3.Phê phán những cuộc chiến tranh tham công mở cõi của triều đình Ngoài sự phê phán quá trình bóc lột tàn bạo và lối sống xa hoa, hởng lạc của giai cấp thống trị, Bạch C Dị còn phê phán
Trang 1A- phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
“Thơ Đờng là thành tựu rực rỡ nhất của văn học đời Đờng (618 – 907) , làmột trong những thành tựu tiêu biểu nhất của văn học Trung Quốc, đồng thời làmột thành tựu đột xuất của thơ ca nhân loại” (Nguyễn Khắc Phi-Văn học 10,tập 2-NXBGD 2000) Nói đến những tác giả nổi tiếng của thơ Đờng, ta khôngthể không kể đến Bạch C Dị Bạch C Dị là nhà thơ sáng tác nhiều nhất đời Đờng(gần 3000 bài) Thơ của ông “không tung hoành bay bổng nh thơ Lí Bạch,không cảm thông sâu sắc nh thơ Đỗ Phủ Nó tuy chân thành nhng sắc lạnh, giàuchất trí tuệ, có sức lôi cuốn, thuyết phục” (Lê Nguyễn Lu) [2-139]
Có thể nói Bạch C Dị đã góp thêm sắc màu làm phong phú cho Đờng thi
Ông cũng đã tìm đợc cho mình một chỗ đứng trong thế giới Đờng thi bao la.Nghiên cứu thơ Bạch C Dị là để hiểu sâu hơn giá trị thơ Đờng Cho đến nay,
đã có nhiều công trình nghiên cứu, khám phá thơ Bạch C Dị, nhng riêng vềmảng thơ phúng dụ – mảng thơ có giá trị nhất trong bốn loại thơ của ông thìxem ra cha có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống
Thơ phúng dụ của Bạch C Dị là bức tranh chân thực về xã hội TrungQuốc đơng thời Trong bốn loại thơ của ông (thơ phúng dụ, thơ nhàn thích, thơcảm thơng, thơ tạp luật) thì thơ phúng dụ là loại thơ mà ông xếp lên hàng đầu,phù hợp với chủ trơng sáng tác và quan điểm đúng đắn về lí luận thơ ca mà ông
đã đề ra Ông cho giá trị của chúng ở chỗ “trị bệnh cứu ngời, giúp thêm chonền chính trị đơng thời Các tác giả trong “Trung Quốc văn học sử” cũng nhận
định: “Thơ ca của Bạch C Dị đợc ngời đời khen ngợi nhất chính là những sángtác của ông vào giai đoạn đầu niên hiệu Nguyên Hoà cho tới năm thứ t của niênhiệu này, gồm có các tác phẩm nh Tần Trung Ngâm và 50 bài Tân Nhạc Phủ, đ-
ợc ông gọi là thi ca phúng dụ” [4-311]
Trang 2Thiết nghĩ việc đi sâu nghiên cứu riêng mảng thơ phúng dụ vừa gópphần làm sáng tỏ hơn nữa giá trị bộ phận thơ ca này của ông đồng thời giúpchúng ta hiểu sâu sắc hơn về thơ ca Bạch C Dị Đấy chính là lí do mà chúngtôi chọn đề tài “Thơ phúng dụ của Bạch C Dị” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài là góp phần làm sáng tỏ thêm giá trị của mảng thơ phúng
dụ Bạch C Dị trên các phơng diện: nội dung và hình thức nghệ thuật nhằm chỉrõ:
- Giá trị nội dung - t tởng thơ phúng dụ của Bạch C Dị
- Những đặc sắc về nghệ thuật thơ phúng dụ của Bạch C Dị
- Những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của thơ phúng dụ Bạch C Dị
3 Phạm vi nghiên cứu:
Về phạm vi t liệu khảo sát: Bạch C Dị để lại khoảng 3000 bài thơ trong
đó có khoảng 170 bài thơ phúng dụ, ở đây chúng tôi chủ yếu chọn lọc khảo sátmột số bài thơ phúng dụ tiêu biểu của Bạch C Dị đợc tuyển dịch trong “Thơ Đ-ờng”, tập 1 và tập 2 (NXB văn hoá 1962)
4 Phơng pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ mục đích của đề tài chúng tôi sử dụng phơng pháp khảo sát,thống kê kết hợp với phơng pháp so sánh - đối chiếu để làm nổi bật nét độc đáocủa thơ phúng dụ Bạch C Dị
5 Lịch sử vấn đề:
Sự nghiệp sáng tác của Bạch C Dị đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu trong và ngoài nớc ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu
về Bạch C Dị đợc xuất bản bằng tiếng Việt sau:
“Diện mạo thơ Đờng” (Lê Đức Niệm) - NXB văn hoá thông tin Hà Nội.1995)
“Lí Bạch - Đỗ Phủ – Thôi Hiệu –Bạch C Dị” (Vũ Tiến Quỳnh tuyểnchọn) – NXB văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 1998
“Lịch sử văn học Trung Quốc”, tập một – NXB giáo dục 1998
Trang 3“Giáo trình văn học Trung Quốc”, tập một (Nguyễn Khắc Phi, TrơngChính)
Gần đây nhất là quyển sách viết riêng về tác giả Bạch C Dị “Bạch C Dị–Tỳ bà hành” (Tiến sĩ Hồ Sĩ Hiệp biên soạn) – NXB tổng hợp Đồng Nai
2003 Tác giả Hồ Sĩ Hiệp đã tập hợp một số bài nghiên cứu về Bạch C Dị nh:
“Thơ Bạch C Dị cũng là thơ niện thực” (Trơng Chính) ; “Bạch C Dị, nhà thơ,nhà lí luận thơ ca”(Bùi Thanh Ba) ; “Bạch C Dị-nhà thơ có khốn cùng thơ mớihay” (Nguyễn Hiến Lê) ; “Tổng bình Bạch C Dị và Tỳ bà hành” (Thê Húc) ;
“Thơ cảm thơng của Bạch C Dị” (Phơng Lựu) ; “Bạch C Dị-một chính kháchlàm thơ” (Trần Xuân Đề) ; “Giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Bạch C Dị” (LêNguyễn Lu) ; “Nhà thơ hiện thực Bạch C Dị” (Hồ Sĩ Hiệp)
Nhìn lại quá trình tìm hiểu và nghiên cứu thơ Bạch C Dị ở Việt Nam, tathấy phần lớn các nhà nghiên cứu chỉ tập trung đi vào những giá trị chung củathơ ca Bạch C Dị mà cha đi sâu nghiên cứu riêng mảng thơ phúng dụ của ông.Gần đây các luận văn của sinh viên Đại học Vinh có nhiều đề tài nghiên cứu vềthơ Đờng nhng chủ yếu hớng vào hai tác giả Đỗ Phủ và Lí Bạch mà cha đi sâunghiên cứu về Bạch C Dị Đề tài này là dịp để chúng tôi tìm hiểu, khám phá vềmột phơng diện hầu nh còn bỏ ngỏ dựa trên những thành quả của các công trìnhnghiên cứu trớc đã có
B - Nội dung
Bạch C Dị (772-846) là nhà thơ sáng tác nhiều nhất đời Đờng (gần
3000 bài) Theo Bạch C Dị, thơ ông có bốn loại:Thơ phúng dụ, thơ cảm thơng,thơ nhàn thích, thơ tạp luật Ông định nghĩa:
“Sự vật dẫn dắt ở ngoài, tình lý rung động ở trong theo cảm xúc mà diễn
ra lời ngâm vịnh thì gọi là thơ cảm thơng”
“Khi làm việc quan ngồi một mình hoặc khi ốm đau rỗi rãi, biết đợc thếnào là đầy đủ và giữ vững sự vừa phải, ngâm nga để di dỡng tính tình thì gọi làthơ nhàn thích”
Trang 4“Lại còn những bài ngũ ngôn, thất ngôn, trờng cú, đoản cú, từ một trămvần cho tới hai trăm vần thì gọi là thơ tạp luật”
Thơ phúng dụ là loại thơ ông coi trọng nhất, xếp lên hàng đầu Ông đãtừng nói rằng: “Chí của tôi là ở chỗ kiêm tế Gọi là thơ phúng dụ vì thể hiện chíkiêm tế” Thơ phúng dụ đợc ông định nghĩa: “Từ khi nhậm chức thập di, phàmnhững điều biết đến, cảm thấy về sự khen chê so sánh, lại từ đời Vũ Đức cho tới
đời Nguyên Hòa, vì sự việc mà làm thơ, đề là Tân nhạc phủ thì gọi là thơ phúngdụ” [2-9] Đây là loại thơ chở nhiều u t nhất của nhà thơ họ Bạch Thơ phúng
dụ của ông đã đề cập đến nhiều vấn đề xã hội, thể hiện tình thơng của một ôngquan phong kiến “kiêm tế thiên hạ”, có khoảng 170 bài
Mảng thơ này phần lớn đợc Bạch C Dị sáng tác trong thời kì ông còn làmgián quan, hăm hở, tích cực hoạt động chính trị (từ năm 812 trở về trớc) Bộphận thơ phúng dụ của Bạch C Dị về số lợng tuy không nhiều lắm nhng giá trịcủa nó lại rất lớn
Chơng 1: Giá trị nội dung-t tởng thơ phúng dụ của
Bạch C Dị
Lê Nguyễn Lu đã từng nhận xét rằng: “Nội dung thơ phúng dụ rấtphong phú, đa dạng, thể hiện đầy đủ chủ trơng văn học hiện thực của ông”[2-135] Bạch C Dị suốt đời canh cánh “một nỗi đau xót vì đạo lí thơ ca bănghoại mà sôi sục phẫn nộ, ngày bỏ ăn, đêm quên ngủ, không lợng tài hèn sứcmọn, những mong xốc vác nó lên” (Th gửi Nguyên Chẩn) [2-71] Ông chủ tr-
ơng thơ phải phản ánh hiện thực Những năm tháng làm quan đã khiến ông có
điều kiện nhìn tận mắt những bất công xã hội, đặc biệt là sự tàn bạo của giai cấpthống trị và sự thống khổ của nhân dân lao động Với “sự sôi sục phẫn nộ đó”,thơ phúng dụ của Bạch C Dị nổi lên hai nội dung lớn lớn: sự phê phán – tố cáogiai cấp thống trị và sự cảm thông- đồng tình với nhân dân lao động
Trang 51.1 Sự phê phán – tố cáo giai cấp thống trị
Có ngời bảo thơ Đỗ Phủ sâu, thơ Bạch C Dị sắc Nếu thơ Đỗ Phủ có chiềusâu lắng, thâm thuý khi lên tiếng tố cáo giai cấp thống trị thì thơ Bạch C Dị thểhiện một thái độ phê phán mạnh mẽ, quyết liệt, trực tiếp Giai cấp thống trị vớibản chất tàn bạo và độc ác đợc phơi bày một cách rõ ràng đến từng chi tiết trongthơ ông Sự phê phán tố cáo của nhà thơ vừa bao quát vừa cụ thể trên nhiều ph-
ơng diện
1 1 1 Vạch trần sự bóc lột tàn bạo của bọn quí tộc
Thời Trung Đờng, giai cấp thống trị mặc sức hoành hành nhân dân lao
động bằng các thủ đoạn nh thi hành chính sách thuế má, lực dịch nặng nề Chính sách thuế mà bọn thống trị thi hành thực chất là sự ăn thịt ngời lao
động, chúng phè phỡn béo tốt vì các vụ thuế:
Nhân nhòm trong kho quan
Vải lụa nh núi chất
Tơ bông nh mây đùn)
(“Trọng phú”) [10-345]
chính sách mỗi năm thu thuế hai vụ: vụ chiêm và vụ mùa, “vốn có ý thơngdân” Nhng sự thật lại hoàn toàn trái ngợc, chính sách thuế má ấy là do bóc lột,
đục khoét ngời dân, bọn thống trị béo tốt vì vụ thuế, ngang nhiên ăn thịt ngời “Quan nghệ mạch”là một bài thơ mô tả cảnh gặt lúa để phê phán chínhsách thuế má nặng nề tàn bạo:
“Gia điền thâu thuế tận
Thập tử sung cơ trờng”
(Ruộng nhà nộp thuế hết
Trang 6Mót chút để cầm hơi)
Bọn thống trị đã bòn rút đến kiệt quệ công sức ngời dân Cũng nh trong
“Đỗ lăng tẩu”, bọn chúng chỉ biết gấp rút thu mạnh, thu nhanh cho xong vụthuế mà không cần biết ngời dân đợc mùa hay mất Nhà thơ họ Bạch đã khôngngần ngại lên tiếng tố cáo thẳng thừng bọn bóc lột Nếu Đỗ Phủ thâm thuý khiphê phán chính sách su thuế trong “Khách tòng”:
“Mở xem hoá ra máu
Trời ơi thuế khoá ơi”
thì Bạch C Dị lại chỉ thẳng vào mặt những kẻ cớp ngày và các hành động bất
l-ơng của chúng:
“Bác ngã thân thợng bạch
Đoạt ngã khẩu trung túc”
(Giật áo trên mình tao
Cớp cơm trên miệng tao)
(“Đỗ Lăng tẩu”) [10-313]
Đó là sự bóc lột tàn bạo nhất, bất lơng nhất Bằng giọng điệu mạnh mẽ,
sử dụng hình ảnh cụ thể, Bạch C Dị đã thể hiện thái độ phẫn nộ, bất bình đối vớibọn thống trị trớc chính sách thuế má cắt cổ Bọn chúng hiện hình là những têncớp thực sự
Bên cạnh chính sách thuế khoá nặng nề là hành động cớp bóc của ngờidân giữa ban ngày Chế độ “cung thị” là sự cớp bóc trắng trợn vào ngời nôngdân Nhà thơ đã vạch trần sự bất nhân của chế độ cung thị qua bài thơ “Mạithán ông” Ông già bán than đã bị cớp cả mồ hôi công sức:
“Hoàng y sứ giả, bạch sam nhi
Thủ bả văn th, khẩu xng “sắc”
Hồi xa sất ngu khiên hớng Bắc
Nhất xa thán trọng thiên d cân
Cung sứ khu tơng tích bất đắc”
(Hai sứ giả, một áo vàng và một áo trắng
Trang 7Tay cầm tờ công văn miệng quát: “sắc”
Quay xe hò trâu kéo về phía Bắc
1 1 2 Vạch trần tệ tham nhũng tàn bạo, lãng phí xa hoa của giai cấp thống trị
Giai cấp thống trị phè phỡn ăn chơi xa xỉ trong khi ngời dân khốn đốn
Họ tham nhũng, đục khoét của dân để phục vụ thói ăn chơi sa đoạ của mình.Chủ đề này đợc đề cập trong rất nhiều bài thơ nh: “Ca vũ”, “Liêu lăng”,
“Khinh, phì”, “Mãi hoa”, “Thái địa hoàng giả”…
Trong “Ca vũ”, nhà thơ miêu tả cảnh ăn chơi truỵ lạc của bọn giàu có.Chúng không phải lo đói rét, càng có gió tuyết càng cao hứng, có tiền ăn chơinhậu nhẹt, do chúng bóc lột, tham nhũng mà có:
“Sở doanh duy đệ trạch
Sở vụ tại truy du …”
(Họ chỉ mu toan xây dựng lâu đài
Chỉ chăm lo đua đòi giong chơi)
Những cuộc chơi trác táng kéo dài từ giữa tra đến tận nửa đêm Lũ giàu có
đắm chìm trong vui thú chốn lầu hồng:
“Chu môn xa mã khách
Hồng chúc ca vũ lâu”
(Nơi cửa son khách đến đầy ngựa xe
Trang 8ánh đuốc đỏ rực lầu ca múa)
Bằng tiền thuế của mời hộ bậc trung)
Trong khi ngời dân đang thiếu thốn cực khổ thì bọn chúng xa xỉ, lãng phí.Tiền mua một khóm hoa thắm bằng tiền thuế của mời hộ bậc trung Sự so sánhtơng đồng nhng lại vẽ ra hai cảnh tơng phản để vạch mặt bọn ăn chơi xa xỉ Lờithan thở ngậm ngùi của lão nông dân cũng là nỗi oán giận của nhà thơ Xa xỉthay bọn chúng không chỉ mua một bó mà mua hàng trăm bó, không phải mộtngời mua mà hàng trăm ngời mua:
“Gia gia tập vi tục
Nhân nhân mê bất ngộ”
(Nhà nào cũng thành thói quen
Ngời nào cũng say mê không tỉnh ngộ)
[10-338]
Bài “Khinh, phì”tả cảnh yến tiệc của các quan trong triều rất rõ nét, cụthể Nhà thơ nh chứng kiến tận mắt từng bứơc đi, từng bữa ăn, nh theo dõi từngbiến chuyển nhỏ trong đời sống của bọn quyền quý:
“Tôn, lôi dật cửu uấn
(Trong tiệc bình chén đầy rợu ngon,
La liệt những sơn hào hải vị
Quả hái: quất Động Đình
Trang 9Gỏi làm: cá Thiên Trì
Ăn no rồi lòng thoả thuê
Uống say rồi khí thêm hăng)
[10-287]
Bữa tiệc của giai cấp thống trị toàn những sơn hào hải vị: bình đầy rợungon, hoa quả là quýt Động Đình, chả nớng là cá ao Thiên Trì Chúng ăn uống
no say trong lúc ở Giang Nam đang đại hạn, ở Cù Châu có cảnh ngời ăn thịt
ng-ời Sự tơng phản này càng làm rõ thêm bản chất hởng lạc xa hoa của những kẻ,mặc áo cừu nhẹ, cỡi ngựa béo
“Thái địa hoàng giả”kể chuyện ngời đi kiếm củ địa hoàng đem đổi chút
l-ơng khô, nhng đem đến cho bọn nhà giàu thì:
“Huề lai chu môn gia,
Mại dữ bạch diện lang
Dữ quân đạm phì mã
Khả sử chiếu địa quang”
(Đem đến nhà có cửa son nọ
Bán cho chàng mặt trắng phau phau “Để ông vỗ cho ngựa
Nó sẽ béo mẫm, lông mợt, bóng loáng”)
Chốn cửa son lãng phí xa hoa đến mức ngựa ăn sớng hơn ngời, những conngựa của chúng “béo mẫm, lông mợt, bóng loáng” Trong khi ngời dân phải: “Đổi thóc thừa của ngựa
Cứu cái bụng đói nhàng”
[10-229]
Đó là một nghịch lý, nghịch lí ấy chứa đựng lòng căm hận đối với bọn
“mặt trắng trong cửa son”
Có thể nói, sự xa hoa lãng phí của giai cấp thống trị nh một cái gai làmchớng mắt nhà thơ họ Bạch Bản thân mấy chục năm làm quan đã khiến ôngthấu hiểu từng ngõ ngách cuộc sống của bọn quyền quý Nếu bóc lột tàn bạo lànguyên nhân của sự xa hoa lãng phí thì ngợc lại sự xa hoa lãng phí là hệ quả tất
Trang 10yếu của việc bóc lột Chúng liên quan chặt chẽ với nhau và đều bộc lộ bản chất
độc ác của bọn thống trị So với Đỗ Phủ, thơ Bạch C Dị phản ánh hiện thực cụthể, sắc sảo hơn Tinh thần phê phán ấy là sự kế thừa học tập từ bậc thầy ĐỗPhủ kết hợp với đôi mắt quan sát xã hội tinh tờng đã giúp Bạch C Dị phát hiện
ra đủ mọi vấn đề lớn nhỏ, “gặp việc là chỉ trích”, “khen chê so sánh rõ ràng, chu
đáo, thẳng thắn, làm xúc động lòng ngời “[2-135] Đó là đặc điểm nổi bật củathơ Bạch C Dị Đặc điểm này cha từng có trong thơ các nhà thơ trớc ông, kể cả
Đỗ Phủ, làm thành phong cách thơ Bạch C Dị
1 1 3.Phê phán những cuộc chiến tranh tham công mở cõi của triều đình
Ngoài sự phê phán quá trình bóc lột tàn bạo và lối sống xa hoa, hởng lạc
của giai cấp thống trị, Bạch C Dị còn phê phán-tố cáo những cuộc chiến tranhdiễu võ dơng oai, tham công mở cõi của triều đình Cũng nh các triều đại khác,triều Đờng đã tiến hành các cuộc chiến tranh phi nghĩa với ý đồ phô trơng thanhthế, củng cố địa vị thống trị, vì thế mà kéo nhân dân vào tình trạng khốn đốn
điêu linh Một số tác phẩm tiêu biểu về đề tài chống chiến tranh nh : “TânPhong chiết tý ông”, “Phọc nhung nhân”… đã tố cáo mạnh mẽ các cuộc chiếntranh phi nghĩa do triều đình phát động
“ Tân Phong chiết tý ông”phê phán cuộc chiến tranh xâm lợc Nam Chiếu
do tể tớng Dơng Quốc Trung đời Đờng Huyền Tông (Lí Long Cơ) dới niênhiệu Thiên Bảo phát động Bài thơ miêu tả cảnh bắt lính tàn bạo:
“Thôn Nam, thôn Bắc khốc thanh ai
Nhi biệt gia nơng phu biệt thê
Giai vân tiền hậu chinh Man giả,
Thiên vạn nhân hành vô nhất hồi”
(Xóm Bắc thôn Nam khóc não nề
Con từ giã cha mẹ, chồng từ giã vợ
Ai nấy đều nói: những ngời đi chinh Man
Trớc sau nghìn vạn ngời đi không một ai về)
[10-315]
Trang 11Triều đình bắt lính một cách tàn bạo, “hộ có ba đinh chấm lấy một”không
kể già trẻ Bắt lính rồi chúng lùa đi Vân Nam, nghìn vạn ngời đi không một aitrở về Vì tham công mở cõi mà giai cấp thống trị đã không thèm quan tâm đếnsinh mạng ngời dân cũng nh nỗi khổ cực tang thơng do chiến tranh gây nên cho
họ Nếu nh với chiến tranh phi nghĩa, nhà thơ phản đối mạnh mẽ giai cấp thốngtrị thì với chiến tranh bảo vệ đất nớc, gìn giữ biên cơng ông lại khích lệ, tán d-
ơng lòng yêu nớc của các tớng sĩ “Thành Diêm Châu” là bài thơ nh vậy Xét từgóc độ phản đối chiến tranh, Bạch C Dị đã có sự tiếp thu, kế thừa Đỗ Phủ khátriệt để:
“Thây chất tanh cây cỏ
Máu trôi đỏ lạch đồng”
Tuy nhiên thơ của Bạch C Dị không thâm trầm nh thơ Đỗ Phủ mà sắc lạnh,
thẳng thắn ở cách mô tả và bày tỏ thái độ đối với hiện thực
1 1 4 Phê phán sự vô nhân đạo của chế độ cung nữ
Đời Đờng, nhiều ngời con gái đẹp bị bắt đa vào cung, họ bị giam hãmtrong cung từ lúc còn trẻ tuổi cho đến cuối đời Bach C Dị đã dành rất nhiều bàithơ để tố cáo tội ác này nh “Lăng viên thiếp”, “Thợng Dơng nhân”, “Thợng D-
ơng bạch phát nhân”…
Theo quy định đơng thời, khi vua chết thì những cung nhân không con cáiphải ở nơi lăng tẩm nhà vua khuya sớm đèn hơng, “sự tử nh sự sinh” Nhữngngời ấy gọi là “lăng viên thiếp” Rời cung điện vào lăng là cửa đóng sập lại và
“cha chết thì thân này chẳng đợc ra”
Bài “Thợng Dơng bạch phát nhân”(Ngời tóc bạc ở cung Thợng Dơng) lại
là nỗi bất hạnh của ngời cung nữ từ góc độ khác đó là lòng oán hận của nhữngngời đàn bà suốt đời bị giam hãm trong cung cấm Họ bị nhà vua cớp đa vàocung, ngày ngày sống trong cảnh vắng vẻ u buồn Quãng đời từ tuổi mời sáucho đến tuổi sáu mơi mỏi mòn nơi thâm cung:
“Cung sâu chỉ biết nhìn trăng sáng Tính tuần trăng đã bốn năm trăm”
[4-558]
Trang 12“Thợng Dơng nhân”cũng viết về chủ đề “thơng kẻ phòng không nơi cungcấm “, họ phải chịu cảnh “má hồng âm thầm già”, “tóc ngày thêm bạc”, khổ cảtrẻ lẫn già:
đến quan lại Đó là việc làm mà từ Đỗ Phủ trở về sau không ai dám làm Nghe
đâu những bài thơ của ôngđã làm cho “quyền hào quý cận giả tơng mục nhibiến sắc”(Bọn quyền quý giàu sang nhìn nhau mà biến sắc) Ông đã từng tâm
sự rằng: “Tôi làm chức gián quan, thờng viết những lời can gián bề trên Ngoàikhải tấu ra, còn những điều có thể trị bệnh cứu ngời, có thể giúp sửa chữa thờichính mà không tiện nói ra thì tôi đem vào thơ, mong mỏi đợc tiến lên bề trên.Một là để bề trên nhìn đợc xa, thấy đợc rộng, minh mẫn hơn mà trị nớc an dân,hai là để đền đáp ơn bề trên và làm tròn trách nhiệm, ba là thoả chí bình sinh”(Th gửi Nguyên Chẩn) [2-73]
Nh vậy, lên tiếng tố cáo giai cấp thống trị, Bạch C Dị không mong muốngì hơn là “bổ khuyết thời chính”
1 2 Sự cảm thông - đồng tình với nhân dân lao động
Mặc dù có bốn mơi năm làm quan, hởng bổng lộc triều đình, nhng Bạch
C Dị luôn hớng đến ngời dân lao động, quan tâm đến nỗi bất hạnh của họ.Quách Mạt Nhợc-một nhà văn Trung Quốc đã nhận xét rằng: “Vì sao suốt hơnngàn năm qua, những loại thơ nh “Trờng hận ca” và “Tỳ bà hành”lại thích hợp
Trang 13với xã hội cũ Trung Quốc đến thế, còn “Tân Nhạc Phủ” và “Tần TrungNgâm”thì rất ít ngời biết đến…vì gần gũi với nhân dân quá” [9-12] Sự cảmthông đồng tình với nhân dân lao động là biểu hiện chí “kiêm tế”của ông
1.2.1 Sự cảm thông với cuộc sống nghèo đói của ngời dân lao động
Trong lúc bọn thống trị đang phè phỡn béo tốt, lãng phí xa hoa thì ngờidân lao động đang chịu cảnh khốn đốn nheo nhóc Bài “Thôn c khổ hàn”phản
ánh cuộc sống đói rét đến mức thê lơng của ngời dân:
“Hồi khan thôn l gian
Thập nhất bát cửu bần
Bắc phong lợi nh kiếm
Bố nhứ bất tế thân
Duy thiêu cao cức hoả
Sầu toạ dạ đãi thần”
(Ngoảnh lại nhìn trong làng xóm
Mời nhà có đến tám chín nhà nghèo
Gió bấc sắc nh gơm
Mà không có lấy mảnh vải, miếng bông để che thân Chỉ kiếm nắm cỏ cành rong đốt sởi,
Rầu rĩ ngồi thâu đêm chờ sáng)
Bạch C Dị viết bài “Thôn c khổ hàn”năm Đờng Hiến Tông (806-821) thứtám Năm ấy, mùa đông trời rét, tuyết dày, trúc, bách cũng chết vì không chịu
đợc rét, gió bấc sắc nh kiếm Thế mà dân làng không manh áo che thân, họ phảitìm nắm cỏ cành rong đốt sởi thâu đêm suốt sáng Bạch C Dị thấu hiểu sâu sắcnỗi khổ của họ Vợt lên cả sự thấu hiểu là tấm lòng nhân ái bao la Ông liên hệ
đến mình: ngồi trong thảo đờng, cửa đóng kín, có đủ áo ấm chăn bông, lạikhông vất vả làm đồng, nghĩ đến những ngời nông dân mà thấy hổ thẹn:
Trang 14[11-179]
Mặc dù không cùng cảnh ngộ, không lăn lộn trong cái đói rét của ngời dân, nhng ông đã thấu hiểu nỗi cơ cực của ngời dân và thể hiện hiện thực đời sống của họ thật chi tiết, cụ thể
Lòng cảm thơng đối với ngời dân nghèo còn đợc thể hiện trong “Tân chế
bố cừu” Nghĩ đến những ngời không có áo mặc trong mùa đông rét mớt, ông băn khoăn:
“Trợng phu quý kiêm tế
Khởi độc thiện nhất thân”
(Tài trai quý ở chỗ cứu giúp đợc mọi ngời
Đâu phải chỉ lo sớng lấy một mình)
[11-181]
Bên cạnh nỗi khổ vì rét là nỗi khổ vì không có miếng ăn Ngòi dân túng
đói, cuối năm không có cái gì để ăn, phải đi kiếm củ địa hoàng:
“Tuế án vô khẩu thực
Điền trung thái địa hoàng”
(Năm cuối không có hạt gạo
Ra đồng kiếm củ địa hoàng)
(“Thái địa hoàng giả”) [10-299]
Tác giả thờng đặt cảnh sống xa xỉ của bọn thống trị bên cạnh cuộc sốngcơ cực của ngời nông dân làm nên sự tơng phản về cuộc sống giữa hai hạng ng-
ời trong xã hội để rồi nhà thơ truy tìm nguyên nhân gây nên cảnh đói rét củangời dân đen
Cái đói, cái rét của ngời dân trớc hết do mất mùa, thiên tai gây nên:
“Mạch tử xuân bất vũ
Hoà tổn thu tảo sơng’
(Xuân không ma, chiêm hỏng
Thu sơng sớm, mùa vàng )
(“Thái địa hoàng giả”) [10-299]
“Tam nguyệt vô vũ hạn phong khởi
Trang 15Mạch miêu bất tú đa hoàng tử
Cử nguyệt giáng sơng thu tảo hàn,
Hoà tuệ vị thục giai thanh can ”
(Tháng ba không ma, gió nóng bắt đầu thổi
Trớc cái đói rét của ngời dân, nhà thơ tự thấy lơng tâm cắn rứt:
“Nay mình có công đức gì
Cha từng mó tay vào việc nông tang
Thế mà lơng làm quan đến ba trăm thạch
Hết năm ăn vẫn còn thừa
Nghĩ vậy mà riêng thấy thẹn
Suốt ngày canh cánh bên lòng”
1.2.2 Nỗi bất bình trớc sự tàn bạo của giai cấp thống trị
Ngời dân lao động phải chịu bao nỗi khổ chồng chất, vừa do mất mùa, vừa
bị bóc lột tàn nhẫn Nguyên nhân chủ yếu gây nên cuộc sống đói kém của ngờilao động là sự áp bức bóc lột Ngời lao động bị đè nén bởi trăm thứ thuế, chịuhậu quả do chiến tranh gây nên…
Trang 16Chính sách thuế khoá thời Trung Đờng thực chất là ăn thịt ngời, khiến
ng-ời dân phải rơi vào chỗ cùng cực “Quan nghệ mạch”đợc sáng tác vào lúc Bạch
C Dị làm Huyện uý huyện Châu Chí, phản ánh sự đói khổ của ngời nông dân do
su cao thuế nặng Họ phải bán cả ruộng vì thuế:
“Gia điền thâu thuế tận
Thập tử sung cơ trờng”
(Ruộng của nhà nộp thuế hết
Mót chút này ăn cho đỡ đói lòng)
[10-336]
Ngòi nông dân sống nhờ vào mảnh ruộng vậy mà ngay cả ruộng cũng phảibán để nộp thuế, còn bản thân phải sống nhờ vào việc đi mót lúa rơi rụng ởruộng ngời khác Cảnh ngộ ấy thật đáng thơng tâm Bạch C Dị nh ngậm ngùichua xót, não ruột trớc gia cảnh của ngời đàn bà nghèo
Trong “Đỗ Lăng tẩu”ngời dân vì thuế khoá mà:
“Cầm dâu, bán đất nộp tô cho quan
Cơm áo sang năm biết tính sao nhỉ ?”
[10-313]
Họ phải lăn lộn, tìm đủ mọi cách chống đỡ với tô thuế, “bán đất”, “cầmdâu”cho ngày hôm nay để rồi không lối thoát cho ngày sau: “Cơm áo sang nămbiết tính sao nhỉ ?”
Lời thơ vừa là câu hỏi vừa là lời tố cáo mạnh mẽ chính sách tô thuế củatriều đình, một lời trăn trở không nguôi của nhà thơ Đau đớn thay, sự bóp mồmbóp miệng, bán đất bán ruộng lấy tiền nộp thuế của ngời dân đã bị kẻ thống trịtham nhũng, tích góp làm giàu:
“Hôm qua nộp nốt thuế
Nhân nhòm trong kho quan
Vải lụa nh núi chất
Tơ bông nh mây đùn”
Những thứ trong kho quan ấy là thành quả của bao nhiêu công sức lao
động của ngời dân từ trồng dâu, đay, dệt vải lụa:
Trang 17“Dâu đay trồng đất tốt
ông cũng từng là một ông quan, từng vâng mệnh triều đình đi thu tô thuế Nhàthơ có lơng tâm ấy nhiều lúc phải băn khoăn trăn trở để rồi dũng cảm nhìnthẳng vào sự thật, không hề né tránh khi nói đến sự tàn ác của giai cấp thống trị
và nỗi thống khổ của ngời dân lao động
Cùng với nạn thuế khoá ngời dân còn phải chịu cảnh cớp bóc trắng trợncủa triều đình “Mại thán ông” thờng đợc xem là bài thơ phúng dụ hay nhất củaBạch C Dị thể hiện nỗi khổ bị cớp bóc sức lao động của ngời dân bởi chế độcung thị đời Đờng
Ông già đi bán than trong những ngày giá rét, trên mình một manh áomỏng dính nhng vì muốn bán đợc than nên mong trời lạnh:
“Khả liên thân thợng y chính đan
Tâm u thán tiện nguyện thiên hàn”
(Đáng thơng là trên mình ông chỉ có một manh áo đơn Thế mà vì lo than rẻ, ông chỉ mong trời rét)
[10-333]
Chính con ngời làm ra nhiên liệu sởi ấm cho mọi ngời lại phải chịu rét,hơn thế còn vui lòng “ớc mong trời rét” Đó là một mong ớc thật oái ăm, nó cóthể giúp ông già kiếm bát cơm bát gạo, cũng có thể giết chết ông già vì giá lạnh.Nếu không thông thông cảm với ngòi nghèo, không nhập thân vào họ thì nhàthơ làm sao có đợc những vần thơ nh thế
Trang 18Tai vạ đã đến với ông già, không phải vì giá lạnh mà vì bị ăn cớp bởichính các quan thị - những kẻ đợc triều đình cho phép:
“Lỡng kỵ phiên phiên lai thị thuỳ?
Hoàng y sứ giả, bạch sam nhi
Thủ bả văn th, khẩu xng “sắc”
Hồi xa sất ngu thiên hớng Bắc”
(Kìa, hai ngời cỡi ngựa chạy lại phăng phăng kia là ai thế Hai sứ giả một áo vàng và một áo trắng
Tay cầm tờ công văn, miệng quát “sắc”
Quay xe hò trâu kéo về phía Bắc )
[10-333]
Đây không phải là hành động mua bán thông thờng mà là hành vi ăn cớpthực sự Ông già chỉ còn biết cắn răng chịu đựng: “Ngời nhà vua lấy đi, tiếcchẳng đợc”
Ông lão không những không thực hiện đợc ớc mong mà còn bị đẩy vàochỗ cùng đờng Trong xã hội Trung Đờng ngời dân sẽ không bao giờ có đợccuộc sống ấm no hạnh phúc, những ớc mơ của họ dù chỉ là bé nhỏ thôi cũngkhông thực hiện đợc
Ngời dân không những khổ vì mất mùa, đói kém, thuế má, cớp bóc màcòn khổ vì nạn chiến tranh Những cuộc chiến tranh tham công mở cõi của bọnthống trị đã dẫn ngời dân đến cảnh sống điêu linh, chết chóc
“Tân Phong chiết tý ông” kể câu chuyện thê thảm của một ông già tự đậpgãy cánh tay để tránh binh dịch:
Trang 19Sợ chiến tranh đến nỗi tự đập gãy cánh tay để đợc tha bắt lính, ông già phải
hi sinh một phần thân thể của mình, nhng nh thế vẫn còn sớng hơn phải đi binhdịch Thế mới biết chiến tranh quái ác đến mức nào
Chiến tranh khiến cho bao nhiêu gia đình bị chia lìa, giết chết bao con
ng-ời, gây nên tình trạng não nề khắp thôn xóm:
“Thôn Nam thôn Bắc khốc thanh ai
Nhi biệt gia nơng phu biệt thê
Giai vân tiền hậu chinh Man giả
Thiên vạn nhân hành vô nhất hồi”
(Xóm Bắc thôn Nam khóc não nề
Con từ giã cha mẹ, chồng từ giã vợ
Ai nấy đều nói: những ngời đi chinh Man
Trớc sau hàng vạn ngời đi không một ai về)
[10-315]
Chiến tranh không chỉ là tai hoạ đối với kẻ bị xâm chiếm mà còn là taihoạ khủng khiếp đối với chính ngời dân buộc đi xâm chiếm Kẻ bị bắt đi línhkhông có ngày trở về, ngời không đi lính phải chịu cảnh chia lìa “Con từ giã cha
mẹ, chồng từ giã vợ”, tiếng khóc thảm thiết muôn đời không dứt vì ngóng trôngchồng, con trở về mà biệt vô âm tín
Nếu viết về chiến tranh khai biên, thơ Đỗ Phủ có sự khái quát:
“Vua đã giàu đất nớc
Mở bờ chi lắm a”
thì thơ Bạch C Dị chú ý len lỏi vào từng hoàn cảnh, từng số phận của con ngởitrong chiến tranh Những câu chuyện, những nhân vật trong thơ ông đạt đếnmức điển hình hoá, vừa khái quát cao độ vừa cụ thể đến từng chi tiết Mặc dùkhông cùng cảnh ngộ với ngời dân nh Đỗ Phủ, nhng Bạch C Dị - từ địa vị một
ông quan - đã có sự thấu hiểu sâu sắc với ngời dân nh vậy thật đáng trân trọngbiết bao
Ngoài sự cảm thông - đồng tình với ngời dân lao động trong xã hội nóichung, Bạch C Dị còn có những vần thơ dành riêng cho số phận của ngời phụ
Trang 20nữ Ngời phụ nữ là nạn nhân của chế độ phong kiến, họ bị áp bức, bị giày vò, bị
bỏ rơi Bạch C Dị là ngời đầu tiên dùng thi ca lớn tiếng nêu lên những vấn đề vềphụ nữ:
“Sinh ra chớ làm thân con gái
Sớng khổ trong đời phó mặc ngời”
đừng khinh rẻ”
Có thể nói, nhân dân lao động hiện lên trong thơ Bạch C Dị với mọi nỗikhổ đau chất chứa, cả về thể xác lẫn tinh thần Lên tiếng bất bình cho nhân dânlao động nói chung, ngời phụ nữ nói riêng, chính là thể hiện ớc nguyện “kiêm tếthiên hạ” của ông
1 2 3 Niềm ớc mong thay đổi cuộc sống khốn khổ của ngời dân lao động.
Lòng thơng dân của Bạch C Dị trong chừng mực nào đó bắt nguồn từnhững nhân tố tích cực trong t tởng Nho gia Ông vốn yêu đời, muốn ai cũng đ-
ợc sung sớng nh mình, nên có hoài bão chí hớng cứu thế, xem văn thơ khôngphải để đùa giỡn với hoa cỏ, mây gió mà để nhằm mục đích “phụng sự nhânsinh” Làm thơ là một cách để biểu hiện tấm lòng vì dân, mong ớc thay đổicuộc sống cơ cực của ngời dân
Những mong ớc của ông thật thiết thực cụ thể:
“Ước gì ta có cái áo rộng hàng muôn dặm
Đem ủ ấp cho cả bốn phơng
Khiến cho ai ai cũng đợc ấm áp nh ta
Trang 21Thiên hạ không có ngời nào phải chịu rét”.
(“Tân chế bố cừu”) [11-181]
Đó là một mong ớc lớn lao và cao cả Đúng nh nhận xét của tác giả BùiThanh Ba trong “Tạp chí văn học”số 4-1962: “Sống trong chế độ phong kiến,phần nhiều các nhà thơ đều chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến, nênkhông nhìn thấy nhân dân, coi sự áp bức và bóc lột của giai cấp thống trị nh mộtviệc dĩ nhiên, thiên kinh động địa Nhng nhà thơ Bạch D Dị thì khác Bản thân
ông là quan lại triều đình, nhng tâm hồn ông đã vợt khỏi khuôn khổ của giai cấpthống trị để đồng tình với nhân dân lao động và chống lại mọi sự áp bức bấtcông” [2-87]
Mục đích của văn học là phục vụ đời sống Với sự phê phán-tố cáo giaicấp thống trị và sự cảm thông-đồng tình với nhân dân lao động, thơ phúng dụcủa Bạch C Dị đã đạt đợc mục đích cao cả đó, nh lời ông nói: “Chỉ thơng vì dânkhổ, không sợ đời cời chê” Giá trị nội dung- t tuởng thơ phúng dụ của Bạch C
Dị có ý nghĩa thiết thực không chỉ với một thời đại mà cả với nhiều thời đại
đến độ thành công, thu hút sự quan tâm của độc giả Có thể nói, mỗi nhà văn
đều tìm cho mình một con đờng đi riêng bằng cách khai thác những nội dungmới, sử dụng những thủ pháp nghệ thuật độc đáo, nh nhà văn Nam Cao đã phátbiểu trong tác phẩm “Đời thừa”: “Văn chơng chỉ dung nạp những ngời biết đàosâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn cha ai khơi và sáng tạo những gì cha có”.Nghệ thuật viết văn là một trong những phơng diện để khẳng định tài năng nhà
Trang 22văn, bởi có thể cùng một đề tài nhng mỗi nhà văn lại có những cách thể hiệnriêng, và cái riêng ấy chính là sự khác nhau giữa nhà văn này và nhà văn kia Nói đến những nhà thơ hiện thực đời Đờng, ngời ta nhắc ngay đến Đỗ Phủ
và Bạch C Dị Có thể nói rằng lĩnh vực hiện thực cuộc sống mà thơ Đỗ Phủ vàBạch C Dị khai thác có phần giống nhau, nhng chúng ta không thể lẫn lộn hainhà thơ bởi cách thể hiện riêng của mỗi ngời Các nhà nghiên cứu xa nay khi
đánh giá về thơ của Đỗ Phủ và Bạch C Dị đã thờng cho rằng:thơ Đỗ Phủ “sâu”vàthơ Bạch C Dị “sắc” Để đạt đợc cái “sắc”, Bạch C Dị đã cố gắng thể hiện hiệnthực cuộc sống bằng những thủ pháp riêng
So với nhiều nhà thơ đời Đờng khác, Bạch C Dị là nhà thơ có ý thức rõ rệt
về tác dụng của thơ ca Trong th gửi Nguyên Cửu, ông có nói: “Văn chơng phảivì thời cuộc, thơ ca phải vì sự thật “[2-83] Nói nh thế có nghĩa là văn chơngphải phản ánh hiên thực và phục chính trị Thể theo chủ trơng đó, Bạch C Dị đãbiến thơ ca thành vũ khí sắc bén để tranh thủ nhà vua vạch mặt bọn gian thần,bênh vực ngời nghèo khổ và bổ sung cho nền chính trị Vì thực hiện chủ trơng
“nghệ thuật vị nhân sinh”cho nên mảng thơ phúng dụ của ông đã đạt đợc thànhtựu nghệ thuật rất lớn với phơng pháp phản ánh hiện thực chủ nghĩa Đó là thànhtựu nghệ thuật nói chung của thơ phúng dụ Bạch C Dị Thơ Bạch C Dị đã thểhiện một số thành tựu đặc sắc về phơng diện nghệ thuật nh sau
2 1 Đề tài
Lê Đức Niệm trong “Diện mạo thơ Đờng”đã có nhận xét về thơ Bạch C Dịrằng “Đề tài sáng tác đợc nhà thơ lựa chọn trong một phạm vi hẹp, tuy vậynhững đề tài ấy đều mang ý nghĩa thời đại Trong “Tần Trung Ngâm”, “TânNhạc Phủ”và thơ phúng dụ của ông, hình nh mỗi bài đều phản ánh đợc nhữngvấn đề trọng yếu của xã hội, đã khai thác những vấn đề mang tính chất thời đại
“[6-204]
Có thể nói rằng trong muôn vàn sự kiện và vấn đề của cuộc sống đơngthời, Bạch C Dị đã lựa chọn đợc những vấn đề tiêu biểu nhất, có ý nghĩa xã hội
Trang 23lớn lao mang tính chất thời đại Thơ phúng dụ của ông vừa có sự phong phú về
đề tài vừa có cách thức xử lý đề tài rất đặc sắc
2 1 1 Sự phong phú của đề tài
Thơ phúng dụ của Bạch C Dị nổi lên bốn mảng đề tài lớn:
- Đề tài về cuộc sống khốn khổ của ngời nông dân
- Đề tài về cuộc sống xa hoa và sự tàn bạo của giai cấp thống trị
- Đề tài chiến tranh
- Đề tài về ngời phụ nữ
Nhìn chung đề tài trong thơ phúng dụ của Bạch C Dị phong phú và đadạng, tái hiện mọi vấn đề, mọi số phận điển hình trong cuộc sống đơng thời.Qua khảo sát những bài thơ phúng dụ của Bạch C Dị trong hai tập thơ Đờng vàmột số sách tham khảo, chúng tôi thống kê đợc một số bài thơ tiêu biểu viết vềbốn mảng đề tài lớn nh sau:
- Về đề tài cuộc sống khốn khổ của ngơì nông dân có 6 bài tiêu biểu:
“Quan nghệ mạch”, “Thái địa hoàng giả”, “Thôn c khổ hàn”, “Trọng phú”, “Đỗlăng tẩu”, “Mại thán ông”
- Về đề tài cuộc sống xa hoa dâm dật và sự tàn bạo của giai cấp thống trị
có 6 bài: “Khinh, phì”, “Ca vũ”, “Mãi hoa”, “Mại thán ông”, “Túc tứ các sơnbắc thôn chi”, “Nạp túc”
- Về đề tài chiến tranh có 3 bài, trong đó viết về chiến tranh phi nghĩa có 2bài là “Tân Phong chiết tý ông”và “Phọc nhung nhân”, viết về chiến tranh chínhnghĩa có một bài là “Thành Diêm Châu”
- Về đề tài ngời phụ nữ có 6 bài, trong đó viết về số phận của những phụnữ bị giày vò, bị ruồng bỏ có 3 bài đó là “Thái Hàng lộ”, “Phụ nhân khổ”, “Mẫubiệt tử”; viết về số phận của những cung nữ có 3 bài đó là “Thợng Dơng nhân”,
“Thợng Dơng bạch phát nhân”, “Lăng viên thiếp”
Sự phân chia đề tài nh trên chỉ mang tính tơng đối Thực tế trong một bàithơ có thể bao hàm nhiều đề tài Tuy nhiên phân chia nh thế này để chúng tathấy đợc sự phong phú và đa dạng về đề tài của thơ phúng dụ Bạch C Dị So với
Trang 24Đỗ Phủ ta thấy rằng riêng mảng đề tài viết về số phận của những cung nữ thì ĐỗPhủ không có, đó là một đóng góp của Bạch C Dị
2 1 2 Cách thức xử lí đề tài
Bạch C Dị đặc biệt chú trọng khai thác, miêu tả các số phận riêng lẻ, biết
chọn những nhân vật điển hình, tiêu biểu và miêu tả một cách chi tiết cụ thể.Chính vì thế mà thơ ông mang tính khuynh hớng cao:thống nhất ở thái độ châmbiếm, tố cáo
Viết về cuộc sống khốn khổ của ngời nông dân, ông miêu tả cụ thể, chi tiết
đời sống vật chất đói rách của họ Thơ ông vẽ ra bao nhiêu cảnh đói khổ đầy
th-ơng tâm Đó là hình ảnh một bà cụ già đi nhặt thóc rơi trong mùa gặt lúa:
“Lại có một bà già Ôm con đứng bên cạnh Tay phải nhặt bông rơi, Tay trái đeo giỏ rách Thoáng chuyện bà nói góp Ngời nghe nói bồi hồi
“Ruộng nhà bán nộp thuế Mót chút để cầm hơi”
(“Quan nghệ mạch”) [10-336]
Đó là hình ảnh một ông đi bán than trong mùa đông rét mớt, trên mình chỉmột manh áo đơn, lại còn bị bọn thống trị cớp cả xe than:
“Ông bán than Đốn củi, đốt than ở trong núi Nam
Mặt đầy tro bụi và khói ám …
Đêm qua ngoài thành tuyết dày hàng thớc Sớm sớm ông đã đánh xe than lăn theo vết bánh xe đầy băng …
Một xe than nặng hơn nghìn cân Ngời nhà vua lấy đi tiếc chẳng đợc”
(“Mại thán ông”) [10-333]
Trang 25Nhìn chung viết về cuộc sống khốn khổ của ngời nông dân, Bạch C Dị chú
ý đi sâu vào từng mảng đời, từng số phận con ngời cụ thể, ông giới thiệu rõ ràng
đến cả địa danh sinh sống của họ nh “Đỗ Lăng”, “núi Nam”…làm cho bức tranhcuộc sống hiện lên chân thực và rõ nét Ông cha từng sống lăn lộn cùng nhândân nh Đỗ Phủ, vậy mà qua thơ ông ta có cảm tởng nh ông là ngời cùng cảnhngộ với họ Điều đó chứng tỏ rằng bên cạnh tấm lòng thơng dân ông còn có mộtngòi bút xuất sắc Từ những số phận con ngời đợc miêu tả cụ thể và chi tiết ấyngời đọc hình dung ra bức tranh khái quát về đời sống của ngời nông dân TrungHoa thời Trung Đờng nói riêng và hiện thực xã hội Trung Đờng nói chung Với
đề tài này, Bạch C Dị không mong muốn gì hơn là thể hiện cái chí “kiêm tế” củamình Đó là tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà thơ họ Bạch
Viết về cuộc sống xa hoa của giai cấp thống trị, Bạch C Dị không chỉdừng lại ở việc khái quát mà còn đa ngòi bút len lỏi đến tận ngõ ngách của đờisống sinh hoạt, đến cả từng bữa ăn, từng món ăn cụ thể của bọn chúng:
“Trong tiệc bình chén đầy rợu ngon
La liệt những sơn hào hải vị Qủa hái: quất Động Đình Gỏi làm: cá Thiên Trì”
Nói đến sự tàn bạo của giai cấp thống trị, Bạch C Dị đã không ngần ngạichỉ trích phê phán từ vua đến quan lại Vua thì lo ăn chơi trụy lạc, bỏ bê triềuchính, bất nhân với cung nữ, không quan tâm đến đời sống của dân Bọn quanlại là những kẻ lang sói, chuyên bóc lột, đục khoét ngời dân lành Viết về đề tàinày, Bạch C Dị có thái độ dũng cảm, tinh thần thẳng thắn trong việc chỉ tríchmọi tội ác của kẻ thống trị để nhằm “bổ khuyết triều chính”, “trị bệnh cứu ng-
Trang 26ời” Nhà thơ vốn là một ông quan, lấy con mắt của ngời trong cuộc để mô tả sựtàn bạo của giai cấp thống trị nên thơ ông càng khách quan, chân thực
Thể hiện đề tài chiến tranh, Bạch C Dị đi vào những số phận, những conngời cụ thể phải chịu sự bất hạnh do chiến tranh, từ đó mà tố cáo tội ác, vạchtrần bản chất của kẻ thống trị Ông ít đi vào miêu tả trực tiếp chiến tranh nh
Đỗ Phủ đã từng miêu tả chiến tranh An Lộc Sơn - Sử T Minh trong “Xuânvọng”, “Thùy lão biệt” kiểu:
“Thây chất tanh cây cỏ
Máu trôi đỏ lạch đồng”
(“Thùy lão biệt”) hoặc: “Nớc mất nhng núi sông còn
Thành xuân quạnh quẽ um tùm cỏ phai
Cảm thời hoa để lệ rơi
Biệt li chim cũng vì ngời xót xa”
(“Xuân vọng”)
mà chú ý đi vào mô tả tác hại và hậu quả của chiến tranh, với những số phận cụthể, chẳng hạn số phận ông cụ ở Tân Phong (“Cụ cụt tay ở Tân Phong”) Một
ông già vì sợ cảnh binh dịch mà lén lút đêm khuya giấu mọi ngời, lấy hòn đá
đập gãy cánh tay Sự phản ứng của ông già chính là thái độ quyết liệt phê phánchiến tranh của tác giả Số phận của ông già là tiêu biểu, điển hình cho số phậncủa hàng nghìn, hàng vạn con ngời phải chịu bao nỗi khổ đau do chiến tranhmang lại
Viết về đề tài chiến tranh thờng thì ngời ta mô tả những cuộc chiến đẫmmáu, những trận đánh long trời lở đất, những xác chết ngổn ngang… Nhng Bạch
C Dị thì khác, ông đa ngòi bút của mình xoay quanh hành động phản đối chiếntranh của một cụ già, đó là cách phản đối của một cá nhân nhng chính là sự bày
tỏ thái độ tố cáo chiến tranh của ngời dân lơng thiện Hi sinh một phần thân thểcủa mình là một điều vô cùng đau đớn, vậy mà còn sớng hơn đi binh dịch,chứng tỏ nạn chiến tranh ghê gớm hơn, đáng sợ hơn Cách mô tả chiến tranh củaBạch C Dị có thể nói là rất riêng, không thể lẫn lộn với bất cứ ai, giáo trình
Trang 27“Lịch sử văn học Trung Quốc” tập một đã nhận định: “Tân Phong chiết tý ông”
là bài thơ rất hay trong Tân Nhạc Phủ, … hình tợng xây dựng rất xúc động, kếtcấu trớc sau ăn khớp, chứng tỏ nghệ thuật của tác giả rất điêu luyện” [4-587].Cái mới của Bạch C Dị khi viết về đề tài chiến tranh là ở chỗ thơ ông đi vàonhững số phận bất hạnh vì chiến tranh mà miêu tả Bản thân các nhân vật đợc đềcập trong các bài thơ này đã là tiêu biểu, đặc biệt Nhờ thế, tiếng nói tố cáo càngmạnh mẽ và sâu sắc hơn
Bài “Phọc nhung nhân” tả một ngời Hán bị hãm trong thành Lơng Nguyênvào đời Đờng Đại Tông niên hiệu Đại Lịch Vì nhớ quê hơng mà ngời tù binh đótrốn khỏi đất Thổ Phồn để về đất Hán, nào ngờ vị tớng tá hám công nơi biên ải
vu là “tù binh Phồn”, trói lại, đày xuống miền Nam ẩm thấp, oan ức không kêuvào đâu đợc:
tù binh Phồn bị trói” đã trở thành hình tợng tiêu biểu, mang ý nghĩa thời đại sâusắc Đó là những bức tranh chân thực, cụ thể và sinh động, là tàn tích của nhữngcuộc chiến tranh đời Đờng để lại, là nỗi đau không bao giờ nguôi
Viết về chiến tranh, thơ phúng dụ của Bạch C Dị phân biệt rõ chiến tranhphi nghĩa và chính nghĩa Đối với cuộc chiến tranh phòng giữ biên cơng, ông đãkhích lệ, tán dơng tớng sĩ yêu nớc chống địch nh trong “Thành Diêm Châu” Sựphân biệt chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa càng chứng tỏ Bạch C Dị có sự
am hiểu cuộc sống rất sâu sắc, vốn sống phong phú, thái độ khách quan, khiếncho thơ của ông càng giàu tính hiện thực hơn
Trang 28Nhìn chung, viết về đề tài chiến tranh, ngòi bút của nhà thơ họ Bạch rấtnhanh nhạy và tinh tế, dựng lên những hình tợng sinh động và điển hình Cái tàicủa tác giả chính là ở chỗ lựa chọn đề tài mang ý nghĩa thời đại sâu sắc
Bên cạnh đề tài về cuộc sống khốn khổ của ngời dân, đề tài về cuộc sống
xa hoa và sự tàn bạo của giai cấp thống trị, đề tài về chiến tranh, thơ phúng dụcủa Bạch C Dị còn dành riêng những trang viết về phụ nữ Tuy trong mảng thơphúng dụ ít có bài nào vợt qua nổi bài thơ cảm thơng “Tỳ bà hành” nhng hình t-ợng ngời phụ nữ trong thơ phúng dụ của ông hiện lên chân thực, rõ nét
Bạch C Dị chú ý hớng ngòi bút của mình tới nỗi khổ của hai loại phụ nữ,hoặc là bị giày vò, bị ruồng bỏ, hoặc những ngời phụ nữ là cung nữ Rất nhiềubài thơ ông lớn tiếng bênh vực cho ngời phụ nữ nh “Thái Hàng lộ”, “Phụ nhânkhổ”, cũng nh nhiều bài nói lên lòng oán hận của những ngời đàn bà trong cungcấm nh “Thợng Dơng nhân”, “Thợng Dơng bạch phát nhân”, “Lăng viên thiếp” Viết về ngời phụ nữ, tác giả muốn lên tiếng tố cáo xã hội đã chà đạp lênquyền sống, quyền đợc hởng hạnh phúc của họ Đề tài về ngời phụ nữ trong thơphúng dụ của Bạch C Dị thể hiện cái nhìn thơng cảm nhất quán cha có ở nhà thơnào, kể cả Đỗ Phủ Đây là điều mà Bạch C Dị đã bỏ rất nhiều công sức trong lao
động sáng tạo nghệ thuật mới có đợc
Qua bốn mảng đề tài mà chúng ta tìm hiểu, có thể khẳng định rằng đề tàisáng tác của thơ phúng dụ Bạch C Dị không hề thua kém một tác giả Đơng thờinào Mặc dù đi vào mô tả những số phận, những cảnh đời của cá nhân, khắc hoạmột vài nét của sự kiện nhng có thể nói những chi tiết cụ thể ấy đã đạt đến mức
điển hình, mang ý nghĩa thời đại, phản ánh đợc vấn đề trọng yếu của thời đại.Chúng ta khâm phục ông bởi cách thể hiện mới mẻ và sáng tạo ấy
2 2 Hình tợng thơ
Tính chất nổi bật trong thơ phúng dụ của Bạch C Dị là xây dựng hình tợngmột cách chân thực, cụ thể Bút pháp xây dựng hình tợng của Bạch C Dị cónhiều đặc trng