1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những cách tân trong nghệ thuật tự sự của hồ anh thái

79 580 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những cách tân trong nghệ thuật tự sự của Hồ Anh Thái
Tác giả Trần Quỳnh Trang
Người hướng dẫn TS. Hoàng Mạnh Hùng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 261,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiểu thuyết, sử dụng thủ pháp “mặt nạ”của nhà vănhậu hiện đại, tác giả cuốn tiểu thuyết đã không “xuất đầu lộ diện” trong tácphẩm mà xây dựng nên một nhân vật cùng tham gia vào câu

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn

Trần quỳnh trang

Những cách tân trong nghệ thuật tự sự

của Hồ Anh Thái

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Vinh - 2007 Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn

Những cách tân trong nghệ thuật tự sự

của Hồ Anh Thái

1

Trang 2

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Ngành s phạm ngữ văn Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhng do hạn hẹp về thời gian cũng nh hạn chế về khả năng, khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Mong nhận đợc sự góp ý của thầy giáo, cô giáo cùng các bạn để khoá luận hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5/2007

Sinh viên : Trần Quỳnh Trang

Trang 3

Chơng 2 Tác phẩm tự sự của Hồ Anh Thái trong bối

cảnh vĂN HọC Việt Nam thời đổi mới

212.1 Nhìn chung về nghệ thuật tự sự trong văn học Việt Nam

2.1.1 Những tiền đề xã hội và thẩm mĩ cua việc cách tân nghệ

2.2 Sáng tác của Hồ Anh Thái trong bối cảnh văn học Việt

2.2.2 Vị trí Hồ Anh Thái trong văn học Việt Nam đơng đại 382.2.3 Những tiền đề của việc cách tân nghệ thuật tự sự 40

Chơng 3 Những nét mới trong nghệ thuật tự sự

của Hồ Anh Thái

483.1 Tạo sự gián cách trong quan niệm về hiện thực và sử dụng

bút pháp kì ảo

48

3.2 Đổi mới trong xây dựng hình tợng ngời kể chuyện 56

3.3.1 Các kiểu nhân vật trong văn xuôi Hồ Anh Thái 60

Trang 4

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nghệ thuật tự sự là đối tợng nghiên cứu đặc thù của Tự sự học.Trong các vấn đề về văn học, cụ thể là lí luận văn học, nghệ thuật tự sựngày càng thu hút đợc sự quan tâm của giới nghiên cứu Nghệ thuật tự sự

có nội hàm rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề nh cấu trúc văn bản tự sự, cácphơng tiện, các thủ pháp nghệ thuật đợc sử dụng trong đó, mà mỗi văn bản

tự sự là một sản phẩm của một chủ thể sáng tạo nhất định Do vậy, xuấtphát từ đặc trng thể loại để tìm hiểu tác phẩm là một trong những biện pháptối u nhằm đánh giá khách quan và toàn diện về đóng góp của một nhà văntrong một giai đoạn văn học

1.2 Văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới đã có những bớc chuyểnbiến đáng ghi nhận Thành tựu mà văn xuôi giai đoạn này gặt hái đợc trêncả hai phơng diện nội dung và nghệ thuật là rất quan trọng Chọn một tácgiả tiêu biểu, có đóng góp không nhỏ cho văn xuôi Việt Nam thời kì này,xem xét sáng tác của nhà văn dới góc độ nghệ thụât tự sự cũng góp phầnnhận diện đánh giá những thành tựu của văn học thời kì đổi mới

1.3 Hồ Anh Thái là cây bút sớm thành danh trên con đờng nghệthuật Cho đến nay, ông đã có hơn hai mơi đầu sách gồm cả tiểu thuyết vàtruyện ngắn Nhiều tác phẩm của ông đợc dịch và giới thiệu ra nớc ngoài.Không ngừng tìm tòi và đổi mới, sáng tác của Hồ Anh Thái ngày càng thuhút đợc sự chú ý rộng rãi của d luận Tuy vậy, những đánh giá về sự cáchtân nghệ thuật của ông vẫn cha đầy đủ và thỏa đáng Lựa chọn đề tài này,

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề

Trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới, Hồ Anh Thái là nhà văn có

đợc chỗ đứng vững chắc Tác phẩm của ông tuy không gây ồn ào nh mộtvài hiện tợng khác của văn xuôi Việt Nam đơng đại, nhng nó cũng đã đợcgiới sáng tác và nghiên cứu chú ý Riêng về bình diện nghệ thuật tự sự của

Hồ Anh Thái, việc nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở dạng các bài báo, bài viếtchứ cha có những công trình dài hơi

Đi sâu nghiên cứu nghệ thuật văn xuôi Hồ Anh Thái, đáng kể có bài

viết Hồ Anh Thái - ngời mê chơi cấu trúc của Nguyễn Đăng Điệp Bài viết

có nhiều nhận định sắc sảo, có ý nghĩa gợi mở Đi từ cơ sở lí giải “hìnhdung cuộc sống nh những mảnh vỡ” 24, tr.350 trớc một hiện thực đa dạng

nh thế, giữ nguyên một chất giọng sẽ có cơ làm mòn cảm hứng và thu hẹpkhả năng bay lợn của trí tởng tợng, Nguyễn Đăng Điệp đề cập đến sự đadạng và hiện tợng đan cài trong giọng điệu hớng tới tính đa cấu trúc trongtác phẩm của nhà văn: “Xuất phát từ quan niệm coi cuộc đời nh nhữngmảnh vỡ, bản thân mỗi ngời lại mang những mảnh vỡ, những xung lựckhác nhau tổng trăm ngàn mảnh vỡ kia đã trở thành nét chính trong quanniệm về cuộc sống của Hồ Anh Thái Chính quan niệm này sẽ tạo nên tính

đa cấu trúc trong tác phẩm của anh” 24, tr.350 Nghiên cứu sâu hơn ởnhững tác phẩm có tính luận đề, nhà phê bình còn phát hiện ra “ngón chơi”

đầy biến hoá của cây bút tài năng này: sự bện kết, hài hoà giữa hai yếu tốtính luận đề và màu sắc tợng trng, siêu thực - phơng diện đòi hỏi sự cao taycủa ngời viết Gắn với những phân tích cụ thể, các kiến giải của Nguyễn

Đăng Điệp hợp lí, rõ ràng, kích thích tìm hiểu, khảo sát vấn đề kĩ lỡng hơn

Cõi ngời rung chuông tận thế là cuốn tiểu thuyết thực sự tạo nên làn

sóng d luận trong đời sống văn học Tiếp cận ở góc độ thi pháp, Trơng ThịNgọc Hân đã phát hiện ra những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trongtác phẩm này Không khẳng định sự xuất hiện, tồn tại của khuynh hớng

văn học hậu hiện đại ở Việt Nam, nhng khi khảo sát cuốn tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận thế, Trơng Thị Ngọc Hân đã khám phá sự xuất hiện

của dấu hiệu hậu hiện đại qua cách xây dựng nhân vật, đi vào “tiểu tự sự”,

sử dụng yếu tố phi lí và giọng điệu giễu nhại

Về xây dựng nhân vật, trong tác phẩm hầu hết là nhân vật “bên kiagiới tuyến” Hồ Anh Thái không “ôm” nhiều chi tiết, không tham lam trongmiêu tả ngoại hình, ông có tài “đánh dấu khu biệt” mỗi nhân vật bằng tên,

5

Trang 6

bằng hành động Trong tiểu thuyết, sử dụng thủ pháp “mặt nạ”của nhà vănhậu hiện đại, tác giả cuốn tiểu thuyết đã không “xuất đầu lộ diện” trong tácphẩm mà xây dựng nên một nhân vật cùng tham gia vào câu chuyện, đồnghành cùng cái ác và là một mắt xích quan trọng của chuỗi sự việc diễn ra.Cũng nh các nhà văn hậu hiện đại, Hồ Anh Thái say mê với “tiểu tự sự”:

“ở Cõi ngời rung chuông tận thế ngời đọc dờng nh sững sờ trớc vô số

những “hòn đảo nhỏ”, những “tiểu tự sự” nham nhở, xù xì, gồ ghề, rời rạc,chắp nối” 10, tr.10 Hồ Anh Thái còn phát hiện sự kết hợp yếu tố phi lí, h

ảo, siêu thực trong tiểu thuyết này- đặc điểm của sáng tác hậu hiện đại

“Yếu tố h ảo, phi lí gần nh đợc tập trung, dồn tụ vào một hình tợng duynhất - Mai Trừng” 10, tr.11 Ngoài ra, dấu hiệu của hậu hiện đại còn biểuhiện ở giọng điệu: “Hồ Anh Thái đã kết hợp giọng văn lạnh lùng, dửng dngnhiều khi tàn nhẫn với những câu văn mang đầy dự cảm bất trắc Tuynhiên, giọng giễu nhại vẫn đợc sử dụng đặc biệt nổi bật và thành công Nótrở thành “nốt nhấn” cho nhiều sự kiện, chi tiết trong tác phẩm” 10, tr.12.Với phạm vi khảo sát này, bài viết mở ra hớng nghiên cứu mới có thể ápdụng cho nhiều tác phẩm khác của các cây bút văn xuôi Việt Nam đơng

đại

Các bài viết khác hầu hết không đi sâu khảo sát mà thờng nêu những

nhận định khái quát Chẳng hạn, Ma Văn Kháng trong bài Cái mà văn

ch-ơng ta còn thiếu cho rằng: “Truyện ngắn, tiểu thuyết của Hồ Anh Thái,

nhất là những cái gần đây thú vị trớc hết ở chỗ từng con chữ có đời sống làlạ, ở mỗi tình tiết giàu sức khám phá, ở các mối liên tởng lạ lùng và gầngũi, ở tổng thể câu chuyện, nó mở ra một góc nhìn nhân sinh nó cho ta thấytính đa tầng, những thực tại nhìn thấy và không nhìn thấy, những ấn tợng

đặc sắc thông qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này, hôm nay…” 24,”

tr.326 Nghiên cứu giọng điệu trong văn Hồ Anh Thái ở tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận thế, Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng: Cõi ngời rung chuông tận thế là cuốn tiểu thuyết ngắn, cốt truyện khá giản dị, với điểm

nhìn tiểu thuyết độc đáo, giọng kể “đa thanh trên nền những suy tởng trữtình” 24, tr.276 Bài viết đa ra nhiều luận điểm mới và có cơ sở

Nh vậy, qua những gì đợc tiếp cận chúng tôi nhận thấy đề tài nhữngcách tân trong nghệ thuật tự sự của Hồ Anh Thái cha đợc khảo sát, nghiêncứu một cách toàn diện, kĩ lỡng và hệ thống Điều này thúc đẩy chúng tôi

Trang 7

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Giới thiệu khái niệm thể loại tự sự và các bình diện hình thứccủa tác phẩm tự sự

3.2 Xem xét vị trí của Hồ Anh Thái trong bối cảnh Văn học ViệtNam thời kì đổi mới Trên cơ sở nhìn chung về nghệ thuật tự sự trong vănhọc thời đổi mới, chúng tôi đi vào sơ lợc các sáng tác của ông cùng nhữngtiền đề của việc cách tân trong nghệ thuật tự sự của Hồ Anh Thái

3.3 Tìm hiểu những đổi mới chủ yếu của Hồ Anh Thái về phơngdiện nghệ thuật tự sự

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ đi vào nghiên cứu những cách tân trong nghệ thuật tự sự

của Hồ Anh Thái chủ yếu qua hai tác phẩm tiêu biểu: tập truyện ngắn Tự

sự 265 ngày và tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận thế Ngoài ra, còn có

thêm sự liên hệ với một số tác phẩm của các tác giả khác mà luận văn thấycần thiết

7

Trang 9

Chơng 1

Thể loại tự sự

và các bình diện hình thức của tác phẩm tự sự

1.1 Thể loại tự sự

1.1.1 Khái quát về thể loại văn học

Thời kì sơ khai của văn học viết, t duy con ngời còn mang tính

nguyên hợp, ý thức thể loại cha rõ Hiện tợng văn sử triết bất phân là một

minh chứng Dĩ nhiên, tình trạng hỗn mang này kéo dài không lâu Một khingời sáng tác có ý thức về cách chiếm lĩnh và biểu hiện thực tại đời sốngtheo những phơng thức khác nhau, thể loại văn học chính thức ra đời Hiệnnay, ngoài một số trờng hợp hết sức đặc biệt, phần lớn, nhà văn viết ra tácphẩm thì nó phải thuộc một thể loại nhất định

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Thể loại văn học là dạng

thức của tác phẩm văn học đợc hình thành và tồn tại trong quá trình pháttriển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tácphẩm văn học, về đặc điểm của các loại hiện tợng đời sống đợc miêu tả và

về thực chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tợng đời sốngấy” 9, tr.299 Nói tới thể loại là nói tới quy luật loại hình của tác phẩm.Tên gọi một thể loại vừa là phạm vi đời sống đợc biểu hiện, vừa là các ph-

ơng tiện biểu đạt tơng ứng trong tác phẩm

Thể loại văn học là phạm trù lịch sử, vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổilại vừa ổn định, có khả năng gìn giữ và đổi mới các khuynh hớng văn học

Đáng kể có sự xuất hiện xu hớng sáng tác theo lối phản thể loại của cácnhà văn thuộc chủ nghĩa hậu hiện đại khi họ quan niệm “văn học ngày nay

đã cạn kiệt”, “hình thức cũng đã cạn kiệt, rất nên tìm tòi những hình thứcmới bằng các thí nghiệm tha hồ” 1, tr.78

Có nhiều cách phân chia thể loại văn học Dựa vào phơng thức phản

ánh đời sống, các nhà nghiên cứu chia văn học ra ba loại: Tự sự, Trữ tình

và Kịch Dĩ nhiên, đờng biên giới các thể loại cũng chỉ mang tính tơng đối

Có hiện tợng thâm nhập, giao thoa tạo ra các thể loại mang tính chất trunggian, quá độ

1.1.2 Đặc trng thể loại tự sự

Giao thoa thể loại tồn tại nh điều tất yếu Một thể loại có thể dungnạp thêm những yếu tố quan trọng của thể loại khác tạo ra “khu vực”chung giữa các thể loại (truyện thơ, kịch thơ…” ) Hiện tợng này kéo xích

9

Trang 10

các thể loại lại với nhau, phá vỡ đờng biên giới cứng nhắc giữa chúng Tấtnhiên, ở một phơng diện nào đó, chúng ta có thể khu biệt các loại văn họcbằng những đặc trng cơ bản và ổn định của nó.

Tự sự là một trong ba loại văn học bên cạnh trữ tình và kịch, chủ yếu

sử dụng phơng thức tự sự để phản ánh đời sống Phơng thức tự sự đợc cấuthành bởi sự phối hợp giữa tiêu cự trần thuật và t cách kể

ở loại tự sự, đời sống đợc tái hiện trong toàn bộ tính khách quan của

nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực trong những không gian, thời gian,qua các sự kiện, biến cố trong cuộc đời con ngời Đằng sau mỗi số phận ấy

là t tởng, là tình cảm, là thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm Nói cáchkhác, t tởng, tình cảm của ngời nghệ sĩ đã thâm nhập sâu vào sự việc, hành

động bên ngoài con ngời Nhà văn có nhiệm vụ kể, miêu tả lại những gì đãxảy ra bên ngoài mình khiến ngời đọc mỗi lần tiếp xúc với tác phẩm nh đivào thế giới khác đang tồn tại, phát triển bên ngoài ý muốn và tình cảm chủquan của ngời nghệ sĩ

Tác phẩm tự sự có thể đợc viết bằng văn vần hoặc văn xuôi Dung ợng của nó không bị hạn chế, có thể là truyện rất ngắn, truyện ngắn hoặctiểu thuyết hay các thiên sử thi đồ sộ So với thơ trữ tình, tác phẩm tự sự cókhả năng dung chứa phạm vi hiện thực lớn hơn Tác phẩm tự sự bao hàm đ-

l-ợc nhiều khuôn mặt của cuộc sống, có thể xây dựng những tính cách phứctạp, mâu thuẫn, đa diện, đang hình thành, do vậy nó có điều kiện khám phábản chất cả một thời đại, bộc lộ quy mô, khả năng của hành vi sáng tạo

Nh vậy, thể loại tự sự là khái niệm có nội hàm rất rộng, đợc nhìnnhận dới nhiều góc độ, bình diện Chỉ ra những đặc trng cơ bản của thể loại

tự sự cũng tức là đặt nền móng, tiền đề, cho việc khám phá nghệ thuật tựsự

1.2 Các bình diện hình thức của tác phẩm tự sự

1.2.1 Cốt truyện

Thuật ngữ cốt truyện đợc các nhà văn cổ điển chủ nghĩa P.Corneille

và N.Boileau áp dụng lần đầu tiên vào thế kỉ XVII Trải qua những thời kìnhận thức khác nhau đã có nhiều cách lí giải về cốt truyện và đến nay nộihàm thuật ngữ cốt truyện tơng đối thống nhất

“Cốt truyện là một phơng diện của lĩnh vực nghệ thuật, nó trỏ lớpbiến cố của hình thức tác phẩm Chính hệ thống biến cố (cốt truyện) đã tạo

ra sự vận động của nội dung cuộc sống đợc miêu tả trong tác phẩm Cốt

Trang 11

truyện tạo ra môi trờng hành động cho các nhân vật và cho phép tác giả thểhiện và lí giải tính cách của chúng” 2, tr.114.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Cốt truyện là hệ thống các sự kiện

cụ thể đợc tổ chức theo yêu cầu t tởng và nghệ thuật nhất định tạo thành bộphận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn họcthuộc loại hình tự sự và kịch” 9, tr.99

Nh vậy, dù có những cách kiến giải về cốt truyện, song hầu hết các ýkiến đều thống nhất và nêu bật đợc các điểm trọng yếu của thuật ngữ này.Cốt truyện là hệ thống các sự kiện, biến cố đợc tổ chức chặt chẽ, có tác

động qua lại theo ý đồ nghệ thuật đã định sẵn, bộc lộ mâu thuẫn đời sống,xung đột xã hội, khắc họa số phận, tính cách con ngời

Trong các loại tác phẩm trữ tình, không tồn tại cốt truyện với ý nghĩachặt chẽ nhất của khái niệm này ở một số thi phẩm có sự xuất hiện yếu tốcốt truyện nhng nó chỉ là nguyên cớ, là đòn bẩy cho tình cảm, cảm xúc củanhà thơ Ngợc lại, ở thể loại tự sự, cốt truyện có vai trò đặc biệt quan trọng

đối với cấu trúc tác phẩm

Về phơng diện kết cấu và quy mô nội dung, cốt truyện đợc chiathành hai loại: cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến Cốt truyện đơntuyến có dung lợng nhỏ và vừa, hệ thống sự kiện đợc tác giả trình bày gọngàng, thờng đơn giản về số lợng, tập trung thể hiện quá trình phát triển tínhcách của một vài nhân vật chính, có khi chỉ là một giai đoạn trong cuộc đờinhân vật chính Cốt truyện đa tuyến thờng có dung lợng lớn hơn, trình bày

hệ thống sự kiện phức tạp nhằm tái hiện nhiều bình diện của đời sống ởmột thời kì lịch sử, tái hiện những con đờng diễn biến của nhiều nhân vật

Một cốt truyện đợc xem là “lí tởng”, tức đầy đủ về mặt lí luận khi nó

đảm bảo tiến trình vận động, hình thành, phát triển và kết thúc, nghĩa là

gồm bốn thành phần chính : thắt nút, phát triển, cao trào và mở nút.

Thắt nút là sự xuất hiện các sự kiện đánh dấu điểm khởi đầu của mộtquan hệ tất yếu sẽ đợc triển khai tiếp theo Còn phát triển là toàn bộ các sựkiện, mâu thuẫn đợc khai thác tận mọi khía cạnh, bình diện, nhân vật đợc

đặt vào các cảnh ngộ khác nhau với những thử thách ngày càng căng thẳng,kịch tính Sự kiện thử thách cao nhất, tột cùng đối với nhân vật, sự kiện dẫn

đến bớc ngoặt lớn lao trong sự phát triển của truyện chính là cao trào Cao

trào có chức năng mài sắc các vấn đề của tác phẩm và đa đến chấm dứt sự

phát triển Sự kiện quyết định liền ngay sau đỉnh điểm là mở nút Mở nút

thể hiện tình trạng cuối cùng của xung đột đợc miêu tả trong tác phẩm

11

Trang 12

Phần kết thúc của tác phẩm rất phong phú và đa dạng Có nhiều kết thúc

đánh dấu việc giải quyết trọn vẹn xung đột đợc miêu tả trong tác phẩm, lại

có những kết thúc tuy đánh dấu xoá bỏ tính cách và số phận nhân vật nhngmâu thuẫn vẫn tiếp tục căng thẳng

Ngoài bốn thành phần chính trên, cốt truyện có thể có thêm phần

trình bày và phần vĩ thanh Phần trình bày giới thiệu tình trạng nhân vật khi

cha hoặc sắp xảy ra xung đột Còn phần vĩ thanh nằm cuối tác phẩm, bổsung cho phần mở nút, hé lộ bức tranh và số phận nhân vật trọn vẹn hơn

Tuy nhiên, không phải cốt truyện nào cũng đầy đủ thành phần nêutrên Nhiều tác phẩm không có mở nút, nhất là những tác phẩm dựa trêntình trạng xung đột bền vững Điều này do sự chi phối quan niệm thẩm mĩcủa tác giả đối với hiện thực

Yếu tố cốt truyện luôn hàm chứa quan niệm nhất định bởi sự kiện là

đơn vị cơ bản cấu thành cốt truyện mà sự kiện luôn xảy ra trong phạm viquan niệm

Trong thời gian khá dài, giới nghiên cứu văn học đều đi đến thốngnhất xem cốt truyện là thành phần không thể thiếu trong kết cấu truyện vàtiểu thuyết Họ cho rằng truyện nhất thiết phải tồn tại trên một cái cốt, đặcbiệt đối với chủ nghĩa hiện thực Văn hào Nga vĩ đại L.Tônxtôi khẳng định:

“Cần tìm cho đợc cốt truyện, đôi khi chỉ cần xảy ra một vài giây thôi nhnggiống nh một thứ thuốc thử đậm đặc, những cốt truyện hay có khả năngkhiến cho những t tởng, những quan sát và hiểu biết đang chồng chất bỗnghiện ra thành có lớp lang rành mạch (…” ) Nó là một chìa khoá giúp ta lộttrần cái mâu thuẫn xã hội” 4 Sang nửa sau thế kỉ XX, cốt truyện từng bớc

bị quên lãng khi ngời viết tiểu thuyết đang chuyển dần từ kể sang tả, từ tảsang gợi ở Việt Nam, việc gạt bỏ yếu tố cốt truyện ra khỏi đời sống tácphẩm đang là một xu hớng đáng kể trong sự vận động, phát triển của vănxuôi, mở ra hớng tiếp cận, cách nhìn mới về thể loại tác phẩm

1.2.2 Kết cấu

Kết cấu của tác phẩm văn học là kết quả của quá trình nhận thức

thẩm mĩ, phản ánh mối liên hệ bề sâu thực tại Lại Nguyên Ân cho rằng:

“Kết cấu là sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật, tức là

sự cấu tạo tác phẩm tuỳ theo nội dung và thể tài Kết cấu gắn kết các yếu tốcủa hình thức và phối thuộc chúng với t tởng” 2, tr.167 Trần Đình Sửxem kết cấu “là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm” 9,tr.156

Trang 13

Nh vậy có thể diễn giải khác nhau nhng các ý kiến này đều thốngnhất khi xem kết cấu là yếu tố của hình thức, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu

tố, bộ phận của tác phẩm tập trung bộc lộ nội dung, t tởng Dĩ nhiên, kếtcấu không phải là phép cộng thuần tuý các yếu tố, là liên kết theo nhữngcông thức, biện pháp có sẵn mà nó phải là kết quả của quá trình nghiêncứu, tìm tòi, sáng tạo của ngời nghệ sĩ nhằm tạo ra hệ số tác động thẩm mĩ

đáng kể nào đó

Để định hình rõ hơn khái niệm này cần có sự so sánh, đối chiếu vớithuật ngữ bố cục Nếu bố cục chỉ sự sắp xếp, phân bố các chơng, các đoạn,các bộ phận của tác phẩm theo một trình tự nhất định thì kết cấu có nộihàm rộng hơn Bố cục chỉ là một phơng diện của kết cấu bởi việc tổ chứctác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, với tơng quan bên ngoàigiữa các yếu tố, bộ phận, các chơng, các đoạn mà còn bao hàm sự liên kếtbên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm Vì vậy, kếtcấu tác phẩm phải là cả quá trình “thai nghén”, vật lộn của nhà văn với tàiliệu sống

Kết cấu khiến tác phẩm mạch lạc, “có vẻ duyên dáng của trật tự”(Horatius), thể hiện sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ đề với hệ thống tínhcách Cũng cần phải thấy rằng, mối quan hệ giữa kết cấu và chủ đề là quan

hệ có tính biện chứng Chủ đề - t tởng đóng vai trò chủ đạo, chi phối kếtcấu, nhng kết cấu cũng có tính độc lập tơng đối và có sự tác động trở lạichủ đề - t tởng Kết cấu là phơng tiện cơ bản của khái quát nghệ thuật ra

đời cùng lúc với ý đồ nghệ thuật tác phẩm, cụ thể hoá cùng sự phát triểncủa hình tợng nhằm tập trung thể hiện chủ đề - t tởng, cấu trúc hợp lí hệthống tính cách, tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả đồng thời tạo ratính toàn vẹn cho tác phẩm - chỉnh thể thẩm mĩ Kết cấu của tác phẩm vănhọc bao gồm việc phân bố các nhân vật, các sự kiện, hành động, các phơngthức trần thuật, chi tiết hoặc các khung cảnh, hành vi, cảm xúc, các thủpháp văn phong, các truyện kể xen kẽ hoặc các đoạn trữ tình ngoại đề

Khái niệm kết cấu đợc xem xét trên nhiều bình diện ở bình diệnquy luật tổ chức thể loại có kết cấu tự sự, kết cấu trữ tình và kết cấu kịch.Cũng có thể xem xét kết cấu trong tơng quan với các loại hình nghệ thuậtkhác nh hội hoạ, âm nhạc, kiến trúc…” Khái niệm kết cấu cũng đợc xéttrong mối quan hệ quy định và tuỳ thuộc của các cấp độ tác phẩm nh mộtchỉnh thể Kết cấu tồn tại ở hai cấp độ chủ yếu là cấp độ hình tợng và cấp

độ trần thuật Kết cấu hình tợng gắn liền với việc tổ chức thế giới nghệ

13

Trang 14

thuật bao gồm hệ thống các nhân vật, hệ thống các sự kiện, tình tiết vàtrình tự xuất hiện của chúng, tơng quan các chi tiết tạo hình, biểu hiện làmnên bức tranh sống động về cuộc sống Còn ở cấp độ trần thuật, kết cấu baogồm sự liên tục của các biện pháp trần thuật cũng nh tổ chức các câu, vậndụng các phơng thức tu từ.

Cùng với quá trình phát triển của nhận thức, của t duy nghệ thuật,khái niệm kết cấu cũng đợc xét trong mối quan hệ quy định và tuỳ thuộccủa các cấp độ tác phẩm nh một chỉnh thể Bên cạnh kết cấu truyền thống,kết cấu mới vừa trật tự, vừa phức tạp theo thời gian đa chiều, theo diễn biếntâm lí nhân vật, phổ biến là lối kết cấu mở Kết cấu mở tạo đợc khoảngtrống cho tác phẩm, thúc giục quá trình tìm tòi, khám phá của độc giả, biến

họ thành kẻ đồng sáng tạo

Mỗi tác phẩm văn học là một “sinh mệnh”, một “cơ thể sống”, vìvậy trong thực tế sáng tác, khái niệm kết cấu phong phú, đa dạng hơn rấtnhiều Tác phẩm đợc kết cấu theo kiểu nào phụ thuộc vào đối tợng phản

ánh, tài năng, t duy cũng nh phong cách nghệ thuật của nhà văn

1.2.2 Nhân vật

Văn học là loại hình nghệ thuật đặc biệt thể hiện sự khám phá, giao

tiếp, chiếm lĩnh hiện thực cả ở bề rộng và bề sâu của nó Nhân vật chính là

một trong những phơng thức hữu hiệu và đắc lực để thể hiện sự “cọ xát”,giao tiếp, khái quát hiện thực một cách hình tợng

Nhân vật văn học là hình tợng nghệ thuật về con ngời, một trongnhững dấu hiệu minh chứng sự tồn tại toàn vẹn của con ngời trong nghệthuật ngôn từ Nhân vật là đơn vị nghệ thuật đầy tính ớc lệ Nó không saochụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con ngời, cũng tức là không thể

đồng nhất nhân vật với con ngời thật trong đời sống, ngay cả ở trờng hợpnhà văn sử dụng nguyên mẫu để xây dựng nhân vật bởi về thực chất nhânvật chỉ là những “sinh thể trên giấy” 13, tr.245 Giới hạn của nhân vậtkhông bị thu hẹp trong phạm vi con ngời mà nhân vật có thể là sự vật, loàivật, ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con ngời đợc sử dụng nh các phơngthức khác nhau để thể hiện con ngời, thậm chí đó cũng có thể chỉ là hiện t-ợng về con ngời hoặc có liên quan tới con ngời

Nhân vật văn học thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tởng thẩm mĩcủa nhà văn về con ngời Vì thế nhân vật luôn gắn liền với chủ đề của tácphẩm

Trang 15

Thông thờng, nhân vật đảm nhiệm hai chức năng: hành động và kể,tức nó thực hiện hoặc là vai trò vai - đảm nhận việc kể lại hay làm các bậccủa hành vi giao tiếp nghệ thuật, hoặc là ngời kể chuyện kiêm ngời trầnthuật

Nhân vật là vấn đề trung tâm của văn học, là phơng tiện có tính thứnhất trong hình thức tác phẩm Xây dựng nhân vật trở thành vấn đề cốt tử,then chốt của tác phẩm tự sự bởi nó chính là một tín hiệu thẩm mĩ Tácphẩm tự sự tỏ rõ u thế vợt trội trong việc khắc hoạ nhân vật trên mọi phơngdiện, cả số lợng lẫn chất lợng, hình thức và nội dung, nội tâm và hành

động, các chặng đờng phát triển, khả năng theo dõi, quan sát nhân vậttrong biên độ không gian, thời gian rộng lớn

Đứng trên những bình diện, góc độ khác nhau, nhân vật văn học đợcphân ra nhiều kiểu loại

Xét về vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện tác phẩm, nhânvật văn học phân thành nhân vật chính và nhân vật phụ Nhân vật chính lànhân vật xuất hiện nhiều hơn cả trong tác phẩm, đóng vai trò quan trọngtrong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề, t tởng tác phẩm Còn nhân vậtphụ chỉ giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính trong diễn biến cốt truyện,trong quá trình triển khai đề tài, thể hiện t tởng, chủ đề tác phẩm Nhân vậtphụ là bộ phận không thể thiếu góp phần tạo nên tính hoàn chỉnh, sinh

động cho bức tranh đời sống đợc nhà văn tái hiện trong tác phẩm

Dựa vào đặc điểm, tính cách, việc truyền đạt lí tởng của nhà văn,nhân vật văn học đợc chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện.Nhân vật chính diện thể hiện những giá trị tinh thần, những phẩm chất đẹp

đẽ, những hành vi cao cả của con ngời đợc nhà văn miêu tả, khẳng định, đềcao trong tác phẩm theo một quan điểm t tởng, một lí tởng xã hội - thẩm mĩnhất định Loại nhân vật này xuất hiện nhiều nhất trong các tác phẩm bikịch và sử thi Nhân vật phản diện mang những phẩm chất xấu xa, trái với

đạo lí và lí tởng của con ngời đợc nhà văn miêu tả trong tác phẩm với thái

độ phê phán, lên án, phủ định

Dựa vào thể loại văn học ta có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình vànhân vật kịch Phân theo cấu trúc hình tợng, nhân vật văn học bao gồmnhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật t t-ởng Nhân vật chức năng là loại nhân vật có đặc điểm, phẩm chất cố định,không thay đổi từ đầu đến cuối, không có đời sống nội tâm, sự tồn tại vàhoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong truyện và

15

Trang 16

trong việc phản ánh đời sống Loại nhân vật này đồng nhất với vai trò mà

nó đảm nhiệm trong tác phẩm Nhân vật loại hình lại thể hiện tập trung mộtloại phẩm chất, tính cách nào đó của con ngời hoặc các phẩm chất, đạo đứccủa một loai ngời nhất định ở thời đại nào đó Nhân vật tính cách là kiểunhân vật phức tạp hơn cả Loại nhân vật này đợc miêu tả trong tác phẩm

nh một nhân cách, một cá nhân có cá tính nổi bật Linh hồn của nhân vậttính cách thể hiện chủ yếu ở tơng quan giữa các đặc điểm, thuộc tính, phẩmchất xã hội với tình huống, với môi trờng Nhân vật tính cách vì vậy thờng

có những mâu thuẫn nội tại, những nghịch lí, chuyển hoá, và do đó tínhcách có quá trình tự phát triển khiến nhân vật không đồng nhất giản đơnvào chính nó Còn nhân vật t tởng là loại nhân vật tập trung thể hiện một ttởng, một ý thức tồn tại trong đời sống xã hội Nhân vật t tởng là sản phẩmsáng tạo của ngời nghệ sĩ song nó không phải là cái loa phát ngôn cho t t-ởng tác giả Loại nhân vật này có thể bao hàm trong nó những phẩm chất,tính cách, cá tính, nhân cách, dĩ nhiên yếu tố cá tính, tính cách không phải

là đơn vị cơ bản tạo nên cấu trúc của nhân vật t tởng

Sự phân loại nhân vật văn học cũng chỉ mang ý nghĩa tơng đối bởitrong thực tế đời sống văn học, nhân vật rất phong phú, đa dạng Nhân vậtvăn học chiếm vị trí đặc biệt quan trọng đối với tác phẩm Nắm đợc hệthống nhân vật cũng chính là đã nắm đợc “mã” để khám phá chiều sâu thếgiới nghệ thuật ấy

1.2.4 Hình tợng ngời trần thuật

Ngời trần thuật là khái niệm trung tâm của Trần thuật học, song hiện

nay nội hàm của thuật ngữ này còn nhiều điều cha đợc minh định và còngây tranh cãi

Các nhà nghiên cứu văn học của Pháp nh G.Genette hiểu ngời trầnthuật có chức năng của tác giả, vừa chỉ huy cách kể, vừa truyền đạt thôngtin, vừa thuyết phục ngời đọc Nhà lí luận Jonathan Culler cho rằng: “Bất

cứ trần thuật nào đều phải có ngời trần thuật bất kể ngời trần thuật ấy có

đ-ợc xác nhận rõ ràng hay không Bởi vì vấn đề trung tâm của chủ đề mỗi câuchuyện đều là vấn đề về mối quan hệ giữa ngời trần thuật hàm ẩn và câuchuyện mà nó kể ra” Còn W.Kayser đơng thời khẳng định: “Ngời trầnthuật - đó là một hình hài đợc sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tácphẩm văn học” 13, tr.244 - 245

Nh vậy, có thể hiểu ngời trần thuật cũng là một nhân vật, hoặc h cấu,hoặc có thật, tạo lập các văn bản tự sự bằng hành vi ngôn ngữ của mình D-

Trang 17

ới hình thức ngời trần thuật, tác giả “mách” cho ngời đọc con đờng đi vàothế giới nhân vật và tìm cách làm cho nhân vật có sức thuyết phục tối đa vềphơng diện nghệ thuật

Một văn bản có thể có nhiều ngời trần thuật ở các tầng bậc khácnhau Để kiến giải cho hiện tợng này, ta có thêm phạm trù cần bàn, đó làchủ thể trần thuật Chủ thể trần thuật không đồng nhất với tác giả, phân hoácho những ngời trần thuật khác nhau, phân tán giọng điệu ở các tầng bậc

mà ngời trần thuật không phải là kẻ đại diện quan trọng nhất của chủ thểtrần thuật

Ngời trần thuật có thể can thiệp vào câu chuyện, thúc đẩy tiến trìnhcủa nó, phát triển, nghị luận, phân tích, miêu tả, mách bảo, chỉ điểm chongời đọc hoặc biểu hiện trạng thái cảm xúc Ngời trần thuật đảm nhiệmnhững chức năng khác nhau nhng tựu trung lại, có năm chức năng cơ bản :chức năng kể chuyện- trần thuật, chức năng truyền đạt đóng vai trò mộtyếu tố của tổ chức tự sự, chức năng chỉ dẫn, chức năng bình luận và chứcnăng nhân vật hoá

Việc nắm vững khái niệm ngời trần thuật giúp độc giả phân tíchnghệ thuật tự sự có cơ sở khoa học hơn Mở rộng nội hàm khái niệm này

chúng ta có thuật ngữ điểm nhìn nghệ thuật “Điểm nhìn nghệ thuật là vị trí

từ đó ngời trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm” 9, tr.113

Muốn hiểu rõ thuật ngữ này cần có sự khu biệt điểm nhìn tác giả,

điểm nhìn nhân vật, điểm nhìn ngời trần thuật Điểm nhìn tác giả thờng là

của ngời đứng ngoài vì tác giả có những suy nghĩ riêng không hẳn trùngkhít với nhân vật Điểm nhìn nhân vật là điểm nhìn theo cá tính, địa vị tâm

lý nhân vật Còn điểm nhìn ngời trần thuật có thể dựa vào điểm nhìn nhânvật để miêu tả thế giới theo cảm nhận chủ quan của nhân vật Tóm lại,

điểm nhìn phải là sự lựa chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ đợc can thiệpcủa tác giả vào các sự kiện đợc miêu tả cho phép văn xuôi trở nên tự nhiênhơn, phù hợp, gần gũi với cuộc sống hơn Đứng trên những góc độ khácnhau có các loại điểm nhìn nghệ thuật khác nhau Điểm nhìn nghệ thuật cóthể chia thành điểm nhìn không gian và thời gian, điểm nhìn tâm lý, điểmnhìn quang học hoàn toàn khách quan, điểm nhìn theo một hệ t tởng nhất

định với lập trờng, quan niệm có tính giai cấp, xã hội rõ rệt…” Đáng chú ýnhất là sự phân biệt điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài Điểmnhìn bên trong biểu hiện thành hình thức tự quan sát của nhât vật Tôi, bằng

tự thú nhận hoặc bằng hình thức ngời trần thuật dựa vào giác quan, tâm hồn

17

Trang 18

nhân vật để biểu hiện cảm nhận về thế giới Thông thờng, trong việc miêutả cần có sự phối ứng điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài bởi việcluân phiên điểm nhìn có khả năng tạo ra hiệu quả nghệ thuật đáng kể, đặcbiệt trong đối thoại.

Trở lại với vấn đề ngời trần thuật, theo Trần Đình Sử, vai trò của

ng-ời trần thuật có hai loại: đáng tin cậy và không đáng tin cậy Lng-ời của ngng-ờitrần thuật nhiều khi không thống nhất với khuynh hớng yêu ghét của tácphẩm tạo thành ngời trần thuật không đáng tin cậy Nhng nếu lời của ngờitrần thuật thống nhất với nhân vật, với tác giả hàm ẩn trong tác phẩm thìngời trần thuật là đáng tin cậy

Trong văn học hậu hiện đại với quan niệm từ bỏ công tác đào xớichiều sâu thế giới nội tâm nhân vật mà chỉ mô tả tính chất cụ thể và phứctạp của những hành động, những ý nghĩ thoáng qua, nhà văn không đóngvai trò là ngời điều khiển những nhân vật ngôi thứ ba, không làm rõ tiếngnói của nhân vật ngôi thứ nhất mà đa ra nhiều tiếng nói đồng thời Mỗitiếng nói có thể xuất phát từ một quan điểm hoàn toàn dị biệt hoặc hoàntoàn đối lập nhau và có giá trị ngang nhau Điều này cho thấy để tiếp nhậnmột tác phẩm hậu hiện đại đúng mức, ngời đọc cũng cần có cảm quan nghệthuật nhạy bén mới nhận diện đợc những tiếng nói đồng thời trong chỉnhthể thẩm mĩ hoàn chỉnh, từ đó khám phá đặc sắc của hình thức cũng nh nộidung của tác phẩm

1.2.5 Ngôn từ nghệ thuật

Bớc vào thế giới văn học nghệ thuật là bớc vào thế giới ngôn từ Nóicách khác văn học là nghệ thuật ngôn từ Ngôn từ trở thành yếu tố đầu tiênquy định cung cách ứng xử của ngời nghệ sĩ, là phơng tiện để nhà văn thựchiện sự giao tiếp nghệ thuật

Ngôn từ nghệ thuật là “dạng ngôn ngữ đợcdùng để biểu đạt nội dung

hình tợng của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (sáng tác lời truyền miệng vàvăn học viết)” 2, tr.227 ở đây cần có sự khu biệt giữa yếu tố ngôn từnghệ thuật và ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống các phơng tiện ngữ âm, từvựng và ngữ pháp giúp cho việc khách thể hoá hoạt động t duy làm công cụgiao tiếp, trao đổi, suy nghĩ, hiểu biết lẫn nhau giữa ngời và ngời trong xãhội Còn ngôn từ nghệ thuật là hình thức tồn tại thực tế của ngôn ngữ đợc

sử dụng với tất cả phẩm chất thẩm mĩ và khả năng nghệ thuật của nó Nhàvăn trở thành ngời nghệ sĩ gia công ngôn ngữ, biến ngôn ngữ trở thành ph-

Trang 19

ơng tiện biểu hiện nghệ thuật Nói cách khác ngôn từ là hiện tợng nghệthuật do nghệ sĩ sáng tạo theo quy luật chung của nghệ thuật

Trong đời sống hàng ngày, ngôn từ đợc sử dụng nh phơng tiện giaotiếp, truyền đạt thông tin, xác lập quan hệ giữa ngời nói và ngời nghe Cònngôn từ văn học phải đợc lựa chọn, tinh lọc, tổ chức thành văn bản, thựchiện sự “giao tiếp mãi mãi” (Trần Đình Sử) Dĩ nhiên việc lựa chọn tổ chứcvăn bản trong mỗi thời kì văn học là khác nhau Trong văn học hậu hiện đạithế giới với chủ trơng “bành trớng ngôn từ ”(Charles Newma), sùng bái

“cái biểu đạt” trong hai mặt “cái biểu đạt” và “cái đợc biểu đạt” của ngôn

từ, các nhà văn thờng tuỳ tiện trong việc ghép từ, tạo câu bất kể sự trốngrỗng của nội dung

Là một hiện tợng văn học nhằm thực hiện sự giao tiếp nghệ thuật,ngôn từ đảm nhận chức năng sáng tạo ra thực tại nghệ thuật, sáng tạo rakhách thể thẩm mĩ và sáng tạo ra chính bản thân các hình tợng ngôn từ, cácbiểu tợng, các hình thức lời thơ, lời văn xuôi

Đặc trng của ngôn từ bị quy định bởi nhiệm vụ chiếm lĩnh thế giới

về mặt tinh thần Do vậy, tính hình tợng trở thành đặc trng cơ bản của ngôn

từ nghệ thuật Tính hình tợng của nó thể hiển ở chỗ toàn bộ ngôn từ đều làsản phẩm h cấu cùng với chủ thể lời nói, là thứ ngôn từ miêu tả mà vần,nhịp, từ, câu, tổ hợp trên câu đều có chức năng biểu hiện nhằm tái hiệnthực tại nghệ thuật Mặt khác, tính hình tợng của ngôn từ còn bởi trong vănhọc tự bản thân nó là một hình tợng ngôn ngữ Chính đặc trng này đã kiếntạo nên thế giới phong phú, đa dạng và sinh động trong văn học

Ngôn từ nghệ thuật là hiện tợng “siêu ngôn ngữ học” (M.Bakhtin),bắt nguồn từ ngôn ngữ toàn dân Việc sử dụng nó phụ thuộc vào nhãn quanngôn ngữ của mọi thời đại, mỗi trào lu văn học cũng nh gắn liền với cá tínhsáng tạo, quan điểm nghệ thuật của ngời nghệ sĩ Lao động nghệ thuật là cảquá trình gian khổ, lao lực khi phải vật lộn với từng câu chữ để sáng tạo đ -

ợc những “vần kim cơng” (Maiacôpxki), làm nên tác phẩm có giá trị mà ở

đó mỗi từ đều có khả năng phát động một trờng liên tởng rộng lớn

1.2.6 Giọng điệu

Giọng điệu là một trong những yếu tố hàng đầu của phong cách nhà

văn, là phơng tiện biểu hiện quan trọng của tác phẩm văn học, đồng thời lànhân tố đóng vai trò thống nhất các thành phần khác của hình thức tácphẩm trong một chỉnh thể

19

Trang 20

“Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trờng, t tởng, đạo đức của nhàvăn đó đối với hiện tợng đợc miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cáchxng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơthành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm”9, tr.134.

Giọng điệu là một hiện tợng văn học đợc nhận diện từ lâu nhng việcnghiên cứu nó lại tiến triển rất chậm Có ngời quy giọng điệu vào một vàibiểu hiện của ngữ điệu, có khi giọng điệu lại bị đơn giản hoá xem là dấuhiệu cá thể hay dấu hiệu địa phơng Thực chất, giọng điệu là hiện tợngnghệ thuật toát ra từ tác phẩm văn học và mang nội hàm t tởng thẩm mĩ Vìvậy đòi hỏi ngời trần thuật, ngời kể chuyện hay nhà thơ phải định hình chomình khẩu khí, giọng điệu riêng Nhà văn dù hội đủ trong mình tài năng,

và cả tài liệu nhng sẽ không “sản sinh” đợc tác phẩm nếu thiếu một giọng

điệu nhất định Giọng điệu trong tác phẩm văn học gắn liền với cái giọng

“trời phú” của mỗi tác giả nhng mang nội dung khái quát, phù hợp với từng

đối tợng thể hiện Riêng đối với các tác phẩm văn xuôi tự sự, giọng điệucần thiết cho việc sắp xếp, liên kết các yếu tố hình thức khác làm cho tácphẩm có cùng một âm lợng, giọng điệu, đợc thiết kế bởi mối quan hệ thái

độ, lập trờng, t tởng, tình cảm của ngời kể chuyện với các đối tợng, các sựkiện đợc miêu tả cũng nh ngời nghe tạo thành giọng điệu nghệ thuật

Trong văn học, giọng điệu mang nội dung, tình cảm, thái độ của chủthể đối với đời sống Hệ số tình cảm của lời văn đợc biểu hiện trớc hết ởgiọng điệu cơ bản Giọng điệu tác phẩm phụ thuộc vào cảm hứng chủ đạo

và các dạng của cảm hứng nh cao cả, bi kịch, hài kịch, lãng mạn, cảm

th-ơng…” Giọng điệu bộc lộ rõ điểm nhìn của chủ thể, quan hệ của chủ thể tácgiả với cái đợc miêu tả

Nh vậy, giọng điệu văn học cũng là hiện tợng “siêu ngôn ngữ”, nóphụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, khuynh hớng nghệ thuậtcủa tác giả và của thời đại

Trang 22

Chơng 2

Tác phẩm tự sự của Hồ anh thái trong bối cảnh văn học việt nam thời đổi mới 2.1 Nhìn chung về nghệ thuật tự sự trong văn học Việt Nam thời kì

Văn học nghệ thuật có mối quan hệ hữu cơ với hiện thực đời sốngcho nên mỗi biến động của lịch sử, của xã hội thờng tạo nên những chuyển

động trong sự phát triển của văn học Đại hội VI của Đảng là sự kiện lịch

sử tác động sâu sắc và toàn diện tới tiến trình lịch sử dân tộc trong đó cóvăn học nghệ thuật Tuy nhiên, sự biến đổi và phát triển của văn học khôngphải chỉ chịu tác động của các biến cố chính trị - xã hội từ bên ngoài màcòn do sự vận động nội tại của nó gây nên Vì vậy, để xác định các thời kìphát triển của văn học, không thể chỉ căn cứ vào các thời điểm quan trọngtrong lịch sử dân tộc mà còn phải xét đến những cái mốc đánh dấu sựchuyển biến của t duy nghệ thuật, của sự phát triển ngôn ngữ, của sự hìnhthành thể loại, sự ra đời của các trào lu, xu hớng văn học, sự xuất hiện củanhững hiện tợng nghệ thuật tầm cỡ…” nghĩa là phải xét cả đến sự vận độngbên trong của bản thân văn học

Chiến thắng mùa xuân 1975 là một cột mốc lớn trong lịch sử dân tộcnhng trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học từ năm 1975 đến 1986

là khoảng thời gian quá độ, bản lề, là giai đoạn tiền đổi mới Tự sự vốn làmột thể loại năng động, nhạy cảm, có khả năng khái quát rộng lớn và sâusắc những vấn đề về đời sống, con ngời, xã hội Trong giai đoạn tiền đổimới, thể loại này đã có đợc những thành tựu có ý nghĩa khai phá, mở đờng

để rồi phát triển mạnh mẽ khi văn học bớc vào thời kì đổi mới

Giai đoạn văn học từ 1945 đến 1975 phát triển trong hoàn cảnhchiến tranh, vấn đề sống còn của toàn thể cộng đồng dân tộc đặt ra gay gắthơn bao giờ hết, vì thế văn học có xu hớng sử thi hoá Con ngời trong vănhọc luôn là những nhân vật của cộng đồng, kết tinh những phẩm chất củacộng đồng, sức mạnh cộng đồng, nhân danh lợi ích cộng đồng mà suy

Trang 23

nghĩ, mà hành động Con ngời của đời t, đời thờng, con ngời cá thể, conngời tự nhiên, con ngời nhân loại, con ngời tâm linh - đó là lĩnh vực rất vănhọc, có thể khai thác nhiều vấn đề có ý nghĩa nhân bản, nhân văn sâu sắckhông đợc chú ý một cách thích đáng Một số tác phẩm có đề cập đếnnhững vấn đề trên trở nên “lạc điệu” và không ít trong số đó trở thànhnhững tác phẩm “có vấn đề” cần phải chấn chỉnh.

2.1.1.1 Sự đổi mới t duy

Từ sau 1975, đặc biệt từ sau 1986, đất nớc bớc vào thời kì đổi mớitoàn diện và sâu sắc trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống trong đó có vănhọc Trong xu thế chung, đổi mới t duy để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp

đổi mới, nhiều vấn đề cơ bản của văn học nghệ thuật cũng đợc nhận thứclại một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn: mối quan hệ văn học nghệthuật và chính trị, vai trò, ý nghĩa của nó đối với con ngời và đời sống.Nghị quyết 05 của Bộ Chính Trị và chủ trơng “cởi trói” cho văn học nghệthuật tạo nên một luồng sinh khí mới trong đời sống văn học Cha bao giờnhững quan niệm đổi mới về văn chơng, về nhà văn, về hiện thực và conngời, về đổi mới t duy nghệ thuật lại cởi mở, dân chủ nh lúc này

2.1.1.2 Mở rộng giao lu văn hoá với nớc ngoài

Một tiền đề quan trọng góp phần vào quá trình cách tân đổi mới vănhọc nói chung, của thể loại tự sự nói riêng là quá trình giao lu văn hoá vớinớc ngoài Việc tiếp thu tinh hoa các nền văn nghệ nớc ngoài để phát triểnnền văn nghệ dân tộc là quy luật phổ biến vô cùng quan trọng bởi sự tiếpthu đích thực không bao giờ là sự sao chép nô lệ mà là một sáng tạo Trongtiến trình lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta đã từng chứng kiến vai tròquan trọng của việc giao lu văn hoá với nớc ngoài trong việc thúc đẩy lịch

sử văn học phát triển Đó là quá quá trình hiện đại hoá diễn ra nhanh chóngtrong những năm đầu thế kỉ XX đa nền văn học Việt Nam từ văn học trung

đại sang quỹ đạo văn học hiện đại trong một hoàn cảnh lịch sử không phải

là thuận chiều Làm nên một thời đại mới trong văn học ở những thập niên

30, 40 của thế kỉ trớc, yếu tố quyết định là sức sống nội tại, bền vững,mạnh mẽ của dân tộc nhng còn có một yếu tố quan trọng khác: đó là quátrình cách tân đổi mới gắn liền với quá trình giao lu văn hoá, tiếp thu tinhhoa văn hoá nớc ngoài mà nổi bật là nền văn hoá Pháp

Nếu nh ở những thập niên 30, 40 của thế kỉ XX nền văn học dân tộc

in đậm dấu ấn ảnh hởng của văn học Pháp thì giai đoạn 1945 đến 1975giao lu văn hoá chủ yếu diễn ra trong phe xã hội chủ nghĩa trớc đây Đó là

23

Trang 24

từ những nền văn học của Đông Âu, văn học Nga Xô Viết, văn học TrungQuốc…” tác động một cách toàn diện và sâu sắc đời sống văn học, chi phốicả đờng lối, quan điểm nghệ thuật, phơng pháp sáng tác, t duy nghệthuật…”

Thời kì đổi mới từ sau 1975 mà nổi bật là từ 1986 giao lu văn hoádiễn ra ở phạm vi rộng lớn hơn - phạm vi toàn cầu Cùng với sự đổi mới về

t duy chính trị, các thành tựu khoa học kỹ thuật cũng góp phần thúc đẩyquá trình giao lu, hội nhập Sự phát triến nhanh chóng của hệ thống mạng l-

ới thông tin toàn cầu đã thu hẹp mọi khoảng cách không gian Những thànhtựu văn học của thế giới đợc cập nhật Mỗi biến động, mỗi thành tựu vănhọc của thế giới đều nhanh chóng ảnh hởng đến văn học Việt Nam Đờisống văn học rộng mở đón nhận nhiều cái mới lạ của văn học nhân loạinhất là từ những nền văn học phơng Tây Đó là nguồn bổ sung không thểthiếu đợc của đời sống văn học dân tộc Những thành tựu văn học thế giới ởthời kì hiện đại, đơng đại đã mở ra những vùng hiểu biết mới, những cảmnhận mới đã góp phần thúc đẩy sự sáng tạo đem đến những nét mới mẻ cảnội dung và hình thức cho văn học Việt Nam thời kì đổi mới Trên bìnhdiện hình thức, rất dễ nhận ra những kĩ thuật thể hiện của văn học phơngTây hiện đại đợc các nhà văn thời kì đổi mới đã sử dụng một cách có hiệuquả trong các tác phẩm tự sự nh: Bút pháp kì ảo, thủ pháp tự sự dòng ýthức, nghệ thuật cấu trúc tác phẩm…”

2.1.1.3 Vai trò của công chúng độc giả

Một nhân tố khác vô cùng quan trọng tác động đến tiến trình đổi mớicủa văn học đó là công chúng ngời đọc Một quá trình sáng tạo văn họctrọn vẹn gồm ba thành tố: nhà văn - tác phẩm và công chúng Tác phẩmchính là cầu nối giữa nhà văn và công chúng Nhà văn có nhu cầu sáng tácvăn học nhằm mục đích để biểu hiện mình, để giao tiếp với đồng loại, đểtìm tri âm, tri kỉ Rõ ràng độc giả bao giờ cũng là một bộ phận hợp thànhcủa văn học nghệ thuật Mối quan hệ giữa nhà văn - tác phẩm và ngời đọc

là mối quan hệ sống còn Ngời đọc không thể là ngời ngoài cuộc trong tiếntrình cách tân đổi mới của văn học

Giai đoạn văn học 1945-1975 là giai đoạn văn học phục vụ chính trị,

cổ vũ chiến đấu để đáp ứng yêu cầu lịch sử của đất nớc Đó là một nền vănhọc hớng về đại chúng, trớc hết là công- nông- binh Văn học phục vụ ngời

đọc đông đảo công, nông, binh cho nên phải là văn học đại chúng hoá phải

Trang 25

thể hiện bằng những hình thức nghệ thuật quen thuộc với quần chúng nhândân.

Từ sau 1975, văn học Việt Nam lâm vào tình trạng mất độc giả Lựclợng viết, số lợng tác phẩm vẫn nhiều nhng dờng nh công chúng quay lnglại với văn học trong nớc Ngời đọc vẫn tìm đến với văn học nhng là vănhọc nớc ngoài hoặc văn học cổ Nguyên nhân chủ yếu là cuộc sống đã thay

đổi rất nhiều mà văn học thì vẫn đang sáng tác theo quán tính từ giai đoạntrớc Văn học cha góp phần thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ mới, phù hợp vớihoàn cảnh mới Giọng điệu anh hùng ca trở nên lạc lõng, xa lạ, tạo nên sựlệch pha giữa văn học và đời sống

Bớc vào thời kì đổi mới, trong sự phát triển nhanh chóng của thời đạithông tin, các phơng tiện nghe nhìn đến với mọi ngời, mọi nhà ở khắp mọivùng miền của đất nớc Báo đọc, báo nói, báo hình ngoài việc chuyển tảithông tin thời sự từ các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội đến với mọi ngờicòn góp một phần rất quan trọng thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, giải trí chongời đọc, ngời nghe Nếu nh văn hoá nghe nhìn phát triển mạnh thì văn hoá

đọc lại bị thu hẹp lại Nó không còn địa vị độc tôn nh ở giai đoạn trớc đổimới

Đông đảo công chúng của nghệ thuật nói chung, văn học nói riêngsinh ra, lớn lên sau chiến tranh, là công chúng có trình độ văn hoá cao hơntrớc Sống trong hoàn cảnh mới, xã hội đã thoát khỏi tình trạng bao cấp, cơchế thị trờng hình thành, phát triển tác động đến con ngời cả thuận chiềulẫn nghịch chiều, có nhiều thay đổi về lối sống, ý thức về quyền sống cánhân phát triển mạnh mẽ Nhu cầu về vật chất, tinh thần ngày một cao hơn.Tất cả các nhân tố đó góp phần hình thành nên một công chúng văn học cónhững thị hiếu thẩm mĩ riêng biệt khác với giai đoạn trớc

Điều đáng nói ở đây là trong bối cảnh đổi mới, độc giả đã trở lại vớivăn hoá đọc: một văn hoá đã đợc nâng cấp, đợc lựa chọn, không bị áp đặtbởi chủ nghĩa đề tài hoặc một một phơng pháp sáng tác duy nhất Ngời đọc

có hứng thú đi tìm những cuốn sách hay - những cuốn sách trở về vớinhững với chức năng thẩm mĩ và giải trí, tôn trọng vai trò của ngời đọc,khêu gợi ở họ những suy ngẫm, những ý tởng và đồng sáng tạo

2.1.1.4 Vai trò của đội ngũ nhà văn

Nhân tố quyết định cho tiến trình đổi mới là đội ngũ nhà văn - chủthể sáng tạo Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo Quy luật vận

25

Trang 26

hành đi lên của mọi nền văn học là không ngừng sáng tạo, không ngừngcách tân đổi mới.

Nhìn lại văn học trung đại Việt Nam, ta nhận thấy cha ông ta x a khi

đi vào thế giới văn chơng tuy đứng trớc những quy phạm chặt chẽ nghiêmngặt, nhng bằng trí tuệ tâm hồn và tài năng của mình vẫn sáng tạo ra những

áng văn thơ giàu cá tính làm say đắm lòng ngời đọc bao đời nay Nhữngnhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân H-

ơng…” đã thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc

Thế hệ nhà văn trong nửa đầu của thế kỉ XX bằng nỗ lực cách tân đãlàm nên một cuộc cách mạng trong văn học nớc nhà đa văn học Việt Nam

đi vào quỹ đạo của văn học hiện đại Tên tuổi của những nhà thơ, nhà vănlớn nh : Tản Đà, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thạch Lam, NamCao, Vũ Trọng Phụng…” đã làm rạng rỡ một thời đại văn học

Ba mơi năm chiến tranh giải phóng, văn học phải tập trung chonhiệm vụ chiến đấu vì mục đích độc lập dân tộc Đây là giai đoạn đã tậphợp đợc một đội ngũ nhà văn - chiến sĩ, đi sâu vào thực tế chiến đấu hàohùng, vĩ đại, từng có những trải nghiệm vô giá trong cuộc sống chiến đấu,

họ đã tạo nên một nền văn học chiến đấu, có sức cổ vũ lớn lao, hoàn thành

sứ mệnh vẻ vang mà tổ quốc giao cho

Lịch sử sang trang, yêu cầu cách tân đổi mới văn học lại đợc đặt ra.Thế hệ nhà văn trởng thành trong khói lửa chiến tranh tiêu biểu là nhà văn

Nguyễn Minh Châu dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ và bằng những sáng tác của mình

nh Bức tranh, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Phiên chợ Giát…

Ông trở thành ngời mở đờng tinh anh và tài năng, ngời dẫn đờng tận tuỵ vàdũng cảm trong tiến trình đổi mới Đồng hành với Nguyễn Minh Châu còn

có các nhà văn khác: Nguyên Ngọc, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, NguyễnKhải…”

Từ năm 1986 trở đi, đội ngũ nhà văn xuất hiện những tài năng khẳng

định vị trí của mình trong tiến trình cách tân đổi mới văn học Có một thế

hệ nhà văn “Không hề bị vớng mắc bởi cái nhìn sử thi” (Hoàng Ngọc Hiến)xuất hiện Có thể kể tới Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài,

Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh…” Đó là những nhà văn đã góp phần đavăn học Việt Nam bớc vào một thời kì mới Họ vừa là sản phẩm của thời

đại văn học đổi mới, vừa góp phần đáng kể vào tiến trình cách tân văn học

2.1.2 Một số thành tựu nổi bật

Trang 27

Cho đến nay, chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm - thời kì đổi mới củavăn học cũng mới chỉ diễn ra qua vài thập kỉ và đang tiếp diễn Văn học nóichung, thể loại tự sự nói riêng đã có đợc những thành tựu nổi bật Nghệthuật tự sự đã có những thay đổi rất cơ bản

2.1.2.1 Đổi mới t duy nghệ thuật

Thành tựu nổi bật làm thay đổi diện mạo cả nền văn học nói chung,nghệ thuật tự sự nói riêng là sự đổi mới t duy văn học

Văn học giai đoạn 1945 - 1975 phát triển trong hoàn cảnh chiếntranh tập trung cho nhiệm vụ chiến đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc Yêucầu đổi mới văn học là phản ánh một cách chân thật và hùng hồn cuộc sốngmới, con ngời mới chủ yếu trên mặt trận chiến đấu Vì vậy đối tợng nhậnthức và phản ánh của văn học trở nên hạn hẹp, cứng nhắc, hớng tới nhữngmục tiêu, nhiệm vụ cha thực sự phù hợp với bản chất của nó Cần phải mởrộng phạm vi khám phá của văn học để đáp ứng những đòi hỏi mới của conngời hiện đại Hiện thực phải đợc nhìn nhận từ nhiều góc độ, nhiều địa hạtmới mẻ đợc khai phá phù hợp với những cá tính sáng tạo khác nhau Từphản ánh hiện thực kháng chiến hào hùng, tràn ngập âm hởng sử thi, vănhọc chuyển sang một kiểu t duy mới: suy ngẫm về hiện thực, suy ngẫm vềcái đơng đại đang diễn ra, từ mục tiêu hớng về cuộc chiến đấu cho quyềnsống của dân tộc đến văn học phải tham gia vào cuộc chiến đấu cho quyềnsống của của từng cá nhân con ngời, không có một vùng nào đợc coi là

“cấm kị” đối với nhà văn của thời đổi mới Văn học không ngần ngại miêutả tính dục, tình yêu nhục thể là lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân, khaithác các yếu tố tích cực của con ngời tự nhiên là khía cạnh nhân bản củavăn học Thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức, vùng mờ của ý thức cũng làphạm vi hiện thực mà văn học phản ánh Nó thuộc về “con ngời bên trongcon ngời” (Bakhtin) là đối tợng chủ yếu của văn học mọi thời

ở thời đại nào, đối tợng trung tâm của nhận thức, phản ánh của vănhọc cũng là con ngời Giai đoạn văn học trớc thời kì đổi mới trung tâm làcon ngời công dân, con nguời của cộng đồng Trong thời kì đổi mới, conngời đợc nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn Không chỉ

là con ngời của cộng đồng, còn là con ngời cá nhân, con ngời xã hội, conngời tự nhiên, con ngời tổng hoà của nhiều sắc thái đối lập: thiện và ác;thánh thần và ma quỷ; rồng phợng và rắn rết; ánh sáng và bóng tối…” Sốphận con ngời trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn thể hiện cáinhìn dân chủ đối với sự phức tạp của tình ngời Những bi kịch của con ngời

27

Trang 28

giữa cuộc sống đời thờng đợc miêu tả sinh động: khát vọng và hiện thực;thanh lọc và tha hoá; nhân bản và phi nhân bản Số phận cá nhân đợc nhìnnhận trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng Đằng sau mỗi số phận,mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của thời đại có sự giaonhịp phức điệu giữa con ngời cá thể và nhân loại.

Cần phải nhận thức rằng con ngời cá nhân với t cách là đối tợng củavăn học không phải đến thời kì đổi mới mới xuất hiện Bóng dáng của nó

đã xuất hiện trong giai đoạn cuối của văn học Trung đại, hiện diện trongcác tác phẩm của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ…” ớc Bsang giai đoạn đầu thế kỉ XX, con ngời cá nhân, cá thể ở vị trí trung tâmcủa nhận thức và phản ánh của văn học, góp phần tạo nên những thành tựurực rỡ

ở thời kì đổi mới, t duy nghệ thuật trở về với con ngời cá nhân nhng

ở trên một trình độ mới với một điểm xuất phát mới cao hơn T duy nghệthuật dờng nh đã đi giáp một vòng trôn ốc trên con đờng nhận thức thể hiệncon ngời Nó đang nhìn lại chặng đờng vừa qua, kế thừa những phần sâusắc nhất và mở ra những chân trời sáng tạo mới cho văn học Sự quan tâm

đến con ngời, cuộc sống đơng thời đã làm thăng bằng nền văn học nhiềunăm qua thiên về cái chung, cái vĩ đại Các sáng tác tiêu biểu của Nguyễn

Minh Châu, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Mùa lá rụng trong vờn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, Trong sơng hồng hiện ra, Cõi ngời rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái…” góp phần tạo nên sự thăng bằng đó Các nhàvăn quan tâm sâu sắc đến số phận con ngời - Những dấu ấn của cuộc nhàonặn dữ dằn nghiệt ngã của lịch sử hằn đọng lên mỗi số phận con ngời và từ

đó cái đích hớng tới là những bài học nhân sinh sâu sắc Các tác phẩmthuộc thể loại tự sự đi sâu khám phá con ngời tự ý thức về nhân cách củamình Đó là bớc phát triển biện chứng của t duy nghệ thuật trong văn học

đổi mới Có thể nói rằng: con nguời đời thờng, con ngời đạo đức - thế sự là

đặc điểm quan trọng nhất của sự đổi mới t duy nghệ thuật của văn học thờikì đổi mới Nếu nh thể loại tự sự văn học Việt Nam 1945-1975 lấy cáichung để đánh giá cái riêng, lấy số phận cộng đồng để định đoạt số phậncá nhân thì trong thời kì đổi mới lại là từ số phận cá nhân mà soi chiếu trởlại lịch sử và cộng đồng Đó là xu thế vận động mang tính thời đại, chuyểngiao từ con ngời nguyên phiến của văn học sử thi sang con ngời đa diện

2.1.2.2 Đổi mới thi pháp

Trang 29

Đổi mới t duy nghệ thuật kéo theo sự đổi về thi pháp Nhà lí luậnBiêlinxki (1811-1848) từng nêu lên một quan niệm biện chứng: Nếu nh có

t tởng của thời đại thì cũng có những hình thức của thời đại Nội dung mớicần phải có một hình thức tơng ứng phù hợp để thể hiện Đó là quy luậtchung của văn học nghệ thuật trong đó có thể loại tự sự Nghệ thuật tự sựthời kì đổi mới có những nét nổi bật sau đây:

Thứ nhất: Bút pháp kì ảo - một trong những phơng thức tự sự đợc

nhiều cây bút sử dụng

Yếu tố kì ảo vốn đã hiện hữu trong văn học trớc đây Ngay từ lúcmới ra đời, văn học Việt Nam đã gắn liền với kì ảo Kì ảo là một trongnhững đặc trng của truyện cổ dân gian Chính các yếu tố kì ảo trong thầnthoại, cổ tích là “văn hoá gốc” “văn hoá mẹ” là nguồn mạch dân gian, nuôidỡng góp phần đặt nền móng, hình thành nên các phơng pháp, phơng tiệnchiếm lĩnh hiện thực bằng hình tợng Kế thừa nguồn mạch dân gian, văn

học viết thời kì Trung đại với các tác phầm nh : Lĩnh nam chính quái, Truyền kì mạn lục…” đã sử dụng phơng tiện kì ảo có hiệu quả hớng tớinhững mục đích tốt đẹp Đằng sau những câu chuyện có phần hoang đờng,kì quái nhng không phải để mua vui giải trí đơn thuần mà là: “Chỉ cốt điềuthiện, răn điều ác, bỏ giả, theo thật để khuyến khích phong tục mà thôi”

31, tr 27

Đến giai đoạn văn học hiện đại, lại xuất hiện những cây bút kì ảo vớiphong cách tài hoa, độc đáo nh: Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Nhất Linh…” nhngsuốt 30 năm chiến tranh (1945-1975) loại truyện kì ảo dờng nh bị rơi vàoquên lãng Có nhiều lí do để phơng thức chiếm lĩnh thực tại bằng yếu tố kì

ảo không tồn tại

Thời kì đổi mới, đặc biệt là từ năm 1986, có một sự hồi sinh mạnh

mẽ của văn xuôi kì ảo Số lợng tác giả viết văn xuôi kì ảo khá đông đảo màtiêu biểu nh : Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái,PhạmThị Hoài…” Thủ pháp kì ảo đợc các nhà văn sử dụng có khi dựa trênnền tảng của những tác phẩm cổ tích, truyền thuyết, thần thoại trong quá

khứ nh tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp Việc sử

dụng những hình thức nghệ thuật nh cổ tích hoá, huyền thoại hoá, các câybút đã có một phơng thức phù hợp với việc tái tạo hiện thực nhằm đem đếncho ngời tiếp nhận những không gian hiện thực mới Sử dụng yếu tố kì ảo

đợc xem nh một thủ pháp để chuyển tải ý tởng trở thành một đặc điểm nổibật trong nghệ thuật tự sự Đó là một thủ pháp nghệ thuật mới mẻ giúp ngời

29

Trang 30

viết tạo ra sự mới mẻ trong văn phong, sử dụng yếu tố kì ảo là một trongnhững nhân tố đổi mới diện mạo văn học trên những nét lớn là nhu cầuphát triển tự thân, tất yếu của đời sống văn học, tạo nên sự thăng bằng cầnthiết cho nền văn học, là một trong những nhân tố đa dạng hoá t duy nghệthuật và phong phú hoá các phơng pháp tiếp cận hiện thực cũng nh phơngthức thể hiện của văn xuôi đơng đại phần nào khiến cho cuộc sống đa dạngphức tạp không bị thể hiện một cách giản đơn, một chiều.

Thứ hai : Một trong những đổi mới nổi bật của nghệ thuật tự sự trong thời kì đổi mới là thủ pháp tự sự dòng ý thức Tiếp thu những tinh hoa

sáng tạo của văn học thế giới đặc biệt là từ phơng Tây, nghệ thuật tự sựViệt Nam thời đổi mới đã vận dụng thủ pháp dòng ý thức nh một phơngtiện đi sâu vào thế giới tâm linh một cách có hiệu quả

Dòng ý thức là sự tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, những cảmxúc, những liên tởng ở con ngời (…” ý thức là một dòng chảy, một con) sông, ở đó những t tởng, cảm xúc, liên tỏng bất chợt luôn lấn át nhau và

đan bện vào nhau một cách kì quặc “phi lô gíc” “Dòng ý thức là mức giớihạn, là dạng cực đoan của độc thoại nội tâm” 12, tr.351

Nghệ thuật tự sự Việt Nam thời đổi mới đã vận dụng thủ pháp dòng

ý thức nh một phơng tiện đi sâu vào thế giới tâm linh một cách có hiệu quả

Kĩ thuật dòng ý thức sử dụng thời gian đồng hiện, hồi ức hoài niệm, dòngsuy tởng, những giấc chiêm bao cho phép nhân vật bộc lộ những miền sâukín của tâm hồn: Những vùng mờ của ý thức, của tiềm thức, vô thức.Những giấc mơ nh là một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế giới

vô thức của con ngời Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai…” là những tác phẩmtiêu biểu

Thủ pháp tự sự dòng ý thức tạo ra sự dịch chuyển điểm nhìn nghệthuật vào bên trong là sự thay đổi ngôi kể Sự hoà lẫn của nhiều dòng ýthức chính là sử dụng linh hoạt ngôi kể

Với bút pháp tự sự dòng ý thức, yếu tố sự kiện trong tác phẩm trởnên thứ yếu Tính nhất quán và hoàn chỉnh của cốt truyện không còn lànguyên tắc tổ chức tác phẩm Diễn biến của truyện thờng bị đứt gãy, khôngliền mạch Đồng hiện thời gian, độc thoại nội tâm, hồi tởng đợc xem lànhững cách triển khai hợp lí nhằm khắc hoạ đời sống nội tâm của nhân vật

cũng nh những trạng thái của đời sống Trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh Bảo Ninh đã xây dựng tác phẩm theo dòng tâm trạng nhân vật bao

Trang 31

gồm cả ý thức lẫn vô thức, sáng tạo dựa trên tự giác, linh cảm để ngòi bútphiêu lu trong thế giới tâm linh của con ngời.

Tác phẩm Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu là truyện ngắn

tiêu biểu sử dụng thủ pháp dòng ý thức đạt hiệu quả nghệ thuật cao Dòng

ý thức của nhân vật thay thế cho sự phát triển lôgíc của các sự kiện LãoKhúng - nhân vật chính của truyện hiện lên bằng những hồi ức, những giấcmơ Nội tâm nhân vật đợc soi chiếu, phân tích và mổ xẻ với những ý nghĩ

về kiếp ngời, những ám ảnh về thân phận

Thứ ba: Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con ngời, và bút pháp

đã đổi mới nghệ thuật tổ chức, cấu trúc tác phẩm văn học.

Từ sau 1975 do sự đổi mới t duy văn học đề tài tự sự đời t phát triểnmạnh mẽ đã xuất hiện những cốt truyện về cái bình thờng, nhỏ nhặt của đờithờng, hàng ngày, nhiều khi tạo cảm giác nh không có chuyện Sự xuấthiện của các dòng ý thức, những giấc mơ, những hồi ức…” trở thành nhữngyếu tố làm nên cốt truyện - là những cốt truyện của tâm trạng Kĩ thuật

đồng hiện, kĩ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, sử dụng các yếu tố kì ảokhiến cho cốt truyện trở nên lỏng lẻo, mơ hồ, co dãn, biến hóa, khó tóm tắt,khó kể lại Có thể nói đến một hiện tợng: sự tan rã của cốt truyện trong cáctác phẩm tự sự theo kiểu truyền thống Do các yếu tố sự kiện, tình tiết,nhân vật đợc triển khai theo mạch vận động của cảm xúc, suy nghĩ cho nênloại hình tự sự trở thành vừa là tiếng nói của ý thức, vừa là tiếng nói củatiềm thức, của những giấc mơ thể hiện cái hiện tại đa dạng phức tạp đangchuyển biến, vận động không ngừng

Thứ t : Thay đổi phơng thức trần thuật, thay đổi mô thức tự sự còn bao hàm trong đó cả sự đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu Một tác phẩm đợc

trần thuật từ nhiều điểm nhìn, có nhiều sắc thái giọng điệu đã trở nên phổbiến của thể loại tự sự thời đổi mới ý thức cá tính hoá về mặt ngôn ngữ và

xu hớng gia tăng thành phần khẩu ngữ rút ngắn khoảng cách giữa tác phẩm

và ngời đọc Do yêu cầu các thể hoá cao độ ngôn ngữ nhân vật nên thể loại

tự sự thời kì đổi mới dung nạp nhiều dạng thức lời nói khác nhau của nhiềutầng lớp ngời trong xã hội

Nghệ thuật trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng trong

ph-ơng thức biểu hiện, nó còn là yếu tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo củanhà văn Ngôn ngữ ngời kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật tạo nên giá trị củatác phẩm tự sự thông qua đối thoại Đối thoại là một phần của văn bảnngôn từ nghệ thuật, một thành tố mà chức năng là tái tạo sự giao tiếp bằng

31

Trang 32

lời nói của các nhân vật, ngôn ngữ đối thoại là các kiểu xúc tiếp khôngmang tính quan phơng, tính cộng đồng, là kiểu trò chuyện giản dị, xuề xoànói bằng khẩu ngữ, là không khí bình đẳng về tinh thần đạo đức giữanhững ngời phát ngôn Nhờ đối thoại mà các vấn đề trong tác phẩm đặt ra

đợc xem xét dới những điểm nhìn khác nhau Ngôn ngữ đối thoại trong tácphẩm thờng gây đợc những tình huống bất ngờ và tạo cảm giác thực của

đời sống đã khúc xạ qua lăng kính của nhà văn Ngôn ngữ đối thoại giữ vaitrò đáng kể trong khắc họa tính cách nhân vật Mỗi nhân vật đợc nhà vănquan niệm nh một ý thức, một tiếng nói, một chủ thể độc lập Nhà vănkhông còn ở vị trí đứng trên, lấn lớt nhân vật, mà hoà nhập tham gia vàocuộc đối thoại, nhân vật trong các tác phẩm của Nguyễn Khải đợc cá thể

hoá, đầy cá tính trong những tác phẩm nh Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của ngời…”

ý thức đối thoại đợc phát huy trong không khí dân chủ hoá của đờisống văn học ở thời kỳ đổi mới Hoàn cảnh, điều kiện sống mới, dấu vếtthời đại đã chi phối và qui định cách nói năng giao tiếp, xuất hiện nhiều lớp

từ mới, quan niệm về lời nói cũng đợc bổ sung những sắc thái biểu cảmmới Ngôn ngữ tự sự gần với ngôn ngữ đời thờng, giàu khẩu ngữ Những

tác phẩm nh: Thời xa vắng, Ăn mày dĩ vãng, Cơ hội của Chúa, Cõi ngời rung chuông tận thế…” Là những bớc tiến về ngôn ngữ đối thoại - Ngônngữ ngời viết hiện đại, không lôi thôi, lòng thòng, nhiều chi tiết cô đặc, độc

đáo

Cùng với đối thoại, độc thoại nội tâm đóng vai trò chủ yếu trong

ph-ơng thức trần thuật của thể loại tự sự thời kì đổi mới Độc thoại nội tâm là

“Phát ngôn của nhân vật nói với bản thân mình, trực tiếp phản ánh quátrình tâm lý bên trong là kiểu độc thoại thầm, mô phỏng hoạt động suynghĩ - xúc cảm của con ngời trong dòng chảy trực tiếp của nó” 12, tr.445

Độc thoại nội tâm trong thể loại tự sự hiện đại có xu hớng phá vỡkhuôn khổ cú pháp thông thờng để tạo nên những dạng thức mới Dạng độcthoại nội tâm mà diễn tiến của nó dờng nh không bị tác giả can thiệp với cảnhững yếu tố cha bị định hình về ngữ pháp, nhờ thế có thể miêu tả đợc hoạt

động của cả ý thức lẫn vô thức của nhân vật Độc thoại nội tâm trở thànhmột thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả trong quá trình tự ý thức của nhân vật,

đi sâu vào thế giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật

Thể loại tự sự ở thời kỳ đổi mới đã tạo nên đợc những giọng điệu

riêng, phong phú, đa dạng Giọng điệu là yếu tố cấu thành phong cách nhà

Trang 33

văn và cũng là cách biểu hiện thái độ ứng xử của nhà văn trớc hiện thựccuộc sống Trong giai đoạn 1945-1975, đề tài chiếm lĩnh văn đàn Việt Nam

là chiến tranh, cùng với sự chi phối của cảm hứng sử thi tạo nên giọng điệungợi ca, tự hào bao trùm cả nền văn học Chính yếu tố này là tiền đề củabút pháp bay bổng, lãng mạn, gieo vào lòng ngời niềm lạc quan tin tởng

Có thể thấy giọng điệu chủ yếu trong sáng tác thời kỳ kháng chiếnchống Mĩ là giọng khẳng định, ngợi ca Kết quả của giọng điệu này là sựcộng hởng của yếu tố chủ quan, sự xúc động trớc những chiến công oanhliệt của quân và dân ta, cùng với sự chi phối của nhân tố khách quan khivăn học phải đảm đơng trách nhiệm động viên, cổ vũ Giọng điệu này gópphần thi vị hoá hiện thực gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu n-

ớc Vì vậy, dù tác giả có miêu tả gian khổ, khó khăn cũng không hẳn nhằmgây cho ngời đọc cảm giác thực ấy mà đó chỉ là “đòn bẩy” làm rạng ngờihơn phẩm chất anh hùng của con ngời Việt Nam

Sau 1986, cùng với sự thay đổi của hiện thực cuộc sống, quan niệmnghệ thuật, giọng điệu cũng có nhiều biến chuyển Trong một tác phẩmvăn học thời kỳ này khó có thể phân biệt rạch ròi giọng tác giả, giọng nhânvật Mỗi tác phẩm văn học là sự hoà phối của nhiều giọng điệu

Giọng kể trong tác phẩm văn học đơng đại không mang tính chất răndạy mà chỉ đơn giản là kể lại, thuật lại Một giọng kể có khi “khôngnghiêm túc”, “nửa đùa nửa thật” tạo nên sức lôi cuốn, mở rộng nội hàmnghĩa cũng nh t tởng, thông điệp thẩm mĩ mà nhà văn gửi gắm

Cũng từ sau 1986, trong văn học Việt Nam nảy sinh giọng điệu mới

- giọng suy t, tranh biện Trong một tác phẩm có vô số những cuộc đốithoại, tranh biện, những lời nói đầy triết lí về cuộc sống, về con ngời, vềnhân sinh, thế sự, lơng tâm, đạo đức

Mỗi nhà văn góp vào mạch chung văn học bằng một tiếng nói, mộtgiọng điệu khác nhau tạo nên sự phong phú, đa dạng, phức điệu cho cả nềnvăn học thời kì này

2.2 Sáng tác của Hồ Anh Thái trong bối cảnh văn học Việt Nam thời kì đổi mới

2.2.1 Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác

2.2.1.1 Tiểu sử Hồ Anh Thái

Sinh năm 1960, Hồ Anh Thái là nhà văn thuộc thế hệ lớn lên trongnhững năm chiến tranh và trởng thành trong thời hậu chiến

33

Trang 34

Giống nh hàng ngàn trẻ em khác lúc bấy giờ, Hồ Anh Thái từng sơtán về một vùng “an toàn” ở ngoại vi Hà Nội khi chiến dịch ném bom của

Mĩ bắt đầu cho đến lúc ông13 tuổi

Năm 1977 Hồ Anh Thái tốt nghiệp Trung học phổ thông và trở thànhsinh viên trờng Đại học Ngoại giao Sau khi nhận bằng cử nhân( 1983), HồAnh Thái làm việc tại Bộ Ngoại giao và trong thời gian này ông đã làmnghĩa vụ quân sự hai năm Trở về, Hồ Anh Thái là th kí cho Đại sứ quánViệt Nam tại ấn Độ ở cơng vị là một nhà ngoại giao làm việc tại ấn Độ,bằng tài năng, sự nỗ lực phấn đấu Hồ Anh Thái đã tiếp tục học ở Ôxtrâylia,

ấn Độ và nhân bằng Tiến sĩ văn hoá Phơng Đông (1994), đợc mời thỉnhgiảng ở một số trờng Đại học của Mĩ nh Đại học tổng hợp Washington Vềmặt này có thể xem Hồ Anh Thái là trờng hợp hiếm hoi của văn học ViệtNam đơng đại

Hiện nay, Hồ Anh Thái đảm đơng chức vụ Chủ tịch Hội nhà văn HàNội Là một nhà văn, nhà báo, Tiến sĩ Đông phơng học, nhà ngoại giao và

là tổng th kí Hội nhà văn Hà Nội, Hồ Anh Thái là con ngời đa ngành và đatài

2.2.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Hơn 40 tuổi, Hồ Anh Thái là con ngời từng trải và sớm trởng thành

Sự trởng thành ấy của ông biểu lộ ngay cả trong lĩnh vực văn chơng Cho

đến nay, Hồ Anh Thái đã cho xuất bản 15 tập tiểu thuyết và truyện ngắn,

đã in hàng trăm tác phẩm trên báo chí từ Bắc vào Nam, hầu hết sách của

ông đã đợc dịch và in ở nớc ngoài

Hồ Anh Thái bớc vào làng văn khá sớm Ông bắt đầu đợc in các bàibáo trên tạp chí Văn nghệ Quân đội từ khi còn học phổ thông 17 tuổi, Hồ

Anh Thái trình làng với truyện ngắn Bụi phấn gây ấn tợng cho những ngời

biên tập cũng nh thu hút sự chú ý của độc giả cả nớc

Trong thời gian làm việc với cơng vị của một nhà ngoại giao ở ấn Độ,bằng sự mẫn cảm, tinh nhạy cùng khả năng sáng tạo dồi dào, Hồ Anh Thái

đã có hàng loạt tác phẩm giá trị tập trung khai thác những khía cạnh khác

nhau của con ngời, đời sống, văn hoá ấn nh : Ngời đứng một chân, Đi khỏi thung lũng mới đến nhà, Tiếng thở dài qua rừng kim tớc

Bàn về Hồ Anh Thái trong những năm sống và sáng tác ở ấn Độ,nhà văn Vũ Bão cho rằng: “Anh không đứng xa nhìn vào từng mảnh đờivới đôi mắt dửng dng của một du khách Anh hoà mình vào miềm đất lạ,theo dõi mạch đời, lần tìm nỗi niềm của từng số phận khác nhau Anh

Trang 35

không chuộng lạ ghi chép những mảnh đời phơng xa, anh đã suy nghĩ về lẽ

đời” 23, tr.316 Thế giới quan, nhân sinh quan mới mẻ, sắc bén, tinh nhạy

là cội nguồn của những tác phẩm có giá trị viết về đề tài ấn Độ của HồAnh Thái - những tác phẩm đợc Tiến sĩ văn học ấn Độ xem là những mũikim châm cứu điểm trúng huyệt tính cách ấn Độ và khiến họ nhìn thấy cáibóng quẩn quanh dới chân mình

Để khẳng định vị thế, chỗ đứng cũng nh bút lực, tài năng nghệ thuậtcủa mình, Hồ Anh Thái đã miệt mài lao động với từng câu chữ trên hànhtrình sáng tạo đầy nghiêt ngã Thành quả của quá trình ấy là những tácphẩm, những “đứa con tinh thần” có giá trị Năm 1984, Hồ Anh Thái tiếp

tục trình làng với truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe - tác phẩm đoạt giải thởng văn xuôi 1983 - 1984 của báo Văn nghệ Năm 1986, tiểu thuyết Ng-

ời và xe chạy dới trăng của Hồ Anh Thái đã nhận đợc giải thởng văn xuôi

1986 - 1990 của Hội nhà văn Việt Nam Tiểu thuyết Trong sơng hồng hiện

ra (1987), Ngời đàn bà trên đảo (1988), tập truyện Mảnh vỡ của đàn ông

(1997)…” là những tiếng vang mà Hồ Anh Thái có đợc sau đó

Bớc sang những năm 2000, Hồ Anh Thái đã không ngừng làm mớimình bằng phong cách khác với nhiều tác phẩm giá trị Đó là tập truyện

ngắn Tự sự 265 ngày (2001) - Tác phẩm đã đạt giải thởng của Hội nhà văn

Việt Nam nhng tác giả từ chối không nhận Cuốn tiểu thuyết tạo nên sự

“chấn động” trong đời sống văn học những năm gần đây của Hồ Anh Thái

là Cõi ngời rung chuông tận thế Cùng trong một series các tác phẩm lấy

thói xấu, đáng cời của con ngời làm cảm hứng, Hồ Anh Thái còn có tập

truyện ngắn Bốn lối vào nhà cời (2004)

Nh vậy, với số lợng tác phẩm khá dày dặn, Hồ Anh Thái đã khẳng

định đợc chỗ đứng cũng nh bút lực tài năng nghệ thuật của mình Cây bút

ấy, tài năng dồi dào ấy hứa hẹn sẽ còn đi xa hơn những gì anh đã thể hiện

35

Trang 36

2.2.2 Vị trí Hồ Anh Thái trong văn học Việt Nam đơng đại

Năm 1986, với tinh thần “cởi trói”, “bật đèn xanh” văn học ViệtNam đã bớc vào quỹ đạo mới Sự chuyển biến này kéo theo sự xuất hiệncủa một thế hệ nhà văn mới Cây bút đi đầu trong công cuộc đổi mới vănhọc thời kì này trớc hết phải kể đến Nguyễn Minh Châu - “Ngời mở đờngtinh anh cho văn học” Tiếp nối ông, các văn nghệ sĩ đã góp vào mạchchung của công cuộc đổi mới văn xuôi nói riêng và văn học nói chungbằng nững tiếng nói mới mẻ, đầy sáng tạo Đó là Nguyễn Khải, Dơng ThuHơng, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Xuân Thiều, rồi Nguyễn HuyThiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái…” và đến naytrên văn đàn đã xuất hiện hàng loạt cây bút trẻ thu hút sự chú ý của d luận

nh Thuận, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Hoàng Diệu…”

Sự hiện thực hoá khát vọng cởi trói của văn nghệ sĩ, xác lập một chỗ

đứng, một cách nhìn mới về hiện thực cộng với khả năng sáng tạo dồi dào

là nguồn cội của những cách tân táo bạo trong văn học Việt Nam đơng đại.Trong dòng chảy văn học thời kì đổi mới có sự đóng góp không nhỏ của

Hồ Anh Thái Hồ Anh Thái là một nhà văn có những thành tựu, đợc xem làmột “hiện tợng” của văn học Việt Nam thời kì này

Là nhà văn thành danh khá sớm, cho đến nay, Hồ Anh Thái là tácgiả của hơn 20 đầu sách bao gồm cả tiểu thuyết và truyện ngắn, nhiều tácphẩm đợc dịch ra các thứ tiếng khác nhau và giới thiệu ở nớc ngoài HồAnh Thái trở thành một trờng hợp hiếm hoi của văn học Việt Nam đơng

đợc khả năng sáng tạo dồi dào nh Hồ Anh Thái

Với mong muốn phản ánh cái đang diễn ra, “cái đơng đại cha hoànthành”, tác phẩm Hồ Anh Thái có khả năng bao quát phạm vi hiện thựcrộng lớn cả ở bề rộng lẫn bề sâu của nhiều nền văn hoá khác nhau Tronghiện thực rộng lớn ấy, ngòi bút Hồ Anh Thái hớng về “tâm điểm” con ngờibằng cái nhìn nhiều chiều, sắc cạnh Ông không đặt con ngời ở trạng thái

Trang 37

tĩnh tại với cái nhìn một chiều phân chia rạch ròi Vì vậy tính cách nhân vậttrong tác phẩm của Hồ Anh Thái không phải đợc định hình ngay từ đầu mà

nó có cả quá trình phát triển

Hồ Anh Thái cũng là nhà văn luôn thay đổi Mỗi đề tài khác nhau

ông chọn cho mình lối viết, một cách diễn đạt, một giọng điệu khác nhau.Chính điều này lí giải vì sao là một cây bút trẻ, số lợng tác phẩm tơng đốinhiều nhng tác phẩm của ông vẫn có sức hấp dẫn lạ kì, có khả năng tạo ra

đợc những “cú sốc” cho độc giả

Sự mạo hiểm, tự thay đổi, làm mới mình của Hồ Anh Thái là minhchứng hùng hồn cho sức sáng tạo của cây bút này Dĩ nhiên để tạo “malực” cho các sáng tác của mình đòi hỏi ở Hồ Anh Thái sự nỗ lực vật vã lao

động trên từng câu chữ, bởi sáng tác văn học cũng chính là hành trình củanhững cuộc tìm kiếm nghệ thuật So với các cây bút văn xuôi Việt nam đ-

ơng đại hiếm có cây bút nào có đợc khả năng sáng tạo nh ở Hồ Anh Thái.Thử nghiệm chủ yếu trên thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn và ở thể loạinào ông cũng thu về đợc những thành công nhất định

Tài năng, vốn sống phong phú, đa dạng, “phông” văn hoá rộng cộngvới ý thức tích luỹ, ý thức nghề nghiệp là những nguyên nhân chủ yếu lígiải sự thành công của ông cũng nh khẳng định vị trí không thể thay thế đ-

ợc của Hồ Anh Thái trong văn học Việt Nam đơng đại Số lợng tác phẩm,giá trị tác phẩm cho thấy khả năng tinh nhạy với nhịp sống, với thời đại cả

ở bề nổi và mạch ngầm của Hồ Anh Thái

Hồ Anh Thái là một trong không nhiều những cây bút văn xuôi xuấthiện sớm và để lại dấu ấn trong văn học Việt Nam đơng đại Bằng tài năng

và tâm huyết của mình, Hồ Anh Thái đã xác lập cho mình chỗ đứng, vị trí,tạo ra “thơng hiệu” trong làng văn xuôi thời kì này

2.2.3 Những tiền đề của việc cách tân nghệ thuật tự sự

2.2.3.1 Cảm quan hiện thực của Hồ Anh Thái

Hiện thực đời sống ở bất kỳ giai đoạn nào cũng là đối tợng phản ánh,khám phá và sáng tạo của văn học nghệ thuật Cảm quan hiện thực củatừng nhà văn là nhân tố cốt lõi chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhàvăn đó Với nhà văn Hồ Anh Thái, quan niệm về hiện thực là cơ sở căn cứmọi cách tân nghệ thuật tự sự của anh

Thuộc thế hệ nhà văn thời kỳ đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật trởthành nét nổi bật xuất hiện từ những tác phẩm đầu tay, xuyên suốt các sángtác của Hồ Anh Thái trong các chặng đờng sáng tạo tiếp theo

37

Trang 38

Sau chiến tranh, mặt trái của đời sống xã hội, cái ác, cái xấu có dịpnảy nở nh nấm độc, cỏ dại sau ma…” nhìn thẳng vào sự thật của hiện thực

đời sống là phải đối mặt đến những vấn đề nhức nhối, nghiệt ngã đó.Những tiêu cực, trì trệ trong xã hội, hiện thực cuộc sống đời thờng vớinhiều vấn đề đạo đức, thế sự đòi hỏi nhà văn phải nhận thức, khám phá,nhận diện trên các trang viết bằng cảm hứng sự thật Cần phải nhận thức lạihiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản, phơibày sự khủng hoảng của xã hội qua việc thay đổi các thang bậc và giá trịlối sống Những bức tranh hiện thực với nhiều mảng tối trớc đây thờng bịkhuất lấp nay hiện ra với bao nhiêu xót xa và nhức nhối

Với Hồ Anh Thái, quan niệm hiện thực nh là đối tợng phản ánh,khám phá, nhận thức của văn học đợc mở rộng hơn, đợc khơi sâu hơn,mang tính toàn diện hơn Ông cho rằng: “Hiện thực là những gì, ta thấy, tanghe là cha đủ, hiện thực là cái ta cảm nữa Những gì tồn tại ở thế giới bênngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi ngời, trong tâm và trícủa họ Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực, không ai giám nói là

đã đào sâu, hiểu thấu cái thế giới tâm linh ấy” 24,tr.252 Từ ý kiến trên cóthể nhận thấy khá rõ nét: Cảm quan hiện thực và phơng thức phản ánh hiệnthực trong các tác phẩm văn học của Hồ Anh Thái “Những gì tồn tại ở thếgiới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi ngời, trong tâm

và trí của họ” 24, tr.252

Với một cảm quan hiện thực nh vậy cho nên nhà văn không bị lệthuộc vào một loại đề tài, vào một cách nhìn đã đợc định trớc mở ra khảnăng phong phú vô tận trong sự khám phá và thể hiện hiện thực đời sốngtrong tính muôn màu và muôn vẻ của nó, giải phóng khỏi chủ nghĩa đề tài

là có thể viết về mọi điều, kể cả những điều trớc đây là “vùng cấm”, là

“kiêng kị” Nhng cái quan trọng lại là ở chỗ nhà văn có phát hiện đợc điềugì mới, muốn biểu đạt cái gì của riêng mình trong những cái quen thuộchay xa lạ với ngời đọc ở đây có vấn đề tài năng, bản lĩnh của nhà văn HồAnh Thái là con ngời đầy bản lĩnh, tự tin trong hành trình nghệ thuật củamình khi ông tự đánh giá: “Tôi đã học đợc cách sống bình thản trớc mọi sự

ở đời Cách sống ấy quan tâm đến cách nhìn của mình với thế giới bênngoài chứ không bận tâm lắm xem bên ngoài nhìn mình ra sao” 24, tr.246-247

Với một bản lĩnh nh vậy, Hồ Anh Thái đã nhìn ra nhiều sự thật Cónhững sự thật đợc khám phá từ năng lực quan sát, những sự thật hiện ra từ

Trang 39

đôi mắt mở và có những sự thật hiện ra từ đôi mắt khép, tuy khác nhau

nh-ng thốnh-ng nhất tronh-ng thế giới nh-nghệ thuật của Hồ Anh Thái là kết quả củaquá trình quan sát, nghiền ngẫm, suy t về một hiện thực đa chiều, đa diện

Thay đổi trong quan niệm về hiện thực đi liền với thay đổi quanniệm về mối quan hệ và giữa văn học và hiện thực Khi không còn bị ràngbuộc quan niệm phản ánh hiện thực một cách thụ động dẫn tới sự “sùngbái” hiện thực và hạ thấp vai trò của chủ thể sáng tạo thì sự nhìn nhận,

đánh giá tác phẩm theo cách tìm sự tơng đồng giữa hiện thực ngoài đời vàthế giới nghệ thuật để đánh giá mức độ chân thực của tác phẩm tất yếu phảithay đổi Thế giới nghệ thuật không chỉ phản ánh thực tại ngoài đời mà còn

là thế giới do nhà văn sáng tạo có thể bao gồm cả cái có thực và cái khôngthể có; cái kì ảo đợc tạo ra bằng trí tởng tợng có thể tồn tại bên cạnh nhữnghình ảnh của hiện thực Hồ Anh Thái ý thức rất rõ ràng hiện thực cuộcsống và hiện thực trong văn học: “Tôi quan niệm tiểu thuyết nh một giấcmơ dài, gấp sách lại ngời ta vừa mừng rơn nh thoát khỏi một cơ ác mộng,lại vừa tiếc nuối vì phải chia tay với những điều mà đời thực không có” 24,tr.245

Nhà văn luôn có ý thức sâu sắc về ranh giới nhằm tạo sự phân lygiữa các đối tợng, nhất là tạo ra khoảng cách giữa các phạm trù: Hiện thựckhách quan, hiện thực trong niềm tin của ngời cầm bút và hiện thực phản

ánh trong tác phẩm văn chơng

2.2.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Hồ Anh Thái

Quan niệm nghệ thuật về con ngời là nhân tố rất quan trọng chi phốicác yếu tố khác của nghệ thuật biểu hiện là căn cứ để đánh giá giá trị củatác phẩm văn học

Thuộc thế hệ nhà văn “không hề bị vớng mắc bởi cái nhìn sử thi”(Hoàng Ngọc Hiến) cho nên trong các tác phẩm của mình, Hồ Anh Tháitiếp cận con ngời ở nhiều t cách, vị thế và trên nhiều bình diện, nhìn nhậncon ngời nh một cá thể, một thực thể sống phong phú, đa dạng trong đóchứa đựng cả phần nhân loại phổ quát

Trong quan niệm nghệ thuật về con ngời chung của cả giai đoạn vănhọc đổi mới Hồ Anh Thái đã có những nét riêng biệt khá sắc nét Trong thếgiới nhân vật của ông với nhiều kiếp ngời, ở nhiều không gian khác nhau,nhiều thời điểm khác nhau, với nhiều tình huống khác nhau nhng tất cả đềuhớng tới những vấn đề nhân sinh muôn thuở

39

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Tuấn ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh su tầm và biên soạn (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lí thuyết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề líthuyết
Tác giả: Đào Tuấn ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh su tầm và biên soạn
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2004
3. M.Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
5. Nguyễn Đình Chú – Trần Hữu Tá chủ biên (2000), Văn học 11 tập một, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học 11 tậpmột
Tác giả: Nguyễn Đình Chú – Trần Hữu Tá chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
6. Nguyễn Đăng Điệp tuyển chọn (2005), Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Sử tuyển tập
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp tuyển chọn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
7. Hà Minh Đức chủ biên (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
8. Văn Giá - Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những n¨m gÇn ®©y,http:// evan.com.vn/fuctions/ work cotent/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam nhữngn¨m gÇn ®©y
9. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
10. Trơng Thị Ngọc Hân (2005), “ Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận thế ( Hồ Anh Thái)“, trang 05, số 2B Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “ Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậuhiện đại trong tiểu thuyết Cõi ngời rung chuông tận thế ( Hồ AnhThái)“
Tác giả: Trơng Thị Ngọc Hân
Năm: 2005
11. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
12. Đỗ Đức Hiểu chủ biên (2004), Từ điển văn học ( bộ mới), Nxb Thế Giíi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học ( bộ mới)
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu chủ biên
Nhà XB: Nxb ThÕGiíi
Năm: 2004
4. Báo văn nghệ Hội nhà văn Việt Nam, số ra ngày 21/09/1985 Khác
13. I.P.Ilin và E.A.Fuirganova (Đào Tuấn ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch), Các khái niệm và thuật ngữ của các trờng phái Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w