1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của hồ anh thái và dương thụy luận văn thạc sĩ ngữ văn

93 1,4K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy
Tác giả Lê Thị Bích Diệp
Người hướng dẫn GS. TS. Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 532,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩm Hồ Anh Thái và Dương ThụyHồ Anh Thái và Dương Thụy là hai tác giả của nền văn học đương đại.Nếu như Hồ Anh Thái được xem như một hiện tượng vă

Trang 2

Thực hiện luận văn này, chúng tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơnsâu sắc tới GS TS Đỗ Thị Kim Liên - người đã trực tiếp tận tình hướng dẫnchúng tôi.

Xin được cảm ơn các thầy cô giáo thuộc bộ môn Ngôn ngữ học trườngĐại học Vinh; những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp

đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quí báu cho chúng tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu, thực hiện đề tài

Vinh, tháng 10 năm 2012

Tác giả

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩm Hồ Anh Thái và Dương Thụy 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Xung quanh vấn đề thành ngữ 6

1.1.1 Vấn đề nghiên cứu thành ngữ 6

1.1.2 Khái niệm thành ngữ 8

1.1.3 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ 10

1.1.4 Về việc sử dụng thành ngữ trong tác phẩm văn chương 13

1.2 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Anh Thái và Dương Thụy 16

1.2.1 Về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Anh Thái 16

1.2.2 Về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Dương Thụy 19

1.3 Tiểu kết chương 1 22

Chương 2 CÁCH SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA HỒ ANH THÁI VÀ DƯƠNG THỤY XÉT TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP 24

2.1 Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy xét trên bình diện cấu tạo 24

Trang 4

tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy 24

2.1.2 Cấu tạo của thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy 27

2.2 Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy xét trên bình diện làm thành phần cấu tạo câu 45

2.2.1 Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Hồ Anh Thái 45

2.2.2 Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Dương Thụy 49

2.3 So sánh cách sử dụng thành ngữ của Hồ Anh Thái và Dương Thụy xét về mặt cấu tạo và tham gia làm thành phần câu 52

2.3.1 Sự tương đồng 52

2.3.2 Sự khác biệt 54

2.4 Tiểu kết chương 2 54

Chương 3 CÁCH SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM HỒ ANH THÁI VÀ DƯƠNG THỤY XÉT TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA 56

3.1 Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy xét trên trên bình diện ngữ nghĩa 56

3.1.1 Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái xét trên trên bình diện ngữ nghĩa 57

3.1.2 Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Dương Thụy xét trên trên bình diện ngữ nghĩa 64

3.2 So sánh cách sử dụng thành ngữ của Hồ Anh Thái và Dương Thụy xét trên bình diện ngữ nghĩa 69

3.2.1 Sự tương đồng 69

3.2.2 Sự khác biệt 71

Trang 5

3.3 Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng thành ngữ trong tác

phẩm của Dương Thụy và Hồ Anh Thái 73

Trang 6

3.3.2 Tạo tính hàm súc, ngắn gọn cho câu văn 78

3.3.3 Tạo sự hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa 79

3.4 Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có giá trị hết sức đặc biệt tronghoạt động giao tiếp Thành ngữ được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sốnghàng ngày lẫn trong văn bản chính luận, báo chí, đặc biệt là trong các tácphẩm văn chương… Do cấu tạo của thành ngữ sử dụng ít từ, kiệm lời nhưnglại có một giá trị biểu trưng hết sức sâu sắc, gợi hình ảnh bóng bảy nên ngườinói - người viết ưa dùng thành ngữ Thông qua thành ngữ, cách sử dụngchúng, chúng ta nhận ra nét đặc trưng văn hóa vùng miền cũng như phản ánhlối nói, nếp cảm, cách tư duy của từng dân tộc Chính vì vậy, thành ngữ ngàycàng thu hút đông đảo lực lượng nghiên cứu trên nhiều bình diện: cấu trúc,ngữ nghĩa, thi pháp, triết học, giáo dục Tuy vậy, các nhà nghiên cứu mớidừng lại tìm hiểu thành ngữ như những đơn vị cố định, có sẵn mà chưa cóxem xét thành ngữ trong hoạt động lời nói, cụ thể biểu hiện trong tác phẩmvăn chương, chính vì lí do đó, việc đi sâu nghiên cứu thành ngữ trong tácphẩm của từng tác giả là hết sức cần thiết

1.2 Hồ Anh Thái và Dương Thụy thuộc thế hệ nhà văn sau thời kì đổimới (sau 1986) Hai tác giả này sáng tác nhiều thể loại như: tiểu thuyết, truyệnngắn, truyện dài, tạp văn…Điều đặc biệt là họ đã gặp gỡ nhau trong việc lựachọn và sử dụng một số lượng thành ngữ rất lớn trong tác phẩm của mình, tạođược hiệu quả biểu đạt cao, gây được cảm xúc thẩm mĩ cho người đọc Song,trên thực tế vấn đề này lại chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ,

có hệ thống Chọn nghiên cứu đề tài về thành ngữ của Hồ Anh Thái và DươngThụy là một hướng tiếp cận mới mẻ, chứng minh rõ ràng hơn cho việc sử dụngchất liệu văn học dân gian đạt hiệu quả nghệ thuật cao trong thể loại văn học

hiện đại Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài luận văn là: “Đặc điểm sử dụng

thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy”.

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩm Hồ Anh Thái và Dương Thụy

Hồ Anh Thái và Dương Thụy là hai tác giả của nền văn học đương đại.Nếu như Hồ Anh Thái được xem như một hiện tượng văn chương của thế hệnhà văn thời hậu chiến thì Dương Thụy là nhà văn trẻ đại diện cho thế hệ nhàvăn đương đại

a Hồ Anh Thái là một tác giả mới của văn xuôi đương đại Ông đãnhanh chóng khẳng định được tài năng văn chương của mình Tìm hiểu về HồAnh Thái có thể kể đến một số bài viết và công trình nghiên cứu sau đây: Bài

viết của Anh Chi: “Hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái”; Báo Thể thao Văn

hóa: “Bên này bên ấy”; Báo Đất Việt ra ngày 19/10/2011: “Hồ Anh Thái kể chuyện bắt chuột”; Báo Thể thao và Văn hóa ra ngày 12/9/2011: “Hồ Anh Thái lấy chữ mà chơi”; Võ Anh Minh (2005), Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn), Đại học

Vinh; Nguyễn Đình Thiện (2007), Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ

Anh Thái, (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn), Đại học Vinh; Trần Quỳnh Trang

(2007), Những cách tân trong nghệ thuật tự sự Hồ Anh Thái (Luận văn thạc

sĩ Ngữ văn), Đại học Vinh; Nguyễn Thị Huệ (2008), Những đặc sắc của nghệ

thuật trần thuật trong tiểu thuyết Đức Phật nàng Savitri và tôi của Hồ Anh Thái, (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn), Đại học Vinh.

b Dương Thụy là nhà văn trẻ đương đại khá mới mẻ với bạn đọc Thực

tế, chưa có công trình nghiên cứu về nhà văn này Chỉ có thể kể đến một số bàibáo phỏng vấn như: phỏng vấn của báo An ninh thủ đô với Dương Thụy trongwww.duongthuy.net, Hoàng Hồng thực hiện, có nhận xét “Một tình yêu đẹp như

mơ và một kết thúc có hậu ngọt ngào là điển hình bút pháp Dương Thụy - mộtbút nữ nổi tiếng trong giới học sinh, sinh viên qua những tác phẩm đậm chất học

trò.”; Nhà văn Phan Hồn Nhiên với bài viết “Một thế giới dưới nắng mặt trời”

đã có nhận xét: “Cô có sự tự nhiên của người sở hữu các câu chuyện hay cùng

Trang 9

sự tự tin của một người biết rộng và lịch lãm Chính vì không cố ý nên DươngThụy có một giọng văn hồn hậu riêng biệt, một văn phong không thể trộn lẫn.

Và cô dẫn dắt người đọc theo mình đến cùng Càng đọc Dương Thụy, tôi càngtin rằng cô là người kể chuyện giỏi: hài hước, tinh quái, giọng điệu có lúc thảnnhiên tưng tửng rặt chất Sài Gòn, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy buồn buồn, có khiđượm chua xót Quyến rũ độc giả bởi trang văn chân thành, giản dị, nhữngngười như Dương Thụy đang ngày một hiếm hoi trên văn đàn trẻ”

Tóm lại, các bài viết và các công trình nghiên cứu ở trên đều chưa có

sự đề cập đến việc sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và

Dương Thụy Đó chính là lí do để chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đặc

điểm sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy”.

4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi chọn các thành ngữ được sử dụng trongcác tác phẩm của hai nhà văn Hồ Anh Thái và Dương Thụy làm đối tượngnghiên cứu, gồm các truyện:

a Hồ Anh Thái

- SBC là săn bắt chuột, Nxb Trẻ, 2011.

- Đức Phật nàng Savitri và tôi, Nxb Thanh Niên, 2011.

- Mười lẻ một đêm, Nxb Đà Nẵng, 2008.

Trang 10

b Dương Thụy

- Bồ câu chung Mái Vòm, Nxb Trẻ, tp Hồ Chí Minh, 2011.

- Hè của cô bé mất gốc, Nxb Trẻ, tp Hồ Chí Minh, 2011.

- Cáo già, gái già và tiểu thuyết diễm tình, Nxb Trẻ, tp Hồ Chí Minh, 2008.

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của đề tài này là:

- Đi vào khảo sát, thống kê, phân loại số lượng thành ngữ xuất hiệntrong các tác phẩm (xem 3.1) của hai nhà văn Hồ Anh Thái và Dương Đi vàokhảo sát, thống kê, phân loại để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệttrong cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và DươngThụy Từ đó lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt

- Đi sâu vào việc sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Hồ Anh Thái

và Dương Thụy chúng tôi cũng nhằm mục đích tìm hiểu giá trị của cácthành ngữ ấy trong việc biểu đạt tâm lí nhân vật, biểu hiện những nộidung về cuộc sống như thế nào Qua đó khẳng định giá trị của nguồn chấtliệu văn học dân gian khi được đưa vào sử dụng trong thể loại mới của vănhọc hiện đại

- Phân tích và miêu tả đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của thành ngữtrong sự hành chức thể hiện qua lời nhân vật từ ngữ liệu thu thập được

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi chọn sử dụng những phương pháp:

5.1 Phương pháp thống kê phân loại

Chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại các thành ngữ được sử dụng vớingữ cảnh cụ thể trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy Theo kếtquả chúng tôi thu được thì có 388 thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm HồAnh Thái, có 201 thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm Dương Thụy Từ đóchúng tôi phân ra thành các tiểu loại khác nhau để có nhận xét phù hợp

Trang 11

5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Từ nguồn chất liệu đã có từ phương pháp thống kê phân loại, chúng tôitiến hành phân tích cấu tạo, đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và giá trị biểu đạtcủa thành ngữ trong từng ngữ cảnh khác nhau

5.3 Phương pháp so sánh

Chọn sử dụng phương pháp này chúng tôi nhằm hướng đến chỉ ra sựtương đồng khác biệt trong việc sử dụng thành ngữ trong sáng tác Hồ AnhThái và Dương Thụy Mặt khác, chúng tôi cũng tiến hành đối chiếu thành ngữgốc với các thành ngữ được hai tác giả sử dụng để chỉ ra hoạt động hành chức

cụ thể của đơn vị ngôn ngữ này

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái

và Dương Thụy xét trên bình diện ngữ phápChương 3 Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Hồ Anh Thái và

Dương Thụy xét trên bình diện ngữ nghĩa

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Xung quanh vấn đề thành ngữ

1.1.1 Vấn đề nghiên cứu thành ngữ

Bàn về lịch sử nghiên cứu thành ngữ, chúng tôi nhận thấy có khá nhiềucông trình khác nhau Nhìn một cách tổng quát, các công trình ấy đều xoayquanh nghiên cứu các phương diện: Nghiên cứu thành ngữ trên bình diện cấutrúc, bình diện ngữ nghĩa, bình diện thi pháp, bình diện tri nhận, bình diệntriết học, giáo dục

Công trình nghiên cứu về thành ngữ đầu tiên cần phải đề cập đến đó làcác giáo trình từ vựng tiếng Việt Các giáo trình này nghiên cứu khá toàndiện về thành ngữ và đã chỉ ra được những đặc điểm căn bản nhất của thànhngữ trên cơ sở so sánh với từ ghép, cụm từ tự do, tục ngữ…Đó là công trìnhcủa một số tác giả:

Đái Xuân Ninh với Hoạt động của từ tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội,

H, 1978 đã chỉ ra những điểm nổi bật về ý nghĩa của thành ngữ: ý nghĩa củathành ngữ thường không thể giải thích được trên cơ sở của những yếu tố cấuthành Như vậy, chúng ta chưa thể khẳng định mình hiểu được thành ngữ ấynếu như chúng ta mới chỉ hiểu được ý nghĩa của các bộ phận tạo nên thànhngữ Mặt khác, thành ngữ lại luôn gắn liên với điều kiện lịch sử xã hội, mộttập đoàn người nhất định Về hình thức, thì nét nổi bật thường thấy của thànhngữ là tính chất so sánh, vần lưng, tính chất đối xứng, lồng chéo các yếu tố,thay đổi trật tự các thành tố

Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục,

H, 1998) lại căn cứ vào cơ chế cấu tạo để phân biệt thành ngữ, ông chia ra 2nhóm thành ngữ hợp kết và thành ngữ hòa kết Đồng thời tác giả cũng đã chỉ

Trang 13

ra đặc trưng của thành ngữ thông qua việc so sánh với từ ghép và cụm từ tự

do Cũng theo Nguyễn Thiện Giáp thì xét về mặt nội dung, thành ngữ là têngọi gợi cảm - có tính hình tượng của một hình tượng nào đó, có tính hoànchỉnh về nghĩa, biểu thị một khái niệm tồn tại bên ngoài chuỗi lời nói Còn vềcấu tạo ngữ pháp, đa số thành ngữ có quan hệ và cấu trúc đẳng lập Nếu thànhngữ có quan hệ chính phụ thì phần nhiều thuộc loại so sánh Tính phi cú phápcủa thành ngữ thể hiện ở sự đối xứng của các thành tố, đan xen, thay đổi trật

tự và có sự hòa phối thanh điêu Có thể nói đặc điểm này tạo cho thành ngữ

có tính nhạc riêng khi sử dụng

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt,

Nxb ĐHQG, 1996- in lần thứ 2) thì cho thành ngữ (còn gọi là ngữ cố định) làcác cụm từ đã được cố định hóa, có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, cótính xã hội như từ Có thể có những thành ngữ có hình thức cấu tạo là một câuthì nó cũng mang tính tương đương từ về chức năng tạo câu Song, trong quátrình sử dụng, thành ngữ có thể biến đổi tùy vào văn cảnh cụ thể Xét về ngữnghĩa thì thành ngữ có 4 đặc điểm là: tính biểu trưng, tính dân tộc, tính hìnhtượng và cụ thể, tính biểu thái

Trên đây là những công trình nghiên cứu rất căn bản về thành ngữTiếng Việt Các tác giả trên đã đề cập đến những đặc điểm của thành ngữ vàxem xét chúng như là một trong những đơn vị của từ vựng học Họ gặp nhau

ở điểm chung là đều cho rằng: thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ tươngđương từ nhưng lại có những đặc điểm riêng khác biệt với từ về phương diệncấu trúc, về ngữ nghĩa cả khả năng hoạt động của nó Tuy vậy, chưa có tác giảnào nghiên cứu thành ngữ trong hành chức, thể hiện qua lời nhân vật trong tácphẩm văn chương

Thời gian gần đây thì việc nghiên cứu thành ngữ trong các tác phẩmvăn chương được chú ý nhiều hơn Điều này cho thấy các nhà văn đã nhậnthức được những giá trị hết sức đặc biệt của thành ngữ trong việc biếu đạt tâm

Trang 14

lí nhân vật cũng như thể hiện nhiều phương diện về cuộc sống hết sức sinhđộng và hấp dẫn Chúng ta có thể kể đến các bài viết thành công như: Bùi Thị

Thi Thơ (2005), Thành ngữ trong truyện ngắn Chí Phèo, Văn học và Tuổi trẻ,

Số 6; Đặng Thanh Hòa, Thành ngữ và tục ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân

Hương; Đồng Tâm Hội, Vài nét về thành ngữ tiếng Việt và về dịch thuật…

Hoặc trong các công trình khóa luận và luận văn thạc sĩ thì việc nghiên cứu

thành ngữ trong văn chương cũng khá phổ biến: Lê Thị Tú Anh, Cách sử

dụng thành ngữ trong truyện Kiều của Nguyễn Du; Nguyễn Thị Thuý Hoà, Cách sử dụng thành ngữ trong các bài nói bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh;

… Tuy nhiên, những bài nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát vàvận dụng thành ngữ, tục ngữ trong một tác giả cụ thể mà chưa hề có côngtrình nghiên cứu nào có đề tài về so sánh cách sử dụng thành ngữ giữa cácnhà văn một cách toàn diện và có hệ thống

1.1.2 Khái niệm thành ngữ

Thành ngữ là một đơn vị rất đặc biệt của ngôn ngữ Về khái niệmthành ngữ, đã từng tồn tại nhiều quan niệm của các tác giả khác nhau Hầuhết sự không thống nhất giữa các quan niệm là do bản thân đối tượngthành ngữ

Thành ngữ là một hiện tượng phức tạp Nó là một đối tượng ngôn ngữ

đa diện Theo Hoàng Văn Hành: Thành ngữ là một hiện tượng trung gian nằm

ở khu đệm, giữa một bên là từ, thuộc từ vựng, một bên là ngữ, thuộc cú pháp

và một bên nữa là các hiện tượng thuộc văn học dân gian…Vì vậy, thành ngữ

sẽ là đối tượng của các ngành có liên quan như từ vựng học, ngữ pháp học,văn học dân gian Nhưng ngay cả khi thành ngữ được nhiều ngành quan tâmthì việc phân biệt thành ngữ với các đơn vị có liên quan như tục ngữ, cụm từ

tự do, từ và các đơn vị trung gian khác cũng không đơn giản

Mặt khác, các nhà nghiên cứu lại thường xuất phát từ những tiêu chí,những bình diện khác nhau để nhìn nhận những thuộc tính cơ bản của thành

Trang 15

ngữ Với những lí do đó thì đương nhiên sẽ có nhiều quan niệm khác nhau vềthành ngữ.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (2009), thành ngữ là “Cụm từ hay ngữ

cố định, bền vững, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn trọn một ý, một nhận xét như tục ngữ,mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc” [17, 297].

Trong Hoạt động của từ Tiếng Việt tác giả Đái Xuân Ninh cũng đã trình bày quan niệm: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành

đã mất tính độc lập ở cái mức độ nào đó, và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh” [43, 212].

Trong cuốn Vấn đề về cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, Hồ Lê cũng đưa ra một cách hiểu về thành ngữ như sau: “Thành ngữ là những tổ hợp từ

(gồm nhiều từ hợp lại) có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hình tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó” [34, 97].

Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt cho rằng: “Thành

ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm” [16, 12].

Tác giả Hoàng Văn Hành viết: “Thành ngữ là một loại tổ hợp cố định,

bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” [19, 27].

Tóm lại, các nhà nghiên cứu khi bàn về thành ngữ đã cố gắng đưa ranhững khái niệm, những cách hiểu về thành ngữ dựa trên cơ sở phát hiệnnhững đặc điểm thuộc tính của nó Trên cơ sở những ý kiến khác nhau củacác nhà nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về thành ngữnhư sau:

Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định, có cấu trúc bền vững, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa và sử dụng tương đương với từ.

Trang 16

1.1.3 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ

Việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ luôn được các nhà nghiên cứuquan tâm Song, để xác định rõ được ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ làđiều không đơn giản Tác giả Dương Quảng Hàm là người đầu tiên quan tâm

đến vấn đề này Trong cuốn sách Việt Nam văn học sử yếu, ông cho rằng “một

ìcâu tục ngữ tự nó có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì.Còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dụng để ta diễn đạt ý gì hoặc mô

tả điều gì cho nó màu mè” Sau đó một số nhà nghiên cứu văn học dân giancũng đã chú ý nghiên cứu phân biệt hai đơn vị này trong các công trình như

Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb KHXH, H.,1978 của Vũ Ngọc Phan.

Theo tác giả: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý một nhận xét,

một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn,nó là một bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn” Đồng thời,

trong cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam tác giả Nguyễn Lân cũng

đã cố gắng phân biệt thành ngữ và tục ngữ Ông cho rằng:

Thành ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm.

Thí dụ: ăn sổi ở thì, ba vuông bảy tròn, cơm sung cháo giền, nằm sương gối

đất Tác giả chỉ chọn những thành ngữ có 3 từ trở lên và những thành ngữ có

hai từ là từ ghép.

Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn, nói lên hoặc

một nhận xét về tâm lí, hoặc một lời phê phán, khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm nhận thức tự nhiên hay xã hội…Thí dụ:

Đồng tiền đi liền khúc ruột; trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay; ở hiền thì gặp lành; chết trong còn hơn sống đục; đói cho sạch rách cho thơm; bỡn quá hóa thật; gió heo may chuồn chuồn bay thì bão…

Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về từ vựng tiếng Việt như cuốn

Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐH và THCN, H., 1976 của tác giả

Trang 17

Nguyễn Văn Tu [54] hay đứng ở góc độ ngôn ngữ cũng đã cố gắng phân biệtthành ngữ tục ngữ và một số đơn vị văn học dân gian khác Tác giả Đỗ Thị

Kim Liên trong cuốn Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa - ngữ dụng

[36] cũng đã đề cập đến vấn đề phân biệt thành ngữ và tục ngữ

Theo chúng tôi, có thể căn cứ vào các tiêu chí cơ bản sau để phân biệthai đơn vị ngôn ngữ này, đó là tiêu chí hình thức, cấu trúc, chức năng, ngữnghĩa và đích tác động

Trước hết, xét về tiêu chí hình thức ta thấy sự khác nhau thể hiện rõ

nhất ở số lượng âm tiết: Tục ngữ có số lượng chủ yếu là 6 âm tiết, loại nhiềunhất là 23 âm tiết Thành ngữ có cả 3 âm tiết, nhưng chủ yếu là 4 âm tiết

Trong tổng số 478 thành ngữ (cuốn Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ) mà Hoàng

Văn Hành đi sâu phân tích thì có 243 thành ngữ 4 âm tiết, chiếm 43,7% Còn

trong 9000 tục ngữ (cuốn Tục ngữ chọn lọc của Vương Trung Hiếu) thì số

lượng câu tục ngữ 6 âm tiết trở lên là 6643 câu, chiếm 66,4%

Tiêu chí cấu trúc thể hiện trước hết ở tính chất quan hệ trong nội bộ

các thành tố: Trong thành ngữ giữa các thành tố có quan hệ cố định chặt chẽnên các khả năng cải biến, thêm thành tố, tỉnh lược thành tố hạn chế Ngượclại, trong tục ngữ, giữa các thành tố có quan hệ tự do nên có thể chuyển một

số thành tố, thêm thành tố, hoặc tỉnh lược các thành tố khi có sự bù đắp củacác phương tiện khác trong những ngữ cảnh cụ thể

Tiêu chí chức năng thể hiện rõ nhất ở sự tham gia với tư cách là đơn

vị cấu thành trong hệ thống ngôn ngữ Thành ngữ khác với tục ngữ khôngchỉ thể hiện trên trục ngang (trục tuyến tính) mà còn thể hiện trên trục tôn

ti tầng bậc (trục doc) - trục hệ thống gắn với chức năng của mỗi đơn vị khitham gia vào hệ thống Đó là khi trong sử dụng, ta gặp hiện tượng thành

ngữ trở thành thành tố trong cấu tạo của tục ngữ, như: mặt chữ điền nhưng tiền không có, cơm hàng cháo chợ ai lỡ thì ăn, đẹp như tiên lo phiền cũng xấu, gặp chồng đần xỏ chân lỗ mũi…Ở những trường hợp này, thành ngữ là

Trang 18

cụm từ cố định, có giá trị tương đương từ (bậc dưới xét về cấp độ trong hệthống ngôn ngữ), thực hiện chức năng cấu tạo, còn tục ngữ lại tồn tại với tưcách là câu (bậc trên) hướng đến chức năng thông báo, có tác động đếnngười nghe.

Tiêu chí ý nghĩa cũng được xem là tiêu chí rất quan trọng để căn cứ

vào đó để phân biệt thành ngữ với tục ngữ Thành ngữ, lúc đầu, được hìnhthành do cụm từ tự do, lâu dần thành cố định nên mang nghĩa bóng, nghĩakhái quát, toát lên từ toàn khối chứ không phải nghĩa của từng thành tố riêng

lẻ Do đó, nghĩa của thành ngữ là nghĩa từ điển, nghĩa định danh (một sự vật,một trạng thái, một quá trình, một thuộc tính) Nghĩa của tục ngữ thườngthuộc một trong ba nhóm nghĩa: nghĩa đen, nghĩa bóng và đa nghĩa Nhữngnghĩa này được nhận diện dựa vào ngữ cảnh sử dụng cụ thể, phản ánh mộtkiểu quan hệ

Tiêu chí tác động thể hiện ở chỗ thành ngữ tác động đến người nghe

một khi nó được vận dụng vào trong lời nói, là một bộ phận cấu thành lờinói tương đương từ Do đó, ở khía cạnh này không thể khẳng định thànhngữ tác động đến người nghe trực tiếp hay gián tiếp Chúng ta thử xét ví dụ:

mất bò mới lo làm chuồng là tục ngữ, nhưng khi dựa vào đích tác động,

chúng chưa thể hiện là tác động trực tiếp hay gián tiếp Khi đặt trong văn

cảnh: Anh ta thật không biết tính toán, cứ mất bò mới lo làm chuồng thì

chúng ta mới hiểu được đích tác động của đơn vị này Tục ngữ lại được chiathành hai nhóm:

a) Nhóm có đích tác động trực tiếp (nhóm tục ngữ nói lên kinh nghiệm

về thời tiết, kinh nghiệm sản xuất: tháng bảy mưa gãy cành trám, ăn kĩ no lâu

cày sâu tốt lúa, nắng tốt dưa mưa tốt lúa…).

b) Nhóm có đích tác động gián tiếp như: người sống về gạo, cá bạo về nước, có an cư mới lạc nghiệp…

Trang 19

Hướng tác động của các tục ngữ mà chúng tôi đề cập ở trên là hướngtới người nghe, người tiếp nhận (đối tượng tiếp nhận) chứ không phải là đốitượng sử dụng tục ngữ ấy.

1.1.4 Về việc sử dụng thành ngữ trong tác phẩm văn chương

Theo cách hiểu thông thường thì thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định,

bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ Trong lời ăn

tiếng nói của nhân dân, nó rất gần gũi với mọi phương diện của đời sống Nhưngkhông phải trong cuộc sống ai cũng biết dùng thành ngữ, trang bị cho mình vốnthành ngữ để lời nói trở nên hài hòa sinh động Đặc biệt trong sáng tác, nó thuộc

về sự am hiểu, thâm nhập cuộc sống và sự giàu có ngôn từ của nhà văn

Trước hết xin được đề cập đến tác giả Nguyễn Du với tác phẩm

“Truyện Kiều” Có thể thấy một trong những lí do làm người đọc cảm nhận ngôn ngữ trong “Truyện Kiều”đậm chất dân gian, gần gũi với đời sống hàng

ngày là nghệ thuật sử dụng tiếng nói quần chúng của đại thi hào qua biệt tàivận dụng thành ngữ, thành ngữ Có lẽ trong lịch sử thi ca của ta từ xưa đếnnay, khó tìm được một tác phẩm nào mà thành ngữ, tục ngữ xuất hiện nhiều

như trong “Truyện Kiều” Theo sự thống kê của chúng tôi, trong “Truyện

Kiều”, Nguyễn Du đã sử dụng thành ngữ, tục ngữ, châm ngôn khoảng 180

lần Có những đoạn thơ, đại thi hào cho thành ngữ, châm ngôn xuất hiện gầnnhư lien tục trong các câu thơ Đây là đoạn nói về ý nghĩ của Hoạn Thư:

Làm cho trông thấy nhãn tiền Cho người thăm ván bán thuyền biết tay

Nỗi lòng kín chẳng ai hay Ngoài tai để mặc gió bay ra ngoài.

Chỉ trong 4 câu lục bát ta thấy xuất hiện tới ba thành ngữ: “Trông thấy

nhãn tiền”, “Thăm ván bán thuyền” và “Gió để ngoài tai”.Hay ở trong 4 câu

lục bát khác:

Trang 20

Nghĩ đà bưng kín miệng bình Nào ai có khảo mà mình lại xưng

Nghĩ là e ấp dùng dằng Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.

Cũng có tới sự xuất hiện của 3 thành ngữ: “kín như hũ nút”, “không

khảo mà xưng”, “rút dây động rừng” Đây là những ví dụ tiêu biểu cho thấy

sự xuất hiện với số lượng lớn của thành ngữ trong “Truyện Kiều”.

Với tài năng nghệ thuật hết sức uyên bác, đại thi hào dân tộc Nguyễn

Du có cách sử dụng thành ngữ rất linh hoạt Đa phần các thành ngữ được giữnguyên, đưa vào làm một phần của câu thơ mà câu thơ vẫn giữ được vẻ tự

nhiên như “mạt cưa mướp đắng” trong câu “Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”; “bỉ sắc tư phong” trong câu “Lạ gì bỉ sắc tư phong”, “làn thu thủy”

trong câu “Làn thu thủy nét xuân sơn” Mặt khác, cũng có không ít câu thành

ngữ được giữ lấy ý nhưng thay đổi cách diễn đạt Ví dụ như: Chật như nêm (Trong nhà người chật như nêm); Giấm chua, lửa nồng (Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng); Trong ấm ngoài êm (Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm);

Khuất mặt, cách lòng (Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng); Kiếp tằm vương

tơ (Con tằm đến thác hãy còn vương tơ); Kẻ cắp bà già (Phen này kẻ cắp bà

già gặp nhau); Cá chậu chim lồng (Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi); Kiến

bò miệng chén (Kiến bò miệng chén đi đâu)…

Không chỉ Nguyễn Du mà các tác giả khác như Nam Cao, NguyênHồng, Ngô Tất Tố, Ma Văn Kháng…cũng đã chọn sử dụng các thành ngữtrong tác phẩm của mình và đạt được hiệu quả nghệ thuật hết sức độc đáo.Đặc biệt, Nam Cao đã sử dụng số lượng thành ngữ dày đặc trong tác phẩm

“Chí Phèo” “Chí Phèo” là truyện ngắn có dung lượng một truyện vừa và qui

mô hình tượng, không gian, thời gian của một tiểu thuyết Song, dù truyệnngắn hay vừa thì điều rất đáng lưu ý là: trong 37 trang sách, xuất hiện tới 47

Trang 21

thành ngữ Đây là con số không câm lặng mà có giá trị biểu đạt sâu sắc về nộidung và giá trị nghệ thuật sâu sắc

Trong truyện ngắn “Chí Phèo”, từ kẻ thống trị đến kẻ bị trị, từ kẻ

khôn róc đời đến người đần nhất làng Vũ Đại, từ kẻ tỉnh cho đến kẻ say…nhân vật nào cũng biết dùng thành ngữ Đặc biệt là nhân vật Bá Kiến - sửdụng tới 25 thành ngữ Nhân vật nào tromg truyện dùng thành ngữ ngay cảtrong lời trần thuật Chúng ta cũng biết rằng thành ngữ là nơi tập trung caonhất cách sử dụng từ ngữ có hình ảnh của người Việt, nó mang ý nghĩa biểutrưng đằng sau cấu trúc hài hòa đăng đối Đó là đặc điểm gần với tục ngữ

Sử dụng với tần suất cao các thành ngữ, văn Nam Cao mang đầy sự chiêmnghiệm triết lí Và khuynh hướng triết lí là một trong những yếu tố làm nênphong cách Nam Cao

Thành ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động Đi vào nghệ thuậtngôn từ, nó cho thấy sự am hiểu sâu sắc của nhà văn đối với cuộc sống củangười lao động, nó góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ tác giả Mặt khác,thành ngữ còn là nơi thể hiện tập trung mối quan hệ đặc biệt, quan hệ ngônngữ - văn hóa - tư duy

Hai tác giả Hồ Anh Thái và Dương Thụy cũng đã sử dụng một sốlượng khá lớn thành ngữ trong tác phẩm của mình Theo sự thống kê củachúng tôi thì có tới hơn 400 thành ngữ được sử dụng trong các tác phẩm:

“ĐứcPhật nàng Savitri và tôi”; “Mười lẻ một đêm”; “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái và có 198 thành ngữ trong các tác phẩm: “Bồ câu chung

mái vòm”; “Hè của cô bé mất gốc”; “Cáo già gái già và tiểu thuyết diễm tình” của Dương Thụy Có thể thấy đây là một số lượng thành ngữ có sự đóng

góp không nhỏ trong việc thể hiện tâm trạng nhân vật cũng như thực hiệnnhững dụng ý nghệ thuật khác nữa của mỗi tác giả trong riêng từng tác phẩm

Tóm lại, thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ rất gần gũi với lời ăn tiếngnói của nhân dân lao động Song, thực tế thì giá trị biểu đạt của thành ngữ chỉ

Trang 22

thực sự được phát huy triệt để trong các sáng tác văn chương nghệ thuật Bởi

lẽ các tác phẩm văn chương ấy đã được các nhà văn trau gọt rũa ngôn từ, cácthành ngữ được sử dụng cũng đã có sự chọn lọc rất tinh tế Từ đó, các thànhngữ từ việc chỉ là những đơn vị giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày nay đãtrở thành các yếu tố nghệ thuật hết sức đặc sắc trong các tác phẩm vănchương Ở đây, thành ngữ được khai thác triệt để nhất, tạo được giá trị nghệthuật thực sự độc đáo

1.2 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Anh Thái

và Dương Thụy

1.2.1 Về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Anh Thái

Hồ Anh Thái là một tác giả khá tiêu biểu cho nền văn học sau đổi mới

- được đánh giá là nhà văn còn rất trẻ nhưng năng lực sáng tạo đã khá dồi dào.Ông sinh ngày 18/10/1960 Quê gốc của nhà văn là xã Quỳnh Đôi, huyệnQuỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Nhưng hiện tại nhà văn đang ở tại Quận Hai BàTrưng, Hà Nội Hồ Anh Thái là Hội viên hội nhà văn Việt Nam (1988) Ông

là Tiến sĩ văn hóa Phương Đông, cử nhân ngành Quan hệ quốc tế

Ở cái tuổi chưa đến ngũ thập, thế nhưng Hồ Anh Thái đã là một trongnhững tác giả viết nhiều nhất trong vòng hơn 20 năm nay với gần 30 đầusách Các tác phẩm tiêu biểu đã xuất bản:

1985: Chàng trai ở bến đợi xe (tập truyện ngắn, in chung)

1986: Vẫn chưa tới mùa đông (tiểu thuyết)

1987: Người và xe chạy dưới ánh trăng (tiểu thuyết)

1988: Người đàn bà trên đảo (tiểu thuyết)

1990: Trong sương hồng hiện ra (tiểu thuyết)

1993: Mảnh vỡ của người đàn ông (tập truyện)

1995: Người đứng một chân (tập truyện ngắn)

1995: Lũ con hoang (tập truyện ngắn)

Trang 23

2007: Mười lẻ một đêm (tiểu thuyết).

2008: Namskar - xin chào Ấn Độ (tập truyện)

2009: Cõi người rung chuông tận thế (tiểu thuyết)

2010: Đức Phật nàng Savitri và tôi (tiểu thuyết)

2011: SBC là săn bắt chuột (tiểu thuyết)

- Giải thưởng truyện ngắn 1984-1984 của báo Văn nghệ

- Giải thưởng văn xuôi 1986-1990 của Hội Nhà văn Việt Nam và TổngLiên đoàn Lao động Việt Nam

- Giải thưởng văn học 1995 của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuậtViệt Nam

Giữa thời buổi “người khôn của khó”, sách in 1000 bản còn lay lắt, HồAnh Thái vẫn “sống khỏe”, “sống tốt” nhờ những cuốn best - seller…Nhữngtác phẩm ấy đã khẳng định tên tuổi cũng như định hình rõ phong cách nghệthuật tác giả Hệ thống nhân vật trong tác phẩm của ông có những nét rấtriêng biệt Nhà văn có lần đã nói về các nhân vật của mình: “Các nhân vật củatôi không có người hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu Ngay cả khi giễu nhạithì tôi cũng thấy trong đối tượng có cả hình bóng của chính mình và ngườithân của mình Không thể có chuyện vô can theo kiểu: “Chắc là nó trừ mìnhra!” Một số độc giả phản ứng có lẽ họ chỉ thấy tôi phê phán người đời màkhông đọc ra được cái chất tự giễu nhại của chính tôi Dù sao đi nữa, nếu đểcho độc giả hiểu nhầm thì lỗi đầu tiên vẫn là của tác giả”

Từng quan niệm tiểu thuyết là một giấc mơ dài, với những điều mà đời

thực không có, và không chịu chỉ dùng một phương pháp hiện thực thuần túy

để đạt tới giấc mơ dài của mình, Hồ Anh Thái trong một thập kỉ qua, đã đạt

được những thành tựu đáng kể trong lao động viết tiểu thuyết nhọc nhằn của

một nhà văn thực sự coi viết là một nghề Giấc mơ dài ấy hầu hết được hiển thị trong các tiểu thuyết của ông như: Mười lẻ một đêm, Cõi người rung

chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột, Đức Phật nàng Savitri và tôi…Và sự

Trang 24

thực ta thấy giấc mơ ấy gần như được đã được thực hiện theo một cách độcđáo và bằng tài năng thực thụ của một người đi nhiều, biết nhiều và cũngnhiều trải nghiệm.

Hồ Anh Thái đã từng phát biểu: “Nhà văn đích thực phải là người tử

tế” Mặc dầu ông đã vào Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, lại còn là

Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội nhưng theo ông thì “làm nhà văn thuần túy là

sướng nhất, ta có thể tùy thích ngồi viết suốt ngày chứ không phải chỉ có trích

ra vài ba tiếng đồng hồ như bây giờ Nhưng một khi được hội viên tin cậy

“bắt ra” làm quản lí hội, thì cũng cần phải hi sinh, phải biết làm cái việc của một ông từ giữ đền, dọn dẹp cho sạch sẽ để thiện nam tín nữ ra vào ngôi đền văn học mà họ giao cho mình coi sóc”(Theo Ngọc Lan, Thể thao và văn hóa,

15-4-2006) Quan niệm này cho thấy nhà văn có nguyện vọng được toàn tâmtoàn ý với nghề viết

Khi cầm bút viết văn, đã có thời văn nghệ sĩ của chúng ta phải day dứtgiữa miếng cơm manh áo với lí tưởng nghề nghiệp: “Cơm áo không đùa vớikhách thơ” Nhà văn Hồ Anh Thái khi được hỏi về ý nghĩa tiền bạc - danhvọng - địa vị có ý nghĩa như thế nào với một nhà văn ông đã bộc bạch thực

lòng mình: “Một người bạn thân của tôi đột tử ở tuổi 49 và tôi luôn nhớ đến

chị ấy như một lời tự răn: ai cũng nên sống như thể có thể đột tử bất cứ lúc nào, khi đã lăn quay ra rồi thì mọi sự thành vô nghĩa - mặc kệ anh viết được bao nhiêu cuốn sách, mặc kệ anh có bao nhiêu miếng đất, bao nhiêu ngôi nhà, cấp bậc danh tiếng của anh thế nào, anh đã tốn công bươn trải tranh giành ra sao…Chỉ còn một cách: trước khi đột tử, ta hãy sống tử tế với mọi người và hãy sống cả cho chính mình nữa, đừng tự biến mình thành cái máy chỉ biết công việc, chỉ biết kiếm tiền, chỉ biết làm công cụ”.(Theo Ngọc Lan, Thể thao và văn hóa, 15-4-2006) Vậy là theo nhà văn, mỗi người nên sống

tốt trước khi quá muộn, và cũng phải biết sống cho mình nữa

Trang 25

Có ai đó đã từng gán cho nhà văn cái mác “lương tâm của nhân

loại”-tức là nói đến vấn đề lương tâm của người cầm bút phải có trách nhiệm với

con người nói chung Về vấn đề này, Hồ Anh Thái cho rằng: “nhà văn đích

thực phải là người tử tế, nhưng không thể nói là “hơn” hay “kém” những người khác Cũng giống như nghề văn là một nghề cao quí, nhưng không thể nói nó cao quí hơn nghề khác được Còn những cái khác, những danh hiệu thì…hãy coi chừng! Không khéo chỉ vì những thứ ấy mà bệnh ảo tưởng của nhà văn càng nặng đấy” (Theo Ngọc Lan, Thể thao và văn hóa, 15-4-2006).

Trên thực tế thì những sáng tác của ông đã là những minh chứng cho quanniệm trên - quan niệm rất đúng đắn về nghề viết

Tóm lại, Hồ Anh Thái là nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn họcsau đổi mới Năm nay nhà văn đã bước vào tuổi năm mươi Dư luận ghi nhận

đây là nhà văn lúc nào cũng đang viết Ba mươi năm viết với hơn 30 đầu sách

đã xuất bản cho thấy sức sáng tạo hết sức dồi dào Bây giờ nhìn nhận hiệntượng văn chương Hồ Anh Thái, thiết nghĩ, nhà văn đã và đang tiếp tục sángtác những tác phẩm chứa đựng nhiều phẩm chất văn hóa

1.2.2 Về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Dương Thụy

Dương Thụy là một tác giả mới song lại rất nhanh chóng trở nên thânquen, gần gũi với bạn đọc nhiều thế hệ, đặc biệt là với giới trẻ Dương Thụysinh năm 1975 tại Sài Gòn Dương Thụy là Cử nhân văn chương Pháp (Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM), Thạc sĩ Quản trị kinh doanh(Đại học Liege - Vương quốc Bỉ) Hiện nay là Giám đốc Truyền thông- Đốingoại của tập đoàn dược phẩm Sanofi - Aventis tại Việt Nam

Các tác phẩm đã xuất bản của Dương Thụy:

- Dấu lặng trong điệp khúc - 1997

- Người thổi kèn - 1999

- Hai người đến từ phương xa - 2002

- Con gái Sài Gòn - 2003

Trang 26

- Cắt đuôi - 2004

- Bồ câu chung mái vòm - 2004

- Hành trình của những người trẻ -2005

- Oxford thương yêu - 2007

Các giải thưởng văn học:

- 1999: Giải nhì, “Hương đầu mùa”, Báo Sinh viên VN- Hoa học trò

- 2004: Giải nhì, “Truyện ngắn hay 2004”, Báo tiếp thị Gia Đình

2005: Giải ba, “Văn học Tuổi hai mươi” lần 3, Hội Nhà văn TP.HCM NXB Trẻ - Báo Tuổi trẻ

-Thông qua những sáng tác của nhà văn, chúng ta có thể thấy rõ đâychính là một trong những cây bút tiêu biểu của thế hệ trẻ “100% TP.HCM”

Nhà văn đã từng tâm sự trong lời cuối của cuốn “Hè của cô bé mất gốc”: “Dù

cuộc sống trở nên bận rộn hơn, tôi luôn cố gắng sắp xếp thời gian để tiếp tục viết Và dù đã qua thời học trò, qua thời cắp sách đến trường, qua thời “sáng nắng chiều mưa” của tuổi teen, tôi nhận ra rằng: tôi thành công nhất khi viết

về lứa tuổi đẹp này Thông qua những truyện ngắn của mình, tôi muốn truyền đến các độc giả nhỏ tuổi một cuộc sống hồn nhiên vô tư lự, một bến bờ hạnh phúc vì được gia đình che chở, một hi vọng lớn lao vì thầy cô luôn ủng hộ Có thể đâu đó trong những câu chuyện của tôi, vẫn có những nốt nhạc buồn, những ánh mắt thất vọng, những tiếng thở dài day dứt Nhưng tôi muốn độc giả hiểu rằng cuộc đời là một món quà, chúng ta hãy trân trọng và tận hưởng mọi cơ hội cuộc đời đưa đến Hoặc nếu ai đó than phiền “Tôi nhận quà không xứng đáng”, hãy tự tạo cơ hội cho chính mình thông qua các hành động tích cực” Điều đặc biệt là hầu hết các câu chuyện của Dương Thụy đều

kết thúc có hậu Và nhà văn nhắn nhủ một thông điệp ý nghĩa đến với mọingười: Chúng ta làm chủ cuộc đời mình Đây là điều hết sức ý nghĩa để chúng

ta suy ngẫm và tìm cách để cho cuộc sống tốt đẹp hơn

Trang 27

Văn phong của Dương Thụy có những điều hết sức đặc biệt, rất độc

đáo Nhà văn Phan Hồn Nhiên đã có nhận xét: “ Hài hước, tinh quái,giọng

điệu có lúc thản nhiên tưng tửng rặt chất Sài Gòn, nhưng ngẫm kĩ, lại thấy buồn buồn, có khi đượm chua xót Quyến rũ độc giả bởi trang văn chân thành, giản dị, những người như Dương Thụy đang ngày một hiếm hoi trên văn đàn trẻ”.

Ngay cả ở những trang kí, Dương Thụy vẫn khẳng định phong cách rất

rõ ràng Có ai đó còn bi quan khi nhìn đời, cho rằng cuộc đời còn nhiều người

xấu thì hãy đọc Dương Thụy: “Những trang viết dịu dàng và sâu lắng của

Dương Thụy lại thúc giục tôi lên đường hơn bao giờ hết Vì như Dương Thụy

đã kể, sau những chuyến phiêu liêu cô luôn ấm lòng nhận ra thế giới này người tốt luôn nhiều hơn kẻ xấu” Những trang viết hết sức tự nhiên và chân

thành của cô như thắp sáng hơn niềm tin của con người vào cuộc sống này

Đó là điều thật cần thiết khi cuộc sống hiện đại có nhiều lúc làm cho người tacòn bi quan hay nhầm lẫn nhiều giá trị với nhau

Có thể thấy rằng: Với mỗi nhà văn thì việc đi nhiều là một điều rất cầnthiết để có được những trang viết giàu thông tin, mang hơi thở thực sự củacuộc sống Đối với Dương Thụy thì đây là một lợi thế Bởi lẽ Dương Thụytừng là một người làm báo năng động và giàu kinh nghiệm, rồi chuyển sanglĩnh vực quan hệ công chúng, Dương Thụy biết sắp đặt vào tác phẩm củamình một trữ lượng thông tin đáng kể Lướt qua những chi tiết bề mặt trênhầu hết các tác phẩm của Dương Thụy, người đọc sẽ ghi nhận trong cáctruyện ngắn của Dương Thụy đang hiện ra dạng nhân vật mới, với kiểu tâmtrạng chưa từng hiện diện trước đây: Những người trẻ hiện đại dám chấpnhận áp lực cuộc sống và công việc, dám sống và nghĩ theo cách riêng, biếtcách hóa giải thử thách để bước lên nấc thang thành đạt Nhưng ở một ngócngách sâu kín, những người trẻ ấy vẫn lộ chút gì yếu ớt, thiết tha được coisóc và thương yêu

Trang 28

Dương Thụy không bận tâm nhiều bởi kĩ thuật hay thủ pháp văn chương.

Cô có sự tự nhiên của người sở hữu các câu chuyện hay cùng sự tự tin của một

người biết rộng và lịch lãm Theo nhà văn Phan Hồn Nhiên thì: “Chính vì

không cố ý, nên Dương Thụy có một giọng văn hồn hậu riêng biệt, một phong cách không thể trộn lẫn Và cô dẫn dắt người đọc theo mình đến cùng”.Với

những đóng góp không nhỏ cho nền văn học sau đổi mới, cũng chính nhà văn

Phan Hồn Nhiên cũng đã nhận định về Dương Thụy như sau: “Làm việc liên

tục, ham mê viết nhiệt thành, Dương Thụy đã vượt lên danh xưng cây bút trẻ

để trở thành một nhà văn ở đúng nghĩa đẹp nhất của danh từ này”.

1.3 Tiểu kết chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã đi vào tìm hiểu những tiền đề lí thuyếtliên quan đến đề tài để làm cơ sở cho việc khảo sát thành ngữ trong một số tácphẩm của hai nhà văn Hồ Anh Thái và Dương Thụy Đó là các nội dung: Lịch

sử vấn đề, khái quát về thành ngữ, vài nét về cuộc đời và sự nghiệp vănchương của Hồ Anh Thái và Dương Thụy

Về lịch sử vấn đề, chúng tôi tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về thành ngữnói chung và sau đó thì tìm hiểu lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩmcủa Hồ Anh Thái và Dương Thụy Về lịch sử nghiên cứu thành ngữ nói chung

chúng tôi lưu ý nhất là các giáo trình từ vựng tiếng Việt như “Hoạt động của

từ tiếng Việt” (Đái Xuân Ninh), “Từ vựng học tiếng Việt” (Nguyễn Thiện

Giáp), “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” (Đỗ Hữu Châu) Các tác giả gặp nhau

ở điểm chung là đều cho rằng: thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ tươngđương từ nhưng lại có những đặc điểm riêng khác biệt với từ về phương diệncấu trúc, về ngữ nghĩa và cả khả năng hoạt động của nó Song, thực tế thìchưa có tác giả nào nghiên cứu thành ngữ trong hành chức, thể hiện qua lờinhân vật trong tác phẩm văn chương

Về nội dung khái quát của thành ngữ chúng tôi tập trung tìm hiểu banội dung là: khái niệm thành ngữ, phân biệt thành ngữ và tục ngữ, việc sử

Trang 29

dụng thành ngữ trong tác phẩm văn chương Mục tiêu mà chúng tôi hướngđến là vấn đề sử dụng thành ngữ trong tác phẩm văn chương, từ đó tạo cơ sở

để tìm hiểu thành ngữ sử dụng trong tác phẩm cụ thể của Hồ Anh Thái vàDương Thụy

Về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Anh Thái và DươngThụy, chúng tôi đi vào tìm hiểu những nét chính về những sáng tác của haitác giả cũng như nét đặc trưng phong cách hay đóng góp riêng có của họ chovăn học nước nhà Đặc biệt trong luận văn này chúng tôi tập trung nghiên cứuđóng góp lớn nhất của của họ về việc sử dụng thành ngữ trong tác phẩm tạonên những giá trị nghệ thuật hêt sức độc đáo, hấp dẫn

Trang 30

Chương 2 CÁCH SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA HỒ ANH THÁI VÀ DƯƠNG THỤY

Khảo sát thành ngữ qua một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Hồ Anh

Thái: SBC là săn bắt chuột (2011), Mười lẻ một đêm (2007), Đức Phật nàng

Savitri và tôi (2010) và Bồ câu chung mái vòm (2011), Hè của cô bé mất gốc(2011), Cáo già gái già và tiểu thuyết diễm tình(2009) của Dương Thụy

chúng tôi có được bảng thống kê chi tiết như sau:

Bảng 2.1 Bảng thống kê thành ngữ xuất hiện trong tác phẩm

của Hồ Anh Thái và Dương Thụy

Tác phẩm Tác giả Số lượt Số trang Tỉ lệ tính trên

trang văn bản

Đức Phật nàng Savitri

Cáo già gái già và tiểu

Trang 31

Nhìn vào bảng thống kê, chúng ta thấy tần số sử dụng thành ngữ trongcác tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy khá cao Điều này cho thấyvấn đề sử dụng thành ngữ ở hai nhà văn không phải là cảm hứng chợt đến mà

nó là một tín hiệu nghệ thuật ổn định trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.Chắc chắn hai nhà văn đã ý thức được những giá trị nghệ thuật mà thành ngữmang lại khi được sử dụng phù hợp trong tác phẩm văn chương hiện đại Chonên vấn đề chúng tôi quan tâm không đơn giản chỉ ở tần số sử dụng thành ngữ

mà còn là ở giá trị thẩm mỹ, giá trị biểu đạt, sự thể hiện của phong cách nhàvăn, quan niệm của nhà văn thông qua đó

Trước hết chúng ta xét trường hợp của nhà văn Hồ Anh Thái: khảo sát

1131 trang văn chúng ta thấy xuất hiện 359 thành ngữ với 388 lượt xuất hiện.Đây là con số không nhỏ, nó cho thấy thành ngữ trong tác phẩm của Hồ AnhThái có vai trò rất quan trọng trong việc thể hiện nội dung tác phẩm cũng nhưbiểu hiện tâm trạng các nhân vật Trong đó có 316 thành ngữ nguyên thể(chiếm 81,44%), 43 thành ngữ biến thể (chiếm 18,56%) Qua đó chúng tathấy Hồ Anh Thái sử dụng thành ngữ nguyên thể là chủ yếu Song, Hồ AnhThái sử dụng thành ngữ rất linh hoạt, sáng tạo, tạo nên các biến thể với cácdạng chủ yếu: thêm, bớt một số yếu tố trong thành ngữ; thay thế một hay một

số yếu tố trong thành ngữ hoặc sử dụng hình ảnh được gợi từ một hay một vàithành tố của thành ngữ Chẳng hạn như:

(1) Sao mà chậm quá Bệnh viện thượng lưu Bác sĩ nhân viên cũngtoàn là bốn xê, năm xê, con cháu các cụ cả Thế lực lắm mới tốt nghiệp

trường y mà xin được vào đây Cành vàng chăm sóc lá ngọc

(II, tr.260)

(2) Phải giở trò tán tỉnh galăng thì mới được một cô mê giai cắn câu

(II, tr.215)(3) Chẳng phải bỗng dưng ta hỏi ngươi về hệ thống đẳng cấp Đẳngcấp nhiều khi thay cho pháp luật Nó giữ cho những kẻ không chịu bằng lòng

Trang 32

với thân phận mình phải ở yên vị trí tiền định Công là công mà cú là cú Cú

không thể mượn lông công Cáo không thể mượn oai hùm.

(III, tr.63)

Những thành ngữ gốc như Lá ngọc cành vàng, Cá đã cắn câu, Cáo giả

oai hùm đã được nhà văn thêm từ, bớt từ hoặc thay thế từ để tạo nên các thành

ngữ biến thể diễn đạt những nội dung gần như tương tự với thành ngữ gốcnhưng thể hiện được dụng ý nghệ thuật riêng

Đối với Dương Thụy, khảo sát 691 trang văn chúng ta thấy xuất hiện

201 thành ngữ Trong đó có 186 thành ngữ nguyên thể (chiếm 92,53%), có 15thành ngữ biến thể (chiếm 7,46%) Như vậy, cũng như Hồ Anh Thái, DươngThụy cũng đã chọn sử dụng thành ngữ nguyên thể là chủ yếu Bên cạnh đó thìnhà văn đã rất khéo léo sử dụng các thành ngữ gốc để tạo nên những biến thểthành ngữ có giá trị biểu hiện rất thú vị:

(4) Anh lại nhún vai, khinh khỉnh cười Chưa kịp tốt nghiệp anh lo làmgiấy tờ đi du học và quyết định nghỉ ngang Anh chê chương trình học ở ViệtNam trì trệ Rốt cuộc hồ sơ đi Pháp trục trặc, anh cuống cuồng thế nào chui

đầu qua Đức trong lúc không có một chữ Đức bẻ đôi

(IV, tr.8)(5) Nhưng anh vẫn chưa có bằng cấp gì hết, về nhìn bạn bè làm sao!

Anh Huy đưa tay đẩy tôi vào xe - Nhỏ ơi! Dù ở đây anh không thành công,

nhưng ít ra anh cũng thành…gà! Em cứ lo việc học của em đi!

(IV,tr.17)

(6) Lâu lắm rồi Vi không gặp Phong Cô bận học bù đầu còn anh bận

làm bù cổ.

(IV, tr.29)

Từ những thành ngữ nguyên thể Một chữ cắn đôi không biết, Không

thành công ít ra cũng thành nhân, Bù đầu bù cổ nhà văn đã tạo nên những

Trang 33

biến thể thành ngữ rất độc đáo, biểu hiện được những nội dung theo dụng ýnghệ thuật của tác giả.

Tóm lại, hai nhà văn Hồ Anh Thái và Dương Thụy đã sử dụng thànhngữ nguyên thể là chủ yếu trong các tác phẩm của mình Mặt khác, hai tác giảcũng đã có những sáng tạo linh hoạt để tạo ra những biến thể thành ngữ, đưađến những giá trị biểu đạt, tạo nên hiệu quả cao trong việc thể hiện nội dungtác phẩm

2.1.2 Cấu tạo của thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy

2.1.2.1 Thành ngữ nguyên dạng trong tác phẩm của Hồ Anh Thái

và Dương Thụy

Qua khảo sát chúng ta thấy Hồ Anh Thái và Dương Thụy sử dụngthành ngữ nguyên thể là chủ yếu Điều đó cũng dễ hiểu bởi lẽ thành ngữ làmột đơn vị bền vững của ngôn ngữ Sự bền vững này là do sự vững chắc vềkết cấu, hoàn chỉnh và bóng bẩy về ý nghĩa quyết định Chúng ta không thểtùy tiện phá vỡ kết cấu của thành ngữ Thậm chí nếu phá vỡ kết cấu ban đầucủa nó nếu không khéo léo sử dụng thì có thể khiến cho thành ngữ mang một

ý nghĩa hoàn toàn khác ban đầu Mặc dù lúc đầu thành ngữ vốn là một cụm từnhưng dần dần nó được gọt rũa, được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trởthành quen thuộc trong lời nói cố định và có sự di chuyển nghĩa nhất định.Người bản ngữ đã ghi nhận kết cấu cũng như ngữ nghĩa của thành ngữ và sửdụng đơn vị ngôn ngữ này thường xuyên trong lời ăn tiếng nói hàng ngày,xem đó như là một đơn vị hiển nhiên mang tính qui ước xã hội Do đó, hai tácgiả chọn sử dụng thành ngữ nguyên thể chủ yếu cũng là điều dễ hiểu

Một số ví dụ về việc Hồ Anh Thái sử dụng thành ngữ nguyên thể:

(7) Buôn có bạn bán có phường Ăn một mình đau tức làm một mình

cực thân.

(I tr.69)

Trang 34

(8) Không còn bức xúc để mà đầu mày cuối mắt lẳng lơ đĩ mồm với

đồng nghiệp

(III, tr.325)

(9) Qúi phi chắp tay gục đầu đắn đo một hồi mới nói được:

- Có phải là hoàng hậu ăn phải bùa mê thuốc lú hay chăng? Nếu là đức

tin chân chính thì thiếp không dám nói

(I, tr.319)

Các thành ngữ nguyên thể được Hồ Anh Thái sử dụng: Ăn một mình

đau tức, làm một mình cực thân; Đầu mày cuối mắt; Bùa mê thuốc lú tạo cho

nội dung của câu văn có giá trị biểu cảm đặc biệt, thậm chí một nội dungtưởng như dài dòng khó hiểu lại được diễn đạt rất ngắn gọn, súc tích

Tương tự như vậy thì tác giả Dương Thụy cũng đã sử dụng các thànhngữ nguyên thể tiêu biểu như:

(10) Đang nằm, anh Huy ngồi bật dậy thảng thốt:

- Đến mức này sao? Thì anh có nghe chú Ngọc là một vị Tai to mặt

lớn trong trường Nhưng còn sinh viên? Ngọc dám nhận dạy sao?

Phố thân nhau vậy Ai ngờ!” Rồi họ đoán già đoán non “Hay Phố làm gì Lễ

thất vọng quá, phải đi tu?

(IV, tr.54) Những thành ngữ tai to mặt lớn, nổi gai ốc, đoán già đoán non được

Dương Thụy đưa vào sử dụng khiến cho câu văn mang tính hình ảnh, nội

Trang 35

dung của trang văn được thể hiện sinh động hơn nhiều Điều này có được là

do sự sáng tạo, linh hoạt trong khi sử dụng thành ngữ của nữ văn sĩ

Căn cứ vào phương thức cấu tạo nghĩa, ta có thể chia thành ngữ màhai nhà văn sử dụng thành hai loại lớn là: Thành ngữ so sánh và thành ngữ

ẩn dụ hóa

a) Thành ngữ so sánh

So sánh hay còn gọi là tỉ dụ Theo Từ điển Tiếng Việt thì đây là

Phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia 24, 282 Theo Đinh Trọng Lạc, so sánh “là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe”

Chính vì thế, so sánh thường có hai vế Vế đầu là hiện tượng cần đượcbiểu đạt một cách hình tượng Vế sau là hiện tượng được dùng để so sánh,được xem là chuẩn so sánh có tính thẩm mỹ Hai vế này thường được nối liền

với nhau bởi từ như hoặc bằng từ so sánh khác: bằng, hơn, kém Ví dụ:

Thân em như dải lụa đào(Ca dao)

Văn học dân gian thường lấy những sự vật cụ thể hoặc những hiệntượng tự nhiên làm chuẩn mực so sánh nhằm cụ thể hóa những hiện tượngtrừu tượng Chẳng hạn như:

Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu (Ca dao)

Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so

sánh, với nghĩa biểu trưng, kiểu đẹp như tiên sa; hiền như bụt; dối như

Cuội…Nói khái quát thì trong phép so sánh, việc so sánh sự vật A với sự vật

Trang 36

B chỉ thực hiện được khi căn cứ vào một thuộc tính nào đó được coi là tươngđồng giữa A và B.

Theo GS Hoàng Văn Hành, thành ngữ so sánh có các dạng cấu trúc:

- t như B: nhảy như con choi choi

- như B: như ngàn cân treo sợi tóc

Chức năng của so sánh trong văn học hiện đại rất đa dạng Có khi so

sánh được sử dụng như một phương tiện tạo hình Ví dụ: “cái râu mới lạ làm

sao?Nó đen như vệt hắc ín và cong như cái lưỡi liềm Nó nhọn như cái mũi dùi nung và bầu như đầu dao trổ Nó khum khum quắp lấy hai mép, giống như hai cánh dơi Nó vắt vểu vểnh ra hai mang tai, gần như hai cái sừng củ ấu” (Ngô Tất Tố, Tắt đèn) Có khi so sánh được sử dụng như một phương

tiện biểu hiện, hoặc kết hợp cả biểu hiện lẫn tạo hình Chính vì vậy mà chuẩnmực so sánh trong văn học hiện đại rất đa dạng Có nhiều kiểu so sánh hết sứctáo bạo, bất ngờ

Ví dụ:

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần (Xuân Diệu)

Và chính bằng so sánh, nhà văn có thể phát hiện ra rất nhiều đặc điểm,thuộc tính của một đối tượng hoặc hiện tượng Do vậy, so sánh là biện phápnghệ thuật quan trọng, góp phần tạo cho người đọc những ấn tượng thẩm mỹhết sức phong phú

Hai nhà văn Hồ Anh Thái và Dương Thụy cũng đã sử dụng nhữngthành ngữ so sánh trong các tác phẩm văn chương hiện đại của mình Đối với

Hồ Anh Thái thì chúng ta thấy: trong tổng số 316 thành ngữ nguyên dạng có

Trang 37

11 thành ngữ so sánh (chiếm 3,5%) Trong bảng thống kê thành ngữ củaDương Thụy chúng ta thấy có 26 thành ngữ so sánh (chiếm 14,9%) Như vậy

là số lượng các thành ngữ so sánh được sử dụng không đáng kể Có lẽ là do sốlượng các thành ngữ so sánh trong vốn thành ngữ tiếng Việt chiếm số lượng

ít Theo thống kê của GS.Hoàng Văn Hành thì trong tổng số 3225 thành ngữtiếng Việt thì thành ngữ so sánh chỉ có khoảng 492 đơn vị (chiếm 15,3%).Còn 2731 đơn vị thành ngữ là thành ngữ ẩn dụ hóa Như vậy là ngay trongbản thân vốn liếng của thành ngữ ẩn dụ so sánh đã rất hạn chế Đây có thể là

lí do để việc chọn lựa và sử dụng thành ngữ so sánh ít hơn rất nhiều so với cácdạng thành ngữ khác

Tác giả Hồ Anh Thái sử dụng thành ngữ nguyên dạng có kiểu quan hệ sosánh ngang bằng Song, bên cạnh đó, nhà văn cũng đã tạo ra các biến thể củathành ngữ so sánh để cho phù hợp ngữ cảnh, phù hợp với nội dung cần đượcbiểu đạt hoặc để nhấn mạnh vế so sánh hay vế được so sánh…Có thể nhà vănbớt từ:

(13) Các chị em ơi, em lại rất sung sướng được đi theo hầu hạ đức vua

như thế này Lên đến cõi trời, chúng mình vẫn có chồng có vợ có chị có em

Ta nói điềm nhiên

Từ thành ngữ gốc là có vợ có chồng như đũa có đôi, nhà văn đã đưa

vào câu văn thành ngữ so sánh ở dạng biến thể tạo cho mỗi câu văn một ýnghĩa sinh động, linh hoạt hơn so với thành ngữ gốc, phù hợp với dụng ý nghệ

Trang 38

thuật của nhà văn Còn lại 9 thành ngữ so sánh nguyên thể: đẹp như tiên, chắc

như đinh đóng cột, cứng như đá, cười như xé vải, vui như tết…

Hoặc có thể nhà văn lại sử dụng thành ngữ so sánh đủ cả hai vế:

(15) Đa số là họ có thể dịch ngoại ngữ trên văn bản Nói thì không Nói

là lưỡi cứng như đá.

(II, tr.194)

(16) Nhớ quay nhớ quắt, nghiện quay nghiện quắt Người ta gọi đấy là

bị bỏ bùa mê thuốc lú Gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó.

(I, tr.40)

(17) Thằng bé hiểu ý con chó và ra lệnh Được lời như cởi tấm lòng.

Con chó chạy ngay ra góc vườn, chọn bừa một bụi hoa Không còn hứng màchọn bụi hoa đẹp như ý định ban đầu

(II, tr.280)Nhìn chung, tác giả Hồ Anh Thái đã sử dụng thành ngữ so sánh mặc dùkhông nhiều nhưng có giá trị lớn trong việc biểu hiện cảm xúc của nhân vật:

Rợn tóc gáy chỉ một tâm trạng rất sợ hãi, Gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó dùng với ý nói: gần người đàn ông thì người đàn bà xinh đẹp hơn lên, Được lời như cởi tấm lòng chỉ sự thoải mái như được giải tỏa khi nghe lời nói

như mong muốn…Từ những cái biểu thị so sánh trong cuộc sống hàng ngày

(B) như thài lài gặp cứt chó, tóc gáy, lời nói…chúng ta thấy được bóng dáng

của cách nhìn, lối nghĩ, cách cảm của nhân vật Do đó, thành ngữ so sánh trởnên gần gũi, quen thuộc, dễ đi vào lời nói hàng ngày của con người

Tác giả Dương Thụy cũng đã sử dụng thành ngữ so sánh với quan hệ sosánh ngang bằng là chủ yếu:

(18) Vi ăn mặc chỉnh tề, xách dù cẩn thận rồi từ từ thong thả rảo bước

Đường phố vắng ngắt, im lặng như tờ làm cô vừa thích vừa sợ.

(IV, tr.104)

Trang 39

(19) Miệng Vỹ nhỏ vừa phải, đôi môi mềm căng quyến rũ khi cười lộ

ra những chiếc răng trắng bóng như ngọc.

(IV, tr.125)

(20) Nhưng chỉ cần Yvon chạy như bay đến, ôm ghì lấy cô vào lòng,

nồng nhiệt hôn lên vầng trán bướng bỉnh và hét lên “Anh nhớ em quá!” giữa sântrường đầy bọn sinh viên, Chi chắc lưỡi “Còn là gì nếu không phải tình yêu?”

(V, tr.171)

Trong các ví dụ trên ta có các thành ngữ so sánh: im lặng như tờ, trắng

bóng như ngọc, chạy như bay…Hầu như tác giả không tạo ra các biến thể

thành ngữ so sánh Đây cũng là một nét khác biệt so với cách sử dụng thànhngữ so sánh của nhà văn Hồ Anh Thái

Tóm lại, thành ngữ so sánh không được Hồ Anh Thái và Dương Thụy

sử dụng nhiều trong tác phẩm của mình nhưng có tác dụng lớn trong việc thểhiện nội dung tác phẩm một cách tinh tế, sinh động Qua vế B của thành ngữ

so sánh, chúng ta có thể thấy thấp thoáng cách suy nghĩ, thấy được dấu ấn củađời sống vật chất và tinh thần của dân tộc được phản ánh qua ngôn ngữ Vìvậy mà thành ngữ so sánh trở nên gần gũi, quen thuộc, dễ dàng đi vào lời ăntiếng nói hàng ngày của chúng ta

b) Thành ngữ ẩn dụ hóa

Cùng với việc sử dụng thành ngữ so sánh, Hồ Anh Thái và DươngThụy còn sử dụng thành ngữ ẩn dụ hóa trong các tác phẩm của mình Thànhngữ ẩn dụ hóa bao gồm hai loại là: thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng và thànhngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng

Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng là loại thành ngữ chiếm số lượng nhiềunhất trong thành ngữ Tiếng Việt Nó chiếm tới 2/3 trong tổng số thành ngữtiếng Việt và được sử dụng rất phổ biến trong giao tiếp hàng ngày hay tronglĩnh vực sáng tạo nghệ thuật Loại thành ngữ này có đặc điểm cấu tạo là chúng

Trang 40

tách đôi thành hai vế đối xứng nhau về ý và lời thông qua một trục, có sự hàihòa về âm thanh và vần điệu…Hay nói cách khác, thành ngữ ẩn dụ hóa đốixứng gắn với cách nói văn vẻ, bóng bẩy của nhân dân Thành ngữ ẩn dụ hóađối xứng được cấu tạo theo hai phương thức đối và điệp giữa các thành tố

b1) Thành ngữ ẩn dụ hóa trong tác phẩm Hồ Anh Thái

Trong ba tác phẩm SBC là săn bắt chuột, Mười lẻ một đêm, Đức Phật

nàng Savitri và tôi, nhà văn Hồ Anh Thái đã sử dụng 176 thành ngữ ẩn dụ hóa

đối xứng với 186 lượt sử dụng (chiếm tới 55,7%) Ví dụ như: ăn hương ăn

hoa, đầu mày cuối mắt, ăn không nên đọi nói không nên lời, bùa mê thuốc lú, bền gan vững chí, ao tù nước đọng…Chúng ta bắt gặp những câu văn có sự

xuất hiện của các thành ngữ dạng ẩn dụ hóa đối xứng:

(21) Những cuộc nói chuyện ông chẳng bà chuộc,ông nói gà bà nói vịt.

Phều phào Ậm ạch Rọt rẹt Tậm tịt Rốt cuộc họ phải bó tay Không phải

không chịu cố gắng còn nước còn tát

dụng là: ông chẳng bà chuộc, ông nói gà bà nói vịt, sinh sau đẻ muộn, tóc bạc

da mồi Những thành ngữ này có 2 vế rõ rệt, đối xứng nhau: ông chẳng – bà chuộc (đối xứng về đối tượng) , ông nói gà – bà nói vịt (đối xứng về hành

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2. Phan Mậu Cảnh (1995), “Về mối quan hệ giữa đầu đề và tác phẩm”, Văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ giữa đầu đề và tác phẩm”, "Văn học
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 1995
3. Phan Mậu Cảnh (2008), Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
4. Đỗ Hữu Châu (1993), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
5. Đỗ Hữu Châu (1996), Giản yếu về ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu về ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
6. Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
7. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
8. Việt Chương (1995), Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Tác giả: Việt Chương
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1995
9. Nguyễn Đức Dân (1986), “Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng”, Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1986
10. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
11. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (1997), Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
12. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh (2000), Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa thể thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thúy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thể thao
Năm: 2000
14. Thiều Đức Dũng (2007), Cảm hứng trào lộng trong sáng tác Hồ Anh Thái, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng trào lộng trong sáng tác Hồ Anh Thái
Tác giả: Thiều Đức Dũng
Năm: 2007
15. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1996
16. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
18. Hoàng Văn Hành (1976), “Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1976
19. Hoàng Văn Hành (1978), “Thành ngữ trong tiếng Việt”, Văn hóa dân gian, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ trong tiếng Việt”, Văn hóa dân gian
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1978
20. Hoàng Văn Hành (1999), “Thành ngữ trong tiếng Việt”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thành ngữ trong tiếng Việt”
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
21. Hoàng Văn Hành (2002), Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng thống kê thành ngữ xuất hiện trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy - Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của hồ anh thái và dương thụy luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 2.1. Bảng thống kê thành ngữ xuất hiện trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w