1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những cách tân trong văn xuôi hồ anh thái

88 669 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những cách tân trong văn xuôi hồ anh thái
Tác giả Hoàng Thị Thúy Hằng
Người hướng dẫn TS. Lê Văn Dương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 296 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự đa dạng về giọng điệu của Hồ Anh Thái không chỉ thể hiệnsự đa dạng và phong phú trong cách cảm nhận cũng nh cảm xúc của Hồ AnhThái trớc đời sống và con ngời của Hồ Anh Thái mà nó còn

Trang 1

Hoµng thÞ thóy h»ng

Nh÷ng c¸ch t©n trong v¨n xu«i hå anh th¸i

LuËn v¨n th¹c sÜ ng÷ v¨n

Vinh - 2007

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh

Hoàng thị thúy hằng

Những cách tân trong văn xuôi hồ anh thái

1.1 Văn xuôi Việt Nam sau 1985 đến nay đã có những chuyển mình

t-ơng đối rõ rệt và toàn diện cả về lợng lẫn về chất trên các bình diện đề tài,cách miêu tả về hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con ngời Trong thế hệnhà văn này, Hồ Anh Thái là một gơng mặt nổi bật trên hành trình kiếm tìmmột quan niệm thẩm mỹ mới, một nhận thức mới về văn học

Trang 3

1.2 Hồ Anh Thái bớc vào làng văn năm 17 tuổi với truyện ngắn Bụi

phấn 24 tuổi đạt Giải thởng văn xuôi 1983 -1984 của Hội Văn nghệ Hà Nội

với truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe 26 tuổi đạt Giải thởng 1986 -1990 của Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Ngời và xe chạy dới ánh trăng Các tiểu thuyết Trong sơng hồng hiện ra (1987), Ngời đàn bà trên đảo (1988), tập truyện Mảnh vỡ của đàn ông (1993) liên tục đợc Hồ Anh Thái sáng tác

trong những năm tiếp theo Sự bền bỉ sáng tạo của anh không dừng lại ở số ợng tác phẩm đã kể trên Qua mỗi tác phẩm ta lại bắt gặp một Hồ Anh Tháivới sự bứt phá ra khỏi thói quen truyền thống, tiếp tục gây xôn xao d luận

l-bằng tập truyện Tự sự 265 ngày (2001), tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận

thế (2004), tập truyện ngắn Bốn lối vào nhà cời (2004), tiểu thuyết Mời lẻ một

đợc sự quan tâm của d luận cả trong lẫn ngoài nớc Theo những gì chúng tôi

đã tiếp cận đợc thì việc nghiên cứu tác phẩm của Hồ Anh Thái mới chỉ dừnglại ở bài viết cho từng tập, từng tiểu thuyết hay từng tập truyện ngắn ở cấp độlớn nhất đó là những khoá luận, luận văn khoa học

2.1 Những bài nghiên cứu tổng quan về văn xuôi Hồ Anh Thái

Luận văn Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con

ngời cho rằng: “Hồ Anh Thái là nhà văn có cái nhìn bao quát rộng và tinh

nhạy về đời sống xã hội và con ngời Trong trang viết của anh hiện ra nhiềukiếp ngời, cảnh ngời ở mọi thời điểm, nhiều tình huống khác nhau, qua đó thể

Trang 4

hiện những cảm nhận sâu sắc về nhân sinh ( ) văn xuôi hồ Anh Thái đã phốihợp nhiều giọng điệu trần thuật, với sự đa dạng và đan cài lẫn nhau của cácchất giọng ( ) Sự đa dạng về giọng điệu của Hồ Anh Thái không chỉ thể hiện

sự đa dạng và phong phú trong cách cảm nhận cũng nh cảm xúc của Hồ AnhThái trớc đời sống và con ngời của Hồ Anh Thái mà nó còn thể hiện phongcách đa dạng của một nhà văn tài năng luôn có ý thức làm mới văn chơng ”[24; 90,91]

Võ Anh Minh trong bài “Dòng chảy Hồ Anh Thái” đã viết: “Văn xuôi

Hồ Anh Thái là một dòng chảy thống nhất trong đa dạng Có thể nói thốngnhất trong đa dạng là phong cách của Hồ Anh Thái Anh từng nói: “Ngời cóphong cách chính là không kh kh bám lấy một phong cách cố định bất biến

Có phong cách tức là phải đa giọng điệu, dù anh có đổi giọng thế nào thì vẫntrên cái nền tảng văn hoá của anh, trên tầm nhìn của anh về thế giới và nhânsinh” Hồ Anh Thái là nhà văn làm chủ đợc nhiều giọng điệu trong sáng tác,nổi bật lên là giọng điệu trữ tình trong sáng, giọng điệu tâm tình cảm thơng,giọng điệu suy t triết luận, giọng điệu hiện thực sắc lạnh và giọng điệu hài hớcgiễu cợt; trong đó hài hớc đang là giọng điệu chủ đạo của ngôn ngữ trần thuậttrong văn xuôi Hồ Anh Thái ở thời điểm hiện tại Giọng điệu trần thuật của

Hồ Anh Thái đa dạng nhng không tồn tại riêng lẻ mà đan cài vào nhau Điềunày thể hiện tài năng dẫn truyện cũng nh phong cách đa dạng của nhà văn”[25; 283]

2.2 Những bài nghiên cứu về từng tác phẩm văn xuôi cụ thể của Hồ Anh Thái

2.2.1 Về tiểu thuyết Ngời đàn bà trên đảo và Trong sơng hồng hiện ra

Wayne Karlin- trong lời giới thiệu cho bản in của Nhà xuất bản Đại

học Washington năm 2001 đã nhận định về tiểu thuyết “Ngời đàn bà trên

đảo” (The Women on the Island) nh sau: “Tiểu thuyết Ngời đàn bà trên đảo

đã mở ra một cánh cửa vào một nền văn hoá đang phải đấu tranh để địnhnghĩa với quá khứ và tơng lai của chính mình” [43; 393] Hồ Anh Thái đã trởthành “Một trong những nhà văn Việt Nam đầu tiên thu hút đợc sự chú ý vào

đề tài cho đến lúc đó vẫn còn cấm kỵ: cái giá khủng khiếp của những ngời phụnữ cựu binh của cuộc kháng chiến chống Mỹ phải trả” [43; 398] Karlin khẳng

Trang 5

định: “Với lòng kính trọng và tình yêu, anh chấp nhận điểm xuất phát của mìnhtrong lịch sử và văn học nớc nhà, nhng cũng mở hớng ra cho những ảnh hởngkhác- nổi bật là chủ nghĩa huyền ảo Mỹ La tinh và tác phẩm của nhà văn Phápgốc Czech, Milan Kundera và anh đã để cho tác phẩm của mình đa văn học ViệtNam đơng đại đi theo những hớng mới” [43; 391,392].

Michael Harris (Thời báo Los Angeles, 18-9-2001) nhận định Hồ AnhThái đã: “Đặt ra vấn đề cá nhân ở Việt Nam mới” “Xung đột ở trung tâmcuốn tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã tác động đến cấu trúc của tác phẩm Tácgiả đã chuyển từ chuyện ngời này sang ngời khác nhằm bộc lộ hiện tợng chủnghĩa tái sinh theo những ảnh hởng khác nhau” [43; 417] “Theo những cách

tinh tế hơn, Ngời đàn bà trên đảo cho thấy tác giả mở hớng ra trớc t tởng mới

mẻ và trớc ảnh hởng của văn học phơng Tây” [43; 418]

Cũng chính tác giả Michael Harris đã phát hiện trong hai cuốn tiểu thuyết

(Ngời đàn bà trên đảo và Trong sơng hồng hiện ra) “Sự xuất hiện trở lại của dục

vọng cá nhân ở một dân tộc hàng thế kỷ phải gác lại mọi thứ vì cuộc đấu tranhchung Vấn đề nhu cầu hạnh phúc riêng cần đợc cảm thông” [43; 415]

Đề cập đến nghệ thuật, Philip Gambone, trong Tạp chí giới thiệu sách

Thời báo New york, viết: “Chất châm biếm, chất siêu thực và ngụ ngôn tràn

đầy trong truyện đợc cấu trúc một cách tao nhã” [43; 436] “Chủ đề của tácphẩm này là “xung đột triền miên qua đờng biên giới” giữa các giá trị, cácthời đại và các hệ t tởng ngổn ngang sau chiến tranh – mà thực ra hầu hết là

ở châu á Và trong khi các tác phẩm thờng có dẫn dụ nhẹ nhàng với cái nhìntinh tế và phức tạp” [43; 437]

W D Ehrhat nhận xét về sự chuyển đổi giọng điệu trong sáng tác của

Hồ Anh Thái nh sau: “Những tác phẩm trong tuyển tập này trải từ nghiêm túctới hài hớc lạ lùng, từ Việt Nam tới ấn Độ và Anh Giàu tởng tợng, sinh động

và thờng gây giật mình, các tác phẩm này thờng hớng những độc giả cả nghĩ vàchiều sâu văn hoá, văn học và cả xã hội Việt Nam” [43; 439]

Cùng với quan điểm trên, Publishers Weekly nhận định: “Những yếu tốsiêu thực tràn đầy trong cuốn hợp tuyển Giọng điệu từ châm biếm sang xúc

động thấm thía, từ hài hớc sang đau xót” [43; 455]

Tác giả Wayne Karlin trong Lời giới thiệu tuyển tập tác phẩm của Hồ

Anh Thái (Nhà xuất bản Curbstone Press- Mỹ, 1998) đã viết: “ở cuốn Trong sơng hồng hiện ra cũng nh các tiểu thuyết và truyện ngắn khác, trong đó chất

Trang 6

hài hớc, chất lạ cộng với chất Kafka dờng nh gây bất ngờ cho phơng Tây khi

họ tìm hiểu văn học Việt Nam” [43; 425]

2.2.2 Về tiểu thuyết Ngời và xe chạy dới ánh trăng

Nhận định về cuốn tiểu thuyết Ngời và xe chạy dới ánh trăng, Xuân Thiều, trong bài Sức mạnh văn học của một tiểu thuyết, đã viết: “Trong tiểu thuyết “Ngời và xe chạy dới ánh trăng”, Toàn - nhân vật chính là một thanh

niên có nhiều mất mát Anh mất cha mẹ, mất bạn bè, mất mối tình đầu, mấttất cả những ớc mơ tuổi trẻ, nói

cho đúng hơn là những ớc ao tuổi trẻ cha đợc đong đầy, cha đợc sung mãn.Nhng anh không mất niềm tin vào cái chân, cái thiện, cái mỹ Bởi thế, trongtiểu thuyết có khá nhiều tiêu cực xã hội, những nhân cách thấp kém, mà ngời

đọc không buồn nản, không cảm thấy mình muốn tung hê tất cả lên Dờng nhtác giả đã gửi gắm trong nhân vật Toàn, một con ngời bình thờng nh ta gặphàng ngày Không có một lời hô hào kêu gọi, không một lời lý thuyết về chínhtrị và đạo đức, nhng từ trong các mối quan hệ của nhân vật, từ trong ngôn ngữ

chuẩn xác và đúng mực, cả từ trong cách bố cục của tác phẩm “Ngời và xe

chạy dới ánh trăng” nói với ngời đọc khá nhiều điều chân thành” [41; 409].

Tác giả Trần Thanh Giao trong bài Không theo kiểu cũ, nhận xét: “Bằng

cách trao giải chính thức cho cuốn sách, Hội đồng chấm giải thởng muốn ủng

hộ điều tạm gọi là viết về đời thờng và ủng hộ những phong cách nghệ thuật

đa dạng, miễn là cuốn sách mang đợc tính nhân bản, nhân ái phê phán cái trìtrệ xấu xa để cuộc sống đợc mau đổi mới Tiểu thuyết còn nhiều chỗ có thểbàn thêm, nhng t tởng thì rõ ràng và lối viết không theo kiểu cũ” [41; 411]

Trong bài Bức tranh thu nhỏ thời hậu chiến, Vũ Bão nhận định: “Ngời

và xe chạy dới ánh trăng chính là bức tranh thu nhỏ thời hậu chiến: dù đang

mang trên mình vết sẹo của thời bom rơi đạn réo, từng ngời vẫn hợp lực cùng

đồng đội đẩy cỗ xe vợt qua con dốc gập ghềnh đang chìm trong đêm đen, sớmlao nhanh về phía ánh trăng” [41; 413]

Lê Minh Khuê, trong bài Nh lần đọc đầu tiên, viết: “Trong sáng tác, Hồ

Anh Thái là nhà văn không câu nệ vào sự du dơng của tiếng Việt cái sự du

d-ơng này đôi khi làm bạn đọc lạc lối Tác giả chú trọng đến ý tởng của tác

phẩm Ngay từ Ngời và xe chạy dới ánh trăng, ý tởng đã rõ, ngời ta đi vào đời

với hai bàn tay trắng, sạch sẽ, lơng thiện nhng cuộc đời lại nhấn chìm ta vàomàu sắc đục, vào chỗ không đợc sạch sẽ lắm của đời sống” [41; 415]

Trang 7

Trần Bảo Hng, trong bài “Một cá tính sáng tạo độc đáo”, đã viết: “Có thể nói hiện thực trong Ngời và xe chạy dới ánh trăng là một hiện thực đa

chiều, và để phản ánh đợc cái thực tại ấy, Hồ Anh Thái đã sử dụng nhiều thủpháp linh hoạt cả phục hiện lẫn đồng hiện, rồi một cốt truyện đầy co giãn vớinhững mạch ngang lối rẽ miễn là góp phần khắc họa thật đầy đặn nhữngnhân vật anh định đa ra với trờng đời, miễn là lý giải đợc những băn khoăn,khúc mắc về cuộc đời trong hiện thực ngổn ngang, phức tạp mới chỉ bắt đầu đ-

ợc dọn dẹp lại Văn của Hồ Anh Thái nhìn chung khá duyên dáng, nhiều suyngẫm nhng không sa đà vào triết lý chay, chỉ cốt làm duyên, làm dáng” [41;420,421]

2.2.3 Về tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận thế

Sang tiểu thuyết “Cõi ngời rung chuông tận thế”, sức viết của Hồ Anh

Thái càng trở nên dồi dào Hầu hết các nhà nghiên cứu đều gặp nhau ở chỗkhẳng định rằng chủ đề nổi bật của tác phẩm là cuộc đấu tranh dữ dội, daidẳng giữa cái thiện và cái ác của con ngời Về mặt nghệ thuật, cuốn tiểuthuyết này đợc coi là mốc đánh dấu một bớc tiến mới trong nghệ thuật viếttiểu thuyết của Hồ Anh Thái Nó là tác phẩm thể hiện sự đổi mới, sự sáng tạokhông mệt mỏi của nhà văn

Có rất nhiều bài tranh luận của các nhà văn, nhà nghiên cứu xung quanh

tác phẩm này nh: Lam Điền có bài “Vang vọng nhân quả”; Vũ Bão với bài

“Vẫn là nỗi đau truyền kiếp”; Hoàng Lan Anh có bài “Cõi ngời cũng bao

dung lắm”.

Nhng đáng chú là ý kiến của các nhà văn nh Nguyễn Thị Minh Thái ở

bài “Giọng tiểu thuyết đa thanh”: “Trong giọng tiểu thuyết đa thanh vang ngân nhiều cung bậc của Cõi ngời rung chuông tận thế vẫn nhận ra thanh điệu

chủ đạo của nhà văn Hồ Anh Thái với giọng điệu trữ tình kiểu phơng Đông

đặc trng và đó chính là nét riêng trong phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái,

dù có biến hình đến đâu cũng cũng không đi ra ngoài những căn nguyên nềntảng văn chơng riêng của mình [42; 280]

Nguyễn Anh Vũ, trong bài “Hơn cả sự thật”, nhận xét: "Cõi ngời rung

chuông tận thế đợc viết với một giọng điệu một văn phong rất hiện đại, rất

“Tây” gọn, chính xác, lạnh lùng, thậm chí có vẻ nh dữ dằn, tàn nhẫn Thế

nh-ng ẩn chứa tronh-ng đó là một t tởnh-ng, một thônh-ng điệp manh-ng đậm bản sắc của tâmlinh phơng Đông ác giả ác báo, gieo gió gặt bão” [42; 284]

Trang 8

Mai Thục, với bài viết “Cõi ngời rung chuông tận thế màu sắc siêu

thực”, đã khẳng định: “Cõi ngời rung chuông tận thế là tiểu thuyết luận đề về

triết lý nhân sinh Phật giáo của Thích ca Mâu Ni Hồ Anh Thái đã sáng tạo ramột thế giới hình tợng sống động, đầy chất hiện thực và hoà trộn yếu tố tâmlinh huyền ảo Việt Nam để trình bày triết lý nhân sinh của Đức Phật ” [61]

Ma Văn Kháng trong bài “Cái mà văn chơng ta còn thiếu”, đã nhận

định: “Nghệ thuật thật sự luôn làm nên cái bất ngờ Truyện ngắn, tiểu thuyếtcủa Hồ Anh Thái, nhất là những cái gần đây, thú vị là ở chỗ đó; ở từng conchữ có đời sống là lạ; ở mỗi tình tiết giàu sức khám phá, ở các mối liên tởng lạlùng và gần gũi; ở tổng thể câu chuyện, nó mở ra một góc nhìn nhân sinh, nócho ta thấy tính đa tầng, những thực tại nhìn thấy và không nhìn thấy, những

ấn tợng đặc sắc thông qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này, hôm nay” [42;326]

ở bài “Hồ Anh Thái ngời mê chơi cấu trúc”, Nguyễn Đăng Điệp nhậnxét rằng: “Là cây bút nhạy bén và tỉnh táo, Hồ Anh Thái đã tạo đợc cái nhìnriêng về thế giới Độ sắc trong những trang viết của Hồ Anh Thái lộ ra ở chỗanh dám nhìn thẳng vào những mảnh vỡ, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ nóbằng cái nhìn trung thực, táo bạo ( ) Đây là cái nhìn suồng sã” của t duynghệ thuật hiện đại [42; 348]

2.2.4 Về tiểu thuyết Mời lẻ một đêm

Tiểu thuyết Mời lẻ một đêm, ngay từ khi ra đời đã đợc chào đón khá nồng nhiệt Tác giả Lê Hồng Lâm, trong bài viết “Hài hớc và trữ tình”, đã

nhận định về cuốn tiểu thuyết Mời lẻ một đêm nh sau: “Khá giống với phong

cách và giọng điệu của ba cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn gần đây, Hồ AnhThái đem đến cho độc giả từ đầu đến cuối là một giọng điệu châm biếm, hàihớc và cời cợt quen thuộc, những trò lố lăng, kệch cỡm về đời sống thị dân,giới trí thức nửa mùa, những kẻ bất tài mang danh nghệ sĩ” [48; 332] Nhậnxét này của Lê Hồng Lâm có phần giống với nhận xét của Sông Thơng trong

bài “Ngả nghiêng trần thế”: “Mời lẻ một đêm đợc viết bằng giọng hài hớc chủ

đạo, thậm chí có đoạn còn lồng vào cả “truyện cời dân gian” Câu văn thụt thòdài ngắn, có chủ đích( ) Tác giả dũng cảm - phải dùng chữ dũng cảm-nhảythẳng vào những ngổn ngang của đời sống hôm nay” [48; 337,338]

Từ Nữ, trong bài “Tiếng cời trên từng trang”, nhận xét: “Một cuốn tiểu

thuyết hơn 300 trang với cách viết hài hớc đầy chi tiết Carnaval, khiến nó trởthành cuốn sách đợc yêu thích nhất trong tháng 3/2006 Không ai lạ lẫm gì lối

Trang 9

viết “Thị Màu”của nhà văn Hồ Anh Thái, nhng ngời đọc vẫn vấp từ bất ngờnày sang bất ngờ khác Một cuốn tiểu thuyết chứa nhiều thông tin xã hội làmbạn đọc ngộp thở” [48; 338].

Hoài Nam, trong bài “Chất hài hớc, nghịch dị trong Mời lẻ một đêm”,

đã nhận định: “Có thể thấy, giọng văn ở đây là giọng phát ngôn tng tửng, nó

đợc xuyên thấm bởi tính bỡn cợt, giễu nhại ( ) Không đặt mục tiêu thuyếtphục độc giả, nhà văn bày ra một cuộc chơi, bớc vào cuộc chơi ấy, độc giả cóthể vừa thởng thức vừa chứng nghiệm, vậy thôi” [48; 341]

2.2.5 Về tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi

Đức Phật, nàng Savitri và tôi là tiểu thuyết mới nhất của Hồ Anh Thái Phạm Xuân Thạch trong bài “Hồ Anh Thái có sợ giải thiêng“ ” ?” trên(VietNamNet, 29-8-2007) đã có nhận định hai chiều, cả mặt u điểm và nhợc

điểm: “Một trong những thành công của cuốn tiểu thuyết của Hồ Anh Tháichính là lối kết cấu bộ ba với khả năng soi chiếu lẫn nhau của các nhân vật

Đức Phật, nàng Savitri và tôi Bản thân việc “chạy” song hành hình tợngSavitri cạnh hình tợng Đức Phật đã có thể là một tiền đề của một đa thanhtuyệt vời” ( ) “Điểm thất bại cuối cùng của ông Thái chính là ngôn ngữ củacuốn sách Nhiều ngời vẫn ca ngợi đoạn viết về đám sơng mù trong thunglũng nơi biên giới ấn Độ- Nê pan, coi đó nh một trong những đoạn hay nhấtcủa cuốn sách Thậm chí đạt đến tầm vóc của t tởng, khi ông dùng ngôn ngữdiễn tả cái vô minh Nhng theo tôi, đây lại chính là một trong những đoạn biểuhiện rõ nhất sự bất lực về ngôn từ của ông Thái ” [57]

Hoài Nam với bài “Phật sử và h cấu văn chơng”, http://www.evan.com.vn,(Nguồn báo Văn nghệ, 12/5/2007) đã có nhận xét: “Cái mới ở đây, theo tôi, làquan điểm cá nhân của tác giả về Đức Phật, và từ đó, là cách mà tác giả xử línhững t liệu liên quan xa gần đến Đức Phật mà anh đã dày công thu nhậptrong suốt sáu năm sống trên đất ấn Độ Quan điểm ấy, nói một cách ngắngọn, là tinh thần giải thiêng triệt để Giải thiêng theo nghĩa quét sạch nhữngmây mù huyền thoại bao quanh cuộc đời Đức Phật để hiển lộ chỉ một hiềntriết, một nhà t tởng đã tìm ra con đờng giải thoát” [27]

2.2.6 Về các tác phẩm khác

Ngoài hai tập truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe, Tự sự 265 ngày đợc

coi là rất thành công, đánh dấu hai thời điểm sáng tác cũng nh hai nét phong

cách của Hồ Anh Thái, các tập truyện Mảnh vỡ của đàn ông; Bốn lối vào nhà

cời và gần đây nhất là Sắp đặt và diễn cũng thu hút đợc sự quan tâm của độc

giả

Trang 10

Với Bốn lối vào nhà cời, có các bài nghiên cứu nh: “Nên đa độc giả

theo mình” của Nguyễn Thị Minh Thái; “Bớc vào đó mà cời” của Xuân Hạo;

“Chợt gặp trong nhà cời” của Nguyễn Vĩnh Nguyên; “Ngời luôn làm mới

mình” của Tôn Phơng Lan.

Lê Văn Ba, trong bài “Cời mà đọc nhà cời”, viết: “Ngòi bút Hồ Anh Thái

trơn lớt, anh viết hấp dẫn, giọng văn châm biếm, trào lộng, ngôn ngữ hoạt kê hiện

đại ( ) Những truyện ở tập này của Hồ Anh Thái không có cốt truyện Hồ AnhThái chơi ngôn ngữ sắc sảo đa tầng nhiều đoạn gần với báo chí” [47; 219]

Trong bài Giễu nhại ngôn ngữ thị dân, Ngọc Hà viết: “Hồ Anh Thái là

một hiện tợng văn học đáng chú ý với lối viết thông minh, hài hớc trào phúng

qua các tuyển tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cời , tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận thế Anh châm biếm nhịp sống quá gấp gáp,

xô bồ đang và sẽ cuốn con ngời vào vòng xoáy của nó, khiến con ngời đánhmất dần những bản chất tốt đẹp, bị tha hoá, bị vật hoá Cách nhìn nhận về giátrị của con ngời trong xã hội đã thay đổi, phù phiếm và h danh” [47; 230]

Tự sự 265 ngày lại là một góc nhìn khác của Hồ Anh Thái về hiện thực

đời sống Lê Hồng Lâm, trong bài “Phong cách không phải là cái vỏ ngoài

bất biến và ngoan cố”, cho rằng: “ở Tự sự 265 ngày, ngời đọc thấy anh rất

dụng công để tạo ra giọng điệu mới Câu cú đã vợt qua cấu trúc ngữ phápthông thờng, những dấu phẩy dấu chấm đã đặt vào vị trí mới một cách sáng

tạo ( ) “Tự sự 265 ngày hình nh cũng là một kiểu kim châm cứu huyệt tính

cách của ngời Việt Nam hiện đại, đặc biệt là giới công chức” [44; 225]

Vân Long trong bài “Một giọng văn khác” đã nhận xét: “Với thủ pháp

sử dụng thành ngữ, khẩu ngữ của đời thờng với lối viết tràn dòng bỏ dấu Hồ AnhThái đã tạo đợc một vị trí rất riêng cho mình ở thể văn này” [44; 245]

Ngoài ra còn có các bài nghiên cứu của các tác giả khác nh bài “Có ai

chẳng muốn đùa” của Ngô Thị Kim Cúc; Hồ Anh Thái với “Tự sự 265 ngày”

của Hoàng Lan Anh; “11 ngỡng cửa” của Vũ Bão; “Nhà văn không cời” của

Nguyễn Chí Hoan Tóm lại, tất cả những bài viết của các nhà văn, nhà nghiên

cứu cho rằng ở tập truyện Bốn lối vào nhà cời; Tự sự 265 ngày, Hồ Anh Thái

đã viết với một giọng châm biếm, hài hớc, các truyện ngắn đều viết theo lốihoạt kê, gây cời bởi sự xấu xa, nhố nhăng, nhũng nhiễu của tầng lớp thị dân vàgiới công chức trong thời mở cửa Nhng, “hình nh nhà văn chỉ mợn tiếng cời

mà nhà văn không cời” [44; 252]

Tập truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tớc đã để lại nhiều dấu ấn

sâu sắc trong lòng độc giả và giới nghiên cứu cả trong và ngoài nớc nh: Bài

Trang 11

viết “Bến bờ rong ruổi” của Lê Thị Oanh; “Đi sứ và làm văn” của Vũ Bão;

“Tâm đắc và nghĩ ngợi” của Mai Sơn; “Nhà văn và tầm nhìn văn hoá” của

Phạm Quốc Ca

Ngô Thị Kim Cúc, trong bài: “Nh gặp lại chính mình” đã viết: “Hành

trình đi vào những thân phận bất hạnh luôn đa tới những tiếng thở dài sâu tậnbên trong, nhất là khi trong những hình ảnh đợc phản chiếu kia dờng nh thấpthoáng gơng mặt chính mình, gơng mặt Việt Nam [49; 272]

Đánh giá thành công của tác phẩm này, nhà văn Mỹ W.D.Ehrhart, trong

lời giới thiệu cho bản in tiếng Anh Tiếng thở dài qua rừng kim tớc, đã viết:

“Đây là cuốn sách giá trị và đáng thởng thức của một trong những nhà vănxuất sắc thuộc thế hệ sau chiến tranh Việt Nam” [49; 315]

Nhìn chung, các bài nhận xét, đánh giá về truyện ngắn Tiếng thở dài

qua rừng kim tớc đều cho rằng Hồ Anh Thái đã bứt ra khỏi lối đi quen thuộc

của loại văn mang tính chất xã giao, trả nghĩa để mà dõi theo những mảnh đời

đang trôi dạt đâu đó trên mảnh đất ấn Độ nắng gió, để rồi tìm thấy trong ấynhiều nỗi niềm khác nhau, để rồi chiêm nghiệm, suy t, day dứt

Về truyện ngắn Sắp đặt và diễn, nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ trên

www.evan.com.vn - Ho Anh Thái với “Sap dat va dien” (Nguồn Thể Thao Văn

hoá, 26-10-2006) cho rằng: “Sắp đặt và diễn lại chạy theo xu hớng tìm tòi

cách tân, một xu hớng nghệ thuật có vẻ nh mới lắm đây đang thịnh hànhkhoảng dăm năm nay” [54]

Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi khó có thể kể ra hết nhữngbài viết, công trình nghiên cứu về Hồ Anh Thái Nhìn chung các bài viết vàcác công trình nghiên cứu đều thống nhất ở một điểm ghi nhận những nỗ lựccách tân của Hồ Anh Thái trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Nhng cha cócông trình nào nghiên cứu văn xuôi Hồ Anh Thái một cách toàn diện và hệthống

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Tìm hiểu những cách tân nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau1985

3.2 Tìm hiểu những cách tân trong văn xuôi Hồ Anh Thái trên các mặtquan niệm về nghệ thuật, về hiện thực, về con ngời, về cốt truyện, ngôn ngữ,giọng điệu, về nghệ thuật xây dựng nhân vật

4 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phơng pháp: phơng pháp thống kê- phân loại,phơng pháp so sánh, đối chiếu, phơng pháp phân tích, tổng hợp

Trang 12

5 Cấu trúc luận văn

Tơng ứng với nhiệm vụ đề ra, ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham

khảo, luận văn đợc triển khai qua 3 chơng:

Chơng 1 Văn xuôi Hồ Anh Thái trong bối cảnh đổi mới của văn

xuôi Việt Nam sau 1985

Chơng 2 Những cách tân của văn xuôi Hồ Anh Thái trên bình diện

quan niệm về nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con

ng-ời, quan niệm về hiện thực

Chơng 3 Những cách tân của văn xuôi Hồ Anh Thái trên bình diện

xây dựng cốt truyện, nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ

Trang 13

Chơng 1

văn xuôi hồ anh thái trong bối cảnh đổi mới

của văn xuôi việt nam sau 1985

1.1 Cơ sở xã hội - thẩm mỹ của những cách tân nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1985

1.1.1 Cơ sở xã hội

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nớc ta chấm dứt nỗi đau chia cắt

Tổ quốc thống nhất Nhân dân bớc vào thời kỳ hoà bình, xây dựng chủ nghĩaxã hội trên phạm vi cả nớc Bên cạnh những thuận lợi cơ bản ấy, đất nớc, xãhội, con ngời Việt Nam bắt đầu đối mặt với tình hình xã hội đầy biến động,xáo trộn và phức tạp Tiếng súng không còn là nỗi kinh hoàng ám ảnh mọi ng-

ời Nhng, hậu quả của cuộc chiến tranh vẫn còn đó với những khó khăn, thửthách chồng chất của thời hậu chiến Ai cũng đều thấm thía đợc cái giá phảitrả cho độc lập, tự do của dân tộc Chính vì vậy, mỗi cá nhân phải suy nghĩ,trăn trở, nghiền ngẫm nhận thức lại vấn đề của cuộc sống Từ sau thời điểm

1986 khi diễn ra Đại hội VI của Đảng, đất nớc đã chính thức bớc vào thời kỳ

đổi mới Tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều có những biến chuyển.Cuộc sống của toàn xã hội, cuộc sống của mỗi con ngời trở nên phong phú, đadạng, toàn diện, phức tạp và sâu sắc hơn hẳn giai đoạn trớc đó

Đại hội VI của Đảng (1986) có ý nghĩa trọng đại đánh dấu một bớcngoặt mới cho cách mạng Việt Nam Đại hội VI đã tìm ra lối thoát cho cuộckhủng hoảng kinh tế - xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nớc.Cũng ở Đại hội này, Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân đổi mới t duy nhìnthẳng vào hiện thực đất nớc và đời sống của nhân dân để đề ra đờng lối đúng

đắn Đây cũng là thời kỳ mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trờng theo định ớng xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp

Về kinh tế, sau những năm bao cấp chậm phát triển, nay tất cả đợc quantâm đúng mức Một nền kinh tế công ngiệp hoá- hiện đại hoá đã nâng cao chấtlợng cuộc sống cho mọi tầng lớp nhân dân Sự nghèo đói có một thời làm thuichột nhân tài, làm mất cảm hứng sáng tác của tầng lớp văn nghệ sĩ giờ đâytừng bớc đợc khắc phục, tháo gỡ Viết văn là một nghề chân chính và cao cả.Ngời cầm bút có quyền làm giàu bằng chất xám của mình

Mở rộng việc hội nhập và giao lu kinh tế, văn hoá với các nớc trên thếgiới trong xu thế quốc tế hoá, đa phơng hoá, đa dạng hoá cũng tạo cơ hội rất

Trang 14

lớn cho sáng tác Chúng ta có một đội ngũ sáng tác trẻ, năng động, sáng tạotiếp cận nền văn minh tri thức nhạy bén Những ngời làm công tác nghiên cứuphê bình, thẩm định giá trị văn học cũng tiếp cận đợc nền lý luận hiện đại củathế giới, góp phần định hớng tích cực cho việc tiếp nhận văn học Sự quản lývăn học cũng mang tính chuyên nghiệp hơn trớc Vấn đề bản quyền, xử lý viphạm bản quyền đợc đảm bảo, tạo tâm lý an tâm cho sáng tác văn học.

Có thể nói nhờ công cuộc đổi mới mà Đảng ta đã tiến hành hơn 20 nămqua nên mọi mặt của đất nớc đã đợc thay đổi: chính trị ổn định, kinh tế pháttriển, đời sống nhân dân đợc nâng lên một cách khá cơ bản, văn hoá xã hộicũng vì thế có đợc sự phát triển mạnh mẽ và đổi mới sâu sắc

1.1.2 Cơ sở văn hoá - thẩm mỹ

Sau chiến tranh, hoàn cảnh thời bình với tất cả yêu cầu mọi mặt của đờisống con ngời phải hoà mình vào không khí dân chủ hoá Đặc biệt Nghị quyết

05 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1987) về “Đổi mới và nâng

cao trình độ quản lý văn học nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đa văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bớc mới” đã mở ra

một cái nhìn mới về vị trí và chức năng của văn nghệ Tinh thần “cởi trói” đếnvới hầu khắp văn nghệ sĩ Các nhà văn có thể viết một cách tự do hơn, khôngcòn phải gò mình trong một cái khuôn khổ chính trị cứng nhắc Văn họckhông chỉ là tiếng nói chung dân tộc, thời đại, cộng đồng, mà còn là phátngôn của mỗi cá nhân

Nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳngvào sự thật đã là những động lực cho văn học thời kỳ đổi mới phát triển mạnh

mẽ, sôi nổi Sự đổi mới ý thức nằm ở chiều sâu của đời sống văn học Nó vừa

là kết quả vừa là động lực cho những tìm tòi đổi mới trong sáng tác đồng thờilại tiếp tục tác động mạnh mẽ đến sự tiếp nhận của công chúng văn học Tduy văn học mới đã dần dần hình thành, làm thay đổi các quan niệm về chứcnăng của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn

đọc Đồng thời, sự đổi mới t duy nghệ thuật cũng thúc đẩy mạnh mẽ những sựkiếm tìm, thể nghiệm, về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, phát huy cátính và phong cách của mỗi cá nhân nhà văn Với cơ chế mở của nền kinh tếthị trờng, báo chí cũng tăng lên về số lợng Gần nh tỉnh nào cũng có các tạpchí riêng của mình về văn hoá văn nghệ Lúc này, việc in ấn, xuất bản cũngtrở nên dễ dàng, thuận tiện hơn so với thời kỳ trớc Không những thế, việctruyền thông, quảng cáo và giới thiệu tác phẩm mới đợc làm có quy mô và

Trang 15

hiệu quả hơn Thêm vào đó, thời đại công nghệ thông tin phát triển, việc xuấthiện các trang Web văn hoá, văn học trên Internet đã mang lại nguồn thông tin

bổ ích, thiết thực, kịp thời cho độc giả Chúng ta có thể ngồi ở một chỗ mà vẫn

có thể cập nhật thông tin về văn hoá, văn học cả trong và ngoài nớc Có nhữngtác phẩm mặc dù cha đợc in ấn thành sách nhng cũng đã mau chóng đến đợcvới độc giả, gây nên không ít những xôn xao, tranh luận Công tác dịch thuậtphát triển đã giúp cho nền văn xuôi nớc ta tiếp xúc đợc với những tinh hoa của

lý luận và phê bình văn học trên thế giới Đội ngũ các nhà phê bình, nghiêncứu văn học của ta đã từng bớc trởng thành về trình độ, thái độ, phơng pháplàm việc Sự quản lý văn học có chuyên môn và trình độ, tôn trọng tài năng và

có tính sáng tạo của nhà văn…đã khiến cho đội ngũ nhà văn tăng lên cả về sốđã khiến cho đội ngũ nhà văn tăng lên cả về sốlợng lẫn chất lợng Bên cạnh các cây bút xuất hiện từ thời chống Mỹ, đã cóthêm các cây bút trẻ đầy tài năng, xông xáo Bên cạnh các nhà văn trong nớccòn có đông đảo các nhà văn hải ngoại Họ đã có đợc cái tự do để đợc sống vàviết cho chính bản thân mình, để thúc đẩy văn học nớc nhà đi lên

ở giai đoạn 1945- 1975, mỗi khi đề cập đến quan niệm về cuộc sống,

về con ngời, về cái đẹp, bất cứ nhà văn nào cũng không thoát khỏi sự chi phốicủa khuynh hớng sử thi và mục tiêu chính trị Còn sau 1985, tình hình xã hộithay đổi Vì thế, yêu cầu của độc giả đối với văn hoá nghệ thuật nói chung,văn học nói riêng giờ đây cũng cao hơn Văn học phải mang trên vai mình sứmệnh mới là làm sao để đáp ứng đợc trình độ tiếp nhận và thởng thức văn họcngày một trởng thành của độc giả Trớc thị hiếu công chúng mới, các nhà vănkhông thể đi theo đờng xa, lối cũ, mà phải luôn tự tìm tòi, bứt phá mình lên sovới quy luật truyền thống

Nếu nh văn học 1945-1975 nghiêng về phản ánh các sự kiện có ý nghĩalịch sử và có tính chất toàn dân, thì ở thời kỳ này, văn học lại chú ý phản ánhcuộc sống đời thờng với bao lo toan và nhiều mối quan tâm khác nhau Mỗimột cá nhân, con ngời là một thế giới riêng ngầm chứa nhiều sự bí hiểm, phứctạp không phải ai cũng có thể biết và hiểu hết đợc con ngời Tính chất dânchủ trong xã hội và trong văn học ngày càng đợc thể hiện rõ hơn bao giờ hết.Nếu nh trớc đó, các đề tài về đời t, đời thờng, đạo đức, số phận cá nhân nhất làtình yêu nam nữ giữ vị trí thứ yếu trong văn học thì sau 1975, văn học đãbuộc phải chuyển mình theo vòng quay của xã hội, của thị hiếu thẩm mỹ conngời Văn học đã vợt qua cái vị thế độc thoại để chuyển sang t thế đối thoạivới độc giả về những suy t, trăn trở của cuộc sống thời bình Những tác phẩm

Trang 16

văn học sau 1985 không đơn giản chỉ là tiếng hô xung phong của cả một tiểu

đội mà còn là chiều sâu tâm linh, những khát khao thầm kín về tình yêu, tìnhdục, hạnh phúc gia đình, về những gì là bản thể của con ngời Thị hiếu nàycủa độc giả cũng không nằm ngoài quy luật chịu ảnh hởng của cơ chế thị tr-ờng và nền kinh tế mở, bạn đọc hôm nay đã có những đổi mới và phát triển v-

ợt bậc về trình độ so với hôm qua Trong xu thế hội nhập và phát triển củatoàn nhân loại, độc giả Việt Nam không thể không tự hoàn thiện về cảm quanthẩm mỹ Họ đợc đặt ở t thế đối thoại và dân chủ với ngời sáng tác thông quatác phẩm văn học Ngời đọc đợc hởng quyền lợi và là ngời thẩm định cuốicùng cho giá trị của tác phẩm văn học

Những biến động xã hội, những vấn đề thế sự và nhân sinh cùng vớiquan niệm thẩm mỹ mới của con ngời đã có tác động lớn đến cuộc sống, sốphận, vận mệnh con ngời, buộc ngời viết phải có suy nghĩ, thái độ và lối ứng

xử nghệ thuật làm sao cho phù hợp

1.2 Những nỗ lực cách tân của văn xuôi Việt Nam sau 1985

1.2.1 Cách tân trên bình diện quan niệm về hiện thực

Với nguyên lý “văn học phản ánh hiện thực”, văn học trở nên gắn bó

hơn với đời sống xã hội, theo sát từng biến cố lịch sử, từng bớc phát triển củaphong trào cách mạng Hiện thực đợc lựa chọn ở giai đoạn 1945-1975 là hiệnthực đã đợc biết trớc, một hiện thực vận động xuôi chiều và lạc quan Do hoàncảnh chiến tranh luôn phải đánh giá đời sống theo lập trờng địch- ta nên việc

xử lý chất liệu hiện thực ở từng tác phẩm chủ yếu theo tinh thần các đờng lốichính sách của Đảng Trong sáng tác, các nhà văn thờng thiên về hớng ca ngợimột chiều, cuộc sống thờng hiện lên ở những gam màu sáng, màu hồng và đợc

“tô hồng” Và ngời ta chấp nhận nó nh một điều hiển nhiên Nếu ai đó viết về những việc không tốt, những ngời không tốt thì sẽ bị coi là “bôi đen” lịch sử,

đồng nghĩa với sự nghiệp của anh ta bị “bôi đen” Đây cũng là mặt hạn chếtrong quan niệm một thời Không phải cứ nói đến nỗi đau là bôi đen cuộcsống, là xuyên tạc chế độ Trái lại, đó là cách giúp cho con ngời ta cảnh tỉnhmình Vì thế Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng tại Đại

hội VI nói rõ: “Thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn

thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” Nghị quyết 05 của

Bộ Chính trị khẳng định rằng: “Tiếng nói của văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của lơng tri, của sự thật, của tinh thần nhân đạo cộng sản” Bắt đầu từ Đại hội

Trang 17

Đảng lần thứ VI (1986), tinh thần “đổi mới t duy, nhìn thẳng vào sự thật” đãtạo cơ sở t tởng cho xu hớng dân chủ hoá trong văn học đợc khơi dòng và pháttriển mạnh mẽ Dân chủ hoá đã thấm sâu và đợc thể hiện ở nhiều cấp độ vàbình diện đời sống văn học Trên bình diện ý thức nghệ thuật đã có nhiều biến

đổi quan trọng theo hớng dân chủ hoá về các quan niệm về vai trò và chứcnăng của văn học, nhà văn và quan niệm về hiện thực Văn học không chỉ làtiếng nói chung của dân tộc, thời đại, cộng đồng, mà còn có thể là phát ngôncủa mỗi cá nhân Cùng với những thay đổi trong quan niệm về nhà văn thìquan niệm về hiện thực nh là đối tợng phản ánh, khám phá của văn học cũng

đợc mở rộng và mang tính toàn diện Từ hiện thực chiến tranh hùng tráng vàthi vị, gian khổ, ác liệt nhng vẫn tràn đầy âm hởng lạc quan, lãng mạn cáchmạng, văn học bớc vào một hiện thực khác dẫu yên ả, bình lặng nhng cũngngổn ngang và nhiều thách thức mới Hiện thực không chỉ là hiện thực cáchmạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng Nó còn là hiện thực của đờisống hàng ngày, các quan hệ thế sự, đời t vốn đa đoan, đa sự, phức tạp chằngchịt, đan dệt nên những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó còn

là đời sống cá nhân của mỗi con ngời với những vấn đề riêng t, số phận, nhâncách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch cả niềm vui lẫn nỗi đau,nỗi buồn Hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn của nó đã mở ra nhữngkhông gian vô tận cho văn học thoả sức chiếm lĩnh khám phá, khai vỡ Xu h -ớng dân chủ hoá của văn học không chỉ thể hiện ở các quan niệm nh đã nóitrên mà đã thâm nhập và đợc biểu hiện ra trên nhiều bình diện của sáng tác, từ

hệ đề tài, các kiểu kết cấu và mô típ chủ đề, cốt truyện, nhân vật cho đếngiọng điệu và ngôn ngữ

Trên những trang văn ở thời kỳ 1945-1975 khuynh hớng sử thi là đặc

điểm bao trùm của văn học Rất nhiều tác phẩm trực tiếp thể hiện hình ảnhnhân dân trong quá trình thức tỉnh cách mạng và hình ảnh cuộc chiến tranh

nhân dân vĩ đại Trong các tác phẩm Rừng xà nu, Rừng U minh, Dấu chân

ng-ời lính, nhân vật trung tâm của văn xuôi thng-ời kỳ này là ngng-ời lính Đó là

những con ngời tiêu biểu cho khát vọng và ý chí chiến đấu quyết thắng của cảdân tộc, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng của thời đại, cho sức mạnh và phẩmchất của con ngời Việt Nam kết tinh những truyền thống từ mấy nghìn nămlịch sử và sức mạnh của cách mạng Những tình huống trong văn xuôi không

có gì đặc biệt Để thể hiện t tởng yêu nớc, t tởng hi sinh vì độc lập, tự do của

Tổ quốc, các nhân vật thờng đợc xây dựng nh những con ngời toàn diện trong

Trang 18

các mối quan hệ chung và riêng, sự sống và cái chết, để rồi phẩm chất anhhùng trong mỗi con ngời bao giờ cũng nổi trội và chiến thắng Tình yêu lứa

đôi, nếu có, chỉ có thể ra đời trên cơ sở của lòng cảm phục, của tình đồng chí,

đồng đội, của tình yêu đất nớc quê hơng nh chị Sứ trong Hòn Đất (của Anh

Đức), chị út Tịch trong Ngời mẹ cầm súng (của Nguyễn Thi), Nguyệt trong

Mảnh trăng cuối rừng (của Nguyễn Minh Châu), đợc bao bọc bởi “bầu không

khí vô trùng”

Khuynh hớng sử thi cũng tạo nên một giọng điệu trang trọng sùng kínhngợi ca, hào sảng Nhìn chung tiểu thuyết và truyện ngắn giai đoạn 1945-1975không hớng tới tính đa thanh, mà chủ yếu hớng tới sự thống nhất trong quan

điểm của ngời trần thuật, quan điểm của các nhân vật chính diện, nhân vậtquần chúng tạo thành một tiếng nói thống nhất, hoà nhập và là tiếng nói chủ

đạo hoặc duy nhất trong mỗi tác phẩm Nếu nh trớc đây cảm hứng sử thi làcảm hứng chủ đạo thì bây giờ cảm hứng “sử thi” nhạt dần Ngời viết buộc phải

đối diện với mình, với thực tế đất nớc Cảm hứng sáng tạo chuyển từ ngợi ca,

tự hào, khâm phục đến chiêm nghiệm, lắng đọng, suy t Tầng lớp văn nghệ sĩ

đợc cởi trói, họ có thể nói và viết những điều tâm huyết thuộc về văn chơng

mà một thời gian dài họ phải sống hộ, viết hộ cho ngời khác Trong cảm quannghệ thuật của họ giờ đây đã và đang bù lại sự thiếu hụt của những vấn đềriêng t cả những góc khuất trong chiều sâu cá thể

Trong một số tác phẩm nh của Nguyễn Minh Châu, của Ma Văn Kháng

chùm tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tuấn nh Cù lao Chàm, Đứng trớc biển đã

khám phá hiện thực với những quan hệ, những xung đột và mâu thuẫn xã hộiphức tạp Họ đã bổ sung vào hiện thực những mảng trớc cha nói tới, nhữngthời điểm khốc liệt, những mất mát to lớn, những tiêu cực trong nội bộ ởnhững tác phẩm này, hiện thực đợc trình bày không giản đơn, xuôi chiều nhtrớc Mọi khái niệm quen thuộc về sự thật và hiện thực, về cái mới và cái cũ,

về thiên chức của nhà văn và nghệ sĩ… rồi sẽ trở thành vấn đề đặt ra, âm thầm

và căng thẳng trong nhiều cuộc bàn luận hoặc tranh cãi, và vẫn còn tiếp tụccho đến nay Việc mở rộng hiện thực, tăng cờng hiện thực đem lại cho sángtác văn xuôi sau 1975 những u thế Văn xuôi trở nên hấp dẫn hơn đối với bạn

đọc Các cây bút này rất chú ý đến thể hiện mối quan hệ giữa nhân cách nhânvật với hoàn cảnh

Nguyễn Khải vẫn đợc xem là cây bút hiện thực tỉnh táo, sắc sảo, luônphát hiện những vấn đề trong đời sống xã hội Khuynh hớng hiện thực trong

Trang 19

sáng tác của Nguyễn Khải hớng tới những chủ đề chính luận thời sự Từ saunhững năm 75 và nhất là những năm 80 trở đi, nội dung triết lí trong tác phẩmcủa Nguyễn Khải tuy vẫn không xa vời những vấn đề xã hội, chính trị nhng đã

mở rộng tới những vấn đề trong đời sống t tởng mang nội dung triết học nhânsinh Tuy vẫn bám sát thời hiện tại, cái hôm nay trong đời sống nhng nhiều tácphẩm đã vơn tới đề cập và suy nghĩ về những vấn đề có ý nghĩa vĩnh hằngtrong cuộc sống nhân sinh

Truyện ngắn Bức tranh, truyện vừa Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc

hành của Nguyễn Minh Châu đến tác phẩm Mùa lá rụng trong vờn của Ma

Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, Một cõi nhân gian bé tí của Nguyễn

Khải cùng hàng loạt tác phẩm ra đời sau 1975, đặc biệt sau năm 1986 đã xuấthiện cái nhìn hiện thực đa dạng, nhiều chiều Hiện thực là cái cha biết, khôngthể biết hết, hiện thực phức tạp cần phải khám phá tìm tòi Hiện thực đợc môtả một cách chân thực, không phải chỉ có hạnh phúc, chiến thắng mà còn đầyrủi ro, thất bại Quá khứ vinh quang của cuộc chiến tranh thần thánh đã trởnên một thứ chuẩn mực, một chỗ dựa tinh thần cho con ngời Song cũng cònmột quá khứ với hậu quả đau xót của bệnh giáo điều, ấu trĩ đợc xem xét lại từ

nhu cầu tự nhận thức Ngời họa sĩ trong truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn

Minh Châu đã phải sống trong sự dằn vặt của mình sau lần gặp tình cờ với

ng-ời mẹ anh chiến sĩ Nếu anh không vô trách nhiệm, nếu anh chuyển cho bà cụbức th của ngời con trai chứng tỏ con bà còn sống và khoẻ mạnh thì bà cụ đâu

vắng có ý nghĩa điển hình về giá trị nhận thức, giá trị xã hội, là một sự nhận

thức thực tại lịch sử - xã hội mà bấy lâu nay chúng ta cha khám phá một cáchsâu sắc

Khi tiếp cận hiện thực ở nông thôn, Nguyễn Huy Thiệp có cái nhìn rất

riêng, độc đáo so với mọi ngời: “Với nông thôn, tất cả bọn dân thành phố

chúng ta đều mang tội trọng Chúng ta phá tan nát họ bằng những lạc thú, vật

Trang 20

chất của mình, cả giáo dục lẫn khoa học giả cầy, chúng đè dí nông thôn bởi thợng tầng kiến trúc với toàn bộ giấy tờ và khái niệm của nền văn minh”.

(Những bài học nông thôn).

Nghiên cứu khám phá hiện thực và con ngời cá nhân ở những tầng, vỉakhác nhau, ngòi bút của Ma Văn Kháng phát hiện ra những vẻ đẹp của nhữnggiá trị truyền thống, cội nguồn thiêng liêng của những giá trị văn hoá, nền tảng

của mọi nền văn hoá Không phải bao giờ con ngời cũng hớng tới sự “hoài cổ”

và đó cũng là giá trị vĩnh hằng, nhng cần phải giáo dục con ngời đừng “mất

gốc” để nó có đợc một nền tảng đạo đức không hời hợt.

Nghị quyết 05 của Bộ chính trị đặt vấn đề “tự do sáng tác” đã tạo điềukiện cho nhà văn thể nghiệm tìm tòi, và phản ánh hiện thực linh hoạt, phongphú hơn Chiến tranh cũng đợc nhìn nhận lại tới tận cùng góc khuất của nó,tiếng súng đã im lặng, nhng nỗi đau mất mát vẫn còn âm ỉ cháy trong lòngcuộc sống sôi động sau hoà bình Cái mà các nhà văn nhìn nhận ở chiến tranh

ở đây không phải chỉ đơn thuần là những tấm huân chơng lấp lánh chiến côngcủa một thời kỳ anh dũng mà còn là sự hy sinh thầm lặng, những tổn thơngmất mát mà thời kỳ trớc 1975 ngời ta thờng né tránh không hề đề cập tới, nhất

là số phận cá nhân, vấn đề cá nhân Sau 1975 cuộc sống trở lại với những quyluật bình thờng của nó, con ngời trở về với muôn mặt đời thờng, phải đối mặtvới bao nhiêu vấn đề trong một vấn đề có nhiều biến động, đổi thay của xãhội Bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm

đến mỗi ngời và từng số phận: Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Bến không

chồng của Dơng Hớng, Ngời sót lại của Rừng cời của Võ Thị Hảo, Vòng tròn bội bạc của Chu Lai.

Thân phận tình yêu của Bảo Ninh thấm thía nỗi buồn chiến tranh với

những thế hệ phải trải qua cuộc chiến ấy và giờ đây với những mặc cảm, ám

ảnh về quá khứ chiến trận Ngời lính không thể hoà nhập với dòng đời bề bộn

sau cuộc chiến, trở nên bơ vơ, lạc lõng, đứng bên lề xã hội nh trong Vòng tròn

bội bạc của Chu Lai Ngời sót lại của Rừng cời của Võ Thị Hảo viết về cảnh

ngộ thật thơng tâm của những ngời nữ thanh niên xung phong thời đánh Mỹ

Họ cô đơn, thiếu thốn, nhất là thiếu hơi hớng đàn ông, khiến các cô gái mắcphải bệnh cời Mỗi lần gặp một anh lính, cô thì xông vào “ôm chặt”, cô thì

“vừa cời vừa khóc tay dứt tóc còn tay thì vò xé áo quần”

Tiểu thuyết Ngời đàn bà trên đảo của Hồ Anh Thái cũng viết về những

ngời nữ thanh niên xung phong sau chiến tranh ở đội năm Họ mất tuổi xuân,

Trang 21

mất hạnh phúc, chối bỏ tất cả mọi ham muốn cá nhân để thực hiện nghĩa vụthiêng liêng với Tổ quốc Chiến tranh kết thúc, họ quay trở về với những thânphận vô định và niềm khao khát hạnh phúc, mong muốn đợc làm mẹ nh baongời phụ nữ khác, nhng nơi họ sống và làm việc cũng hiếm đàn ông cho họlấy làm chồng Họ phải tìm đến với hạnh phúc giản dị ấy bằng cách leo núisang bên đảo và chấp nhận có thai với bất kỳ ngời đàn ông nào.

Văn xuôi sau thời kì đổi mới phát triển phong phú sôi nổi, đa dạng nhngcũng phức tạp Sự đa dạng và phong phú thể hiện trên nhiều bình diện: đadạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều tìm tòi về thủ pháp nghệ thuật; đadạng về phong cách và khuynh hớng thẩm mỹ…đã khiến cho đội ngũ nhà văn tăng lên cả về số Nhng sự đa dạng cũng đi liềnvới tính phức tạp và không ổn định Nhiều khuynh hớng tìm tòi chỉ nở rộ trongmột khoảng thời gian ngắn ngủi rồi lịm tắt Thị hiếu của công chúng khôngthuần nhất và cũng luôn biến động Các thể loại cũng trồi sụt khá bất thờng

Sự phức tạp và không ổn định này là đặc điểm tất yếu của một giai đoạn mangtính giao thời, nhng cũng còn do một nguyên nhân rất cơ bản nữa, đó là sự chiphối của cơ chế thị trờng Văn học tất yếu phải thành sản phẩm hàng hoátrong nền cơ chế thị trờng Điều đó vừa có tác động thúc đẩy sự phát triển củavăn học, vừa có nhiều tác động tiêu cực khó tránh khỏi đối với cả sáng tác lẫnxuất bản, phê bình và công chúng Trong xu thế hội nhập, sự giao lu và đờisống văn học và văn hoá thế giới ngày càng mở rộng, cùng với những nhu cầunội tại của đời sống văn hoá, tinh thần trong nớc, văn học đã ngày càng giatăng tính hiện đại Văn xuôi có nhiều đổi mới vào nghệ thuật tự sự, từ sự thay

đổi điểm nhìn trần thuật đến xây dựng nhân vật, độc thoại nội tâm và dòng ýthức, tính đa thanh và đa giọng điệu,

Tính từ 1985, văn học Việt Nam thực sự đã có giai đoạn phát triển mới

Đời sống văn học sôi động và phong phú hẳn lên, số lợng sách báo in ra, kể cảsách dịch lẫn sáng tác trong nớc, ngoài nớc, tăng hơn trớc đây rất nhiều Đặcbiệt là xuất hiện một số nhà văn có tiếng vang quốc tế với những tác phẩm đợc

trao giải thởng ở trong nớc và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới nh Nỗi

buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu) của Bảo Ninh; Thiên sứ của Phạm Thị

Hoài; Ngời đàn bà trên đảo; Trong sơng hồng hiện ra của Hồ Anh Thái Lần

đầu tiên Lâu đài của Kapka đợc dịch sang tiếng Việt Điều đó chứng tỏ việc

chọn dịch và giới thiệu đúng những tinh hoa của các nền văn hoá là yêu cầuhết sức quan trọng đối với các nhà dịch giả và nghiên cứu

Trang 22

Giai đoạn 1986-1990, văn học đã trở thành tâm điểm của d luận xã hội.Hàng loạt tác phẩm ra đời ở thời kỳ này đã thu hút chú ý của đông đảo bạn

đọc và gây nên nhiều tranh luận sôi nổi Văn học phải đi vào đời thờng, phảiquay về với đời thờng, viết về những mảnh vỡ của số phận Văn học có điềukiện khám phá chiều sâu kín nhất, những thế giới nhạy cảm và tinh tế nhất củatâm hồn con ngời Đội ngũ sáng tác văn học, nhất là các cây bút văn xuôi nóiriêng đã và đang tìm tòi cách tân trong cách nghĩ và cách thể hiện mới sao chophù hợp với công chúng với thời đại mới Cuộc sống muôn màu muôn vẻ đangdiễn ra hàng ngày tấp nập, sôi nổi, cùng với các mối quan hệ thế sự đời t đanxen chồng chéo lên nhau là mối quan tâm của các nhà văn, đồng thời làkhuynh hớng văn xuôi hết sức phổ biến hiện nay Một số sáng tác của Ma VănKháng, của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp cùng với các cây bút nữ

Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thị Trờng, Y Ban,Phan Thị Vàng Anh, đều là những cây bút khá tiêu biểu cho khuynh hớngnày

Nguyễn Huy Thiệp lại phơi bày sự khủng hoảng của xã hội qua việcthay đổi các giá trị và lối sống Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũnggiống nh cuộc vật lộn với chính bản thân mình, lúc nào cũng phải đối diện với

chính mình trần trụi và lạnh lùng Trong Tớng về hu, một vị tớng giàu cống

hiến nhng nghèo đời sống thực tiễn Hành trang sau nửa thế kỷ chỉ gói gọn:một bộ sa lông, mấy mét vải bộ đội Thực tế cuộc sống, không khí tranhgiành, dối trá, tha hoá, nhố nhăng, thực dụng vây quanh ông nhng ông vẫntoát ra một bản chất trong sáng, một tấm lòng nhân hậu, vị tha Nhng ông lạiquan liêu trớc những gì đã và đang diễn ra trong đời sống hiện nay Cô Thuỷ,mẫu ngời của lối sống thực dụng, sa đọa, coi đồng tiền là mục tiêu, là cứucánh Mỗi nhân vật đại diện cho một giai tầng, một lớp ngời của xã hội Vị t-ớng cô đơn ngay chính trong căn nhà, trong gia đình của mình, khi không tìmthấy sự đồng cảm, một tiếng nói chung

Bến không chồng của Dơng Hớng, Mảnh đất lắm ngời nhiều ma của

Nguyễn Khắc Trờng, Đám cới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng lại là

những bức tranh hiện thực với nhiều mảng tối mà trớc đây thờng bị che lấp,hầu nh không hề tồn tại, nay đợc hiện lên trang sách nh những minh chứngcho bao điều xót xa, nhức nhối mà tác giả muốn thức tỉnh trong mỗi ngời đọccũng nh toàn xã hội để có thể dứt khoát vợt qua cái “thời xa vắng” của cái thời

Trang 23

cha xa là mấy, nhng con ngời lại sống và hành động hộ cho ngời khác để cuộc

đời là chuỗi bi kịch nối tiếp đan xen nhau không dứt

Từ giữa những năm 90 của thế kỷ vừa qua, trong xu thế đi tới sự ổn

định của xã hội, văn học về cơ bản cũng đã trở lại với những quy luật mangtính bình thờng, nhng không xa rời định hớng đổi mới đã hình thành từ giữanhững năm 80 Nếu nh trớc đó, động lực thúc đẩy văn học đổi mới là nhu cầu

đổi mới xã hội và khát vọng dân chủ Đó cũng chính là nội dung cốt lõi củavăn học trong chặng đầu đổi mới thì khoảng 10 năm trở lại đây, văn học quantâm nhiều đến sự đổi mới của chính nó, mặc dù vẫn không đi ra khỏi hớng dânchủ hoá Đây là lúc văn học trở về với cuộc sống thờng nhật và vĩnh hằng,

đồng thời có ý thức và nhu cầu tự đổi mới nhất là về hình thức nghệ thuật,

ph-ơng thức thể hiện Tuy ít có những tác phẩm gây đợc những “cú sốc” trong dluận, trở thành những hiện tợng thu hút đông đảo công chúng, nhng hầu nh ởthể loại nào cũng có sự tìm tòi tự đổi mới Những thể nghiệm mạnh bạo đểcách tân tiểu thuyết cũng đợc các tác giả thực hiện hàng loạt trong tiểu thuyết

xuất hiện gần đây Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Hồ Quý Ly của Xuân Khánh,

Cơ hội của chúa của Nguyễn Việt Hà, Ngời đi vắng, Trí nhớ suy tàn của

Nguyễn Bình Phơng, Ngời sông Mê của Châu Diên, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Cõi ngời rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Đi tìm nhân vật, Thiên

thần sám hối của Tạ Duy Anh, Phố Tàu của Thuận, Mảnh đất lắm ngời nhiều

ma của Nguyễn Khắc Trờng, Ngời vớt phù du của Phạm Hải Anh, Tấm ván phóng dao của Mạc Can.

Mỗi nhà văn luôn đau đáu một niềm đam mê là viết sao cho chạm đợcvào cái tầng sâu, vào tận đáy sâu những sự thật về quê hơng, đất nớc, dân tộcmình để tác phẩm có thể đối mặt với đời sống, tiến vào những chốn gai góc

âm u của cuộc đời Hơn lúc nào, mong muốn của ngời cầm bút là phải pháthuy đầy đủ chức năng xã hội của văn học nghệ thuật để khắc phục tình trạngvăn nghệ chỉ làm nhiệm vụ minh hoạ “chính trị” dẫn đến chức năng phản ánh

bị hiểu một cách thô thiển Khắc phục “thói quen chỉ nói một chiều”, ngờicầm bút hôm nay đã mạnh dạn tìm kiếm và tạo dựng bản sắc riêng của từngngời, dựa trên những trải nghiệm cá nhân và cách nhìn riêng biệt, càng ngàycàng tỏ ra tự tin và táo bạo hơn trong công việc sáng tạo Khuynh hớng “nhậnthức lại thực tại” gắn liền với khuynh hớng “hớng tới những vấn đề đạo đức vànhân cách của con ngời mới trong xã hội ta” Cùng với nhu cầu “đợc thànhthực” một cách tự nhiên, trong văn xuôi hôm nay xuất hiện tiếng nói triết luận

Trang 24

sâu sắc đầy suy t của ngời viết trong cuộc hình trình bất tận “tự tìm kiếmmình” Văn xuôi thời gian qua nhìn chung vẫn giữ đợc sự nhộn nhịp vốn có từthời gian trớc Số lợng tác phẩm in ra nhiều Các tác giả nỗ lực bám sát đờisống, tập trung vào những vấn đề của đời sống hiện đại nhng mảng đề tài về

đời sống thành thị đợc chú ý nhiều hơn các lĩnh vực khác

1.2.2 Cách tân trên bình diện quan niệm về con ngời

Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con ngời Vănhọc có thể miêu tả rất nhiều đối tợng trong tự nhiên và xã hội nh thần linh ma

quỷ, đồ vật, loài vật nhng vẫn “lấy con ngời làm đối tợng nhận thức trung

tâm” [8; 402] Các đối tợng khác đợc miêu tả cũng đều nhằm thể hiện con ngời.

Con ngời, đối tợng nhận thức trung tâm của văn học, là “con ngời với toàn bộ

tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó, trên phơng diện thẩm mỹ” [8; 402] Chính vì thế, ngời ta

không thể miêu tả về con ngời nếu nh họ không hiểu biết, cảm nhận và có các

phơng tiện, biện pháp biểu hiện nhất định “Quan niệm nghệ thuật về con ngời

là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con ngời đã đợc hoá thân thành các

ph-ơng tiện, biện pháp thể hiện con ngời trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật thẩm mỹ cho các hình tợng văn học trong đó” [36; 41].

Sự ra đời khái niệm quan niệm nghệ thuật về con ngời đã giúp nghiên

cứu văn học thoát khỏi xu hớng chỉ chú ý tới phơng diện khách thể của nhânvật đợc miêu tả bao gồm ngoại hình, tính cách, phẩm chất, tâm lý, ngôn ngữ Quan niệm nghệ thuật về con ngời hớng ngời ta khám phá cảm thụ và biểuhiện chủ quan sáng tạo của nhà văn, của chủ thể Theo t tởng mỹ học hiện đại,vai trò quyết định tạo nên các khuynh hớng văn học chính là quan niệm vềcon ngời, cụ thể hơn là các quan niệm về cá nhân trên cả hai phơng diện: cánhân tồn tại nh một cá thể và cá nhân tồn tại trong các mối quan hệ xã hội.Quan niệm nghệ thuật về con ngời chính là thớc đo trình độ chiếm lĩnh hiệnthực của một tác phẩm, tác giả, trào lu

Nếu nh văn xuôi giai đoạn 1945-1975 chịu sự chi phối của chiến tranh

và luôn quan tâm chú ý đến con ngời tập thể, cộng đồng, họ chỉ tìm thấy ýnghĩa của mình khi gắn bó với đời sống tập thể, cộng đồng, thì sau 1975 nhất

là sau 1985 văn xuôi đã có cái nhìn khác T duy tiểu thuyết thay thế cho t duy

sử thi Cảm hứng thế sự đời t thay cho cảm hứng anh hùng Các nhà văn hớngngòi bút của mình vào thế giới tâm hồn, khám phá chiều sâu tâm linh để nắmbắt những trạng thái tinh tế của con ngời Con ngời trong văn xuôi sau chiến

Trang 25

tranh không phải là con ngời của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, mà

số phận ấy luôn nằm trong mối quan hệ với xã hội, đằng sau mỗi số phận luôn

là ý nghĩa thời đại Văn xuôi sau 1975 đã có những cách tân trong nghệ thuậtbiểu hiện, nhằm tạo dựng con ngời trong tác phẩm nh những nhân cách toànvẹn với đời sống thực của nó Với văn xuôi thời kỳ này, yêu cầu sáng tác để cổ

vũ chiến đấu và chiến thắng không còn là vấn đề gay gắt, sự thể hiện đời sốngkhông còn bị giới hạn trong đề tài chiến đấu và sản xuất nh trớc mà mở rộngtheo đề tài tâm lý xã hội với tất cả những lĩnh vực đời sống của con ngời, tấtcả những mối quan hệ của con ngời trong cuộc sống mới nhiều phức tạp nhcủa Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Ma Văn Kháng, Dơng Hớng, Dơng Thu H-

ơng, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái và mới hơn nữa là các cây bút trẻ đầy tiềm năng

nh Nguyễn Bình Phơng, Nguyễn Ngọc T, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thế HoàngLinh

Con ngời của văn xuôi sau 1975 không phải là con ngời đơn chiều mà

là đa chiều với nhiều phức tạp của tâm hồn, con ngời với những nhu cầu thiếtthực của bản năng Vấn đề tình yêu, tình dục đợc khơi lại với đúng ý nghĩariêng t với nhiều cung bậc đa dạng của nó Tình dục, nhu cầu cá nhân của conngời đợc đặt ra một cách bạo liệt, trực tiếp và thẳng thắn hơn bao giờ hết tiêu

biểu nh Ngời đàn bà trên đảo của Hồ Anh Thái, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu,

những tác phẩm của Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ

Những đề tài cuộc sống đơng đại đặc biệt hấp dẫn các nhà văn, nhất làmảng đề tài liên quan đến con ngời trong xã hội đang trên đờng đô thị hoá

Bớc qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, gói gọn trong mơi trang cả một

cuộc đời, một kiếp ngời, mấy kiếp ngời vừa là tác giả vừa là nạn nhân củanhững bi kịch xã hội đằng đẵng một thời Những mảnh đời thoáng qua khônggơng mặt, không cá tính cụ thể, nét nổi bật và đọng lại chính là những hành

động thụ ác “Thiên thần sám hối” khiến ai đọc nó cũng có thể thấy mình

trong đó và hầu hết là giật mình, không tự vấn lơng tâm thì cũng tự xấu hổ,nhng nó cũng không quá nghiệt ngã, ráo riết mà vẫn mở đờng cho nhân vật -ngời đọc một lối thoát lơng tâm

Cõi ngời rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái là sự suy ngẫm triền

miên, nỗi đau đớn, nhức nhối của những điều trông thấy Cái ác không phảimang bộ mặt dễ nhận ra, cái ác không chỉ làm tổn thơng quá khứ, cái ác còn

đang sống sờ sờ trong hiện tại không còn chiến tranh, thậm chí cái ác cònmang một bộ mặt vui vẻ trẻ trung của đôi lứa, hay của những dục vọng trai trẻ

Trang 26

Truyện ngắn Có con của Phan Thị Vàng Anh thoạt trông thờng nhẹ

nhàng thoảng nh một cơn gió hay cơn ma nhẹ và buồn dễ nhầm với thứ truyệnngắn học trò, nhng đọc kỹ lại nghe chất chứa những mâu thuẫn nội tâm củamột ngời đàn bà muốn có một đứa con với nhân tình, nhng lại không biết đợcmình có nuôi nấng, chăm sóc nó một cách chu đáo hay không? Cuối cùng chị

ta nhận ra rằng mình không mang thai và cũng không muốn có đứa con này

1.2.3 Cách tân về kết cấu và cốt truyện

Theo quan niệm chung nhất, kết cấu là sự xắp xếp, phân bố các thànhphần hình thức nghệ thuật, tức là sự cấu tạo tác phẩm tuỳ theo nội dung và thểtài Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức và phối hợp chúng với t tởng Kết cấu khiến tác phẩm trở nên mạch lạc, có vẻ duyên dáng của trật tự(Horacius)[2;169]

Văn xuôi hôm nay đã vợt lên kết cấu truyền thống đó là kết cấu mở, tự

do linh hoạt và uyển chuyển hơn so với lối kết thúc có hậu Con ngời trong xãhội mới luôn sống trong mối quan hệ đan xen chồng chéo nhau, vì thế kết cấutác phẩm cũng đa dạng hơn, phức tạp và sinh động hơn.Theo đó, cốt truyện

đầy đủ chi tiết diễn tiến lùi xuống hàng thứ yếu, nhờng chỗ cho cốt truyên tâm

lí tính cách Cốt truyện không giữ đợc trật tự tuyến tính nh cốt truyện tự nhiên

mà đã bị đảo lộn thành cốt truyện nghệ thuật, cốt truyện tâm lý nhân vật Ngời

và xe chạy dới ánh trăng Hồ Anh Thái, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh đều là những tiểu thuyết đợc kết cấu men

theo tâm lý nhân vật, mà cốt truyện cũng không đầy đủ nh cốt truyện truyềnthống mà hớng tới để khám phá, thể hiện tâm hồn sâu kín và phức tạp của conngời

Nói tóm lại, kết cấu và cốt truyện luôn là vấn đề thời sự và nghệ thuậtkết cấu luôn đặt ngời nghệ sĩ vào sự thúc bách của trí lực, tâm huyết, tài năngtrong quá trình sáng tạo nghệ thuật Chính vì vậy, khi nghiên cứu thể loại vănxuôi trớc hết cần đặc biệt chú ý ở sự biến đổi, cách tân trong nghệ thuật kếtcấu tác phẩm

Trang 27

trớc kia là lớp ngôn ngữ đời thờng, ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày với tất cảnhững nét xù xì, gai góc, bỗ bã, suỗng sã đợc lựa chọn đa vào tác phẩm Dunhập ngôn ngữ đời thờng, tạo nên sự đa âm, phức hợp của cuộc sống hàngngày vào văn xuôi, nhờ đó mà tác phẩm trở nên sinh động và hấp dẫn hơn nh

Tự sự 265 ngày, Cõi ngời rung chuông tận thế, Mời lẻ một đêm, Bốn lối vào nhà cời của Hồ Anh Thái, Không có vua, Sang sông, Những bài học nông thôn, của Nguyễn Huy Thiệp, Tmất tích, Pari 11 tháng 8 của Thuận

Giọng điệu ở thời kỳ này đa sắc màu, ngoài giọng truyền thống còn cógiọng triết lý (Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh ), giọng điệutrong sáng lãng mạn (Nguyễn Ngọc Thuần ), giọng hài hớc (Lê Lựu, Hồ AnhThái, Nguyễn Huy Thiệp ), giọng phê phán (Lê Minh Khuê, Nguyễn HuyThiệp, Nguyễn Quang thân ) Đặc biệt trong văn xuôi sau 1975 xuất hiện Hồanh Thái nh một trờng hợp đa giọng điệu

1.2.5 Cách tân trên bình diện dung lợng: Sự xuất hiện của loại tiểu thuyết ngắn và truyện cực ngắn

Một trong những cách tân của văn xuôi ta có thể thấy rõ nhất là hìnhthức ngắn (cả tiểu thuyết lẫn truyện ngắn) và sự đan xen thể loại Trớc đây khinói đến tiểu thuyết cả ngời đọc lẫn ngời sáng tác đều có một hình dung ban

đầu là sự bề thế của dung lợng chữ và nội dung phản ánh hiện thực Nhng thếgiới những năm gần đây thực sự đã xuất hiện hình thức viết tiểu thuyết ngắn,truyện cực ngắn với mục đích, một mặt chống lại xu hớng chính từng ngự trịtrong truyền thống: viết những bộ sử thi, tùng th dài trang đợc xem nh một giátrị, còn viết ngắn đợc xem nh là non yếu, thất bại

Trừ Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác đồ sộ và bề thế ngót

1500 trang; Hồ Quý Ly (2002) của Nguyễn Xuân Khánh 836 trang, Mẫu

th-ợng ngàn (2006) cũng của Nguyễn Xuân Khánh 807 trang; Tây Sơn bi hùng truyện (2006) của Lê Đình Danh 1100 trang một số tiểu thuyết Việt Nam đ-

ơng đại có dung lợng và qui mô nhỏ, đơn giản về truyện, ít nhân vật, gây đợctiếng vang và thu hút đợc giới nghiên cứu và độc giả Theo thống kê của Bùi

Việt Thắng qua 31 tiểu thuyết: thì Thời gian của ngời (1986) của Nguyễn Khải: 156 trang; Nớc mắt đỏ (1988) của Trần Huy Quang: 320 trang; Mối

tình hoang dã (1990) cũng của Trần Huy Quang: 350 trang; Thiên sứ (1989)

của Phạm Thị Hoài: 180 trang; Những mảnh đời đen trắng (1989) của Nguyễn Quang Lập: 210 trang; Thân phận của tình yêu (1991) của Bảo Ninh: 338 trang; Bến không chồng (1991) của Dơng Hớng: 281 trang; Lão khổ (1992)

Trang 28

của Tạ Duy Anh: 280 trang; Đi tìm nhân vật (2002) của Tạ Duy Anh: 225 trang; Thiên thần sám hối (2004) của Tạ Duy Anh: 125 trang; Không thành

ngời lớn (1995) của Từ Nguyên Tĩnh: 145 trang; Tháng không ngày (1998)

của Trần Thị Thắng: 145 trang; Lạc rừng (1999) của Trung Trung Đỉnh: 190 trang; Đèn vàng (2002) của Trần Chiến: 340 trang; Tẩu hoả nhập ma (2002) của Lê Mai: 318 trang; Cháy đến giọt cuối cùng (2002) của Nguyễn Thị Anh Th: 333 trang; Thoạt kỳ thuỷ (2004) của Nguyễn Bình Phơng: 158 trang;

Trong nớc giá lạnh (2004) của Võ Thị Xuân Hà: 250 trang; Tờng thành

(2004) cũng của Võ Thị Xuân Hà: 350 trang; Tấm ván phóng dao (2004) của Mạc can: 197 trang; Trăm năm thoáng chốc (2004) của Vũ Huy Anh: 190 trang; Tìm trong nỗi nhớ (2004) của Lê Ngọc Mai: 270 trang; Ng phủ (2005) của Hoàng Minh Tờng: 295 trang; Ngời sông Mê (2005) của Châu Diên: 207 trang; Đi qua bóng tối (2005) của Nguyễn Hoàng Thu: 263 trang; Phố Tầu (2005) của Thuận: 222 trang; Ngụ c (2005) của Thuỳ Dơng: 283 trang; Gió tự

thời khuất mặt (2005) của Lê Minh Hà: 346 trang; Đàn bà xấu thì không có quà (2005) của Y Ban: 170 trang; Cánh đồng lu lạc (2005) của Hoàng Đình

Quang: 350 trang; Chuyện của thiên tài (2000) của Nguyễn Thế Hoàng Linh:

312 trang

Trong số 31 cuốn tiểu thuyết mà chúng tôi khảo sát, phân tích tỉ lệ trang

nh sau: Dới 150 trang (3 cuốn); từ 150 trang đến 200 trang (5 cuốn); từ 200trang đến 250 trang (8 cuốn); từ 250 đến 300 trang (6 cuốn) Và từ 300 trang

đến 350 trang (9 cuốn) [58; 63,64] Gần đây nhất, tiểu thuyết Và khi tro bụi

(2007) của Đoàn Minh Phợng đợc trao Giải thởng Hội Nhà văn Việt Nam năm

2007 cũng chỉ có 186 trang

Thực ra đây không đơn thuần là đổi mới hiện thực trên bề mặt mà là kếtquả của quan niệm cuộc sống nh một mảnh vỡ Vì thế, với một số phận, mộtvấn đề thì sự giông dài trở nên không cần thiết Không những thế mỗi thể loại

có thế mạnh riêng trong khả năng chiếm lĩnh con ngời và hiện thực Dung nạpcác thể loại khác nhau là cách nhà văn mở rộng giới hạn phản ánh ở tác phẩmcủa mình Ta thấy xuất hiện thơ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp,

trong tiểu thuyết Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh, hay ở

Thoạt kỳ thuỷ của Nguyễn Bình Phơng, Goá phụ đen, Hồn trinh nữ của Võ

Thị Hảo Đó là sự trộn lẫn giữa văn xuôi, kịch và thơ

Tóm lại, những nỗ lực cách tân của văn xuôi Việt Nam sau 1975, nhất

là từ sau 1986 tới nay trên các phơng diện mà luận văn vừa trình bày nh một

Trang 29

quy luật tất yếu, một dòng chảy không thể cản đợc nhằm đáp ứng đòi hỏi riếtróng của đời sống cũng nh bản thân văn học Đơng nhiên, mỗi nhà văn nếuthực sự muốn làm mới văn mình thì không thể tách ra, đứng bên ngoài dòngchảy đó Trong những nỗ lực nhằm đổi mới văn xuôi Việt Nam hiện nay có sự

đóng góp của nhà văn Hồ Anh Thái mà luận văn sẽ tập trung lý giải ở hai

ch-ơng tiếp sau

1.3 Hồ Anh Thái-một gơng mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam sau 1985

Hồ Anh Thái sinh năm 1960 và trởng thành sau khi chiến tranh chống

Mỹ kết thúc Ông thành danh khá sớm khi tuổi đời cha đầy 20 Hiện nay, HồAnh Thái là tiến sĩ văn hoá phơng Đông, chuyên viên Bộ Ngoại giao., thamgia thỉnh giảng của nhiều trờng Đại học nổi tiếng ở Mỹ nh Đại học tổng hợpWasingtơn, Đại học ST Mary và còn giữ thêm cơng vị Tổng Th ký Hội Nhàvăn Hà Nội

Mặc dù không nổi bật ngay từ khi mới xuất hiện nh những nhà văncùng thời nhng Hồ Anh Thái đã có những thành tựu nhất định Anh đã làmnên một khuôn mặt riêng và tạo dựng cho mình một vị trí khá vững chắc trongnền văn xuôi đơng đại Việt Nam Gần 30 năm cầm bút, Hồ Anh Thái đã cómột số lợng tác phẩm tơng đối lớn, bao gồm nhiều thể loại: Tiểu thuyết,truyện ngắn Trên 20 đầu sách đợc xuất bản, trong đó một số tác phẩm đợcdịch ở nhiều nớc nh Pháp, Mỹ, ấn Độ, đợc Giải thởng truyện 1983-1984 của

Báo Văn nghệ với Chàng trai ở bến đợi xe, Giải thởng văn xuôi 1986-1990

của Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng Liên Đoàn Lao động Việt Nam với tiểu

thuyết Ngời và xe chạy dới ánh trăng, Giải thởng 1995 của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam với tập truyện ngắn Ngời đứng một chân Tác phẩm

của anh thể hiện cái nhìn đa chiều, sự khám phá về con ngời trong cuộc sống

đơng đại, thể hiện sự sáng tạo không mỏi mệt về phơng diện nghệ thuật

Hồ Anh Thái là một nhà văn có thái độ nghiêm túc và đam mê với “mêlộ” văn chơng đầy thử thách mà không phải bất cứ nhà văn nào cũng đặt chânlên Là một “con mọt sách”ngấu nghiến dồn dập từ thời thơ ấu, Hồ Anh Thái

đã sớm kết luận rằng anh có thể viết bằng hoặc hay hơn những tiểu thuyết vàtruyện ngắn đã đọc Chính vì thế mà anh đã không bắt chớc ai mà tạo ra chomình một con đờng, một lối đi riêng, thể hiện trực tiếp trong các bài phỏngvấn hoặc gián tiếp trong tác phẩm Nhà văn đã bày tỏ quan niệm về nghệ thuật

và lao động của mình “ngời viết văn phải là ngời vật vã lao động trên từng

Trang 30

con chữ, mà là chữ sáng tạo” [44; 226] Mỗi một câu chữ đều phải suy nghĩ,

sàng lọc và là sự rút ruột nhả tơ của ngời cầm bút Chính vì thế mà nhà văn đã

từng nói: “Hãy nói bằng lời của mình” trong một cuốn sách cùng tên mới đây

nhất của anh

Lao động của nhà văn theo anh là một công việc đòi hỏi sự nghiêm túc,nơi không bao giờ có chỗ cho sự cẩu thả Hồ Anh Thái viết nh một sự ấn địnhcủa tiền kiếp Đứng trớc trang giấy nh một vùng đất xa xôi, hiểm trở đòi hỏingời thám hiểm phải dũng cảm, mỗi trang viết đều đầy ắp sự suy nghĩ, trảinghiệm và bản lĩnh nghệ thuật Viết với Hồ Anh Thái là công việc nghiêm túc

đồng thời là cách mà tác giả trải nghiệm lòng mình trớc hiện thực xã hội HồAnh Thái viết về thực trạng đen tối của cuộc sống, giải phẫu cuộc đời quatừng con chữ có đôi khi làm ngời đọc cảm thấy sợ hãi và hoà nghi bởi nó quátỉnh táo và sắc lạnh Độ sắc lộ ra từ những trang viết ở chỗ anh dám nhìn

thẳng vào những “mảnh vỡ”, những bi kịch nhân sinh “Hồ Anh Thái là ngời ít

ảo tởng về con ngời, thậm chí có lẽ cũng ít hy vọng” [43; 339] Tất yếu Hồ

Anh Thái không chỉ bỉ bác cái xấu xa, nhăng nhố của đời sống mà hơn thếnữa anh khao khát và ớc mơ, mong muốn thay đổi và cải tạo lại các hiện thực

đó bởi lẽ ấy cho nên dẫu có đặt đời sống trong cái nhìn “suồng sã”, trong nụcời chua chát, ta vẫn không thấy nhà văn mất đi niềm tin đối với điều thiện,với con ngời Mọi sự giác ngộ lý tởng và khát vọng yêu thơng vẫn đợc anhthiết tha bày tỏ trong các tác phẩm của mình

Có một nhà triết gia đã từng nói “không ai tắm hai lần trong cùng một

dòng sông” Điều này rất đúng với Hồ Anh Thái Thích “xê dịch”, luôn thay

đổi, vì thế, anh không dừng lại ở một cách viết mà mỗi đề tài là một lối viếtphù hợp, luôn tìm cách tạo ra những công cụ văn chơng mới Anh sợ hài lòngvới chính bản thân mình, sợ một nền văn nghệ mà các nghệ sĩ cứ bám riết lấymột phơng pháp vì có một phơng pháp nào mà lại phù hợp với cả một nền

nghệ thuật, phù hợp với cả một đời làm nghệ thuật? ở thời kỳ đầu nh Chàng

trai ở bến đợi xe với một giọng thủ thỉ tâm tình, nhẹ nhàng thì đến thời kỳ

sau nh Tự sự 265 ngày, Cõi ngời rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã có một giọng văn hoàn toàn khác:“trào lộng, châm biếm hóm hỉnh và sắc sảo” Hồ

Anh Thái đã đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam những trang sách khá đặcsắc, mang đặc thi pháp riêng của anh Đó là lối văn vừa ý nhị nhẹ nhàng,thông minh sắc sảo lại vừa giễu cợt, châm biếm, hài hớc nhng vẫn chứa chan

cảm xúc của tình yêu thơng con ngời “Hồ Anh Thái là cây bút sung sức trên

Trang 31

cánh Ngày ngày anh dong đội quân chữ lẳng lặng chiếm giữ trận địa ( ) Dòng suy nghĩ ẩn chứa trong những bóng chữ của anh vẫn đeo đẳng anh dấn thân vào miền đất còn ít dấu chân ngời” [49; 271].

Trong nền văn xuôi sau 1975 hầu nh ít có nhà văn nào lại thành công cảmảng tiểu thuyết và truyện ngắn nh Hồ Anh Thái, và hình nh cũng cha có nhàvăn nào có mảng truyện ngắn viết về ấn Độ và đời sống công chức nhà nớcthành công nh Hồ Anh Thái Tất nhiên số lợng tác phẩm không phải là cơ sở

để đánh giá vị trí của một nhà văn, cái quan trọng là ngời cầm bút đã viết gìtrong tác phẩm của mình để ngời đọc bị ám ảnh day dứt không thể quên Vănxuôi của Hồ Anh Thái viết về nhiều đề tài khác nhau nên rất nhiều lĩnh vựccủa cuộc sống đợc khai thác và phản ánh khá sâu sắc, vì thế đã tạo cho HồAnh Thái một phong cách rất đa dạng Trên 20 đầu sách đợc xuất bản chaphải là con số cuối cùng đánh dấu cho sự nghiệp văn chơng của anh Trênhành trình vận động của văn xuôi đơng đại, có thể độc giả sẽ đợc gặp một HồAnh Thái cùng với những tác phẩm mang dấu ấn và phong cách mới lạ hơn

Tiểu kết 1: Sau 1985, nghệ thuật văn xuôi đang có những cách tân lớn,

văn xuôi không còn phải mang trên vai mình những sứ mệnh nặng nề của lịch

sử, mà đựơc tự do đi tìm những tầng sâu của ý thức con ngời Không nằmngoài dòng chảy đó, Hồ Anh Thái đã tạo cho mình một vị trí không lẫn vớibất kỳ ai trong nền văn xuôi Việt Nam thời đổi mới bởi một nỗ lực cách tânnghệ thuật không mệt mỏi Những chơng tiếp sau, luận văn sẽ tiếp tục tìmhiểu cụ thể những đóng góp nói trên của tác giả này

Trang 32

Chơng 2

Những cách tân của văn xuôi Hồ Anh thái trên bình diện quan niệm Về nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật

về con ngời, quan niệm về hiện thực

2.1 Cách tân trên bình diện quan niệm về nghệ thuật

2.1.1 Nghệ thuật là một cuộc chơi

Quan niệm truyền thống cho rằng:“Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí”,nghĩa là văn học đợc gán cho những nhiệm vụ rất nghiêm túc, cao sang vàthậm chí rất nặng nề Trong những năm kháng chiến, văn học đợc coi là vũkhí chiến đấu, sáng tác đợc xem nh hình thức giáo huấn đạo đức, nh phơng tiệncải tạo phong hoá xã hội Văn xuôi phải bao quát những hiện thực lớn lao, nhữnghình tợng kỳ vĩ, những thăng trầm lịch sử Ngày nay, tác phẩm văn học khôngcòn bị coi là những bài học, những triết lí lớn lao, những lời răn dạy, giáo huấn

mà chỉ còn những cuộc phản biện chất vấn những câu hỏi và sự nghi hoặc Ngờinghệ sỹ không phải gánh vác trên vai nhiệm vụ của nhà đạo đức hay ngời chiến

sỹ, mà họ thoải mái thể hiện quan niệm và t tởng của mình Nghệ thuật không bị

gò bó trong cái khuôn khổ giáo lí cứng nhắc của một thời xa cũ mà, giờ đây nghệthuật còn là một cuộc chơi, một cuộc chơi rất sòng phẳng

Quan niệm nghệ thuật là một cuộc chơi chính là cách nhìn nhận, cách

lý giải riêng của ngời nghệ sĩ về nghệ thuật Đó là cái nhìn mang chiều sâutriết lý, chiêm nghiệm và đúc rút của ngời nghệ sĩ Cách nhìn nhận, lý giải này

đợc thể hiện qua và bằng những sáng tác nghệ thuật cụ thể Chính quan niệmnghệ thuật là một cuộc chơi sẽ chi phối cách ngời nghệ sĩ xây dựng sáng tạonên thế giới khác thông qua việc lựa chọn, sử dụng một hệ thống hình tợng,hình ảnh cụ thể sống động

Nguyên nhân của cái gọi là cuộc chơi trong nghệ thuật bắt nguồn từquan niệm của nhà văn về cuộc sống, từ đặc điểm thể loại và đặc điểm của

độc giả hiện đại Cuộc đời đợc quan niệm có quá nhiều sự bất định, trắc trở

Trang 33

Cuộc chơi ở đây chính là cuộc dò tìm mãi mãi cái bất định vô tận đó của sốkiếp con ngời Có một thời kỳ văn học dạy cho con ngời những chân lý tuyệt

đối Còn bây giờ với quan niệm mới về nghệ thuật, văn học nói với con ngờirằng chẳng hề có chân lý tuyệt đối nào cả, cuộc đời là một mớ chân lý tơng

đối “mà những con ngời chia lấy cho nhau” (M.Kundera).

Với cuộc chơi trong nghệ thuật, nhà văn vừa viết truyện, vừa biểu hiệnthái độ tự phản tỉnh về cách viết truyện của mình Sự nghi ngờ trở thành bạn

đồng hành của tác giả, vì vậy độc giả luôn luôn bị đánh động: phải coi chừng,những tay ấy kể, có thể rất láo lếu Thái độ này khiến độc giả cứ liên tục bị

đẩy ra khỏi tiến trình theo dõi câu chuyện để nhận thức rằng: đây chỉ là mộttác phẩm nghệ thuật chứ không phải là sự phản ánh hiện thực gì cả, và trongkhi viết truyện này, ngời viết rất tỉnh táo và có thể tự phê bình bút pháp củamình Độc giả vừa đọc truyện, vừa đợc chứng kiến quá trình suy nghĩ và viếtlách của tác giả, có khi nhà văn giăng bẫy để lừa độc giả Ngời đọc sẽ liên tục

bị rơi vào ngõ ngách của một mê cung huyền ảo vừa mới lạ, lại vừa huyền ảokhông còn phân biệt đâu là hiện thực đâu là phi thực Độc giả vừa hoang mangvừa tò mò khám phá Không đặt mục tiêu thuyết phục độc giả, Hồ Anh Tháibầy ra một cuộc chơi Bớc vào cuộc chơi ấy, độc giả có thể thởng thức, vừachứng nghiệm Ta cũng đã bắt gặp tính chất cuộc chơi này ở các tác giả khác

nh Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh

Trong Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, cuộc chơi bắt đầu bằng lời

tựa: “Câu chuyện khó tin này của một đứa trẻ còn ở trong bụng mẹ Nếu quý

vị đọc xong quý vị vẫn không tin thì cũng không sao” Và ngời kể chuyện xng

“tôi” sẽ chính là bào thai ấy Thiên thần sám hối gồm chín mục nội dung của

tiểu thuyết đều xoay quanh cái chết của những em bé cha đợc làm ngời, bịchết khi sinh ra, bị giết ngay từ trong ý nghĩ, những thói loạn luân, vật dục, sựkém hiểu biết, thói vô trách nhiệm, cái xấu, cái ác Mỗi phần tự nó có thể

đứng độc lập nh một truyện ngắn Mỗi phần có điểm nhấn là một câu chuyệnmang chủ đề trên Các phần đều xoay quanh, mở rộng hơn, sâu hơn và tiếngần tới thông điệp mà tác giả gài vào đó Bào thai là một nhân vật huyền ảo,phi lí, nằm trong bụng mẹ và tự cho mình cái quyền quyết định có nên ra đờihay không? Và cuối cùng thai nhi đã chủ động đến với cuộc sống nh chấp

nhận một cuộc thách thức với bóng tối, cái ác và cái chết Thiên thần sám hối

khiến ai đọc nó cũng có thể tìm thấy mình trong đó và hầu hết là giật mình,không tự vấn lơng tâm thì cũng tự xấu hổ mà âm thầm đỏ mặt

Trang 34

Thiên sứ của Phạm Thị Hoài mở đầu cuộc chơi bằng những lời ghi

chú:“Cuốn sách này bắt đầu từ một điển tích của nhà văn G G và nhữngchuyện khó tin của nhà văn F” Các chơng đợc sự lắp ghép ngẫu nhiên nhnhững “mảnh vụn” rời rạc của hiện thực, những chi tiết nh “tiện đâu kể đấy”

Thiên Sứ là một cuộc chơi “kết cấu”, chơi “nhân vật” đợc công khai ngay từ

hình thức văn bản, từ cách đặt tên chơng mục đến cách “mô hình hoá” nhânvật Mỗi một nhân vật là một cuộc thử nghiệm của một cái tôi nhỏ bé Tínhcách nhân vật không đợc nhà văn lí giải mà đợc ngời đọc quan sát từ “cuộcchơi” của chúng

Bằng quan niệm nghệ thuật của mình, Hồ Anh Thái đã vợt qua cái lối đimòn dấu chân ngời Bức tranh sáng tối của hiện thực đã đợc thể hiện thôngqua sự “tự cảm” của nhà văn, đợc nhào nặn bởi những suy tởng và tởng tợng

của tác giả để rồi từ đó Hồ Anh Thái có một quan niệm nghệ thuật là một

cuộc chơi Trong cuộc chơi này cả tác giả và bạn đọc đều phải chơi thật giỏi

Cuốn tiểu thuyết Mời lẻ một đêm đã đợc bắt đầu bởi điểm nhìn bên

trong của ngời trần thuật, từ đó ngời đọc bị lôi đi chậm rãi, vừa đi vừa ngơngác cời trớc những tình huống trớ trêu mà đôi tình nhân phải đối phó sau mờisáu năm gặp nhau Cánh cửa bị khoá bên ngoài Nhng câu chuyện lại khôngdiễn ra ở bên trong cánh cửa, mà ở ngoài kia, nhốn nháo và đầy nghịch lý Kếtcấu gồm chín phần đan xen nhau, mỗi một phần là một mảnh đời riêng biệt đã

đợc Hồ Anh Thái góp nhặt lại thành một chỉnh thể toàn vẹn, sống động hài

h-ớc Đây là kiểu kết cấu đa tầng bậc Mọi con ngời và mọi khía cạnh của đờisống đều hiện hữu trên trang giấy Có thể nói mỗi một phần câu chuyện giống

nh một truyện ngắn Mỗi truyện ngắn đợc phân chia bởi nhiều đoạn, giới thiệu

những nét riêng của nhân vật Từ bà mẹ vợ của ông Vip “đánh hơi đợc cơ

quan có kế hoạch phân nhà cho nhân viên Đời cô có hai thứ cô mê su tầm là

đàn ông và nhà Cô ngửi ngay ra mùi gã đàn ông nào có thể ca đổ dễ dàng Cô ngửi ngay ra mùi đất ở nơi có thể chia đôi đợc căn phòng, thậm chí một căn hộ Thậm chí có thể ngửi ngay ra mùi nhà mùi đất trên thân thể cái ngời

đàn ông bắt đầu dan díu Năm lần lấy chồng, năm lần li dị, mỗi lần li dị đợc

Trang 35

một cái nhà [48; 60] đến cuộc đời hoạn lộ nhố nhăng của ông Vip “ trởng thành từ cán bộ đoàn cơ sở Thời sinh viên đã làm cán bộ đoàn Những chàng nàng học giỏi thì giờ đã đắm chìm vào bài vở, vào nghiên cứu, chẳng thiết bất

cứ một cái gì xung quanh Công tác xã hội dồn hết lên lng mấy kẻ nh ông Quanh năm lao vào tổ chức chiến dịch, các cuộc phát động, các kỳ làm báo t- ờng liên hoan văn nghệ, dạy vũ quốc tế cho thanh niên sinh viên [48; 286].

Hồ Anh Thái vẽ lên một hình tợng rất nhốn nháo, thản nhiên Trong cáihỗn loạn, nhăng nhố đó rất nhiều nhân vật đã đợc khắc họa mang đậm màu

sắc nghịch dị nh nhân vật họa sĩ Chuối Hột: “Bốn mơi tám cái xuân xanh là

bốn mơi tám mùa cởi mở Thời trang yêu thích nhất là bộ cánh lúc lọt lòng mẹ” Họa sĩ khoả thân để làm nghệ thuật, để sáng tác, làm cho độc giả tởng

rằng bất kỳ ngời làm nghệ thuật nào cùng phải khoả thân Họa sĩ không hiểu

về hội họa nhng lại viết lí luận phê bình về hội họa Nhân vật nghịch lí còn thểhiện ở nhân vật bà mẹ, quá tải qua năm lần đò và vô vàn những cuộc phiêuliêu tình ái, là một sự đối lập bi hài mà mọi vị thế trong gia đình đã bị đảo ng-

ợc “Trong gia đình chị, vị trí mẹ con luôn luôn đảo ngợc, con gái luôn luôn

nghiêm túc chín chắn bao dung Bà mẹ luôn tơi trẻ hiếu động nông nổi lầm lỡ Con là mẹ và mẹ là con” “Lâu lâu mẹ đi lấy chồng một bận Lấy rồi mới biết mình sai Sai thì sửa Lỡ bớc sa chân, thất thểu quay về trong thất bại đắng cay Con gái lại mở rộng vòng tay bao dung đón mẹ trở về An ủi khuyên cho nguôi dần đi” [48; 55].

Tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày là một cuộc chơi mà trong đó Hồ Anh

Thái đã vận dụng thủ pháp nghệ thuật của mình để ném ra những chân dungméo mó của con ngời trong những câu chuyện công chức thời hiện đại Đểcho ngời đọc nhìn nhận một cách khách quan, tác giả đã không lộ rõ mình mà

ẩn một cách khéo léo vào mạch truyện, đôi khi nhập quá tài tình làm độc giảhoang mang, vừa đọc, vừa cời nhng cũng phải chau mày suy nghĩ và tự căndặn bản thân mình: Bình tĩnh, sáng suốt, cẩn thận vì biết đâu mình đang tự cờimình Mời một truyện ngắn nh một cuốn tiểu thuyết mời một chơng, bạn đọc

đợc dẫn dắt qua mời một ngỡng cửa của cuộc đời với những câu chuyện

“phịa” ấy lại chính là “thật hơn sự thật” Đôi lúc chúng ta tự ngẫm và đặt racâu hỏi “không biết những con ngời ấy, có thật ở trên đời này không nhỉ?” Đểrồi lúc đọc xong chuyện ta lại suy nghĩ về cái ngổn ngang của ngày hôm nay

và rồi chặc lỡi bảo rằng “Nhà văn này viết chuyện bịa mà sao lại đúng thế”.

Với cách đặt tên rất thậm xng nh trong Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu và

Trang 36

Bóng Rổ mang tên cả bốn nhân vật mà rốt cục lại chẳng có tên Những nhân

vật trong Tờ khai vi sa, Sân bay thật khổ sở bởi những ớc mơ nhỏ nhoi của

một nớc Mỹ Anh còn sáng tạo ra những sự kiện kỳ ảo để nhân vật có cơ hội

tự nhìn nhận thế giới xung quanh và nhìn nhận lại chính mình

Chạy quanh công viên mất một tháng kể về một anh công chức trong

một buổi sáng chạy bộ ở công viên đã đột ngột bị bắt cóc rồi bị đa đi nhiềunơi trong vòng một tháng, trải qua rất nhiều biến cố, chứng kiến nhiều sự việclạ lùng, bí ẩn để rồi cuối cùng lại đợc đa về đúng chỗ cũ ở công viên với một

lý do bắt nhầm Kỳ lạ là chuyến phiêu lu ấy diễn ra trong một tháng, thời

điểm bị bắt cóc là 5 giờ 27 phút ngày 3 tháng 7 và thời điểm đợc trả tự do là 5giờ 47 phút ngày3 tháng 8 mà anh ta chỉ cảm thấy nh chớp mắt, nh một giấcmơ với dụng ý tạo ra một khoảng đứt gẫy về thời gian và không gian, giống

nh một ảo ảnh, một giấc mơ vậy

Tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận thế gồm chín chơng, mỗi chơng

đợc tổ chức nh một khổ thơ Mạch truyện liền mạch, ngắn gọn, có độ dàybằng một cái truyện vừa, nhng đã nén chặt bởi hàm chứa trong nó nhiều giọng

kể đa thanh Các giọng kể đan xen, quấn quyện vào nhau nh một bản giao ởng, lúc khoan, lúc nhặt, lúc tức tởi, lúc ngọt ngào, đanh thép, lúc du dơng,dịu dàng… Mỗi một nhân vật đợc soi chiếu từ nhiều phía phức tạp, đó là cuộcsống ăn chơi sa đọa, xem dục vọng là sở thích của những con em nhà giàu nhCốc, Bóp, Phũ, những ngời có thể lấy đồng tiền để che bầu trời, có thể làm chongời chết vẫn đợc nằm trong quan tài theo đúng giai cấp của mình (Thế) MaiTrừng là một nhân vật mang dáng vẻ kỳ ảo, một ngời dờng nh trong sạch, vôtrùng đến thế giới này để thực hiện sứ mệnh diệt trừ cái ác Nhân vật Đông là

h-ngời có tầm suy nghĩ sâu xa, biết dừng chân trớc ngỡng cửa của cái ác Cõi

ngời rung chuông tận thế vừa thể hiện đợc tầm t tởng của tác giả vừa hấp dẫn

bởi những chi tiết trong đời sống đợc nhìn qua cái nhìn sâu sắc của nhà văn

Khi miêu tả cảnh đốt vía tập thể của những cô gái làng chơi “Những ngời đàn

bà không nhìn rõ mặt, hình hài cũng chập chờn, đang đứng dạng chân trong t thế com pa mở hai mơi lăm độ Họ cũng đốt những tờ giấy, lay lay ngọn lửa

nh một nốt ngân có luyến láy ở cái nơi là nguồn vốn tự có của cái nghề kinh doanh bất chấp mọi quy luật kinh tế là lấy lỗ làm lãi” [42; 190] Miêu tả cuộc

sống thác loạn của Yên Thanh “Một gơng mặt đức mẹ đồng trinh không thể

nào bắt bụi trần tục” nhng thật sự gây “sốc” khi tuyên bố: “Các anh đã chiêu

Trang 37

mình hoa khôi chiến đấu cùng lúc với ba gã con trai trần tục mà vẫn thừa ra hai gã” [42; 111].

Quan niệm nghệ thuật là một cuộc chơi đã mở ra cho chúng ta thấy gì

đó mới, lạ cha có trong truyền thống Tính chất cuộc chơi trong văn xuôi HồAnh Thái không mâu thuẫn với sự sáng tạo lao động nghiêm túc trong văn họcnghệ thuật, mà ở phía sau cuộc chơi này, ngời đọc đã đợc kiểm chứng và mặcnhiên công nhận về những giá trị mới đã đợc xác lập từ cuộc chơi đó

2.1.2 Nghệ thuật là tấm gơng để con ngời tự soi

Theo Hồ Anh Thái để phản ánh hiện thực đầy đủ, sinh động nh nó vốntồn tại, không phải lúc nào cũng chỉ trung thành với phơng pháp nghệ thuậtphản ánh hiện thực, mà phải có sự cách tân, phải đa ngời đọc vào cõi “h cấu”của truyện, để trật tự tuyến tính ở bên ngoài bị triệt tiêu, để từ đó một trật tự từ

thế giới bên trong đợc nhìn thấy Vì thế, anh đã có một quan niệm mới: “Nghệ

thuật là tấm gơng để con ngời tự soi” Đứng trớc tấm gơng lồi mà Hồ Anh

Thái đa ra, soi mình vào, ta có cảm giác vừa quen thuộc gần gũi lại vừa mớilạ, vừa là ta mà cũng không phải là ta Cũng một cơ thể mà sao lại có nhiềukhuôn mặt, nhiều tính cách đến thế Dờng nh, con ngời trong tấm gơng này làtổng hợp của những cái gì cao đẹp nhất, thấp hèn và ti tiện nhất của xã hội

ở tập truyện Bốn lối vào nhà cời, Tự sự 265 ngày cùng một số truyện

ngắn khác nh Cuộc đổi chác bằng một nụ cời trào tiếu xuất phát từ cái nhìn

nghiêm túc, có phần khắt khe về cuộc sống, nhà văn đã cho thấy một thực tế

có không ít ngời xung quanh ta, thậm chí đôi lúc ngay cả chính bản thân ta

đang ẩn chứa trong mình mầm mống của sự ích kỷ nhỏ nhen, thực dụng có thể

bộc lộ bất kỳ lúc nào có cơ hội Hồ Anh Thái tâm sự: “Tôi muốn đa ra trớc

ngời đọc một tấm gơng lồi để cho họ soi vào và tự hỏi đây là ta hay không phải là ta Phải, ta mà lại xấu xí, dị dạng, kệch cỡm thế kia ? ( ) Soi vào, nhìn vào nữa đi ! Để bật ra tiếng cời” [47; 220].

Trại Cá sấu là cách đặt tên cho cơ quan nào nhiều nữ nhân viên xấu,

nhà nào có nhiều con gái xấu Ngày nay thời đại văn hoá thông tin phát triển,

ai cũng có nhu cầu hớng tới cái đẹp, cái đẹp cứu rỗi thế giới Trên các kênhthông tin đâu đâu cũng tôn vinh sắc đẹp của phụ nữ, nhng không có mảnh đấtnhỏ nhoi nào dành để nói về cái xấu Vì thế, Hồ Anh Thái đã tạo cho cái xấumột mảnh đất cắm dùi, để cái xấu lên ngôi Đó là chuyện của hai nàng CáSấu, tuổi đã ngoài băm, nhng vẫn cứ sống trong ảo tởng mình mới mời tám,

đôi mơi, vẫn ngon roi rói Cá Sấu Hai thì vẫn phởn phơ tham gia các hoạt động

Trang 38

xã hội nh mốt của mấy bà sồn sồn, tứ tuần, ngũ tuần, lục tuần Nhng thật thiếusót nếu chỉ đề cập đến mình hai nàng Eva Cá Sấu mà không hề thấy bóngdáng của một Adam Cá Sấu hiện đại, vì thế Hồ Anh Thái đã nặn lên một CáSấu nam để cho hai nàng Cá Sấu đỡ lạc loài Họa sĩ (Cá Sấu) đến bể bơi đợcmiêu tả là một con ngời không chỉ xấu về ngoại hình mà còn xấu cả nhân

cách “Nớc da thâm không phải vì sắc tố da mà thâm vì lời tắm ( ) Nớc bọt

phun nh sơng muối ( ) Họa sĩ thấp bé nh cái dải khoai héo, khung ngời xộc xệch đi đứng xiêu vẹo chỉ có chân phải dẫm lên chân trái mà tự ngã, chẳng cần đồng nghiệp đểu đẩy xô ngáng, khèo xin bát cơm nguội” [47; 24] Khi tìm

đợc nàng Cá Sấu Hai, anh ta đã dẫn về xởng vẽ để ngả bàn đèn, sau đó làmngời mẫu và làm bồ luôn Không những thế anh ta còn có biệt tài biến tất cảnhững ngời đàn bà trên giờng với mình thành ngời mẫu Bốn đời vợ, lúc chiatay ai cũng trở thành họa sĩ Tất nhiên, mọi việc đã đợc nhìn dới con mắt hoạt

kê, khuyếch đại của tác giả Nhng ta đã thấy đợc sự nhếch nhác, sự lố lăng

đến thảm hại của cái gọi là hội họa, thứ hội họa bị pha tạp bởi lối sống cơ hội,

thực dụng, bị rẻ rúng bởi sự chi phối bởi đồng tiền Cho nên “Hội họa thời nay

đồng nghĩa với khán giả có tiền mua biệt thự thời Pháp nội thành, dăm ba miếng đất khu công nghệ cao, một vài quả đồi Sóc Sơn đặt vào đó đôi ba nếp nhà sàn” [47; 14,15] Tranh nghệ thuật, thứ tranh đợc sáng tác chủ yếu để

cống hiến cái đẹp cho con ngời thởng thức thì “úp tờng để đấy chờ sự phán xét

của công chúng và thời gian” Còn vị nhạc sĩ nọ, đại diện cho thế giới âm

nhạc lại trở thành “bầu sô” cho hai cô Cá Sấu không hề có chút tài năng ca hát Với hy vọng có thể kiếm bộn tiền, anh ta dốc hết “tâm huyết và tài năng”

vào việc phẫu thuật và chỉnh hình.Vì thời nay ngời cần phải đẹp chứ khôngnhất thiết phải hát hay Hai cô sẽ nổi danh trên sân khấu ca nhạc nớc nhà nh

những “ngôi sao sáng”, sẽ đợc ngỡng mộ, đợc tôn vinh sau khi đã có một

nhan sắc mĩ miều

Tập truyện Bốn lối vào nhà cời là nụ cời trớc cái xấu của con ngời đợc

Hồ Anh Thái “chăm chút” đào sâu mở rộng hơn, do vậy ngẫm ra cay đắng

chua chát hơn Cái cời ở tầm rộng trong mọi lĩnh vực của nhiều tầng lớp ngời

đều nh tìm thấy bóng mình trong tập truyện này Những câu chuyện về cuộcsống đô thị đang chuyển mình gắng gợng tiếp nhận lối sống của nhiều ngời về

đây kiếm sống, làm thêm nhng lại quyến rũ ông chủ để mong đợc đổi đời

(Bến ô sin) Những cuộc phiêu lu tình ái và những sai lầm của ngời già trong (Cây hoàng lan hoá thành cây si) Ngoài xã hội thì đã quá hỗn tạp là một cái

Trang 39

chợ đời, đến cơ quan thì loé xoé buôn chuyện, ra đờng thì ối kẻ rình rập ám

hại nhau, xã hội đang mắc bệnh “chợ” Xã hội thật là lắm cái tức cời, lắm éo

le, tồn tại trong những nhân vật bi hài

Đến Tự sự 265 ngày thì bao nhiêu cái xấu của công chức, của con ngời

trong xã hội qua cái nhìn của công chức đợc bầy lên trên trang viết Ngay từnhững trang đầu tiên ngời đọc có một cái nhìn thảng thốt ngạc nhiên trớc sựsàng lọc của phòng khách nơi bày ra những “tinh hoa” của đất nớc Mọi ngờixếp hàng chen lấn nhau mong đợc cơ hội tuyển ra nớc ngoài để đợc điền tên

vào Tờ khai visa để mong kiếm đợc những phút giây thảnh thơi ngồi đợi ở Sân

bay đến nớc ngoài để sinh sống, để đợc trở thành ngời Tây Đến đợc nơi mơ

-ớc, những trí thức này không ngừng ám hại nhau (Bóng ma trên hành lang).

Khi từ nớc ngoài trở về nh đợc khoác một bộ cánh văn minh, xứ ngời, trớc một

kiến trúc nhố nhăng, tạp giao, anh chàng “Tây dởm” gọi đó là kiểu Pháp tức thì cả hội đồng thẩm định nhất loạt kêu lên “kiểu Pháp, đúng rồi, kiểu Pháp” (Vẫn tin vào truyện thần tiên).

Đến các truyện ngắn còn lại của tập truyện này Chạy quanh công viên

mất một tháng, Mây ma mau tạnh, Chim anh chim em, Tự truyện và Chín triệu, Ba triệu, Hai triệu và Bóng rổ, Hồ Anh Thái lại không hớng ngoại mà

đa các thói xấu của các công chức trong tơng quan hớng nội Đến đây ngời

đọc phải gật gù mà đánh giá rằng hoá ra cái xấu cũng chẳng kém cạnh chútnào, công chức cũng lê la buôn chuyện, làm vui bằng những nụ cời rẻ tiền, nóixấu nhau và chẳng bao giờ thực sự hiểu nhau, để rồi bạn bè, đồng nghiệp có

thể mất tích hàng tháng trời, cũng chẳng làm xáo trộn cuộc sống của ai (Chạy

quanh công viên mất một tháng).

Tờ khai visa đề cập đến xã hội thời mở cửa Ngời ta ào ạt ra nớc ngoài,

ngời ta xin ra nớc ngoài để “mở mang đầu óc” mà không biết rằng phải mở

mang đầu óc trớc khi đặt chân lên máy bay, cái sơ đẳng đầu tiên là ngoại ngữ

nỗi sợ của không ít ngời Trong chi tiết điền tờ khai visa: “Sex: Male female Sex thì rõ ràng là ngời ta muốn bà khai rõ chuyện tình dục, không dừng hỏi

chuyện tình dục, chắc là để ngăn chuyện chung chạ bừa bãi trên đất bạn còn male female là giống đực/giống cái, chuyện tế nhị mà bám sát hỏi ráo riết thế lại còn khai báo sinh hoạt với đối tợng nào Vậy thì bà đây giống phợng giống công, danh gia vọng tộc, lá ngọc cành vàng, bà quyết hạ bút vào ô sex: No Không Bậy bạ không Dứt khoát không Triệt để không Giống đực cũng không mà giống cái cũng không” Thật khó mà không cời đựợc trớc sự dốt nát,

Trang 40

ấu trĩ đến ngớ ngẩn của con ngời này Ngời ta yêu cầu khai giới tính lại nghĩsang chuyện tình dục, có lẽ bị ám ảnh bởi lối sống hiện đại, mở cửa để rồi hạbút: No Không! Hồ Anh Thái đã đa ra trớc cuộc đời một tấm gơng lồi: Tấmgơng mà cả xã hội đang soi mình vào trong ấy để rồi nhận ra rằng cuộc đờinày là một nhà cời, với những câu chuyện hoạt kê, những con ngời kỳ lạ, méo

mó tởng chừng nh không hề tồn tại nhng lại hiện diện ngay trong chính mỗicon ngời chúng ta Khi ta soi mình vào tấm gơng; ta chợt giật mình vì ta đâu

đến nỗi tệ mà sao tấm gơng lại phản chiếu ta xấu xa, ti tiện, đầy lòng thamvọng và ganh đua thế kia nhỉ? Để rồi từ đó giúp ta xác định và xây dựng lạimình thành một nhân cách hoàn thiện hơn

2.2 Những cách tân trên bình diện quan niệm nghệ thuật về con ngời

2.2.1 Con ngời thông minh, dũng cảm, sống có hoài bão, có trách nhiệm với xã hội , với bản thân và biết kiềm chế

Hồ Anh Thái đã từng quan niệm: “Tôi không đặt văn chơng vào tháp

ngà mà để nó chung sống với những vấn đề của xã hội” [52] Nằm trong tiến

trình và vận động của văn học Việt Nam sau 1975, nhất là thời kỳ đổi mới,văn chơng của Hồ Anh Thái đã thể hiện sâu sắc quan điểm sáng tác này Nhàvăn đặc biệt quan tâm đến vấn đề con ngời và việc thể hiện con ngời trong vănhọc với đầy đủ trách nhiệm, bổn phận của ngời nghệ sĩ chân chính: viết về conngời, tìm hiểu sự thật về tâm hồn con ngời Con ngời trong tiểu thuyết vàtruyện ngắn của Hồ Anh Thái đợc nhìn nhận ở nhiều vị thế và trong tính đachiều của mọi mối quan hệ; đợc khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện, nhiềutầng bậc, thể hiện một quan niệm nghệ thuật về con ngời mới mẻ, sâu sắc củamột nhà văn mẫn cảm với cuộc sống

Nhìn nhận con ngời trong sự phức tạp của suy nghĩ, tính cách, tâm lý,

Hồ Anh Thái đã tập trung mô tả hành trình kiếm tìm giá trị đích thực trongcuộc sống của họ Hành trình ấy nhiều khó khăn, trở ngại, chứa đựng nhữngbăn khoăn, trăn trở, những thất vọng, thậm chí cả mất mát Nhng cuối cùng họ

đã nhận ra đợc giá trị đích thực của cuộc sống, không cao siêu, không xa lạ,chính là những điều thật giản dị: một tấm lòng nhân hậu, một trái tim yêu th -

ơng, một niềm tin vào con ngời vào chính mình, một quyết tâm khẳng địnhmình nồng nhiệt, cũng là quyết tâm dâng hiến những điều tốt đẹp của cuộcsống

Là nhà văn ít ảo tởng về con ngời nhng không vì thế mà Hồ Anh Tháithiếu đi tình yêu thơng đối với con ngời, thậm chí ông còn đặt niềm tin vững

Ngày đăng: 19/12/2013, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (đồng chủ biên, 2006), Văn học Việt Nam sau những năm 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học ViệtNam sau những năm 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Nhà XB: NxbGiáo dục
22. Lê Lựu (1997), Thời xa vắng, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời xa vắng
Tác giả: Lê Lựu
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1997
23. MiLan Kundera (22-11-2005), “Sứ mệnh của tiểu thuyết”, Ngân Xuyên dịch, http://www.evan.Com.Vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sứ mệnh của tiểu thuyết
24. Võ Anh Minh (2005), Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngời, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trờng Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệthuật về con ngời
Tác giả: Võ Anh Minh
Năm: 2005
25. Võ Anh Minh (2007), “Dòng chảy Hồ Anh Thái”, trong sách Nói bằng lời của mình, Nxb Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng chảy Hồ Anh Thái"”, trong sách "Nói bằng lờicủa mình
Tác giả: Võ Anh Minh
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 2007
26. Hoài Nam (25-04-2006), Chất hài hớc, nghịch dị trong “Mời lẻ một đêm”, Ngời đại biểu nhân dân, http://www.evan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất hài hớc, nghịch dị trong" “"Mời lẻ một đêm"”,"Ngời đại biểu nhân dân
27. Hoài Nam (12/5/2007), “Phật sử và h cấu văn chơng”, Nguồn báo Văn nghệ, http://www.evan.com.vn/New/phe-binh/2007/05/3B9AD847/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật sử và h cấu văn chơng
28. Lê Thanh Nga (2002), Nghệ thuật trần thuật trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trờng Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật trần thuật trong truyện của NguyễnHuy Thiệp
Tác giả: Lê Thanh Nga
Năm: 2002
29. Nguyên Ngọc (24-11-2004), “Văn xuôi Việt Nam hiện nay, lôgíc quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng”, http://www.ivce.org/magazine/ns9/ns21.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam hiện nay, lôgíc quanh cocủa các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng
30. Nguyên Ngọc, “Văn học Việt Nam đang ở đâu”, http://perso.waniado.Fr/diendan31. Nhiều tác giả (2005), Văn mới 5 năm đầu thế kỷ, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam đang ở đâu"”, http://perso.waniado.Fr/diendan31. Nhiều tác giả (2005), "Văn mới 5 năm đầu thế kỷ
Tác giả: Nguyên Ngọc, “Văn học Việt Nam đang ở đâu”, http://perso.waniado.Fr/diendan31. Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2005
32. Nhiều tác giả (2006), Truyện hay cực ngắn, Nxb Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện hay cực ngắn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 2006
33. Lã Nguyên, Nhìn lại những bớc đi. Lắng nghe những tiếng nói, http://www.talawas.org/talaDB/show.File.php:res=4471&rb=0102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại những bớc đi. Lắng nghe những tiếng nói
34. Bảo Ninh (2006), Nỗi buồn chiến tranh, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi buồn chiến tranh
Tác giả: Bảo Ninh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
35. Nguyễn Bình Phơng (2006), Trí nhớ suy tàn, Nxb Văn học (tái bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí nhớ suy tàn
Tác giả: Nguyễn Bình Phơng
Nhà XB: Nxb Văn học (tái bản)
Năm: 2006
36. Trần Đình Sử (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
37. Trần Đình Sử (2005), Tuyển tập, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
38. Trần Đình Sử (2005), Tuyển tập, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
39. Antoli A. Sokolov, (25/05/2004) “Văn hoá và văn học Việt Nam trong những năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: 39. Antoli A. Sokolov, (25/05/2004) “Văn hoá và văn học Việt Nam trong những năm
42. Hồ Anh Thái (2004), Cõi ngời rung chuông tận thế, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cõi ngời rung chuông tận thế
Tác giả: Hồ Anh Thái
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2004
43. Hồ Anh Thái (2005), Ngời đàn bà trên đảo - Trong sơng hồng hiện ra, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời đàn bà trên đảo - Trong sơng hồng hiện ra
Tác giả: Hồ Anh Thái
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tợng của những con ngời không bình thờng trải dài nhiều loại từ bình dân đến trí thức, trên nhiều lĩnh vực nh giáo dục, báo chí, và chủ yếu là văn hoá nghệ thuật với cả điện ảnh, ca nhạc, hội họa, thời trang,...với nhiều lứa tuổi, già có, trẻ có.. - Những cách tân trong văn xuôi hồ anh thái
Hình t ợng của những con ngời không bình thờng trải dài nhiều loại từ bình dân đến trí thức, trên nhiều lĩnh vực nh giáo dục, báo chí, và chủ yếu là văn hoá nghệ thuật với cả điện ảnh, ca nhạc, hội họa, thời trang,...với nhiều lứa tuổi, già có, trẻ có (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w