1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những bài thơ về rượu của lý bạch

67 2,6K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những bài thơ về rượu của lý bạch
Tác giả Lê Thị Xuân
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 185,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân sự xuất hiện những bài thơ về “Rợu” của Lí Bạch Việc sự xuất hiện những bài thơ về “Rợu” trong thơ Lí Bạch một cách đadạng, phong phú, mang nhiều sắc thái ý nghĩa tích cực, n

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi còn nhận đợc sự hớng dẫn tận tình, chu đáo của cô giáo Phan Thị Nga, sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, sự động viên kích

lệ của gia đình và bạn bè.

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo hớng dẫn và xin gửi đến các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp lời cảm ơn chân thành nhất.

Tác giả

Lê Thị Xuân

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thơ Đờng là một hiện tợng thơ ca đặc biệt đợc cả nền và đỉnh Đó là

một thành tựu rực rỡ của thơ ca Trung Quốc nói riêng và của cả nhân loại nóichung Thơ Đờng không chỉ có ảnh hởng sâu rộng với thơ ca Trung Quốc, cácnớc Đông Nam á mà còn cả đối với thơ ca phơng Tây hiện đại Với số lợng hơn48.000 bài thơ của khoảng hai nghìn ba trăm nhà thơ, với nội dung phong phú

và nghệ thuật trác việt đã đánh dấu thời đại hoàng kim của nền thơ ca TrungQuốc và làm cho thơ Đờng cùng với “Kinh Thi”, “Tống Từ” đợc liệt vào hàngthơ ca u tú nhấ nhân loại

Không phải ngẫu nhiên mà từ trớc tới nay thơ Đờng đợc dịch ra nhiều thứtiếng trên thế giới Và càng không phải ngẫu nhiên mà ngày nay nhu cầu thởngthức, nghiên cứu, học tập thơ Đờng ngày càng nhiều

Đối với ngời Phơng Đông nói chung và ngời Việt Nam nói riêng, Thơ ờng có một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần

Đ-1.2 Thơ Đờng đợc ví nh một vờn hoa rộng lớn, có đủ muôn hơng nghìn

sắc, trong đó nổi lên những bông hoa tơi thắm nhất nh: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch

C Dị, Mạnh Hạo Nhiên, Trần Tử Ngang, Vơng Bột v vv…

Đã có ngời ví Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch C Dị là ba cây đại thụ trong vờn thơ

Đờng nói riêng và trong nền văn học Trung Quốc nói chung Lí Bạch đã từng

đ-ợc nhân loại tôn xng là “Thi Tiên” Sáng tác của Lí Bạch ở nớc ta đđ-ợc đa vàogiảng dạy cho sinh viên khoa Ngữ Văn trờng Đại học, trong chơng trình phổthông trung học, và trung học cơ sở

1.3 Thơ Lí Bạch viết về nhiều đề tài: Bộc lộ t tởng tình cảm bản thân,

ngợi ca thiên nhiên, ngâm vịnh lịch sử, thơ về Rợu, về Tiên…

Trong đó “Rợu” là một trong những đề tài có số lợng thơ khá nhiều.Nghiên cứu đề tài “Rợu” trong thơ Lí Bạch chúng tôi sẽ có dịp đi sâukhám phá thế giới tâm hôn của một tác giả xuất sắc của phong trào thơ Đờng đã

Trang 3

từng chất chứa trong mình nhiều nỗi niềm trăn trở, suy t trớc con ngời và cuộc

đời, sầu đau đến mức phải lao vào rợu để giải sầu, giúp ta có những lí giải minhxác hơn về thơ ông cũng nh con ngời ông, từ đó biết nhìn nhận, đánh giá đúng

đắn về Lí Bạch, tránh việc quá đề cao cũng nh quá hạ thấp khi nghiên cứu thơ

ông ở phơng diện t tởng nh một số nhà nghiên cứu xa nay từng vấp phải

Tìm hiểu thơ Lí Bạch còn tạo điều kiện để giảng dạy tốt hơn tác phẩmcủa ông ở trờng phổ thông, giúp các em học sinh biết trân trọng, yêu quý ônghơn, cũng nh biết chia sẻ, thông cảm với nỗi đau, sự bất hạnh của nhà thơ trongcuộc đời

2 Lịch sử vấn đề

Lí Bạch là nhà thơ lớn , có vị thế quan trọng trong văn học Trung Quốcnên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ông

Trong phạm vi hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay cha có công trình nào

đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về đề tài “Rợu” trong thơ Lí Bạch Các tài liệu đãnghiên cứu về Lí Bạch gồm có:

Trơng Chính, Nguyễn Khắc Phi: Văn học Trung Quốc, tập 1, Nxb Giáo

dục, 1987

Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 1, Nxb Giáo dục, 1997.

Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, Nxb Phụ nữ

Nhìn chung các công trình trên đều có đề cập đến đề tài “Rợu” trong thơ

Lí Bạch ở các mức độ khác nhau: Hoặc tìm hiểu nội dung những bài thơ về

Trang 4

“R-ợu” hoặc lý giải nguyên nhân vì sao thơ Lí Bạch đề cập đến “R“R-ợu” Có thể dẫn

ra các ý kiến:

Giáo trình “Lịch sử văn học Trung Quốc” tập 1, Nxb Giáo dục, 1987 đã

viết: “Giai cấp thống trị đẩy ông ra khỏi đời sống chính trị, chế độ phong kiến ràng buộc cá tính sống phóng túng và khát vọng tự do của ông Điều này làm cho các bài thơ về Rợu của ông, vẫn sáng ngời t tởng, vẫn mang lại sự cổ vũ mạnh mẽ Mặc dù ở đó nhân tố tiêu cực thờng xen lẫn với yếu tố tích cực, nh-

ng nhân tố lãng mạn thờng bao trùm”

Lí Bạch là một nhà thơ lãng mạn tích cực vĩ đại trong lịch sử phát triển thơ ca cổ điển Trung Quốc.Thành tựu của ông đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật lãng mạn”.

(Văn học Trung Quốc, tập 1,Nxb Giáo dục 1987)

Hoặc giáo trình “Văn học Trung Quốc” tập 1,Nguyễn Khắc Phi, Trơng

Chính , Nxb Giáo dục, 1987:

Phân tích thơ Lí Bạch, không thể không nhắc đến Tiên và Rợu Chính

ông cũng tự xng là Tiên trong làng rợu” Nh vậy thơ về “Rợu” của Lí Bạch có

đợc nhắc đến song không tách riêng thành một mục lớn mà đợc đặt trong mốiquan hệ với các đề tài khác: Viết về thiên nhiên, viết về chiến tranh, nhân dân lao

động, về tình bạn… Vì là một mục nhỏ trong cả hệ thống đề tài sáng tác của LíBạch nên tác giả cha u tiên đúng mức cho vấn đề này Các giáo trình đều khẳng

định “Rợu” là một đề tài khá quan trọng trong thơ Lí Bạch, có dẫn một số bài thơtiêu biểu để minh hoạ Nhng ý nghĩa của thơ về đề tài “Rợu” trong thơ Lí Bạch còndừng lại ở một mức độ nhất định, với những lời nhận xét mang tính khái quát, nh

Trang 5

Dẫn ra các công trình nghiên cứu trên để thấy rằng: Việc nghiên cứu cóliên quan đến vấn đề “Những bài thơ về rợu của Lí Bạch” còn khá ít ỏi, sơ lợc.Nhng dẫu sao, các nhận xét khái quát, các bài phân tích cụ thể trên đã định h-ớng cho chúng tôi, giúp chúng tôi thuận lợi hơn trong việc thực hiện đề tài này.

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài đợc xác định rõ là “Những bài thơ tiêu biểu về rợu của Lí Bạch”.Vì vậy, mục đích của chúng tôi là:

3.1 Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của những bài thơ viết về “Rợu”

ra còn vận dụng so sánh - đối chiếu

Trang 6

Nội dung Chơng 1

Nội dung - t tởng thơ viết về “Rợu” của Lí Bạch

1.1 Nguyên nhân sự xuất hiện những bài thơ về “Rợu” của Lí Bạch

Việc sự xuất hiện những bài thơ về “Rợu” trong thơ Lí Bạch một cách đadạng, phong phú, mang nhiều sắc thái ý nghĩa tích cực, nhng cũng có không ítyếu tố tiêu cực không phải là một điều ngẫu nhiên mà nó có căn nguyên của nó.Trớc hết là do cá tính, sở thích của Lí Bạch Thứ hai là do sự tác động của hoàncảnh xã hội đến đời t của ông

Sinh ra vốn là một ngời rất có cá tính, ông không chịu đợc bất kỳ một sựtrói buộc nào Vì vậy mà 15 tuổi đã thích kiếm thuật, 20 tuổi đã chống kiếmviễn du Nổi lên trong tính cách của Lí Bạch là lòng ham sống, sự say mê hởnglạc thú của cuộc đời

Tính cách a sống phóng túng, tinh thần ham sống lại gặp sự tác động củalối sống du hiệp, t tởng đạo gia kết hợp với việc yêu thích sự bình đẳng ngàycàng đợc khẳng định, phát triển, tạo thành một cá tính rất riêng của Lí Bạch

Ông có một tác phong nghĩa hiệp rất mãnh liệt: Thợng võ khinh nho,xem thờng tiểu tiết, khinh tài, thích bố thí, hào hiệp khác thờng Lúc trẻ “đi chơi

về phía Đông cha đầy một năm đã tiêu đến ngoài 3 vạn lạng vàng” vừa chi dùng

Trang 7

cho bản thân vừa chu cấp cho các chàng công tử Học giỏi, thông minh nhng LíBạch không tham gia thi cử Ông muốn xuất hiện trớc cuộc đời bằng chính cátính và những việc làm khác thờng của mình Phần lớn thời gian Lí Bạch dànhcho việc thăm quan du lịch và hành động nghĩa hiệp để gây tiếng tăm trongthiên hạ Nhng hơn 40 tuổi ý muốn ấy vẫn không thành Mãi tới niên hiệu ThiênBảo năm đầu 742, Thái Bạch 42 tuổi, mới đợc vua phong cho chức Cung phụng

ở viện Hàn Lâm, chuyên giữ về những việc giấy tờ bí mật Thời gian đầu LíBạch đợc vua rất sủng ái: Vua từng bảo: “Khanh là một ngời áo vải mà tiếngtăm đợc trẫm biết đến nếu không phải là sẵn chứa đạo nghĩa thì sao đợc nh vậy”(dẫn theo Lí Bạch - Trúc Khê, Nxb Văn học Hà Nội, 1992, trang 15).

Thái Bạch ở viện Hàn Lâm luôn luôn phải thay vua thảo những chiếu chế.Nhng tính hay rợu quá, thờng say sa suốt ngày Có lúc vua sai soạn thảo giấy tờnhng ông đơng say Việc vội không thể đợi lâu, do vậy quân lính buộc phải lấynớc lạnh dội vào mặt cho tỉnh, nhng ngay cả trong lúc say Lí Bạch vẫn có thểsáng tác đợc những bài thơ hay Tài thơ nên Lí Bạch đợc vua yêu quý nhng vốntính không a xu nịnh nên Lí Bạch không quỳ gối khom lng trớc thế lực quyềnquý Vì ghen ghét, đố kỵ với tài năng của Lí Bạch, vì khó chịu trớc cá tínhngang tàng của ông mà nhiều kẻ quyền cao chức trọng nh Cao Lực Sỹ, DơngQuý Phi tìm cách dèm pha Lí Bạch với vua Thái Bạch nhận thấy nh vậy càngtrở nên rợu chè phóng đãng hơn trớc Và cuối cùng ông lui về ở ẩn vào năm744

Và rồi tháng 11 năm 762 Thái Bạch bị bệnh, mất lúc ông tròn 62 tuổi.Liên quan đến cái chết của ông, cũng có nhiều truyền thuyết rất hay: “Lênh

đênh trên dòng sông Thái Thạch, nhà thơ uống rợu say mềm, rồi ông thấy bóngtrăng lung linh tuyệt đẹp ở dới dòng sông Mắt rợu hoa lên, ý thơ cuồng lên, nhàthơ Lí Thái Bạch đã nhảy choàng xuống dòng sông để định ôm lấy nàng trăng

đẹp Và giấc ngủ nghìn thu bắt đầu từ đây” (Lí Bạch - Trúc Khê, Nxb Văn học

Hà Nội, 1992, trang 7)

Trang 8

Lại một thuyết khác cho rằng: “Nhà thơ khi nhảy xuống sông ôm lấyvầng trăng thì đợc một con cá kình nổi lên đỡ lấy, ông cỡi trên lng cá rồi vùnvụt bay đa ông lên trời, theo sau là những tiếng nhạc du dơng, êm ái” (Lí Bạch-

Trúc Khê, trang 7 )

Cả đến lúc qua đời Lí Bạch vẫn là một ngời say rợu

Câu chuyện truyền thuyết về cái chết của nhà thơ Lí Bạch nh trên đã

đành có thể là chuyện ngoa truyền không đáng tin nhng qua đó, ta có thể thấy

đợc sự sùng kính của mọi ngời với họ Lí nh thế nào, sùng kính đến nỗi đem tô

điểm cho cái chết của Thái Bạch đầy vẻ nên thơ và mang dáng vẻ thần tiên,huyền bí

Nh vậy, cả cuộc đời của Lí Bạch đã gắn liền với “Rợu”, “Rợu” vừa là sởthích, lại vừa nh một ngời bạn - một ngời bạn chân thành, tri âm, tri kỉ, cùng

ông chia sẻ bao nhiêu nỗi đắng caycủa cuộc đời

1.1.2 Bi kịch cá nhân

Ai đã từng đợc sinh ra trong cõi đời này, khi lớn lên hành trang bớc vào

đời cũng mang nặng những ớc mơ, hoài bão Lí Bạch cũng vậy, ngay từ thời trẻ,

ông đã có một lý tởng chính trị cao đẹp đó là phải đem tài trí, năng lực, nguyệngiúp đỡ vua làm cho thiên hạ yên ổn, bốn bể thanh bình, do đó mà cứu vớt dân

đen, làm cho nhân dân đợc an c lạc nghiệp

Bình sinh, Lí Thái Bạch đã đi khắp thiên hạ, và thân thế bảy nổi ba chìmcủa ông đã giúp ông tiếp xúc với nhiều mặt, nhiều tầng lớp ngời trong xã hội.Cá tính trong sáng của ông đợc hình thành trên cơ sở hấp thu hơi thở của thời

đại Ngay từ khi còn nhỏ tuổi nhng tính tình đã hào phóng, tự phụ, không câu nệtập quán thờng tình: “Muốn kêu lên một tiếng thì mọi ngời phải giật mình, vỗcánh tung bay thì bay thấu tận trời xanh” Vốn là ngời vô cùng tha thiết với lí t-ởng chính trị Hoài bão của Lí Bạch là làm cho bốn biển thanh bình, hoàn khu

đại định, có thể cứu vớt dân đen, yên bình xã tắc

Trang 9

Từ thời thanh niên ông đã muốn vì nớc nhà mà làm nên một phen sựnghiệp, ông đã hồi tởng lại trong một tác phẩm của mình “Một đời muốn báo

đền ơn chủ”(Tặng Trơng Tởng Hạo) Điều này không giống với mọi thứ truycầu lợi lộc khác, mục đích của ông không phải tìm vinh hoa phú quý cho cánhân, lí tởng của ông chủ yếu là một thứ kiến công lập nghiệp, là hoài bão vì n-

ớc nhà mà làm nên một phen sự nghiệp Hoài bão đó có liên hệ mật thiết vớithái độ chính trị tích cực của cá nhân ông và tinh thần thời đại đơng thời

Ba năm làm quan ở Trờng An song chỉ đợc vua xem nh một kẻ bồi bút,bao giờ cần sai bảo việc riêng thì cho gọi Chức “Hàn Lâm cung phụng” chỉ làhữu danh vô thực Tài năng, nhiệt tình với lý tởng chính trị mà không đợc trọngdụng, lại bị vua xa lánh, bị quần thần đố kỵ, gièm pha, khiến Thái Bạch trởthành một kẻ bất đắc chí Lần ông thất bại ở Trờng An là lần ông bị đả kích rấtmạnh về mặt tinh thần T tởng của ông hết sức hoảng loạn Ông cố dãy giụatrong đau khổ để vơn dậy Bao nhiêu lần vơn dậy mà không nổi, ông đành từ giãcõi đời một cách bất đắc chí tìm đến với con đờng để thực hiện lý tởng thứ haicủa mình: Chống kiếm viễn du

Vốn là một ngời có cá tính ngang tàng, phóng túng, khi tiếp xúc với cácthế lực thống trị đen tối, sự tự do, lối sống phóng túng ấy bị ngăn trở, hơn nữalại nhận thức đợc bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị, nên thơ Lí Bạch khi biểuhiện sự phản kháng không tách rời khỏi “Rợu”

Ông dùng “Rợu” để bày tỏ nỗi bi phẫn của mình, để phản kháng thế lựcthống trị xã hội

Muốn cho vơi bớt sầu nhân thế, nỗi sầu của một con ngời có tài màkhông đợc trọng dụng, muốn quên hết những gì không vừa ý trong cuộc đời ông

đã đắm chìm trong rợu để giải sầu

Phần lớn thời gian của ông đợc thả sức vào các cuộc say, say để làm nhẹbớt nỗi đau khổ, buồn bực chất chứa trong ông: “Mỗi lần muốn trèo lên ngọnBồng Lai nhìn ra xa bốn bể, tay sờ mặt trời, đầu đội vòm may xanh, rửa sạch

Trang 10

những nỗi u uất buồn giận, nhng không thể đợc” Ông kí thác nỗi buồn củamình vào những bài thơ về rợu.

Sự nghiệp sáng tác của Lí Bạch khá đồ sộ Ông để lại cho đời hơn mộtnghìn bài thơ Thơ ông viết về nhiều đề tài: Đề tài viết về thiên nhiên chiếm sốlợng lớn trong toàn bộ sáng tác của ông Bởi hơn nửa đời ngời ông chống kiếmviễn du, ngao du sơn thuỷ, vì vậy mà thiên nhiên đối với ông gần gũi, thắm thiết

nh một ngời bạn Thơ ông ghi lại nhiều địa danh nổi tiếng ông đã đặt chân đếnnh: Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng),

đài Phợng Hoàng (Đặng Kim Lăng Phợng Hoàng đài), núi Thiên Mụ (Mộng duThiên Mụ ngâm lu biệt), thành Bạch Đế (Tảo phát Bạch Đế thành)

Bên cạnh đề tài thiên nhiên, thơ Lí Bạch còn viết về tình bạn Ông cónhững ngời bạn thân nh: Đỗ Phủ, Uông Luân, Mạnh Hạo Nhiên Ngoài ra, thơ

Lí Bạch còn thể hiện sự quan tâm đến vận mệnh nớc nhà, vạch trần sự đồi bạicủa thế lực phong kiến

Có thể nói, ở mỗi đề tài thơ ông đều thể hiện rất thành công ý tởng củamình Mơ ớc đem trí tuệ, tài năng để giúp nhà vua không thực hiện đợc Ông đãthất vọng, đau khổ, buồn sầu Vì thế, trong sự nghiệp sáng tác của ông, bên cạnhcác bài thơ viết về các đề tài trên thì những bài thơ về Tiên, về Rợu chiếm một số l-ợng tơng đối lớn, đặc biệt là thơ về Rợu

Qua quá trình tìm hiểu, thống kê, khảo sát chúng tôi đã tìm ra một số ợng tơng đối lớn những bài thơ viết về “Rợu” của ông Tổng số thơ Lí Bạch đợcdịch sang tiếng Việt là 194 bài, trong đó thơ viết về “Rợu” là 36 bài chiếm 18%.Qua đó chúng ta có thể đi đến kết luận: Thơ viết về “Rợu” của Lí Bạch chiếm

l-số lợng tơng đối lớn trong sự nghiệp sáng tác của ông Bàn về thơ Lí Bạch,không thể không nhắc đến “Rợu”, cũng không thể không trích dẫn những bàithơ về “Rợu” rất xuất sắc nh:

Xuân nhật tuý khởi ngôn chí” (Ngày xuân say rợu tỉnh dậy nói chính

mình), “Tơng tiến tửu” (Sắp mời rợu), “Tặng nội” (Tặng vợ), “Tự khiển” (Tự

Trang 11

làm khuây), “Nguyệt hạ độc chớc” (Một mình uống rợu dới trăng), “Hành lộ nan” (Đờng đi khó)

Đây là những bài thơ hay, đặc sắc của Lí Bạch viết về Rợu Qua nhữngbài thơ này, Lí Bạch muốn thể hiện một nội dung phong phú vừa mang tính tíchcực nhng vẫn có những yếu tố tiêu cực

Nh vậy, đó là nguyên dẫn đến việc ông đắm chìm trong những cơn say đểviết ra những tác phẩm có nội dung không lành mạnh Đặc biệt là các tác phẩmkêu gọi cuộc sống hởng lạc, say tuý luý, một phần do cá tính của một con ngờithích sống một cuộc sống phóng túng, thích ngao du sơn thuỷ Bên cạnh đó tacòn thấy có một nguyên nhân nữa, đó là do ông gặp những nỗi bất đắc dĩ trongcuộc đời Hiền tài không đợc trọng dụng nên ông sầu não và lao vào con đờnghởng lạc những thú vui trần tục Song thơ Lí Bạch có sầu, có buồn nhng không

có sự bi quan, ông vẫn luôn thể hiện niềm tin ở chính bản thân mình

1.2 Nội dung thơ về “Rợu” của Lí Bạch

1.2.1 Thái độ tích cực hởng lạc

Lí Bạch lớn lên dới thời Khai Nguyên (713 - 741) thời kỳ thịnh vợng nhấtcủa nhà Đờng Về mặt văn học, nhờ sự nỗ lực của Tứ Kiệt và nhất là Trần TửNgang, một bộ mặt mới đã xuất hiện trên thi đàn: Thi phong lành mạnh, áp đảotàn tích của chủ nghĩa hình thức và thi phong uỷ mỵ thời Lục Triều Không khíxã hội và văn học đó đã kích động Lí Bạch cũng nh phần lớn nhà thơ thời Thịnh

Đờng khác chí tiến thủ, làm dấy lên trong lòng họ bao hoài bão ớc mơ

Thế nhng cuối thời Khai Nguyên, những mâu thuẫn vốn có của xã hộiphong kiến Trung Quốc ngày càng trở nên sâu sắc do những chính sách kinh tếban hành đầu đời Đờng bị vi phạm, xoá bỏ, do những cuộc chiến tranh khaibiên liên miên, do sinh hoạt của bọn quý tộc ngày càng hủ bại Đờng HuyềnTôn chỉ ẩn mình trong cung sâu, say đắm trong thú vui tửu sắc “phó mặc việctriều chính cho các tể tớng, phó mặc việc biên cơng cho các tớng tá” (tự trị

Trang 12

thông giám) dẫn đến một cuộc chấn động to lớn là loạn An Lộc Sơn - Sử TMinh làm hao tổn mất bảy phần mời dân số Trung Quốc.

Nh vậy, Lí Bạch trải qua gần trọn vẹn thời kỳ thịnh vợng nhất của triều

Đờng, đồng thời cũng trải qua một trong những thời kỳ rối ren nhất, thời kỳ nhà

Đờng chuyển từ chỗ cực thịnh đến chỗ bớc đầu suy vong Tình hình xã hội ấygóp phần tạo nên những mặt mâu thuẫn, phức tạp trong t tởng Lí Bạch và đợcphản ánh một cách khá quanh co, phức tạp trong tác phẩm của nhà thơ

Lí Bạch là một con ngời có ớc mơ, hoài bão cao đẹp Ông cho rằng kẻ sỹphải có chí “tang bồng hồ thỉ”, “kẻ đại trợng phu phải có chí bốn phơng” (th gửiBùi Trởng Sử) Đủ thấy ông là một con ngời tích cực nhập thế Ông tự cho mình

là kẻ hùng tài, với tài năng kiệt xuất một ngày kia ông có thể từ địa vị “khách áovải”, nhảy lên “hàng khanh tớng” Khác với mục đích của phờng giá áo túi cơm,hoài bão chính trị của ông là “làm rõ lời bàn của Quản Trọng, tính mu chớc của

đế vơng, đem tài năng trí tuệ nguyện giúp nhà vua để cho thiên hạ yên ổn, bốnbiển thanh bình” (th để lại thay Thọ Sơn đáp Mạnh Thiếu Phủ)

Nhng rồi ông đã thất vọng Bởi thực chất Lí Bạch chỉ là một bồi bút chovua quan trong triều Là một ngời có lơng tri, Lí Bạch không chìm đắm trongcuộc sống dung tục ấy Ông dần thấy rõ bộ mặt thật của lũ vua quan trong triều,

đặc biệt thấy rõ vua Huyền Tôn triệu ông vào kinh không phải vì trọng dụng kẻhiền tài mà chẳng qua là để làm một thi nhân bồi bút ca tụng công đức mà thôi

Lí Bạch bàng hoàng, có phần vỡ mộng, mang tâm tình bi phẫn Ông đã tựthoát ra khỏi cuộc sống không lành mạnh, sa đoạ ấy bằng cách là cùng các bạnuống rợu, ngâm thơ cho khuây khoả

Bao giờ nói đến “Rợu”, thơ Lí Bạch cũng tràn đầy nỗi đắm say:

Chỉ ớc vui ca thởng chén quỳnh

Be vàng, trăng sáng vào rọi mãi”

(Bả tửu vấn nguyệt)

Trang 13

Một số bài thơ nh “T ơng tiến tửu”, Nguyệt hạ độc chớc”, Lơng viên ngâm” tập trung viết về nỗi sầu của bản thân, sự đắm chìm trong rợu và lời cổ

vũ, kêu gọi cho lối sống hởng lạc, gấp gáp ở bài “T ơng tiến tửu” ông viết:

Há chẳng thấy Nớc sông Hoàng Hà từ trời tuôn xuống Chảy nhanh ra biển, chẳng quay về Lại chẳng thấy,

Thềm cao gơng soi sầu tóc bạc Sớm nh tơ xanh, chiều tựa tuyết

Đời ngời đắc ý hãy vui tràn Chớ để bình vàng suông bóng nguyệt”

Lí Bạch nhận thức đợc cuộc đời con ngời vô cùng ngắn ngủi, một cuộc

đời trôi mau chẳng khác gì một ngày trời Buổi sáng tóc con ngời còn xanh biếc

nh tơ, buổi chiều tóc đã bạc trắng Sự thấm thoát trôi nhanh của thời gian tác

động thực sự, chi phối mạnh mẽ đến lối sống của Lí Bạch Chính vì cuộc đờithấm thoắt chẳng bao lâu, nên phải kịp thời mà vui say, mà hởng lạc cho thoả,con ngời chỉ có sống có một lần nên gặp lúc đắc ý thì phải uống rợu cho thậtsay, đừng để chén vàng phải nằm suông dới bóng nguyệt: “Chớ để bình vàngsuông bóng nguyệt” là lời hô hào, cổ vũ sự hởng lạc, khuyến khích đắm chìmtrong thú vui rợu chè

Cùng ý thơ ấy, các bài “Nguyệt hạ độc chớc , L” “ ơng viên ngâm ” cũngbiểu hiện khá rõ ở “L ơng viên ngâm” ông viết:

Trang 14

Khi lên đời thực sớng sao Rợu ngon cứ uống, lầu cao cứ trèo Con hầu cầm quạt đi theo Tháng năm vẫn mát nh chiều thu sang”

Lí Bạch - cũng nh Tản Đà - quan niệm rằng: Cuộc đời chẳng qua chỉ làmột giấc mộng, tội gì mà phải lao đao, suy nghĩ cho vất vả, phải biết tận hởnglạc thú cuộc đời, nên lấy rợu làm vui để quên hết cả ngày tháng, quên hết cảnhững gì phiền muộn, lo toan

Thái độ tích cực hởng lạc còn đợc biểu hiện cả ở việc cổ vũ, kêu gọi mọingời - những ngời bạn tri kỷ của ông - chìm đắm trong say sa hởng lạc, biết tậnhởng những thú vui trần thế, những cuộc chơi để giành lấy cuộc đời trần thếmột cách gấp gáp:

Hoa danh nhất khổ tửu

Độc chớc vô tơng thân

Cử bôi yêu minh nguyệt

Đối ảnh thành tam nhân Nguyệt ký bất giải ẩm

ảnh đồ tuỳ ngả thân Tạm bạn nguyệt tơng ảnh Hành lạc t cập xuân”

Nghĩa là:

Trong hoa một bình rợu Một mình rót uống không ai là bạn thân Nâng chén mời trăng sao

Cùng bóng mình, hoá ba ngời Trăng đã không biết uống rợu Bóng chỉ theo thân mình

Trang 15

Tạm làm bạn với trăng và bóng Hởng niềm vui cần phải kịp ngày xuân”

(Nguyệt hạ độc chớc)

“Hởng niềm vui cần phải kịp ngày xuân” là thể hiện sự theo đuổi một lốisống gấp gáp, vội vàng, chạy đua với thời gian của đời ngời, để có thể hởng thụhết thảy những thú vui mà cuộc sống đã ban tặng, bởi vì: “Cuộc đời nh giấcchiêm bao”

Sự bế tắc không lối thoát đã dẫn Lí Bạch viết nên những vần thơ nh thế

Đó cũng là niềm bi phẫn trớc cuộc đời Ông lấy việc uống rợu để giải sầu, cùngrợu bầu bạn, ông chìm đắm vào rợu, ông làm bạn với thiên nhiên, làm bạn vớicái bóng của mình:

Nâng chén mời trăng sao Cùng bóng mình, hoá ba ngời”

(Nguyệt hạ độc chớc)

Lí Bạch lâm vào bi kịch bởi ớc mơ, hoài bão lý tởng cao đẹp của ông bịhiện thức cuộc sống ngăn chặn, phong tỏa Không thực hiện đợc ớc mơ, hoàibão khiến ông vô cùng bi phẫn trớc cuộc đời Lí Bạch vùng vẫy để thoát khỏicuộc sống ô trọc trong khi nhiệt tình có thừa, thoát khỏi cuộc đời đầy rẫy bấtcông và ngang trái này

Khi chán ghét cuộc sống, buồn đau vì hiện thực, mỗi một con ngời đềutìm kiếm một giải pháp khác nhau Đều là chối bỏ hiện thực nhng nếu nh ChếLan Viên buồn bã, mọi thứ đối với ông đều là vô nghĩa:

Tôi có chờ đâu có đợi đâu

Đem chi xuân đến gợi thêm sầu Với tôi tất cả nh vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”

Tản Đà thì lại mơ ớc, mong muốn:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi Trần thế em nay chán nửa rồi

Trang 16

Cung quế đã ai ngồi đấy chửa Cành đa xin chị nhắc lên chơi”

Hay Xuân Diệu lại khác:

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những u phiền đau khổ với buồn lo ”Cũng buồn đau vì cuộc sống nơi trần thế, cũng muốn thoát ly để tìmniềm khuây khoả, để đợc thanh thản, nhng Lí Bạch lại chìm đắm trong men rợu,chìm đắm vào trong những cơn say triền miên từ ngày này qua ngày khác.Trong bài “Tặng nội”, ông tự kiểm điểm:

Tam bách lục thập nhật Nhật nhật tuý nh nê Tuy vi Lí Bạch phụ

Hà di Thái Thờng thê”

Nghĩa là:

Ba trăm sáu chục ngày Ngày ngày tuý luý say Tuy làm vợ Lí Bạch Giống vợ Thái Thờng thay”

Luôn trong trạng thái say tuý luý từ ngày này sang ngày khác Lí Bạch đãchìm đắm trong rợu suốt cả năm không sót ngày nào, không quan tâm lo lắng gìcho vợ con Ông đã sống một cuộc sống chỉ cho mình, vì mình, đã không giúpgì đợc vợ con, ông lại còn đắm chìm trong rợu, làm khổ ngay những ngời mà

ông hết mực yêu thơng, lâm vào những cơn say để quên đi những bất mãn trongcuộc đời, đã có lúc Lí Bạch uống rợu một cách say sa không ý thức đợc nữa cả

sự trôi chảy của thời gian:

Đối tửu bất giác mị Lạc hoa doanh ngã y

Trang 17

Tuý khởi bộ khê nguyệt

Điểu hoàn nhân diệc hy”

Nghĩa là:

Chén tràn không biết tối Trên áo rụng đầy hoa Tỉnh rợu theo trăng suối Chim về ngời cũng tha”

(Tự khiển)

1.2.2 Nỗi buồn bất tận

Với Lí Bạch, rợu đã trở thành một ngời bạn tri âm tri kỷ, rợu có thể giúp

ông giải khuây, để làm vơi đi nỗi buồn cô độc Suốt ngày Lí Bạch tìm đến rợu,với hi vọng có thể tìm đợc khuây khoả khi ớc mơ cao đẹp, lí tởng và hoài bãochân chính không thể thực hiện đợc Và mục đích việc uống rợu của ông còn là

để quên đi nỗi buồn tha phơng nơi đất khách quê ngời:

Lan Lăng mi tửu uất kim hơng Ngoạ uyển thinh lai hổ phách quang

Đãn sử chủ nhân năng tuý khách Bất tri hà xứ thị tha hơng”

Nghĩa là:

Rợu ngon ở đất Lan Lăng đợm mùi thơm cỏ uất kim

Đựng trong chén ngọc màu hổ phách sáng ngời Chỉ cốt sao chủ nhân mời đợc khách uống say Thì khách không còn biết nơi nào là quê hơng xa lạ”

Trang 18

hội mà những ngời hiền tài lại không đợc trọng dụng, suốt ngày chỉ biết say sarồi lại nằm khểnh:

Ngã lai cánh hà sự Cao ngoạ Sa - khâu thành”

Nghĩa là:

Ta lại đây nào có việc gì

Chỉ nằm khểnh ở thành Sa Khâu”

(Sa Khâu thành hạ kí ĐP)Sống một cuộc sống vô nghĩa, vô ích chỉ suốt ngày nằm khểnh Bởi côngviệc mà Lí Bạch yêu thích, theo đuổi là sự nghiệp đã không thành Buồn đau vìthế lực thống trị thối nát, nhân dân nghèo khổ, đất nớc loạn lạc, điêu linh LíBạch chỉ còn biết bất mãn mà ông với xã hội bất công muốn sống có ích chomọi ngời, cho xã hội mà không đợc, muốn giúp vua, giúp dân giúp nớc đợc yênbình mà không thực hiện đợc Vì thế ông lâm vào sự bất mãn luôn chìm đắmtrong những cơn say Những tởng say để quên đời, để quên đi tất cả những giantruân - khổ ải do cuộc đời mang lại

Có thể nói cuộc đời Lí Bạch là cả một nỗi buồn bất tận, vì vậy chỉ có say

sa trong men rợu mới có thể giúp ông khuây khoả, vơi bớt nỗi buồn sầu

Tuy luôn chìm đắm trong rợu, luôn say sa hởng lạc những thú vui trầnthế, nhng ở Lí Bạch vẫn loé sáng niềm tin ở chính khả năng của mình Quanhững bài thơ về rợu, Lí Bạch dờng nh tự cảm nhận đợc lối sống không lànhmạnh, sa đoạ của mình ý thức đợc điều đó, Lí Bạch đã tự trách móc, tự dày vòmình Đó là những nét tích cực loé lên niềm tin ở cuộc đời của chính nhà thơ

1.2.3 Niềm lạc quan tin tởng ở tơng lai

Có thể nói rằng Lí Bạch là một ngời có niềm tin son sắt vào tơng lai, vàokhả năng của mình Nhận ra bản chất của giai cấp thống trị, vỡ mộng trớc thựctại, Lí Bạch có buồn đau cho cá nhân mình, có sầu nhân thế - nỗi sầu của ông d-

Trang 19

ờng nh bất tận Sầu đến “Tóc trắng 3.000 trợng” đến “Rút dao chặt nớc nớc vẫnchảy” nhng cha bao giờ ông tỏ ra bi quan

Chính vì thế, trong những bài thơ có liên quan đến vệc uống rợu tìm tiêncủa Lí Bạch bên cạnh nỗi sầu đau bất tận vẫn sáng ngời niềm lạc quan, vẫn tràn

đầy tinh thần lãng mạn tích cực, vẫn mang lại cho chúng ta sự cổ vũ mạnh mẽ

và trên hết thể hiện một tinh thần a chuộng tự do, đợc tung hoành bay bổng,thoả mãn chí bình sinh Hoặc là thái độ khinh thờng phú quý:

Ngọc tiền chuông trống mặc ai”

Hoặc tinh thần nhập thế - niềm tin vững chắc ở tơng lai:

Nhân sinh hữu tài tất hữu dụng”

(Sinh ta trời có chỗ dùng)

ở “Lơng Viên ngâm” hoài bão của Lí Bạch vô cùng trong sáng, cao đẹp:

Non đông nằm mãi dậy đi Cứu dân những muốn sá chi muộn màng”

Đắm chìm trong rợu nhng Lí Bạch cha bao giờ quên lí tởng “tế thơngsinh, an xã tắc”, cha bao giờ nguôi khuây lời thề non nớc dới ánh trăng núi Nga

My vì thế, dù đã từ quan vui thú cùng thiên nhiên, trong Lí Bạch vẫn nhức nhốihoài bão, khát vọng chính trị Với ông, sự nghiệp cứu dân cứu nớc vô cùng cầnthiết, có ý nghĩa và nào có kể chi sớm, muộn Và lòng tin ở tơng lai tơi sáng, ởsức mạnh ý chí lấn át mọi cản trở trên bớc đờng nhà thơ thực hiện lí tởng:

Đè sóng cỡi gió hẳn có lúc Giong thẳng buồm mây vợt bể khơi”

Tinh thần vợt biển bằng cánh buồm siêu phàm - buồm mây - là tợng trngcho sức mạnh tinh thần vĩ đại của nhà thơ Đeo đuổi hoài bão, lí tởng cũng cónghĩa là quan tâm đến trần thế, đến hiện thực xã hội Trong những bài thơ về r-

ợu của ông còn lấp lánh tinh thần phê phán các thế lực thống trị, khí phách bấtkhuất, bản lĩnh của một con ngời không bị giàu sang phú qúy làm h hoại Theo

đuổi công danh, phú quý nhng Lí Bạch xem thờng công danh phú quý ô trọc:

Bình vàng rợu trong cốc đáng vạn

Trang 20

Mâm ngọc nhắm quý giá mơi ngàn Dằn chén ném đũa nuốt không đợc Vung gơm bốn phía lòng mênh mang”

(Hành lộ nan)Không có bất kỳ thế lực nào có thể làm tổn hại nhân cách của nhà thơ.Thà chết, Lí Bạch không chịu khom lng uốn gối trớc thế lực thống trị:

Dễ đâu cúi gãy lng phụng quyền quý Khiến ta chẳng đợc mặt mày tơi

(Tơng tiến tửu)

Sự đả kích của Lí Bạch đối với bọn vua chúa quý tộc khá quyết liệt song rốtcuộc ông cũng chỉ là một kẻ “bớng bỉnh cô độc” (chữ dùng của R.M.Mamaiêvatrong cuốn “Tuyển tập Văn học Trung Quốc” Nxb Bộ giáo dục).

Tuy nhiên cũng ở những bài thơ về “Rợu”, chúng ta lại tìm thấy nhữngnét đáng thông cảm, những yếu tố phản kháng đáng trân trọng

Trong bài “Tơng tiến tửu”, bên cạnh vài yếu tố tiêu cực nh hô hào mọi

ngời lao vào cuộc rợu, bản thân chìm đắm trong rợu, ta thấy nhà thơ đã tỏ ýkhinh miệt phú quý công danh Theo ông phú quý công danh không tồn tại đợcmãi mãi:

Công danh phú quý lâu dài

Có chăng Tây Bắc chảy lùi Hán giang”

(Trên lầu Tạ Diễu )

Đặc biệt ở bài “T ơng tiến tửu”, thái độ coi thờng công danh phú quý thể

hiện rất rõ:

Chung cổ soạn ngọc bất túc quy”

(Tiệc ngon giữa tiếng chuông cũng không đáng quý)

Lí Bạch hiểu hơn ai hết công danh phú quý không phải là cứu cánh của

đời ngời, đó là nhận thức mang tính triết lý nghìn đời không thể thay đổi đợc.Chỉ có tài năng thực sự, chỉ có bản lĩnh đạo đức vững vàng mới có thể sống

Trang 21

cùng với thời gian, với cuộc đời Điều này đã làm nên tinh thần tích cực, tự tincủa Lí Bạch:

Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng Thiên kim tán tận hoàn phục lai”

Nghĩa là:

Trời đã sinh ta là có dụng Ngàn vàng phóng sạch rồi trở lui”

(Tơng tiến tửu)Nhìn chung, nội dung thơ Lí Bạch viết về “Rợu” tràn đầy nỗi u phiền vôtận cũng nh tinh thần tích cực hởng lạc, lòng căm phẫn mãnh liệt các thế lựcthống trị Từ đó, nhà thơ muốn khuấy lên sự bất mãn lớn lao của chúng ta đốivới xã hội phong kiến Bên cạnh những bài thơ viết về “Rợu” với mục đích đảkích, phê phán công danh phú quý thì một số bài còn lại tác giả lại viết về “R-ợu” nhng đó là chén rợu uống trong các cuộc sum vầy bè bạn, chia tay với ngờitri kỷ và có lúc nhớ bạn mà uống để tự làm khuây khoả nỗi lòng Để tự giúpmình vợt qua sự bế tắc, không lối thoát, những lúc buồn Lí Bạch cũng uống rợungâm thơ cho lòng nhẹ vơi bao nỗi sầu

Những lúc nh vậy, chúng ta thấy rõ hơn về Lí Bạch - một con ngời trongsáng, giản dị Rợu với ông bây giờ không phải chỉ là để giải khuây mà còn là đểbầu bạn, để gợi lên cảm hứng ở “thi tiên”

Rợu say múa bút thơ thành Rung non chuyển bể ngông nghênh chợt cời”

(Giang thợng ngâm)Những lúc cô đơn, Lí Bạch tìm đến rợu thay cho ngời bạn của mình, quarợu để tâm sự với những cảnh vật đối diện:

Giang thôn thu vu yết Tửu tận nhất phàm phi”

Nghĩa là:

Xóm bên sông cơn ma thu vừa tạnh

Trang 22

Cạn chén rồi một lá buồn nh bay”

(Tống khách quy Ngô)

Nh vậy, viết về “Rợu”, Lí Bạch không chỉ uống để cho quên đi những bấtcông trong cuộc đời, uống rợu không phải để cho say mà qua rợu để nói lên chíhớng của mình Ông dờng nh có lúc rất tỉnh táo để nhận ra đợc sai lầm củamình khi chìm đắm vào cơn say triền miên mà quên đi trách nhiệm và bổn phậncủa mình Tỉnh để thấy đợc hiện thực cuộc đời không nh là mơ, không đợc nhkhát vọng, để rồi lại thấy chán nản hơn, cô đơn hơn, rồi lại đắm mình vào rợu,vào những cơn say tởng không bao giờ dứt

Qua những bài thơ viết về rợu, chúng ta thấy có một sự giằng xé đớn đau,mãnh liệt đang diễn ra trong con ngời, trong tâm hồn nhà thơ có tài, có tâm màkhông có đất dụng võ

Vì vậy, ông vừa muốn tỉnh, để nhận lấy trách nhiệm của mình, nhng ônglại cũng muốn đắm chìm vào những cơn say bất tận, chỉ có vậy Lí Bạch mới cóthể sống, mới có thể vơi bớt nỗi cô đơn của mình

Trang 23

Hình thức nghệ thuật của tác phẩm, theo “Từ điển thuật ngữ văn học” (LêBá Hán, chủ biên) là: “Hiện tợng độc đáo ứng với nội dung độc đáo” Nó hoàntoàn không phải là con số cộng đơn giản của các thủ pháp và phơng tiện nghệthuật Trong tính chỉnh thể, hình thức nghệ thuật nghĩa là hình thức cảm nhận

đời sống, là cách bộc lộ nội dung của tác phẩm

Do đó, việc tìm hiểu phơng diện nghệ thuật trong tác phẩm văn học là cơ

sở quan trọng để hiểu đúng nội dung tác phẩm ấy

Trong đề tài “Những bài thơ tiêu biểu về Rợu của Lí Bạch” chúng tôi tậptrung tìm hiểu, phơng diện nghệ thuật những bài thơ về rợu của Lí Bạch ở cácyếu tố sau:

2.1 Thể thơ

Xa nay, ngời Trung Quốc luôn tự hào: Trung Quốc là đất nớc của thi ca(thi ca nhi chi bang) Quả vậy, chỉ riêng thơ Đờng đã là một minh chứng đầysức thuyết phục Thơ Đờng chính là đỉnh cao viên mãn của thơ ca cổ điển TrungHoa và cũng là một thành tựu kiệt xuất của thi ca nhân loại Nó có ảnh hởng sâurộng đến nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, quan điểm thẩm mỹ trong vănhọc Trung Quốc qua các triều đại kể từ thời Lục triều cho đến Tuỳ Đờng có sựthay đổi rất quan trọng

Trang 24

Mặc dù Tào Phi ở phần Luận văn trong sách Điển Luận đã đề xuất “Vănlấy khí làm chủ”, còn Chung Vanh trong sách Thi Phẩm cũng đề xớng “Tựnhiên anh chỉ”, nhng do điều kiện riêng biệt của lịch sử, sở thích về mặt nghệthuật trong đời Lục Triều cũng vẫn nghiêng về điển nhã và văn vẻ Đến thơ cathời Thịnh Đờng, thì chuyển sang lấy hứng thú và thiên tài của chủ thể cũng nhbiểu hiện tự nhiên làm mục đích

Qua đó mà lý tởng thẩm mỹ của ngời đời trớc mới thật sự thể hiện mộtcách đầy đủ và Lí Bạch là ngời đại biểu cho sự tập trung này

Vơng Thế Trinh đời nhà Minh trong sách “Nghệ Uyển Chi Ngôn” đãdùng hai câu:

Lấy khí làm chủ Lấy tự nhiên làm nòng cốt”

để khái quát cho diện mạo chung của thi ca Lí Bạch

Đặc điểm này thể hiện trong hình tợng nghệ thuật, phơng thức trữ tình vàngôn ngữ của thơ ca Lí Bạch Đặc biệt, việc thờng sử dụng các thể thơ một cáchsáng tạo đã góp phần làm thành phong cách lãng mạn trong thơ Lí Bạch

Trong sáng tác của mình, thi nhân ít sử dụng thơ Đờng luật, mà thờngchọn Cổ thể làm chính để có thể tự do diễn đạt cảm xúc của mình Thơ Cổphong hay còn gọi là thơ Cổ thể, là lối thơ ra đời và hoàn thiện từ những triều

đại trớc Đến thời Đờng, thể thơ này đã đạt đến tột đỉnh vinh quang, nhất làThịnh Đờng với sự xuất hiện của “Thi tiên” Lí Bạch, “Thi thánh” Đỗ Phủ, và

“Thi phật” Vơng Duy Trong tổng số thơ về rợu của Lí Bạch có 72 bài đợc viếttheo lối thơ Cổ phong, chiếm 37% - sự thống kê này, tự nó đã thể hiện sự u áicủa Lý Bạch cho thể thơ này

Đây là loại thơ tự do với đặc điểm u trội là không bị gò bó bởi câu, chữ,niêm, vần, luật và rất có u thế trong phản ánh hiện thực cuộc sống bằng cách đisâu miêu tả mọi ngõ ngách tâm hồn một cách cụ thể, sinh động

Có thể lấy bài thơ “Thục đạo nan” làm một minh chứng:

Trang 25

ở bài này, Lí Bạch đã dùng rất nhiều câu có số chữ dài, ngắn khác nhau,

và ngay những câu đầu tiên, thi nhân đã dùng một hình thức độc đáo để biểu đạt

sự trầm trồ, ngạc nhiên, thán phục của mình:

Ôi! Chao! Hỡi ôi! Nguy hiểm sao! Cao thay!

Đờng Thục khó đi, khó hơn lên trời xanh?”

Tiếp theo, nhà thơ sử dụng câu thơ năm chữ, rồi lại sử dụng câu thơ bảychữ và có những câu chỉ ngắn ba, bốn chữ:

Sở thủ hoặc phỉ thân Hoá vi lang dữ sài Triêu tị mãnh hổ Trịch tị trờng xà …”

Và thỉnh thoảng lại có một câu dài đến mời mấy chữ:

Kỳ hiểm giả nh thử, giai nhi viễn đạo chi nhân hồ vi phù lai tai! Kiếm các tranh vanh nhi thôi ngôi, nhất phu đơng quan, vạn phu mạc thai Sở thủ hoặc phỉ thân, hoá vi lang dữ sài

(Sự nguy hiểm của nó cũng thế, ấy vậy mà ngời từ xa lại đến đây để làmgì? Kiếm các thuật cao lại thật nguy hiểm, chỉ cần một ngời phòng thủ ở đây thìcho dù một nghìn ngời cũng không thể vợt qua đợc Nếu những ngời phòng thủ

mà trở mặt làm phản, thì sẽ đáng sợ nh loài lang sói)

Với hình thức co giãn nh thế, cảm xúc sôi nổi của thi nhân đã dần dần

đến cao trào, cứ đợt sóng tình cảm này cha lắng thì một đợt sóng khác đã nổilên, và trong sự xao động đó, những suối nguồn cảm xúc, biến ảo vô thờng đợcbộc lộ Nó không phải là nhịp điệu của cuộc sống thực mà chính là những đợtsóng của tình cảm

ở bài “Tuyên Châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt Hiệu Th Thúc Vân” tác giả viết:

Khí ngữ khứ giả, tạc nhật chi, nhật bất khả lu Loạn ngã tâm giả, kim nhật chi nhật đa phiền u Trờng phong vạn lý tống thu nhạn

Đối thử khả dĩ hàm cao lâu

Trang 26

Bồng lai văn chơng Kiến An cốt Trung gian Tiểu Tạ hựu thanh phát, Câu hoài dật hứng tráng t phi, Dục thợng thanh thiên lãm minh nguyệt.

Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lu, Tửu bôi tiêu sầu sầu cánh sầu Nhân sinh tại thế bất xứng ý Minh triêu tán phát lộng biển châu”

Bài thơ có tất cả 12 câu thơ đã diễn đạt đợc nhiều cung bậc tình cảm củanhà thơ Hai câu đầu thi nhân đã miêu tả cảnh buồn rầu, nhng từ câu thứ ba trở

đi tứ thơ bỗng thay đổi hẳn Nhà thơ tự phấn chấn tinh thần, tình cảm do vậycũng vơn lên bay bổng trên trời xanh để ôm lấy Mặt trăng Hai câu thơ:

Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lu, Tửu bôi tiêu sầu sầu cánh sầu”

tình cảm của Lí Bạch từ trên cao rơi xuống trần gian, nỗi buồn ập tới:

Trên dòng sông nớc vô tình

Trang 27

Tiêu sầu mợn rợu mênh mông càng sầu”

Chúng ta thấy, nỗi buồn trong lòng thi nhân lúc này thật là liên miênkhông dứt Trong trạng thái khi bay bổng lên cao, khi rơi trở xuống thấp đó, nhàthơ đã bộc lộ nỗi đau khổ sâu sắc trong tâm hồn mình, đồng thời cũng thể hiệntính cách phóng khoáng, xem thờng sự buồn lo của bản thân Tìm đến rợumuốn để tiêu sầu, vậy mà dờng nh thi nhân càng uống càng tỉnh, càng uốngcàng thấy nỗi sầu thêm lênh láng, dai dẳng và da diết hơn

Nhng Lí Bạch không bằng lòng để nỗi sầu đau đó nuốt chửng lấy mình

mà đã cố gắng thoát ra để bay vào không gian tự do:

Sống mà nếm những lo âu Con thuyền mai sớm dơng mau cánh buồm”

Qua những câu thơ trên, ta thấy Lí Bạch đã cố gắng thoát ra khỏi guồngquay của cuộc đời, thoát ra những ham muốn công danh, phú quý… để bay vàokhông gian tự do của chính mình Tuy nhiên, chính trong trạng thái bảy bổnglên cao, khi rơi trở xuống thấp đó, thi nhân đã bộc lộ nỗi đau khổ sâu sắc trongtâm hồn mình, đồng thời cũng thể hiện tính cách phóng khoáng, xem thờng sựbuồn lo…

Thơ ca Nhạc Phủ, đợc khởi nguồn từ đời Hán, sau việc Hán Vũ Đế chothành lập Nhạc Phủ và cử Lý Diên Niên làm Hiệp Luật Đô Uý ở các triều đạitrớc, nó tồn tại song song với thơ cổ phong trong t cách là một thể loại độc lập,bởi những đặc trng riêng, gắn bó chặt chẽ với âm nhạc, mang đậm tính chất củathơ ca dân gian Sang đời Đờng, cùng với việc cá nhân hoá sáng tác, các cánhân từ chỗ sáng tạo ca từ cho mục đích phổ nhạc, dần dần quên hẳn mục đíchnày mà chú ý dùng nó để làm phơng tiện bày tỏ tình cảm, t tởng và phản ánhhiện thực vẫn dùng các đề mục cũ

Nh vậy, chúng ta có thể xem Nhạc Phủ là một bộ phận của thơ Cổ Phong

đời Đờng Có thể nói, đây là hai thể thơ có giá trị và đợc Lí Bạch sử dụng nhiều,góp phần đa thơ Đờng lên tuyệt đỉnh vinh quang

Trang 28

So với thơ Luật, thơ Cổ Phong phóng túng hơn, ít bị trói buộc trong niêmluật, câu chữ Chính vì vậy mà tính hàm súc, cô đọng, những khe khắt về đốingẫu, luật thơ, âm nhạc, không tập trung nh thơ Luật.Vả lại thể thơ Cổ Phongvốn đã có từ thời Hán, Tuỳ,… cho nên về sau lối thơ Luật thịnh hành hơn cả.

2.2 phơng thức trữ tình

“Trữ tình”: là một trong ba phơng thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự

và kịch) làm cơ sở cho một loại tác phẩm văn học Nếu nh tự sự là sự thể hiệntình cảm, t tởng của tác giả bằng con đờng tái hiện một cách khách quan cáchiện tợng đời sống, thì theo các nhà lý luận văn học: “Trữ tình là một phơngthức thể hiện đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con ngời” (Từ điểnthuật ngữ văn học) Nghĩa là, con ngời tự bộc lộ mình qua những ấn tợng, ýnghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh

Theo nghĩa chiết tự thì: “trữ” là rút ra; “tình” là tình cảm, cảm xúc Nhvậy, theo nguyên nghĩa của nó thì thuật ngữ “trữ tình” là một biểu hiện, hành

động, một động tác, một cách thức mà dới góc độ văn học nghệ thuật ngời ta ờng gọi là bút pháp

th-Bút pháp trữ tình: là một lối thể hiện cuộc sống, đặc biệt là cuộc sốngthông qua sự bộc lộ tình cảm, cảm xúc của chủ thể sáng tạo

Thơ Lí Bạch đợc sáng tác theo khuynh hớng lãng mạn Lãng mạn trong

từ nguyên có nghĩa là phóng túng, không bó buộc Nói đến khuynh hớng lãngmạn trong thơ Lí Bạch, là nói đến sự bộc lộ tình cảm một cách phóng túng,không chịu giam hãm, trói buộc, không gò tình cảm mà mặc sức để cho tìnhcảm tuôn trào Lí Bạch thờng đạt đến đỉnh cao của sự bộc lộ tình cảm - yêumãnh liệt, ngợi ca hết lời, ghét sâu sắc, căm giận cực độ

Nếu nh ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong

đó các nhân vật có đờng đi và số phận riêng ở tác phẩm kịch bằng những đốithoại, độc thoại, tác giả phản ánh hiện thực cuộc sống bằng việc thể hiện tính

Trang 29

cách, hành động của con ngời qua những mâu thuẫn,xung đột Còn ở tác phẩmtrữ tình, thế giới chủ quan của con ngời, cảm xúc tâm trạng, ý nghĩ đợc trìnhbày một cách trực tiếp

Để bộc lộ cảm xúc có nhiều phơng thức, có thể qua cốt truyện hoặc nhânvật, mợn thiên nhiên để chuyển tải cảm xúc, cũng có khi tác giả bộc lộ mộtcách trực tiếp những suy nghĩ tâm trạng của mình…

Trong những bài thơ có liên quan đến “Rợu”, tâm trạng phức tạp, thế giớinội tâm đầy mâu thuẫn đợc thể hiện khá rõ

Bùi Thanh Ba nhận xét: “Lí Bạch là ng ời tung bút vào thiên nhiên và vào cuộc sống để mở rộng dòng thơ ấy ra khơi, nh nớc sông Hoàng Hà từ trời tuôn xuống, chảy nhanh ra bể chẳng quay về” (Tơng tiến tửu) (Tạp chí

Nghiên cứu Văn học, số 5/1964)

Nếu thơ Đỗ Phủ mang phong cách “trầm uất”,thiên nhiên và con ngời

đều mang dáng dấp đau thơng, u sầu, tàn tạ Nhng sự đau thơng, u sầu ấy đợchiểu hiện sâu lắng, trầm t, thì thơ Lí Bạch lại hoàn toàn khác Với tâm hồnphóng khoáng, với tình cảm dạt dào, Lí Bạch đã đem lại cho thơ ca đời Đờngnhiều sắc thái kỳ diệu mà ngay cả các nhà thơ lãng mạn cùng thời đại với ôngcũng không thể có đợc

Nhận xét về Lí Bạch, nhà phê bình Phơng Đông Thụ đời Thanh có viết:

Sức t

ởng tợng cao siêu, khoáng đạt, bút sa thì chân trời mở rộng, chơng pháp nối nhau, biến hoá vô đoan, nh liệt tử cỡi gió bay đi, không thể lấy tâm địa bình thờng mà đo lờng đợc ” (Chiêu muội chiêm ngôn)

Thiên nhiên trong thơ ông rất đẹp đẽ, hùng vĩ, có: Núi sông, khe, hangtrời, động biển… Trăng trong thơ Lí Bạch huyền ảo vô cùng, trăng trên núi,trăng trên sông, trăng với lữ khách, trăng ở quán trọ và trăng trong cả lúc cô đơnnhất Nhng “Rợu” trong thơ Lí Bạch mới thật là vô địch Khó ai có thể làm thơ

về rợu hay hơn ông Có những bài viết đề tài khác nhng Lí Bạch vẫn thờng nhắc

đến rợu và ở bài nào cũng trĩu nặng tâm t, ngổn ngang day dứt nỗi niềm riêng t,

đầy rẫy giằng co, mâu thuẫn

Trang 30

Là một ngời có tính hào phóng, không chịu sự ràng buộc, đè nén của bất

kỳ thế lực nào, lại sống vào thời đại phồn thịnh của đế quốc đời Đờng và thấmnhuần t tởng tự do thoát tục của Đạo giáo, cho nên thơ ca của ông có nội dungphong phú, có khí phách hiên ngang và sức tởng tợng mãnh liệt Lấy rợu làm đềtài cho sáng tác của mình Lí Bạch rất tự do phóng túng, trong việc bộc bạch tâm

t tình cảm, chính vì vậy, trong thơ Lí Bạch “Rợu” đã thực sự trở thành đối tợngthẩm mỹ.Và trong số những bài thơ viết về “Rợu” đó đã có không ít kiệt táclàm say mê bao thế hệ bạn đọc xa nay

Đọc thơ Lí Bạch, chúng ta có cảm giác nh đang sống giữa một bầu trờixán lạn đầy hoa thơm, cỏ lạ, rừng rậm, núi cao, sông dài, biển rộng, có cả tiếngchim kêu, vợn hú, suối reo, thác đổ với hình dáng con ngời xinh tơi lộng lẫy,hoặc là cô gái hái sen, dới bóng chiều tà, hoặc là nàng tiểu th uốn rèm cờinụ…” Nhng có lẽ, ít ai trong mỗi chúng ta sau khi đọc thơ Lí Bạch mà lạikhông nhớ tới tiếng lòng thổn thức, tiếng thở dài hay nỗi buồn khi thiếu bạn tri

kỷ mà nhà thơ đã gửi gắm qua đề tài “Rợu”

Trong thế giới thiên nhiên tơi đẹp, Lí Bạch là nhân vật trung tâm đợc thểhiện qua nhiều hình tợng, khi là chim đại bàng (tợng trng cho ý chí của ông) lớtgió tung mây, mỗi ngày bay đi chín vạn dặm, khi là hiệp sĩ thích thú giang hồ,hay là nhà thơ thanh cao nhàn tản, chuốc chén mời trăng…

Nhng có lẽ tính lãng mạn trong thơ Lí Bạch đợc thể hiện rõ rệt nhất ở haikhía cạnh “say rợu” và “cầu tiên học đạo”, đặc sắc nhất vẫn là những bài thơviết về “Rợu” tiêu biểu nh: “Tơng tiến tửu”, “Nguyệt hạ độc chớc”, “Bả tửu vấnnguyệt”…

“Tơng tiến tửu” là một bài thơ đợc làm theo thể Nhạc Phủ Nh đã nói ởtrên, thể Nhạc Phủ là thể thơ có từ đời Hán, qua đó để bày tỏ t tởng, tình cảm vàphản ánh hiện thực Lí Bạch đã rất ẩn ý khi dùng thể thơ này, mợn đề tài cũ đểnói lên tâm sự của chính mình

Trang 31

Nội dung t tởng của bài thơ khá phức tạp Nó không chỉ là một triết lý về

đời ngời một cách khô cứng, qua đó ta còn thấy đợc những tâm sự Lí Bạch đãgửi gắm một cách kín đáo tới bạn đọc

Mở đầu bài thơ là cảm nhận của chủ thể trữ tình về sự ngắn ngủi, hữuhạn của cuộc đời con ngời Vấn đề mang tính chất triết lý ấy đợc phát biểu bằngnhững hình ảnh cụ thể, đợc cảm thụ trực tiếp:

Há chẳng thấy Nớc sông Hoàng Hà từ trời tuôn xuống Chảy nhanh ra biển chẳng quay về Lại chẳng thấy,

Thềm cao gơng soi rầu tóc bạc Sớm nh tơ xanh chiều tựa tuyết……

Đây là một ý thơ hết sức phong khoáng khi cần diễn tả tối đa cảm xúccủa mình Nói về luật biến hoá của thiên nhiên, Hêraclit cũng đã từng nói:

ý thức về sự hữu hạn của cuộc đời con ngời nên ông khuyên con ngờihãy biết hởng thụ thú vui của cuộc sống:

Đời ngời đắc ý hãy vui tràn Chớ để bình vàng trơ bóng nguyệt”

Trang 32

Hai câu thơ trên chứng tỏ sự tích cực hởng lạc của Lí Bạch âu cũng làcách thức tự bày tỏ, thổ lộ cái tôi của mình ở nhà thơ Ông uống rợu không phải

để say tuý luý, mà ông vẫn tự thấy đợc ý nghiã, vai trò của mình đối với cuộcsống, và trong con ngời Lí Bạch một niềm tin vẫn soi sáng, dẫn đờng :

Trời sinh thân ta hẳn có dùng Nghìn vàng tiêu hết rồi lại đến”

Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, ai chẳng co s lúc cảm thấy lòng mìnhcô đơn, trống vắng Chỉ có điều mỗi ngời tự giải thoát nỗi cô đơn cho mìnhbằng những cách thức và phơng pháp khác nhau

Lí Bạch - chủ yếu sống dới thời Thịnh Đờng - thời đại thịnh vợng về mặtkinh tế, thống nhất lãnh thổ và ổn định chính trị, đời sống văn hoá vô cùng ổn

định Thế nhng, bên trong cái vỏ phồn vinh của nhà Đờng vẫn chứa đựng baonhiêu điều xấu xa, đau thơng và oan trái Trên thì vua chúa hoang dâm vô đạo,dới là quan tham tàn, ức hiếp dân lành, gây nên bao nỗi đau đớn xót xa chonhân dân Và Lí Bạch đã bộc lộ thái độ bất mãn của mình trớc sự phi lý trongthái độ đối xử với nhân tài của giai cấp thống trị :

“Lấy châu ngọc mua tiếng cời điệu hát Dùng tấm cám nuôi dỡng hiền tài”

Là một ngời có ớc mơ, khát vọng, lí tởng cao đẹp, nhng hiện thực cuộcsống lại thật đen tối và bi thảm, vì vậy, lí tởng trong ông sụp đổ Vỡ mộng, nên

ông chán ghét thế giới trần tục, lấy rợu làm vui, coi cảnh say nh một thế giới lítởng:

Này cỗ ngọc, nhạc rung chẳng chuộng Muốn say hoài chẳng muốn tỉnh chi Thánh hiền tên tuổi bặt đi

Chỉ phờng thánh rợu tiếng ghi muôn đời”

Các câu thơ toát ra một giọng điệu u buồn, bất mãn với cuộc đời, qua đó

ta thấy nhà thơ tỏ ý khinh miệt, xem thờng công danh, phú quý.Và cũng từ đó,chén rợu đã trở thành tri kỷ của thi nhân để luận về sự thế, để đối ẩm những lúc

Trang 33

cô đơn Cũng qua rợu, Lí Bạch bộc lộ đợc t tởng, tình cảm, giãi bày tâm sự củanhà thơ: Nỗi buồn khi không tìm đợc tri âm, tri kỷ, nỗi đau đời vì có tài màkhông đợc trọng dụng, thái độ bất bình đối với hiện thực xã hội đơng thời.Điểnhình cho thơ về tâm trạng của Lí Bạch là bài “Nguyệt hạ độc chớc”:

Giữa hoa một bầu rợu

Lẽ rót không ngời thân Cất chén mời trăng ngân

Ba ngời : Tăng, Ta, Bóng Trăng đã không biết uống Bóng lại quẩn bên chân Tạm cùng trăng với bóng vui cho trọn ngày xuân

Ta hát trăng bâng khuâng

Ta múa bóng loạng choạng Lúc tĩnh cùng nhau vui Say rồi buồn phân tán Gắn bó bạn vô tình Hẹn nhau nơi Vân Hán”

Còn nỗi buồn nào bằng nỗi buồn thiếu bạn tri âm.Thi nhân xa thờnguống rợu thởng nguyệt cùng tri âm , tri kỷ Vậy mà, Lí Bạch một mình một bầurợu không kẻ tri âm Cô đơn dới trăng lạnh lẽo lại càng thấm cô đơn, buồn bã

Và rồi Lí Bạch đã coi trăng nh một ngời bạn, cùng vui chơi nhảy múa…Từ đó

mà diễn tả một nhu cầu cần bạn, cần ngời tri kỷ Bài thơ không hề nói đến nỗibuồn phiền, mà chỉ nói đến trăng, mình và bóng, cùng một bầu rợu Tất cả đềuvui nh bạn thân nhng rút cục chỉ một mình trơ trọi

Toàn bài thơ là một điệu múa Bóng với ngời nhảy theo một nhịp, vầngtrăng cũng bâng khuâng Cái không khí náo động ấy phảng phất một nỗi buồnthầm kín, u uất, nỗi buồn của một con ngời yêu đời mà chẳng đợc đời yêu

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Trơng Chính, Nguyễn Khắc Phi, Lịch sử Văn học Trung Quốc, Nxb Giáo dôc, tËp II, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Văn học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Giáodôc
[2]. Đờng Thi Tam Bách Thủ, Hành Đờng thoái sĩ tuyển chọn, Trần Anh bổ chú, Ngô Văn Phú dịch, Nxb Hội nhà văn, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đờng Thi Tam Bách Thủ
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
[3]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) Từ điển thuật ngữVăn học, Nxb Đại học quốc gia, H, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ"Văn học
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
[4]. Nguyễn Thị Bích Hải: Thi pháp thơ Đờng, Nxb Thuận Hoá, H, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đờng
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
[5]. Đỗ Đức Hiểu ... (chủ biên): Từ điển Văn học, Nxb Khoa học xã hội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[6]. Thơ Đờng - Nam Trân tuyển thơ, Hoa Bằng, Tảo Trang - Hoàng Tạo dịch nghĩa và chú thích (2 tập), Nxb Văn hoá, Viện Văn học, 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Đờng
Nhà XB: Nxb Văn hoá
[7]. Trúc Khê - Lí Bạch - Nxb Văn học Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí Bạch
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
[8]. Nguyễn Khắc Phi - Trờng Chính Văn học Trung Quốc (2 tập), Nxb Giáo dôc 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Giáodôc 1987
[9]. Ngô Văn Phú: Thơ Đờng ở Việt Nam , Nxb Hội nhà văn Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Đờng ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn Hà Nội
[10]. Ngô Văn Phú (su tầm, biên soạn và dịch thơ): Thơ Lí Bạch, Nxb Laođộng, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Lí Bạch
Nhà XB: Nxb Laođộng
[11]. Thơ Đờng - Khơng Hữu Dụng (dịch) , Nxb Đà Nẵng, 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Đờng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
[12]. Trần Đình Sử: Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thế giới nghệ thuật thơ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[13]. Luận văn: Điển cố trong thơ Lí Bạch và trong thơ Đỗ Phủ, (Trần Đình H- ng), Thạc sỹ: Phan Thị Nga hớng dẫn, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố trong thơ Lí Bạch và trong thơ Đỗ Phủ
[14]. Luận văn: Thiên nhiên trong thơ Lí Bạch, (Nguyễn Thị Minh Nguyệt), Thạc sỹ: Phan Thị Nga hớng dẫn, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên nhiên trong thơ Lí Bạch
[15]. Luận văn: Một số đặc trng nghệ thuật thơ cổ phong đời Đờng (Mai Đức Hán), Thạc sỹ: Phan Thị Nga hớng dẫn, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc trng nghệ thuật thơ cổ phong đời Đờng
[16]. Tạp chí: Lí Bạch - Nhà thơ lãng mạn thiên tài” (Bùi Thanh Ba, tạp chí nghiên cứu Văn học - số 5 - 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí Bạch - Nhà thơ lãng mạn thiên tài

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w