Viết về cuộc đời, con người, tính cách Quang Dũng, có thể kể đến: Quang Dũng, người thơ của Nguyễn Đăng Mạnh, Quang Dũng, đôi nét đời thường của Lê Khánh, Áng mây trắng xứ Đoài-Quang Dũn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VŨ THỊ MINH HẢI
PHONG CÁCH THƠ QUANG DŨNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
DỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHAN HUY DŨNG
VINH, 12/2010
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài………
2 Lịch sử vấn đề………
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu………
4 Nhiệm vụ nghiên cứu………
5 Phương pháp nghiên cứu………
6 Đóng góp của luận văn………
7 Cấu trúc luận văn………
CHƯƠNG 1 VỊ TRÍ CỦA QUANG DŨNG TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1.1 Cuộc đời và hành trình thơ của Quang Dũng………
1.1.1 Cuộc đời ………
1.1.2 Hành trình thơ………
1.1.3 Quan niệm thơ của Quang Dũng………
1.2 Vị trí của Quang Dũng trong nền thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 1.2.1 Đội ngũ các nhà thơ “thế hệ chống Pháp” ………
1.1.2 Đặc điểm thẩm mỹ của thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 1.1.3 Một phong cách giữa nhiều phong cách đa dạng ………
1.3 Ảnh hưởng của Quang Dũng trong thơ của các nhà thơ lớp sau………
1.3.1 Ảnh hưởng của Quang Dũng trong thơ của các nhà thơ “thế hệ chống Mỹ”………
1.3.2 Ảnh hưởng của Quang Dũng trong thơ của các nhà thơ đô thị miền Nam 1954-1975………
1.3.3 Sức hấp dẫn của thơ Quang Dũng trong học đường hiện nay……
Trang 3CHƯƠNG 2 PHONG CÁCH THƠ QUANG DŨNG THỂ HIỆN QUA ĐỀ TÀI, CẢM HỨNG, HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG
2.1 Đề tài chính của thơ Quang Dũng………
2.1.1 Đề tài phiêu lãng giang hồ………
2.1.2 Đề tài chiến tranh………
2.1.3 Đề tài quê hương, đất nước………
2.2 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Quang Dũng………
2.2.1 Cảm hứng phiêu du………
2.2.2 Cảm hứng ngợi ca………
2.2.3 Cảm hứng hiện thực………
2.3 Thế giới hình tượng trong thơ Quang Dũng………
2.3.1 Hình tượng cái tôi trữ tình ………
2.3.2 Hình tượng người chiến sĩ………
2.3.3 Hình tượng quê hương, đất nước………
2.3.4 Hình tượng người phụ nữ………
CHƯƠNG 3 PHONG CÁCH THƠ QUANG DŨNG QUA CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN 3.1 Các thể thơ quen thuộc trong thơ Quang Dũng………
3.1.1 Thơ năm chữ………
3.1.2 Thơ bảy chữ………
3.1.3 Thơ tự do………
3.2 Giọng điệu thơ Quang Dũng………
3.2.1 Giọng hoài cổ………
3.2.2 Giọng tâm tình sâu lắng………
3.2.3 Giọng hào hùng………
3.3 Ngôn từ thơ Quang Dũng………
Trang 43.3.1 Lớp từ biểu cảm……….
3.3.2 Lớp từ tả thực………
3.3.3 Việc sử dụng từ Hán Việt và địa danh………
KẾT LUẬN………
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cách mạng Tháng tám thành công mở ra một kỉ nguyên mới, kỷ nguyên độc
lập tự do cho dân tộc Từ đây, cả đất nước bắt tay vào xây dựng nhà nước mới vàchuẩn bị cho cuộc kháng chiến mới chống kẻ thù xâm lược Cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mĩ kéo dài ba mươi năm là đề tài và nguồn cảm hứng lớnlao cho văn học cũng như thơ ca cách mạng Từ hiện thực cách mạng, đội ngũ nhàvăn nhà thơ dần hình thành cho mình một phong cách riêng biệt Quang Dũng là lớpnhà thơ mới trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) cùng vớimột số các nhà thơ khác như Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Bàn Tài Đoàn,Nông Quốc Chấn… đã đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của thơ ca dân tộc,
là lớp “nhà thơ mặc áo lính”, từ hiện thực mà ra, từ hiện thực mà đi lên Tiếp tụcmạch thơ lãng mạn trước cách mạng (thơ mới 1932-1945), đến giai đoạn kháng chiếnchống Pháp và về sau này này, trong tất cả các sáng tác của mình, thơ Quang Dũng
đã định hình cho mình một phong cách riêng biệt, một nét riêng độc đáo hấp dẫn vàthu hút sự chú ý của người đọc
1.2 Nếu như có thời người ta biết đến Quang Dũng với một bài thơ Tây Tiến và
nhắc đến Tây Tiến là nhớ ngay tới Quang Dũng thì giờ đây sự hiểu biết về Quang Dũng đã được bổ sung rất nhiều Đã có một thời Tây Tiến của Quang Dũng cùng với
Màu tím hoa sim của Hữu Loan bị xem là những bài thơ “mộng rớt”, “buồn rớt”, là
biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản làm nhụt ý chí cách mạng của các chiến sĩ nơichiến trường Qua năm tháng, qua thời gian, vai trò và vị trí của thơ Quang Dũngtrong nền thơ ca cách mạng càng ngày càng được khẳng định Quang Dũng là người
đa tài Ông thể hiện tài năng của mình trên nhiều thể loại nhưng thơ ca có vị trí đặcbiệt quan trọng trong sự nghiệp văn học của ông Thơ Quang Dũng để lại khôngnhiều, thậm chí là “ít ỏi đến khiêm nhường” Quang Dũng để lại khoảng gần năm
Trang 6mươi bài thơ, người đọc dễ dàng nhận ra điều đó qua hai tập thơ tiêu biểu của ông:
tập Mây đầu ô (1986) là tập thơ đầu tiên và là món quà của người bạn thân nhất Trần
Lê Văn biên soạn trong những ngày Quang Dũng chống chọi với căn bệnh bại não
của mình và Tuyển tập Quang Dũng (2000) cũng do Trần Lê Văn tuyển chọn Nhưng
“trong con số không nhiều ta nhận ra một thông tin trái lại: ít nhưng thực ra là đãnhiều… giá trị văn chương lại không tỉ lệ thuận với số lượng “[8, 30] Sự nhìn nhậncủa độc giả và sự đánh giá nhận xét của các nhà nghiên cứu văn học có lẽ là phầnthưởng quý giá nhất cho sự đóng góp của Quang Dũng trong những năm tháng qua
1.3 Hiện nay, thơ Quang Dũng đã được đưa vào học chính thức trong chương
trình phổ thông (Ngữ văn 12) Điều đó chứng tỏ Quang Dũng có một vị trí quan trọng
trong nền thơ ca cách mạng, đặc biệt thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 Tuy
nhiên một vài nét về tiểu sử được giới thiệu trong phần Tiểu dẫn chưa giúp học sinh
và những người yêu mến Quang Dũng có thể hiểu và nhìn nhận một cách sâu sắc hơn
về ông cũng như thơ ca của ông Xung quanh cuộc đời và những sáng tác của QuangDũng có rất nhiều ý kiến nhiều bài viết khác nhau, khen có, chê có, có lúc cao tràocũng có lúc thoái trào, ở mỗi thời kì đều có những nhìn nhận khác nhau nhưng dù ởmức độ nào đi chăng nữa thì thơ ca Quang Dũng cũng là phần tinh túy của một đờingười, một con người Thơ Quang Dũng mang một nét phong cách riêng, một nét cátính riêng độc đáo không thể nhầm lẫn tuy vẫn nằm trong mạch thơ ca chung của dântộc Vẫn là một Quang Dũng hào hoa “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, vẫn là một
con người ham đi, lãng đãng, lang thang như “mây đầu ô” đó
Với tất cả ý nghĩa đó chúng tôi lựa chọn đề tài Phong cách thơ Quang Dũng
làm đề tài luận văn của mình dẫu biết là không đơn giản chút nào Thơ ca QuangDũng xứng đáng được nghiên cứu và nhìn nhận một cách có hệ thống, sâu sắc vàtoàn vẹn
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Vấn đề nghiên cứu phong cách và phong cách nghệ thuật.
Trang 7Ở nước ta hiện nay, các nhà nghiên cứu đã và đang có những cố gắng lớn trongviệc nghiên cứu lý thuyết phong cách, từ đó đi sâu khảo sát và nghiên cứu những hiệntượng phong cách cụ thể Có rất nhiều những công trình nghiên cứu về vấn đề này và
có những cách cắt nghĩa, lý giải khác nhau
G.S Phan Ngọc trong công trình nghiên cứu Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du
trong Truyện Kiều (Nxb Lao động, 2009) cho rằng: “Phong cách là một cấu trúc hữu
cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựngmột giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác
phẩm, hay một tác giả” [64, 341 ] Theo đó, ông quan niệm “Phong cách không trùng
với thời đại”, cũng “không đồng nhất với thể loại”
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ
biên (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000) định nghĩa: “Phong cách nghệ thật là mộtphạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng củacác phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sang tác của mộtnhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc khác”
[34, 212] Trong nghĩa rộng: “Phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây
dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có thể cảm nhậnđược, một giọng điệu sắc thái thống nhất” [34, 212 ] Theo cách hiểu này phong cáchnghệ thuật và phong cách ngôn ngữ là hai phạm trù khác nhau Phong cách nghệthuật bao gồm phong cách thời đại, phong cách của trào lưu và dòng văn học, phongcách dân tộc, phong cách cá nhân của tác giả Tuy nhiên “phong cách của nhà văncũng mang dấu ấn của dân tộc và của thời đại… Không phải bất cứ nhà văn nào cũng
có phong cách Chỉ những nhà văn có tài năng có bản lĩnh mới có được phong cáchriêng độc đáo” [34, 213]
PGS.TS Biện Minh Điền trong công trình nghiên cứu rất công phu của mình là
Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008) cũng
cho rằng phong cách ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật là hai phạm trù khác nhau,
dù rằng “cả hai đều phải quan tâm đến ngôn ngữ” “Tìm hiểu phong cách một nhà
Trang 8văn dĩ nhiên phải tìm hiểu qua hệ thống ngôn ngữ mà nhà văn sử dụng trong tácphẩm Tuy nhiên ngôn ngữ cũng chỉ là một trong rất nhiều yếu tố của hệ thống cácyếu tố cấu thành nên phong cách nhà văn” [28, 25].
Sách Ngữ văn 12 (Nxb Giáo dục, 2009) định nghĩa: “Phong cách là những nét
riêng biệt độc đáo của một tác giả trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống,những nét độc đáo ấy thể hiện trong tất cả các yếu tố nội dung và hình thức của từngtác phẩm cụ thể” [96, 181 ] Phong cách thể hiện trước hết “ở cách nhìn, cách cảmthụ có tính chất khám phá, ở giọng điệu riêng biệt của tác giả”, ở “việc lựa chọn đềtài, xác định chủ đề, thể hiện hình ảnh nhân vật cho đến xác lập tứ thơ, triển khai cốttruyện”… Cho rằng “Phong cách văn học (hay phong cách nghệ thuật) là cái thốngnhất trong sự đa dạng của sáng tác Cái độc đáo, vẻ riêng phải xuất hiện thườngxuyên, lặp đi lặp lại, có tính chất bền vững, nhất quán Thống nhất từ cốt lõi, nhưngtriển khai phải đa dạng, đổi mới” [96, 182]
2.2 Vấn đề nghiên cứu Quang Dũng và thơ Quang Dũng.
Về cuộc đời và tác phẩm của Quang Dũng, có khá nhiều bài viết Mỗi bài viết đềcập một khía cạnh trong cuộc đời cũng như trong thơ ca, văn xuôi của Quang Dũng.Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy có những bài viết nổi bật như sau:
2.2.1 Viết về cuộc đời, con người, tính cách Quang Dũng, có thể kể đến: Quang
Dũng, người thơ của Nguyễn Đăng Mạnh, Quang Dũng, đôi nét đời thường của Lê
Khánh, Áng mây trắng xứ Đoài-Quang Dũng của Văn Giá, Người thơ Quang Dũng của Thanh Châu, Quang Dũng, con người hồn hậu, ngòi bút tài hoa của Ngô Quân Miện, Nghĩ về thơ bạn và lời giới thiệu Tuyển tập Quang Dũng của Trần Lê Văn,
Cuộc đời và sự nghiệp Quang Dũng của Lê Bảo… Nhìn chung những bài viết này đã
cung cấp cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc, rõ nét hơn về cuộc đời, tính cách và conngười Quang Dũng cũng như những ảnh hưởng của nó tới thơ ca ông
Trong bài Người thơ Quang Dũng đăng trong Tuyển tập Quang Dũng, tác giả
Thanh Châu đã giúp chúng ta nhận biết nhà thơ Quang Dũng vốn là người có thúngao du, có máu giang hồ nghệ sĩ Thanh Châu cho rằng vốn bản chất Quang Dũng
Trang 9đã là “người thơ” Quang Dũng là “người suốt đời ưa ngao du sơn thủy, luôn bực tứcphố nhà chật hẹp, hễ có dịp rỗi rãi hay đi công tác là rủ bạn đi bất cứ nơi đâu [93, 16].
Đi chơi với Quang Dũng là một cái thú, “miễn là thoát ra khỏi thành phố”, “đến địaphương nào, Quang Dũng cũng hồ như đã có người quen từ trước, hoặc mới làmquen thoải mái” Bản thân “Quang Dũng xuất thân từ một gia đình khá giả nhưng cốtcách lại là một kẻ bình dân chẳng tham thanh chuộc lạ Gặp anh bao giờ cũng giàyvải, mũ nan, y phục chả có gì nổi bật giữa mọi người” [94, 17] Thơ văn anh “thoảngmùi thơm quê mùa… Đó là văn phong một con người còn nhiều dây mơ rễ má gắnmình với gốc rễ ông cha nông nghiệp và dù đi đến đâu, lòng anh bao giờ cũng quay
về nỗi nhớ nhưng vùng đất đá ong cằn cỗi Sơn Tây, với cánh đồng Bương Cấn, vớinúi Sài Sơn, mây trắng xứ Đoài bay ngang đỉnh núi Ba Vì” [94, 17]
Bài viết Quang Dũng, con người hồn hậu, ngòi bút tài hoa cũng đăng trong
Tuyển tập Quang Dũng của tác giả Ngô Quân Miện là một cái nhìn đầy nhân văn về
Quang Dũng Theo ông, trong cuộc sống Quang Dũng luôn “là một tâm hồn nghệ sĩ
thuần hậu, đầy tính dân dã Đi bộ đội, đi công tác, đi sơ tán, đi viết văn, đến đâu anhcũng hòa hợp ngay với những chòm xóm, với người quê, cảnh quê, say sưa hít thở cáikhông khí thôn dã, sống cái tính đồng ruộng chân mộc Quang Dũng sống hồn hậu,
và rất giản dị Với bạn bè, anh rất thật và cởi mở, mong được trao đổi tâm sự vuibuồn Tình bạn với anh cần như khí trời” [93, 12] Bài viết này cũng cho chúng ta
biết thêm một Quang Dũng có “máu giang hồ”, bên cạnh chất hào hoa, lãng tử lại là
một con người hào hiệp: “Tinh thần hào hiệp có hơi hướng cổ xưa ấy biểu hiện ngaytrong sự tinh khiết của tình yêu” [93, 13 ] khi tác giả bài viết đề cập tới sự ra đời của
ba bài thơ gắn liền với cuộc tình của Quang Dũng với “cô gái vườn ổi” Một đặc tínhnữa của con người Quang Dũng nữa là “cái duyên trào phúng, hóm hỉnh Trong cuộcsống hàng ngày, anh thường hay pha trò rất vui… Trong văn xuôi, cái duyên hómhỉnh của anh rất rõ trong nhiều bút kí” [93, 14 ]
Áng mây trắng xứ Đoài-Quang Dũng của tác giả Văn Giá (Viết cùng bạn đọc,
Nxb Hội Nhà văn, 2008) có thể được xem như một bài nghiên cứu sâu sắc về con
Trang 10người Quang Dũng cũng như những tác phẩm thơ ca của ông Tác giả có những cáchnhìn nhận đánh giá về chân dung Quang Dũng từ cuộc đời, từ tâm hồn Theo ông,Quang Dũng “sinh ra để làm một kiếp mây, hình ảnh mây đã ám ảnh vào số phận thi
ca này như một định mệnh như một phán quyết của thượng giới vô hình không thểcưỡng lại ngay từ hồi mới bước vào nghiệp thơ kia… Ông cứ làm một áng mây trắng
xứ Đoài hồn nhiên lang thang từ làng ra phố, hết phố lên rừng, rồi lại từ rừng vềphố… là áng mây trắng không hơn không kém…” [30, 5] Quang Dũng là ngườithích đi, say đi, hễ có dịp là đi, thời gian xa nhà nhiều hơn lúc ở nhà “chân dungngười chiến sĩ trong thơ Quang Dũng cùng với cái ngang tàng, hùng tâm tráng khí,lắm khi lẫm liệt, nhưng cũng lại rất mơ mộng, lãng mạn, tài hoa Nghĩa là có sự hòađiệu giữa con người tráng sĩ và con người thi sĩ… Con người thi sĩ này một khi đã ra
đi là bất chấp gian khổ, bất chấp cái chết… Rất lạ, bước vào chiến tranh mà lại cứnhư thả bước chân phiêu lãng giang hồ… là một đám mây mang hình tráng sĩ phiêubồng vào trận mạc” [30, 6 ] Bài viết cung cấp cho chúng ta một cái nhìn cụ thể hơn
về một Quang Dũng đời thường nhưng không kém phần tài hoa, nghệ sĩ
Trong bài Nghĩ về thơ bạn, tác giả Trần Lê Văn - người bạn thân của Quang Dũng - đã viết “Quang Dũng vào “làng” thơ cách mạng với bài Tây Tiến như có mối
duyên gì ràng buộc, bài thơ ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức cứ nói đến QuangDũng là người ta nhớ đến Tây Tiến và ngược lại”… [18, 6] Quang Dũng là người tàihoa “Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm”, “Quang Dũng yêu thiên nhiên, trước hết làyêu sức người, tình người ở khắp nơi vui xới, chăm sóc thiên nhiên… là một conngười, một nghệ sĩ lạc quan về cơ bản, và có tình cảm nồng nhiệt đối với đất nướcnghìn xưa cũng như đối với đất nước ngày nay” [18, 8] Trong con mắt của Trần LêVăn bản chất của Quang Dũng cũng là một người “vui tính, giỏi hài hước, một thứhài hước lành mạnh và đôn hậu… không bi quan, dẫu tính anh có đôi lúc thất thường:đang vui như tết bỗng ỉu xìu vì một cơn lo, cơn giận ở đâu chợt đến Chẳng khác gìtrời đang nắng bỗng đổ mưa, nhưng là mưa bóng mây thôi, mây tan trời lại tạnhnắng” [18, 30]
Trang 11Trong bài viết Tình người của Quang Dũng, GS Hoàng Như Mai cũng nhận
định: “Tôi cho là anh có tình yêu đời, yêu người lớn lao, có thái độ sống trượng phu”[18, 18]
2.2.2 Thơ Quang Dũng
Về thơ Quang Dũng, có rất nhiều bài viết Có bài nghiên cứu một cách cụ thể và
sâu sắc một tác phẩm nào đó như Tây Tiến, Mây đầu ô, nhưng cũng có bài muốn đưa
ra những nhận định khái quát về toàn bộ thơ Quang Dũng Đặc biệt, đã có bài đề cậpmột vài nét trong phong cách nghệ thuật thơ Quang Dũng, nhưng nhìn chung vẫnchưa thực sự chi tiết
Đào Duy Hiệp với bài viết Chuyển động và tâm tình qua Tây Tiến in trong Thơ
và truyện và cuộc đời đã khẳng định “Tây Tiến là bài thơ được nhiều người nhớ nhất
trong đời thơ Quang Dũng…Mỗi bước chuyển động trong Tây Tiến là một động tháicủa tâm tình- một cuộc hành trình ngược vào tâm linh, kí ức khi các biến cố trận mạccùng với cả những “mồ viễn xứ” ít nhất đã có độ lùi về thời gian… Tây Tiến là mộttượng đài sang trọng về người lính Cái bi, cái hùng, cái mộng làm nên những chất
liệu cho bức tượng đài quang vinh” [36, 56] Ông đánh giá rất cao bài thơ Tây Tiến:
“Tây Tiến là một bức tranh hoành tráng chuyển động về miền thương cảm trong nỗi nhớ bi tráng, khôn nguôi, lộng lẫy và mĩ lệ” [36, 56] Đây là một bài viết khá chi tiết
và sâu sắc của tác giả về bài thơ trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật, làm nổibật hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng
Cùng viết về Tây Tiến, trong Giảng văn văn học Việt Nam, Trần Đăng Suyền
cũng đã khai thác bài thơ trên hai khía cạnh là cảm hứng lãng mạn và cảm hứng bitráng Ông cho rằng “Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹp độcđáo của bài thơ” [9, 492]
Trần Lê Văn trong bài giới thiệu tập Mây đầu ô cho rằng: “hào khí của thời đại
đã gây chấn động trong tâm hồn anh và tiếng thơ riêng biệt của anh có phần âm vangcủa hào khí ấy” và “thơ anh có lúc trầm xuống, lắng buồn, gợn buồn” “Thơ QuangDũng ngay cả lúc buồn cũng không tỏ ra bi quan Bài Tây Tiến có nói đến chết chóc,
Trang 12chia ly nhưng không vì thế mà tiêu ma chí khí của một lớp người hiến dâng cả nhiệthuyết của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc” [18, 16] Trần Lê Văn đánh giá
“đến Tây Tiến, Quang Dũng mới bắt đầu tự khẳng định được mình, bắt đầu bộc lộ sựhình thành một phong cách thơ, một diện mạo thơ” [18, 21] Trong bài viết này, Trần
Lê Văn cũng đề cập đến một số bài thơ khác của Quang Dũng như Bất Bạt đêm giao
quân, Mây đầu ô, Mắt người Sơn Tây, Ba Vì đón Bác…
Bài Áng mây trắng xứ Đoài do Văn Giá viết đưa lại một cái nhìn khách quan về
con người và thơ Quang Dũng, từ lúc bắt đầu bước vào nghiệp thơ cho đến cuối cuộcđời Theo ông, thơ và cuộc đời của nhà thơ này gắn liền với áng mây và hình ảnhmây “đã trở thành một ám ảnh bền bỉ với nhiều biến hóa” trong thơ Quang Dũng
“Hồn thơ Quang Dũng tập trung biểu đạt hình ảnh mây chỉ với hai cấp độ nghĩa: quênhà và cá nhân nhà thơ…một điều nhất quán là: cả con người tiểu sử nhà thơ, cả hoạtđộng sáng tạo thơ và cả thế giới nghệ thuật thơ Quang Dũng đều châu tuần vào mâyhóa thân và cũng biến hóa cùng mây” [30, 7] Ông cũng nhận ra một một nét đặc sắctrong thơ Quang Dũng là “thơ Quang Dũng có rất nhiều địa danh, bởi hễ cứ đi đếnđâu là gắn bó ở đấy, nhớ nhung về đấy, là quê hương ở đấy Nhưng các địa danhnhiều nhất vẫn là xứ Đoài mây trắng quê hương…Nhà thơ có tài chuyển hóa nhữngđịa danh bình thường, quê kiểng như mọi vùng quê khác thành những tên thơ Mộtkhông gian xứ Đoài nghèo khó mà nhân hậu qua Quang Dũng thành không gian thơtình tứ quyến luyến vô cùng Phải có tâm hồn lớn, một tài thơ lớn mới có thể nhàonặn những chất liệu thô ráp của đời sống thành chất liệu thơ ca” [30, 12] Đây quả lànhững nhận định hết sức tinh tế của tác giả về Quang Dũng, giúp ích cho việc nghiêncứu về thơ Quang Dũng có được tính hệ thống
Về tập thơ Mây đầu ô (1986), Vân Long có bài Sau mười năm đọc lại Mây đầu
ô đăng trên Tạp chí Văn học số 1/1997 Bài viết là cái nhìn bao quát của tác giả về
toàn bộ tập thơ Ông cho rằng “Mây đầu ô tiêu biểu cho Quang Dũng, con người cả
đời thích lang bạt nay đây mai đó, nhưng hoàn cảnh cứ bó buộc ông lại” [54, 48 ]
Đặc biệt với bài thơ Tây Tiến tác giả nhận định “Thơ Việt đầu kháng chiến chống
Trang 13Pháp, tôi thấy hai cái mốc lớn trên đường đó là là Đèo Cả của Hữu Loan và Tây Tiến
của Quang Dũng Cách cảm, cách nghĩ, cách viết ở hai bài thơ này không một bài thơnào trước đó có thể viết được…bởi hai bài thơ này đã được khí phách của cả thời đại
ùa vào, chắp cánh cho chúng” [54, 48 ] Những bài thơ như Rừng, Bất Bạt đêm giao
quân, Đường trăng, Những làng đi qua cũng được tác giả đánh giá rất cao
Trần Văn Nam lại lý giải bài thơ Tây Tiến dưới góc độ “mơ”, “mộng” trong bài viết Từ giấc mơ Tây Tiến đến giấc mơ hòa bình: “Tây Tiến không phải là giấc mơ,
bởi vì giấc mơ thì đâu có những hình ảnh cay đắng cơ cực của cuộc trường chinh với
mồ viễn xứ… gục trên súng mũ bỏ quên đời mây lấp đoàn quân mỏi…đoàn binhkhông mọc tóc” [62]
Lê Bảo trong bài viết Cuộc đời và sự nghiệp Quang Dũng (Nhà văn và tác phẩm
trong nhà trường - Quang Dũng - Chính Hữu) đã đánh giá thơ Quang Dũng trên haiphương diện nội dung và nghệ thuật Về nội dung, “thơ Quang Dũng hội tụ trên haidòng thi cảm: “Đất nước, quê hương cùng với khát vọng lên đường là cốt cách củamột hồn thơ” [8, 15] Về nghệ thuật thơ Quang Dũng “kết hợp được cốt cách cổ điển,hiện đại với sự cách tân, nghĩa là vừa kế thừa, vừa đổi mới Nhiều câu thơ như kí họađời Tống, đời Đường Có khi là những bức tranh thuốc nước màu sắc mờ nhờ, cổkính” [8, 16] Lê Bảo đã nhận ra cái màu sắc cổ kính của thơ Quang Dũng, bên cạnhchất lãng mạn tài hoa mà nhiều người đã nhận ra Ông cũng cho rằng thơ QuangDũng “không phải bài nào cũng hay, có sự khá kém đồng đều, cái mạnh và cái yếu
đan cài, xen kẽ” Với ông cái “đáng quý của tập thơ Mây đầu ô là ở mảng chất liệu
quê hương mà nhà thơ đã tắm mình trong đó Đây là một thứ ánh sáng kì diệu, từ một
sự bắt đầu nào đó, đã lan tỏa, đã lung linh” [8, 22]
2.3 Nghiên cứu phong cách thơ Quang Dũng.
Phong cách thơ Quang Dũng nhìn chung còn là vấn đề mới mẻ và hầu như chưa
có một công trình nghiên cứu nào nhìn nhận và khảo sát vấn đề này một cách thấuđáo, toàn vẹn và có hệ thống Với công trình nghiên cứu này người viết mong muốn
Trang 14góp thêm một tiếng nói, một cách cảm nhận riêng của bản thân về thơ Quang Dũng,phong cách thơ Quang Dũng
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Phong cách thơ Quang Dũng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát thơ thơ Quang Dũng trong toàn bộ sáng tác của ông,
từ hai tập thơ do Trần Lê Văn sưu tầm, tuyển chọn là Mây đầu ô (Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội, 1986) và Tuyển tập Quang Dũng (Nxb Văn học,
2000) đến những tác phẩm in rải rác trên một số tạp chí hoặc do bạn bè của ông lưu
giữ, chưa đưa vào tuyển tập (như bài Đêm Bạch Hạc do Văn Giá cung cấp in trong
Viết cùng bạn đọc (Chân dung, tiểu luận-phê bình văn học, 2008)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
4.1 Xác định vị trí của Quang Dũng trong nền thơ ca kháng chiến chống Pháp
1945-1954 nói riêng và trong nền thơ Việt Nam hiện đại nói chung
4.2 Tìm hiểu sự biểu hiện của phong cách thơ Quang Dũng trên các phương
diện đề tài, cảm hứng, hệ thống hình tượng
4.3 Khảo sát phong cách thơ Quang Dũng biểu hiện qua việc lựa chọn thể thơ,
tìm giọng điệu thích hợp và sử dụng ngôn từ
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau trong đó có cácphương pháp chính: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - loạihình, phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp cấu trúc - hệ thống, phươngpháp lịch sử
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình lần đầu tiên nghiên cứu, khảo sát Phong cách thơ
Quang Dũng một cách hệ thống
Trang 15- Kết quả của luận văn hy vọng có thể sẽ là tài liệu thao khảo có ích cho việc dạy
và học thơ Quang Dũng trong nhà trường
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai trong ba
chương:
Chương 1 Vị trí của Quang Dũng trong nền thơ Việt Nam hiện đại
Chương 2 Phong cách thơ Quang Dũng thể hiện qua đề tài, cảm hứng, hệ thốnghình tượng
Chương 3 Phong cách thơ Quang Dũng qua các phương thức biểu hiện
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.
Trang 16Bản thân Quang Dũng sinh ra tại làng Phượng Trì, thuộc tổng Phùng, vốn làlàng có tài nói khoác để gây cười “Người Phượng Trì dù nghèo xơ xác đến phải đeocái “khố nối” vẫn ăn chơi trải đủ mùi đời… vừa chăm chỉ làm ăn vừa đam mê duhí” Có lẽ vì thế mà cái “máu giang hồ” và tính cách hài hước đã ngấm sâu vào conngười Quang Dũng Là người thích sống theo phong cách đại trượng phu, kiểu conngười nghĩa khí, không chịu gò ép vào bất cứ điều gì nên khoảng đầu những năm
1940, Quang Dũng thường gặp gỡ, kết bạn với những người có cùng chí khí, có tinhthần yêu nước cùng nhau tìm đường, và đi sang tới tận Trung Quốc để thực hiệnnhững hoài bão đó
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Quang Dũng gia nhập quân đội.Những ngày đầu ông công tác ở phòng công vụ Bắc Bộ, làm phóng viên tiền phương
của tờ báo Chiến đấu thuộc khu II do Văn Phác phụ trách Năm 1947, ông được cử
Trang 17đi học Trường bổ túc Trung cấp Quân sự Sơn Tây Cũng cuối xuân 1947, QuangDũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến và giữ chức vụ đại đội trưởng Cuối năm 1948,Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, sau đó về làm trưởng Ban tuyên huấn Trungđoàn 52, rồi giữ chức vụ Trưởng đoàn Văn nghệ liên khu III Tháng 8 năm 1951,ông xuất ngũ Đây là khoảng thời gian để lại nhiều kí ức nhất trong cuộc đời QuangDũng và là thời gian xuất hiện những tác phẩm xuất sắc góp phần đánh dấu tên tuổinhà thơ trong nền thơ cách mạng Việt Nam.
Quang Dũng là người đa tài, ngoài làm thơ, viết văn, vẽ tranh còn viết nhạc và
được biết đến với bài hát Nhớ Ba Vì Quang Dũng viết văn xuôi cũng khá nhiều, gấp mấy lần thơ song không gây được những dấu ấn lớn Một số tác phẩm Nhà đồi, Mùa
quả cọ, hoa lại vàng tháng chạp … là những bài văn đầy chất thơ thể hiện tâm hồn
yêu thiên nhiên, lãng mạn của Quang Dũng nhưng nghề chính vẫn là nghề làm thơ
Những bài thơ Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Những làng đi qua… viết trong thời kì
kháng chiến chống Pháp đã mang lại những thành công và tên tuổi cho Quang Dũng
Những tác phẩm của Quang Dũng từng được xuất bản là Mây đầu ô (Thơ, 1988),
Tuyển tập thơ văn Quang Dũng (năm 2000) Nhiều bức tranh do Quang Dũng vẽ
được dùng làm minh họa cho những tác phẩm thơ văn do ông sáng tác
Quang Dũng là người có máu giang hồ, ưa “xê dịch”, thích kết giao với bạn bènhưng cũng là một chàng trai đào hoa, đa tình, lãng tử Nhiều mối tình của ông sau
này trở thành nguồn cảm hứng cho một số bài thơ: Không đề, Vườn ổi … có bài sau này còn được phổ nhạc (Em mãi là hai mươi tuổi – Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu)
Trong cuộc sống Quang Dũng là người sống hồn hậu, giản dị, trọng tình nghĩabạn bè và đặc biệt luôn luôn lạc quan yêu đời Tuy nhiên, ông cũng là người cónhiều lận đận, là thi sĩ có tài được dùng mà không được tin cũng bởi lí lịch “đen”
một thời sang Tàu và cái mác “tiểu tư sản” lãng mạn khi viết Tây Tiến Cuộc sống
của gia đình ông khá khó khăn, Quang Dũng đông con, con lại hay đau ốm, vợ yếu,đồng lương ít ỏi, dù cố gắng nhiều nhưng vẫn không cải thiện được tình hình Tuynghèo nhưng bản chất con người Quang Dũng vẫn không hề thay đổi, anh vẫn luôn
Trang 18đặt niềm tin yêu vào cuộc đời, vẫn sống với nghĩa khí của một đại trương phu Trongkhi bạn bè của anh đã thành danh, có người làm đến tổng cục trưởng, thứ trưởng thìQuang Dũng vẫn bằng lòng với đồng lương cán sự năm không một lời ca thán Những năm 1983, 1984 Quang Dũng bị bệnh tai biến mạch máu não khiến choanh phát âm không rõ bước đi chuệnh choạng Dù vậy bản thân vẫn cố gắng luyệntập Yoga rèn luyện sức khỏe và nuôi hy vọng chống lại bệnh tật Năm 1986, bệnhđến thời kì nặng, bạn bè thân thiết có ý định xuất bản một tập thơ dành tặng nhưngcũng không đơn giản vì vốn Quang Dũng ít khi lưu lại những tác phẩm của mình, cứ
để vương vãi tận đâu Tập thơ Mây đầu ô là tập thơ đầu tiên của anh được xuất bản
trong hoàn cảnh đặc biệt như thế
Quang Dũng từ trần ngày 14 tháng 10 năm 1986 tại Hà Nội, hưởng thọ 67 tuổi
Được giải thưởng Văn học Nhà nước năm 2000 Bài thơ Tây Tiến được chọn khắc
một đoạn vào Đài tưởng niệm các liệt sĩ Tây Tiến ở Châu Trang, Thượng Cốc, LạcSơn (tỉnh Hòa Bình) ngày 20/12/1990 và tượng đồng bán thân của Vệ quốc quânQuang Dũng được đặt tài Trường Tiểu học quê nhà là một minh chứng về sự tônvinh của Nhà nước, nhân dân đối với nhà thơ yêu quí của chúng ta” [48]
1.1.2 Hành trình thơ.
Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp gắn liềnvới hai cuộc kháng chiến của dân tộc, vì thế những sáng tác của ông cũng mangnhững nét chung của nền thơ ca kháng chiến Thơ Quang Dũng tập trung vào các đề
tài lớn như đề tài chiến tranh, ca ngợi quê hương đất nước còn tập trung làm nổi bật
tính cánh phiêu lãng, giang hồ của Quang Dũng, qua đó cũng khẳng định đượcphong cách thơ độc đáo
Quang Dũng là người đa tài, có khả năng ở nhiều loại hình nghệ thuật, nhưngthành công nhất vẫn là thơ ca Trước khi được người đương thời biết đến một thi sĩQuang Dũng hào hoa, lãng mạn với cái ngang tàng hùng tâm tráng khí ông đã từng
sáng tác hai bài thơ được xem là những tác phẩm đầu tay: Cố Quận (1937) và Chiêu
Quân (1940) Đây là hai bài thơ chịu nhiều ảnh hưởng của thơ cổ Trung Quốc.
Trang 19Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chàng trai một thời sang tậnTrung Quốc tìm đường làm cách mạng đã nhận thức rất rõ con đường đi đúng đắncho bản thân mình Xếp bút nghiên, gia nhập quân đội, Quang Dũng bước vào chiếntrường với một khí thế hào hùng với tư cách là một chiến sĩ Những năm khángchiến chống Pháp, Quang Dũng sáng tác khá nhiều và vẫn là những đề tài quenthuộc: chiến tranh và quê hương, đất nước Một số bài thơ đã gây được tiếng vang
lớn, đánh dấu tên tuổi Quang Dũng trên văn đàn như Những làng đi qua (1947), Tây Tiến (1948), Đường 12, Chabbi Chabbi … Đây là giai đoạn Quang Dũng đạt được
thành tựu xuất sắc, xây dựng thành công hình tượng người lính tiêu biểu cho cuộckháng chiến chống Pháp, đặc biệt tác phẩm Tây Tiến được xem là – “một tượng đàibằng thơ về người lính”, đánh dấu tên tuổi của Quang Dũng trong nền thơ ca cáchmạng
Năm 1949, Tây Tiến được in trong tập thơ Thơ nhà xuất bản Văn nghệ Liên khu
IV, lúc đó với tên là Nhớ Tây Tiến, năm 1957 Quang Dũng đã bỏ từ nhớ vì cho rằng
bản thân bài thơ đã thể hiện nỗi nhớ rồi Tây Tiến là bài thơ tạo những bước ngoặtlớn trong sự nghiệp thơ ca của Quang Dũng Bài thơ này sau khi sáng tác được chínhQuang Dũng đọc lần đầu tiên trong một buổi liên hoan và được đa phần anh em
chiến sĩ chép tay lưu truyền Sau này trong bài nói chuyện Nhớ về Tây Tiến do chính
Quang Dũng kể, Vũ Văn Sỹ ghi, Quang Dũng đã nói rất thật về nỗi sợ hãi của ngườilính trong chiến đấu khi trải qua những cuộc hành quân gian khổ, khi chúng
1.1.3 Quan niệm thơ của Quang Dũng.
Sinh thời mỗi một nhà thơ nhà văn đều có những cách nhìn, những quan niệmriêng về cuộc đời , về con người, về nghệ thuật Chính quan điểm, cách nhìn đó trởthành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cũng như chi phối tất cả các sáng tác của người nghệ sĩ.Tuy nhiên, không phải bất cứ người nghệ sĩ nào hoạt động trong lĩnh vực sáng tạonghệ thuật cũng đều bộc lộ rõ ràng những tuyên ngôn cầm bút của mình Bản thân
Quang Dũng chưa từng viết những bài kiểu như Cảm tường đọc thiên gia thi của Hồ
Trang 20Chí Minh hay… làm tuyên ngôn nghệ thuật cho chính mình Mặc dù vậy QuangDũng cũng không ngừng trăn trở về thơ ca nói chung, về sứ mệnh của thơ ca trongđời sống cách mạng, và về vai trò của người cầm bút, quá trình sáng tạo của lớp thi sĩcách mạng đương thời trước nhu cầu, thị hiếu của người đọc càng tăng Bỏ quanhững mặc cảm, những rào cản của một thời bị quy là thành phần “tiểu tư sản”, làmthơ “mộng rớt”, “buồn rớt”, nhân một cuộc phát động phong trào phê bình lãnh đạo
Quang Dũng đã viết bài Mấy ý nghĩ về thơ đăng ba kì liên tiếp trên báo Văn nghệ
tháng 9 năm 1956
Năm 1949 Nguyễn Đình Thi có viết một tiểu luận về thơ ca Mấy ý nghĩ về thơ chủyêu đi sâu về hình ảnh của thơ ca, bàn về ngôn ngữ thơ ca.Với Quang Dũng, ôngkhông bàn đến những vấn đề đó Trong bài viết của mình ông đã nêu lên những quanđiểm rất cụ thể về sứ mệnh của thơ ca, về vai trò của nhà thơ trong thời kì cách mạngtheo cách nghĩ riêng của bản thân
1.1.3.1 Quan niệm về sứ mệnh của thơ ca.
Quang Dũng đã bộc lộ quan điểm về sứ mệnh của thơ ca ngay từ những dòngđầu tiên của bài viết Bàn về sứ mệnh của thơ ca, đặc biệt Quang Dũng tập trung đềcập tới vân đề phát triển của thơ ca cách mạng, thơ ca trong thời kì mới khi đất nướcđang tiến hành cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Quang Dũng đã chỉ rõ nhữngtiền đề cho sự phát triển của thơ ca cách mạng
Tiền đề, điều kiện đầu tiên cho sự phát triển của thơ ca cách mạng bắt đầu từnhu cầu thưởng thức của độc giả Độc giả là khâu cuối cùng của một quá trình tiếpnhận văn học (Tác giả - tác phẩm - người đọc) Quang Dũng viết: “Theo ý tôi, đã cónhững triệu chứng đáng mừng cho thơ: Người đọc đã muốn đòi hỏi một cái gì kháctrong tiếng nói của thơ chứ không muốn đọc dễ dãi một ít sự việc ghi chép thành vần,một ít tình cảm đã gặp nhiều lần sắp xếp thành những vần điệu và, bao giờ cũng thế,
có cái kết hướng đi lên một cách đã quá quen thuộc”[17] Theo ông, chính nhu cầu vềvăn học mới, nhu cầu tiếp nhận lối thơ mới là tiền đề cốt yếu căn bản thúc đẩy thơ canhìn nhận lại con đường đi lâu nay của nó để từ đó thay đổi cho phù hợp Có thế nói,
Trang 21độc giả đóng vai trò vô cùng quan trọng, là động lực thúc đẩy cho thơ ca phát triển.Nếu không có độc giả, những tác phẩm văn học dù có nhiều, có hay cũng chỉ tồn tại ởtác phẩm nghệ thuật chứ không thể tồn tại trong đời sống xã hội được Chính vì thếhướng đến người đọc, quan tâm tới nhu cầu thưởng thức của họ chính là vấn đềQuang Dũng quan tâm Đó không hẳn là triệu chứng như Quang Dũng từng nói mà
đó chính là tiền đề, là điều kiện thúc đẩy sự biến đổi của người cầm bút từ đó manglại cho thơ ca những diện mạo mới so với thứ thơ “dễ dãi”, “ít sự việc ghi chép thànhvần”, “ít tình cảm đã gặp nhiều lần…”, một thứ thơ quen thuộc đơn điệu mà tự nó đãtrở nên không còn thích hợp với nhu cầu thực tại của đời sống văn học Quang Dũng
đã nhìn nhận ra yêu cầu bức thiết đó và nhận ra những món ăn thơ ca một thời đã quá
cũ kĩ, vì thế cần hướng vào những nhu cầu thiết yếu… Nhận thức được nhu cầu củangười đọc biến nó thành động lực phát triển của thơ ca sẽ khẳng định được tài năngcủa người nghệ sĩ
Tiền đề thứ hai thúc đẩy thơ ca phát triển chính là hiện thực đời sống cách mạng.Quang Dũng đã chỉ ra: “Dân tộc làm một cuộc cách mạng Cuộc sống bao nhiêu cái
vĩ đại đang diễn ra, cái mừng vui cũng như cái đau khổ, mười năm qua, ai mà chẳngthấy có cái vinh dự được trải qua Cái hiện tại thật là to lớn, ai mà không thấy tự hàođược có mặt”[17] Thực tế đất nước đang tiến hành cuộc kháng chiến, nhưng khôngphải ai cũng nhìn nhận đúng và thấy được vai trò của nó đối với sự phát triển của thơ
Trang 22nó không chỉ làm thơ thơ ca trở nên mờ nhạt, mất vai trò vị trí trong nền văn học màcòn làm cho người đọc trở nên mất hứng thú với thơ ca, không tìm được sự mới lạ ởthơ ca Quan điểm thơ ca phản ánh cuộc sống bắt kịp đời sống, nhận thức “hiện tạithật là to lớn” từ đó phản ảnh kịp thời, phản ánh đúng để làm nổi bật “hơi thở khổng
lồ của hiện tại” thể hiện trách nhiệm của một nhà thơ có với sự phát triển của thơ ca.Không chỉ Quang Dũng mà Tố Hữu cũng đã từng quan niệm về mối quan hệ của thơ
ca với hiện thực cuộc sống “Thơ phải góp phần giải đáp những vấn đề của cuộc sốngđặt ra” Hiện thực cuộc sống là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn nếu thơ cathực sự nhận thức, bắt mạch và phản ảnh kịp thời, tuy nhiên thơ ca không nhận thức
và phản ánh đơn thuần mà bao giờ cũng gắn liền với cái đẹp, có như thế thơ ca mớithực sự mang tính nghệ thuật Nếu thơ ca chỉ nhận thức, phản ánh đơn thuần thì
“tiếng nói của thơ ca mới chỉ là phụ họa chứ không có được các giá trị sáng tạo đónggóp cho cách mạng” Bản thân thơ ca phải luôn thực hiện chức năng của thơ ca: đó
là chức năng nhận thức, phản ánh và phục vụ cách mạng, phục vụ con người, hướngđến con người, điều đó sẽ tạo nên diện mạo mới cho thơ ca Tuy nhiên cũng cần phảitìm đường lối cho các nhà thơ, “cách mạng đã mở thêm những chân trời bao la vềcảm xúc và chính cách mạng cũng mong đợi ở các nhà thơ” những đóng góp, nhữngphát hiện lớn thể hiện được vai trò vô cùng to lớn của người sáng tạo nghệ thuật Nếu chỉ nhận thức và phục vụ cách mạng không thôi thì chưa đủ, thơ ca còn cóchức năng to lớn hơn đó là hướng đến con người, phản ánh con người trong chiềusâu tư tưởng, tình cảm, tâm hồn một cách chân thật, sinh động nhất “Chính nhữngngười lãnh đạo cách mạng cũng đòi hỏi ở văn nghệ - riêng là thơ – nói lên cho mìnhnhững tình cảm lớn lao, cổ vũ được cả cho mình, bồi dưỡng cho mình bằng nhữngcảm xúc lạ lùng vĩ đại mà con người thi sĩ tiên giác được trên cơ sở cách mạng”[17].Con người được đặt trong nhiều mối quan hệ, trong những diễn biến tâm trạng phứctạp, trong cuộc sống đời thường, trong những ngày kháng chiến phức tạp… QuangDũng đã mạnh dạn đề xuất ý kiến cá nhân của mình khi ông nhận ra văn học giaiđoạn mới luôn “hướng đến mục đích tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu làm
Trang 23nhiệm vụ hàng đầu, nói đến thuận lợi nhiều hơn là khó khăn, đến chiến thắng nhiềuhơn là thất bại, về thành tích hơn là tổn thất, về cái vui hơn cái buồn đau”[59,46 ].
Có lẽ chính vì nhận thức sự khác biệt và vai trò của nhà thơ cần đi đầu, cần thay đổinhững cái vốn được xem là ‘tất yếu” đó mà trong thơ Quang Dũng chúng ta nhậnthấy bên cạnh những cái bình dị, thân quen, những chiến thắng trong chiến đấu,người lính của Quang Dũng cũng đối diện với những mất mát, những khó khăn, giankhổ, đối mặt với cái chết, nhưng hiện lên không hề mang vẻ bi lụy, buồn đau mà còntrở nên bi hùng, hào hùng hơn, càng khắc họa được chân dung người lính chân thựcnhất Quang Dũng cũng bộc lộ tâm hồn lãng mạn của người lính Tây Tiến điều màtrong thơ kháng chiến không phải nhà thơ nào cũng mạnh dạn đưa vào thơ VớiQuang Dũng, thơ ca phải nói lên được những tình cảm lớn lao, cổ vũ được cả chongười và cho mình Chính những điều đó mang lại những thành công nhất định choQuang Dũng mà để lại những dấu ấn đậm nét về hình tượng mới – hình tượng ngườichiến sĩ cách mạng cho nền thơ ca kháng chiến cũng như thơ 1945 – 1954
Quan niệm của Quang Dũng về thơ ca được đưa ra là những quan điểm khá mới
mẻ cần được ghi nhận và trân trọng Đó là những trăn trở, hoài bão, tâm huyết củaQuang Dũng với hy vọng thơ ca sẽ có những thành tựu mới, có những thay đổi mớiphù hợp, góp phần quan trọng trong tiến trình đi lên của thơ ca cách mạng nói riêng
và nền thơ ca Việt Nam nói chung Những ý kiến quý báu của Quang Dũng sẽ gópphần không nhỏ trong quá trình “nhận đường” của các nhà thơ cách mạng nhằmsáng tạo được những tác phẩm nghệ thuật chất lượng và đáp ứng được nhu cầu tiếpnhận của mọi người
1.1.3.2 Quan niệm về nhà thơ.
Viết về vai trò của nhà thơ, Quang Dũng đặc biệt nhấn mạnh cá tính sáng tạo củangười nghệ sĩ Nhà thơ, trước hết là nghệ sĩ, để có được thành quả nghệ thuật phảilao động, sáng tạo thực sự Quang Dũng cho rằng “tìm tòi công phu và sáng táo, đó
là cái biểu hiện chính của người làm thơ bấy nay” Đã là nghệ sĩ, người hoạt độngtrong lĩnh vực nghệ thuật, bản thân họ phải không ngừng trăn trở, tìm tòi, sáng tạo,
Trang 24mang đến cho thơ ca những tiếng nói mới, những hồn thơ mới, những bước đi mới,mạnh, vững chắc Để tránh rơi vào tình trạng tự “người làm thơ cũng tự ngấy mình”,
“làm xong một bài thơ mà thấy như chưa làm gì cả, không hào hứng, không rungđộng”, cái kiểu sáng tạo này khiến thơ ca đi xuống dốc trầm trọng đang vẫn tồn tại,Quang Dũng cho rằng bản thân nhà thơ phải nhận thức đúng được vấn đề đó, phải tựđứng dậy, phải nhận ra được cái “nông cạn nó làm cản trở đà đi lên” của nhà thơ, bởi
“bây giờ đã đến lúc phải cởi mở” Rõ ràng để làm được điều đó, người làm thơ phảikhông ngừng trau dồi kiên thức bản thân, hòa mình với cuộc sống cách mạng, phảinói tiếng nói của dân tộc nếu không sẽ bị “bỏ rơi một quãng đường không phải làngắn”
Quang Dũng đã chỉ ra từ thực tế cách mạng, mà thực sự là “từ cách mạng, quakháng chiến mười năm, cũng như mọi địa hạt khác, ở thơ ca người ta không thấy cóđược nhiều tác phẩm lớn” Hạn chế của một nền thơ nghèo là ở chỗ lạc hậu, ‘chốclát” chưa “phát minh” ra một cái gì đó cống hiến cho cuộc sống, hơn nữa nguồn thơchưa bắt mạch được mạch sống “chưa có chất máu đỏ tươi, hơi thở khổng lồ củahiện tại” Quang Dũng đã chỉ ra những yếu kém của các nhà thơ trước thời đại mới
Để thay đổi, vai trò của các nhà thơ rất quan trọng, trước tiên các nhà thơ cần phảinhận thức kịp thời để thay đổi cho phù hợp, phải nhận ra sai lầm từ chính công cuộc
“nhận đường” của họ Đến với cách mạng, bản thân mỗi nhà thơ đã cho rằng “ haitiếng đó với bao nhiêu âm hưởng và hình ảnh nó gợi lên, đủ lôi cuốn người làm thơ–vốn tìm cái đẹp chân chính - không mặc cả, lao cả cuộc đời mình theo nó”, rõ ràng
họ đã đến với cách mạng bao nhiêu là những hy vọng, dự định, những hứa hẹn ởphía trước Nhưng rồi họ trở nên bỡ ngỡ, nhanh chóng nhận ra sự bế tắc của mình:
“Ta như những người chán một bờ nhỏ hẹp thèm một đất đai khác, mê biển rộng, ra
đi mà thiếu một địa bàn vững chắc Nên có cái hào hùng có người đến, cái nhiệtthành của người đi mà chưa có cái phong thái vững vàng và trong sáng của ngườiđến” Đặc biệt nhiều nhà thơ lớp trước cách mạng cũng đến với thơ ca giai đoạn mớivới kỳ vọng sẽ “đem đến cho thơ ca cái nhiệt tình của mình để làm trách nhiệm
Trang 25hướng dẫn – và tưởng như hướng dẫn được cái sức trẻ măng của dân tộc… mở thêmnhững chân trời bao la về cảm xúc”, nhưng họ nhanh chóng nhận ra không thích hợptrước công cuộc “nhận đường” cho thơ, bản thân học đã tự gục ngã, không giảiquyết được, họ trở thành những “thi sĩ chạy miết những biện pháp cụ thể của chínhsách, những công việc sự vụ ngập đầu” Với thực tế đó, bản thân những người sángtạo nghệ thuật trở nên hạn chế rất nhiều, rất khó khăn khi sáng tác những tác phẩmcủa mình nếu như cứ tự trói chân mình khi vẫn chưa giải quyết xong tất cả Bản thânthi sĩ tự rơi vào tình trạng bế tắc, không tự định hướng được hoạt động sáng tạo nghệthuật của mình Vậy để thay đổi, bản thân họ phải sống, phải hòa mình vào cuộcsống hiện thực, phải nếm trải hiện thực, “hồn con người cần phải phơi phới, bay lộngnhư lá cờ anh dũng của nhân dân đang tự giải phóng mình… va chạm cũng vĩ đại,đau xót cũng trên mức bình thường, vui sướng hào hùng đến cùng độ”[17]
Quang Dũng cũng đã thẳng thẳn chỉ ra hạn chế lớn nhất của họ là “chưa ý thứcđược cách mạng một cách rõ rệt nên tiếng nói của thơ đối với cuộc đời mới đang xâydựng này thiếu hào sảng, thiếu cái khí thế vững mạnh của nó Người làm thơ bấy lâunay chưa làm chủ vấn đề, nói trắng là chưa thấy được rõ cái nhiệm vụ cách mạngcủa mình, nên tiếng nói chỉ là phụ họa mà không có được cái giá trị sáng tạo đónggóp cho cách mạng”[17] Bản thân họ đã thiếu đi sự sáng tạo cần thiết trong quátrình hoạt động nghệ thuật Cũng có những nhà thơ vốn có “cá tính sáng tạo có cốtcách thi sĩ, có cá tính phong phú” nhưng khi đến với cách mạng, bản thân họ khôngchịu hòa mình vào quần chúng mà dè dặt chịu bước đi từng bước một, mang nặngnhững mâu thuẫn trong tâm hồn, e dè với cách mạng, cách bức cách mạng, quên hẳnchính mình là hơi thở của cuộc đời vĩ đại này mà cách mạng đang tạo nên”
Bên cạnh đó, Quang Dũng đã chỉ ra căn bệnh chủ quan của lớp nhà văn này.Chính bản thân họ khiến họ trở nên mất vai trò của người sáng tạo nghệ thuật, họ
“cứ tưởng bước vào ánh sáng cách mạng thì hoa sẽ nở muôn cành, chim sẽ bay vạndặm, cái khí thế người thi nhân bao giờ cũng dũng cảm bảo vệ cái Đẹp và cáiThật…” nhưng lại chịu đi từng bước một Chính những hạn chế đó của người làm
Trang 26thơ đã khiến cho thơ ca mất đi cái riêng của nó, mất đi vai trò của người sáng tạo
“thơ ca chỉ là tiếng nói phụ họa chứ không có sáng tạo đóng góp cho nghệ thuật”.Ngoài ra còn có những nguyên nhân khách quan khác ảnh hưởng đến cá tínhsáng tạo của các nhà thơ, đó là đường lối của lãnh đạo của những người “chỉ đạođường lối” Quang Dũng đã không ngần ngại chỉ ra cái hạn chế này trong việc lãnhđạo của “những cán bộ chính trị đương thời” Ông cho rằng “ những quan niệm giớihạn về văn nghệ của những người có trách nhiệm hướng dẫn họ đã làm tắt cái lửa
đó Người ta quan niệm người làm thơ là những người mơ mộng không sát thực tếcách mạng, là những người hoàn toàn ngây thơ mà cách mạng phải uốn nắn dạy dỗmới đi vào được những vấn đề mới” Lãnh đạo văn nghệ đã định hướng và quanniệm sai về nhà thơ, coi nhà thơ như những nhà chính trị phải có cái trách nhiệm vớicách mạng, điều đó khiến họ trở nên thô cứng, không còn mang tính chất thi sĩ nữa
“Người lãnh đạo đã xem người làm thơ rất nhỏ bé, rất phụ thuộc, coi họ chỉ là nhữngngười có khả năng diễn ca mọi vấn đề của cách mạng… cũng có một tác dụng nào
đó trong công tác tuyên truyền cho cách mạng mà thôi”
Một điều quan trọng nữa là bản thân những người làm thơ phải biết nói đượctiếng nói của mọi người Quang Dũng đã chỉ rõ “nếu anh cũng rung động bìnhthường như mọi người, đau xót bình thường như mọi người, dũng cảm bình thườngnhư mọi người, thì nói lên hay không nói lên, lời anh cũng chỉ vậy mà thôi, vì nó chỉ
ở mức bình thường mà mọi người cần có cả” Người làm thơ “tự họ phải có cái tráchnhiệm nói lên với cuộc sống những ưu tư của họ” Nhận ra điều đó, bản thân nhà thơphải làm thay đổi thơ ca, đưa vào thơ ca những điều không chỉ của riêng mình màcòn có cái nhìn lớn hơn, khái quát hơn, cao hơn những người bình thường Có nhưvậy thơ ca mới là tiếng nói của nhiều người Tố Hữu đã từng nói: “Phải làm sao chongười ta không còn thấy câu thơ, chỉ còn cảm thấy tình người, quên rằng đó là tiếngnói của ai, người ta thấy nó như tiếng nói từ trong lòng mình vậy”
Những quan niệm của Quang Dũng trong bài viết Mấy ý nghĩ về thơ là những
quan niệm mới mẻ về nhà thơ, về thơ ca, là những vấn đề mà bản thân nhiều người
Trang 27đã nhận ra nhưng chưa mạnh dạn lên tiếng Rõ ràng với những ý kiến riêng của mình
và cả thơ Quang Dũng nữa chứng tỏ cá tính sáng tạo của con người Quang Dũng, làtrách nhiệm của người cầm bút Quang Dũng đã góp tiếng nói cho nền thơ ca mớinhằm đạt được những bước tiến mới Những quan điểm về thơ ca, về nhà thơ củaông đã khẳng định chắc chắn trong những tác phẩm sẽ được khảo sát ở nhữngchương sau
1.2 Vị trí của Quang Dũng trong nền thơ kháng chiến chống Pháp 1954
1945-1.2.1 Đội ngũ các nhà thơ “thế hệ chống Pháp”
Cuộc kháng chiến đấu tranh giành độc lập kéo dài suốt ba mươi năm của đấtnước ta đã tác động, chi phối vô cùng mạnh mẽ đến đời sống xã hội, tâm tư, tìnhcảm của mỗi người Việt Nam, đồng thời cũng là nguồn cảm hứng lớn, chủ đạo gópphần thúc đẩy nền văn học dân tộc lớn mạnh, đa dạng và phong phú Nhiều thể loạivăn học giai đoạn này phát triển rầm rộ, đạt được nhiều thành tựu lớn, đánh dấu mộtnền thơ ca cách mạng xuất sắc không chỉ trên các lĩnh vực thơ ca, văn xuôi … màcòn hình thành được một đội ngũ sáng tác đông đảo tập hợp dưới lá cờ cách mạng.Thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng với sự chuyển mình của hiệnthực cách mạng đã bắt được mạch chung của cách mạng và đều có những đặc điểm,thành tựu và đội ngũ sáng tác riêng
Đội ngũ sáng tác của thơ ca 1945 – 1954 là đội ngũ mới, có nhiệm vụ đi tiênphong tạo nền móng cho nền thơ ca cách mạng Đây là giai đoạn tiếp nối thơ catrước đó và nối liền thơ ca chống Mỹ sau này vì vậy đội ngũ các nhà thơ cũng trởnên hết sức đặc biệt Ngoài lớp nhà thơ mới được hình thành và phát triển trong cuộckháng chiến chống Pháp còn có một số lượng lớn các nhà thơ đã có tên tuổi, đã cónhững thành tựu nhất định về thơ ca giai đoạn trước cách mạng
Lớp nhà thơ xuất hiện trước cách mạng đã từng ghi dấu ấn với nhiều tác phẩmnổi bật thời kì trước như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tố Hữu, Anh Thơ …hầu hết đều thuộc phong trào Thơ mới 1932 – 1945 Trong bối cảnh lịch sử mới, họ
Trang 28đã nhập cuộc với đời sống cách mạng, hòa mình với cuộc kháng chiến và đã cónhững đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của thơ ca cách mạng Mã Giang Lâncho rằng chính “cách mạng đã thay đổi cả nhận thức và tình cảm của lớp người cótên tuổi” này [ 49, 31] Tuy nhiên sự nhập cuộc của các nhà thơ mới không hề đơngiản Trước cách mạng bản thân họ đều là những nhà thơ lãng mạn, đề cao cái “tôi”
cá nhân và nhiều lúc không tìm được lối đi cho chính mình, rơi vào trạng thái quẩnquanh, bế tắc Trong hoàn cảnh mới, lớp nhà thơ này nhập cuộc đã tìm được đường
đi mới cho mình, hòa mình vào cách mạng và quan điểm thơ ca của họ cũng dầnthay đổi “Nhiều thái độ, chính kiến, quan niệm cuộc đời và nghệ thuật rất khácnhau, nhưng các nhà thơ đều gặp nhau ở một tâm trạng rất quý là góp sức mình vào
sự nghiệp chung, giành độc lập tự do cho Tổ quốc Trần Huyền Trân, Thâm Tâm,Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Nguyễn Xuân Sanh,Anh Thơ… có những chuyển biến quan trọng Sự chuyển biến diễn ra phức tạp,quanh co, dai dẳng Có người viết nhiều viết khỏe nhưng chưa thật nhuần nhuyễn(Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư)… Có người viết rất ít, hầu như im lặng (Huy Cận).Điều nhận ra ở đây là thơ của họ đã đến với cuộc sống, phản ánh tâm tư nguyệnvọng của quần chúng một cách chân thành, say sưa nhưng có khi rơi vào trình trạngđơn giản, nôm na, dễ dãi” [49,109]
“Về cơ bản, họ đã vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ, cách biệt của một cuộc
“nhận đường”, “lột xác”, một cuộc đấu tranh “Phá cô đơn - Ta hòa hợp với người”,
“Từ chân trời một người ra đến chân trời mọi người” Dẫu chưa thực sự có được sựhòa điệu với tâm hồn của những con người “áo vải chân không đi lùng giặc đánh”,nhưng sự hòa nhập và bước đầu nhiệt thành của lớp nhà thơ này đã tạo được nhữngđóng góp bước đầu, đáng quý của họ vào nền thơ cách mạng, kháng chiến” [47, 44].Lớp nhà thơ thứ hai chính là lớp nhà thơ trẻ ra đời và trưởng thành trong phongtrào cách mạng, được cách mạng “đào tạo và bồi dưỡng”: Nguyễn Đình Thi, QuangDũng, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Vũ Cao, Thôi Hữu, Hồng Nguyên, NôngQuốc Chấn, Bàn Tài Đoàn… Tuy là những nhà thơ mới, trẻ nhưng “dần đã khẳng
Trang 29định được bản sắc riêng, giàu vốn sống thực tế, góp cho thơ những tiếng nói vừakhỏe khoắn, giàu ấn tượng” [47, 43] Lớp nhà thơ này có người từng tham gia trongquân đội hình thành kiểu nhà thơ – chiến sĩ, vừa sáng tác vừa tham gia cách mạngnhư Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu… Lực lượng khá đông đảo các nhàthơ xuất hiện, trưởng thành ngay trong lòng đời sống kháng chiến đã hòa nhập tựnhiên vào cuộc sống mới Đây là lớp nhà thơ chủ đạo có đóng góp lớn cho thơ cakháng chiến chống Pháp, mang đến cho thơ ca 1945 – 1954 những giá trị mới, chắc,khỏe mang đậm hơi thở cuộc sống Họ có những điều kiện thuận lợi hơn lớp nhà thơtrước cách mạng trong quá trình phát triển nhưng đồng thời cũng mang trong mìnhnhững trọng trách, những nhiệm vụ lớn lao Sáng tác của họ phải thực sự phản ánhđược đời sống kháng chiến dưới nhiều khía cạnh và mang hơi thở thời đại.
Thơ kháng chiến phải tập trung thể hiện những tình cảm lớn lao của dân tộc,bám sát hiện thực đời sống kháng chiến, ngợi ca động viên, cổ vũ cả nước hướng vềcuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc Những bài thơ thể hiện tình yêu quê hương,
đất nước như Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đất nước của Nguyễn Đình Thi…, tình đồng đội có Đồng chí của Chính Hữu, Viếng bạn của Hoàng Lộc…, tình quân dân cá nước có Bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông, Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu…, một số bài thơ thể hiện tình cảm và lòng biết ơn lãnh tụ như Sáng
tháng năm của Tố Hữu, Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ, Theo chân Bác của
Anh Thơ… Lớp nhà thơ này đã xây dựng thành công nhiều hình tượng mới cho thơ
ca (người chiến sĩ cách mạng, người mẹ, người vợ, Bác Hồ…) với những cảm xúcchân thực với ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi
Một điều đáng lưu ý là trong lớp các nhà thơ chống Pháp, những năm đầu củacuộc kháng chiến đã xuất hiện một số những bài thơ phát triển không thuận chiều
trong tầm đón nhận của người đọc, mang cảm hứng lãng mạn như Ngày về của Chính Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng, Màu tím hoa sim của Hữu Loan… Đại biểu
xuất sắc nhất khai thác theo hướng lãng mạn anh hùng là Quang Dũng Thơ QuangDũng có cốt cách trượng phu, hào hùng, bộc lộ tâm hồn tinh tế hào hoa, với bút pháp
Trang 30vừa táo bạo tung hoành, vừa tinh tinh tế tạo nên hồn thơ cổ kính xen lẫn với hiện đại.Tây Tiến của Quang Dũng “được xem là thi phẩm độc đáo toàn bích hiếm có củanền thơ kháng chiến” [59, 85]
Cũng với sự chỉ đạo của đội ngũ lãnh đạo, hòa với đời sống cách mạng, các nhàthơ đã nhận thức kịp thời và tiếp tục sáng tác, đóng góp cho nền thơ ca cách mạngQua thời gian, đội ngũ sáng tác đã thực sự trưởng thành và có những đóng góp lớncho thơ ca 1945 – 1954, đánh dấu sự chuyển mình của nền thơ Việt Nam hiện đại vàngày càng lớn mạnh không ngừng Vai trò, vị trí của lớp nhà thơ kháng chiến chốngPháp là không nhỏ, góp phần thay đổi diện mạo cho thơ ca, đạt được những thànhtựu lớn và tạo những tiền đề cho thơ kháng chiến chống Mỹ, “cùng tạo nên một nềnthơ giàu chất hiện thực và tính chiến đấu kế thừa xuất sắc truyền thống “thơ đánhgiặc” của cha ông” [47, 43] Nhiều nhà thơ có tên tuổi ở giai đoạn này vẫn tiếp tụcsáng tác ở giai đoạn sau và đạt được những thành công lớn Tuy vậy mỗi giai đoạnthơ vẫn có những nét riêng, nét đặc trưng nhất của nó, ghi nhận sự đóng góp lớn củađội ngũ các nhà thơ cách mạng
1.1.2 Đặc điểm thẩm mỹ của thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954
Cùng với sự ra đời và trưởng thành của lớp nhà thơ cách mạng trong cuộc khángchiến lịch sử - cuộc kháng chiến chống Pháp, thơ ca 1945 – 1954 đã thu được rấtnhiều những thành tựu đặc sắc, là giai đoạn mở đầu cho nền thơ ca cách mạng, đánhdấu sự trưởng thành vượt bậc cả về chất lượng đội ngũ sáng tác, cả về chất lượng thơ
ca Thành công đó đã tạo cho thơ 1945 - 1954 những nét riêng biệt, khác biệt hoàntoàn với thơ ca trước cách mạng Nó được biểu hiện qua những đặc điểm lớn sau: Một nền thơ ca hướng về cách mạng, phục vụ cách mạng, lấy hiện thực cáchmạng làm nguồn cảm hứng lớn cho văn học cách mạng, là vũ khí đấu tranh của cáchmạng Thơ 1945 - 1954 luôn bám sát hiện thực cách mạng, lấy đó làm đề tài, cảmhứng cho sáng tác của các nhà thơ Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, liềnsau đó đất nước ta lại tiến hành hai cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc dân tộc,
vì thế nền văn học phải hướng về cách mạng, động viên, cổ vũ tinh thần cho cuộc
Trang 31kháng chiến Văn học phục vụ chính trị là một yêu cầu cơ bản và tất yếu của Đảng
ta Lúc này Đảng giữ vai trò tiên phong, lãnh đạo, chỉ đạo văn học nghệ thuật đi theochủ trương, đường lối mà Đảng đề ra, vì thế thơ ca phải có những chuyển biến chophù hợp Để phù hợp, thơ ca phải có những cách tân, những biến đổi mới, khai thácnhững đề tài mới, xây dựng những hình tượng nhân vật mới, tìm tòi ngôn ngữ mớisao cho phù hợp với đời sống xã hội, đồng thời đáp ứng một phần không nhỏ chonhu cầu thưởng thức của công chúng
Thơ 1945 - 1954 đã tập trung biểu hiện những tình cảm cộng đồng và tinh thầndân tộc một cách sâu sắc, thể hiện tình yêu nước với những cách biểu hiện phongphú phong phú, bao quát được mọi mặt của đời sống xã hội với cảm hứng lạc quan,tin tưởng vào cách mạng, “Thơ ca đã vận động và vươn lên theo hướng đó” [49, 80].Các nhà thơ nhanh chóng nhận ra vai trò của mình và hòa nhập hồn thơ vào cái hồncủa thời cuộc Trước những biến cố dữ dội của cuộc sống cách mạng trước nhữngđiều mới và lạ, các nhà thơ đã thấy được niềm tin nên tin tưởng trong đội ngũ củatập thể, giai cấp, dân tộc
Trong thơ 1945 - 1954, lòng yêu nước là tình cảm và sâu sắc nhất, nó gắn bómọi người Việt Nam trong một khối thống nhất, đặc biệt trong cách mạng và hoàncảnh, tình cảm ấy càng được bền chặt và được thể hiện thành nhiều trạng thái khác
nhau Là một Quang Dũng với Mắt người Sơn Tây thiết tha, sâu lắng về miền đất đá
ong, một Hoàng Cầm Bên kia sông Đuống đau xé lòng trước cảnh quê hương bị tàn phá, một Nguyễn Đình Thi với Đất nước bâng khuâng trước cảnh thu về… Lòng yêu
nước còn đi liền với lòng căm thù giặc, ý chí quyết tâm chiến thắng kẻ thù, tinh thầnlạc quan vượt gian khổ và luôn đặt niềm tin vào lãnh tụ
“Mỗi thời kì văn học, mỗi khuynh hướng sáng tác đều có một số hình tượng nổibật, in dấu ấn của mình… Kế thừa dòng thơ yêu nước, thơ kháng chiến đã khắc họađược nhiều hình tượng mới mẻ như hình tượng Tổ quốc, hình tượng lãnh tụ, hìnhtượng người chiến sĩ cách mạng, hình tượng nhân dân… khác về chất so với thơ
trước 1945” [87, 87] Thơ giai đoạn 1945 – 1954 cũng như giai đoạn 1954 - 1975
Trang 32hình tượng người chiến sĩ cách mạng đã trở thành hình tượng trung tâm, “trong thơ
hình ảnh anh bộ đội đã thu hút nhiều bút lực” [87, 85] Cùng với những hình tượng
khác, hình tượng người chiến sĩ đã tạo nên một giai đoạn với những nét riêng biệtcủa nó, góp phần khẳng định vai trò của thơ ca cách mạng trong nền văn học nướcnhà Người lính trong thơ 1945 - 1954 luôn hiện lên là những con người hiền lành,giản dị, chất phác nhưng rất anh dũng Chúng ta tìm thấy vẻ đẹp của người lính
trong một số bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Đồng chí của Chính Hữu, Tây
Tiến của Quang Dũng, Bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông, Nhớ của Hồng
Nguyên… ở mỗi bài thơ hình tượng người lính đều hiện lên với những vẻ đẹp riêngnhưng bao trùm lên tất cả là cảm hứng ngợi ca, tự hào những con người chiến đấubảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên thơ 1945 - 1954 vẫn chưa đi sâu khai thác những mặttinh tế trong tâm hồn người chiến sĩ mà nặng về phần lí trí, song điều đáng ghi nhận
là hình tượng người chiến sĩ càng ngày càng trở nên gần gũi với cuộc sống
Hình tượng người mẹ, người vợ, em bé liên lạc, dân quân, thanh niên xungphong cũng được chú trọng xây dựng, miêu tả Họ thuộc nhiều tầng lớp, nhiều lứatuổi nhưng đều tỏa sáng trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau Bản thân họrất mộc mạc, giản dị, nhưng bản lĩnh, hai vai gánh vác nợ nước thù nhà Mỗi mộthình tượng đều có những cách thể hiện riêng, cảm xúc riêng nhưng nổi bật vẫn làtinh thần hăng say lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến, luôn luôn hướng về cuộccách mạng Một số bài thơ thể hiện rõ nét hình tượng này như Bài ca vỡ đất củaHoàng Trung Thông, Nhớ của Hồng Nguyên, Bầm ơi của Tố Hữu… Có thể nói “thơcách mạng đã sáng tạo ra một thế giới sử thi độc đáo, trong đó già trẻ, lớn bé, thanhniên, phụ nữ, tiền tuyến, hậu phương, bộ đội, cán bộ… đều sống trong một cuộc đờichung khác thường” [78, 91]
Thơ 1945 - 1954 luôn miêu tả và thể hiện hình tượng nhân vật trong các mốiquan hệ xã hội chứ không phải các mối quan hệ riêng tư, gia đình Các mối quan hệnày dù có được nói đến cũng phải đặt trong mối quan hệ xã hội , làm “cụ thể hóa vàsâu sắc thêm cho những tình cảm xã hội, quan hệ cộng đồng”, “các giới hạn cá nhân
Trang 33bị phá vỡ để hòa chung trong cuộc sống lớn” [79, 93] Con người trong thơ ca đượcđặt trong không gian lớn, môi trường lớn, không gian cộng đồng để từ đó bộc lộ, tựhiện diện Vì thế trong thơ “cái tôi” cá nhân cũng ít có cơ hội xuất hiện mà dành lớncông sức cho sự biểu hiện “cái tôi” trữ tình quần chúng và các nhân vật trữ tìnhtrong thơ Những bà Bủ, bà Bầm, chú Lượm, cô gái dân quân… là những nhân vậtđại diện cho quần chúng, mang lý tưởng của thời đại và đấu tranh cho cuộc chiếnđấu của dân tộc
Thơ 1945 - 1954 mở rộng phạm vi đề tài, tăng cường chất liệu hiện thực và cácyếu tố tự sự, đưa thơ trở về với hiện thực đời sống của nhân dân, đất nước, từ đó nhàthơ “đã tìm thấy chất thơ trong đời sống hàng ngày, trong sinh hoạt, lao động và đấutranh của quần chúng” [59, 97] Những nhà thơ cách mạng trước những biến đổi lớncủa hiện thực cuộc sống đã hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân, vui cái vui củamọi người, buồn cái buồn của mọi người, thay dổi dần quan niệm sống cho phù hợp,
vì thế thơ cũng trở nên gần gũi đời thường hơn Do vậy, tình cảm được biểu hiện
nhiều nhất, đẹp nhất trong thơ tình đồng đội khó phai mờ, cùng chung vai sát cánh
vượt qua gian khổ Tình quân dân cũng hiện lên hết sức chân thật, sâu sắc, qua Bao
giờ trở lại của Hoàng Trung Thông, Làng tôi của Lưu Trùng Dương, Nhớ mãi của
Quang Dũng… Có thể nhận thấy thơ 1945 - 1954 đã tìm thấy chất thơ trong cái bình
dị hàng ngày, cái gần gũi của đời sống kháng chiến, những tình cảm, cảm xúc củacon người quần chúng và có những cách biểu hiện cho phù hợp, “hầu hết những bàithơ nào cũng được dan dệt bằng những chi tiết, hình ảnh, sự việc của đời sống khángchiến” [59, 99] làm gia tăng đáng kể chất tự sự của thơ, đan xen với những vần thơchau chuốt lại xuất hiện lối kể chuyện, miêu tả không chỉ có ở một số bài thơ ngắn
nhất mà ở những bài thơ có độ dài gần với trường ca, truyện thơ như Kể chuyện Vũ
Lăng của Anh Thơ, Người đàn bà Ninh Thuận của Tế Hanh, Mẹ con đồng chí Chanh
của Nguyễn Đình Thi… Đây là một trong những đặc điểm mới mẻ, đặc sắc góp phầnlớn cho sự thành công của thơ 1945 – 1954
Trang 34Thơ 1945 - 1954 sử dụng phổ biến các thể thơ dân gian song không ngừng đổimới, cách tân, phát triển thơ theo thể thơ tự do và lối thơ hợp thể Tố Hữu được xemnhà nhà thơ xuất sắc nhất trong việc sử dụng thành công thể thơ lục bát quen thuộc
của dân gian (Bầm ơi, Việt Bắc…) Còn Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Lưu Trọng Lư
lại đặc biệt thành công khi khai thác thể thơ hát dặm Nghệ Tĩnh trong những bài thơtiêu biểu của mọi người Thơ tự do đã được thể nghiệm trong thơ mới 1932 – 1945nhưng chưa thực sự thành công Sự biến đổi của thể thơ cùng với những nội dungmới của thời kì mới đã đáp ứng được nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống khẩntrương, quyết liệt… Thơ tự do vì thế trở nên thuận lợi, có điều kiện phát triển và thểhiện khả năng nắm bắt, phản ánh dung chứa được nhiều vấn đề của thời đại
Cùng với sự biến đổi về nội dung, tư tưởng, cảm xúc ngôn ngữ thơ cũng cónhững biến đổi tương ứng Ngôn ngữ thơ 1945 - 1954 chuyển dần sang ngôn ngữđời thường, mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Những từngữ so sánh theo lối ví von của ca dao, cách đối đáp hàng ngày, từ ngữ địa phươngkhông còn quá xa lại với địa hạt thơ 1945 – 1954, trở thành nét đặc sắc, nét riêng,nét mới của thơ kháng chiến Ngôn ngữ thơ không còn sự cầu kì vốn có nữa mà trởnên gần gũi, bình dị, cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và những không gian làng quêvới ngô, khoai sắn, ngò cải, con trâu… không gian rộng lớn của đất nước cũng đượcbiểu hiện rất sinh động mang lại cho người đọc những cảm xúc mới, tạo nên bướcđột phá mới cho thơ kháng chiến Một đặc điểm của thơ kháng chiến là việc sử dụngrộng rãi địa danh, chưa bao giờ thơ ca lại có sự xuất hiện nhiều địa danh như vậy,nhưng sự xuất hiện đó không hề mang lại những phản cảm, trái lại góp phần biểuhiện những tình cảm quê hương, đất nước thắm thiết hơn, gần gũi hơn “QuangDũng và Tố Hữu là hai tác giả tiêu biểu nhất cho việc sử dụng thành công địa danhtrong thơ” [59,101] Thơ 1945 - 1954 cũng chuyển dần từ thơ điệu ngâm sang thơđiệu nói và đạt được những bước đi chắc chắn
Trang 35Thơ 1945 - 1954 là một bước đi dài trong nền thơ ca Việt Nam, đánh dấu sựtrưởng thành của thơ ca cũng như đội ngũ sáng tác Đó là kết quả của một quá trìnhlích lũy lớn tạo những tiền đề cho thơ ca chống Mỹ phát triển.
1.1.3 Một phong cách giữa nhiều phong cách đa dạng
1.3 Ảnh hưởng của Quang Dũng trong thơ của các nhà thơ lớp sau
Mỗi một nhà thơ thường thể hiện quan điểm nghệ thuật, sự nhận thức và phảnánh cuộc sống trong những tác phẩm của mình một cách khác nhau qua việc lựachọn những phương thức thể hiện như thể thơ, giọng điệu, đề tài, cảm hứng, ngôntừ… Việc nhận ra những nét độc đáo, nét riêng, nét lặp lại trong các tác phẩm của họ
sẽ giúp chúng ta nhận ra phong cách khác nhau của từng người Đọc thơ QuangDũng những nét riêng, nét độc đáo đó được biểu hiện rất rõ ràng Bên cạnh đó phongcách của Quang Dũng còn ảnh hưởng tới một số nhà thơ khác ở một số điểm nổi bật.Tìm hiểu thơ Quang Dũng và khảo sát thơ của một số nhà thơ khác chúng ta sẽ nhận
ca trước đó đã được Qua thực tiễn của cuộc kháng chiến các nhà thơ đã chín muồi
và nhất quán trong ý thức nghệ thuật, vì thế những thành tựu đạt được của thơ cachống Mỹ phong phú và có giá trị to lớn Lớp nhà thơ trưởng thành trong khángchiến chống Pháp (Quang Dũng, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn… ) cùng với lớp
Trang 36nhà thơ mới, trẻ, hình thành trong kháng chiến chống Mỹ (Xuân Quỳnh, Phạm TiếnDuật, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc…) đã hăng say bám sát thực tế, đem đến cho thơ
ca tiếng nói mới mẻ, những sự sáng tạo mới
Thơ Quang Dũng thường viết về đề tài chiến tranh và đề tài quê hương, đấtnước, là những đề tài mang lại những thành công lớn cho ông Ở mỗi đề tài QuangDũng có cách khai thác, cách biểu hiện riêng của mình, có những sự tìm tòi khámphá riêng Đặc biệt khi viết về đề tài chiến tranh, đặc biệt khi xây dựng hình tượngngười lính Quang Dũng tạo nên một chất lính riêng mang màu sắc của mình Viết vềngười lính, Quang Dũng sử dụng hàng loạt những chi tiết sống động tái hiện lại hiệnthực khốc liệt của chiến trường giúp người đọc có thể hình dung được những nămtháng hào hùng đó của dân tộc Nhưng vượt lên hiện thực đó vẫn là những phẩmchất, thế giới tâm hồn của người lính Trong chiến tranh người lính dù gian khổ vẫnhiện lên bi hùng, lẫm liệt vẫn luôn lạc quan Tây Tiến thể hiện rõ nhất điều đó:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Chất lãng mạn của người lính Tây Tiến đã xua đi hiện thực khốc liệt mà ngườilính trải qua Đọc thơ Quang Dũng ta nhận ra giọng thơ ngang tàng, pha chút hàihước, miêu tả người người lính bước vào chiến trường với cái dũng khí của những
người chinh phu một thời Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, cái chết của họ cũng trở nên ít bi thương hơn bởi cách nói áo bào thay chiếu anh về đất Sự thực người
lính Tây Tiến sau khi hy sinh đã không có được manh áo để khâm liệm mà thườngdùng chiếc chiếu, cách nói “áo bào” chỉ là một cách nói đùa của những người línhnhằm giảm bớt cái bi thương làm tăng thêm vẻ oai hùng, bi tráng của họ
Cũng viết về người lính trong chiến tranh, trong thơ Phạm Tiến Duật chúng tacũng nhận ra giọng thơ ngang tàng, pha chút hóm hỉnh trêu đùa đó của người lính.Thơ Phạm Tiến Duật, ông cũng đưa vào những chi tiết, những hình ảnh đời sống,
Trang 37pha chút bụi bặm của cuộc sống chiến tranh và khắc họa hình tượng người lính chânthực nhưng cũng rất gần gũi, đời thường Người lính trong thơ Phạm Tiến Duật luônđược tái hiện với chi tiết đời thường, nhưng luôn có cách nói hóm hỉnh, pha trò rấtđặc trưng:
Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già
… Không có kính ừ thì ướt áo (Tiểu đội xe không kính)
Ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật không cầu kì mà hóm hỉnh pha lời nói hàng ngày(sử dụng từ đệm, từ tình thái như: ừ, ha ha ) vì thế nó xóa tan đi những tàn khốc của
chiến trường nơi những người lính đang đối mặt Trong Tây Tiến trước cái chết
người lính Tây Tiến vẫn còn trêu đùa nhằm xóa tan không khí bi thương đó, thì
trong Tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật cũng có cách nói đùa như thế Thông
thường xe phải có kính, tuy nhiên xe không kính chưa hẳn là một điều bất lợi vớingười lính, ngược lại không có kính lại hóa hay, lại trở thành một điều khá thú vị với
họ khi xông pha vào nơi chiến trận Không có kính, họ có thể:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái
Qua cái nhìn hết sức lãng mạn, người lính hiện lên là những con người luôn biếtchế ngự hoàn cảnh, vượt lên hoàn cảnh Cái chất lính lạc quan, hóm hỉnh, háo hứcđược khám phá, được xông pha , cái giọng điệu ngang tàng của thơ Phạm Tiến Duật
có ảnh hưởng từ thơ Quang Dũng là vì thế
Trong thơ Thanh Thảo cũng là cách nói mới mẻ trần trụi, dữ dội, những nhữngngười lính hiện lên vẫn lấp lánh chất thơ Trường ca “Những người đi tới biến” là cảthế hệ đánh giặc:
Cả thế hệ xoay trần đánh giặc
Trang 38Mặc quần dùi khiêng pháo lội qua sông
… Cuộc sống ở đây vẫn cuộc sống bình thường Cái lạ nhất là không thấy gì lạ cả
Hay trong Một người lính nói về thế hệ mình, cái chất hóm hỉnh, tinh nghịch của
những anh lính trẻ cũng được tô đậm nét:
Những thằng lính trẻ măng tinh nghịch ló đầu qua cửa sổ Những thằng lính trẻ măng quân phục xùng xình
Chen bám ở bậc toa như chồi như nụ
Thơ Quang Dũng cũng nói tới cái chết của người lính không hề né tránh Trongthơ Thanh Thảo, những câu thơ khi viết về sự hy sinh của đồng đội đã ngã xuống đi
“theo một con đường thẳng từ trái tim tác giả tới trái tim người đọc” [1]:
Ngày dân tộc tụ về đường số Một Lòng không nguôi thương những cánh rừng này Nơi những đứa con nằm lưng đèo cuối dốc Dọc theo lối mòn chìm khuất dưới tầng cây
Thơ Quang Dũng hay thơ Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo sau này và cả thơNguyễn Duy điểm nổi bật khi viết về người lính trong chiến tranh là luôn miêu tảchân thực, những gian nguy, những hiểm trở mà họ đối mặt kể cả cái chết Ngườilính hiện lên ở chất lính lạc quan tếu táo trong mọi hoàn cảnh dù khốc liệt như thếnào nhưng họ vẫn luôn hướng về phía trước Có thể thấy nét riêng của Quang Dũngkhi xây dựng hình tượng người lính không tìm thấy ở những nhà thơ cùng giai đoạnnhưng đã có ảnh hưởng tới những nhà thơ “thế hệ chống Mỹ” Lời thơ viết về ngườilính càng trở nên gần gũi, sinh động gần với ngôn ngữ hàng ngày trong thơ Quang
Dũng (Lính râu ria) đến thơ Phạm Tiến Duật, thơ Thanh Thảo, Nguyễn Duy…góp
phần biểu hiện chất đời thường trong con người chiến sĩ
Trang 391.3.2 Ảnh hưởng của Quang Dũng trong thơ của các nhà thơ đô thị miền Nam 1954-1975
1.3.3 Sức hấp dẫn của thơ Quang Dũng trong học đường hiện nay
Trang 40CHƯƠNG 2 PHONG CÁCH THƠ QUANG DŨNG THỂ HIỆN QUA ĐỀ TÀI, CẢM HỨNG, HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG
2.1 Đề tài chính trong thơ Quang Dũng
2.1.1 Đề tài phiêu lãng, giang hồ
Đề tài của tác phẩm là một phương diện nội dung tác phẩm, là đối tượng đãđược nhận thức, kết quả lựa chọn của nhà văn Đó là sự khái quát về phạm vi xã hội,lịch sử của đời sống được phản ánh trong tác phẩm” [34,260]
Đề tài của tác phẩm chính là phạm vi mà tác giả lựa chọn phản ánh và là phươngdiện khách quan của tác phẩm Mỗi một nhà văn bao giờ cũng lựa chọn cho mìnhnhững đề tài riêng trong các sáng tác Có thể cùng một đề tài nhưng có những cáchbiểu hiện khác nhau chứa đựng những thế giới quan khác nhau của nhà văn
Thơ Quang Dũng tập trung chủ yếu vào ba đề tài chính: đề tài phiêu lãng, giang
hồ, đề tài chiến tranh và đề tài quê hương – đất nước Ngoài đề tài chiến tranh và đềtài quê hương – đất nước quen thuộc là đề tài chính trong thơ ca cách mạng, đề tài