1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái

69 666 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
Tác giả Nguyễn Đình Thiện
Người hướng dẫn Ths. Đoàn Mạnh Tiến
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 653,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn

Trang 2

đặc điểm câu văn trong truyện ngắn

hồ anh thái

khóa luận tốt nghiệp đại học

Ngành cử nhân khoa học ngữ văn

Chuyên ngành: ngôn ngữ

Cán bộ hớng dẫn khóa luận

Ths Đoàn Mạnh Tiến Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đình Thiện

Lớp 44B3 Văn

Vinh - 2007 mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu 1

3 Lịch sử vấn đề 2

4 Phơng pháp nghiên cứu 4

5 Cái mới của đề tài 5

6 Cấu trúc khoá luận 5

Nội dung 6

Chơng 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài 6

1.1 Một số vấn đề về câu 6

1.1.1 Vấn đề định nghĩa câu 6

1.1.2 Vấn đề phân loại câu 9

1.2 Một số vấn đề về truyện ngắn 10

1.2.1.Truyện ngắn 10

1.2.2 Ngôn ngữ truyện ngắn 13

1.3 Vài nét về tác giả Hồ Anh Thái 14

Trang 3

1.3.1 Cuộc đời và tác phẩm 14

1.3.1.1 Cuộc đời 14

1.3.1.2 Tác phẩm 14

1.3.2 Truyện ngắn Hồ Anh Thái 15

Chơng 2 Câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái 19

2.1 Câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái nhìn từ góc độ cấu trúc .19

2.1.1 Nhận xét chung 19

2.1.2 Câu văn tác giả và câu văn nhân vật 20

2.1.3 Cấu trúc câu văn truyện ngắn Hồ Anh Thái 31

2.2 Câu văn truyện ngắn Hồ Anh Thái nhìn từ góc độ mục đích giao tiếp .44

2.2.1 Nhận xét chung 44

2.2.2 Câu văn Hồ Anh Thái nhìn từ góc độ mục đích giao tiếp 45

Trang 4

Chơng 3 So sánh câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái với

câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 59

3.1 Mục đích so sánh 59

3.2 Về mặt cấu trúc 60

3.2.1 Câu văn tác giả và câu văn nhân vật 60

3.2.2 Về mặt cấu tạo 65

3.3 Về mục đích giao tiếp 66

3.3.1 Câu trần thuật 66

3.3.2 Câu nghi vấn 68

Kết luận 73

Tài liệu tham khảo 75

Trang 5

Lời cảm ơn

Khoá luận này đợc hoàn thành nhờ sự giúp đỡ và hớng dẫn tận tình củaTH.S Đoàn Mạnh Tiến, sự góp ý chân tình của thầy giáo phản biện và các thầycô bộ môn chuyên ngành ngôn ngữ và các bạn bè cùng khoá

Nhân đây, cho phép chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tớithầy giáo Đoàn Mạnh Tiến, các thầy cô giáo trong bộ môn ngôn ngữ và bạn

bè đã động viên, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khoá luận này

Mặc dù có nhiều cố gắng, song trong một thời gian ngắn việc thu thậptìm hiểu tài liệu cha đợc kĩ lỡng, phong phú và khả năng bản thân cũng có hạnnên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong đợc sự góp ý của thầy cô vàcác bạn

Vinh, tháng 05 năm 2007Tác giả khoá luận:

Nguyễn Đình Thiện

Trang 6

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ cuối những năm 80 thế kỉ trớc, sự xuất hiện của Hồ Anh Thái

trong đời sống văn học Việt Nam đã làm chấn động d luận.Ông là một trong

số không nhiều những cây bút xuất hiện sớm và để lại dấu ấn khá sâu đậmtrong văn xuôi đơng đại Việt Nam Sáng tác của ông đã đem đến cho văn họcnớc nhà một làn gió mới với những tác phẩm đợc viết bằng cảm hứng mới, vănphong mới, nội dung mới Qua những tác phẩm của mình, tác giả đã làm táihiện nhiều kiếp ngời, cảnh ngời trong nhiều thời điểm, nhiều tình huống, qua

đó nói lên cảm nhận sâu sắc về nhân sinh Mặt khác Hồ Anh Thái là ngời cónhiều tìm tòi cách tân thể loại nhằm tạo sự phù hợp hiệu quả trong thể hiệncon ngời theo cảm quan của mình Do đó, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm câuvăn trong truyện ngắn của nhà văn Hồ Anh Thái để khẳng định những cốnghiến của ông trên phơng diện ngôn ngữ ở thể loại truyện ngắn, thiết nghĩ đây

là việc làm phù hợp với một tác giả đang ngày càng thu hút sự chú ý của dluận

1.2 Nh chúng ta đã biết, văn học là nghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình

tợng để phản ánh hiện thực Văn học và ngôn ngữ là hai loại đối tợng, hai loạibình diện lớn khác nhau nhng chúng lại có mối quan hệ gắn bó, không táchrời nhau Ngôn ngữ làm công cụ, làm chất liệu cho văn học Ngợc lại văn họctác động vào ngôn ngữ để có thể khơi dậy những tiềm năng, tinh hoa của ngônngữ, phát huy tính sáng tạo trong vận dụng ngôn ngữ và từ đó làm giàu đẹpthêm cho ngôn ngữ Có thể nói ngôn ngữ là một phơng tiện quan trọng tronghoạt động sáng tạo văn học của nhà văn Vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm ngônngữ trong tác phẩm Hồ Anh Thái sẽ giúp chúng ta hiểu rõ đặc điểm phongcách của nhà văn

2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tợng

Tác phẩm của Hồ Anh Thái gồm truyện ngắn và tiểu thuyết ở đề tàinày, tác giả luận văn tập trung nghiên cứu đặc điểm câu văn của Hồ Anh Thái

qua 8 truyện ngắn đợc in trong Tuyển chọn những chuyện hay nhất và mới

nhất Sắp đặt và diễn nằm trong bộ văn mới của NXB Hội nhà văn năm 2005.

Trang 7

5 Những cuộc kiếm tìm (V)

6 Lọt sàng xuống nia (VI)

7 Tiếng thở dài qua rừng Kim Tớc (VII)

8 Kiếp ngời đi qua (VIII)

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

ở đề tài này, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Khảo sát đặc điểm câu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái dới haigóc độ cấu trúc - ngữ nghĩa và mục đích giao tiếp

- Rút ra một số nhận xét về đặc điểm phong cách truyện ngắn của nhà văn

- So sánh đặc điểm câu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái với một

số tác giả khác để làm nổi bật phong cách truyện ngắn của ông

Chẳng hạn, về tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày của Hồ Anh Thái có khá nhiều lời bình luận Nhà văn Vũ Bão viết: “ Nhà văn đã đa ngời đọc lần lợt

qua 11 ngỡng cửa cuộc đời, quan sát rồi suy ngẫm về thân phận anh viên chức đang cố trờn mình ngoi lên từng nấc thang danh vọng Đáng buồn hơn khi càng ngày càng nhìn rõ những gơng mặt quen thuộc trong sách lại là những tri thức thờng mạo nhận là tinh hoa của đất nớc” [ 10; 241 ].

Còn với một số truyện ngắn Hồ Anh Thái viết về ấn Độ, nhà văn Ngô

Thị Kim Cúc viết: “Hành trình đi vào những thân phận ngời bất hạnh luôn đa

tới những tiếng thở dài sâu tận bên trong nhất là khi những hình ảnh đợc phản chiếu kia dờng nh thấp thoáng gơng mặt của chính mình, gơng mặt Việt Nam ( …) D ) D ới ngòi bút của Hồ Anh Thái những chân dung ấn Độ hiện lên sắc nét

và gần gũi khiến ta ngạc nhiên” [9; 318] Nhng xem ra nhận xét của tiến sĩ

văn học ngời ấn K.Panday là “ kinh điển” hơn cả: “ Những dòng chữ của Hồ

Anh Thái là những mũi kim châm của á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách

ấn Độ [9; 322 ].

Với tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã thực sự

tạo nên làn sóng trong đời sống văn học Nhà xuất bản Đà Nẵng, nơi nhiệt tình

đón nhận tác phẩm này đã có lời giới thiệu nh sau: “ Với tác phẩm này, lại

một vấn đề của con ngời - nhân loại đợc đề cập: Thiện - ác Tác giả chọn cách đứng trên cỗ xe của cái ác: gần gũi, tòng phạm, hoá thân của cái ác …) D nên đã chỉ ra căn nguyên sâu xa hình thành cái ác …) D sự cảnh báo nghiêm

Trang 8

khắc là cần thiết, bởi nếu cỗ xe trở điều ác còn mù quáng lăn bánh, còn gây

ra thù hận chồng chất, thì cuộc sống, nhân loại sẽ rơi vào thảm cảnh Rung một tiếng chuông cảnh báo, liệu có chậm không ? …) D Có thể nói tác phẩm đã góp một tiếng nói đầy tâm huyết, trăn trở, cùng ý nghĩa cảnh báo cần đợc nhìn nhận, mổ xẻ nghiêm túc”[11; 5-6] Xung quanh tác phẩm này có hàng

loạt bài viết, xoay quanh các vấn đề nh chủ đề thiện ác, giọng điệu đa thanh,nhân vật xng tôi, màu sắc huyền ảo, tính chất luận đề, …

Ngoài ra tác giả luận văn cũng tìm thấy một số công trình, bài viết đisâu vào nghệ thuật văn xuôi của Hồ Anh Thái Thạc sĩ Võ Anh Minh trong

công trình Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngời có lời nhận xét thấu đáo về con ngời trong tác phẩm Hồ Anh Thái nh sau: “ Hồ

Anh Thái có lối nghĩ riêng về con ngời; với anh, trong thẳm sâu mỗi con ngời

đều là một bi kịch, và dù con ngời còn lắm xấu xa, con ngời tha hoá, có đáng cời đi chăng nữa, thì đâu đó vẫn có những tâm hồn khao khát vơn lên hoàn thiện mình, hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện lối sống, tất nhiên là đi về hớng của chân - thiện - mĩ Đây là quan niệm con ngời của một nhà văn luôn u ái, luôn có niềm tin sống cũng đòi hỏi rất khắt khe ở con ngời Chiều sâu nhân bản của văn xuôi nằm nhiều ở điều này”[6;90] Hoặc PGS TS Nguyễn Đăng

Điệp trong bài viết Hồ Anh Thái, ngời mê chơi cấu trúc có nhiều đánh giá

chính xác, có vai trò mở đờng cho những ai quan tâm tìm hiểu tác phẩm Hồ

Anh Thái: “Trong văn học, giọng điệu không tự nhiên mà có Nó phải là một

hiện tợng nghệ thuật đợc tổ chức công phu chặt chẽ Bản thân giọng điệu là một tổ hợp trong một tổ hợp hoàn chỉnh lớn hơn là tác phẩm Việc tạo nên giọng điệu trong tác phẩm vì thế cũng phải tuân theo cách tổ chức cấu trúc nghệ thuật của nhà văn Sự thay đổi giọng điệu trong trong tác phẩm của Hồ Anh Thái cho thấy anh là ngời không muốn lặp lại mình Mỗi một tác phẩm, mỗi một chặng sáng tác là một tone khác nhau Sự khác biệt ấy dĩ nhiên phải gắn liền với cách tổ chức cấu trúc tác phẩm”.[10;345] Nguyễn Đăng Điệp đề

cập đến sự đa dạng và hiện tợng đan cài trong giọng điệu Hồ Anh Thái và

h-ớng tới tính đa cấu trúc trong tác phẩm của nhà văn này: “ Xuất phát từ quan

niệm coi cuộc đời nh những mảnh vỡ, bản thân mỗi một con ngời lại mang những mảnh vỡ, những xung lực khác nhau trong trăm ngàn mảnh vỡ kia đã trở thành nét chính trong quan niệm sẽ tạo nên tính đa cấu trúc trong tác phẩm của anh” [ 10;350].

Với những gì đã tiếp cận, chúng tôi thấy cha có công trình nào nghiêncứu tác phẩm Hồ Anh Thái một cách toàn diện, hệ thống và cũng cha có côngtrình nào nghiên cứu tác phẩm Hồ Anh Thái ở phơng diện đặc điểm câu văn.Vì vậy, tác giả luận văn này đã chọn đặc điểm câu văn Hồ Anh Thái để làm

đối tợng nghiên cứu

Trang 10

4.2 Phơng pháp phân tích tổng hợp

Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái đợc phân tích thànhnhiều khía cạnh lớn, nhỏ khác nhau Từ đó, tác giả luận văn đi đến khái quátnhững đặc sắc về biểu hiện câu văn trong truyện ngắn của ông

4.3 Phơng pháp so sánh đối chiếu

Trên cơ sở những vấn đề đã khảo sát, thống kê, phân loại, chúng tôi sosánh câu văn của Hồ Anh Thái với những câu văn của tác giả khác để rút ra sựgiống và khác nhau từ đó khẳng định sự đóng góp của ông về mặt ngôn ngữtrong thể loại truyện ngắn

5 Cái mới của đề tài

Cho đến hiện tại, cha có công trình nào chuyên sâu nghiên cứu về Hồ

Anh Thái ở phơng diện ngôn ngữ Vì vậy chúng tôi chọn đề tài đặc điểm câu

văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái là để nghiên cứu truyện ngắn Hồ Anh

Thái từ góc độ ngôn ngữ câu văn Trên cơ sở đó chúng tôi bớc đầu đa ra một

số nhận xét về phơng diện cấu trúc, ngữ nghiã của câu văn trong truyện ngắncủa ông Đồng thời rút ra những cách tân đổi mới trong phong cách nghệ thuậtcủa Hồ Anh Thái - một tác giả văn học đơng đại đang đợc độc giả mến mộhiện nay

6 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung khoá luận có 3 chơng:

Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

Chơng 2: Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

Chơng 3: So sánh câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái với câu

văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

Trang 11

Nội dung

Chơng 1

Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

1.1 Một số vấn đề về câu

1.1.1 Vấn đề định nghĩa câu

Trong việc nghiên cứu ngôn ngữ, câu là một hiện tợng đa dạng và phứctạp Từ những góc nhìn khác nhau có thể đa ra những tiêu chuẩn xác định câukhác nhau Tuy nhiên câu là một hiện tợng có thực, cho nên ngời ta vẫn cốgắng đa ra một định nghĩa chung nhất Số định nghĩa câu trong ngôn ngữ học

đến nay đã nhiều, thật khó có thể nêu ra và phân tích từng định nghĩa một Sau

đây chúng tôi điểm qua vài định nghĩa tiêu biểu đợc đông đảo mọi ngời quantâm

Trớc hết, ngời ta thờng coi định nghĩa sau đây về câu là định nghĩa tiêu

biểu của ngôn ngữ học truyền thống: “ Câu là sự tổ hợp của các từ biểu thị

một t tởng trọn vẹn” (Định nghĩa của học phái Alêxanđria, dẫn theo Nguyễn

Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Hà Nội, 1964, tr.138)

Khi nói đến “ sự tổ hợp của các từ” là nói đến hai khía cạnh:

- Hình thái phổ biến nhất của câu

- Các từ phải là các từ của một ngôn ngữ nhất định, và từ kết hợpvới từ bao giờ cũng tuân theo những qui tắc nhất định

Khi nói đến việc “ biểu thị một t tởng trọn vẹn” thì cũng tức là nói về

hai khía cạnh:

- Mặt nội dung ý nghĩa

- Chức năng biểu thị t tởng

Nh vậy, định nghĩa câu trên đây đã gián tiếp nêu lên một cách không

đầy đủ các yếu tố cần thiết cho việc xác định câu Đó là mặt hình thức cấu tạo,mặt nội dung và mặt chức năng của câu

L Blumphin một nhà ngôn ngữ học Mĩ trong xu hớng đi tìm sự chínhxác, sự đầy đủ, sát đúng với đối tợng đã định nghĩa câu nh sau: “…mỗi câu là

một hình thái ngôn ngữ độc lập, không bị bao hàm vào bất kì một hình thái ngôn ngữ nào phức tạp hơn bởi một kiến trúc ngữ pháp này hay một kiến trúc ngữ pháp nọ”.(Dẫn theo bản dịch tiếng Nga: L.Blumfild, Jazyk, Matxcơva,

1968 tr.179)

Định nghĩa của L.Blumphin chỉ nêu các dấu hiệu hình thức, vì ông chủtrơng chỉ căn cứ vào những gì có thể khảo sát Đồng thời tác giả đã đi đến sựphân loại câu theo mục đích nói của ngôn ngữ học truyền thống, cũng tức là

Trang 12

động đến mặt chức năng của câu Duy ông không lấy sự phân loại câu theochức năng làm mục đích, mà đó chỉ là hệ quả của một quan điểm dựa vào cáikhảo sát đợc.

Một trong những cố gắng khác là định nghĩa đợc đa ra năm 1954 của

viện sĩ viện hàn lâm khoa học Liên Xô V.V.Vinogradov: “ Câu là đơn vị hoàn

chỉnh của lời nói đợc hình thành về mặt ngữ pháp theo các qui luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểu hiện và truyền đạt t tởng Trong câu, không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của ngời nói với hiện thực” (Dẫn theo:Nguyễn Kim

Thản, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Hà Nội, 1964, tr.147)

Định nghĩa trên có chú ý xác định câu nh một đơn vị của lời nói Tuy

nhiên viện sĩ V.V Vinogradov cũng công nhận là nó phải đợc “hình thành về

mặt ngữ pháp theo các qui luật của một ngôn ngữ nhất định” Chính đó là cái

phần có tính chất “ngôn ngữ” của câu Trong định nghĩa vừa nêu có 4 yếu tố:

- Xác định vị trí của câu trong ngôn ngữ học: câu là đơn vị thuộc lời nói

- Xác nhận câu là đơn vị có tố chức hình thức: mặt cấu tạo ngữ pháp

- Nêu chức năng của câu: làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểuthị và truyền đạt t tởng

- Nêu mặt nội dung của câu: nội dung hiện thực và quan hệ của ngời nóivới hiện thực

Một cách dè dặt, tập thể các tác giả của quyển Ngữ pháp tiếng Việt

(I.S.Bystrov, Nguyen Taj Kan, N.V.Stankevich, Grammatika V’etnamskogojazyka, Leningrat, 1975) là I.S.Bystrov, Nguyễn Tài Cẩn, N.V.Stankevich,không trực tiếp định nghĩa câu, mà chỉ nêu lên một đặc trng của câu, có chú ý

đến đặc điểm loại hình của tiếng Việt Có thể tóm tắt các đặc trng ấy nh sau:

- Câu là một đơn vị của ngôn ngữ biểu thị một t tởng tơng đối trọn vẹn

- Câu không chỉ phản ánh hiện thực mà chứa đựng sự đánh giá hiệnthực từ phía ngời nói

- Câu có những đặc trng bên ngoài là các tiểu từ tình thái dứt câu và chỗngắt câu

- Câu có đặc trng bên trong là cấu trúc của nó

Gần đây hơn nữa, chúng ta có thể gặp trong Ngữ pháp tiếng Việt _ Câu của tác giả Hoàng Trọng Phiến định nghĩa về câu nh sau: “Với t cách một đơn

vị bậc cao của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là ngữ tuyến đợc hình thành một cách trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các qui luật của ngôn ngữ nhất định là phơng tiện diễn đạt, biểu hiện t tởng về thực tế

Trang 13

và về thái độ của ngời nói đối với hiện thực” (Hoàng Trọng Phiến, Ngữ pháp

tiếng Việt _ Câu, Hà Nội, 1980, tr 19)

Theo chúng tôi nghĩ khi định nghĩa về câu cần chú ý đến 4 yếu tố sau đây:

- Câu có chức năng hình thành và biểu hiện, truyền đạt t tởng

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chọn định nghĩa sau đây củaGS.Diệp Quang Ban làm cơ sở lí thuyết để từ đó đi vào phân loại các kiểu câu

trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái: “ Câu là đơn vị của ngôn ngữ, có cấu tạo

ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tơng đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của ngời nói, giúp hình thành

và biểu hiện, truyền đạt t tởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ”.[ Dẫn theo 4;101].

1.1.2 Vấn đề phân loại câu

Vì câu là đơn vị có nhiều mặt, cho nên phân loại câu cũng có nhiềucách Cho đến nay, trong việc nghiên cứu ngôn ngữ thờng gặp các cách phânloại sau đây:

- Phân loại câu dựa vào cấu trúc (cấu tạo ngữ pháp)

- Phân loại câu dựa vào mục đích giao tiếp

1.1.2.1 Phân loại câu dựa vào cấu trúc (cấu tạo ngữ pháp)

Phân loại câu dựa vào cấu tạo ngữ pháp là kết quả việc tìm hiểu cáchtìm hiểu tổ chức bề mặt của câu muốn đi đến kết quả ấy, không thể bỏ quaviệc phân định các thành phần ngữ pháp tạo nên câu Phân định các thànhphần là xem xét các từ ngữ trong câu liên lạc với nhau nh thế nào và mỗi từngữ nh vậy giữ những chức vụ gì trong câu

Trong Việt ngữ học ngày nay, xu hớng chung là phân định câu qua bậccụm từ, không phân tích trực tiếp từ câu xuống từng từ nh trong ngữ pháp họctrớc kia Theo xu hớng đó, trong việc phân định các thành phần câu và phânloại câu theo cấu tạo ngữ pháp, chúng ta không thể tránh đợc những vấn đềnh:

- Việc phân định các thành phần trong câu

- Việc phân biệt thành phần phụ của câu và thành phần phụ của từ

- Việc phân định ranh giới câu đơn và câu ghép

Trang 14

- Câu _ cơ sở.

1.1.2.2 Phân loại câu dựa vào mục đích nói

Dựa vào mục đích nói ta có hai kiểu phân loại:

- Phân loại câu dựa vào mối quan hệ với hiện thực sẽ có đợc câu khẳng

định và câu phủ định Câu khẳng định xác nhận sự có mặt một vật, một sựkiện hiện thực hay tởng tợng Câu phủ định xác nhận sự vắng mặt của một vậthay một sự kiện hiện thực hay tởng tợng Hiểu nh vậy là giả định rằng hìnhthức ngữ pháp của câu hoàn toàn tơng ứng với nội dung phán đoán Kì thựchình thức ngữ pháp khẳng định, phủ định của câu với nội dung khẳng định,phủ định của phán đoán không phải bao giờ cũng trùng hợp

- Phân loại câu căn cứ vào mục đích nói sẽ cho ta 4 kiểu câu: câu trầnthuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán

Câu trần thuật thờng đợc dùng để kể lại, xác nhận, mô tả một vật vớicác đặc trng của nó hoặc một sự kiện với những chi tiết nào đó

Câu nghi vấn đợc dùng để nêu lên điều cha biết hoặc còn hoài nghi vàchờ đợi sự trả lời, giải thích của ngời tiếp nhận câu nghi vấn ấy

Câu cầu khiến có mục đích bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc ngời nghethực hiện điều nêu lên trong câu

Câu cảm thán thờng đợc dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất

định những tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá của ngời nói đối với một vậthay một sự kiện nào đó mà câu nói trực tiếp đề cập đến hoặc ám chỉ

1.2 một số vấn đề về Truyện ngắn

1.2.1 Truyện ngắn

Kể từ khi truyện ngắn ra đời, lịch sử văn học thế giới đã ghi nhận nhiềutác giả thành công với thể loại này từ các quốc gia, châu lục khác nhau nh:Gorki, Đôxtôiepxki, Sêkhôp, Đôđê, Môpatxăng, Ô Henri, Hêminway,Marquez, Lỗ Tấn, Kawabata, Nam Cao, Thạch Lam, Tô Hoài, …

Bàn về truyện ngắn, có nhiều hớng ý kiến, sau đây là những ý kiến đợc

đông đảo mọi ngời thừa nhận:

Trong sách Lí luận văn học viết: “Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự

sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hìnhthức truyện kể dân gian nh truyện cổ, giai thoại, truyện cời, hoặc gần vớinhững bài kí ngắn Nhng thực ra không phải Nó gần với tiểu thuyết hơn cảbởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đơng thời Nội dung thể loại truyệnngắn có thể rất khác nhau: đời t, thế sự hay sử thi, nhng cái độc đáo của nó lại

là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự

Trang 15

kiện hay một “ chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhng cái chính của truyệnngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời.truyện ngắn trung đại cũng là truyện ngắn nhng gần với truyện vừa truyệnngắn hiện đại khác hẳn Đó là một kiểu t duy khá mới, vì vậy nói chung,truyện ngắn đích thực xuất hiện muộn trong lịch sử văn học.Truyện ngắn nóichung không phải vì “ truyện” của nó “ngắn”, mà vì cách nắm bắt cuộc sốngcủa thể loại Tác giả truyện ngắn thờng hớng tới khắc hoạ một hiện tợng, pháthiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con ngời.Chính vì vậy, trong truyện ngắn thờng rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp.

Điểm khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là ở chỗ nếu nhânvật chính của tiểu thuyết thờng là một thế giới, thì nhân vật truyện ngắn là mộtmảnh nhỏ của thế giới truyện ngắn thờng không nhằm tới việc khắc hoạnhững tính cách điển hình có cá tính đầy đặn, nhiều mặt trong tơng quan vớihoàn cảnh Nhân vật truyện ngắn thờng là hiện thân cho một trạng thái quan

hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ngời Mặt khác truyệnngắn lại có thể mở rộng diện nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạng của cuộcsống, chẳng hạn nh chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè, …những kiểu loại

mà trong tiểu thuyết thờng hiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ

Nghiên cứu các truyện ngắn xuất sắc của L.Tônxtôi, Gorki, Sêkhôp,Sôlôkhôp, Pautôpxki, hoặc các truyện ngắn của Đôđê, Môpatxăng, O.Henri,các truyện ngắn của Lỗ Tấn, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, TôHoài trớc cách mạng tháng Tám hay nh truyện ngắn của Nguyễn Khải,Nguyễn Kiên, Đỗ Chu, Vũ Thị Thờng, Bùi Hiển, …đều thấy các đặc điểm đó.Cốt truyện của truyện ngắn có thể là nổi bật, hấp dẫn, nhng chức năng của nónói chung là để nhận ra một điều gì Cái chính của truyện ngắn là gây một ấntợng sâu đậm về cuộc đời và tình ngời Kết cấu của truyện ngắn thờng là một

sự tơng phản, liên tởng Bút pháp trần thuật thờng là chấm phá Yếu tố có ý

nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lợng lớn và

hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu cha nói hết Ngoài ra

giọng điệu, cái nhìn, cũng hết sức quan trọng, làm nên cái hay của truyệnngắn Truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hàng ngày,lại súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí, có tác dụng, ảnh hởng kịpthời trong đời sống [5;387-398]

Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ

nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phơng diện của

Trang 16

đời sống, đời t, thế sự hay sử thi nhng cái độc đáo của nó là ngắn Truyệnngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ.

Tuy nhiên mức độ dài ngắn cha phải là đặc điểm chủ yếu phân biệttruyện ngắn với các tác phẩm tự sự loại khác.Trong văn học hiện đại, có nhiềutác phẩm rất ngắn nhng thực chất lại là những truyện dài viết ngắn lại Truyệnngắn thời trung đại cũng ngắn nhng rất gần với truyện vừa Các hình thứctruyện kể dân gian rất ngắn gọn nh cổ tích, truyện cời, giai thoại, …lại càngkhông phải là truyện ngắn.” [2;252]

Trong Từ điển tiếng Việt giải thích: “Truyện ngắn là truyện bằng văn

xuôi, có dung lợng nhỏ, số trang ít, miêu tả một khía cạnh tính cách, một mẩutrong cuộc đời của nhân vật.”[7;1054]

Từ những ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng tôi tóm lợc những đặc

điểm chính của của thể loại truyện ngắn nh sau:

- Truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, có thể từ vài trang đến vàichục trang

- truyện ngắn không nhằm khác hoạ một tính cách điển hình, trọn vẹn

mà thờng tập trung vào một biến cố, một sự kiện, một mảng đời nào đó của

đời sống

- Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong một thời gian, khônggian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc vềcuộc đời và tình ngời

- Nhân vật trong truyện ngắn rất đa dạng, về nghề nghiệp, hoàn cảnhgia đình và thờng hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hộihoặc trạng thái tồn tại của con ngời

- Yếu tố quan trọng nhất trong truyện ngắn là chi tiết có dung lợng lớn,hành văn mang nhiều ẩn ý

1.2.2 Ngôn ngữ truyện ngắn

Ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ nội tại tức là ngôn ngữ miêu tả và

đối thoại Có nhiều giọng điệu, phong cách khác nhau tồn tại trong ngôn ngữtruyện ngắn Và mỗi giọng điệu, mỗi phong cách này thờng không tồn tạiriêng lẻ mà hoà hợp đan cài vào nhau nhất là trong truyện ngắn hiện đại

Trong truyện ngắn, mỗi từ mỗi câu phải rất linh hoạt, phải giống nh mộtsinh thể sống nghĩa là tự mình cựa quậy để mà tồn tại Đó là kiểu ngôn ngữ tự

đối thoại, tự tranh luận hay nói cách khác đó là ngôn ngữ lựa chọn khiến chotruyện ngắn hiện đại là truyện của các khả năng

Trang 17

Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về ngôn ngữ truyện ngắn đã phát biểu:

“Truyện ngắn nào của Tsêkhov cũng làm giàu đời sống tinh thần của ta vì

chúng đánh thức dậy ở ta ý thức ham muốn, giác ngộ về sự viết phân vân,“ ”

đắn đo hoặc nói nh các nhà hiền triết phơng Đông biết tìm cái có trong cái không cái không trong cái có”

Còn nhà văn Ma Văn Kháng nói: “ Câu chữ tiêu dùng cho một truyện

ngắn là cả một nỗ lực to lớn và …) D nó là yếu tố quyết định thành bại của một nh truyện ngắn Truyện ngắn hay ở văn.Ai đó đã nói và tôi nhận ra đúng vậy Bởi vì có những truyện ngắn, nội dung câu chuyện hình nh không có gì là quá đặc sắc mà sao đọc xong cứ mê li là thế Nào ! Câu chữ đã hút hồn ta đấy !”.

Nhà văn Nga, M.Gorki phát biểu: “ Muốn viết phải bắt đầu từ truyện

ngắn bởi viết truyện ngắn nó luyện cho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết cô đọng.”

Trang 18

1.3 Vài nét về tác giả Hồ Anh Thái

Hồ Anh Thái thành đạt khá sớm, 17 tuổi bớc vào làng văn với truyện

ngắn Bụi phấn gây ấn tợng cho những ngời biên tập bởi sự từng trải của nó, 24 tuổi đoạt giải thởng văn xuôi 1983-1984 của báo Văn nghệ với truyện ngắn

Chàng trai ở bến đợi xe, 26 tuổi nhận giải thởng văn xuôi 1986-1990 của Hội

nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Ngời và xe chạy dới ánh trăng Tiểu thuyết

Trong sơng hồng hiện ra (1987), Ngời đàn bà trên đảo (1988), tập truyện Mảnh vỡ của đàn ông (1994) …là những tiếng vang ông tạo đợc tiếp liền sau

đó bớc sang những năm 2000 Hồ Anh Thái không ngừng tự làm mới mìnhbằng phong cách khác so với quãng thời gian trớc và tiếp tục làm xôn xao d

luận bằng tập truyện ngắn tự sự 265 ngày (2001) đạt giải thởng của Hội nhà

văn Việt Nam, nhng tác giả từ chối không nhận (!) đặc biệt là cuốn tiểu thuyết

Cõi ngời rung chuông tận thế (2002) với những vấn đề cốt lõi của đời sống

con ngời, hay nh tập truyện ngắn Bốn lối vào nhà cời (2004) cùng một series

các tác phẩm đợc tái bản Cho đến nay, Hồ Anh Thái là tác giả của hơn 20 đầusách bao gồm cả tiểu thuyết và truyện ngắn Tác phẩm của ông, từ rất sớm đã

đợc dịch ra nhiều thứ tiếng và giới thiệu bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, cả châu

á, Châu Âu, và châu úc một trờng hợp hiếm hoi của văn xuôi đơng đại ViệtNam ! Thậm chí có những tác phẩm đợc giới thiệu ở nớc ngoài trớc khi đếnvới bạn đọc trong nớc, đó là chùm truyện ngắn viết về ấn độ trong nhữngnăm Hồ Anh Thái học tập và công tác trên đất nớc Gandhi Một vài thống kêtrên đây đủ để khẳng định Hồ Anh Thái là nhà văn có thành tựu

1.3.2 truyện ngắn Hồ Anh Thái

mỗi nhà văn thực tài bao giờ cũng xây dựng đợc một nhãn quan riêng

về thế giới Hồ Anh Thái không nhìn cuộc sống theo lối “ chng cất”, ở đó chỉhiện lên những khuôn mặt đẹp đẽ, những tính cách “vô trùng” mà tạo nên

Trang 19

những tác phẩm nghệ thuật mang dáng dấp của một tổng phổ nhiều bề đầynghịch âm.

Trong truyện ngắn, Hồ Anh Thái luôn có ý thức tái hiện xã hội và conngời trong những bớc chuyển mình, từ xã hội thời chiến đến xã hội thời bình,

từ xã hội thời bao cấp đến xã hội thời kinh tế thị trờng với lối sống hiện đạinhiều pha tạp trong những năm gần đây ứng với mỗi bớc chuyển đó, tác giảluôn nhận thấy những thói h tật xấu, những căn bệnh của xã hội “ đóng dấu”trong con ngời Có điều đặc biệt, cái xấu của con ngời đợc nhìn từ hai góc độ,một của cái nhìn hiện thực và của một cái nhìn hài hớc; dới cái nhìn hiện thực

là thói xấu đáng sợ, với kiểu nhân vật tha hoá còn dới cái nhìn hài hớc là thóixấu đáng cời, đáng chê với kiểu nhân vật bi hài

Trong nhiều truyện ngắn, ông nhìn ra lắm thói xấu của đời ngời Cứu

tinh phê phán sự tàn nhẫn của con ngời, chỉ vì một giấc mơ, ngời ta sẵn sàng

ra tay hạ sát một ông lão ăn mày ốm yếu bệnh tật; Ai là quỉ dữ lại chỉ ra nhận

thức sai lầm của con ngời trong mối quan hệ giữa lơng tâm và tiền bạc, ngời ta

cứ mù quáng tởng rằng tiền sẽ “mua” lại đợc lơng tâm, tiền sẽ chuộc lại đợc

những lỗi lầm mà mình đã gây ra cho ngời khác; Lũ con hoang là cái nhìn hơi quá khắt khe nhng cộng hởng cùng Món tái dê thành lời cảnh báo về thói dâm

ô sa đoạ nh đã ăn vào máu của con ngời Thật dễ lí giải tại sao một gã đàn ông

đi nhận chín đứa con hoang về làm con nuôi thì cả chín đứa ấy đều đợc xác

định là con đẻ của lão ta, mặc dù lão nhận chúng về từ nhiều nơi khác nhau vàrất ngẫu nhiên, không hề lựa chọn (Lũ con hoang); và cũng đừng nên ngạcnhiên trớc thái độ bình thản của vợ Hốt, của Diên và vợ Diên khi Diên biếnthành dê vì xem phim tình dục (Món tái dê); bởi theo lời của vợ Diên thì bà đãthấy lão là một con dê dạn dĩ ngay từ phút đầu tiên gặp gỡ, theo lời vợ của Hốtthì dê đầy trong xã hội này _ dê đi xe đạp, đi honđa và ngồi cả ôtô nữa; cònDiên thì thản nhiên nh sự đã rồi, chỉ mong sao nó đừng ảnh hởng đến côngviệc

Hồ Anh Thái còn là nhà văn tinh nhạy trong việc phát hiện những thóixấu đáng cời, đáng chê của con ngời, hay chính xác hơn là tác giả vạch ra thóixấu của con ngời dới cái nhìn hài hớc nhng cái cời trong truyện ngắn Hồ AnhThái sâu sắc quá, đến mức cời xong thì thấy u t xa xót, thậm chí giật minhchợt nghĩ: khéo ta vừa mới cời chính ta ! Đại diện cho con ngời nhiều thói xấu

đáng cời trong truyện ngắn Hồ Anh Thái là nhân vật bi hài, bởi đằng sau tiếngcời ấy đều ngẫm ra một bi kịch, một thân phận, ngẫm ra rồi sẽ không thể cấtnổi tiếng cời

Trang 20

Tự sự 265 ngày là cách tự truyện của tác giả về 265 ngày đi làm công

sở, sau khi đã trừ đi 100 ngày nghỉ theo chế độ 2 ngày trong 1 tuần Với 265ngày ấy, bao nhiêu thói xấu của công chức đợc bày lên trang viết Đây là tậptruyện đợc viết theo lối liên hoàn một cách làm việc nghiêm túc của nhà vănvạch ra chủ đề, ý tởng trớc rồi viết từng truyện theo những ý tởng sẵn có; dovậy, theo dõi từ đầu đến cuối tập truyện này cũng nh theo dõi một cuốn tiểu

thuyết Ngay đầu tiên ngời đọc đã giật mình với Phòng khách nơi đợc xem là

trờng đại học, là lò luyện tinh hoa, hàng loạt ngời chen lấn xô đẩy nhau mong

lọt đợc vào cái phòng ấy để đợc gặp gỡ, để đợc làm quen, để đợc giới thiệumong kiếm một suất đi nớc ngoài; và tỉ lệ đỗ là …100% tức là những kẻ bớc

chân vào đấy đều đợc đến sứ quán để điền vào Tờ khai visa, ngời ta trắc

nghiệm vào 35 ô phỏng vấn mà chẳng hiểu gì và cũng chẳng cần gì phải hiểu,

miễn sao qua lọt để ra Sân bay để đến nớc ngoài mà sống, c xử với nhau nh những Bóng ma trên hành lang, hoặc không nh thế thì cũng “dẫm phải bả” của Tây, đến khi ân hận nhận ra thì đã quá muộn, đành phải Vẫn tin vào chuyện

thần tiên để mong đợc trở lại làm ngời Việt “ đầu đen mũi tẹt da vàng” Men

theo hành trình vọng ngoại ấy, Hồ Anh Thái đan vào đó, hay đúng hơn là đểcho những kẻ vọng ngoại tự bộc lộ, tự tố cáo, tự “vạch áo cho ngời xem lng”hàng loạt những thói xấu mang màu sắc công thức của mình Vì mục đích duynhất là ra nớc ngoài không phải với tham vọng học hành mà nói theo cách “bình dân vỉa hè” là để “ giải quyết khâu oai” ngời ta sẵn sàng nói xấu nhau,

ám hại nhau, lợi dụng nhau nh trờng hợp “ chị viện phó em khó nhằn, nhngnhằn mãi cũng bùi cũng béo Chị em cắp nhau đi hội thảo nớc ngoài” (Sânbay), hay nh gã nghiên cứu viên xuất thân bảo vệ nghĩ ra cách nhìn trộm lãoviện trởng hú hí với ả th kí để chụp ảnh tố cáo tống tiền đổi lấy một xuất thựctập nớc ngoài, không biết có phải thực tập hay không mà gã đi mang theo baonhiêu thứ tạp nham và sẵn sàng ngả ra bày bán trên đờng phố nớc bạn (Sânbay) Và khi ra đợc nớc ngoài rồi bao nhiêu thói xấu “Made in Việt Nam” cònsâu trong máu chẳng thể nào thay đổi đợc để học hỏi điều hay, vẫn bon chennhỏ nhen ích kỉ sợ ngời khác hơn mình (Bóng ma trên hành lang), vẫn

“chuyện trò nhốn nháo, gọi nhau í ới” ở những nơi công cộng (Sân bay); ở nớcngoài trở về thì nh đợc khoác chiéc áo văn minh của xứ ngời, trớc một kiếntrúc nhố nhăng, tạp giao, anh chàng “Tây dởm” gọi đó là kiểu Pháp tức thì cả

hội đồng thẩm định nhất loạt kêu lên: “ kiểu Pháp, đúng rồi, kiểu Pháp” (Vẫn

tin vào chuyện thần tiên) Con ngời ta sùng ngoại vậy đó, thích nghe tây hơn

ta !

Trang 21

Đến Bốn lối vào nhà cời, nụ cời trớc cái xấu của con ngời đợc Hồ Anh

Thái “chăm chút” đào sâu mở rộng hơn, do vậy ngẫm ra cay đắng chua cháthơn Cái cời trớc thói xấu ở đây khá rộng nó không còn bó hẹp trong côngchức, trí thức và vơn tới bao trùm hầu hết nhiều dạng ngời trong xã hội, nhiềulứa tuổi, nhiều lĩnh vực của đời sống: anh xe ôm, cô giúp việc, dân thờng, th-

ơng nhân, nhà báo, văn nghệ sĩ… tất cả đều tìm thấy bóng mình trong tậptruyện này

Nhìn thấy nhiều cái xấu trong con ngời và xã hội, viết về nó bằng cả cáinhìn khắt khe lẫn nụ cời của cái hài, nhng vợt lên trên luôn là niềm tin và tinhthần thức tỉnh của Hồ Anh Thái dành cho con ngời Nhà văn từng tâm sự:

“Cuộc đời đúng là một nhà cời, chỉ có điều con ngời lại có xu hớng đi vào đó,

đối diện với gơng mặt mình và khóc …) D Tôi chỉ muốn đ a ra trớc ngời đọc một tấm gơng lồi để họ tự soi vào và tự hỏi: đấy là ta hay không phải ta ? Tôi không muốn làm cho ai phải khóc Chỉ vì đối với tôi cuộc đời nhiều khi buồn quá, buồn quá thì phải cời” [12].

Nhà văn Tô Hoài cho rằng trong số ít cây bút đọc đợc hiện nay có HồAnh Thái Điều này có giá của nó Hồ Anh Thái đã lao động cật lực trên từngcon chữ nh một nhà văn chuyên nghiệp và với một vốn văn hoá dày dặn, ôngkhông nói vào tình trạng tự thoả mãn mà luôn tìm cách bứt phá trên cơ sởnhững kiến tạo những kiến thức mới mẻ, táo bạo

Trang 22

Chúng tôi lấy kết quả phân loại ở bảng 1 làm căn cứ để tiếp tục tìm hiểu

đặc điểm câu văn truyện ngắn Hồ Anh Thái trong những phần tiếp theo

2.1.2 Câu văn tác giả và câu văn nhân vật

2.1.2.1 Câu văn tác giả

ở loại câu văn tác giả, chúng tôi chia ra làm hai tiểu loại để thuận lợicho việc lí giải trong quá trình phân tích:

- Câu ngắn là câu <= 12 tiếng

- Câu dài là câu > 12 tiếng

Trang 23

Bảng 2:

Tác phẩm Tổng số câu Câu ngắn Câu dài

II 323 79(24, 5%) 244(75, 5%)III 237 58(24, 5%) 179(75, 5%)

V 167 86(51, 5%) 81(48, 5%)

VI 209 72(34, 4%) 127(65, 6%)VII 259 33(12, 7%) 226(87, 3%)VIII 250 41(16, 4%) 209(83, 6%)Tổng 1928 505(26, 2%) 1423(73, 8%)

Từ kết quả thống kê ở bảng 2, chúng tôi thấy rằng tỉ lệ câu ngắn và câudài trong câu văn tác giả là chênh lệch nhau khá lớn Câu dài nhiều gấp gần 3lần câu ngắn Cụ thể, trong tổng số 1928 câu thì câu dài là 1423 câu, chiếm

73, 8 % và câu ngắn là 505 câu, chiếm 26, 2 % Chúng tôi dựa vào kết quảthống kê, phân loại ở bảng này để tiếp tục tìm hiểu đặc điểm câu văn trongtruyện ngắn Hồ Anh Thái

<2> Mặt em nào cũng cô đồng nh em nào Chỉ tiêu mỗi vị đợc bỏ phiếu

cho 5 em Rối Lẫn Nhầm

(VI; tr 265)

Loại câu ngắn trong câu văn tác giả thờng đợc Hồ Anh Thái sử dụngtrong các trờng hợp sau:

2.1.2.1.1.1 Thể hiện sự nhận xét, đánh giá của tác giả

Đây là những câu văn mà tác giả trực tiếp bày tỏ thái độ, sự đánh giácủa mình đối với hiện thực trong tác phẩm

Ví dụ:

<3> Truyện đời thực bao giờ cũng nhạt nhẽo Đám cới cô ở Hà Nội

chẳng to hơn những đám cới ta lấy ta.(III; tr 41)

Trang 24

Câu ngắn Truyện đời thực bao giờ cũng nhạt nhẽo là lời nhận xét đánh

giá đi kèm tâm trạng chán nản của tác giả sau khi chứng kiến một loạt nhữngchuyện lừa đảo, giả giối

<4> Tôi tháo đồng hồ tay, tháo kính râm đa gửi viên bảo vệ ngời Việt

rồi tự tin đi qua cái cửa từ Thế mà nó vẫn ré lên (III; tr 46)

Câu ngắn Thế mà nó vẫn ré lên thể hiện sự bất ngờ và bực mình của tác giả.

<5> Những năm học phổ thông tôi cũng đã đi bán bánh mì ở phố này

chợ khác Chẳng qua ghét Bảo nên nói vậy (IV; tr 163)

Câu ngắn Chẳng qua ghét Bảo nên nói vậy là lời nhận xét xen lẫn sự

giải thích về thái độ của tác giả đối với nhân vật Bảo

2.1.2.1.1.2 Dùng để t ờng thuật hành động nhân vật

Phần lớn những câu văn ngắn của tác giả là dùng để thuật lại hành độngcủa nhân vật

Ví dụ:

<6> Ba cô rủ nhau ra đảo Cát Bình trớc (I; tr 6)

Ba cô ở đây là Chín Triêu, Ba Triệu, Hai Triệu là diễn viên trong một bộphim Trong phim có cảnh quay ở đảo Cát Bình Ba cô diễn viên rủ nhau ra

đảo trớc chờ đoàn quay phim đến sau

<7> Ông đa cô Mĩ về quê Cả làng mừng cho ông vợ chết tám tháng đã

có ngời nâng khăn sửa túi

(IIl; tr 30)Sau khi vợ chết đợc tám tháng, ông sử lấy ngay một Việt kiều Mĩ Ông

đa vợ về quê giới thiệu cho họ hàng, làng xóm biết

<8> Tôi hỏi tên ngời hiện ra ở khoảng diện tích hai viên gạch vỉa hè

đang bị cái bóng của tôi trùm lên Anh chàng nháy mắt cời (III;tr 45)

Tác giả xếp hàng làm tờ khai visa đi Mĩ Trong thời gian chờ đợi, tácgiả hỏi tên ngời đứng trớc để bắt chuyện Ngời đứng trớc đáp lại bằng cáinháy mắt cời

<9> Thớc vừa sỗ sàng ghé sát vào má Hạnh nh định hôn Cô ý tứ né

sang bên cạnh (IV;tr 151)

Tác giả thuật lại hành động của Hạnh trớc hành động sỗ sàng của Thớc Các ví dụ khác:

<10> Ông thơ mếu máo méo xệch mồm Rồi khóc hu (VI;tr 269)

<11> Chàng Ravi mở cửa đi ra (VII; tr 351)

<12> Amrita bỏ chạy Ahimsaka đuổi theo, mong đợc thanh minh với

một ngời có thể sẽ chịu nghe chàng nói (VIII; tr 373)

2.1.2.1.1.3 Dùng để giới thiệu hoàn cảnh, không gian, thời gian.

Ví dụ:

Trang 25

<13> Cho tới một ngày Quãng đờng vắng Đèn đêm đồng loã tắt hết.

Thình lình mấy con tôm rồ máy xông ra (II; tr 22)

Tác giả dùng ba câu văn ngắn liên tiếp, giới thiệu hoàn cảnh của sự việcsắp xảy ra

<14> Cửa ngõ vào nớc Mĩ nắng chang chang Nắng mật ong vàng.

(III; tr 34)Tác giả giới thiệu khung cảnh bên ngoài trớc cửa đại sứ quán Mĩ tạiViệt Nam (số 7, Láng Hạ, Hà Nội)

2.1.2.1.2 Loại câu dài.

Hồ Anh Thái thờng dùng câu dài để diễn tả hình dáng, hành động, nộitâm nhân vật, miêu tả thiên nhiên, giới thiệu lời thoại nhân vật, đôi khi cũng

nh ở loại câu ngắn loại câu dài còn dùng để bộc lộ nhận định, đánh giá đối với

sự việc, nhân vật trong tác phẩm

2.1.2.1.2.1 Giới thiệu lời thoại nhân vật.

Ví dụ:

<18> Cô ngời yêu của Hùng lật mấy cái chứng minh th để thuê thuyền

trong tay, rồi bất chợt kêu to:

- Tại sao đến bây giờ chúng mình vẫn không chịu tìm cho anh Kim mộtcô bạn nhỉ ? (IV; tr 151)

<19> Lúc này cũng vậy, sau khi nhích tránh Thớc, và hồ hởi tiến hành

cái nghị quyết bất thờng giúp đỡ những ngời độc thân, Hạnh nhẹ nhàng xách túi đứng dậy nói:

- Em phải về trớc Hôm nay em đi làm từ sáng sớm, nên bây giờ rất sốtruột, không biết nhà cửa thế nào (IV; tr 152)

<20> Ngời nọ vẫn ung dung bớc đi, buông lại một câu trả lời dõng dạc:

“ Ta đã dừng lại từ lâu, dù ta đang bớc đi Chỉ có nhà ngơi mới cha chịudừng bớc đó thôi” (VIII;tr 379)

2.1.2.1.2.2 Miêu tả ngoại hình nhân vật.

Ví dụ:

<21> Tôi chỉ nghĩ vậy khi nhìn gơng mặt chừng hăm mốt hăm hai tuổi

của Li tơng phản với kiểu nói năng quay trớc quay sau khoe cái váy dài nh một cô bé mời lăm tuổi (IV; tr 154)

Trang 26

Tác giả miêu tả sự tơng phản giữa tuổi tác và ngoại hình của một cô gái

đỏng đảnh

<22> Đấy là một ông thầy chạc ngoại ngũ tuần, nớc da trắng, cặp mắt

sáng chói và vầng chán cao khiết chứng tỏ một nguồn gốc vơng giả.

(VIII; tr 378)Tác giả miêu tả ngoại hình của một ngời có học thức uyên thâm và cónguồn gốc vơng giả

2.1.2.1.2.3 Miêu tả hành động nhân vật

Ví dụ:

<23> Lần này chàng về báo cáo với cha mẹ rằng chàng đã đính hôn với

một cô gái cùng nghiên cứu sinh ngời Hà Nội cũng đang ở bên ấy với chàng.

(III; tr 43)

Tác giả miêu tả hành động của chàng trai với cha mẹ sau khi chàng tựlàm chuyện đại sự của mình ở nớc ngoài

<24> Hễ con nào xoay ngời, cái đuôi cong suýt chạm vào bàn tay trắng

trẻo của Li là cô hoảng hốt rụt tay lại, không giấu đợc vẻ ghê sợ vì mất vệ sinh

(IV tr 156)

Tác giả miêu tả hành động của một cô gái con nhà giàu từ nhỏ đã quensống trong nhung lụa

<25> Đến thi tốt nghiệp môn lịch sử nàng cắn bút thay vào đó một

tr-ờng ca ai oán, trách móc nền giáo dục đánh bẫy học sinh bằng những con số niên đại, những sự kiện, những danh nhân Phần thứ hai của trờng ca, nàng

ca tụng truyền thống thơ ca của một đất nớc thơ ca, nàng quả quyết tất cả các danh nhân trong lịch sử dù thuộc lĩnh vực nào xa lạ với thơ thì cũng đều

là các nhà thơ (VI;tr 262)

Tác giả miêu tả hành động của một cô gái học dốt lại bị thơ ca làm cho

mê muội

<26> Nilam xách cái xẻng và chai rợu đi nh ngời mộng du lên đồi Chị

đào một cái huyệt cho mình, uống hết chai rợu cho say rồi nằm xuống đấy mà lịm đi.Không cần phải lấp đất thì chị cũng biết hôm nay mình sẽ chết.

(VII;tr365)

Tác giả miêu tả hành động của một ngời con gái chủ động đi tìm cáichết, sẵn sàng đón nhận cái chết một cách thản nhiên

<27> Y bèn ngợc trở lên, lại chạy vòng vèo trên những vách đá, quyết

đón đầu và uy hiếp nạn nhân bằng sự xuất hiện thình lình ngay trớc mặt họ

nh vẫn thờng làm (VII;tr379)

Tác giả miêu tả hành động của một tên giết ngời chuyên nghiệp

2.1.2.1.2.4 Miêu tả nội tâm nhân vật.

Trang 27

Ví dụ:

<28> Nhng tôi dám đánh cuộc rằng cô tiểu th ngoại quốc nửa ngời này

đã hơn một lần nhìn thấy ngời ta cắt tiết gà và chỉ chốc nữa, cô ta sẽ nhấm nháp những miếng thịt gà xé phay với vẻ thoả mãn

(IV; tr 159)Tác giả miêu tả nội tâm thực sự của nhân vật Li ẩn dới vẻ bề ngoài củanhững hành động, lời nói rất kịch

<29> Chóp mũi của Ravi tởng đã quên dần dần khôi phục những đờng

trợt đơng vờn nhè nhẹ trên cái chỗ đã từng là chóp mũi của Nilam, cố nhớ cho ra một cái gì thân quen lắm mà không nhớ nổi.

(VII; tr 365)Tác giả miêu tả nội tâm của nhân vật Ravi sau nhiều năm gặp lại ngờiyêu cũ

<30> Cái ma lực hút Anguli Mala lại gần và chắn gió cho Đức Phật

cùng mặc cảm tội lỗi khi ngồi bên ngời đã khiến y tự thề rằng sẽ không bao giờ quay lại cái thiền viện ấy nữa (VIII;tr 379)

Tác giả miêu tả nội tâm của một kẻ đã đi quá xa trên con đờng giếtchóc không thể trở lại làm ngời lơng thiện

2.1.2.1.2.5 Miêu tả thiên nhiên.

Ví dụ:

<31> những chùm hoa Kim Tớc rủ xuống nh những chùm nho vàng tơi

trong suốt, cả một vờn Kim Tớc bừng sáng xoã ra nh mái tóc vàng của ngời

<33> Từ ấy trong tôi bừng kết luận vợ chết mà khóc nh cha chết, khóc ơ

hời ơ hời, đánh đu lên cả quan tài suýt đổ, hai ngời con trai mời tám đôi mơi phải xông tới giật bố ra xốc nách lôi đi, khóc nh thế chỉ tổ càng chóng đi lấy

vợ mới (II; tr 26)

Đây là lời kết luận đầy mỉa mai của tác giả về một ngời chồng giả nhângiả nghĩa Ngời chồng đó là ông sử Sau khi vợ chết đợc tám tháng, ông sử đãlấy ngay một việt kiều Mĩ

Trang 28

<34> Xếp hàng thế này thì không phải chỉ có xê en ích hát CNXH mới

là cả ngày xếp hàng nh tuyên truyền nhảm đâu, ở nớc Mĩ đồng bào cũng phải xếp hàng ở nhà băng, ở trung tâm xin tiền bảo hiểm, thậm chí xếp hàng cả trong khách sạn chỉ để hỏi lễ tân có ai nhắn gì khi tôi vắng mặt không (III;tr

- Loại câu ngắn là câu <= 12 tiếng

- Loại câu dài là câu > 12 tiếng

Sau đây là bảng thống kê, phân loại câu văn nhân vật trong tám truyệnngắn của Hồ Anh Thái do chúng tôi khảo sát:

Trang 29

Từ kết quả thống kê, phân loại ở bảng 3, chúng tôi thấy tỉ lệ câu ngắn

và câu dài đợc tác giả sử dụng trong câu văn nhân vật chênh lệch nhau khônglớn Cụ thể là trong tổng số 374 câu thì số lợng câu ngắn là 149 câu, chiếm 40

% còn số lợng câu dài là 225 câu, chiếm 60 %

2.1.2.2.1 Loại câu ngắn.

Chúng tôi khảo sát 149 câu ngắn trong câu văn nhân vật và thấy rằngnhững câu này tồn tại dới hai dạng, đó là dạng hội thoại có dấu hiệu và dạnghội thoại không có dấu hiệu

2.1.2.2.1.1 Hội thoại có dấu hiệu.

ở dạng hội thoại có dấu hiệu, chúng tôi chia ra 2 loại dấu hiệu:

2.1.2.2.1.1.1 Dùng dấu gạch ngang

Ví dụ:

<35>Rồi bỗng nhiên anh chàng Thớc sáng mắt, tát vào đùi thật mạnh:

- Phải rồi có một đám rất hợp với Kim (IV;tr 151)

<36> - Li _ Hạnh cất tiếng gọi - Tiểu th Ê li ra đón khách nào.

Cô gái giật mình một cái rất kịch trớc khi quay lại, rồi mở tròn cặp mắt

to, tỏ ý mừng rỡ một cách thái quá:

- úi giời thế á ? Li đang mải nhìn đôi vành khuyên trên cây muỗm.

(IV; tr 154)2.1.2.2.1.1.2 Dùng dấu ngoặc kép

Ví dụ:

<37> Hãy nói ta nghe, cái gì sắc hơn lỡi rìu chém đá ?”

“ Tha Guru(s phụ) đó là tri thức.”

Trang 30

“ Gì mạnh hơn sức mạnh cơ bắp ?”

“ Là nhân tâm tha Guru.” (VIII; tr 370)

<38>Đức Phật đổi giọng thân tình Vậy chứ con tên gì?“ ”

“ Là là Anguli Mala.”

“ Không ta hỏi cái tên chào đời của con và phụ mẫu của con là ai ?”

Ký ức tởng đã xa xôi lắm dội về Chàng trai cũng đổi cách xng hô

“ Tên con là Ahimsaka Cha con là Gagga mẹ con là Mantani”

“ Cái tên thật hay Ahimsaka là không sát sinh, không bạo lực Hỡi con

trai của ông Gagga và bà Mantani đáng kính, kể từ phút này con đã đợc phục sinh trong đạo pháp của lòng yêu mến con ngời.”

(VIII; tr 381)

2.12.1.2.2 h ội thoại không có dấu hiệu

Đây là những câu hội thoại giữa các nhân vật nhng chúng có hình thứcgiống nh câu văn tác giả, không có dấu hiệu Đây là sự sáng tạo độc đáo của

Hồ Anh Thái đối với loại câu văn nhân vật

Ví dụ:

<39> Thôi con ạ ngời ta nghèo Trong mắt ngời đời ông sử không còn

nghèo nữa (II; tr28)

<40> Cô mời ngời đàn bà ra hẳn ngoài cổng Kể Chuyện đã hết.Hết

rồi Cô về đi, nếu muốn thì cô đi tìm chú ấy ở đâu đó Cô mà vào khách sạn,

công an đến hỏi han tỉ mỉ, ồn ào lên mà chẳng để làm gì

Cháu biết cô Cô dọn phòng chỉ nói ngắn gọn.

(V; tr 209)

<41> Ngày hội thơ, nàng nhảy lên đọc đúng câu ấy Các nhóm kháchuýt sáo đuổi xuống Thơ dịch gì mà miêu tả cảnh đau bụng đi đồng ban đêm

Đấy thôi những là sôi sùng sục, những là vàng khè, những là gió đồng nổi lên

Thôi đi thôi đi Mấy nhóm khác nhảy lên thế chỗ.Thơ cũng hoăng hoắc cả lên.

(VI; tr 267)

<42> Tối đến cô bạn gái chợt hỏi xem Nilam có coi Ravi là chàng trai

tốt và ngời tốt có đợc phép đến khu vực đèn đỏ hay không Khu vực đèn đỏ là

thế nào Cô bạn ghé tai giải thích một câu làm Nilam rùng mình Đó là nơi

những đứa con gái bị bắt cóc từ Nêpan sang hoặc gái quê đợc dỗ ngon dỗ ngọt

là sẽ có việc làm ở thành phố, rốt cuộc phải bán thân nuôi chủ chứa

(VII; tr 352)

2.1.2.2.2 Loại câu dài.

Loại câu dài trong câu văn nhân vật thờng là lời kể của nhân vật vềnhững sự việc, sự kiện xảy ra trong cuộc sống của mình và cũng giống nh loạicâu ngắn tồn tại dới hai dạng, đó là hội thoại có hoặc không có dấu hiệu

Trang 31

Ví dụ:

<43> Thang máy đa du khách đi trong ruột tợng nữ thần, một đàn kiến

ngứa râm ran từ bàn chân lên đến cổ Hai mơi tầng cơ à, đến đâu rồi nhỉ sao

lại tối nh cái tiền đồ của chị Dậu thế này, lúc nào ngang qua chỗ ấy thì báo cho tôi một cái Qua lâu rồi, có đa tay ra thì nhớ rụt vào cho nhanh kẻo mang tội quấy nhiễu tình dục Đến thế thì viên lễ tân Mĩ xịn cũng phải bật cời chia

sẻ Ôi tiếu lâm công chức trên thế giới này, đâu cũng vậy (III; tr 36)

Đây là cuộc đối thoại giữa các du khách Việt Nam trong thang máy củaruột tợng nữ thần tự do (không có dấu hiệu hình thức)

<44> - Lánh hỏi, biết anh ốm, nó bảo tối nay sẽ đến thăm anh đấy Anh

có tiếp nó không ?

- Không, không Tôi khiếp sợ nh nh thể Lánh sắp bớc vào đếnnơi - Sẽ không bao giờ cả

(IV; tr 168)

Đây là cuộc thoại giữa hai ngời bạn Hạnh và Kim (có dấu hiệu hình thức)

<45> Nilam lại mang bầu Bà mẹ chồng vào ra gầm ghè.Quân này chỉ

đẻ rặt con gái cho mà xem, rồi thành quân ăn tàn phá hại trong nhà bà Của

rẻ mạt, ngời ta nhận cho với cái giá đổ đi mà còn tính gian lận 10.000 rupi, nhà bên ấy thật đúng là phờng lừa đảo Đến lúc ấy, Nilam không im đợc nữa,

vì ngời ta đã động đến cả gia đình cô ái chà danh gia vọng tộc gớm nhỉ, bùn

đất chui ra, sâu bọ lên làm ngời, muốn giỏi muốn tốt thì bà sẽ cho về làm bùn

đất làm sâu bọ.

(VII;tr 358)

Đây là cuộc đối thoại giữa Nilam và mẹ chồng của nàng(không có dấuhiệu hình thức)

<46> “ Ví thử ta không cần đốt cháy một khu rừng, không cần phải điều

động binh mã tổng lực, mà Anguli Mala vẫn tự nguyện về đây cải tà qui chính, nguyện suốt đời không sát sinh và sẽ miệt mài tu học cùng trau rồi đạo đức, đ-

ợc nh vậy thì đức vua có còn muốn bắt và chém đầu ngời đó hay không ?”

Vua Pasenaji nghĩ rằng Đức Phật đang đa mình vào một cuộc đàm luận,nên cũng nói thật lòng

“ Nếu quả thực nh vậy thì chẳng những con không xử trảm y mà còn

hoan hỉ cúng dờng cho ngời đó thực phẩm y áo và thuốc men nh vẫn cúng ờng cho Phật cùng đệ tử của ngời Song tự nguyện trở lại làm ngời lơng thiện

d-là điều không thể có đối với một kẻ sát nhân nh Anguli Mala”

(VIII; tr382)

Đây là cuộc đối thoại giữa vua Pasenaji và Đức Phật về tên sát nhânAnguli Mala Vua Pasenaji trên đờng đi bắt Anguli Mala thì gặp Đức Phật -ngời đã cảm hoá đợc Anguli Mala (có dấu ngoặc kép làm hình thức)

Trang 32

2.1.2.3 Bên cạnh câu văn tác giả, câu văn nhân vật đợc phân định rõ ràng, Hồ

Anh Thái còn sử dụng một loại câu có số lợng âm tiết dài, ngắn khác nhau vừa

có lời tác giả vừa có lời nhân vật nằm xẽn kẽ nhau

Ví dụ:

<47>Bà vẩy tay về phía cái vali chật cứng bảo còn chỗ đâu mà đút, nếu

còn chỗ thì chị cho các em đút chứ chị tiếc gì.(II; tr 25)

<48> Bà sử bất chợt quát chồng, thôi đi anh, rồi bảo tôi, đa cô xem

(II; tr 25)

<49> Số Ba thảng thốt ôi chị ơi sao chị lại khai không vào mục giới

tính, sao lại không cả vào chỗ đàn ông đàn bà (III; tr 39)

<50>Xếp xua tay nâu nâu nâu nông nông nông nhét nhét nhét tao có

biết tiếng Việt đâu mà nghe thơ

(VI;tr 261)

Đọc những câu trên, chúng ta thấy đó là nhừng câu mà vừa có lời củatác giả vừa có lời của nhân vật Hai lời đó hoà quyện vào nhau, đan cài vàonhau trong một hình thức câu văn Có thể nói đây là một sáng tạo độc đáo của

Hồ Anh Thái

Nh vậy, trong tám truyện ngắn của Hồ Anh Thái, số lợng câu văn dàichiếm tỉ lệ cao hơn những câu văn ngắn rất nhiều Đây là một điểm nổi bậtgóp phần làm nên một phong cách ngôn ngữ truyện ngắn của Hồ Anh Thái

Đặc biệt Hồ Anh Thái sử dụng nhiều câu văn tác giả Đặc điểm này thuộc vềcá tính sáng tạo và còn do những tình huống văn cảnh cụ thể của tác phẩm

Trang 33

<52> Vẻ mặt hắn đầy âm mu nh đang tính chuyện vợt biên sau một vụ

án Ba Triệu nói Hắn giống một kẻ thành đạt rửng mỡ vừa bị một đòn suy sụp Hai Triệu nói Hình nh cả hai cậu đều đúng, mà hình nh không.Chín

Triệu nói (I; tr 6)

<53> - Những gã điển trai thờng hay sa lới của những đứa con gái xấuxí

Trang 34

ánh đúng mối liên hệ của các vật với nhau, của các vật với các đặc trng củachúng, trong câu ngoài chủ ngữ và vị ngữ còn có thể có những bộ phận khácphụ thuộc vào nòng cốt câu hoặc phụ thuộc vào các từ chính trong các bộphận làm thành câu Những câu đơn nh vậy đợc gọi là câu đơn mở rộng.[1;105]

Chúng tôi khảo sát 2063 câu văn đầy đủ C_V trong tám truyện ngắncủa Hồ Anh Thái và thấy một số kiểu mở rộng của câu đơn hai thành phần nhsau:

2.1.3.2.1.2.1 Câu đơn hai thành phần mở rộng bằng trạng ngữ

Trạng ngữ là thành phần phụ của câu thờng đứng đầu câu hoặc cuốicâu ý nghĩa mà trạng ngữ biểu thị là ý nghĩa tình huống, cách thức, thời gian,nơi chốn, mục đích, điều kiện, nhợng bộ, nguyên nhân, nhằm làm rõ thêmcho nội dung thông báo của câu

Hồ Anh Thái sử dụng đa dạng các kiểu loại ý nghĩa mà trạng ngữ biểuthị trong kiểu câu đơn hai thành phần mở rộng

Ví dụ:

<59> Sau sáu giờ, Chín Triệu kể lại toàn bộ câu chuyện với hội đồng

các tác giả kịch bản và đạo diễn (I; tr 7)

(mở rộng bằng trạng ngữ chỉ thời gian)

<60> Tiễn Hạnh vế tới cửa, tôi mới nghĩ ra rằng cha đến thăm nhà cô

bao giờ (IV;tr 159)

(mở rộng bằng trạng ngữ chỉ cách thức)

< 61> Hạnh mỗi ngày thêm vất vả, vì gần đây mẹ và em bé hay ốm đau.

(IV; tr 160)

(mở rộng bằng trạng ngữ chỉ nguyên nhân)

<62> Hễ con nào xoay ngời, cái đuôi cong suýt chạm vào bàn tay trắng

trẻo của Li là cô hoảng hốt rụt tay lại, không giấu đợc vẻ ghê sợ vì mất vệ

sinh (IV; tr 156)

(mở rộng bằng trạng ngữ chỉ điều kiện)

<63> Tò mò, y mang mấy quyển vở của ngời thiệt mạng ghi chép lời

dạy của một ông thầy nào đó đợc gọi là Buddha (VIII; tr 377)

(mở rộng bằng trạng ngữ chỉ mục đích)

2.1.3.2.1.2.2 Câu đơn hai thành phần mở rộng bằng giải thích ngữ

Giải thích ngữ là thành phần phụ của câu, nó thờng do từ, cụm từ, kếtcấu C_V chen vào giữa nòng cốt C_V, tách nòng cốt đó bằng ngữ điệu, nhằmlàm sáng tỏ một phơng diện nào đó của cả câu nh bình chú, chú giải, giảithích

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Câu đơn tiếng Việt, NXB GD, H.1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đơn tiếng Việt
Nhà XB: NXB GD
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi; Từ điển thuật ngữ văn học; NXB GD; H. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB GD; H. 2000
3. Nguyễn Thị Huyền, Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Vinh, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
4. Đỗ Thị Kim Liên, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB GD, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: NXB GD
5. Phơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình; Lí luận văn học; NXB GD; H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: NXB GD; H.2002
6. Võ Anh Minh, Văn xuôi Hồ Anh Thái từ quan niệm nghệ thuật về con ng- ời, Luận án thạc sĩ, Đại học Vinh, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Hồ Anh Thái từ quan niệm nghệ thuật về con ng-ời
7. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
8. Hồ Anh Thái, Sắp đặt và diễn, NXB Hội nhà văn, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắp đặt và diễn
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
9. Hồ Anh Thái, Tiếng thở dài qua rừng Kim Tớc, NXB Hội nhà văn, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng thở dài qua rừng Kim Tớc
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
10. Hồ Anh Thái, Tự sự 265 ngày, NXB Hội nhà văn, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự 265 ngày
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
11. Hồ Anh Thái, Cõi ngời rung chuông tận thế, NXB Đà Nẵng, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cõi ngời rung chuông tận thế
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
12. Nhà văn Hồ Anh Thái với Bốn lối vào nhà cời, http://tintucvietnam.com / news / printview.aspx?ID=49642 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn lối vào nhà cời

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
Bảng 1 (Trang 25)
Chúng tôi lấy kết quả phân loại ở bảng 1 làm căn cứ để tiếp tục tìm hiểu đặc điểm câu văn truyện ngắn Hồ Anh Thái trong những phần tiếp theo. - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
h úng tôi lấy kết quả phân loại ở bảng 1 làm căn cứ để tiếp tục tìm hiểu đặc điểm câu văn truyện ngắn Hồ Anh Thái trong những phần tiếp theo (Trang 26)
Bảng 3: - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
Bảng 3 (Trang 33)
Bảng 4: - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
Bảng 4 (Trang 37)
Về phân loại câu ghép, tác giả Diệp Quang Ban phân loại theo mô hình sau: Câu ghép - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
ph ân loại câu ghép, tác giả Diệp Quang Ban phân loại theo mô hình sau: Câu ghép (Trang 41)
Bảng 5: - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
Bảng 5 (Trang 50)
tiếp.Sau đây là bảng thống kê phân loại của chúng tôi sau khi tiến hành khảo sát 2302 câu văn trong tám truyện ngắn của Hồ Anh Thái nhìn từ góc độ mục đích  giao tiếp. - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
ti ếp.Sau đây là bảng thống kê phân loại của chúng tôi sau khi tiến hành khảo sát 2302 câu văn trong tám truyện ngắn của Hồ Anh Thái nhìn từ góc độ mục đích giao tiếp (Trang 50)
sau đây là bảng so sánh của chúng tôi về loại câu văn tác giả. - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
sau đây là bảng so sánh của chúng tôi về loại câu văn tác giả (Trang 66)
Sau đây là bảng so sánh của chúng tôi về loại câu văn nhân vật. - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
au đây là bảng so sánh của chúng tôi về loại câu văn nhân vật (Trang 68)
Sau đây là bảng so sánh của chúng tôi về mặt cấu tạo câu văn của hai tác giả. - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
au đây là bảng so sánh của chúng tôi về mặt cấu tạo câu văn của hai tác giả (Trang 71)
Sau đây là bảng so sánh của chúng tôi về câu văn của hai tác giả xét về mục đích giao tiếp . - Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn hồ anh thái
au đây là bảng so sánh của chúng tôi về câu văn của hai tác giả xét về mục đích giao tiếp (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w