1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thống nhất giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại trong thơ bằng việt

142 715 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự thống nhất giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại trong thơ Bằng Việt
Tác giả Bùi Nguyễn Lan Anh
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí Luận Văn Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 680,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm của ông đãđược nghiên cứu, nhưng còn nhiều vấn đề chưa được quan tâm đúng mức.Tìm hiểu vấn đề mối quan hệ giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đạitrong thơ Bằng Việt, ta c

Trang 1

BÙI NGUYỄN LAN ANH

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA PHONG CÁCH

CÁ NHÂN VÀ PHONG CÁCH THỜI ĐẠI

TRONG THƠ BẰNG VIỆT

Chuyên ngành: LÍ LUẬN VĂN HỌC

Mã số: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHAN HUY DŨNG

Vinh - 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu

Trang 1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử vấn đề……… 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát.……….5

4 Phương pháp nghiên cứu……… 6

5 Đóng góp của luận văn……….6

6 Cấu trúc luận văn……… 7

Chương 1: Từ lý thuyết về mối quan hệ giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại nhìn về thơ Bằng Việt……… 8

1.1 Phong cách cá nhân và phong cách thời đại như là những cấp độ khác nhau của phong cách nghệ thuật……… 8

1.1.1 Khái niệm chung về phong cách……….8

1.1.2 Các cấp độ của phong cách……… 10

1.1.3 Cơ sở tồn tại của phong cách cá nhân và phong cách thời đại……… 14

1.2 Mối quan hệ giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại…………16

1.2.1 Sự chi phối của phong cách thời đại đến phong cách cá nhân……… 16

1.2.2 Sự đóng góp của phong cách cá nhân vào phong cách thời đại………17

1.2.3 Sự thống nhất đầy nghịch lý của phong cách………20

1.3 Thơ Bằng Việt - một biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại ……… 23

1.3.1 Quan niệm của Bằng Việt về thơ……… 23

1.3.2 Hành trình thơ Bằng Việt……… 27

1.3.3 Đánh giá chung về sự song hành của thơ Bằng Việt với nền thơ đương đại………39

Trang 3

Chương 2: Sự thống nhất biện chứng giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại trong thơ Bằng Việt trên vấn đề cái nhìn về con người, thế

giới……… 41

2.1 Áp lực của phong cách thời đại lên cái nhìn của Bằng Việt về con người, thế giới……….41

2.1.1 Phong cách thời đại của nền thơ cách mạng Việt Nam sau 1945…… 41

2.1.2 Cái nhìn tin yêu con người mang tính chất thời đại trong thơ Bằng Việt……… 45

2.1.3 Cái nhìn lạc quan mang tính chất thời đại trong thơ Bằng Việt về viễn cảnh tốt đẹp của cuộc sống……… 55

2.2 Đóng góp riêng của Bằng Việt trong cái nhìn về con người, thế giới… 59

2.2.1 Yếu tố “đời tư” trong cái nhìn về con người, về thế giới trong thơ Bằng Việt……… 59

2.2.2 Điểm tựa văn hoá của cái nhìn về con người, về thế giới trong thơ Bằng Việt……… 66

2.2.3 Phát hiện riêng của Bằng Việt về sự giao thoa giữa các phạm trù truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế……… 71

2.3 Sự thống nhất giữa hai phạm trù phong cách trong thơ Bằng Việt ở những chặng đường sáng tác khác nhau……….75

2.3.1 Ở chặng đường thơ thời chống Mỹ……… 76

2.3.2 Ở chặng đường thơ thời hậu chiến………79

2.3.3 Ở chặng đường thơ đầu thiên niên kỷ mới………82

Chương 3: Sự thống nhất biện chứng giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại trong thơ Bằng Việt trên vấn đề hình thức nghệ thuật… 87

3.1 Thể thơ……….87

3.1.1 Bức tranh thể loại trong thơ Việt Nam từ sau 1954 ……….87

Trang 4

3.1.2 Sự lựa chọn thể thơ trong thơ Bằng Việt qua một vài đối sánh………883.1.3 Việc tự do hoá hình thức thơ trong thơ Bằng Việt nhìn từ sự gặp gỡgiữa các nhu cầu riêng, chung ………953.2 Hình ảnh thơ……….983.2.1 Dấu ấn của phong cách thời đại ở các hình ảnh thơ mang đậm tính cổ

vũ, tuyên truyền……… 983.2.2 Những hình ảnh dung dị, đời thường mang phong cách riêng trong thơBằng Việt……… 1023.2.3 Tìm tòi của Bằng Việt ở những “hình ảnh ý niệm”……….1043.3 Ngôn ngữ thơ……… 1113.3.1 Giản dị, sáng sủa, giàu cảm xúc - một đòi hỏi của phong cách ngôn ngữmang tính thời đại trong thơ trữ tình cách mạng Việt Nam……… 112 3.3.2 Sự hài hoà giữa tính giản dị, chân mộc và tính trí thức, nghiêm nghịtrong ngôn ngữ thơ Bằng Việt……… 1143.3.3 Việc hướng tới một vẻ đẹp triết luận trong ngôn ngữ thơ Bằng Việt 1203.4 Giọng điệu thơ………1233.4.1 Giọng điệu chủ đạo trong thơ trữ tình cách mạng Việt Nam……… 1243.4.2 Trữ tình đắm đuối - một hệ quả tương tác giữa giọng điệu chung vàgiọng điệu riêng trong thơ Bằng Việt thời kỳ đầu………1263.4.3 Giọng “khô khan” như một hướng tìm tòi trong thơ Bằng Việt thời giangần đây……… 128

Kết luận………132 Tài liệu tham khảo……… 134

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Với giọng thơ trữ tình triết lí rất đỗi tài hoa, Bằng Việt sớm thànhdanh trong thơ chống Mĩ Cùng với những tên tuổi như Lê Anh Xuân, NguyễnDuy, Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Thanh Thảo,… Bằng Việt góp mộttiếng nói riêng trong dàn hợp xướng của thế hệ mình Nhìn vào tiến trình thơBằng Việt, độc giả thấy ông không “ngủ quên” trên đài vinh quang mà luôn

nỗ lực làm mới thơ, làm cho “có không khí hơn” cái “tạng” của chính mình,làm một cuộc tăng tốc để không là người của thế kỉ trước Thơ Bằng Việt luônsong hành cùng thơ đương đại Việc nghiên cứu toàn diện thơ ông không chỉgiúp ta hiểu được nỗ lực của nhà thơ trên con đường đến với cái mới để làngười “không bị đúp lại ở thế kỉ 20”, mà còn hiểu thêm về hành trình sáng tạođầy nhọc nhằn của văn học, nghệ thuật

1.2 Bằng Việt là nhà thơ có nhiều thành tựu Tác phẩm của ông đãđược nghiên cứu, nhưng còn nhiều vấn đề chưa được quan tâm đúng mức.Tìm hiểu vấn đề mối quan hệ giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đạitrong thơ Bằng Việt, ta có điều kiện hiểu sâu thêm những nét đặc trưng có tínhloại hình của thơ hiện đại nói chung và những loại hình thơ cấu thành thơ hiệnđại, đặc biệt hiểu sâu thêm sự ràng buộc có khi tích cực, có khi tiêu cực củaphong cách thời đại đối với cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ Với một đề tàithuộc chuyên ngành Lý luận văn học, luận văn muốn đặt ra và tham gia giảiquyết những vấn đề có tính lý luận về phong cách nghệ thuật

1.3 Trong nhà trường, có một số tác phẩm của Bằng Việt đã từ lâu trở

nên quen thuộc với học sinh Đó là bài Mẹ trong chương trình tiếng Việt cấp I (rút từ tập Những gương mặt, những khoảng trời, Nhà xuất bản Văn học, 1973), bài Bếp lửa trong chương trình Ngữ văn cấp II (rút từ tập Hương cây -

Trang 6

Bếp lửa, Nhà xuất bản Văn học, 1968) Kết quả nghiên cứu của luận văn, như

vậy sẽ có ý nghĩa nhất định trong việc nâng cao chất lượng dạy học thơ BằngViệt trong trường phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu mối quan hệ giữa phong cách (nghệ thuật) cá nhân

và phong cách (nghệ thuật) thời đại

2.1.1 Phong cách theo cách hiểu truyền thống là biểu hiện đặc trưngcho tính độc đáo của sáng tạo nghệ thuật Theo cách hiểu hiện đại nó là cấutrúc của hình thức Việc nghiên cứu phong cách có ý nghĩa xác lập một cáchhiểu văn học mang tính chỉnh thể, phát hiện bản chất tư tưởng và thẩm mĩ củavăn học, chỉ ra chiều sâu và sự thống nhất của hai mặt nội dung và nghệ thuật

Phong cách văn học ngoài biểu hiện bản sắc cá nhân nhà văn, còn thểhiện bản sắc của thời đại, địa phương, dân tộc, trường phái,… Phong cách vănhọc vì thế có nhiều cấp độ: phong cách tác phẩm, phong cách nhà văn, phongcách thời đại, phong cách trào lưu, trường phái, phong cách thể loại,…

Vậy vấn đề phong cách mà cụ thể là vấn đề phong cách cá nhân vàphong cách thời đại đã được giới nghiên cứu tìm hiểu như thế nảo?

Vấn đề phong cách của một tác giả vẫn được nghiên cứu nhiều hơn cả.Tại Việt Nam, tuy có muộn hơn so với thế giới, song vấn đề phong cách mộttác giả đã được nghiên cứu một cách khá thấu đáo Khái niệm này đã được

làm rõ trong nhiều loại sách công cụ như: Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên [22]; Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên [18]; 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên

Ân biên soạn [3]; Lý luận văn học (tái bản lần thứ nhất), Phương Lựu (chủ biên) [32]; Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ (Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương biên soạn) [21]; Tập bài giảng nghiên cứu văn học (Hoàng Ngọc

Trang 7

Hiến biên soạn) [22]… Nhiều công trình khoa học nghiên cứu tập trung về

phong cách cũng đã trình bày về khái niệm này: Dẫn luận thi pháp học (Trần Đình Sử) [50], Dẫn luận phong cách học (Nguyễn Thái Hòa) [25]; Thơ và mấy

vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (Hà Minh Đức) [15], Nhà văn tư tưởng và phong cách (Nguyễn Đăng Mạnh) [33], Văn học Việt Nam trong thời đại mới

(Nguyễn Văn Long) [31], Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Biện Minh Điền) [13], Mắt thơ I (Đỗ Lai Thúy) [55], Những thế giới nghệ thuật thơ (Trần

học (Lại Nguyên Ân biên soạn) [3]; trong các công trình nghiên cứu: Mấy vấn

đề nghiên cứu văn học (GS Nguyễn Lương Ngọc), Những nguyên lý về lý luận văn học (GS Lê Đình Kỵ), Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam (1945 - 1970) (GS.

Phong Lê), Thi pháp thơ Tố Hữu [48], Những thế giới nghệ thuật thơ (Trần

Đình Sử) [49],… Thuật ngữ phong cách thời đại gần như mới chỉ được tìm

hiểu một cách công phu trong Phong cách thời đại - nhìn từ một thể loại văn

học (Nguyễn Khắc Sính) [45].

2.1.2 Sự thẩm thấu, liên hệ giữa phong cách cá nhân với phong cáchdân tộc, phong cách thể loại, đặc biệt là với phong cách thời đại chưa đượcquan tâm đúng mức Mối quan hệ hết sức ý nghĩa này mới chỉ được nhắc đếnmột cách sơ sài: “(…) phong cách không phải là cái gì bất biến, nó từng thay

đổi với các thời đại” (Mấy vấn đề nghiên cứu văn học, GS Nguyễn Lương

Ngọc); “có một cái gì đó về giọng điệu chung chứng tỏ chúng đều là sản phẩmcủa một giai đoạn văn học do quan niệm, do cảm nhận của một thế hệ nhà văn

Trang 8

trước hiện thực ấy, đó là những ý nghĩ của rất nhiều người trong một thời đại

nhất định” (Bước đầu đến với văn học, Vương Trí Nhàn)…

Hiện nay, theo chúng tôi được biết, chưa có công trình nghiên cứu nàothực sự làm rõ mối quan hệ này

2.2 Nghiên cứu về phong cách thơ Bằng Việt

2.2.1 Khảo sát các bài viết về tác giả Bằng Việt, chúng tôi thấy rằng:ngoài những bài phê bình về một bài thơ, một tập thơ cụ thể, hay những bàiviết đánh giá về vị trí của Bằng Việt trong thơ chống Mĩ và thơ đương đại, thìhầu hết các nhà nghiên cứu đều đi vào tìm hiểu chất thơ, giọng thơ, cảm xúcthơ,… - các yếu tố làm nên phong cách thơ Bằng Việt Có thể kể tên các công

trình sau: Nghĩ về sức sáng tạo của một nền thơ (Hà Minh Đức) [17], Hồn thơ

thế kỉ - Bình luận thơ (Anh Ngọc) [38], Thơ với tuổi thơ - Bằng Việt (Nguyễn

Hoàng Sơn) [46], Thơ - tìm hiểu và thưởng thức (Nguyễn Xuân Nam) [36],

Dọc cánh đồng thơ (Trịnh Thanh Sơn) [47], Đọc thơ Bằng Việt (Nguyễn Văn

Hạnh) [19], Hương cây - Bếp lửa - Đất nước và đời ta (Lê Đình Kỵ) [27], …

2.2.2 Đặc biệt, đã có khá nhiều luận văn cao học trực tiếp đi vào nghiên cứu

phong cách thơ Bằng Việt, trong đó phải kể đến Phong cách nghệ thuật thơ

Bằng Việt của Nguyễn Bạch Linh [30], Phong cách nghệ thuật thơ Bằng Việt

của Hoàng Thị Nga [37] Một số luận văn khác khi tìm hiểu thơ Bằng Việt

cũng đã từng bước làm rõ đặc trưng phong cách thơ ông: Thế giới nghệ thuật

thơ Bằng Việt của Đỗ Thuận An [1], Đặc sắc thơ Bằng Việt của Nguyễn Thu

Cúc [6]

Những đánh giá về phong cách thơ Bằng Việt của các học giả, luận văn

sẽ đi vào trình bày chi tiết ở các chương cụ thể

2.2.3 Hàng trăm bài viết và công trình nghiên cứu về thơ Bằng Việt từcác khía cạnh, góc nhìn khác nhau đều gặp nhau ở một điểm khi cho rằngBằng Việt là một người sớm định hình một giọng điệu riêng và luôn nỗ lực

Trang 9

trong việc làm mới thơ Tuy nhiên, còn hiếm công trình tìm hiểu thơ BằngViệt theo tiến trình vận động Luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiênbàn về sự thống nhất giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại trongthơ Bằng Việt, nhìn thơ Bằng Việt như một quá trình vận động không ngừng,song hành với quá trình vận động chung của thơ Việt Nam đương đại.

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự thống nhất giữa phong cách cá

nhân và phong cách thời đại trong thơ Bằng Việt.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.2.1 Trình bày một số vấn đề lý thuyết về mối quan hệ giữa phongcách cá nhân và phong cách thời đại trong sáng tạo văn học

3.2.2 Phân tích sự thống nhất biện chứng giữa phong cách cá nhân vàphong cách thời đại trong thơ Bằng Việt trên vấn đề cái nhìn về con người, thếgiới

3.2.3 Khảo sát, đánh giá sự thống nhất biện chứng giữa phong cách cánhân và phong cách thời đại trong thơ Bằng Việt trên vấn đề hình thức nghệthuật

3.3 Phạm vi tư liệu khảo sát

Để nghiên cứu sự thống nhất giữa phong cách cá nhân và phong cáchthời đại trong thơ Bằng Việt, chúng tôi khảo sát toàn bộ mười ba tập thơ củaông:

1 Hương cây - Bếp lửa

2 Những gương mặt, những khoàng trời

3 Đất sau mưa

4 Khoảng cách giữa lời

Trang 10

5 Cát sáng

6 Bếp lửa- Khoảng trời

7 Phía nửa mặt trăng chìm

8 Ném câu thơ vào gió

9 Thơ Bằng Việt (tuyển)

10 Ném câu thơ vào gió

11 Thơ Bằng Việt (1961-2001)

12 Nheo mắt nhìn thế giới

13 Bằng Việt - Tác phẩm chọn lọc

Tuy nhiên, những thống kê chủ yếu được thực hiện dựa vào tập thơ

tuyển mới nhất của tác giả: Bằng Việt - Tác phẩm chọn lọc Khi cần thiết,

chúng tôi có tiến hành so sánh, đối chiếu với các văn bản đã được công bố từ

trước trong mười một tập thơ (kể từ tập đầu tiên Hương cây - Bếp lửa cho đến tập thơ mới Nheo mắt nhìn thế giới).

Bên cạnh việc khảo sát thơ Bằng Việt, chúng tôi cũng khảo sát thơ củanhững nhà thơ nổi tiếng đã làm nên khuôn mặt thơ Việt Nam sau 1945 (thôngqua các tập thơ chính hoặc các tuyển tập thơ lớn)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi phối hợp sử dụng các phươngpháp chủ yếu sau: phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháploại hình,… Ngoài ra, nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học quen thuộc,thông dụng khác cũng được sử dụng

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn đi vào tìm hiểu sự thống nhất giữa phong cách cá nhân vàphong cách thời đại trong thơ Bằng Việt để thấy được nỗ lực song hành cùng

Trang 11

thơ đương đại của ông, đồng thời thấy được hành trình sáng tạo đầy nhọcnhằn của văn học nói riêng, nghệ thuật nói chung.

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội

dung chính của luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1 Từ lý thuyết về mối quan hệ giữa phong cách cá nhân và

phong cách thời đại nhìn về thơ Bằng Việt

Chương 2 Sự thống nhất biện chứng giữa phong cách cá nhân và phong

cách thời đại trong thơ Bằng Việt trên vấn đề cái nhìn về con người, thế giới

Chương 3 Sự thống nhất biện chứng giữa phong cách cá nhân và phong

cách thời đại trong thơ Bằng Việt trên vấn đề hình thức nghệ thuật

Chương 1

Trang 12

TỪ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHONG CÁCH CÁ NHÂN

VÀ PHONG CÁCH THỜI ĐẠI NHÌN VỀ THƠ BẰNG VIỆT

1.1 Phong cách cá nhân và phong cách thời đại như là những cấp

độ khác nhau của phong cách nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm chung về phong cách

Trong đời sống, khái niệm “phong cách” được dùng để chỉ cách sống,cách làm việc, cách công tác của mỗi người trong xã hội (phong cách sống,phong cách làm việc, phong cách công tác); chỉ cung cách biểu diễn của cácnghệ sĩ trong các ngành nghệ thuật (phong cách biểu diễn); hoặc để chỉ phẩmchất chung của một hay nhiều người, chẳng hạn người ta hay nói tới phongcách của bộ đội cụ Hồ như một phẩm chất độc đáo, riêng biệt trong đời sống,trong sinh hoạt, trong công việc của một kiểu người trong xã hội;…

Ở các trường hợp này, “phong cách” được hiểu là nét riêng, được lặp đilặp lại ở một người, một nhóm người, giúp phân biệt người này với ngườikhác, nhóm này với nhóm khác

Trong ngôn ngữ, để thực hiện được những chức năng, yêu cầu khácnhau, các tập đoàn xã hội, các giới nghề nghiệp có cách sử dụng ngôn ngữkhác nhau Sự khác nhau trong chức năng biểu đạt, phương diện biểu cảm củangôn ngữ giúp biệt loại các phong cách chức năng ngôn ngữ: phong cách khoahọc, phong cách báo chí, phong cách nghệ thuật, phong cách hành chính,…

Ở các trường hợp này, “phong cách” được hiểu là sự riêng biệt mangtính ổn định, lặp đi lặp lại ở một kiểu loại, để phân biệt ngôn ngữ ở kiểu loạinày với các kiểu loại khác

Trong ngữ văn học, từ xưa “phong cách” được ý thức như là diện mạo,

nét riêng của cách diễn đạt Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long, thiên Thể tính

đã chia các loại phong cách: rườm rà, tráng lệ, điển nhã, cô đọng,… Về sau,

Trang 13

có nghĩa như Buffon đã nói trong câu châm ngôn “phong cách là người”.

Nguyễn Định Cát trong lời tựa Cẩn trai thi tập đã từng viết: “Người nào trội

về nhân cách thì làm thơ hay trang nhã, người nào trội về khí phách thì làmthơ hay hùng hồn, người nào giỏi về dùng chữ đặt câu thì làm thơ hay hoamĩ… xem thơ thì có thể mường tượng được người” [32, 48]

Qua cách viết trang nhã, hùng hồn hay hoa mĩ, người ta nhận ra tác giảnày hay tác giả kia, phân biệt nhà văn này với nhà văn khác

“Phong cách” là thuật ngữ được dùng trong nhiều lĩnh vực, song xuấthiện nhiều hơn cả là trong nghệ thuật Ngay trong lĩnh vực này, cũng có nhiều

ý kiến khác nhau khi nhận diện khái niệm phong cách

- “Phong cách nghệ thuật là phạm trù thẩm mĩ chỉ sự thống nhất tươngđối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệthuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà văn, một tác phẩm, mộtkhuynh hướng văn học, một nền văn học dân tộc nào đó (…) Nếu như dùngmột công thức vắn tắt thì phong cách cần phải được định nghĩa như phươngthức biểu hiện, cách chiếm lĩnh hình tượng đối với cuộc sống như là phươngthức thuyết phục và thu hút độc giả” [3]

- “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhấttương đối ổn định của hệ thống hình tượng của các phương tiện biểu hiệnnghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tácphẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [18]

- “Song một cách hiểu đúng đắn nhất đó là coi phong cách là một hệthống mà tất cả các yếu tố nằm lẫn nhau trong sự thống nhất Sự thống nhấtgiữa nội dung và hình thức là đối tượng cơ bản của phong cách” [33]

Trong cuốn Nguyễn Đăng Mạnh và những bức tường phê bình văn học,

Đỗ Lai Thúy cũng đã đưa ra một cách hiểu về khái niệm phong cách: “Phongcách là sự lặp đi lặp lại của một chùm những nét khác biệt: những nét này

Trang 14

muốn tạo thành phong cách không được có tần số quá thấp, bởi vì tần số thấp

nó sẽ không để lại trong người đọc một ấn tượng nào cả”

Từ những trình bày trên đây, chúng ta có thể thấy rằng: khi nghiên cứuphong cách, cần phải xác định khái niệm và phạm vi vận dụng Trong phạm viluận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm phong cách (phong cách văn học)

để chỉ tính độc đáo, có ý nghĩa thẩm mĩ của một hiện tượng văn học Cái gọi

là hiện tượng văn học này bao gồm phạm vi rất rộng, từ nền văn học của mộtdân tộc, một thời đại, một trào lưu, một trường phái, tới toàn bộ sáng tác củamột nhà văn, thậm chí tới những tác phẩm văn học riêng lẻ,…

1.1.2 Các cấp độ của phong cách

Nhiều công trình nghiên cứu đã đi vào nhận diện các cấp độ của phong

cách như: Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên; Từ điển thuật ngữ văn

học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên; 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn; Lý luận văn học (tái bản lần thứ

nhất), Phương Lựu (chủ biên); Dẫn luận phong cách học (Nguyễn Thái Hòa);

Nhà văn tư tưởng và phong cách (Nguyễn Đăng Mạnh); Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Biện Minh Điền); Phong cách thời đại - nhìn từ một thể loại văn học (TS Nguyễn Khắc Sính);…

Trong các công trình này, các nhà nghiên cứu đều đi đến nhận địnhphong cách gồm những cấp độ sau: phong cách tác phẩm văn học; phong cáchnhà văn; phong cách thời đại; phong cách trào lưu, trường phái; phong cáchdân tộc và phong cách khu vực

- Phong cách tác phẩm văn học

Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật, do đó, nó có phongcách Các tác giả như V.Girmunxki hay N Xôcôlôp đều cho rằng có phongcách tác phẩm, nếu không có phong cách tác phẩm thì không có phong cáchnào khác nữa Các học giả này khi nhận diện phong cách tác phẩm đều đi đến

Trang 15

một nhận định: tác phẩm là chỉnh thể nền tảng của nghệ thuật, có thể đạt tới

sự độc đáo không lặp lại của một phong cách nào đó

Trong khi đó, nhà nghiên cứu G.N Pôxpêlốp trong Mấy vấn đề phong

cách văn học lại hiểu phẩm chất phong cách là cái chung trong những sáng tác

cá biệt, do đó phủ nhận phạm trù phong cách tác phẩm Qua nghiên cứu, họcgiả này cũng cho rằng, sự thống nhất các yếu tố nội dung và hình thức của tácphẩm chỉ tạo ra một giá trị cá biệt, tự nó không phải phong cách Song, ông lạinhận định một tác phẩm có thể có nhiều phong cách, tức xem tác phẩm là yếu

tố mang các phong cách khác nhau

- Phong cách nhà văn

Phong cách nhà văn là phạm trù được thừa nhận phổ biến từ những năm

50 của thế kỉ XX trở lại đây Từ xưa, người ta quan niệm “văn như kỳ nhân”.Nói thế, không có nghĩa tự thân cá tính làm nên phong cách mà cá tính chỉ có

ý nghĩa là cơ sở tạo nên phong cách nghệ thuật có tính cá nhân Cá tính làmnên những độc đáo trong tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mỹtrong sáng tác của các nhà văn, giúp phân biệt nhà văn này với nhà văn khác

“Phong cách nghệ thuật của nhà văn biểu hiện tài nghệ của người nghệ

sĩ ngôn từ trong việc đem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ chưa từng

có về cuộc sống, con người, thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo

và những phương thức, phương tiện thể hiện đặc thù in đậm dấu ấn cá nhân

chủ thể sáng tạo” (Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục,

Hà Nội)

“Không phải nhà văn nào cũng có phong cách mà chỉ ở những nhà vănlớn, nhà văn ưu tú mới làm nên chỗ độc đáo có phẩm chất thẩm mỹ và cái độcđáo ấy là nét xuyên suốt, thống nhất, ổn định trong sự phong phú, đa dạng, đổimới ở trong tất cả các sáng tác của nhà văn đó” [32, 483]

Trang 16

Có thể thấy rằng, các tác giả khi đi vào nhận diện, nghiên cứu phongcách, cụ thể là phạm trù phong cách nhà văn đều cho rằng: phong cách nhàvăn là sự thống nhất, lặp đi lặp lại có tính quy luật của các yếu tố nghệ thuậttrong một loạt tác phẩm, đủ để nhà văn tạo được cho mình một “chân dung

tinh thần” riêng Nhờ đó, chúng ta nhận ra được hồn thơ rộng mở của Thế Lữ,

mơ màng của Lưu Trọng Lư, hùng tráng của Huy Thông, trong sáng của

Nguyễn Nhược Pháp, ảo não của Huy Cận, quê mùa của Nguyễn Bính, kỳ dị của Chế Lan Viên,…và thiết tha, rạo rực, băn khoăn của Xuân Diệu (chữ dùng của Hoài Thanh, Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 1988).

- Phong cách thời đại

Khái niệm “phong cách thời đại” xuất hiện từ khá lâu, trong nhiều côngtrình nghiên cứu nghệ thuật của các tác giả như: Winckelmann, Volflin,Fleiming, H Taine,… Phong cách thời đại được xác định trong sự phân biệtvới phong cách cá nhân, phong cách của các trào lưu, khuynh hướng văn học:

“Với ý nghĩa này, người ta phân biệt các “phong cách lớn” hay còn gọi là

“phong cách thời đại” (Phong cách Phục Hưng, Barôc, chủ nghĩa cổ điển), cácphong cách của các trào lưu và dòng văn học, ph.c dân tộc và phong cách cánhân của tác giả” [18]; và được hiểu: “Phong cách thời đại là những thuộc tínhchung trong cách biểu hiện vào tác phẩm nghệ thuật (và cả trong đời sống xãhội), thể hiện tinh thần, cảm hứng và thị hiếu thẩm mĩ của thời đại cụ thể Vìthế, phong cách thời đại là phong cách chỉ xuất hiện, hình thành và tồn tạitrong một khoảng thời gian nhất định của lịch sử Nó xuất hiện để thay thếmột phong cách trước đó hoặc nó sẽ bị thay thế bởi một phong cách xuất hiện

ở thời đại sau nó (…) Phong cách thời đại được thể hiện trong những chủ đề,những môtíp, những quan niệm, cách tiếp cận được ưa chuộng, những yếu tốđược lặp đi lặp lại của tổ chức bề ngoài của tác phẩm” [45]

Trang 17

Từ những ý kiến trên đây, có thể thấy rằng, phong cách thời đại mangnhững đặc điểm sau:

Thứ nhất, phong cách thời đại có nhiều hình thức biểu hiện mà hìnhthức chủ yếu nhất là phong cách chung bao trùm lên mọi loại hình nghệ thuật

Có thể thấy rõ điều này khi khảo sát các sáng tác nghệ thuật ở Việt Nam giaiđoạn 1945 - 1975 Các thể loại văn học như truyện, thơ, kịch, ký; các loại hìnhnghệ thuật khác như hội họa, âm nhạc, điêu khắc đều có chung đề tài, nguồncảm hứng, chất liệu nghệ thuật,… - những yếu tố làm nên phong cách

Thứ hai, phong cách thời đại là phong cách của lịch sử nghệ thuật, mỗithời kỳ có một phong cách tiêu biểu Nhờ đó, chúng ta phân biệt được giaiđoạn này với giai đoạn khác, thời đại này với thời đại khác Đọc một tácphẩm, chúng ta có thể xác định được nó sáng tác trong thời đại nào Nó là con

đẻ của giai đoạn văn học 1930 - 1945 nếu mang hơi hướm lãng mạn, của giaiđoạn 1945 - 1975 nếu mang cảm hứng ngợi ca, tràn đầy khí thế, nhiệt huyếtchiến đấu Nó sẽ trầm lắng hơn, nhiều chiêm nghiệm hơn khi được sinh ratrong giai đoạn sau 1975

Thứ ba, phong cách thời đại gắn với phạm trù hệ hình tư duy của thờiđại Mỗi thời đại có một quan niệm về xã hội, một cái nhìn về con người Và,phong cách chung của thời đại được tạo nên từ những sự lặp lại về chủ đề, môtíp, cảm hứng,… Đó là những yếu tố giúp nhận diện, xác nhận những đặcđiểm của phong cách thời đại

- Phong cách trào lưu, trường phái

Khái niệm phong cách trào lưu được mặc nhiên thừa nhận khi người tanghiên cứu các trào lưu chủ nghĩa cổ điển Pháp thế kỷ XVII, trào lưu chủnghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên và các trường phái hiện đại chủ nghĩa

Cơ sở của nó là sự tập hợp xung quanh một tuyên ngôn, một quan niệm

về nghệ thuật, một phương pháp sáng tác bởi trào lưu, trường phái văn học là

Trang 18

“một phong trào văn học hoàn chỉnh bao gồm sáng tác với tổ chức và lý luận,đấu tranh và phê bình” và “lúc đã có một tổ chức nòng cốt, phát huy được sứcmạnh chủ đạo thì trào lưu văn học có thể gọi là trường phái văn học” [32, 476]

- Phong cách dân tộc và phong cách khu vực

Phong cách dân tộc, khu vực là sự thể hiện bản sắc của dân tộc trongvăn học, phân biệt với văn học dân tộc khác Mỗi dân tộc có một ngôn ngữ,truyền thống văn hóa, một cách ứng xử, biểu đạt riêng Những nét riêng trongngôn ngữ, trong truyền thống văn hóa, trong cách ứng xử, biểu đạt tình cảm,

… tạo nên bản sắc dân tộc, phong cách từng dân tộc Qua quan niệm về conngười cũng như xã hội, qua cách xử lí những tín hiệu thẩm mỹ,… của cácsáng tác của các tác giả trong một khu vực, chúng ta có thể nhận diện, xácnhận được những đặc điểm của phong cách dân tộc, khu vực đó; phân biệt dântộc, khu vực đó với các dân tộc, khu vực khác

1.1.3 Cơ sở tồn tại của phong cách cá nhân và phong cách thời đại

Phong cách là nét độc đáo mang phẩm chất thẩm mỹ của người nghệ sĩsống trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định, là sản phẩm của một nềnvăn hóa, một tâm thế thời đại nhất định Phong cách thời đại lại được biểuhiện qua các phong cách cá nhân Vì thế, cơ sở xã hội, cộng đồng văn hóa,tâm lý thẩm mỹ thời đại là cơ sở của phong cách chung cũng như của phongcách cá nhân, phong cách thời đại Mỗi tác giả đều sống và viết trong một giaiđoạn Giai đoạn ấy có những đặc thù riêng về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, vềvăn hóa, về tâm lý thẩm mỹ thời đại Tất cả những yếu tố đó chi phối, khiếncho các tác giả trong một giai đoạn văn học có cách cảm, cách nghĩ, cách nhậnthức thế giới khác với cách cảm, cách nghĩ, cách nhận thức thế giới của cáctác giả trong giai đoạn khác Thơ Mới 1932 - 1945 quan niệm cái Đẹp gắn vớicái Buồn, phải buồn thì mới đẹp Do đó, hầu hết các sáng tác của thơ Mới đềubuồn Đó là nỗi buồn nơi quán chật đèo cao, buồn của người lữ thứ dừng ngựa

Trang 19

trên non, buồn đêm mưa, buồn nhớ bạn, trong thơ Huy Cận; là cái buồn hiuhắt trong dáng liễu rủ, trong cái đứng “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì” của côgái trong thơ Xuân Diệu; là chút buồn da diết, khắc khoải, đầy khao khát trongthơ Hàn Mặc Tử,… Thơ kháng chiến lại quan niệm cái Đẹp gắn với cái Vui,niềm vui làm nên bức tranh đẹp Thế nên dù miêu tả, dù kể về mất mát, đauthương vẫn luôn ánh lên niềm vui, lạc quan, tin tưởng Thế nên, con đường ratrận đầy bom rơi, đạn lạc, đầy khó khăn gian khổ nhưng người ta vẫn thấy

“đường ra trận mùa này đẹp lắm” Và thế nên, sự hy sinh cũng được tạc đẹpmột cách bi tráng “áo bào thay chiều anh về đất”

Mỗi thời đại có một tinh thần, một không khí làm nên cái riêng của mộtthời Tinh thần, không khí ấy chính là khuynh hướng tư tưởng, quan niệmchiếm địa vị thống trị trong giai đoạn lịch sử xã hội đó Sáng tác của mỗi cánhân trong mỗi thời đại văn học chịu sự ảnh hưởng của tinh thần, không khíthời đại mình có biểu hiện một khác Cùng thể hiện những trăn trở, ưu tư đầytrách nhiệm của những người cầm bút, song chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng,thơ thời kì kháng chiến chống Pháp khác thơ giai đoạn chống Mĩ Với tinhthần yêu tự do, chuộng hòa bình, chúng ta bước vào cuộc kháng chiến chốngPháp Khi quân giặc đã ở ngay trước mặt, súng đã ở trong tay, hoàn cảnh đókhông cho phép chúng ta có thời gian để nghĩ, để suy tư, chiêm nghiệm Conngười lúc đó chỉ luôn ý thức một điều là cần hành động, phải hành động Bởithế, các nhà thơ luôn tâm niệm sáng tác là để cổ vũ tinh thần kháng chiến,sáng tác là để thể hiện tinh thần chiến đấu của mình, của đồng đội mình Thơkháng chiến chống Pháp vì thế ít “trí tuệ” hơn trong những khái quát về cuộcchiến đấu, về vẻ mặt của con người và cuộc sống đất nước trong một thời kìlịch sử, trong những suy nghĩ về phẩm chất tâm hồn Việt Nam, trong nhữngsuy tư về Tổ quốc, về thế hệ mình… như thơ kháng chiến chống Mĩ Kết thúccuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, chúng ta có thời gian để chuẩn bị tâm

Trang 20

thế bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ Các nhà thơ có thời gian, có điềukiện để nghĩ về cuộc kháng chiến đã qua, nghĩ về công cuộc vệ quốc sắp tới vìthế chất chứa suy nghĩ, trải nghiệm trước cuộc sống.

Tiếp nhận văn học nghệ thuật là một lĩnh vực lớn của lý luận văn học.Khi cầm bút, bất cứ một người viết nào cũng có nhu cầu được nhận sự đồngcảm, giao cảm của độc giả, sự chấp nhận của xã hội Vì thế, tác giả nào cũng

ít nhiều chịu sự chi phối của thị hiếu của một cộng đồng tiếp nhận nhất định

Dễ hiểu vì sao một thời những tác phẩm thuộc vào hàng kiệt tác trong di sảnvăn học dân tộc của Vũ Trọng Phụng như “Giông tố”, “Số đỏ”,… bị lên án, đảkích, thậm chí bị quy chụp động cơ chính trị Cũng dễ hiểu vì sao một thời

“Con trâu”, “Hòn Đất”, “Cỏ non”… lại dễ dàng được đón nhận, được đồngthuận

Những phân tích trên đây cho thấy những yếu tố này chính là cơ sởhình thành, tồn tại của phong cách nói chung, phong cách cá nhân, phong cáchthời đại nói riêng

1.2 Mối quan hệ giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại

1.2.1 Sự chi phối của phong cách thời đại đến phong cách cá nhân

Về thực chất, phong cách thời đại chính là sự khái quát cái chung trongphong cách của nhiều nhà văn cùng sống ở một thời đại nào đó Quan hệ giữaphong cách cá nhân và phong cách thời đại chính là quan hệ giữa cái chung vàcái cá biệt Trong đó, cái cá biệt chịu sự chi phối nhất định của cái chung Các

cá nhân khi sáng tác ít nhiều đều có ảnh hưởng của thời đại mình sống từnhững vấn đề mà thời đại quan tâm, từ quan niệm, tâm lý thẩm mỹ, từ cáchnhận thức thế giới và bản thân,…

Sau 1945, cả nước dồn sức bước vào liên tiếp hai cuộc chiến tranh vệquốc chống Pháp, chống Mĩ Mối quan tâm của con người, của xã hội thời ấy

Trang 21

là hy sinh làm sao để giành được độc lập, là đổ máu như thế nào để có được tự

do Con người sống với một tâm niệm Ôi, Tổ quốc, nếu cần ta sẽ chết - Cho

mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông (Chế Lan Viên) Thơ thời kì này vì thế chủ

yếu tập trung phản ánh cuộc chiến tranh với những cuộc hành quân, với nhữngkhó khăn gian khổ, với hy sinh, mất mát, với niềm tin bất diệt về sự trườngtồn vĩnh cửu của giang sơn gấm vóc Hình tượng tập trung được tạc dựng làhình tượng người lính “Quê hương anh nước mặn đồng chua - Làng tôi nghèo

đất cày lên sỏi đá” (Đồng chí - Chính Hữu), là “Tây Tiến đoàn binh không

mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

-Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (Tây Tiến - Quang Dũng) Cuộc sống đẹp

như trong thơ là cuộc sống trên chiến trường, khi mỗi người đều góp xươngmáu mình để giành lấy non sông “Từng giọt máu trong người con đập khẽ -

Máu bây giờ đâu có của riêng con” (Mẹ - Bằng Việt).

Sự ảnh hưởng của phong cách thời đại đối với phong cách cá nhân là sựchi phối tất yếu của cái chung đối với cái cá biệt Cái cá biệt muốn tồn tại phảidựa trên cái chung, vượt lên cái chung, tạo nên được cái độc đáo riêng biệt,đóng góp vào cái chung

1.2.2 Sự đóng góp của phong cách cá nhân vào phong cách thời đại

Phong cách thời đại được hình thành trên cơ sở của phong cách cánhân Vì thế, phong cách cá nhân có sự đóng góp đáng kể vào phong cách thờiđại

Phong cách nhà văn là yếu tố cơ bản, thiết yếu để tạo nên diện mạo vàđặc sắc của một quá trình văn học Chúng ta khó có thể lí giải tiến trình vậnđộng của một quá trình văn học nếu không nghiên cứu sự hình thành nhữngphong cách cá nhân, đặc biệt là phong cách cá nhân có ảnh hưởng lớn và vaitrò đặc thù Thế nên, đi vào thực tế văn học, không thể phủ nhận rằng: quả làkhó để lí giải tiến trình vận động của thơ Việt Nam từ phạm trù trung đại đến

Trang 22

phạm trù hiện đại nếu chúng ta không đi sâu tìm hiểu phong cách cá nhân củanhững cây đa, cây đề trong nền văn học trung đại như Nguyễn Trãi, Nguyễn

Du, Nguyễn Khuyến,… đặc biệt là tìm hiểu phong cách cá nhân của Tản Đà cái gạch nối của hai thời đại thi ca, đến việc tìm hiểu phong cách của nhữngnhà thơ tiên phong và có công xác lập, hình thành phạm trù thơ mới như Thế

-Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,…

Phong cách cá nhân còn đóng góp không nhỏ trong việc góp vào nhữngnét riêng, đặc trưng riêng, tạo nên những nét mới cho phong cách một thờiđại Ở khía cạnh này, luận văn chúng tôi xin mượn những dẫn giải hết sứcthấu đáo và cụ thể của tác giả Biện Minh Điền khi tác giả xác định gương mặt

Nguyễn Khuyến trên đường vận động của quy luật cảm hứng sáng tạo, từ sử

thi - yêu nước đến trào phúng - phản tỉnh thực tại Theo đó, tác giả cho rằng:

“Với Nguyễn Khuyến, một mặt không thể tách nhà thơ khỏi dòng chảy của ýthức, cảm hứng yêu nước trong văn học chân chính lúc bấy giờ, nhưng mặtkhác chúng tôi muốn nhìn sâu hơn vào kiểu lựa chọn riêng của ông, một kiểulựa chọn vừa do năng động của chủ thể, vừa do sự vận động biến chuyển, tácđộng của khách thể”[13] Từ cái nhìn đó, tác giả Biện Minh Điền đã lí giảihiện tượng Nguyễn Khuyến từ trong sự vận động nội tại của một quá trình vănhọc: “Đúng là yêu nước vừa là nguồn cảm hứng lớn, vừa là nội dung tối quantrọng, bao trùm văn học cả giai đoạn Song, nội dung này, cảm hứng này càng

về cuối giai đoạn càng yếu dần Nó hiện ra trong thơ văn Nguyễn Khuyến vớisắc thái riêng, và không phải không sâu sắc, tỉnh táo Nguyễn Khuyến không

có tư cách kiểu “nhà văn - chiến sỹ” (như nhà văn Cần Vương), đã đành làđáng tiếc! Nhưng với tư cách “thi ông”, “ngâm ông”, “văn nhân đa biệt lệ”…(lời tự xưng của tác giả trong thơ chữ Hán) và đó chính là tư cách nhà tưtưởng - nghệ sĩ, Nguyễn Khuyến đã có những đóng góp riêng không chỉ làmgiàu cho ý thức văn học dân tộc mà còn cho ngay cả khái niệm yêu nước vừa

Trang 23

nêu”[13] Qua tìm hiểu, tác giả Biện Minh Điền đã làm rõ những đóng gópriêng của Nguyễn Khuyến đối với thơ ca thời trung đại

Đóng góp của phong cách cá nhân vào phong cách thời đại còn thể hiện

ở việc sự độc đáo của số ít những phong cách cá nhân ở một giai đoạn nào đógóp phần làm thay đổi phong cách thời đại ấy, chuyển từ phong cách này sangphong cách khác Chúng ta nhớ đến Tản Đà - người được nhà phê bình vănhọc Hoài Thanh, Hoài Chân trang trọng đặt lên đầu trong cuốn tổng kết chặngđường mấy mươi năm văn học của dân tộc Tản Đà được Hoài Thanh, HoàiChân nhận định là “cái gạch nối” của hai thời đại thơ ca - thơ ca trung đại vàthơ ca hiện đại Là tác giả của thời đại thơ cũ, mang phong cách thơ cũ, songthơ ông lại có nhiều cách tân đáng kể, đem đến nhiều cái mới Cá nhân ông có

sự đóng góp đáng kể trong sự chuyển mình mạnh mẽ của thơ dân tộc nhữngnăm đầu thế kỉ XX Tuy nhiên, với sự đóng góp của cá nhân Tản Đà, thơ vănViệt Nam chưa thể thoát khỏi hệ hình trung đại để chuyển sang hệ hình hiệnđại mà phải đến Thế Lữ, “không bàn về thơ mới, không bênh vực thơ mới,không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bướcnhững bước vững vàng, mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tanvỡ” [59] Như vậy với sự đóng góp của Tản Đà, thơ ca đã có bước chuyểnmình mạnh mẽ; và với Thế Lữ, thơ dân tộc với những “khuôn khổ ngàn nămkhông di dịch” đã “rạn vỡ” (chữ dùng của Hoài Thanh - Hoài Chân)

Vì những đóng góp tích cực, đáng kể của phong cách cá nhân mà M.Khrapchenkô từng nhận định: “Nếu thiếu sự khám phá các đặc điểm phongcách sáng tác của từng nhà văn thì lịch sử văn học chủ yếu biến thành lịch sử

tư tưởng, bỏ qua việc thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng nhấtnghiên cứu sự vận động lịch sử của văn học với tư cách một loại hình nghệthuật” [26]

Trang 24

1.2.3 Sự thống nhất đầy nghịch lý của phong cách

Quan hệ giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại là mối quan

hệ thống nhất đầy nghịch lý Nghệ thuật là sự độc đáo đến tận cùng phát lộ từbản thể người nghệ sĩ, nhưng đồng thời cũng là tiếng nói của cả cộng đồngdân tộc, thậm chí của cả nhân loại Người nghệ sĩ vừa phải giữ được cái phongcách cá nhân độc đáo, vừa phải thể hiện được tính thời đại ngay trong hìnhtượng nghệ thuật của mình

Tìm hiểu sự thống nhất giữa phong cách cá nhân và phong cách thờiđại, chúng tôi thấy rằng: phong cách cá nhân là một yếu tố góp phần làm nênphong cách thời đại, hay nói cách khác, phong cách thời đại được hình thànhdựa trên cơ sở sự tồn tại của phong cách cá nhân Sự độc đáo của phong cách

cá nhân làm nên nét riêng, nét mới của phong cách thời đại Và ngược lại,phong cách thời đại đặt dấu ấn trong phong cách cá nhân của từng nghệ sĩ Nóchi phối, tác động và có tính chất như một hệ quy chiếu đối với phong cách cánhân Ở trên, chúng tôi đã trình bày những đóng góp của phong cách cá nhânvào phong cách thời đại Ở đây, chúng tôi chỉ xin bàn thêm về những đónggóp của phong cách thời đại vào phong cách cá nhân để làm rõ sự thống nhấtgiữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại

Có thể dễ dàng nhận thấy, bất cứ tác giả nào, trong giai đoạn nào, khisáng tác cũng đều chịu một áp lực của thời đại Không khó lí giải cho điềunày, bởi khi sáng tác là tác giả giãi bày những tình cảm, cảm xúc, suy nghĩcủa mình trước một hiện tượng của con người, của cuộc sống, của thời đại.Sống ở thời đại nào, nhận thức con người chịu sự ảnh hưởng của hệ hình tưtưởng thời đại đó Vì thế, dấu ấn thời đại ít nhiều cũng phảng phất trong sángtác của họ Trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, người nghệ sĩ vì quyền lợicủa dân tộc mà phải hy sinh những quyền lợi riêng tư “Dẫu một cây chông trừgiặc Mĩ - Hơn nghìn cây bút luận văn chương” Họ viết không phải cho mình,

Trang 25

hay bởi những ẩn ức dồn nén mà viết vì quyền lợi cộng đồng, vì sự tồn vongcủa cả dân tộc Sống trong giai đoạn mà cả nước đang gồng mình để đấutranh, để giành lấy quyền CON NGƯỜI cho mình, các nhà thơ chống Pháp,chống Mĩ khi sáng tác đều đi theo một con đường dọn sẵn là ca ngợi Tổ quốc,

ca ngợi nhân dân, là nêu cao tinh thần dũng cảm, đấu tranh cứu nước,… Lúcbấy giờ, các nhà thơ phải viết: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, hay “Hoan

hô chiến sĩ Điện Biên” thay vì viết “Nhưng không chết người trai khói lửa-Mà chết người gái nhỏ hậu phương” Đó là sự hy sinh cao cả của người nghệ

sĩ Trong hoàn cảnh đó, nội dung tư tưởng nhiều khi chưa hài hòa với hìnhthức nghệ thuật, con người chính trị đi trước con người nghệ sĩ Khi mà cuộcsống yêu cầu “cả dân tộc có chung tiếng nói”, người nghệ sĩ có nguy cơ đánhmất sự độc đáo trong cá tính, trong tư tưởng, cũng như trong nghệ thuật Vănchương của họ trở thành “văn chương mình họa” , hiện thực mà họ phản ánhchỉ là “hiện thực phải đạo”

Bên cạnh đó, phong cách cá nhân của người nghệ sĩ còn chịu một áplực khác Tư tưởng thời đại chi phối thẩm mĩ thời đại khiến cho cá nhân ngườinghệ sĩ khi sáng tác chịu áp lực từ sự đánh giá không phải bởi giá trị nghệthuật mà bởi giá trị tư tưởng của thời đại Tác phẩm nói lên được tinh thầnchung của thời đại là tác phẩm có giá trị Tác phẩm đi ngược lại với tư tưởngcủa thời đại là tác phẩm không có giá trị, và bị lên án, đánh giá hết sức khắtkhe Khi “con người nghệ sĩ” vượt lên trước “con người tư tưởng”, “conngười chính trị” - những sự không ăn nhịp này gây nên những hệ lụy, thậmchí là cả những thảm kịch lớn cho người nghệ sĩ Nỗi đau bị xã hội lên án của

các bậc tiền nhân như Nguyễn Du - người đã sáng tạo ra kiệt tác Truyện Kiều, hay Xtăng đan - cha đẻ của tác phẩm Đỏ và đen chẳng phải đã rất thấm thía đó

sao? Hay số phận chịu trăm đường thua thiệt của những nghệ sĩ cách tân nhưTrần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng chẳng phải cũng đã gây cho chúng ta

Trang 26

những xót xa, ân hận đó sao? Một thời, Tây Tiến của Quang Dũng không được

đón nhận, và bị xem là “buồn rớt, mộng rớt” - những tư tưởng không được

quyền có lúc bấy giờ Một thời, Màu tím hoa sim của Hữu Loan cũng bị

“đánh” vì đã nói đến sự mất mát - những vấn đề lúc này chúng ta đang tránhnói đến Mãi đến sau này, sau khi đường lối chỉ đạo của Đảng về văn học đãđược đổi mới, các tác phẩm đó mới được đánh giá một cách đúng tầm, trả lại

vị trí cho nó trong văn học kháng chiến Phong cách thời đại như vậy khôngchỉ đặt dấu ấn vào phong cách cá nhân mà còn có tính chất như hệ quy chiếu

để đánh giá đối với phong cách cá nhân

Tuy nhiên, phong cách không phải là một hiện tượng bất biến, mà làmột quá trình vận động, biến chuyển, thậm chí có cả những thay đổi Bởi bảnchất của nghệ thuật là sáng tạo, nghệ thuật tối kỵ những cái gì chung chung,lặp lại: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo mộtvài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu,biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”(Đời thừa - Nam Cao) Các nghệ sĩ một mặt vừa có ý thức hoàn thiện phongcách cá nhân của mình để “cái riêng, cái mới” thống nhất, ổn định, xuyên suốtvừa có ý thức vượt lên chính mình, tìm tòi phá vỡ cái vỏ bọc mòn cũ Sự tìmtòi cách tân của những phong cách cá nhân tiêu biểu này đã góp phần thúc đẩylàm chuyển biến phong cách thời đại Thậm chí, làm cho nó chuyển từ phongcách này sang phong cách khác Tản Đà mặc dù trong ý thức tư tưởng muốngiữ gìn những giá trị xưa cũ, chống cái “lai căng”, nhưng do sự vận động củađời sống xã hội, do sự tác động của phong cách thời đại mà trở thành “cáigạch nối của hai thời đại” ngoài ý muốn

Như vậy, bản thân phong cách là sự thống nhất đầy nghịch lý Trong

đó, phong cách cá nhân có sự thay đổi theo tiến trình lịch sử bởi nó chịu sự tácđộng của nhiều yếu tố - vừa là yếu tố thời đại, vừa là yếu tố tự thân Ngược

Trang 27

lại, phong cách thời đại cũng sẽ biến đổi khi có sự thúc đẩy mạnh mẽ củanhững phong cách cá nhân độc đáo.

1.3 Thơ Bằng Việt - một biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa phong cách cá nhân và phong cách thời đại

1.3.1 Quan niệm của Bằng Việt về thơ

Mỗi nghệ sĩ trong hành trình sáng tác nghệ thuật đều có và tuân thủ mộtquan niệm Bằng Việt không là ngoại lệ Trong suốt đời thơ gần nửa thế kỉsáng tác, lúc gián tiếp, lúc trực tiếp, ông đã thể hiện quan niệm của mình vềthơ, thế nào là thơ hay, làm thơ như thế nào,…

Trong lời cùng bạn đọc ở đầu tập thơ Nheo mắt nhìn thế giới, tác giả đã

trực tiếp nói lên quan niệm của mình về thơ, về việc sáng tạo thơ ca: “Thơ đốivới tôi hôm nay không chỉ là thơ mà còn là một thái độ sống Đã là một thái

độ sống, thì bút pháp thể hiện cốt sao nói được hết điều mình cần nói, cần tỏthái độ, hơn là chú tâm vào tu từ rắc rối, kỳ khu, chơi trò xiếc với ngữ pháp,đánh vật để làm xô lệch đi các quy tắc chính tả, leo dây với vần điệụ Điều ấy,tuy hết sức quan trọng cho việc đổi mới cách nói và hình thức thể hiện trongthơ, tuy nhiên, nó không thể đóng vai trò gì quyết định Điều quyết định làthái độ tiếp cận ra sao với chức năng của thơ, cách chọn góc nhìn ở tầm nào,thế đứng nào, và cách xử lý các chất liệu thơ ra sao, để truyền đạt được hếtthông điệp của mình đến với người đọc Cách tiếp cận, chọn góc nhìn, thếđứng, theo tôi, thể hiện ngay từ cách chọn đề tài, chọn khoảng lùi xa đủ đểnhìn rõ tổng thể và chi tiết, đồng thời, cũng phải tính đến độ cao của chỗ đứng

và góc nhìn

Còn việc xử lý các chất liệu, theo tôi, sẽ làm rõ nhất phong cách củamỗi người sáng tác, tính độc đáo của từng tác giả Giống như ta được cungcấp một số mô-đuyn nhất định, nhưng mỗi người sẽ có cách lắp ráp khác

Trang 28

nhau, tùy theo sở thích, tính cách, tầm văn hóa, vốn kiến thức, và cả các thiênhướng khác nhau trong cuộc sống riêng của từng người, trong một môi trườngđược giáo dục và hình thành nhân cách riêng của từng người Tôi nghĩ, đổimới cách viết đối với thơ hôm nay, có lẽ cũng phải khởi đầu từ những điểmmấu chốt đó, thậm chí đối với từng thi sĩ, chứ không dễ gì có được một “đơnthuốc” rập khuôn!”

Bởi thế, nhận xét về tập thơ mới Nheo mắt nhìn thế giới của ông, nhiều

người nghiên cứu có nhận xét: Nheo mắt nhìn thế giới có chất “hậu hiện đại”,

vì có lối kể chuyện, như bài “Rượu của Nguyễn Cao Kỳ” chẳng hạn Lại cóngười bảo thơ của Bằng Việt không mới về thi pháp, thậm chí nó vẫn nhưnhững gì ông viết từ thập niên 60 của thế kỷ trước Rõ ràng, trong lời bộcbạch cùng bạn đọc, tác giả đã cho thấy rằng ông không xem làm thơ là “tròchơi chữ nghĩa”, ông không cố gắng “làm xiếc với ngôn từ” Ông đã lựa chọn

“thái độ tiếp cận ra sao với chức năng của thơ, cách chọn góc nhìn ở tầm nào,

và cách xử lý các chất liệu thơ ra sao, để truyền đạt được hết thông điệp củamình đến với người đọc ”

Trong một lần nói chuyện khác, nhà thơ cũng từng lên tiếng: “Thơ cahiện nay cũng rất thẳng thắn, hình thức theo tôi là không quan trọng mấy Nhàthơ có thể làm thơ leo thang, thơ không vần hay liền tù tì như bài văn xuôicũng được Vấn đề ở đây là cách nói, cách truyền tải tới người đọc sao cho dễhiểu và được chấp nhận Nói thế này cho dễ hiểu, một tác phẩm thơ hay giốngnhư một chiếc bình, đẹp hay xấu mà chứa rượu ngon thì vẫn được ngườithưởng thức chấp nhận Yếu tố nội dung bên trong là quan trọng nhất chứkhông phải hình thức bên ngoài”

Rõ ràng, thơ Bằng Việt xác lập một thái độ sống Thái độ ấy là tráchnhiệm của công dân thi sĩ về những vấn đề thời cuộc, có những tác động sâusắc vào lối sống, vào văn hoá và tiềm ẩn khả năng giăng níu cõi người Thơ

Trang 29

ông dù giai đoạn nào cũng luôn đề cập đến vấn đề thời đại quan tâm, nóinhững vấn đề thời đại hướng tới.

Là nhà thơ thành danh trong thơ chống Mĩ, từ hôm nay nhìn lại chặngđường sáng tác đã qua, nhà thơ đã khái quát và đúc kết lại các đặc điểm vềphương pháp và thế giới quan chung cho các nhà thơ trưởng thành trong thời

kỳ kháng chiến chống Mỹ Qua đó phác họa nên những đặc trưng của cácsáng tác trong thời kỳ này Thực ra, đây là câu chuyện của cả một đời ngườicầm bút với gần năm mươi năm trăn trở, suy ngẫm, chiêm nghiệm và sángtạo Nhà thơ Bằng Việt viết: “Có một điểm có lẽ là điểm mấu chốt nhất củathế hệ văn học trưởng thành trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, đó là phạm trùcái tôi biết tự nguyện điều tiết thế nào trong cái ta, bản thể cá nhân mình hoànhập đến đâu với cả thế hệ mình và biết đặt mình vào mối quan hệ tương hỗnhư thế nào, để sẵn sàng đóng góp trên ý thức xây dựng chung, cho tất cảcộng đồng”

Theo tác giả, một trong những đặc tính cơ bản cấu tạo nên giá trị nềntảng của cảm xúc thi ca là cái chất trữ tình, thi vị, mơ mộng, lãng mạn, là cảm

xúc thuần tuý, cảm xúc gốc luôn mang chứa sự bí ẩn của cái đẹp và giá trị

vĩnh hằng trong nó Đây là điều mà nhà thơ Bằng Việt trong bài viết thay lờitựa của mình, cũng đã bày tỏ và dành nhiều tâm huyết trong những suy tư trăntrở về “tính cá biệt và tính đặc thù của cảm xúc thơ cũng như tính độc đáotrong mỗi khám phá nội tâm - là chủ thể trong thơ” Xúc cảm thơ ca khác biệtcủa nhà thơ Bằng Việt đã mang đến cho thơ thời chống Mĩ một cái nhìn tươitắn trước hiện thực chiến tranh khốc liệt, bạo tàn; một cái nhìn lãng mạn, ấm

áp tin yêu về sức sống thật phi thường của một dân tộc yêu chân lý, độc lập tự

do, yêu và nâng niu cái thiện, cái đẹp Cái chất thi sĩ cứ chờn vờn sương sớm

ấy, đã lan tỏa ở chỗ này chỗ kia trong các sáng tác của nhà thơ Bằng Việt suốtthời kỳ này:

Trang 30

Có gì bâng khuâng mãi Những cánh hoa bìm gợi nhớ rất xa…

Ôi những xe trâu thủng thẳng vào cơn mơ Bắt tuổi thơ nóng lòng theo bước một

Ôi những nương cao màu trăng lục nhạt

(Từ giã tuổi thơ)

Và còn phảng phất mãi trong cả hơi thơ thời sau này:

Nếu làm mây, cứ như mây Một mai tan xuống đất này, được không?

Nếu em là kiếp bềnh bồng Thì tôi vĩnh viễn phải lòng phù du Nếu em khoát mở sa mù

Thì tôi vĩnh viễn hóa bờ bến xa, Cầu may tới cõi giao hòa

Cầu may có được ngôi nhà biết yêu!

(Lục bát cầu may)

Làm thơ, Bằng Việt luôn day dứt, trăn trở, kết tinh những suy ngẫm củamình về nhân tình thế thái Cái chất triết lý trong thơ ông từ thời chống Mĩ vớinhững suy ngẫm về số phận con người trong chiến tranh, về hy sinh, mất mát,

về lẽ tồn vong của dân tộc, về vẻ mặt con người thời chiến; cho đến nhữngsuy ngẫm về số phận con người thời hậu chiến, về những đổi thay muôn mặtđời thường khi đất nước bước sang thế kỉ mới,… luôn trở đi trở lại như mộtmối quan tâm thường trực, một nỗi ám ảnh

Nếu như ở thời kì kháng chiến, thơ ông là sự khái quát về vẻ mặt conngười Việt Nam, về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại; thời kì hậu chiến là sựkhái quát về cuộc sống sau chiến tranh, về số phận con người với những mất

Trang 31

mát, với những mặt khuất của chiến tranh mà ở giai đoạn trước chúng ta tránhnói tới; thì thơ ông khi bước vào thế kỉ mới có nhiều triết luận, lập ý nhưngkhác trước ở chỗ, Bằng Việt “gọi” chúng từ những hiện tượng và sự vật cụthể, gần gũi trong đời sống quanh ta Điều đó làm cho những triết luận củaông không gán ghép, gượng gạo Để những triết lý đạt đến độ tự nhiên, nhuầnnhuyễn là cả một quá trình lao động công phu, “có thể ví như quá trình thiền,quá trình tu đến cõi của đại tu sĩ”.

Bày tỏ quan niệm về thơ hay, về chức năng của thơ, Bằng Việt chorằng: “Tôi thì không khẳng định rằng thơ hay sẽ cứ phải bất tử, trong một thếgiới luôn luôn có nhiều biến đổi như thế giới chúng ta đang sống (Ngay trongtập thơ này, tôi cũng có một bài thơ nhan đề “Thơ hay - có cần phải chết?!”).Thơ hay, tôi nghĩ, cũng vẫn có thể chết như thường, miễn là lúc đang sống, nóđem lại một giá trị gì đó phổ quát và cập nhật cho con người Thế đấy, nhưngthế cũng đã đủ làm nên vinh dự cho thơ và người làm thơ lắm rồi chứ !” Cảđời thơ của ông là sự minh chứng cho những nhọc nhằn, nỗ lực sáng tạo củangười nghệ sĩ lao động nghệ thuật chân chính để thơ “đem lại một giá trị gì đóphổ quát và cập nhật cho con người”

3 Đất sau mưa, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội, 1977.

4 Khoảng cách giữa lời, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội, 1984.

Trang 32

5 Cát sáng (in chung với Vũ Quần Phương), Nhà xuất bản Hà Nội,

1985

6 Bếp lửa- khoảng trời (tập thơ tuyển), Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội,

1986

7 Phía nửa mặt trăng chìm, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1995.

8 Thơ Bằng Việt (tập thơ tuyển), Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2001.

9 Ném câu thơ vào gió, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Trung tâm Văn hóa

Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2001

10 Thơ Bằng Việt (tuyển 1961 - 2001), Nhà xuất bản Văn học, 2003

11 Nheo mắt nhìn thế giới, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2008.

12 Bằng Việt - tác phẩm chọn lọc, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội,

2010

Ngoài ra, Bằng Việt còn có một trường ca viết về Bác (Lương tâm), một

kí sự thơ (Đường Trường Sơn - cảnh và người), một truyện thơ về đề tài thương binh (Người mở đường, người mở đất).

Chúng ta có thể chia hành trình thơ Bằng Việt làm ba chặng

* Chặng thứ nhất: chặng đường thơ thời chống Mĩ

Bằng Việt khởi nghiệp thơ ca của mình khi in chung với Lưu Quang Vũ

tập thơ Hương cây - Bếp lửa.

Với Bằng Việt thì ngay từ khi cho ra đời tập thơ đầu tay Bếp lửa, ông

đã sớm định hình cho mình một giọng điệu riêng Nhận xét phong cách thơBằng Việt, GS Nguyễn Văn Hạnh có viết: “Phong cách thơ anh hình thành từsớm, nhiều nét khá kiên định, nhất là ở giọng thơ vốn là một biểu hiện rất sâucủa bản lĩnh từng người sáng tác” [19]

Thơ Bằng Việt thời kì đầu là một giọng thơ nghiêng về giãi bày cảmxúc, đôi khi có “dáng một lời tâm sự”, chất chứa nhiều suy nghĩ Nhận thấyđiều này, GS Hà Minh Đức có nhận xét: “Trong lớp các nhà thơ trẻ, Bằng

Trang 33

Việt là một tâm hồn thơ lắng đọng nhiều suy nghĩ” [15] GS Nguyễn Xuân

Nam trong Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Vũ Cao, Nguyễn Duy, 1998, Nxb Văn

nghệ TP HCM cũng có cùng ý kiến, cho rằng: “Lời thơ như những nét chấmphá tươi mát nhưng không thiếu chiều sâu suy tưởng…”, “một khuynh hướngchính luận kín đáo thể hiện trong thơ”

Những ưu tư trong thơ Bằng Việt thời kì đầu có lẽ cũng là cái ưu tưchung của cả một thế hệ cầm bút lúc bấy giờ Sau này nhìn lại, ông có nói :

“Có một điểm, có lẽ là điểm mấu chốt nhất của thế hệ văn học trưởng thànhtrong cuộc chiến tranh chống Mĩ, đó là phạm trù cái Tôi biết tự nguyện điềutiết thế nào trong cái Ta, bản thể của mình hòa nhập đến đâu với cả thế hệmình (…) Tính cập nhật quyết liệt, lòng yêu nước cháy bỏng trong chiếntranh, ý thức chủ động cho các nhiệm vụ chiến lược của đất nước, tinh thầnlạc quan và hăm hở khám phá để khẳng định được cái mới trong đời sống…tất cả những điều đó, hơn bao giờ hết, được đề cao, được coi là tiêu chí phấn

đấu cho sáng tác của thời chúng tôi” (“Thay cho lời tựa”, Bằng Việt - Tác

phẩm chọn lọc, 2010, Nxb Hội Nhà văn).

Bởi thế, thơ Bằng Việt thời kì kháng chiến chống Mĩ thường chứađựng chiêm nghiệm, suy tư về những vấn đề lớn lao như tình yêu đất nước,chiến tranh, trách nhiệm của người công dân trước thời cuộc,…

Suy tư về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, Bằng Việt đã tìmthấy chân lí cuộc đời trong sự quyện hòa giữa cái chung và cái riêng, giữa tìnhyêu lứa đôi và tình yêu đất nước:

Cơn báo động tan rồi Cảm động quá khi mùa thu lại đến.

Anh nhớ phút ngồi bên nhau trực chiến Anh nghe thời gian trong mạch đập tay em

Trang 34

Mạch đập bình yên…

(Tình yêu và báo động)

Thơ Bằng Việt có những bài dường như là một bức kí họa ghi lại từngkhoảnh khắc nơi chiến trường dữ dội với những nét vẽ tài hoa Trong bức

tranh ấy, tác giả như trăn trở nhiều trước nét vẽ về những con người Không ai

nhớ mặt đặt tên - Nhưng họ làm ra đất nước:

Sống cảm động suốt đời, đất nước chiến trường ơi!

Mỗi gương mặt tôi quen, một nghìn lần, thương mãi…

Bao em bé ngây thơ, bao mẹ già từng trải, Những chiến sĩ băng qua khắp đất nước hầm hào, Mỗi gương mặt bình thường, sau nghìn lần sống chết Rọi ánh sáng vào tôi, cùng những khoảng trời cao!

(Những gương mặt, những khoảng trời)

Có một mạch ngầm cảm xúc cứ tuôn chảy không ngừng khiến nhữngcâu thơ tãi ra, chừng như thế mới đủ để kể, để tả, để nói, để nhẹ vơi đi nỗilòng Có những bài thơ dường như là một câu chuyện thủ thỉ tâm tình:

Con bị thương nằm lại một mùa mưa Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ Nhà yên ắng tiếng chân đi rất nhẹ Gió từng hồi trên mái lá ùa qua

… Con xót lòng mẹ hái trái bưởi đào Con nhạt miệng có canh tôm nấu khế

Trang 35

Khoai nướng ngô bung ngọt lòng đến thế Mỗi ban mai tỏa khói ấm trong nhà

… Con ra ngõ núi chập chùng xanh ngắt Lại tần ngần nói với mẹ ngày đi

Mẹ cười xòa nước mắt ứa trên mi

- Đi đánh Mĩ khi nào tau có giữ!

(Mẹ)

Không lựa chọn việc khái quát lớn lao như những sáng tác cùng thờikhi viết về đề tài chiến tranh, về tinh thần xả thân, về tình yêu đất nước, thơBằng Việt nhẹ nhàng những trải nghiệm mà sâu lắng ân tình Trong chiếntranh, có bao người mẹ Việt Nam như thế, có bao người mẹ nuôi bộ đội nhưcon của mình, bao người mẹ cười xòa mà nước mắt ứa trên mi khi chứng kiếnnhững người con lần lượt ra đi Nước mắt ứa trên mi vì đau xót, vì thươngcon, vì như đứt rời từng khúc ruột Nhưng cười xòa vì tình yêu đất nước thấmtrong từng thớ thịt Yêu đất nước nên phải hi sinh Bao người mẹ là bấy nhiêu

người đều hiểu một lí lẽ giản đơn nhưng đau xót vô cùng: Mẹ nghe tiếng dội

vang trầm - Lặng lẽ hiểu lời của đất - Một lời thủy chung duy nhất - Vượt qua hết thảy quân thù (Nghe đất).

* Chặng thứ hai: chặng đường thơ thời hậu chiến

Chiến tranh qua đi, đất nước bước vào thời kì hàn gắn những vếtthương chiến tranh Từ chiến trận, trở về với cuộc sống, với muôn mặt đờithường, thơ Bằng Việt bên cạnh những bài thơ giọng điệu sôi nổi, hào hứng,ngợi ca còn có những bài thơ viết về cuộc sống hậu chiến Không còn lànhững ưu tư về lẽ tồn vong của đất nước, không còn những ưu tư kiểu như:

Trang 36

Từng giọt máu trong người con đập khẽ - Máu bây giờ đâu có của riêng con?;

lúc này, những ưu tư lại hướng về những bộn bề lo toan của cuộc sống đờithường, về cuộc sống mới Ngẫm về “sự sống chẳng bao giờ chán nản”, về lẽsinh tồn, tác giả nhận ra sự sống bất diệt vẫn âm thầm nảy nở trên tro tàn:

Hai mươi mấy năm Ngỡ mới đó, đâu ngờ Bao lớp nghé thay trâu đã cày lên vạt ruộng, Bao làng mạc vùi đi, bao cánh rừng ngã xuống Bao cuộc đời tan hợp, đợi chờ nhau…

Đâu mái nhà quê, hương khói quyện bền lâu

Đã hạ xuống, che cho hầm trú ẩn!

Đất rát bỏng bên trên, dù quân thù san phẳng, Thì tự dưới hầm sâu, tất cả vẫn hồi sinh!

Để đi tiếp, không được quyền mệt mỏi

Vì cái đích hôm qua, nay mới chỉ là bệ phóng khởi đầu

(Đích)

Trang 37

Đến Khoảng cách giữa lời, Cát sáng, giọng điệu thơ Bằng Việt đã trầm

lại, lắng lại trong những suy tư, trải nghiệm của một người đã đi qua nửa đờinhìn lại Tác giả ngẫm ra sâu sắc tình yêu, tự do,… trong quy luật cuộc đời:

Không, không! Không thể dửng dưng, khi biết chắc niềm vui cứ đến

Những nghệ sĩ tiên tri đâu có nỡ dối lừa!

Cuộc sống chẳng chai đi vì phải mất quá nhiều trả giá Chỉ hạnh phúc muộn mằn càng thúc bách hơn xưa!

(Giao hưởng số chín)

Như những bến bãi được bồi đắp nhiều phù sa, trầm tích văn hóa ởBằng Việt được bồi đắp từ thời kì tác giả được học ở nhà trường Xô Viết, quanhững chiêm nghiệm, từng trải ở cuộc đời, vốn văn hóa ấy ngày càng đượctrau dồi Có lẽ vì thế chăng, thơ Bằng Việt luôn thể hiện những ưu tư về giá trịcủa văn hóa?

* Chặng thứ ba: chặng đường thơ đầu thiên niên kỉ mới

Bằng Việt là cây bút có trách nhiệm trước bản thân, trước cuộc đời vàtrước thơ Vẫn là giọng điệu trữ tình triết lí, thơ Bằng Việt hôm nay, bắt nhịpvới thời đại, chuyển sang chất trữ tình công dân gắn với xã hội, để phù hợpvới thời đại, để có thể chia sẻ cùng những số phận trong nhịp sống hối hả đờithường

Giọng thơ trữ tình xã hội của ông ngày càng đằm, những ưu tư ngàycàng già dặn, thơ ông ngày càng đạt tới độ chín của nghệ thuật Vì vậy, BằngViệt là một trong số ít những nhà thơ nổi tiếng từ thời kháng chiến chống Mỹ,được độc giả và đồng nghiệp liệt vào danh sách “không bị đúp lại ở thế kỷ20” Trong cuộc trò chuyện cùng báo chí, Bằng Việt đã từng nói lên suy nghĩcủa mình - những suy nghĩ có thể xem như là sự lí giải cho sự thay đổi trong

Trang 38

thơ ông Một đời sáng tác của nhà thơ chính là chuỗi tiến trình chuyển biến từcảm tính đến lý tính, từ suy nghĩ cảm xúc cho tới kết luận Trong mỗi giaiđoạn phát triển của đất nước thì suy nghĩ của bản thân cũng có nhiều thay đổicho phù hợp với sự phát triển đó.

Đất nước từ thời chiến chuyển sang thời bình, từ bao cấp sang thịtrường, từ một xã hội tương đối thuần nhất sang cởi mở, hòa nhập với thế giớihơn Đất nước đang ngày một mới, tác giả cũng ngày một tự làm mới thơ

mình Đến tập Phía nửa mặt trăng chìm (1995), đã xuất hiện những dòng tự

thuật của tác giả về bản thân mình trong bước trưởng thành:

Tôi đã qua rồi tuổi dễ khổ đau, Tuổi dễ ưu tư, tuổi hay giận dữ, Tuổi hình dung tương lai trong vòng tay Giữ thật kín như vật gì dễ vỡ!

Tôi đã qua rồi tuổi dễ kiêu căng Tưởng cuộc sống dễ dàng làm đổi khác, Tưởng những gì mới phát minh trong óc,

Ắt ngày mai, nhân loại đã làm theo!

(Thơ tình viết muộn)

Song, phải đến Ném câu thơ vào gió, đặc biệt là tập thơ mới của ông

-Nheo mắt nhìn thế giới, sự thay đổi giọng điệu mới thực sự rõ rệt Bước qua

ngưỡng cửa của tuổi lục tuần, thấu mọi lẽ ở đời, thơ ông đằm sâu , trầm lặng

những chiêm nghiệm Ném câu thơ vào gió và Nheo mắt nhìn thế giới làsự đúckết lại những suy ngẫm, trăn trở và đôi khi dằn vặt, từ mọi trải nghiệm củamột đời người cầm bút, khi kinh qua chặng đường dài gian khó hiểm nguynhất của vận mệnh một đất nước, một dân tộc Đó cũng là “tiếng nói từ cõilòng sâu thẳm của người đứng trong cuộc đối với thời đại của mình”.

Trang 39

Trước những giới hạn mong manh của cuộc sống hiện đại, với cái nhìn,cách cảm của một người thấu triệt mọi nhẽ ở đời, trong những dòng trần tìnhcủa mình, Bằng Việt thể hiện khao khát trường tồn cùng niềm tin bất diệt:

Nay lại ném câu thơ vào gió thổi Tin, không tin…vẫn còn lại riêng mình Còn lại tấm lòng mong manh dễ vỡ Cát đã qua lò nay hóa thủy tinh

(Ném câu thơ vào gió)

Trong nhịp sống hối hả của thời hiện đại này, khi tất cả mọi giá trị đềutrở nên vô nghĩa lí, đều trở nên “sắc sắc không không”, thì tác giả đã suy nghĩ

và chọn cho mình một cách sống - sống bất diệt trong “cõi tin” của riêngmình Âu đó cũng là một lựa chọn sáng suốt của một người trải nghiệm đãchịu những “va đập” của cuộc đời Có lẽ, chỉ như thế, chỉ khi sống trong niềmtin bất diệt của mình, con người hiện đại mới bình yên trong cuộc sống vốntồn tại quá nhiều đối cực này

Trong tập thơ, tác giả cho thấy một chủ thể trữ tình đầy ý thức phảntỉnh, luôn cố gắng giác ngộ, thấu suốt quy luật tự nhiên:

Yên tĩnh thế, khiến lòng run rẩy mãi Phút giây thiêng thức tỉnh lại bao điều Nhìn thấu suốt nhỏ nhen và vĩ đại Càng bình tâm rõi tới đích mình theo!

(Ngày đã đứng trưa) Ném câu thơ vào gió được viết bằng giọng điệu trữ tình công dân, thể

hiện những day dứt của mình trước bản ngã, trước CON NGƯỜI, trước cuộcđời

Đến Nheo mắt nhìn thế giới, tác giả lại rất có ý thức trong việc trình

làng một cách nhìn “Âm hưởng “thức ngộ”, suy tư; dưới con mắt ngờ vực và

Trang 40

soi chiếu hiện thực, hiện thực đắng đót để tìm đến bản chất, tìm đến nhữngchiều kích khác của sự vật, hiện tượng tưởng như đã mặc định, là mãi mãitươi đẹp của cái ngày hôm qua; cả những nỗi niềm day trở đến nghẹn đắngcủa ngày hôm nay” (Trần La Phù (2008), “Nheo mắt nhìn thế giới”,http://dantri.com)

Thơ Bằng Việt hôm nay đi sâu vào cuộc sống với những mặt trái, vớinhững đối cực dở - hay , tốt - xấu, cao cả - thấp hèn, nhỏ nhen - cao cả,…Cuộc sống xưa ăm ắp những giá trị Bằng Việt đã một đời là người cố gắnggìn giữ những giá trị: tình cảm bà cháu, tình cảm với những người mẹ ViệtNam, tình cảm với bè bạn thế giới, cả cái bắt tay của người đồng chí, hay đơngiản là bóng hình một chiếc áo bà ba,…

Anh còn hỏi nhiều nhưng sao kể hết được Cơn khát vô cùng là khát về Tổ quốc Nơi giữa chiến trường thẫm bóng áo bà ba Nơi mẹ già ta quen vị mắm vị cà

Mùi mặn chát đến đậm đà thấm thía Đến lay động tận trong cùng cảm nghĩ….

(Thư gửi người bạn xa đất nước)

Nay, thức nhận giữa đời thường, tác giả nhận ra “chấp theo lối cũ làkhông đúng” Cuộc sống hiện đại hối hả trong guồng quay, con người nay bỏquên nhiều giá trị Cầu hôm nay đã là cầu vượt, vợ hôm nay đã là “Vợ thời

@”

Tác giả đồng thời cũng nhận ra : thời gian và sự bùng nổ thông tin làmcho người ta không có nhiều thời gian đọc những bài thơ dài dòng văn tự hayquá diễn giải Vì vậy, Bằng Việt đúc kết những cảm xúc của mình rồi đưa vàothơ “Trước kia, thơ của tôi chân thật, nhiều diễn giải, giờ nghĩ lại, mới thấy

đó là giai đoạn ấu trĩ của một thời, có phần coi thường độc giả khi dài dòng

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lại Nguyên Ân (biên soạn, 1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội
4. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
5. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (1975 - 2005), Nxb Hội nhà văn - Công ty Văn hóa trí tuệ Việt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (1975 -2005)
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn - Công ty Văn hóa trí tuệ Việt
Năm: 2007
6. Nguyễn Thu Cúc (2003), Đặc sắc thơ Bằng Việt, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc thơ Bằng Việt
Tác giả: Nguyễn Thu Cúc
Năm: 2003
7. Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NxbKhoa học Xã hội
Năm: 2006
8. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NxbKhoa học Xã hội
Năm: 2004
9. Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc (2008), Thơ mới trong trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới trong trường phổ thông
Tác giả: Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường, một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trường, một gócnhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
11. Hữu Đạt (1998), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Biện Minh Điền (2003), “Giọng điệu trữ tình thơ Nguyễn Khuyến”, Tạp chí Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trữ tình thơ Nguyễn Khuyến”,"Tạp chí Văn học
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2003
13. Biện Minh Điền (2008), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
14. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
15. Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1974
16. Hà Minh Đức (1977), Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Vănhọc
Năm: 1977
17. Hà Minh Đức (1979), “Nghĩ về sức sáng tạo của một nền thơ”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về sức sáng tạo của một nền thơ”, "Tạp chíVăn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 1979
18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Nguyễn Văn Hạnh (1975), “Đọc thơ Bằng Việt”, Tác phẩm mới, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc thơ Bằng Việt”, "Tác phẩm mới
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 1975
20. Nguyễn Văn Hạnh (1979), Suy nghĩ về văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1979
21. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (biên soạn, 1998), Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận vănhọc, vấn đề và suy nghĩ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
22. Đỗ Đức Hiểu (chủ biên, 1984), Từ điển văn học tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: Nxb Khoa họcXã hội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w