1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện

92 869 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện
Tác giả Nguyễn Thị Kim Tuyến
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Công Thành
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khuyến nông & PTNT
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghề nghiệp củanhững người dân có đất bị thu hồi chủ yếu là những nghề đòi hỏi chuyên môn thấpnhư: nông nghiệp, lao động xây dựng, công nhân tự do…Trong số những người cóviệc làm, số ngư

Trang 1

đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục

đích

sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời

sống sinh kế của dân c cấp huyện

(Trờng hợp nghiên cứu tại xã nghi xá - nghi lộc - nghệ an)

khoá luận tốt nghiệp

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Nông - Lâm - Ngư,trường Đại học Vinh cùng các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp

đỡ tôi trong thời gian học tập

Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo huyện Nghi Lộc, PhòngNN&PTNT, Phòng Thống kê và chính quyền xã Nghi Xã cùng các chú, cácbác xóm trưởng 3 xóm 8, 9 ,11 - Nghi Xá đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoànthành đề tài nghiên cứu này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ động viên của tất cả bạn bè, gia đình

và người thân đã là điểm tựa về tinh thần cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

Vinh, ngày 03/05/2009

Tác giả

Nguyễn Thị Kim Tuyến

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong thời gian gần đây, quá trình phát triển các khu công nghiệp (KCN) ởnước ta đã có những tác động tích cực đối với nền kinh tế nói chung và côngcuộc Công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) nói riêng Vai trò quan trọngcủa các KCN trong quá trình CNH - HĐH đã được thể hiện qua tốc độ tăngtrưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đời sống xã hội được nâng cao…Tuynhiên, cùng với những tác động tích cực không thể phủ nhận do các KCN manglại thì việc xây dựng KCN ở nước ta nói chung và tại các địa phương nói riêng đãgây ra những ảnh hưởng lớn đến đời sống, kinh tế - xã hội, môi trường… Điềuđáng quan tâm ở đây là diện tích đất dành cho xây dựng các KCN phần lớn đượclấy ra từ diện tích đất nông nghiệp Mà phần diện tích đất được thu hồi đó cũngđồng nghĩa với việc người dân bị mất đất sản xuất Việc thu hồi đất sản xuất diễn

ra như vậy, rồi sau đó những hộ nông dân này sẽ phải làm gì khi không còn đấtcanh tác, sản xuất và khi không có đất sản xuất những lao động thuộc hộ nôngdân có đất bị thu hồi đất nói riêng sẽ phải làm gì để có việc làm và thu nhập, họlấy gì để duy trì cuộc sống? Đây là một trong những vấn đề bức xúc cho rất nhiềuđịa phương khi xây dựng KCN

Một khảo sát mới đây của Bộ cho thấy, những hệ luỵ về quy hoạch bất cập,trung bình mỗi hộ nơi thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không cóviệc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làmtrong nông nghiệp Đất thu hồi để xây dựng các KCN chủ yếu là đất nôngnghiệp, như vậy có gần 50.000 ha đất đã bị thu hồi, có khoảng 680.000 lao độngnông nghiệp bị mất việc làm [5]

Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội, từ năm 2001

-2005, Hà Nội có gần 80.000 người (bình quân 2 lao động/hộ) bị mất việc làm; HàNam 12.360 người; Hải Phòng 13.274 người; Hải Dương 11.967 người; BắcNinh 2.222 người;… [4] Điều đáng nói ở đây là những lao động có đất bị thu hồi

đa phần là những người không được đào tạo

Trang 4

Theo kết quả điều tra của trường Đại Học Kinh tế Quốc dân tại 8 tỉnh vềnhững người bị thu hồi đất thì số người không có trình độ chuyên môn là 73,75%;

số người có trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp chỉ có 17,01%, số người đượchọc nghề (công nhân kĩ thuật) là 3,96%, trình độ khác là 5,28% Nghề nghiệp củanhững người dân có đất bị thu hồi chủ yếu là những nghề đòi hỏi chuyên môn thấpnhư: nông nghiệp, lao động xây dựng, công nhân tự do…Trong số những người cóviệc làm, số người có việc làm gắn với quá trình công nghiệp hóa tăng rất ít (côngnghiệp chỉ tăng 2,79%, trong khi làm thuê và xe ôm tăng 3,64%, buôn bán nhỏtăng 2,72%) Đây là vấn đề cần phải suy nghĩ [2]

Từ tình hình trên có thể thấy có nhiều KCN mới ra đời, song việc chuyển dịch

cơ cấu lao động diễn ra không phù hợp với xu thế phát triển chung, tỷ lệ lao độngnông nghiệp vẫn còn lớn, tỷ lệ các nghề không cơ bản ít đào tạo vẫn còn cao…Nói cách khác là nguồn lực đất đai đã chuyển theo hướng CNH - HĐH, songnguồn lực lao động thì chưa theo kịp xu hướng đó Thu nhập của người bị thu hồiđất tăng do có tiền bồi thường nhưng đó là sự biến động tăng không bền vững Ởmột số địa phương việc sử dụng tiền bồi thường không đúng mục đích đang ẩnchứa những yếu tố bất ổn trong thu nhập và đời sống của họ

Theo dự báo của Bộ NN & PTNT đến năm 2010 bình quân đất nông nghiệptrên một nhân khẩu chỉ còn 0,108ha (so với 10 năm trước giảm 0,005ha) trongkhi đó mức bình quân đất nông nghiệp trên thế giới hiện nay là 0,23ha/ người.Trong giai đoạn 2001-2005, tổng diện tích bị thu hồi cả nước lên trên 366 nghìn(chiếm 3,9% quỹ đất nông nghiệp) ở Việt Nam mặc dù diện tích đất nông nghiệpbình quân theo đầu người thấp nhất thế giới song hằng năm có nhiều nghìn ha đấtnông nghiệp được chuyển sang các mục đích sử dụng phi nông nghiệp Bởi vậy

đã có hàng ngàn nông dân mất đất và trong tương lai gần sẽ có thêm hàng ngàn

hộ nông dân phải đối diện với nguy cơ mất đất Đối với các hộ nông dân nhất làcác hộ thuần nông (không nghề phụ) đất được coi là tài sản sinh kế duy nhất vàquan trọng nhất

Trang 5

Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh làm ảnh hưởng không nhỏ đến tìnhhình kinh tế, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại các địa phương NghiLộc là một huyện thuần nông của tỉnh Nghệ An, là huyện phụ cận thành phốVinh và Thị xã Cửa Lò có tốc độ ĐTH nhanh, hằng năm trên địa bàn có có từ 5-

10 dự án lớn nhỏ đến đầu tư xây dựng Những dự án này bao gồm: chợ hải sảnNghi Hương; Khu công nghiệp Nghi Phú, Hưng Đông, Bắc Vinh và con đườngBắc - Nguyễn Sỹ Sách Trong đó không thể không kể đến KCN - Nam Cấm,KCN lớn nhất của tỉnh có diện tích 100 ha lấy từ 10 của 11 thôn ở xã Nghi Xáhuyện Nghi Lộc Nghi Xá là xã bị lấy diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhiềunhất và cũng là một trong những xã gặp khó khăn trong việc tạo công ăn việc làmcho nông dân sau khi hoàn thành các dự án xây dựng của tỉnh Tại đây nông dânđược đền bù một khoản tiền khá lớn Họ đã làm gì với số tiền đó? cuộc sống của

họ như thế nào sau khi bị thu hồi đất? Với dân trí có hạn lại quen với lao độngchân tay nay với lượng tiền đền bù lớn người dân sử dụng như thế nào cho cuộcsống mới? Xoay sở hoạt động sản xuất kinh doanh trên nguồn đất ít ỏi còn lại rasao? Cuộc sống đích thực của họ có thực sự tốt lên như báo chí vẫn nói, vẫn đưatin Vấn đề đặt ra đối với các cấp chính quyền sẽ phải làm gì để giải quyết việclàm cho lao động sau khi thu hồi đất sản xuất của những hộ nông dân để dành đấtxây dựng các KCN Để tìm hiểu làm rõ vấn đề này tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: " Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện" (Trường hợp nghiên

cứu tại xã Nghi Xá, huyện Nghi Lộc, Nghệ An)

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu những tác động của việc xây dựng KCN ảnh hưởng đến sảnxuất và đời sống của hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất trên địa bàn xã Nghi Xã,huyện Nghi Lộc

Trang 6

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu thực trạng chuyển đổi đất canh tác sang xây dựng các KCN tại

xã Nghi Xã

Nghiên cứu tác động của việc thu hồi đất sản xuất đến đời sống kinh tế

-xã hội của hộ nông dân trên địa bàn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hộ nông dân bị mất đất sản xuất trên địa bàn xã

- Nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội do mất đất của các hộ nông dân

+ Đánh giá tác động của việc thu hồi đất sản xuất của các hộ nông dân đếnviệc làm, thu nhập…

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Cung cấp các cơ sở lí luận về CNH - HĐH và những vấn đề liên quan

- Phản ánh thực trạng và tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đấtsang xây dựng KCN đến đời sống và sản xuất của hộ nông dân bị thu hồi đất tại

xã Nghi Xá, Nghi Lộc

- Từ những kết quả nghiên cứu góp phần để các cấp chính quyền đưa ranhững giả pháp nhằm nâng cao thu nhập, ổn định cuốc sống cho người dân trongdiện thu hồi đất

Trang 7

Chương 1: TỔNG QUAN

1.1 Cơ sở lí luận

Từ ngàn đời nay, mối quan hệ giữa con người và đất nông nghiệp là mốiquan hệ đa chiều, vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất xã hội Có thểnói, đất nông nghiệp trung tâm của các mối quan hệ trong xã hội nông thôn, là sựliên kết cuộc sống của họ qua nhiều thế hệ Chuyển đổi mục đích sử dụng đấtnông nghiệp là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, đòi hỏi có sự giải quyếtthấu tình, đạt lý của các cấp lãnh đạo…

Hiện nay, do yêu cầu CNH, ĐTH, Nhà nước cần lấy đi một phần đấtnông nghiệp để xây dựng các KCN, khu đô thị mới và xây dựng kết cấu hạ tầngphục vụ cho phát triển kinh tế chung của đất nước Đó là một yêu cần khách quan

và còn có xu hướng phát triển trong tương lai Tuy nhiên việc lấy đất nôngnghiệp để phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị mới đã làm xuất hiện việcnhiều hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất Kết quả nghiên cứu chothấy, trong thời gian 5 năm (1995-2000) đã có 400.000ha đất nông nghiệp đượcchuyển sang mục đích sử dụng khác, trong đó chuyển sang đất chuyên dùng là96.780ha, chiếm 24,19% tổng diện tích đất nông nghiệp thực giảm

Theo Hội nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng các KCN, khu đôthị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm cả nước có gần 200.000 ha đất nông nghiệp đượcchuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mấtviệc làm Năm 2001, thành phố Hà Nội thu hồi 733 ha cho 159 dự án; năm 2002lấy 1.003 ha cho 194 dự án; năm 2003 lấy 1.424 ha cho 260 dự án và năm vừaqua ước thu hồi 1.980 ha cho 280 dự án Cùng với số đất bị thu hồi, tình trạngnông dân không có việc làm trở nên bức xúc hơn bao giờ hết Bình quân mỗinăm có khoảng 13-15 nghìn lao động không có việc, phần lớn lại qua đào tạonghề [27]

Như vậy nếu tính bình quân một hộ nông dân có khoảng 0,6 ha đất nôngnghiệp (trong tổng số 7 triệu hec ta đất nông nghiệp của 11 triệu hộ nông dân trên

Trang 8

cả nước) thì sẽ làm giảm 96.000 ha đất nông nghiệp khi chuyển sang mục đíchxây dựng và đồng thời có khoảng 161.300 hộ nông dân không có đất nôngnghiệp để sản xuất Cho dù Nhà nước đã có chính sách đền bù cho các hộ bị lấyđất, song trong thực tế khung giá đất nông nghiệp đã được Nhà nước quy định rấtthấp, còn giá các loại đất chuyên dùng lại rất cao, việc thực hiện chính sách, đền

bù chưa được giải quyết mọt cách thoả đáng nên người dân chưa thực sự sẵnsàng trả lại đất, thậm chí còn phản đối, khiếu kiện hết sức phức tạp Thu hồi đất

và bồi thường đất là nguyên nhân của trên 70% số đơn kiện hiện nay Điều này

đã được nhiều ngươi nhắc tới mà nguyên nhân cốt lõi chính là ở cách tính giá trịđất thu hồi

Lấy đất nông nghiệp đã giao cho nông dân sử dụng lâu dài, ổn định đểchuyển thành đất xây dựng là một vấn đề hết sức nhạy cảm Mặc dù trên văn bản,các báo cáo cũng như trong thực tế đều khẳng định đất nông nghiệp là tư liệu sảnxuất không có gì có thể thay thế được trong sản xuất đất nông nghiệp, cần phảiđược cải tạo, bảo vệ và phát triển Trên thực tế chưa cần có một sự đầu tư gì, chỉcần chuyển đất nông nghiệp sang mục đích xây dựng thì giá trị đó tự nhiên đãtăng vọt Song cơ hội tiền tỷ này lại không thuộc về người nông dân có đất bị thuhồi mà thường rơi vào tay những kẻ cò mồi hay giới quan chức có liên quan.Điều băn khoăn của người dân không phải không có cơ sở Bởi khu vựcnông nghiệp mà họ đang sinh sống sẽ trở thành khu công nghiệp, từ nông thônthành khu đô thị mới, nếu như họ được tái định cư trong khu vực này thì với sốtiền được đề bù như giá đất nông nghiệp là quá thấp, làm thế nào để họ có thểsống được trong môi trưòng mới mà cái gì cũng phải dùng đến đồng tiền Mộtvấn đề khác cũng đáng được quan tâm là, khi lấy đất nông nghiệp, theo quyhoạch của Nhà nước sẽ làm đảo lộn ý định làm ăn lâu dài của các hộ nông dân

Để tạo dựng một nghề mới không phải một sớm, một chiều, nhất là đối với ngườilâu nay chỉ quen gắn bó vời nghề nông Nếu chuyển sang nghề mới thì hàng loạtvấn đề đặt ra, chẳng hạn: ai dạy nghề cho họ, vốn đầu tư cho nghề lới lấy từ tiền

Trang 9

đền bù đất có đủ hay không? Đó là những vẫn đề cần được xem xét, nghiên cứu

và giả quyết một cách thấu tình, đạt lý

Luật đất đai của Nhà nước CHXHCNVN 2003, quy định việc thu hồi đất để

sử dụng vào mục đích phát triển kinh tại điều 39 nói rõ "Nhà nước thực hiện việcthu hồi đất để phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu cônggnhiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy địnhcủa Chính phủ Đối với các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sửdụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền

sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộgia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất"

Trong luật cũng quy định về việc bồi thường, tái định cư cho người có đất

bị thu hồi:

1 Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất:

1.1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, sản xuất muối khiNhà nước thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp, đất làm muối được giao,được hỗ trợ 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và 12 tháng nếu phải dichuyển chỗ ở Mức hỗ trợ bằng tiền cho 1 nhân khẩu/1 tháng (theo sổ hộ khẩu)tương đương 30kg gạo tính theo giá trung bình tại địa phương

1.2 Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất, kinh doanh

có đăng kí kinh doanh mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh thì được hỗ trợ bằng30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 3 năm liền kềtrước đó Thu nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính được cơquan thuế chấp thuận; trường hợp chưa được cơ quan thuế chấp nhận thì việc xácđịnh thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị kê khai báocáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cuối mỗi năm đãgửi cơ quan thuế

1.3 Hộ sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp bị thu hồi đất phải ngừng sảnxuất, kinh doanh nhưng không đủ điều kiện để được hỗ trợ tính trên thu nhập

Trang 10

theo quy định thì được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất như các hộ gia đình,

cá nhân quy định tại điểm 1.1

2 Hỗ trợ tiền thuê nhà:

Hộ gia đình bị thu hồi đất ở, không còn chỗ ở khác, chấp hành đúng thờigian và tiến độ của hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng, trong thời gian chờtạo lập chỗ ở mới, được bố trí vào nhà ở tạm; nếu không được bố trí vào nhà ởtạm thì được hỗ trợ tiền thuê nhà ở 400.000 đồng/tháng/hộ, thời gian hỗ trợ là 5tháng đối với trường hợp di chuyển đến nơi ở mới và 4 tháng đối với trường hợpxây dựng nhà mới trên diện tích đất còn lại,

3 Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm:

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp khi bị thu hồi trên30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệpcho người trong độ tuổi lao động; mức hỗ trợ chi phí đào tạo cho những lao độngnông nghiệp phải chuyển làm nghề khác do bị thu hồi đất là 5.400 đồng/m2 đấtnông nghiệp thu hồi với những hộ thu hồi trên 30% đến dưới 50% đất nôngnghiệp, những hộ bị thu hối đất lớn hơn hoặc bằng 50%đất nông nghiệp thì mức

hỗ trợ là 8.100 đồng/m2 đất nông nghiệp thu hồi và hộ làm nông nghiệp bị thu hồi100% thì mức hỗ trợ là 10.800 đồng/m2 đất nông nghiệp thu hồi

Riêng tại Nghệ An, UBND tỉnh đã có quyết định về việc phê duyệt kinh phíbồi thường giải phóng mặt bằng dự án "xây dựng khu công nghiệp Nam Cấm"(phụ lục 1) và quyết định về một số chính sách hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề,giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất sản xuât nông nghiệp đểphát triển đô thị và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 căn cứLuật tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003 (phụ lục 2)

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

* Công nghiệp hoá (CNH)

Công nghiệp hoá là quá trình tạo năng lực sản xuất cho ngành côngnghiệp Các nhà hoạch định chính sách đề cập đến khái niệm này vì 2 lí do Một

Trang 11

là, thuật ngữ CNH đến cuộc cách mạng công nghiệp như là điểm khởi đầu củacác nền kinh tế phát triển Hai là, CNH cho phép tạo ra của cải vật chất cho xãhội để nâng cao mức sống,mặc dù ai là người hưởng lợi từ quá trình này là vấn

đề còn đang tranh luận

Tổ chức phát triển công nghiệp của LHQ 1963 đưa ra định nghĩa "CNH làquá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận ngày càng tăng các nguồn củacải quốc dân được động viên phát triển cơ cấu kinh tế đa ngành trong nước với kĩthuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là một bộ phận chế biến luônthay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảmcho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ vềkinh tế xã hội" [23]

CNH là quá trình chuyển đổi nền sản xuất từ sử dụng lao động thủ công

là chính sang sử dụng lao động có kĩ thuật cũng với công nghệ tiên tiến tạo ranăng suất lao động xã hội ngày càng cao; là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

từ nông nghiệp và khai thác tài nguyên là chủ yếu sang cơ cấu mới mà ngànhcông nghiệp đóng vai trò chủ đạo, tỷ trọng công nghiệp trong GDP ngày càngtăng, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, thu hẹp khoảng cách

về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn trên cơ sở khai thác hợp línguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi thế của từng vùng, từng miền của quốc gia

* Hiện đại hoá (HĐH)

Hiện đại hoá là qúa trình mà nhờ đó các nước đang phát triển đạt được sựtăng trưởng kinh tế cao Trên cơ sở CNH và tiến hành cải cách chính trị, củng cố

cơ cấu xã hội nhằm đạt tới một trình độ phát triển cao về khoa học, công nghệ, sựthịnh vượng về kinh tế và công bằng xã hội

HĐH vừa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một xã hội theohướng tăng dần các ngành có hàm lượng công nghệ cao vừa là quá trình đổi mớicách thức tổ chức sản xuất các ngành sẵn có của quốc gia theo hướng áp dụngngày càng nhiều các công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến Kết quảcủa HĐh lag năng suất lao động tăng, trình độ sản xuất nâng cao

Trang 12

Từ thực tiễn CNH trên thế giới và quá trình CNH - HĐH hiện nay củnước ta, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đưa ra các quan điểm:

a) Trong thời đại ngày nay CNH phải gắn liền với HĐH

b) Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh

về xuất khẩu, đồng thời dần thay thế nhập khẩu

c) CNH, HĐH là sự ngiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong

đó kinh tế Nhà Nước giữ vai trò chủ đạo

d) Lấy việc phát huy nguồn nhân lực con người làm yếu tố cơ bản cho sựphát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ kinh

tế và tiến bộ xã hội

e) Khoa học công nghệ là đọng lực của CNH - HĐH, kết hợp công nghệtruyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở nhữngkhâu quyết định

f) Lấy hiêu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương ánphát triển, lựa chọn dự án đầu tư vào công nghệ

g) Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh [24]

Từ quan điểm mới về CNH - HĐH, có thể định nghĩa:" CNH - HĐH là quátrình chuyển dịch cơ bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ

và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụngmột cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phươngpháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoahọc - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao" [24]

* Khu công nghiệp.(KCN)

KCN là hình thức đặc biệt để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và các nhàđầu tư trong nước nhằm thực hiện CNH - HĐH giải quyết nhiều mối quan hệkinh tế quan trọng Thu hút tập trung các nguồn vốn đầu tư, ứng dụng chuyểngiao khoa học công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm phát triển lực lượngsản xuất Vì vậy xây dựng và phát triển KCN là một trong những chủ trươngquan trọng trong đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng

Trang 13

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu KCN, có những cách tiếp cận khácnhau và có những quan điểm không đồng nhất với nhau về KCN.

- Khái niệm:

Theo khoản 1, điều 2, chương I Nghị định 36/CP, ngày 24/4/1997 củaChính Phủ về ban hành quy chế KCN dã quy định: "KCN là tập trung các doanhnghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sảnxuất công nghiệp, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống…"[20] Theo từ điển Luật học: "KCN là khu vực có ranh giới địa lí xác định,không có dân cư sinh sống, được quy hoạch tại những vùng có điều kiện tự nhiên

xã hội thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, trong đó tập trung các doanh nghiệpchuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất côngnghiệp

KCN do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập và được đặt dưới

sự quản lí trực tiếp của ban quản lí KCN cấp tỉnh, được dảm bảo cơ sở hạ tầnghoàn thiện, được cung ứng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và các tiện ích công cộngkhác với chất lượng cao và được hưởng nhiều ưu đãi trong chính sách thuế, chínhsách xuất nhập khảu, sử dụng đất đai…của Nhà nướcViệt Nam [19]

KCN là một khu vực được xây dựng cho các xí nghiệp công nghiệp vừa

và nhỏ, trong đó có sẵn các khu nhà máy cũng như các dịch vụ và tiện nghi chocon người sinh sống [33]

+ Phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật

+ Thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu

+ Chuyển giao công nghệ mới

Trang 14

+ Phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ dảm bảo sự phát triển kinh

Phát triển các ngành mà Chính phủ nước sở tại ưu tiên

Quy chế thủ tục thông thoáng hấp dẫn hơn so với các khu vực khác củađất nước, chuẩn bị điều kiện thực hiện tự do thương mại [33]

1.1.2 Vị trí của việc xây dựng KCN trong qúa trình CNH - HĐH

* Cở sở lý luận xây dựng và phát triển KCN trong quá trình CNH - HĐHnước ta trong giai đoạn hiện nay

Sau 16 năm phát triển KCN, nước ta có hàng trăm KCN được duyệt quyhoạch phát triển Quy chế KCN cũng đã được hình thành với việc hình thành cácLuật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư trong nước, Luật Laođộng, Luật Đất đai và các luật thuế

Tuy vậy, sau một chặng đường phát triển đến any thì trên các chỉ tiêu vềhiệu quả phát triển các KCN còn rất thấp so với kế hoạch đặt ra Nếu nhìn toàncảnh nền kinh tế nước ta thì đây là tình hình chung phổ biến, nhưng nhìn vào vaitrò và mục tiêu phát triển KCN thì có nhiều vẫn đề cấp bách đặt ra Trong đó vấn

đề cấp bách hiện nay là thiếu những cơ sở lí luận phát triển mô hình KCN trongquá trình CNH - HĐH ở nước ta Vì vậy không nên kéo dài mài cách làm cũ "cứlàm rồi rút kinh nghiệm" Lịch sử thế giới đã chứng minh bằng những nước thànhcông và những nước thất bại về CNH: Thời gian CNH ngày càng được rút ngắn,với chất lượng CNH cao hơn là một vấn đề có tính quy luật của CNH Từ đó, đã

Trang 15

xuất hiện những hình thức tổ chức kinh tế hiện đại như KCN, khu chế xuất, khucông nghệ cao Bản thân các hình thức tổ chức này ngày càng biến đổi theo yêucầu của cách mạng khoa học - công nghệ và tổ chức quản lý nên về cơ cấu vàchất lượng các tổ chức kinh tế ấy ngày càng cao Vì vậy, nước CNH sau khôngthể sao chép mô hình đã có mà phải có sự nghiên cứu vận dụng sáng tạo.

* Tính hiệu quả của sản xuất công nghiệp tập trung với năng suất, chấtlượng cao là nhân tố thúc đẩy sự ra đời và phát triển KCN với quy mô và cơ cấuphù hợp; KCN trở thành động lực của vùng kinh tế Trong khi đó ở nước ta, hơn60% diện tích trong KCN còn bỏ hoang thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lạikhông có mặt bằng đủ cho sản xuất kinh doanh Báo chí cho biết ở các địaphương giá đất rẻ mà tiền thuê đất trong KCN đã chiếm 30% tổng vốn của doanhnghiệp, do hoạt động của đơn vị chuyên trách xây dựng cơ sở hạ tầng kém hiệuquả chi phí cao Đó là một trong những nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệplảng tránh KCN

* KCN là nơi kết hợp sức cạnh tranh của doanh nghiệp với sức cạnh tranhkinh tế vĩ mô Đối với các nước đang phát triển như nước ta, tiến hành CNH -HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường đã phát triển cao, thì thách thức lớn nhấttrước mắt và lâu dài là vấn đề sức cạnh tranh Để giải bài toán cạnh tranh trongquá trình hội nhập chỉ có con đường nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế vĩ môvới nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp

*KCN là nơi đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho quátrình HĐH đất nước Trong suốt thời gian CNH - HĐH, KCN trở thành môitrường thích hợp cho những tinh hoa quản lí của đất nước

Hiện nay nước ta có 139 KCN được duyệt quy hoạch phát triển, với tổngdiện tích 29.392 ha Và 124 cụm công nghiệp và KCN vừa và nhỏ do các địaphương thành lập trên đại bàn 19 tỉnh, thành phố với tổng diện tích 6.500 ha CácKCN ở Việt Nam dã thu hút trên 91,8 vạn lao động làm viêc trực tiếp trong cácdoanh nghiệp, chưa kể đến hàng vạn lao động khác trong lĩnh vực xây dựng,cung cấp dịch vụ KCN Tuy nhiên lượng lao động trực tiếp và quản lí trong các

Trang 16

KCN chưa đạt được chất lượng và cơ cấu phù hợp Nguyên nhân, một do cácKCN chưa tạo được điều kiện cần thiết cho người lao động về chỗ ở, đi lại vànhất là tiền lương còn quá thấp Mặt khác công tác đào tạo nguồn nhân lực củanước ta còn nhiều yếu kém về tay nghề và cơ cấu chưa phù hợp với yêu cầu [18]

* Vị trí và vai trò của KCN trong quá trình CNH - HĐH

KCN là mô hình đã được áp dụng phổ biến trên thế giới Đây là nơi tậptrung các nguồn lực để phát triển kinh tế, là nơi diễn ra sự phân công lao động,

xã hội ở trình độ cao, thực hiện các mối liên kết kinh tế quốc tế

Ở Việt Nam 16 năm qua, hoạt động các KCN đã tác động tích cực đếnviệc huy động nguồn vốn trong và ngoài nước, xây dựng kết cấu hạ tầng, tăngnăng lực sản xuất công nghiệp, thúc đẩy quá trình phân công lao động trongvùng, mở rộng và phát triển các đô thị mới, góp phần đẩy mạnh CNH - HĐH đấtnước Nhưng thực tế trong thời gian qua kể từ ngày nước ta xây dựng KCN đầutiên cho đến nay, các KCN đã thể hiện vị trí vai trò quan trọng trong quá trìnhCNH - HĐH đất nước Điều đó được thể hiện:

- Xây dựng các KCN nhằm phát huy hiệu quả của sự tập trung nguồn lựccho sản xuất, tạo điều kiện thuận lơi để thu hút vốn đầu tư

- KCN là nơi các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp nhận nhữngthành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại trên thế giới, để áp dụng vào sảnxuất của chính doanh nghiệp mình

Các KCN đã góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, tăng trưởng kinh tế,hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị, tạo bướcchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến phục

vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước Đồng thời, KCN cũng góp phần giải quyếtviệc làm, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề thực hiện CNH - HĐH,thu hẹp chênh lệch giữa các vùng của đất nước Sự phát triển nhanh có chấtlượng cao của các KCN có tác động rất tích cực đối với sự chuyển dịch cơ cấucủa một tỉnh, vùng, cả nước

Trang 17

Từ một nước nông nghiệp trong giai đoạn đầu của quá trình CNH, nhu cầuviệc làm rất lớn Xây dựng và phát triển các KCN trên mỗi địa phương nhằm tạonhiều việc làm, thu hút lao động dư thừa ở các khu vực nông nghiệp, góp phầnnâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho hộ Vì vậy, KCN đã góp phần thúc đẩymạnh quá trình chuyển biến cơ cấu sản xuất công nghiệp theo hướng xuất khẩu,thay thế nhập khẩu một cách có hiêu quả, nâng dần tỷ trọng các mặt hàng đã quachế biến, hạn chế mức thấp nhất việc xuất khẩu nguyên liệu thô.

Do vậy, phát triển KCN là giải pháp tổng hợp, mang tính toàn diện để giảiquyết các yêu cầu về vốn, lao động, khoa học - công nghệ, trình dộ quản lý Làcon đường tối ưu nhất để tiến đến mục tiêu trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật, pháttriển kết cấu hạ tầng, đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và Nhànước Xây dựng KCN là xây dựng một khu vực sản xuất từ khâu đầu tiên đếnkhâu cuối cùng, tạo điều kiện phát huy sức mạnh tổng hợp, tăng sức cạnh tranhcủa toàn ngành

1.1.3 Vị trí và vai trò của đất đai trong sản xuất nông nghiệp

Đất đai trong nông nghiệp là tư liêu sản xuất chủ yếu, đặc biệt không thểthay thế, thành phần quan trọng của môi trường sống, phân bố dân cư, xây dựngcác cơ sở kinh tế - văn hoá - xã hội Việc quản lý và sử dụng tốt đất đai sẽ gópphần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế - chính trị - xã hội Chính sách đất đaiđúng đắn có tác dụng quyết định đến sự thành công của chính sách kinh tế khác

Từ đó người sử dụng đất cần phải bảo vệ và quản lý đất đai theo đúng luật

* Đặc điểm kinh tế đất đai trong nông nghiệp

+ Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế Vì vậy, trong nôngnghiệp cần phải: quản lý đất đai một cách chặt chẽ theo luật định; phân loại đấtđai một cách chính xác; bố trí sản xuất một cách chính xác; thực hiện chế độcanh tác thích hợp để tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất.+ Diện tích đất đai có hạn, quỹ đất đai dùng vào sản xuất nông nghiệp là cóhạn và ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai củaviệc đô thi hoá, CNH - HĐH và xây dựng KCN ngày càng tăng Cũng cần thấy

Trang 18

rằng, diện tích đất đai có hạn không có nghĩa là mức cung về đất đai trên thịtrưòng là cố định.

+ Vị trí của đất đai là cố định Cần phải bố trí sản xuất hợp lý cho từng vùngđất phù hợp với lợi thế so sánh của mỗi vùng, thực hiện phân bổ quy hoạch đấtđai cho các mục tiêu sử dụng một cách thích hợp; xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là

hệ thống thuỷ lợi, giao thông cho từng vùng để tao điều kiện sử dụng đất tốt hơn.+ Đất đai là sản phẩm tự nhiên Vì vậy,qua lao động con người làm tăng giátrị của đất và độ phì của đất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người

* Nguyên tắc sử dụng đất đai:

- Đất đai cần được sử dụng "đầy đủ và hợp lý" để từ đó nâng cao năng suấtcây trồng, vật nuôi và giữ gìn bảo vệ độ phì

- Đất đai cần được sử dụng có hiêu quả kinh tế cao

- Đất đai cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Sự phát triển KCN ở một số nước trong khu vực trên thế giới

1.2.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các KCN

KCN đã có một quá trình hình thành và phát triển hơn 100 năm Anh lànước công nghiệp đầu tiên và KCN đầu tiên được thành lập năm 1986 ởManchester và sau đó là vùng công nghiệp Chicago (Mỹ) vào những năm đầuthập kỷ 40 của thế kỷ trước Đến những năm 50, 60 của thế kỷ XX, các vùngcông nghiệp và các KCN phát triển nhanh chóng và rộng khắp ở các nước côngnghiệp như là hiện tượng lan toả, tác động và ảnh hưởng Vào thời kỳ này Mỹ có

452 vùng công nghiệp và 1000 KCN, Pháp có 230 cùng công nghiệp… Tiếp theocác nước công nghiệp đi trước, vào nam 60, 70 của thế kỷ trước hàng loạt cácKCN hình thành và phát triển nhanh chóng ở các nước CNH thế hệ sau như: HànQuốc, Đài Loan, Singapo, Thái Lan… Trên các sách báo, trong các Từ điển chođến nay đã có sự thống nhất về các khái niệm: Xí nghiệp liên hợp, cụm Côngnghiệp Nhưng khái niệm về KCN còn gây nhiều tranh luận, chưa có sự thốngnhất và còn có nhiều khái niệm khác nhau về KCN Điều đó cũng dễ hiểu, vì

Trang 19

trong nhận thức biện chứng, sự vật vận động và do đó khái niệm không thể là bấtbiến Nhận thức về KCN có những quan niệm khác nhau Có thể khái quát thànhnhững quan niệm sau về KCN:

- Quan niệm về KCN của các nhà quản lý Thái Lan và của một số các nhàkinh tế học các nước Đông Nam Á như Malaysia, Philipppin… nếu hiểu KCNđồng nhất với thành phố công nghiệp trên góc độ quy hoạch tổng thể một khônggian kinh tế với những điều kiện cần thiết cho các sinh hoạt của cộng đồng thìkhái niệm KCN chưa phản ánh nội dung kinh tế, với những mối liên hệ bên trongcùng với sự vvận động và mục đích hoạt động của KCN Tất nhiên không thểphủ nhận đây là cách tiếp cận KCN từ góc độ quy hoạch xây dựng KCN và tổchức đời sống xã hội trong đó chúng cần kế thừa

- Từ một góc độ tiếp cận khác,cho rằng KCN là khu vực tự do, được xâydựng để xúc tiến mục tiêu phát triển kinh tế

- Quan niệm về KCN của Chính phủ Việt Nam trong quy chế KCN đượctrình bày tại khoản1, điều 2, chương I Nghị định số 36/CP của Chính phủ về banhành quy chế KCN

Từ mỗi góc độ xem xét KCN, có những quan niệm khác nhau về chúng

Do đó, những cuộc tranh luận về khái niệm KCN đang diễn ra sôi nổi và chưa thểchấm dứt khi chưa có sự thống nhất về cách tiếp cận vấn đề

1.2.1.2 Sự phát triển KCN ở một số nước trên thế giới

* Nhật Bản

Người ta biết tới Nhật Bản như là một câu chuyện thần kỳ trong sự nghiệpphát triển kinh tế - xã hội và là một cường quốc kinh tế, Nhật Bản có GDP đứngthứ 3 trên thế giới (sau Hoa Kỳ và Trung Quốc) Trong suốt thời kỳ tăng trưởngcủa nền kinh tế Nhật Bản, các KCN đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúcđẩy phát triển các ngành sản xuất công nghiệp và dảm bảo phát triển kinh tế cânđối giữa các vùng miền của Nhật Bản

Trang 20

Tính đến những năm cuối của thế kỷ trước, Nhật Bản dã có 602 KCN gồm

77 KCN ven biển, 525 KCN nội địa với tổng diện tích 34.968 ha (trong đó tổngdiện tích các khu ven biển là 20.257 ha và các KCN nội điạ là 14.511) [3]

Vậy những nhân tố nào cơ bản tạo nên sự thành công của hệ thống KCNNhật Bản? Sự thành công của hệ thống KCN được thể hiện qua:

- Xây dựng cơ sở pháp lý phù hợp: Nhật Bản trước khi tiến hành phát triểnKCN đã xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động và phát triển KCN

- Quy hoạch phát triển các KCN: Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và thànhlập các KCN do các chính quyền địa phương chủ động lập dựa trên cơ sỏ các kếhoạch phát triển công nghiệp của cả nước Để khuyến khích các KCN trong vùngmình các cơ quan địa phương còn áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư như trợcấp vốn, miễn giảm thuế…cho các doanh nghiệp

- Cơ chế hỗ trợ phát triển các KCN: Chính phủ đã áp dụng một số biện phápkhuyến khích, hỗ trợ các xí nghiệp theo các luật về phát triển công nghiệp vùng

và các quy định của các chính quyền địa phương như: hỗ trợ thuế, hỗ trợ vốnkinh doanh từ nguồn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương…Ngoài ra,

để khuyến khích việc di chuyển các cơ sở công nghiệp ra khỏi khu vực khuyếnkhích di chuyển công nghiệp và phát triển các KCN mới chính Phủ Nhật Bản đã

hỗ trợ vốn ngân sách để xây dựng các cơ sở phúc lợi cho xã hội và bảo vệ môitrường phục vụ cho các KCN…

Việc phát triển các KCN của Nhật Bản trong những thập niênm đầu và giưathế kỷ 20, trong bối cảnh thế giới khác nhiều so với thời kỳ hiện nay - thời kỳ củatoàn cầu hoá, thương mại tự do Tuy nhiên, đối với nước ta - một nước đang pháttriển và đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐHthì những bài học kinh nghiệm về hoạch định chính sách các KCN của Nhật Bảnvẫn lợi ích đối với Việt Nam

Thứ nhất, cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về KCN, tiến tới ban hành

Luật về KCN làm cơ sở pháp lý ổn định và thống nhất cho việc tổ chức và hoạtđộng của các KCN ở Việt Nam Các công cụ chính sách phát triển KCN phải rõ

Trang 21

ràng minh bạch, đặc biệt phải nhất quán, có tầm nhìn dài hạn và toàn cục đượcxay dựng trên cơ sở cân nhắc kỹ mục tiêu CNH cho từng thời kỳ.

Thứ hai, quy hoạch phát triển các KCN của từng địa phương phải phối hợp

với quy hoạch tổng thể của các KCN trên cả nước nhằm phất huy lợi thế so sánhcủa mỗi địa phương để từ đó có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các địaphương trong việc đầu tư phát triển các KCN Cần tăng cường cơ chế phối hợp

và tạo sự liên thông giữa các KCN ở địa phương để hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùngphát triển theo một quy hoạch chung thống nhất của cả nước, khắc phục tìnhtrạng cạnh tranh không lành mạnh trong thu hút đầu tư giữa các địa phương, làmphá vỡ mặt bằng ưu đãi chung và môi trường đầu tư, ảnh hưởng đến sự phát triểnbền vững lâu dài của các KCN

Thứ ba, lựa chọn cơ cấu đầu tư trong các KCN theo hướng khuyến khích

phát triển, thu hút các dự án đầu tư các ngành có hàm lượng khoa học kĩ thuậtcao, có tốc độ tăng trưởng cao, và có sức lan toả nhanh các ngành kinh tế khác đểtạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Cơ cấu đầu tư trong các KCN phải tínhtới lộ trình mở cửa nền kinh tế và hội nhập quốc tế theo hướng tận dụng cácnguồn vốn đầu tư nước ngoài, phát huy lợi thế so sánh của các ngành côngnghiệp trong nước để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Thứ tư, sớm hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về KCN theo hướng đẩy

mạnh việc phân cấp, giao quyền trực tiếp cho các ban quản lý các KCN của cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa chocác hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN Để thực hiện được nhiệm vụnày, nhà nước cần chiến lược ưu tiên phát triển và tăng cường năng lực thể chế,trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý các KCN tại các điạ phương

Thứ năm, đổi mới vai trò hỗ trợ, điều tiết của Nhà nước trong đầu tư phát

triển KCN, chuyển từ can thiệp trực tiếp sang can thiệp gián tiếp vào các quan hệthị trường, phát triển của các KCN, đảm bảo cơ cấu các nguồn lực cơ bản đượcphân bố theo cung cầu thị trường nhưng có sự điều tiết của Nhà nước theo cácmục tiêu đã xác định Nhà nước chỉ hỗ trợ phát triển các KCN ở các khu vực có

Trang 22

điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, môi trường đầu tư hạn chế trong giai đoạnphát triển ban đầu và với những hình thức hỗ trợ đa dạng, lồng ghép với cácchương trình mục tiêu khác để đảm bảo đạt được hiệu quả đầu tư cao nhất.

* Trung Quốc

Cho đến nay, cả thế giới đều công nhận và khâm phục những thành côngtrong công cuộc đổi mới, tái thiêt kinh tế của Trung Quốc Thành công đó là kếtquả của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan Thực tế cho thấy, việc hình thành

và phát huy hiệu quả của hệ thống các KCN ở Trung Quốc là một trong nhữngnhân tố quyết định Chiến lược phát triển các KCN ở Trung Quốc không táchkhỏi những lý luận và hướng đi chung, song nó mang đậm "màu sắc TrungQuốc"

Trung Quốc thời kỳ mở cửa đã chọn các tỉnh duyên hải xây dựng hàng loạtcác KCN tập trung, đã biến các vùng đất không có khả năng sản xuất nôngnghiệp thành các trung tâm công gnhiệp, đô thị, từ đó mở rộng vào nội địa Việc

bố trí địa điểm như vậy, có thể tận dụng được những điều kiện thuận lợi, khôngảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng tới khu dân cư Về côngnghệ, Trung Quốc thống nhất lựa chọn loại hình "kỹ thuật tương đối tiên tiến" làloại có nhiều kỹ thuật và tri thức, vừa thích ứng với cách mạng kỹ thuật mới vừaphù hợp với đồ chiến lược là đưa nền công nghiệp tiên tiến theo chiều hướng

"cao cấp hoá" hướng vào các ngành vi điện tử, vật liệu mới, công nghệ sinhhọc…Trong đó, ngành công nghiệp máy móc điện tử là chủ đạo, nhằm chuyểnnền nông gnhiệp hao tốn nhiều lao động sang các ngành công nghiệp đòi hỏinhiều kỹ thuật và tri thức, đi vào hiện đại hoá có cấu ngành nghề Về chiến lượcsản xuất trong KCN cũng có nét chung với chiến lược phát triển kinh tế đó là

"hướng ra ngoài": sản xuất hàng xuất khẩu Chiến lược đó cho tới nay dường như

đã thành công khi hàng hoá Trung Quốc chiếm một tỷ trọng không nhỏ (trêndưới 10%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu trên toàn thế giới

Trong thời gian gần đây, các KCN ở Việt Nam được phát triển mạnh mẽ.Tuy nhiên, trong các KCN phần lớn các công ty tập trung vào các ngành sản

Trang 23

xuất, tận dụng nhân công rẻ, hầu như không có khả năng nghiên cứu, phát triển

và chế tạo sản phẩm mới mà chủ yếu dựa vào những công nghệ có sẵn để sảnxuất Đây là vấn đề đáng bàn khi Việt Nam muốn bắt kịp trình độ phát triển cônggnhiệp của các nước trên thế giới Chính vì thế, việc phân tích kỹ các điều kiệntại Việt Nam là rất quan trọng, nhằm tìm ra cách hướng đi phù hợp và hiệu quảcho ngành công nghiệp Việt Nam…Vì vậy chiến lược phát triển KCN ở ViệtNam cần tập trung vào một số vấn đề sau:

- Các cơ quan chính quyền cần phải tạo điều kiện cho sự phát triển côngnghệ, thiết lập khung pháp lý thuận lợi để vừa bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, sởhữu công nghệ, vừa hỗ trợ cho quá trình hiện đại hoá các doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực công nghiệp, công nghệ sớm xây dựng một hệ thống ưu đãi ápdụng đối với các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật trong và ngoài KCN

- Xây dựng các ngành công nghệ, từ đó có chiến lược phát triển cụ thể

- Có chính sách thu hút nhân lực tri thức vào xây dựng và làm việc tại cácKCN Các KCN cũng nên được tập trung vào các lĩnh vực đào tạo và tuyển dụngnhân lực cho công nghiệp, chuyển giao công nghệ từ các trường đại học, xâydựng cơ sở ươm tạo và nuôi dưỡng doanh nghiệp công nghệ mới

- Thực hiện tốt các giải pháp về địa điểm, tài chính cho công nghệ, xâydựng lĩnh vực công nghệ và cách thức quản lý KCN

1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển các KCN ở Việt Nam

1.2.2.1 Thực trạng xây dựng KCN ở nước ta trong thời gian qua

Cùng với những chuyển biến mới của nền kinh tế trong quá trình đẩy mạnhCNH - HĐH và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động của các KCN cảnước trong những năm qua và kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, đã đạt được nhữngthành tựu:

- Đến hết năm 2006 cả nước có139 KCN với tổng diện tích đất quy hoạch là29.392 ha So với cuối năm 2005, quỹ đất tự nhiên của toàn bộ các KCN đượcthành lập tăng 11%

Trang 24

- Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN được đẩy nhanh hơn, số cácKCN được xây dựng xong và đưa vào vận hành trong năm là 15 KCN Trongtổng số 139 KCN đã được thành lập có 90 KCN cơ bản hoàn thành xây dựng cơ

sở hạ tầng xong và đưa vào hoạt động với tổng diện tích đất nông nghiệp 13.638

ha, tăng 19% so với năm 2005

- Năng lực thu hút nguồn đâù tư trong nước vào KCN cũng có chuyển biếnkhá Trong năm 2008, các KCN tiếp tục thu hút được hơn 370 dự án đầu tư trongnước với tổng số vốn đầu tư đăng ký vượt trên 16.000 tỷ đồng

- Tổng diện tích đất nông nghiệp thực tế cho thuê lại trong năm đạt 1.766 hatăng 18% so với năm trước, đáp ứng nhu cầu mặt bằng cho các nhà đầu tư trongnăm

- Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong các KCN đạtmức tăng trưởng khá cao và toàn diện Trong năm 2008, giá trị sản xuất côngnghiệp của doang nghiệp trong các KCN cả nước đạt 33,6 tỷ USD

- Số lao động trực tiếp làm việc tại các KCN cuối năm 2005 la 80 vạnngười, đến cuối năm 2006 là 91,8 vạn người [18]

Hoạt động của các KCN những năm qua đã khẳng định đường lối, chủtrương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã góp phần tạo ra những thành côngtrong quá trình xây dựng và phát triển các KCN Bên cạnh những thành côngnhất định là nững tồn tại một số hạn chế Những hạn chế đó là:

- Mặc dù có nhiều KCN được thầnh lập với diện tích xây dựng lớn nhưngkhả năng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước chưa cao Hiện nay, với hơn

139 KCN trải khắp đất nước với diện tích cho thuê mặt bằng lớn hàng trăm ha,nhưng khả năng thu hút nhiều nhà đầu tư thuê hết diện tích là điều khó khăn đốivới hầu hết các KCN của Việt Nam

- Trong quá trình thành lập KCN các nhà quản lý chưa xây dựng cơ sở hạtầng thiết yếu về chỗ ở, nơi khám bệnh, đào tạo nghề cho người lao động ở cáctỉnh xa, dẫn đến tình trạng lộn xộn, thiếu ổn định, mất trật tự an ninh Điều nàytạo ra sự gắn kết giữa người lao động với doanh nghiệp không cao Sự phát triển

Trang 25

các KCN cần được các nhà quản lý tính đến những nhu cầu tối thiểu bảo đảmcuộc sống cho người lao động như chỗ ở, bệnh viện… chứ không phải chỉ có chỗlàm việc Nếu những nhu cầu tối thiểu này được các KCN quan tâm tốt hơn sẽ làmột trong những yếu tố quan trọng thu hút người lao động.

- Vấn đề gắn kết đào tạo nghề cho người lao động cung cấp cho các KCNchưa được các doanh nghiệp, các cấp quản lý quan tâm đúng mức Việc đào tạonghề cho người lao động vẫn đặt vào tay các trường dạy nghề, trường đại học vàcao đẳng mà chưa có sự liên kết giữa các doanh nghiệp với họ trong việc phốihợp đào tạo nguồn nhân lực

- Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp để làm các KCN và vấn đề đào tạo nghềcho nông dân mất đất, mất việc làm, thu nhập đang là vấn đề bức xúc của xã hội

Đa phần các KCN được xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp, người nông dânkhi mất đất sản xuất không biết phải làm gì, nhiều hộ cầm tiền đền bù mà khôngbiết sử dụng sao cho có hiêu quả Nhiều doanh nghiệp không muốn nhận nhữnglao động nông nghiệp do họ không có tay nghề và cũng không muốn mất kinhphí để đào tạo lực lượng lao động này, đây là một yếu tố nảy sinh mâu thuẫn giữadoanh nghiệp và người dân trong khu vực, nhiều tệ nạn xã hội nảy sinh

- Cách thức ưu đãi của các tỉnh nhằm thu hút đầu tư không được cơ quanquản lý thẩm quyền giám sát nhằm hướng tới lợi ích chung của toàn xã hội vànền kinh tế, thủ tục hải quan, vay vốn mà chưa chú ý tới chất lượng của các nhàđầu tư, cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp, nguồn lao động có chuyên môn, taynghề, vấn đề đào tạo người lao động địa phương, điều kiện sinh hoạt cho ngườilao động

Xuất phát từ những định hướng được nêu ra trong Văn kiện Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ X của Đảng trong đó nêu rõ "Phát triển khu kinh tế mở vàđặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế của các KCN" Để nâng cao hoạt độngcủa các KCN cần:

- Xem xét lại những chính sách cơ chế thu hút các doanh nghiệp của cácKCN làm tăng tỷ lệ diện tích cho thuê, khả năng thu hút các mnhà đầu tư Những

Trang 26

cơ chế chính sách này cần được xây dựng nhất quán phù hợp với xu hướng pháttriển, mở cửa hội nhập kinh tế của đất nước.

- Khi thành lập các KCN mới cần tính toán chặt chẽ sao cho có sự hài hoà

về quy hoạch đô thị, cần tính toán tới những điều kiện cơ bản của người lao độngtỉnh xa khi làm viẹc tại các KCN, cần có những quy định chặt chẽ đối với việcxây dựng, bảo vệ môi trường, xử lý nước thải tại các KCN

- Đẩy mạnh xây dựng cụm KCN hướng vào các ngành công nghiệp phụ trợ,ngành công nghiệp cao so với cơ sở hạ tầng tốt và chính sách ưu đãi hợp lý

- Có chính sách đồng bộ trong qúa trình xây dựng các KCN về việc đào tạonghề cho người lao động, góp phần làm yên tâm các nhà đầu tư và ổn định côngviệc cho người lao động

- Giao thêm quyền và uỷ quyền cho các ban quản lý KCN giải quyết nhữngvướng mắc, khó khăn của các nhà đầu tư, phối hợp các bộ, ngành liên quan giảiquyết các chế độ, chính sách của nhà nước, đặc biệt công tác đền bù, giải phóngmặt bằng dành cho xây dựng các KCN

- Chính phủ và các tỉnh, thành phố nên công khái hóa chính sách thu hút đầu

tư vào các KCN, quuy hoạch các KCN trong giai đoạn đến năm 2010 và xa hơnnữa đến các nhà đầu tư biết trước những KCN được thành lập khi nào, địa điểmtại đâu, những ưu đãi của Chính phủ, các tỉnh, thành phố vào những KCN đó.[26]

1.2.2.2 Chủ trương và chính sách của Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất

để xây dựng KCN

Hiện nay việc đảm bảo đời sống, việc làm cho người dân bị thu hồi đểxây dụng các khu, cụm công nghiệp đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội Đểgiải quyết vấn đề này, phá luật đất đai hiện hành quy định ngươiừ có đất bị thuhôi ngoài việc bồi thường tái định cư theo quy định, còn được nhà nước hỗ trợ dichuyển chỗ ở, hỗ trợ ổn định sản xuất đối với gia đình và cá nhân bị thu hồi đấtnông nghiệp; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cho người bị thu hồiđất

Trang 27

Nghị định số 17/2006/NĐ - CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của cácNghị định hướng dẫn và thi hành Luật Đất đai và Nghị định 187/2004/ NĐ - CP

về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, trong Nghị định này cónhiều nội dung quan trọng để làm căn cứ cho việc thực hiện bồi thường, hỗ trợtái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Giá đất để tính bồi thường là giá đất theomục đích đang sử dụng đã được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngquy định và công bố; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sửdụng

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30%diện tích nông nghiệp mà không được nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệptương ứng thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo quy địnhsau: Được giao đất có thu tiền sử dụng đất đai tại vị trí có thể làm mặt bằng sảnxuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp; mức đất được giao do UBND tỉnhcăn cứ vào khả năng quỹ đất và mức đất thu hồi của từng hộ, gia đình, cá nhân đểquy định; giá đất được giao bằng giá đất nông nghiệp tương ứng cộng với chiphí đầu tư hạ tầng trên đất nhưng không cao hơn giá đất tại thời điểm thu hồi đấtđược UBND cấp tỉnh quy định và công bố

Trường hợp đặc biệt không có đất để bố trí như quy định tại khoản 1 điềunày thì những thành viên trong hộ gia đình còn trong độ tuổi lao động được hỗtrợ chuyển đổi nghề nghiệp; mức hỗ trợ cụ thể do UBND cấp tỉnh quy định phùhợp với thực tế ở địa phương; việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp đượcthực hiện chủ yếu bằng hình thức học nghề tại cơ sở dạy nghề

- Nếu là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà không đựocnhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng với đất nông nghiệp đã bịthu hồi thì việc bố trí tái định cư được gắn liền với giao đất làm mặt bằng sảnxuất, dịch vụ phi nông nghiệp như quy định tại khoản 1 điều 29 của Nghị địnhnày.[22]

- Nếu là hộ gia đình cá nhân sản xuất, dịch vụ phi nông nghiệp thì việc táiđịnh cư phải gắn liền với tạo việc làm từ đất sản xuất, dịch vụ phi nông nghiệp;

Trang 28

trường hợp đặc biệt không có đất để thực hiện tái định cư gắn liến với tạo việclàm từ sản xuất, dịch vụ phi nông nghiệp thì hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ đàotạo chuyển đổi nghề nghiệp theo quy định tại khoản 2 điều 29 của Nghị định này.[22]

Chỉ thị số 05/2006/CT - TTg ngày 22/2/2006 của thủ tướng Chính phủ vềviệc khắc phục yếu kém, sai phạm, tiếp tục đẩy mạnh tốt tổ chức thi hành LuậtĐất đai cũng đã có những quy định rất thiết thực đối với đời sống của người bịthu hồi đất: Việc lập, thẩm định và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtphải chú ý tính hợp lý về sử dụng các loại đất, hạn chế tối đa việc chuyển đấttrồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp; không xét duyệtchuyển đổi đất trồng lúa sang mặt bằng sản xuất, dịch vụ phi nông nghiệp ởnhững địa phương có điều kiện sử dụng các loại đất khác Đối với những nơi cầnthiết phải chuyển đổi đất trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nôngnghiệp thì phải có giải pháp sử dụng đất tiết kiện và đảm bảo tính khả thi trongthực hiện, khắc phục tình trạng thu hồi đất nhưng không sử dung UBND cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện nghiêmcác quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ việc tái định cư khi nhà nướcthu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi íchcông cộng và phát triển kinh tế; công khai hoá toàn bộ quá trình thực hiện; đảmbảo công bằng giữa các đối tượng có điều kiện tương tự Đặc biêt chú trọng cácvấn đề:

- Đảm bảo giá đền bù đất theo đúng nguyên tắc định giá đất quy định tạiđiều 56 của Luật Đất đai Tuỳ tình hình và điều kiện cụ thể, các địa phương cầnvận dụng chính sách, pháp luật để xử lý thoả đáng theo đúng quan điểm vì dân vàvới yêu cầu ổn định tình hình, không gây ra những phức tạp mới

- Làm tốt công tác tái định cư, dành diện tích đất đai tại những vị trí thuậnlợi kể cả bên cạnh các KCN (trừ những nơi do yêu cầu bảo vệ môi trường hoặc

do quá hạn hẹp về quỹ đất) để bố trí tái định cư đảm bảo cho những hộ có đất bịthu hồi có chỗ ở mới tại khu tái định cư

Trang 29

- Tích cực giải quyết việc làm cho hộ có đất bị thu hồi Ngoài việc bố trí táiđịnh cư tại những vị trí thuận lợi và bên cạnh các KCN gắn với phát triển dịch

vụ, giải quyết việc làm cần có các giải pháp khác nhằm đảm bảo việc làm và thunhập không để ngưòi có đất bị thu hồi lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói.[29]Hoàn thiện chính sách thị trưòng quyền sử dụng đất nông nghiệp nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện việc mua bán, chuyển nhượng quyền

sử dụng đất nông nghiệp Hoàn thiện chính sách bồi thường khi thu hồi đất đảmbảo sự nhất quán từ việc bồi thường bằng đất chuyển sang bồi thường bằng giátrị quyền sử dụng đất nhằm tái tạo tư liệu sản xuất mới, dảm bảo đời sống lâu dàicho người dân Bên cạnh đó, đối với chính sách chuyển đổi nghề nghiệp và dàotạo việc làm, Nhà nước cần thực hiện định hướng bằng quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội và áp dụng biện pháp yêu cầu bắt buộc đối với các dự án lớn khi trìnhduyệt phải có phương án hoặc dự án chuyển đổi nghề nghiệp và đào tạo kèmtheo

1.2.2.3 Những tác động của việc thu hồi đất sản xuất và đời sống của các

hộ nông dân

Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phục vụcho phát triển kinh tế - xã hội đã tạo cơ hội thu hút vốn đầu tư trong nước, ngoàinước Góp phần thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu laođộng, giải quyết việc làm tăng thêm thu nhập Tuy nhiên việc thu hồi đất thườngtập trung phần lớn vào đất canh tác nông nghiệp, gây sức ép cho việc chuyển đổimục đích sử dụng đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp khiến cho số lao độngnghèo tăng lên Quá trình thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ để giải phóng mặt bằngxây dựng KCN đã để lại nhiều tiêu cực trong việc giải quyết đời sống, việclàm cho các hộ nông dân có đất bị thu hồi tại một số địa phương; rất ít lao độngnông nghiệp ở địa phương được đào tạo nghề để thu hút vào làm việc tại cácKCN Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này Thứ nhất là, một phấn do sựphát triển của các ngành công nghiệp và thương mại dich vụ chưa đáp ứng nhucầu giải quyết việc làm cho người lao động Thứ hai là, bản thân người lao động,

Trang 30

vốn xuất phát từ lao động nông nghiệp, có nhiều hạn chế về năng lực và trình độvăn hoá, tay nghề mà thị trường lao đọng cần Do vậy lượng lao động này khôngđáp ứng được nhu cầu về tay nghề Hiện nay có khoảng 27% lao động bị thu hồiđất đã tốt nghiệp phổ thông, 14% số lao động được dào tạo ngắn hạn Điều đánglưu ý hơn, số lao động quá tuổi (trên 35) chiếm tỷ lệ lớn mà hầu như không cókhả năng tìm việc làm Ngoài ra còn có một bộ phận nông dân còn trông chờ, ỷlại vào chính sách nhà nước mà chưa tự mình cố gắng.[15] Mặt khác chínhquyền các địa phương cũng chưa chú ý hướng dẫn việc sử dụng hợp lý và hiệuquả số tiền được bồi thường do mất đất Số hộ sử dụng tiền bồi thương để đầu tưsản xuất kinh doanh, đầu tư cho đào tạo nghề nghiệp…không nhiều Đa phần các

hộ chi vào việc xây nhà cửa, mua sắm các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền Nhìn bềngoài có vẻ như đời sống của họ được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên bên trong tiềm

ẩn một nguy cơ bất ổn rất lớn: không việc làm, không thu nhập ổn định Hiện naychỉ mới có từ 5% - 10% lao động trong KCN được đào tạo tuyển dụng từ nguồnlao động nông nghiệp của hộ gia đình có đất bị thu hồi Người nông dân bị thuhồi đất chưa được giúp đỡ trong việc sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ vào việcđầu tư phát triển sản xuất [12]

Như vậy có rất nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết, song nhiệm vụ trọngtâm ưu tiên được đặt lên vị trí quan trọng hiện nay là thực hiện các giải pháp giảiquyết việc làm cho những người bị thu hồi đất, giúp họ có việc làm ổn định, cóthu nhập để duy trì cuộc sống như:

- Cần chuyển đổi cơ cấu kinh tế đi liền với chuyển đổi cơ cấu lao động tạoviệc làm, tăng thu nhập góp phần phát triển bộ mặt nông thôn, trước hết là tạoviệc lamd và ổn định đời sống cho những người bị thu hồi đất Điều đó được thểhiện rõ nét trong Chỉ thị số 11/2006/CT - TTg, ngày 27/03/2006 về giải pháp hỗtrợ dạy nghề và việc làm cho người lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụngđất nông nghiệp sang phi nông nghiệp [28]

- Cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trước hết là chuyển dịch cơ cấu sản xuấtnông nghiệp ở chính những vùng bị thu hồi đất

Trang 31

- Cần có sự kết hợp giữa ngành nông nghiệp với công nghiệp chế biến,thương mại với du lịch, phát triển mạnh các nghề thủ công truyền thống, nghềphụ, nghề phi nông nghiệp.

- Cần có chính sách khuyến khích các KCN, các doanh nghiệp lớn xây dựngcác cơ sở đào tạo nghề tại chỗ, nhằm đào tạo nghề cho người có đất thu hồi ở địaphương, từ đó đáp ứng nhu cầu lao động của bản thân họ

Tuy nhiên, theo đánh giá những chính sách trên vẫn chưa đem lại hiệuquả Có địa phương hỗ trợ tiền mặt cho các hộ để đào tạo nghề thì không được sửdụng vào đúng mục đích Nhiều địa phương đào tạo dàn trải, ồ ạt song chất lượngđào tạo không cao, người lao động được đào tạo không đáp ứng được nhu cầucông việc bị các doanh nghiệp từ chối

1.2.2.4 Những tác động tiêu cực từ xây dựng KCN đến sản xuất và đời sống các hộ nông dân

* Những con số đáng báo động

Không phải ngẫu nhiên mà gần đây dư luận xã hội cũng như lãnh đạoĐảng và Chính phủ đề cập đến khá nhiều vấn đề an ninh lương thực quốc gia vàquỹ đất sản xuất NN Những năm qua, việc thu hồi đất sản xuất NN để chuyểnđổi sang làm công nghiệp, khu đô thi diễn ra quá nhanh, nhiều địa phương diệntích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp nhanh chóng

Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môitrường, diện tích đất NN sẽ tăng từ 8.973.783ha (năm 2000) lên 9.363.063 (năm2010) Tuy nhiên, dân số tăng từ 77,6 triệu của năm 2000 lên khoảng 86,5 triệu

và năm 2010 Như vậy, diện tích đất NN bình quân theo đầu người của nước sẽgiảm từ 0,113 ha (2000) xuống còn 0,108 ha (2010) trong vòng 10 năm, bìnhquân đất nông nghiệp trên đầu người đã giảm 50m2 Đây là con số mà PGS.TS

Lê Thái Bạt (Hội khoa học đất Việt Nam) cho rằng rất đáng lo ngại, vì hiện naykhoảng 75% dân số nước ta vẫn sống chủ yếu dựa vào sản xuất NN Theo kếtquả kiểm kê đất đai năm 2005 đã được Chính Phủ phê duyệt vào tháng 2-2007,thì diện tích đất trồng lúa của cả nước là 4.165.277 ha và 60% của số đó thuộc 24

Trang 32

tỉnh của 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL Tuy nhiên một nghiên cứu của Viện nghiêncứu định canh (thuộc Liên hiệp các Hội KH-KT Việt nam) cho thấy từ năm 2000đến 2006, với việc mở rộng các khu công nghiệp và khu đô thị mới, diện tích đấttrồng lúa cả nước đã mất đi 318.400 ha một con số không nhỏ chút nào khi màđất đai, nhất là đối với đất chuyên canh trồng lúa, không thể "tự nhiên"sinh rađược.

Cách đây 10 năm ở miền Bắc có 3 tỉnh có diện tích đất NN lớn, đồngbãi phì nhiêu, được coi là tỉnh "thuần nông" bỗng tốc độ ĐTH nhanh và mạnh mẽ

là Vĩnh Phúc, Hải Dương và Hưng Yên nhờ việc quy hoạch và phát triển các dự

án KCN, thu hút các nhà đầu tư, nên cả 3 tỉnh đều sớm gia nhập "câu lạc bộ1.000 tỷ đồng" Những cánh đồng lúa "thẳng đường cày", đất đai phì nhiêu, màu

mỡ chỉ sau vài năm đã bị lấp kín bởi hàng trăm công ty, nhà máy [Báo nhân dân

điện tử]

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên - Môi trường trong thời gian từ

2001-2008 tổng diện tích đất NN đã thu hồi chuyển sang phi NN trên 500.000 ha(chiếm hơn 5% đất NN đang sử dụng) Đặc biệt việc đất NN bị thu hồi và chuyểnsang mục đích ĐTH và công nghiệp hoá năm sau luôn tăng hơn so với nămtrước Chỉ tính riêng năm 2007, diện tích đất trồng lúa cả nước đã giảm 125.000

ha Theo Sở NN-PTNT tỉnh Vĩnh Phúc, trong vòng 10 năm qua, tỉnh đã thu hồitrên 4000 ha đất NN để bàn giao cho 650 dự án xây dựng KCN và kết cấu hạtầng Tại Hưng Yên trong năm 2007 đã thu hồi 500 ha đất lúa cho việc xây dựng

4 KCN Tỉnh Bắc Ninh, năm 2000 có tổng diện tích đất nông nghiệp hơn 49.000

ha, nhưng bước sang năm 2008 diện tích đất trồng trọt giảm chỉ còn 42.000 ha.Chỉ tính năm 2005, Bắc Ninh có hơn 2.500ha đất NN bị thu hồi để xây dựng pháttriển các KCN,khu đô thị khiến hơn 9% số hộ mất 80-100% đất sản xuất, 20% số

hộ mất 50-80% Trong đó, phần lớn diệntích bị thu hồi là đất chuyên canh lúa 2vụ

"Mất nhiều đất nông nghiệp quá" đó là lời phát biểu của GS Lê Văn Tiềm(Viện Khoa học NN) tại hội thảo Sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam với định cư

Trang 33

đô thị và nông thôn do Liên hiệp các hội KH-KT Việt Nam tổ chức vào năm

2007 Theo GS, xu thế đô thị hoá, mất đất NN không thể tránh nhưng tốc độ thếnào? Và hạn chế nó ra sao là vấn đề cần phải tính "Chúng ta có chủ quan khôngtrong an ninh lương thực? Đi đâu chúng ta cũng khoe là một nước nhập khẩu 1triệu tấn/ năm Nay đã xuất khẩu được 4-5 triệu tấn/ năm Nhưng với tốc độ vàtình trạng mất đất NN như hiện nay, đến lúc nông dân sẽ không còn đất trồng lúanữa, lấy đâu ra gạo để xuất khẩu…"- GS Tiềm nói

Mục tiêu của các KCN là thu hút và tập trung các nguồn lực trong nước vànước ngoài để phát triển kinh tế, là nơi diễn ra sự phân công lao động xã hội ởtrình độ cao, đi đầu về nâng cao năng lực cạnh tranh phù hợp với bối cảnh toàncầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên đằng sau những thành công KCNmang lại còn có những tồn tại cần khắc phục Theo GS.TS Nguyễn Sinh Cúcthuộc Tổng cục Thống kê có nhận xét: "Tại các vùng địa phương có nhiều KCN,

tỷ lệ đất đai được lấp đầy dự án còn rất thấp, quỹ đất đưa vào nhiều nhưng sửdụng chưa có hiệu quả Tình trạng đất nông nghiệp đưa vào các KCN ngày càngnhiều, số nông dân mất đất canh tác gia tăng, ngành nghề mới chưa được đào tạodẫn đến thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn.Trong khi đó tình trạng đất thừa tại các KCN ngày càng rõ nét." [13,15] Tất cảđiều này làm chậm bước phát triển các KCN trên con đường CNH - HĐH trongquá trình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay của đất nước ta

* Nông dân lại tái nghèo đói?

Khi đánh giá về tác động của việc thu hồi đất, một đại diện của ngân hàngthế giới tại Việt Nam từng nói rằng, bản thân nông dân là những người nghèonhất, nhưng cùng với quá trình hiện đại hoá đất nước, họ đã bị kéo vào vòngxoáy của nghèo đói Theo vị này, phần lớn số tiền đền bù đất đa số nông dân đềudùng vào việc mua sắm, xây dựng nhà cửa, có tiết kiệm thì cũng chỉ được 5-7năm đầu là tiêu hết và hậu quả là họ lại rơi vào tình trạng…"vô sản" Thực tế rấtbuồn là trong khi nhiều nông dân không còn đất để sản xuất thì tại nhiều địaphương, do chạy theo phong trào nên đã phát triển ồ ạt các KCN, khu đô thị…

Trang 34

trong khi vẫn chưa kêu gọi được đầu tư Tình trạng này dẫn đến hậu quả đất đaitại nhiều KCN, khu đô thị bị bỏ hoang nhiều năm Theo ông Lã Văn Lí- Cụctrưởng HTX&PTNT, tại các địa phương bị thu hồi đất có tới 67% số hộ vẫn phảiquay lại với nghề nông, chỉ 13% có nghề mới ổn định Điều đáng nói là những hộdân muốn quay lại với nghề nông chẳng có đất để sản xuất nên cuối cùng họ lạirơi vào cảnh thất nghiệp, kéo theo hàng loạt các tệ nạn xã hội như rươu chè, cờbạc… Điều kiện sống của người nông dân vì thế cũng bị ảnh hưởng nghiêmtrọng khi chỉ có 29% số hộ có điều kiện sống tốt hơn, số đông còn lại (34,5%) cómức sống thấp hơn so với trước khi bị thu hồi đất

Trang 35

- Các tài sản - Xây dựng Thu hồi đất là 1 cú sốc lớn - Cơ hội -Khác

- Cơ hội năng lực

Trang 36

2.2 Vật liệu nghiên cứu

- Phiếu điều tra

- Báo cáo của xã Nghi Xá, huyện Nghi Lộc

- Tổng kết báo cáo của xóm 8, 9, 11 xã Nghi Xá huyện Nghi Lộc

2.3 Phương pháp tiến hành

- Nghiên cứu dựa vào cách tiếp cận sinh kế và chủ yếu sử dụng phươngpháp nghiên cứu điển hình (case study) Phương pháp này cho phép hiểu đượcsâu sắc các vấn đề phức tạp trên cơ sở phân tích bối cảnh chi tiết của một sốlượng giới hạn các điều kiện hay các sự kiện và mối quan hệ tương tác

- Căn cứ vào đặc điểm tình hình cụ thể của xã tôi tiến hành chọn 3 xóm đạidiện cho điểm nghiên cứu là xóm 8, xóm 9, xóm 11 Đây là những xóm bị thuhồi đất lớn nhất, chịu tác động mạnh của việc xây dựng KCN, trong đó xóm 8 vàxóm 9 là những xóm bị thu hồi đợt 1bị thu hồi từ năm 2002 còn xóm 11 là xómmới bị thu hồi từ năm 2006 (xóm công giáo)

- Phương pháp thu thập thông tin:

+ Phương pháp PRA- là phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự thamgia của cộng đồng Bao gồm một loạt cách tiếp cận và phương pháp khuyếnkhích, lôi cuốn người nông dân tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thứccủa họ về đời sống; là phương pháp nghiên cứu phát triển nông thôn, tập hợp một

hệ thống các công cụ nghiên cứu Thông qua các công cụ này cán bộ và ngườidân dịa phương cùng phát hiện các vấn đề và đề xuất giải pháp giải quyết, phốihợp thực hiện và cùng rút ra bài học kinh nghiệm Qua PRA cán bộ nghiên cứu

có thể hcọ hỏi từ người dân, đồng cảm với người dân, là người cộng tác nòng cốtgiúp cộng đồng nông thôn phát triển Đề tài này sử dụng hai hình thức chính:(i) Phỏng vấn cá nhân đối với những hộ gia đình bị thu hồi đất

(ii) Phỏng vấn sâu cán bộ thôn, xóm, xã

+ Phương pháp RRA- Là phương pháp đánh giá nhanh cộng đồng đượcthực hiện bởi những người ngoài cộng đồng nhằm mục đích thu thập thông tinnhanh chóng và đưa ra giả thuyết mới về vấn đề nghiên cứu

Trang 37

+ Tài liệu thứ cấp: Phương pháp thu thập số liệu đã công bố bao gồm cácthông tin về kinh tế hộ nông dân, diện tích đất nông sản xuất nông nghiệp…cũngnhư tài liệu về chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các hình thức chuyển đổi cơ cấuvật nuôi, cây trồng…trên tạp chí và trên Internet.

+ Tài liệu sơ cấp:

Điều tra khai quát:Thu thập số liệu, thông tin từ các phòng ban của huyện,

xã để nắm đặc điểm và tình hình chung về phát triển kinh tế - xã hội trên địabàn Căn cứ vào đề tài nghiên cứu, qua các phòng ban chúng ta biết được:

i) Tình hình thu hồi đất trên địa bàn xã

ii) Chính sách hỗ trợ của Nhà Nước, tỉnh khi thực hiện thu hồi đất

iii) Thông tin chung về tình hình sản xuất của người dân trên địa bàn trứoc

và sau khi thu hồi đất

iiii) Thông tin chung về đời sống, mức sống của người dân trên địa bàntrước và sau khi thực hiện quá trình chuyển đổi đất sản xuất sang đất xây dựng

Tổ chức điều tra chọn mẫu: Để đánh giá chính xác tình hình thu hồi đấtsản xuất của các hộ nông dân và những tác động của nó đến đời sống, lao động,việc làm, thu nhập Tôi tiến hành điều tra chọn mẫu (chọn 3 xóm của xã)

- Xử lí số liệu

+Công cụ xử lí số liệu: Các tài liệu sau khi thu thập sẽ được kiểm tra đểphát hiện sự thiếu chính xác khi ghi chép, bổ sung các thông tin còn thiếu, sau đótổng hợp lại và tính toán cho phù hợp với mục đích cua đề tài Toàn bộ tập phiếuđiều tra sau khi đã được phỏng vấn và đã được mã hoá sẽ được dùng trong tínhtoán và phân tích số liệu Công cụ để xử lí số liệu là chương trình tính toánExcell

+ Phương pháp thống kê

(i) Phương pháp đồ thị thống kê: Là phương pháp trình bày và phân tích cácthông tin thống kê bằng biểu đồ, đồ thị Phương pháp đồ thị thống kê sử dụngcon số kết hợp với hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày các đặc điểm sốlượng của hiện tượng

Trang 38

(ii) Thống kê mô tả: Là phương pháp mô tả toàn bộ sự vật và hiện tượngtrên cơ sở các số liệu đã được tính toán.

(iii Phương pháp so sánh: Phương pháp thống kê so sánh bao gồm so sánhtuyệt đối và so sánh tương đối để đánh giá động thái phát triển của hiện tượng sựviệc theo thời gian và không gian Việc so sánh được tiến hành theo nguyên tắcđồng nhất về thời gian hoặc đối tượng so sánh Sau đó tìm ra quy luật chung củahiện tượng nghiên cứu Cụ thể là so sánh hộ nông dân trước và sau khi thu hồiđất (so sánh thu nhập, ngành nghề…)

Trang 39

Chương 3:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu

Xã Nghi Xá là một xã nằm về phía Đông Bắc huyện Nghi Lộc,

Phía Đông giáp xã Nghi Hợp

Phía Nam giáp xã Nghi Thịnh

Phía Tây giáp xã Nghi Long, khu công nghịêp Nam Cấm

Phía Bắc giáp xã Nghi Quang

Có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, có đường quốc lộ 48 chạy qua Nằm trên cáctuyến đường giao thông nối với khu công nghiệp Nam Cấm, khu du lịch Cửa Lò,nối với bến cảng, sân bay Vinh, thành phố Vinh Có tuyến đường liên xã NghiTrường - Nghi Thịnh - Nghi Ân - Nghi Đức nối liền với Nghi Quang - NghiTiến, khu du lịch Mũi Rồng Thiết Đó là những lợi thế tạo cho Nghi Xã là nơigiao lưu văn hoá, thương mại - dịch vụ, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoánông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thu hút lao động vào sản xuất, tạo nên thếmạnh để phát triển kinh tế - xã hội

* Khí hậu: Chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, điều kiện khí hậuphức tạp như bão lụt, ngập úng, gây mất mùa ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống

* Nước: Diện tích mặt nước chiếm tỷ lệ thấp trong diện tích sản xuất nôngnghiệp Nguồn nước phục vụ cho nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào thiênnhiên, không có nguồn nước tưới tiêu chủ động nên ảnh hưởng đến năng suất,sản lượng cây trồng

Khả năng trao đổi buôn bán, kinh doanh dịch vụ, phát triển các ngành hàng nhưtiểu thủ công nghiệp, kinh doanh buôn bán mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hànghoá từ sản xuất nông nghiệp, đồng thời vừa thúc đẩy sản xuất vừa mở rộng trongngành chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản theo hướng công nghiệp

- Mặt nước ao hồ: 25 ha, sông ngòi 25 ha, hiện đã được đưa vào sử dụngnuôi cá 3,5 ha đang là tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản trong thời kì quy hoạch

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đào Thế Anh, Nguyễn Tôn Tạo, Nông nghiệp Hà Nội (2002). Bài viết tổng kết nhiều kinh nghiệm, các mô hình phát triển đô thị khác nhau trên thế giới và trình bày cả quá trình phát triển của Nông nghiệp Hà Nội trong quá khứ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Hà Nội
Tác giả: Đào Thế Anh, Nguyễn Tôn Tạo, Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
[4]. Kiều Minh, "Lúng túng tìn việc cho nông dân bị thu hồi đất", Vietnamnet [5]. Kim Loan, "Đằng sau sự thành công phát triển KCN", Vietnamnet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lúng túng tìn việc cho nông dân bị thu hồi đất", Vietnamnet [5]. Kim Loan, "Đằng sau sự thành công phát triển KCN
[12]. Trinh Xuân (2005), "Nông dân mất đất ngày càng nhiều, cần góp quỹ hỗ trợ đào tạo nghề", báo Lao động số 129 ngày 11/05/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông dân mất đất ngày càng nhiều, cần góp quỹ hỗ trợ đào tạo nghề
Tác giả: Trinh Xuân
Năm: 2005
[13]. Vũ Đưc Quyết, "Một số giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp việc làm cho người lao động tại địa phương thu hồi đất phát triển các khu công nghiệp và đô thị hoá", Vietnamnet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp việc làm cho người lao động tại địa phương thu hồi đất phát triển các khu công nghiệp và đô thị hoá
[14]. Vũ Ngọc Kỳ (2005), Vấn đề đất đai và vấn đề đất sản xuất của nông dân. Tạp chí Cộng sản, tr.43 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đất đai và vấn đề đất sản xuất của nông dân. "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Vũ Ngọc Kỳ
Năm: 2005
[15]. Yến Tuyết, (2006) "Giải quyết việc làm cho ngưòi lao động bị thu hồi đất ở các KCN", Tạp chí công nghiệp, số tháng 8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho ngưòi lao động bị thu hồi đất ở các KCN
[24]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[25]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[31]. Tuyển tập các công trình khoa học kỹ thuật nông nghiệp năm 2003, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các công trình khoa học kỹ thuật nông nghiệp năm 2003
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
[33]. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Tính bền vững của sự phát triển nông nghiệp ở miền Bắc, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính bền vững của sự phát triển nông nghiệp ở miền Bắc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
[3]. Hoàng Văn Dụ (2006) " Chính sách phát triển các KCN ở Nhật Bản và những bài học cho Việt Nam&#34 Khác
[11]. Phan Văn Biên và cộng sự ở Viện KHNN miền Nam (2005) , Nông nghiệp đô thị và nông nghiệp ven đô thị Khác
[32]. UBND xã Nghi xá (2004) " Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 - 2010&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tình hình đất đai của xã giai đoạn 1995 - 2008 - Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của xã giai đoạn 1995 - 2008 (Trang 41)
Bảng 3.3:  Tình hình dân số và lao động của xã - Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện
Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động của xã (Trang 42)
Bảng 3.5: Tình hình sử dụng đất trên địa bàn 3 xóm năm 2008 - Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện
Bảng 3.5 Tình hình sử dụng đất trên địa bàn 3 xóm năm 2008 (Trang 46)
Bảng 3.6. Tình hình thu hồi đất sản xuất trên địa bàn 3 xóm - Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện
Bảng 3.6. Tình hình thu hồi đất sản xuất trên địa bàn 3 xóm (Trang 48)
Bảng 3.7 Tình hình lao động trong các hộ bị thu hồi đất trên địa bàn - Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện
Bảng 3.7 Tình hình lao động trong các hộ bị thu hồi đất trên địa bàn (Trang 49)
Bảng 3.8: Thực trạng lao động - việc làm của hộ nông dân bị thu hồi  đất sản xuất trên địa bàn - Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện
Bảng 3.8 Thực trạng lao động - việc làm của hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất trên địa bàn (Trang 53)
Bảng 3.10.  Phân bổ thời gian lao động của lao động bị thu hồi  đất sản xuất trên địa bàn năm 2008- 2009 - Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện
Bảng 3.10. Phân bổ thời gian lao động của lao động bị thu hồi đất sản xuất trên địa bàn năm 2008- 2009 (Trang 60)
Bảng 3.11: Biến động thu nhập của các hộ trước và sau khi thu hồi đất - Đánh giá tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá đến đời sống sinh kế của dân cư cấp huyện
Bảng 3.11 Biến động thu nhập của các hộ trước và sau khi thu hồi đất (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w