nhằm ngăn chặn các giao dịch chuyển nhượng gian dối cũng được quy định chi tiết tại Điều 548 Tiêu đề 11 của Bộ luật Hoa Kỳ Những quy định này đã cho phép QTV được thực hiện các quyền và nghĩa vụ trên thực tế kịp thời và tránh được các hành vi gian lận từ con nợ trong từng vụ việc cụ thể, chẳng hạn như trong vụ việc sau63:

Norman Barman là con nợ nộp đơn yêu cầu phá sản, kèm theo đơn, anh ta liệt kê

tài sản duy nhất của mình là “bộ trang phục trị giá 500 đô la Mỹ” (wearing apparel

worth $500) Tuy nhiên, QTV đã có đơn cáo buộc các giao dịch chuyển nhượng gian

dối các tài cá nhân nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán đối với các chủ nợ Cụ thể, Barman đã gian dối chuyển nhượng tiền cho vợ để mua nhà tại Warren và Milford, Michigan cũng như che giấu các tài sản khác thuộc tài sản phá sản thông qua các giao dịch chuyển nhượng đứng tên các chủ thể khác Đồng thời, QTV cũng đệ đơn yêu cầu Tòa án cho phép được đến tận nơi ở để “kiểm tra, kiểm kê và thẩm định tài sản

cá nhân” vì cho rằng “con nợ sẽ cố che giấu các tài sản tại nhà nếu được thông báo trước” Yêu cầu này đã được thẩm phán Tòa án chấp nhận và cho tiến hành Tòa án cũng nhận thấy rằng QTV sẽ không hoàn thành trọn vẹn các nghĩa vụ theo luật định

để quản lý toàn bộ tài sản phá sản nếu không kiểm tra nơi ở của con nợ Điều này cho thấy Tòa án luôn tạo điều kiện để QTV được thể hiện quyền năng của mình trong việc kiểm soát, ngăn chặn và tố cáo các hành vi gian dối dẫn đến các tội phạm hình

sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thu hồi nợ của chủ nợ

Từ những phân tích trên cho thấy: QTV là một cơ chế trung gian ra đời để thực hiện hoạt động quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình phá sản để giúp chủ nợ thu

60 Criminal Justice Information Services (CJIS) (2002), The Measurement of White-Collar Crime Using Uniform Crime Reporting (UCR) Data, the United States, tr 1 [Theo Cục Điều tra Liên bang (FBI), tội phạm

cổ cồn trắng là những hành vi bất hợp pháp do cá nhân hoặc doanh nghiệp thực hiện, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, có đặc trưng là sự lừa dối, che giấu hoặc vi phạm lòng tin để trốn tránh nghĩa vụ thanh toán và đạt được các lợi ích cá nhân hoặc lợi ích tài chính]

61 Roger LeRoy Miller (2014), Cengage Advantage Books: Business Law: Text & Cases - An Accelerated Course, Nhà xuất bản Cengage Learning, tr 141

62 Michael D Sousat, tldđ (57), tr 370

63 In Re Barman, 252 B.R 403 (Bankr E.D Mich 2000)

Trang 25

hồi các khoản nợ hiệu quả và con nợ cũng có thể rút lui một cách an toàn, thậm chí

Về bản chất thì các công việc này thể hiện chức năng điều khiển và hướng đến giải quyết các vấn đề pháp lý trong thủ tục phá sản.65 Tuy nhiên, phá sản là một thủ tục

có quan hệ chặt chẽ về kinh tế và có sức ảnh hưởng đến nhiều chủ thể khác Vì vậy, ngoài các vấn đề pháp lý thuộc chuyên môn nghiệp vụ của Tòa án thì còn cần một chủ thể khác am hiểu chuyên sâu về kinh tế để thực hiện vai trò quản lý, thanh lý tài sản

Trước khi đạt được mục tiêu phân chia tài sản, ngoài những thủ tục khác về mặt pháp lý kể trên, chính kết quả từ hoạt động quản lý, thanh lý tài sản là cơ sở để Tòa

án đưa ra quyết định phân chia tài sản Sau đó, tại một số quốc gia, cơ quan thi hành

án sẽ dựa trên quyết định của Tòa án để tiến hành phân chia Như vậy, hoạt động của QTV như là một khâu thiết yếu trong chuỗi trình tự giải quyết phá sản Thông qua các quy định pháp luật, Tòa án có căn cứ để giám sát các hoạt động của QTV, đảm bảo QTV đi đúng hướng để hỗ trợ kết thúc vụ việc phá sản Điều này hoàn toàn phù hợp với chức năng điều khiển của Tòa án và giúp Tòa án giảm bớt được khối lượng công việc đáng kể, nhất là Tòa án tại các nước có lượng đơn yêu cầu phá sản cao Đồng thời, những quyết định mang tính chất bắt buộc của Tòa án và trách nhiệm công việc của QTV sẽ tạo nên sự cộng hưởng lớn khiến vụ việc phá sản được giải quyết công bằng, hiệu quả và nhanh chóng

Mặt khác, cũng cần nhìn nhận rằng, quá trình phát hiện và chứng minh các hành

vi gian dối của con nợ đòi hòi nhiều công sức và thời gian.66 Theo báo cáo về vấn đề

64 Adam J Levitin (2015), Business Bankruptcy: Financial Restructuring and Modern Commercial Markets,

Nhà xuất bản Wolters Kluwer, tr 9, 10

65 Dương Đăng Tuệ (2005), tldđ (4), tr 42

66 Kroll (2015), Global Fraud Report: Vulnerabilities on the Rise, the United States, tr 20

Trang 26

gian dối toàn cầu năm 2015, do Kroll67 và EIU68 thực hiện đã chỉ ra những thách thức phổ biến trong công tác điều tra khi có cáo buộc về hành vi gian dối trong phá sản69,

từ đó đưa ra kết luận cần có một hệ thống kết hợp các nghiệp vụ để phối hợp giải quyết hiệu quả vấn đề.70 Do đó, ngoài sự phối hợp giữa Tòa án và QTV (như ví dụ nêu trên), việc xử lý các trường hợp gian dối trong phá sản còn đòi hỏi sự tham gia

từ nhiều chủ thể khác nhau Trong báo cáo gửi đến Quốc hội về vấn đề tố giác tội phạm năm tài chính 2018 của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, các nỗ lực trong công tác phòng chống gian dối và các vi phạm khác trong phá sản đã được đề cập Theo đó, ngoài USTP là chủ thể xác định và giới thiệu để điều tra, truy tố hành vi gian dối trong phá sản và các tội phạm có liên quan đến phá sản71, nhiều chủ thể khác cũng được ghi nhận có sự phối hợp để giải quyết các vấn đề gian dối phá sản, có thể kể đến như: các lực lượng đặc nhiệm, các bộ trưởng, hòm thư tố giác hành vi gian dối trực tuyến v.v.72

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra kết luận: QTV là một nhân tố quan trọng trong từng vụ việc phá sản, tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần đặt trong mối quan hệ tương quan với các cơ quan thực hiện nhiệm vụ khác Các thông tin vụ việc được xem xét và phản hồi từ QTV là nguồn chính yếu để USTP sử dụng trong việc nhận diện hành vi gian dối, để từ đó có thể kịp thời nắm bắt và nhờ đến sự hỗ trợ của các chủ thể khác khi xét thấy cần thiết Vì vậy, cần có nhận định đúng đắn về QTV là một mắt xích không thể tách rời trong hệ thống phòng chống các hành vi gian dối trong phá sản Bức tranh hiện thực sinh động từ Anh và Hoa Kỳ – hai quốc gia có nền pháp luật phá sản lâu đời trên thế giới chính là minh chứng sống cho sự cần thiết ra đời của chế định QTV và đồng thời là bài học kinh nghiệm đối với các quốc gia đang từng bước xây dựng pháp luật phá sản

1.2.3 Về vấn đề xây dựng các thiết chế phi chính phủ theo xu hướng chung của thế giới

Sự phát triển của một nền kinh tế còn được thể hiện ở sự hiện diện của nhiều thiết chế phi chính phủ do các nhà kinh doanh thành lập, chẳng hạn, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì ngoài các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hiệp hội ngành

69 Những thách thức phổ biến được chỉ ra bao gồm: tình trạng con nợ hung hăng và bất hợp tác, thiếu kinh phí

để điều tra toàn diện, hồ sơ bị thiếu và/hoặc không được cung cấp đầy đủ và khung thời gian bị giới hạn (Kroll, tlđd (66), tr 20)

Trang 27

hàng v.v còn có tổ chức của các chuyên gia quản lý tài sản.73 Họ là những người đã đáp ứng đủ các điều kiện để hành nghề QTV và được xem là những người hành nghề độc lập, tự do trong việc giải quyết thủ tục phá sản và không thuộc bộ máy cơ quan nhà nước Điều này cũng chứng tỏ, những hoạt động vốn thuộc chức năng của Nhà nước đã được xã hội hóa ở mức độ cao trong những hoạt động mang tính nghề nghiệp, không nhất thiết phải sử dụng đến quyền lực nhà nước.74

Xu hướng này phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội năng động như hiện nay, nhất là tại các quốc gia phát triển có tỷ lệ các vụ việc phá sản cao và đem lại nhiều kết quả đáng kể Trước hết, Nhà nước sẽ tiết kiệm được nguồn nhân lực thuộc bộ máy nhà nước trong các hoạt động liên quan đến quản lý, thanh lý tài sản,

từ đó nguồn nhân lực này có nhiều thời gian và cơ hội để tập trung nâng cao nghiệp

vụ pháp lý Mặt khác, QTV còn là người được đánh giá phải thông thạo nhiều nghiệp

vụ chuyên môn, đặc biệt là tài chính doanh nghiệp kế toán, định giá và các quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp.75 Dù là các cá nhân không thuộc cơ quan nhà nước, nhưng thông qua sự công nhận tồn tại và các khuôn khổ pháp luật được thiết lập, Nhà nước hoàn toàn có thể theo dõi, giám sát kịp thời các hoạt động của QTV

Do đó, Nhà nước sẽ tận dụng được đội ngũ này để đạt được chất lượng ưu việt đối với các bên trong thủ tục phá sản và cả xã hội

1.3 Khái quát một số nội dung pháp luật quy định về quản tài viên

1.3.1 Quản lý nhà nước đối với quản tài viên

Bất kì một thủ tục nào nhằm giải quyết các vấn đề theo luật định cũng cần được xây dựng một cách có hệ thống thông qua hoạt động quản lý nhà nước Điều này sẽ đảm bảo các quy trình được tiến hành có tổ chức, phân tách trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức thực hiện nhằm đẩy vấn đề được giải quyết đúng tiến độ và đạt kết quả Đối với pháp luật về QTV, yêu cầu này cũng được đặt ra và thể hiện rõ trên các khía

cạnh:

1.3.1.1 Hệ thống quản lý quản tài viên

Hệ thống quản lý QTV được xây dựng bởi các chủ thể có thẩm quyền trong mối liên hệ tương hỗ về chức năng và nhiệm vụ Tức các chủ thể đều thực hiện các hoạt động trong quá trình phá sản để đảm bảo hoạt động của QTV luôn được kiểm soát

73 Lê Tuấn Anh (2013), Vai trò của Tòa án trong giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, Luận văn thạc sĩ

luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 26

74 Đặng Văn Huy (2011), “Chủ thể quản lý tài sản phá sản - sự lựa chọn mô hình trong pháp luật phá sản Việt

Nam”, Tạp chí Nghề luật, số 1/2011, tr 21

75 Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), “Luật hóa nghề quản tài viên”, http://www.vacpa.org.vn/Page/Detail.aspx?newid=4751, truy cập ngày 21/3/2020

Trang 28

Tùy vào quy định của mỗi quốc gia mà khả năng quản lý QTV của các chủ thể này là bao quát hay trực tiếp Thông thường, hệ thống quản lý QTV có thể bao gồm:

 Tòa án: là chủ thể có vai trò điều khiển và quán xuyến mọi hoạt động trong thủ tục phá sản Tòa án có thể là người trực tiếp chỉ định và giám sát QTV trong từng

vụ việc cụ thể hoặc chỉ nhận các thông báo về QTV thông qua một cơ quan giám sát khác

 Bộ Tư pháp/ Sở Tư pháp: là chủ thể thường có nhiệm vụ quản lý các hoạt động hành chính liên quan đến QTV, chẳng hạn: cấp chứng chỉ hành nghề QTV, quản

lý về số lượng QTV, đăng các báo cáo/thông báo công khai v.v Ngoài ra, Bộ Tư pháp còn có thẩm quyền chỉ định nhân lực của cơ quan giám sát hoạt động của QTV (nếu có)

 Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động của QTV: là một CQNNCTQ, được thành lập như một nhánh riêng biệt với mục đích nhằm giám sát QTV trong một giai đoạn hoặc toàn bộ quy trình hoạt động của QTV Bên cạnh đó, cơ quan này có thể cử

ra một cá nhân trực thuộc để thực hiện chỉ định và giám sát QTV

1.3.1.2 Vấn đề chỉ định và cơ chế giám sát quản tài viên

Chỉ định và giám sát QTV là hai vấn đề trọng yếu và diễn ra xuyên suốt khi nói đến hoạt động quản lý QTV Thực chất, đây là một phần gắn liền với hệ thống quản

lý vừa được đề cập Vấn đề này cần được làm rõ thông qua các yếu tố như: chủ thể

có thẩm quyền thực hiện, thời điểm chỉ định, số lượng QTV được chỉ định và cách thức giám sát Việc làm rõ các yếu tố này sẽ lý giải cách vận hành của hệ thống quản

lý QTV Mặt khác, đây chính là tiền đề để đối chiếu, so sánh các quy định pháp luật đối có phù hợp với thực tiễn hay không

1.3.1.3 Vấn đề quản lý thông tin liên quan và đào tạo quản tài viên

Các thông tin liên quan đến QTV có thể bao gồm: các tài liệu hướng dẫn, tham khảo; danh sách, thông tin cá nhân của QTV; các biểu mẫu, dữ liệu thống kê v.v để QTV và những chủ thể quan tâm khác tiếp cận Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo là con đường cần thiết để tăng trưởng kinh tế cao

và ổn định.76 Với vai trò là nguồn nhân lực quan trọng và cần thiết trong thủ tục phá sản, QTV cũng cần được đảm bảo trau dồi kiến thức, kỹ năng thường xuyên để đáp ứng được tính chất công việc phức tạp

76 Lê Thị Thu, “Về công tác đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay”, https://www.quanlynhanuoc.vn/2019/07/18/ve-cong-tac-dao-tao-nguon-nhan-luc-o-nuoc-ta-hien-nay/, truy cập ngày 24/3/2020

Trang 29

1.3.2 Vai trò của quản tài viên trong vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài (phá sản xuyên quốc gia)

Trong bối cảnh nền kinh tế xuyên biên giới ngày càng bùng nổ, bên cạnh những mặt tích cực về hợp tác, đầu tư thì cũng sẽ kéo theo việc có nhiều chủ thể không chịu được áp lực cạnh tranh và dẫn đến phá sản Vì vậy, nhu cầu thiết lập khung pháp lý

để điều chỉnh thống nhất quy trình phá sản giữa các quốc gia trở nên tất yếu Theo

đó, UNCITRAL đã xây dựng Luật mẫu UNCITRAL nhằm hỗ trợ các quốc gia77 trong việc trang bị khung pháp lý để điều chỉnh thủ tục phá sản xuyên quốc gia.78 Cũng cần hiểu rằng, mục đích của Luật mẫu UNCITRAL không nhằm thống nhất pháp luật phá sản của các quốc gia khác nhau, mà tập trung vào việc khuyến khích hợp tác và phối hợp giữa các quốc gia để cùng giải quyết theo một hướng đi chung.79 Các quy định trong Luật mẫu UNCITRAL được thể hiện rất rõ vai trò trung tâm của quản tài viên nước ngoài (QTVNN) trong thủ tục phá sản xuyên quốc gia Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích để soi chiếu mức độ hiệu quả khi áp dụng trên thực tế của các nước đi trước Từ đó, các quốc gia có sự cân nhắc, chọn lọc để áp dụng xây dựng pháp luật về QTV nói riêng và pháp luật về pháp luật phá sản xuyên quốc gia nói chung

Ngoài ra, như đã phân tích, QTV được thiết lập theo cơ chế phi chính phủ đã đem lại nhiều lợi ích, thuận lợi trong việc giải quyết thủ tục phá sản của một quốc gia Do

đó, nếu QTV được công nhận và hiện diện trong pháp luật phá sản xuyên quốc gia, những lợi ích này sẽ được thu được trên phạm vi quốc tế, giúp thủ tục phá sản đi đến hồi kết nhanh chóng, hiệu quả hơn

77 Tính đến nay đã có 46 quốc gia và vùng lãnh thổ xây dựng pháp luật phá sản xuyên quốc gia dựa trên Luật mẫu UNCITRAL (Xem thêm tại: https://uncitral.un.org/en/texts/insolvency/modellaw/cross- border_insolvency/status)

78 Financier Worldwide Magazine, “The impact of the UNCITRAL Model Law on Cross-Border Insolvency

the-european-insolvency#.Xoosix83vIU, truy cập ngày 27/3/2020

https://www.financierworldwide.com/the-impact-of-the-uncitral-model-law-on-cross-border-insolvency-and-79 Financier Worldwide Magazine, tlđd (78)

Ngày đăng: 19/05/2021, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Phá sản (Luật số 51/2014/QH13) ngày 19/6/2014 Khác
2. Luật Phá sản (Luật số 21/2004/QH11) ngày 15/6/2004 Khác
3. Luật Phá sản Doanh nghiệp (Luật số 30-L/CTN) ngày 30/12/1993 Khác
4. Luật Đầu tư (Luật số 67/2014/QH13) ngày 26/11/2014 Khác
6. Thông tư số 03/2019/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 20/3/2019 về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w