1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm truyện ngắn xuân diệu qua tạp truyện phấn thông vàng và trường ca

65 2,3K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm truyện ngắn xuân diệu qua tạp truyện phấn thông vàng và trường ca
Tác giả Hoàng Thị Kim Cúc
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn Lợi, PTS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 310 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự biểu hiện của tớnh trữ tỡnh ở từng thể loại, vỡ thế mà cú khỏcnhau: Thể loại tỏc phẩm tự sự ngoài việc phản ỏnh đời sống mang tớnhkhỏch quan của nú – qua cỏi phần tồn tại vật chất với

Trang 1

Lời giới thiệu

Sự bàn giao phạm trù văn học trung đại và văn học hiện đại Việt Nam, đợc

đánh dấu bằng một mốc son lịch sử văn học: Cuộc Cách Mạng văn học giai đoạn1930-1945.Trong giai đoạn này ,văn học Việt Nam đang có những bớc chuyển mạnh

mẽ, sôi động ở mọi trào lu, mọi khuynh hớng và mọi thể loại

Đây là thời kỳ có tính chất bùng nổ của văn xuôi - cả về số lợng và chất lợngtác giả ,tác phẩm Đợc xem là dấu hiệu hiện đại hóa của văn học nớc nhà

Trong số đó , Xuân Diệu nổi lên với hai tập truyện "Phấn thông vàng"(1939) và " Trờng ca " (1945) - đã in đậm dấu ấn trong dòng văn học "Truyệnngắn trữ tình"; cũng nh trong lòng độc giả yêu quý nhà văn - bởi truyện mangnhững đặc điểm độc đáo

Suốt quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của thầygiáo Nguyễn Văn Lợi , thầy giáo Đinh Trí Dũng và các thầy cô giáo khác ở khoaNgữ Văn - Trờng đại học Vinh Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn về sự giúp đỡ đó

Dù cố gắng rất nhiều, nhng do nguồn t liệu có hạn, cũng nh kinh nghiệm cònhạn chế ,nên khoá luận còn nhiều thiếu sót Kính mong đợc sự góp ý chân thành củaquý thầy cô và các bạn

III Đối tợng, nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu 3

Nội dung

Chơng I: Một số vấn đề lý luận quanh khái niệm truyện ngắn“truyện ngắn

Trang 2

trữ tình ” 5

1 Khái niệm truyện ngắn trữ tình “truyện ngắn ” 5

1.2 Sự thâm nhập thể loại tạo nên “truyện ngắntruyện ngắn trữ tình” 7

2 Truyện ngắn trữ tình trong văn xuôi trớc cách mạng. 8

Chơng II: Đặc điểm truyện ngắn Xuân Diệu qua tập truyện

Phấn thông vàng và Tr

“truyện ngắn ” “truyện ngắn ờng ca ” 18

1 Truyện của Xuân Diệu là loại truyện ý t“truyện ngắn ởng ” 18 1.1 Khái niệm “truyện ngắntruyện ý tởng” 18 1.2 “truyện ngắnTruyện ý tởng” trong văn xuôi Xuân Diệu 19 1.2.1 Khác nhau giữa truyện luận đề – truyện ý tởng 19 1.2.2 Truyện ý tởng là sáng tạo độc đáo của nhà văn 21

2 Nhân vật ý t“truyện ngắn ởng ” – mảnh phân thân của tác giả. 26 2.1 Khái niệm chung về nhân vật văn học 26 2.1.1 “truyện ngắnNhân vật văn học” là gì? 26

2.1.2.1 Các loại nhân vật văn học 26 2.1.2.2 “truyện ngắnNhân vật ý tởng” – một dạng của nhân vật t tởng 272.2 Biểu hiện của nhân vật ý tởng trong tác phẩm Xuân Diệu 28 2.2.1 Loại nhân vật tồn tại mờ nhạt giữa cuộc đời 29 2.2.2 Loại nhân vật có ý thức và khát vọng sống 32 2.2.2.1 Nhân vật có tên cụ thể hoặc không tên 32 2.2.2.2 Nhân vật tự xng tên – nhân vật “truyện ngắntôi” 34

3 Kết cấu của truyện chảy theo mạch cảm xúc tâm trạng. 383.1 Kết cấu trong tác phẩm văn học 383.1.1 Khái niệm “truyện ngắnkết cấu” 383.1.2 Các bình diện và cấp độ của kết cấu 393.2 Một kiểu kết cấu đặc biệt – rất Xuân Diệu 41

4 Ngôn ngữ văn xuôi giàu chất trữ tình và rất gợi cảm. 474.1 Giọng điệu trữ tình pha chút buồn duyên dáng 474.2 Ngôn ngữ trần thuật độc đáo, nhiều sắc điệu 52

Trang 3

Văn học đã chuyển mình ở mọi khuynh hớng, trào lu và mọi thể loại.

Đây chính là quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc 1930-1945

Mời lăm năm Văn học Việt Nam đã đi hết chặng đờng của nền văn họcnớc khác hàng trăm năm - cụ thể là ở Pháp: chuyển từ văn học cổ điển đến cậnhiện đại mất gần ba thế kỷ ( từ thế kỷ XVII - đến cuối thế kỷ XIX)

Các thể loại: tiểu thuyết, phê bình, kịch, tùy bút, thơ đều hồ hởi vớinhững thành tựu mới

Nghệ sỹ lên đờng Họ đặt ngòi bút của mình ở nhiều thể loại khácnhau: nếu Vũ Trọng Phụng thành công trong lĩnh vực phóng sự và tiểuthuyết; Nhất Linh, Khái Hng ở loại truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình vàkịch; Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân đa truyện ngắn tiến dần

đến mẫu mực của nghệ thuật; thì Xuân Diệu cùng Thạch Lam, Thanh Tịnh,

Hồ Dzếnh - cũng thể nghiệm trên thể loại truyện ngắn, nhng đã có cách tânsáng tạo - mang phong cách riêng độc đáo Đó là thể loại “truyện ngắntruyện ngắn trữtình”

Xuân Diệu bằng tập truyện ngắn trớc cách mạng của mình là “truyện ngắnPhấnthông vàng” và “truyện ngắnTrờng ca” - đã cho độc giả thấy ông là ngời độc đáo và tàihoa trong văn cũng nh trong đời; một kiểu mẫu nhà văn lấy mình làm điểmtựa - để nói về cuộc đời với nhiều ý tởng lạ - đợc chắt lọc và sáng tạo từ vốnsống thờng nhật

Đúng nh giáo s Hà Minh Đức nhận định “truyện ngắnchuẩn mực cao nhất là chấtlợng, bài viết phải góp phần nói lên đợc đặc điểm và phong cách của tácgiả” 5 , 10  ; chúng tôi trên cơ sở kế thừa có chọn lọc thành tựu của nhữngngời đã nghiên cứu về văn xuôi Xuân Diệu, muốn góp thêm tiếng nói làm rõhơn vấn đề về đặc điểm truyện ngắn của nhà văn Xuân Diệu, qua hai tậptruyện kể trên - để thấy ông rất thành công ở lĩnh vực này Đây chính là lý

do khiến chúng tôi quyết thực hiện đề tài

II Lịch sử vấn đề :

Trang 4

Từ phơng diện lý luận: “truyện ngắnTruyện ngắn trữ tình” nói chung, và “truyện ngắntruyệnngắn trữ tình Xuân Diệu” nói riêng - là một thuật ngữ cha đợc sử dụng nhiềutrong các tài liệu, giáo trình lý luận văn học Rải rác trong một số bài viết,công trình nghiên cứu đã có đề cập đến vấn đề này: ý kiến của Lại Nguyên

Ân, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Đăng Mạnh, M.Khrap chen kô đợc đa radới dạng những nhận định có tính bao quát về một số thuộc tính hay vấn đềnào đó của loại truyện này Về cơ bản, đều nói đó là hình thức văn xuôi tự

sự nhng mang nội dung trữ tình Nghĩa là các tình huống, sự kiện đợc đancài, luôn quện chặt vào cơ cấu trữ tình của tác phẩm Do đó, truyện in đậmdấu ấn chủ quan và nặng về biểu hiện

Từ thực tiễn nghiên cứu những sáng tác của Xuân Diệu: trong sứcviết bền bỉ và mãnh liệt, Xuân Diệu để lại cho đời sự nghiệp văn chơng đồ

sộ ở nhiều thể loại - nh thơ, dịch thơ, bút ký, tiểu luận Tơng ứng điều đó,hơn nửa thế kỷ qua cũng có nhiều bài phê bình, nghiên cứu về tác phẩm củaXuân Diệu, nhng chủ yếu là thơ Những bài viết về văn xuôi nhìn chung là

ít, nhng giá trị của nó mang lại thì rất lớn Bài viết chủ yếu ở các tác giả têntuổi: Hà Minh Đức, Lu Khánh Thơ, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Ngọc Phan

Trong bài “truyện ngắnXuân Diệu - một tài năng đa dạng” , nhà nghiên cứu LuKhánh Thơ cho rằng: truyện Xuân Diệu có “truyện ngắnnhững trang văn thật đẹp vớinhững câu văn, những hình ảnh đợc trau chuốt, gọt giũa kỹ càng” trong

“truyện ngắngiọng điệu riêng, tinh tế, mợt mà pha chút buồn duyên dáng”  15 , 13  Nguyễn Đăng Mạnh với bài “truyện ngắnVài cảm nghĩ về văn xuôi Xuân Diệu” lại viết thế này: “truyện ngắnvăn xuôi Xuân Diệu là văn xuôi của một ngời làm thơ, củamột thi sĩ đầy kinh nghiệm Đọc những áng văn của ông, thấy rất nhiều kỹthuật thơ đợc vận dụng” 11 , 104

Hay Vũ Ngọc Phan ở cuốn “truyện ngắnNhà văn hiện đại” , đến phần Xuân Diệuvới tập “truyện ngắnPhấn thông vàng” , tác giả đã gọi đó là những “truyện ngắnbài thơ không vầnkhông điệu” , là “truyện ngắnchuyện của tâm hồn”

Và ngay cả Hoài Thanh - Hoài Chân trong cuốn “truyện ngắnThi nhân Việt Nam” cũng nhận định: “truyện ngắnLời văn Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi Xuân Diệu viếtvăn tựa trẻ con học nói hay nh ngời ngoại quốc võ vẽ tiếng Nam Câu văntuồng bỡ ngỡ Nhng cái dáng bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn ngời.Dòng t tởng quá sôi nổi không thể đi theo những đờng có sẵn ý văn xô đẩy,khuôn khổ câu văn phải lung lay” 16 , 108 

Phần lớn các ý kiến nêu trên đều khẳng định và nhấn mạnh đến sựxuất hiện của một tài năng nghệ thuật và lu ý đến độ chín của ngôn từ, đếncả hơng vị và nhạc điệu của những lời văn mang đậm chất thơ

Trang 5

Dù chính xác, song nh thế thì cha đủ Các tác giả ấy mới nghiên cứu

về văn xuôi Xuân Diệu có khi khái quát, có khi chỉ dừng ở một số vấn đề

-mà cha ai đi sâu, khám phá đặc điểm truyện ngắn Xuân Diệu qua hai tậptruyện “truyện ngắnPhấn thông vàng” và “truyện ngắnTrờng ca” Chính vì thế, ngời viết muốn tìmhiểu kỹ hơn về vấn đề này

III Đối tợng, nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu:

Đối tợng nghiên cứu của đề tài là: Đặc điểm truyện ngắn Xuân Diệuqua hai tập truyện “truyện ngắnPhấn thông vàng” (1939) và “truyện ngắnTrờng ca” (1945)

Với đối tợng này, chúng tôi xác định nhiệm vụ cụ thể của đề tài làphải làm sáng tỏ nhng biểu hiện của đặc điểm truyện Xuân Diệu (về thểloại, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ ) Từ đó khẳng định những đóng góp và ýnghĩa về hiện đại hóa thể loại trong loại truyện ngắn trữ tình Xuân Diệu Qua đề tài này, với đối tợng và nhiệm vụ nh trên, chúng tôi sử dụngmột số phơng pháp sau: Phơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát,thống kê

IV ý nghĩa thực tiễn của khoá luận:

- Kết quả nghiên cứu của khoá luận có thể dùng làm tài liệu thamkhảo cho sinh viên chuyên ngành

- Khoá luận cũng có thể dùng cho những ngời có nhu cầu tìm hiểu về

đặc điểm truyện ngắn Xuân Diệu - qua hai tập truyện trớc Cách Mạng kểtrên của nhà văn

V Cấu trúc khoá luận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận còn có hai chơng chính

và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 6

NộI DUNG Chơng I một số vấn đề lý thuyết quanh khái niệm

“truyện ngắn trữ tình”

1 Khái niệm “truyện ngắn trữ tỡnh”.

1.1 Tớnh trữ tỡnh.

Ở đõu cú cuộc sống con người, ở đú cú văn học Con người lại luụn

cú nhu cầu bày tỏ, giói bày tỡnh cảm, cảm xỳc của mỡnh ra ngoại giới Nắmbắt điều đú, văn học phản ỏnh đỳng cỏi mà con người và xó hội yờu cầu.Bởi thế tớnh trữ tỡnh (tức là bộc lộ tỡnh cảm) sẽ cú ở cả cỏc tỏc phẩm trữ tỡnh

và tỏc phẩm tự sự Tất nhiờn, ở tỏc phẩm trữ tỡnh là chủ yếu

Sự biểu hiện của tớnh trữ tỡnh ở từng thể loại, vỡ thế mà cú khỏcnhau: Thể loại tỏc phẩm tự sự ngoài việc phản ỏnh đời sống mang tớnhkhỏch quan của nú – qua cỏi phần tồn tại vật chất với cỏc việc làm vàhành động của con người; nú cũng cũn phản ỏnh thế giới bờn trong, baogồm tõm trạng cảm xỳc, ý nghĩ của con người nữa Nhưng như Hờghennúi : “Cần phải trần thuật về những tỡnh cảm, những suy nghĩ cũng nhưtất cả những gỡ bề ngoài, như một cỏi gỡ đó xảy ra, đó núi ra, đó nghĩra”[6, 461] – nghĩa là như những “sự kiện”: Khụng tỏch rời khỏi cỏigiọng trần thuật trầm tĩnh đối với chỳng Thế nờn, Hờghen lại tiếp: “sựkiện cỏ biệt, như tụi đó núi nhiều lần, là cỏi hỡnh thức làm cho tự sự trởthành tự sự trong ý nghĩa đớch thực của từ đú”[6,461] Với ý nghĩa đú,nhà văn tự sự kể về nhõn vật nghĩ gỡ, cảm thấy vui sướng hay đau khổ như những đối tượng đem ra phõn tớch, nhận biết Điều này cho thấy, tớnh

trữ tỡnh dự cú trong văn xuụi núi chung, trong tỏc phẩm tự sự núi riờng

-nhưng, nú chỉ mang vị trớ thứ yếu, do bị chi phối bởi đặc trưng thể loại

Trang 7

Ngược lại, ở tác phẩm trữ tình lại khác: tính trữ tình được xem là đặcđiểm nổi bật Nghĩa là thế giới chủ quan con người, cảm xúc tâm trạng, ýnghĩ được trình bày trực tiếp, và làm thành nội dung chủ yếu :

Hôm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

(Ca dao)

Ngoài cảm xúc và tâm trạng khắc khoải nhớ mong, ta khó biết thêmđiều gì khác về con người và nguyên nhân cụ thể dẫn tới nỗi niềm đó Lấy

ví dụ khác trong văn học đương đại:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim

(“truyÖn ng¾nTõ Êy” – Tè H÷u)

Không có câu chuyện gì, cũng không có mâu thuẫn, xung đột gì cụ thể

ở đây cả Điều tác giả muốn giãi bày là trạng thái tâm hồn mình từ khi đượcgiác ngộ lý tưởng của Đảng Các khổ tiếp sau, càng để rõ hơn ý tưởng đó

Vậy thì, những câu ca dao xưa, tới những bài thơ đương đại, dấu hiệuchung của tác phẩm trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan củacon người: những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ Dĩ nhiên, như vậy không

có nghĩa là tác phẩm trữ tình không ph¶n ánh thế giới khách quan Vẫn có

Vì, mọi cảm xúc, suy nghĩ của con người đều bắt nguồn từ hiện thực nào đóhay suy nghĩ về vấn đề gì trong hiện thực Do đó, các sự kiện đời sống đượcthể hiện một cách gián tiếp Cũng có bài thơ trực tiếp miêu tả bức tranhphong cảnh làm ta xúc động :

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá, đá chen hoa

Trang 8

Nhớ nước đau lũng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cỏi gia gia.

(Bà huyện Thanh Quan)

Song, đến đõy thỡ khụng phõn biệt nổi tả ngoại giới hay nội tõm Vỡnhững tiếng chim đều mang đậm tõm trạng tỏc giả

Hay ở cõu thơ khỏc, tỏc giả ngoài việc núi được những day dứt bănkhoăn, õn hận của mỡnh một cỏch chõn thành; cũng đó biểu hiện được tõm hồnquần chỳng nhõn dõn - đối với người cha già, vị lónh tụ vĩ đại của dõn tộc Việt:

Trờn đầu túc Bỏc sương ghi Chắc đụi sợi đó bạc vỡ chỳng con.

1.2 Sự thõm nhập thể loại tạo nờn “truyện ngắn trữ tỡnh”.

Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam đang có những bớc chuyển mạnh

mẽ, sôi động ở mọi trào lu, khuynh hớng và mọi thể loại

Riêng ở thể loại văn xuôi: đây là thời kỳ có tính chất bùng nổ rất mạnh:cả về số lợng và chất lợng tác giả cũng nh tác phẩm Điều này đã góp mộtphần không nhỏ vào quá trình hiện đại hoá của nền văn học dân tộc

Bên cạnh sự lĩnh hội và phát triển không ngừng ở các thể loại nh thơ,tiểu thuyết, phóng sự, tuỳ bút, phê bình cùng các tác giả tên tuổi; thì thểloại truyện ngắn cũng nở rộ và chiếm vị trí đặc biệt trên văn đàn dân tộc; nósớm tiến dần đến mẫu mực của dân tộc Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân,Nam Cao những nhà văn đầy tài năng ấy đã tạo đợc những thành côngkhiến ngời khác không thể bắt chớc Họ sôi nổi và ồn ào,vì họ đầy sự kiện Cũng viết về truyện ngắn, có một nhóm tác giả lặng lẽ hơn: XuânDiệu, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh và Thạch Lam Họ lặng lẽ, nhng họ nh nhữngvòng sóng lan xa, lan xa Những đặc sắc ấy, ngấm ngầm nuôi dỡng cảm xúc

Trang 9

của họ - trong sự giao cảm với ngời đọc Họ tạo ra dòng truyện ngắn mới:

“truyện ngắntruyện ngắn trữ tình” Hay nói theo cách của Vũ Ngọc Phan, thì là truyệntình cảm

“truyện ngắnTruyện ngắn trữ tình” là một trong nhng loại hình chủ yếu của vănxuôi nghệ thuật Loại hình này dung hợp, thu nạp vào bản thân nó những tốchất,những thể loại, những gam màu thẩm mỹ khác nhau - tạo nên tính nhậpnhằng, lỡng phân khó chia tách Du nhập mạnh mẽ cảm xúc trữ tình vào vănxuôi, làm cho văn xuôi thực sự trở thành những bài thơ-văn xuôi nồng ấm,lắng đọng nh là u thế của loại hình này Đặc biệt, truyện ngắn trữ tình thờng

có u thế nghiêng về biểu cảm hơn là miêu tả, nặng về biểu hiện chủ quanhơn là tái tạo khách quan Do vậy, đọc truyện này, độc giả có cảm giáctruyện nghiêng về phương thức “thơ húa” trong nghệ thuật tự sự - tạo ramột thứ văn xuụi mượt mà, đậm đà ý vị, ảo mà thực, say mà tỉnh với màusắc đậm nột

Như vậy, do yờu cầu của thể loại truyện ngắn, cựng với cỏ tớnh sỏngtạo của những nhà văn cú cựng quan điểm – như Xuõn Diệu, Thạch Lam,Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh – đó cho ra đời một thể loại văn học mới, loại

“truyện ngắn trữ tỡnh”, mà núi như Xuõn Diệu là nằm trờn “lưng chừng giữahai biờn giới” [ 2, 7-8] của thơ và văn xuụi, rất phong phỳ và hấp dẫn độcgiả vụ cựng

2 Truyện ngắn trữ tỡnh trong văn xuụi trước cỏch mạng

2.1 Trong văn xuụi núi chung.

Cựng với sự vận động chuyển mỡnh trờn hành trình hiện đại húa củavăn học dõn tộc núi chung từ đầu thế kỷ XX đến 1945 - những người nghệ

sỹ với tài năng và tấm lũng đầy nhiệt huyết của mỡnh, đó và đang ngày đờmtỡm tũi, khỏm phỏ ra cỏi mới trong nghệ thuật – mà phục vụ đụng đảo tầnglớp nhõn dõn Nếu Vũ Trọng Phụng hăng say với thể loại tiểu thuyết vàphúng sự, thành cụng ở lĩnh vực đú, được mệnh danh là “ụng vua phúngsự” đất Bắc Kỳ; thỡ Nam Cao, Nguyễn Cụng Hoan, Nguyễn Tuõn lại khẳngđịnh vị trớ vững chắc ở thể loại truyện ngắn; khụng ồn ào, rất lặng lẽ, cỏc tỏcgiả: Thanh Tịnh, Xuõn Diệu, Thạch Lam và Hồ Dzếnh do cú ảnh hưởng lẫn

Trang 10

nhau trong sự tìm kiếm, thể nghiệm các mô hình văn xuôi – nhưng chịu sựquy định rất lớn của cá tính sáng tạo – đã tìm được cho mình một lối điriêng khi sáng tác truyện ngắn Truyện ngắn trữ tình ra đời.

Truyện ngắn trữ tình là một trong những loại hình văn xuôi tiêu biểuthời kỳ 1930 – 1945 Nó cũng là một bộ phận của văn xuôi dân tộc và mangnhững đặc trưng sau :

Truyện ngắn trữ tình ra đời trên cơ sở của những tiền đề xã hội, vănhóa và thẩm mỹ mới Sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức cá nhân là điểm xuấtphát có ý nghĩa quan trọng cho hình thành loại hình văn xuôi này Ý thức cánhân vừa được nhìn với tư cách là một trọng tâm nghệ thuật, lại là chất liệuchính yếu trong cấu trúc nhân vật Cạnh đó, ý thức cá nhân cũng đã thúcđẩy những phát kiến và tìm tòi mô hình văn xuôi theo nhiều hướng - nhằm

mở rộng, đào sâu tiềm năng của văn xuôi nghệ thuật trong tiến trình pháttriển thể loại Điều này phù hợp với quy luật vận động nội tại của nền vănxuôi trưởng thành - thể loại truyện ngắn trữ tình Và nó cũng chính là căn rễcủa việc lựa chọn, thể nghiệm hướng sáng tạo mới phù hợp với ý nghĩathẩm mỹ, đặc điểm tố chất nghệ sÜ, tạng riêng trong cá tính sáng tạo của mỗinhà v¨n

TruyÖn ngắn trữ tình giai đoạn 1930 – 1945 đã thể hiện nguyên tắccảm thụ cuộc sống độc đáo, riêng biệt: Sự hòa quyện giữa chất thực và chấtthơ; giữa tự sự và cảm xúc trữ tình, giữa hiện thực vµ lãng mạn, tạo nên mộtbiến tấu mang tính dung hợp, nước đôi nằm trên đường biên của nhiều địahạt Ở đó tố chất hiện thực thường mang sắc độ nhạt hơn – so với chất thơ:bởi hiện thực trong truyện không được nhìn ở góc độ trực tiếp, khách quan

- mà thường qua sự lắng lọc, kết tinh ở tâm hồn và cảm xúc; ngoài ra hiệnthực ấy còn được xoa dịu, được làm mát bởi trữ lượng dạt dào của chất thơ,hay của cảm xúc trữ tình Sự thâm nhập thơ vào trong văn xuôi làm cho thểloại truyện này giảm bớt được sắc thô mộc, trở nên tinh tế, mềm mại có sứclay động truyền cảm

Trang 11

Tiếp đến là sự thay đổi trong phương thức cảm nhận và chiếm lĩnhhiện thực, đã kéo theo những thay đổi tương ứng trong phương thức tự sự -yếu tố cơ bản của cấu trúc hình thức loại hình đã cã từ lâu nay Thay đổi ấy

có ở nhiều phương diện: có ở tư thế người trần thuật, là mang sắc thái chủquan rõ rệt thể hiện cá tính sáng tạo đậm nét và đôi khi vẫn mang lối kểkhách quan, nhưng nhà văn sẽ tìm cách đưa vào đó những trải nghiệm cótính tự thuật và không ít máu thịt của tâm hồn mình; thay đổi điểm nhìn trầnthuật (là chủ quan hóa lời kể để thâm nhập vào thế giới nội tâm, cảm giáccủa nhân vật); cốt truyện bị đẩy xuống dòng thứ yếu, chú trọng tạo dựngtình huống truyện để khơi mở tâm trạng; Ngôn ngữ cũng đã thành kiểu song

âm giữa nhân vật và tác giả, để hiện diện hai giọng nói trên một phát ngônduy nhất Đây là cách nhập vào cõi tiềm thức, vô thức rất sống động củanhân vật; cuối cùng là sự thâm nhập của ngôn ngữ thơ vào ngôn ngữ vănxuôi, khiến cho tính trữ tình lại càng tinh tế và giàu dư vị

Đặc điểm thi pháp bao trùm có ý nghĩa quy tụ để tạo thành diện mạo,đường nét xác định riêng cho truyện ngắn trữ tình là: sự du nhập, hòa trộngiữa cảm xúc trữ tình vào văn xuôi, làm cho văn xuôi gần thơ hơn Chấtthơ, tính trữ tình trong văn xuôi là điểm tụ để tạo nên hình hài, vóc dángcho loại hình văn xuôi này Và ở truyện kiểu này, luôn luôn có sự tăngcường màu sắc chủ quan, cá tính trong tổ chức kết cấu trần thuật cũng chính

là hệ quả xuất phát từ yêu cầu “thơ hóa”, tạo tính trữ tình cho những thôngbáo trong những phương thức tự sự ở truyện ngắn trữ tình

Như thế, sự ra đời của loại truyện ngắn trữ tình với những đặc trưngnêu trên – cho thấy thể loại có hướng sáng tạo đầy triển vọng, bởi nó biết đisâu cày xới cái “vương quốc vô tận” của đời sống tinh thần con người Nó có

ưu thế đặc biệt trong việc biểu hiện những cảm nhận suy nghĩ, đánh giá củanhà văn trước hiện thực và khả năng tự biểu hiện Nhưng nó cũng tiềm ẩnnguy cơ dễ lặp lại mình, hay “tự ăn dần mình” rất rõ Nó còn thiếu đi cáikhông khí xô bồ, dữ dằn của cuộc đời thực cũng như sức khái quát những

Trang 12

vấn đề xã hội rộng lớn, phức tạp Tuy nhiên, thế mạnh mà thể loại mang đếnvẫn là chính yếu Và, những thành công mà truyện ngắn các tác giả : XuânDiệu, Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh đưa lại; thấy truyện ngắn trữ tình

là một dòng chảy bắt rễ khá sâu trong văn mạch dân tộc và được tiếp nối, bổsung ngày một dồi dào, phong phú Điều đó tự nó đã nói lên vị trí của thể loạitrong tiến trình phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung

2.2.Trong văn xuôi Xuân Diệu.

Con người Xuân Diệu dường như sinh ra để làm thơ: Một trái timgiàu có, chân thật, sôi nổi và hết sức nhạy cảm Nhưng con người ấy cũngkhông thể không đến với văn xuôi, vì đấy là một tâm hồn rất đỗi thèm kháttri âm tri kỷ - không phải chỉ trong giới tao nhân mặc khách mà với tất cảmọi người Hơn ai hết, Xuân Diệu hiểu rằng: thơ hay văn xuôi đều tácđộng thấm thía vào lòng người Nhưng thơ kín quá, cô đúc và khó nói đượcnhiều điều; còn văn xuôi lại cho phép nói đầy đủ hơn, cặn kÏ, chi tiết vàmạc lạc, sáng sủa hơn Bởi thế hàng loạt các tác phẩm văn xuôi của ông

ra đời

Song, “văn xuôi Xuân Diệu là văn xuôi của một người làm thơ, củamột thi sỹ đầy kinh nghiệm” [12] - Đấy là văn xuôi mang phong cách trữtình Cụ thể hơn trong tác phẩm Xuân Diệu là loại “truyện ngắn trữ tình” Ở

đó, yếu tố chủ quan tác giả luôn được thể hiện đậm nét và chiếm ưu thế.Đồng thời, đây còn là kiểu truyện không có cốt truyện, mà cấu tứ lại giốngnhư bài thơ trữ tình xinh xắn Do đâu có hiện tượng này? Là do đặc sắc củatruyện : là sự kết hợp và tạo sự cân bằng giữa thơ và văn xuôi, giữa chất thực

và chất trữ tình Sự kết hợp này đã khiến cho văn xuôi xích lại gần thơ, giàusức truyền cảm và khă năng gợi thức, đặc biệt có ưu thế trong việc thể hiệnmột cách tinh tế những cảm xúc và cảm giác nhiệm màu của con người

Để chứng thực điều này, sẽ thấy rõ hơn qua hai tập truyện ngắn củanhà văn, là “Phấn thông vàng” (1939) và tập “Trường ca” (1945)

Trang 13

Nổi lên ở loại truyện này là cảm xúc trữ tình đợc thể hiện sắc nét,

đó là hiện thực về lũ mốo hoang “bơ vơ, cực khổ, đúi khỏt, nhơ nhớp”,

khiến Sơn thấy thương vụ cựng; nhưng cảm xỳc hiện thực ấy chỉ cú trong

chốc lỏt, nhường chỗ cho những cảm tưởng như thế này : “Dầu đúi khỏt,

dầu phải tỡm vỏ tụm hay xương cỏ ở nơi thựng rỏc, dự phải đỏnh cắp những

bộ ruột gà người ta vứt đi, dự khổ sở thế nào, những con mốo hoang vẫn giữ lấy vẻ quý phỏi – quý phỏi chứ khụng phải trưởng giả Cỏch đi đứng, cỏch nhai nuốt, cỏch nõng nhẹ những vật thừa thói đều rất cú cỏi duyờn của những bà hoàng sẩy ngụi hay những cung nữ hết thời Chỳng bước dố dặt, khụng muốn mỡnh dớnh vào đất dơ, chỳng cú cỏi đặc tài giữ chõn cẳng trơn tru, dự phải giậm qua nhớp nhỳa Và hễ thong thả, chỳng bốn tỉ mỉ tắm gội Những cơn đúi khụng bắt chỳng lành tớnh sạch sẽ; tuy là mốo hoang, chỳng vẫn là mốo” Như chưa đủ, tỏc giả cũn để nhõn vật kể thờm : “Chỳng nhảy mau … chỳng vọt cao, chỳng bổ thấp Chỳng khinh luật thăng bằng, chỳng khụng sợ chiều dưới, và khụng nể chiều trờn Chỳng khụng thể ngó …

Cú phải chỳng nú sống trong một cỏi đời ở trờn cuộc đời hay khụng ?” (Mốo

hoang) Đọc đoạn văn, người ta vẫn thấy nhiều điều phự hợp thực tế ở loàiđộng vật này, nhưng nổi lờn vẫn đậm chất trữ tỡnh tràn đầy …

Niềm thương cảm xút xa cũn ở cỏi hiện thực ảm đạm, đỡu hiu của

“Cỏi ao đời phẳng lặng” – nơi những người như hai nàng kiều Quỳnh, Giaohay anh chàng Phan, cựng cỏc ụng thầy giỏo với anh học trũ Tư … tự nhốt

và đày đọa mỡnh trong đú bởi những việc khụng đõu Họ chỉ như những cỗmỏy di động, “tồn tại”mà khụng “sống” Họ thực đỏng chỏn bởi vỡ họ đỏngbuồn Những con người này thực đang sống cuộc đời vụ nghĩa lý ! Nhưng,chỉ ra cuộc đời “vụ nghĩa lý” tỏc giả khụng phải để ghột bỏ hay khinh khinhững nhõn vật kể trờn; lớn hơn rất nhiều – là mong muốn con người kiahóy sống lại đi Hóy sống cú nghĩa lý đi: lao vào cuộc đời mà sống và tậnhưởng tỡnh yờu và tuổi trẻ mà đời ban tặng đi Như thế mới là sống ! Vỡ xộtđến cựng, những con người kia đó yờu bao giờ đõu, mà đũi “sống” Hiện

Trang 14

thực đã được tỏi hiện qua cỏi nhỡn thương cảm, xút xa và con tim ấm ỏp,chõn thành của Xuõn Diệu Nhà văn vỡ thế hơn những con người bỡnhthường chỗ ấy.

Cạnh việc tạo ra cho mỡnh một phương thức tiếp cận và chiếm lĩnhhiện thực như đó phõn tớch ở trờn; Xuõn Diệu cũng tạo được cho mỡnhnhững thủ phỏp về nghệ thuật tự sự - giỳp phục vụ tốt cho hoạt động sỏngtạo ở thể loại truyện ngắn trữ tỡnh Chớnh là sự thay đổi điểm nhỡn, hệ quychiếu trong phương thức nắm bắt đời sống và nội dung tự sự Những biếnthỏi này tạo thành những đặc điểm riờng trong cấu trỳc loại hỡnh truyệnngắn trữ tỡnh

Ở khúa luận này, chỳng tụi khảo sỏt năm phương diện cơ bản trongnghệ thuật tự sự

Thứ nhất, ở chủ thể kể: tồn tại hai dạng lối kể khỏch quan và chủquan, ở lối kể chủ quan: Xuõn Diệu sử dụng hỡnh thức trần thuật từ ngụi thứnhất xưng “tụi” – nhõn vật cú mặt trong cõu chuyện, do đú tự nú kể lại Tựcỏch dẫn truyện này vừa cú thể miờu tả, đỏnh giỏ và bộc lộ mỡnh một cỏchtrực tiếp; vừa cú ưu thế trong việc thõm nhập vào thế giới nội tõm sốngđộng của nhõn vật Từ đú tạo thành phạm vi chủ quan, tớnh chủ quan cho lời

kể Hỡnh thức này chiếm tỉ lệ khỏ lớn trong tỏc phẩm của Xuõn Diệu và cúhai dạng cơ bản sau: Dạng một, “tụi” – nhõn vật trong cõu chuyện kể:Người kể này mang tiờu điểm trần thuật, lại cũnglà chủ thể của ngụn từđược sử dụng Anh ta kể lại một chuyện đó xảy ra với mỡnh, mang tớnh chấtnhư một sự chứng nghiệm : ở Thạch Lam, hỡnh thức này thường gắn vớikiểu nhõn vật tự thỳ, tự thức tỉnh Người kể vẫn phõn tớch mổ xẻ mỡnh đểthả sức đi sõu vào những trạng thỏi tõm lý phức tạp với nhiều mõu thuẫn nộitại khú lường – như ở truyện “Một cơn giận”, “Sợi túc”, “Tỡnh xưa”; ởXuõn Diệu lại khỏc: là những dạng thức húa thõn (Cỏi hỏa lũ, Truyện cỏigiường, Hoa học trũ) Hỡnh thức này để thỳ nhận, trần tỡnh và bộc lộ thếgiới nội tõm của chớnh mỡnh; Cũn dạng thứ hai: “tụi” – hỡnh tượng người kể

Trang 15

chuyện: xuất hiện ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi” với tư cách là người trầnthuật Dạng này cho phép nhà văn tự biểu hiện mình một cách rộng rãi, vàtác phẩm trở thành “chứng minh thư tâm lý” của nhà văn Hình tượng “tôi”trong truyện ngắn của Xuân Diệu vừa là người khát khao yêu đời, mongmuốn chia sẻ, vừa là con người giàu lòng “thương vay” trắc ẩn cho những

số phận cùng khổ Cái “thần” tâm tính và tạng riêng của nhà văn được địnhhình trong kiểu kể này là yêu đời, dị ứng cảnh sống mù xám buồn hiu nhưtrong truyện “Tỏa nhị kiều” hay “Thương vay”

Cạnh lối kể chủ quan như trên, truyện Xuân Diệu còn có lối kể kháchquan: Theo truyền thống lâu đời, nghệ thuật kể chuyện này thường tiếnhành từ ngôi thứ ba, không hề nhân vật hóa Nhưng đặc điểm độc đáo vớitruyện ngắn trữ tình này là chất tự thuật in dấu khá rõ Ở đây, những biến cố

và ấn tượng về đời sống riêng tư đã thành căn rễ và dự đồ sáng tạo nghệthuật tác giả Và nội dung tự truyện không trùng khít với chi tiết hay biến cốtrong cuộc đời nhà văn mà nó rộng hơn, bao gồm những trải nghiệm, nếmtrải, tình cảm, tâm lý, cá tính

Phương diện thứ hai, ở điểm nhìn trần thuật : Đây là điểm xuất phátcủa một cấu trúc nghệ thuật Nó chiếu cái nhìn vào các yếu tố được lựachọn, thêm bớt, nhấn lướt và được suy ra từ cái nhìn tổng thể đối với cấutrúc một tác phẩm Nếu kể theo lối kể chủ quan, truyện ngắn trữ tìnhthường đặt điểm nhìn vào nhân vật và điểm nhìn của hình tượng người trầnthuật (đặt điểm nhìn vào nơi nhân vật, trao quyền cho nhân vật, tác giả cóthể khơi mở được trạng thái tâm lý bất thường, khó hiểu - dưới hình thức tựthú, còn nếu vào người trần thuật thì mọi việc được kể dưới trường nhìn củamột chứng nhân Điểm nhìn này thấy cả một thế giới của cảm xúc, cảm giác

mơ hồ được thể hiện mơ hồ, tinh tế) Như truyện: “Giã từ tuổi nhá” , “Trongvườn mơn trớn” Tuy nhiên, dù kể theo cái nhìn của ai, thì điểm nhìn tâm lý

- nhìn sâu vào cõi lòng nhân vật, từ tâm trạng nhân vật mà nhìn ra, đã trởthành chủ yếu ở thể loại truyện này

Trang 16

Phương diện thứ ba: Là tự sự phi cốt truyện: đặc điểm tự sự ở thể loạitruyện ngắn này là tính chất phi cốt truyện hóa Nó cốt tạo ấn tượng, cảmxúc hơn là một cốt truyện sắc nhọn và giàu kịch tính Cái mới trong thipháp cốt truyện, ở truyện ngắn trữ tình không phải ít biến cố và sự kiệncùng xung đột, mà là ở cách tổ chức biến cố, sự kiện ấy ra sao trong tácphẩm Xuân Diệu ở tác phẩm của mình đã phá vỡ “tính cố sự” và giảiphóng cốt truyện khỏi chức năng truyền thống - Tất cả các bước có trongcốt truyện chỉ làm cơ sở để tạo không khí cho cảm xúc, cảm giác được nảysinh Vì thế, vai trò quan trọng trong cấu trúc tác phẩm loại này không cònthuộc về cốt truyện, mà là cái duyên cái tài của người kể Truyện ngắn “Banàng công chúa” thể hiện rất rõ quan điểm này: sức hấp dẫn và cái duyênkhông nằm ở cốt truyện mà ở yếu tố ngoài cốt truyện – là cảm nghĩ thaycho tự sự, trạng thái cña tâm hồn thay cho sự kiện và biến cố … Điều nàybiến đổi chủ thể sáng tạo: từ người viết văn xuôi trở thành thi sỹ trong khảnăng cảm nhận và tự biểu hiện mình.

Trong phương diện thứ ba này, tạo dựng tình huống truyện cũngkhông thể thiếu Vì khi cốt truyện bị đẩy xuống dòng thứ yếu, truyện trữtình thường chú ý và tạo dựng tình huống truyện Tình huống này khôngnhằm thúc đẩy hành động nhân vật hay khái quát mâu thuẫn của đời sống,

mà nó chỉ đóng vai trò khởi nguồn, châm ngòi cho việc lý giải nguồn cơncủa những tâm trạng, biến thái tinh thần của nhân vật - rồi đặt nhân vật vàotình huống nào đó díi dạng là xúc tác để mô tả, lý giải chiều sâu bí ẩn trongtâm hồn Sau đó biết chớp lấy những khoảnh khắc đặc biệt để gợi nênnhững cảm giác mơ hồ nhưng đầy ám ảnh về con người: Có khi là tìnhhuống phản tỉnh, là khả năng tự ý thức của con người khi bất ngờ đối diệnvới lương tâm hay số phận của mình Ở Xuân Diệu qua truyện ngắn của ông

là cảm giác hụt hẫng, vỡ mộng của sự tan vỡ các ảo tưởng về tình yêu vềlòng yêu đời, ham sống; Có lúc lại là tình huống trở về của nhân vật : nhânvật sống trong hồi ức, kỷ niệm, tìm về những ngày đã qua với niềm tiếc hận

Trang 17

thấm thớa (Cỏi hỏa lũ, Đứa ăn mày, Gió từ tuổi nhỏ); khi khỏc cú thể là tỡnhhuống khơi mở tõm lý: tỡnh huống này tiờu biểu nhất ở truyện ngắn trữ tỡnh

để làm giàu thờm cừi lũng bớ ẩn của con người – vỡ cú những khoảnh khắcngắn ngủi bất ngờ, nhưng khi đó thõu túm được, cú thể khơi mở, đỏnh độngnhững rung cảm khẽ khàng, tinh tế ở bờn trong

Ngụn ngữ trần thuật là phương diện thứ tư – cú trong nghệ thuật tự sựcủa loại truyện ngắn trữ tỡnh này: Là ngụn ngữ song õm mang tớnh đối thoạitõm tỡnh - thứ ngụn ngữ cú pha lời nhõn vật và tỏc giả - trờn một nền phỏtngụn duy nhất nhưng hiện diện hai thứ tiếng núi quyện chặt vào nhau; cũnnữa là sự du nhập giữa ngụn ngữ thơ với ngụn ngữ văn xuụi: sự du nhậpnày làm cho truyện ngắn cú cấu trỳc như một bài thơ trữ tỡnh, với một kếtthỳc bỏ lửng gợi nhiều bõng khuõng, liờn tưởng Cỏi lối ngỏ khụng núi gỡ,

đó tạo dư ba cho cõu chuyện Lời kể đó kết thỳc nhưng dư ba vẫn cũn ngõnvang; và kỹ thuật điệp khỳc, cơ cấu lặp lại và cấu trỳc song song trong tổchức ngụn ngữ thơ - được vận dụng vào trong văn xuụi (cụ thể là truyệnngắn trữ tỡnh) đó tạo ra tiết điệu nhạc cảm của tõm trạng và õm hưởng trữtỡnh cho cõu văn

Phương diện thứ năm là giọng điệu trữ tỡnh trong truyện: giọng điệuchịu sự quy định của bản lĩnh, tài năng, phong cỏch và cỏ tớnh sỏng tạo.Ngoài ra nú cũn liờn quan chặt chẽ với loại hỡnh Truyện ngắn trữ tỡnh donghiờng về ưu thế biểu cảm nờn chất giọng thường đằm thắm, tõm tỡnh vàthấm đượm nỗi buồn; giọng thanh tịnh và mang sắc điệu đằm thắm, dịungọt, phảng chỳt buồn man mỏc; Hồ Dzếnh cũng buồn nhưng xu hướng hồi

cố đậm sõu với tiếng thở dài chua xút Cũn giọng văn Xuõn Diệu dự trữ tỡnhnồng nàn, say đắm nhưng ẩn dấu kớn đỏo một nỗi buồn vương …

Như vậy, hũa chung trong dũng chảy của văn học Việt Nam giai đoạn

1930 – 1945, dũng “truyện ngắn trữ tỡnh” Với những đặc trưng riờng của nú,

đó xỏc định được cho mỡnh một chỗ đứng vững chắc trong lũng độc giả cũng

Trang 18

như trên nền văn xuôi dân tộc Việt Nam Sự đóng góp cho thể loại ở các tácgiả Xuân Diệu, Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịch – là rất đáng kể …

Ch¬ng II

§Æc ®iÓm truyÖn ng¾n xu©n diÖu qua hai tËp truyÖn “phÊn th«ng vµng” vµ “trêng ca”

Trang 19

Tỡm hiểu đặc điểm truyện ngắn của Xuõn Diệu trước cỏch mạng,chỳng ta khụng thể bỏ qua yếu tố nổi bật trong tỏc phẩm văn xuụi của ụng,

đó chớnh là tớnh trữ tỡnh

Thụng thường người ta vẫn thường gặp tớnh trữ tỡnh trong cỏc tỏcphẩm thơ Nhưng ở đõy, dưới sự sỏng tạo độc đỏo của Xuõn Diệu, tớnh trữtỡnh ấy – đó được mang một nội dung thể hiện khỏc lạ - trong tỏc phẩm vănxuụi của nhà văn

Thực vậy, nột khỏc lạ ở đõy chớnh là sự cảm nhận của một nhà thơviết văn – mà thường chỉ hay thấy hiện tượng nhà văn làm thơ Đặc biệtchớnh là ở chỗ đú! Xuõn Diệu khi này xuất hiện trong phong cỏch một nhàthơ viết văn, nờn tất cả cỏc hiện tượng của đời sống đều được nhỡn nhậndưới con mắt lóng mạn bay bổng, dạt dào của một thi sĩ … Tớnh trữ tỡnhtrong tỏc phẩm văn xuụi Xuõn Diệu – vỡ thế mà được thể hiện rừ hơn Haynúi khỏc đi, là ở truyện ngắn của tỏc giả luụn cú sự giao thoa giữa chất vănxuụi với thơ ca, giữa tự sự với trữ tỡnh …

1 Truyện của Xuõn Diệu là loại “truyện ý tưởng”.

1.1Khỏi niệm truyện ý tưởng.

Từ trước đến nay, khi nhắc đến khỏi niệm “truyện” - một thể loại tự

sự của tỏc phẩm văn học nghệ thuật - người ta thường nghĩ đến cỏc tiểu loạinhư: truyện cổ, truyện cười, truyện ngắn, truyện ký, truyện phim … Bởi ởloại này cỏc yếu tố: cốt truyện, hệ thống nhõn vật, cũng như chi tiết trongtỏc phẩm - rất quan trọng và khụng thể thiếu trong một tỏc phẩm Song cúmột loại tỏc phẩm, mà ở đú, cỏc yếu tố kể trờn – khụng cũn cú vị trớ chớnhyếu – nú chỉ là nột phụ cho ý tưởng của tỏc giả được bộc lộ giói bày Đú làloại “truyện ý tưởng”

Như vậy, vấn đề đặt ra: “truyện ý tưởng” là loại truyện như thế nào?

Để giải đỏp cõu hỏi này, chỳng tụi xin mượn ý của nhà văn Xuõn Diệu như

sau: Ở loại truyện ý tưởng, “truyện khụng cú chi là chuyện cả” ; truyện chỉ

cú “những ý tưởng chảy thành tràng giang, những tỡnh cảm tỏa ra một

Trang 20

bóng chiều ôm ấp, một trái tim đương đập theo nhịp đời …” Và rồi, tác giả

khái quát rằng : “Ở lối truyện ý tưởng, truyện là một cái cớ để cởi mở tấm

lòng” [2, 7-8].

Để hiểu rõ hơn nữa bản chất loại truyện này, chúng ta sẽ đi sâu tìmhiểu qua các tác phẩm văn xuôi của Xuân Diệu Cụ thể là qua hai tập truyện

“Phấn thông vàng” và “Trường ca”

1.2.Truyện “ý tưởng” trong văn xuôi Xuân Diệu.

1.2.1 Khác nhau giữa “truyện luận đề” và “truyện ý tưởng”.

Ngay ở lời dẫn trong tập “Phấn thông vàng” (1939), Xuân Diệu đãgọi ngay những tác phẩm văn xuôi của mình là loại “truyện ý tưởng” Rồi

để làm rõ hơn, ông còn chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa hai loại truyện ýtưởng với truyện luận đề (tiểu thuyết luận đề) Mục đích sâu xa là để nêubật cái ý tưởng của tác giả trong loại truyện ý tưởng này

Xuân Diệu cho rằng: nếu lối truyện luận đề, “truyện là một phương

kế để chiến thắng”; thì ở lối truyện ý tưởng “truyện chỉ là cái cớ để cởi mởtấm lòng”

Đại diện cho lối truyện luận đề, có thể kể đến Nhất Linh, KháiHưng - những tác giả cùng thời với Xuân Diệu Hai tác giả này cùngviết theo lối truyện luận đề: họ thường tìm cho tác phẩm của mình mộtthứ triết lý nào đó Sau đó tìm cách “đặt vấn đề” cùng với cách kếtthúc đã được định sẵn Và cách kết thúc ấy thường éo le hoặc khác hẳnlôgic cuộc sống, đôi khi không thật và quá khiên cưỡng; “Đời mưagió”(Nhất Linh) và tiểu thuyết “Trống mái”(Khái Hưng) là những tácphẩm như thế Trong đó tác phẩm “Đời mưa gió”(Nhất Linh) đượcxem là tiêu biểu hơn cả

Có người coi cuốn tiểu thuyết “§ời mưa gió” như bản lề về giaiđoạn sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn nói chung và của Nhất Linh nóiriêng : giai đoạn tích cực và giai đoạn xuống dốc Đây là cuốn tiểu thuyết

Trang 21

luận đề về con người cá nhân Từ đó thấy quan điểm của tác giả đã bộc lộnhững sai lầm và méo mó trên luận đề này.

Tiểu thuyết kể về nhân vật Tuyết - một cô gái xinh đẹp con nhàlành Do bị ép duyên mà chán nản và gia nhập cuộc đời mưa gió …Chương - một thầy giáo hiền lành đã ra tay cứu giúp Tuyết khi cô lâmvào cảnh khó Sau lần ấy, Chương quên ngay hành động nghĩa hiệp củamình, vì cho đó là chuyện thường tình Anh đang yêu một cô gái khác tênThu Nhưng do có sự hiểu lầm, tình cảm giữa họ rạn nứt Chương rấtchán nản, Tuyết lại thường xuyên đến quyét dọn nhà cửa và nấu ăn đểcảm ơn Chương Rồi Chương phát hiện ra Tuyết là một cô gái giang hồ(bản thân Tuyết cũng thừa nhận điều ấy) Anh đã tha thứ và mong Tuyết

từ bỏ con đường cũ và trở về với anh … Họ cưới nhau Song chỉ hơn batháng, Tuyết chán nản lại lao v o cuéc sèng giang hå cña ngµy ào cuéc sèng giang hå cña ngµy xưa Rồi

có tin Tuyết chết…

Ở cuốn tiểu thuyết này, Nhất Linh đã ném ra một kiểu con người cánhân nổi loạn: Tuyết Nhân vật không bị chi phối bởi lôgíc đời sống,mà bịchi phối bởi tâm lý của nó

Nghĩa là tác giả đã cố tình tạo ra một kiểu con người : luôn tôn thờ cáilối sống tự do phóng túng; Tuyết còn chủ trương phá bỏ gia đình, đi theocái mà cô gọi là “tự do” Nhưng thực chất đấy chỉ là một cuộc sống vôđịnh… Cô cũng từng có được hạnh phúc của một mái ấm gia đình, song, tựbản thân lại không muốn ổn định và bảo vệ cái đang có Nên Tuyết lại ra đi

và lao vào cuộc đời mưa gió – trong triết lý của riêng cô “lấy một thằng đànông lại hóa ra làm nô lệ cho một thằng đàn ông…” Một tư tưởng sai lầm vàkhông phù hợp trong thực tế cuộc sống của con người ! Điều đó khiến chođộc giả cảm thấy nhân vật này không thật

Nhìn chung, kiểu truyện luận đề là như thế Sẽ rất khác so với loạitruyện ý tưởng mà Xuân Diệu sáng tạo ra Điều này sẽ được minh chứngqua hai tập truyện ngắn của nhà văn là “Phấn thông vàng” và “Trường ca”

Trang 22

1.2.2.Truyện ý tưởng là sỏng tạo độc đỏo của Xuõn Diệu

Khỏc về bản chất so với loại truyện luận đề, truyện ý tưởng của XuõnDiệu mang nhiều nột đặc biệt: dự gọi là “truyện” nhưng truyện ấy khụng cúchi là truyện cả, truyện khụng cú đầu đuụi, cụng việc, khụng cú sỏng hụmtrước và chiều hụm sau; truyện “chỉ cú một ớt đời và nhiều tõm hồn, hợp lạithành bao nhiờu nghĩ ngợi bõng khuõng, khụng cốt để giải trớ người ta, màtrỏi lại, để xui trớ người thờm bận vẩn vơ, lưởng vương”… Truyện kiểu ấy,tỏc giả gọi là “truyện ý tưởng” - loại truyện mà ở đú “truyện chỉ là cỏi cớ đểcởi mở tấm lũng” như đó nhắc ở phần trờn

Ngoài ra cũng ngay ở lời dẫn của tập “Phấn thụng vàng” tỏc giả thờmmột lần nữa khẳng định kiểu loại truyờn này: truyện ý tưởng cũn để ghi lại

õm điệu của lũng người; và truyện nổi lờn trờn hết là “những ý tưởng chảythành tràng giang, những tỡnh cảm chảy ra một búng chiều ụm ấp một trỏitim đương đập theo nhịp đời … Một ớt truyện ở ngoài cũng đủ gợi trămtruyện trong cừi sống bờn trong”; Do đó khi đọc truyện của Xuõn Diệu,nhiều lỳc người ta cú cảm giỏc: “viết về cỏi gỡ” khụng là vấn đề khiến tỏcgiả quan tõm; mà tỏc giả chỉ quan tõm đến việc: bắt nhận được “cỏi gỡ đú”

để viết, rồi từ đú mà thể hiện những ý nghĩ, cảm tưởng của mỡnh trờn nhữngtrang văn Song điều ấy khụng làm cho tỏc phẩm thiếu tớnh khỏch quan,ngược lại, nú rất tự nhiờn mà khụng kộm phần tinh tế và sõu sắc

Hai mươi hai truyện ngắn, trờn dưới 200 trang, Xuõn Diệu cũng núitới tỡnh yờu, núi tới những cuộc sống của con người bỡnh thường Cạnh đú,ụng cũn hướng đụi mắt tinh nhạy của mỡnh tới những điều rất nhỏ nhặt,tưởng chừng khụng có gì đỏng núi – để mà viết nờn truyện Đú đơn giản chỉ

là chuyện một họa sĩ đi vẽ; một anh học trũ siờng năng cần mẫn như Tư;một cỏi búng người qua đường cõm lặng, lẩn thẩn như ma; một lũ chú mốohoang lang thang khụng tổ ấm, chẳng miếng ăn cực nhục; hay cú khi là mộtchỳ lái giàu muụn ức triệu muốn ban phỏt tài lộc của mỡnh cho nhõn gian;lại cũng cú lỳc người ta nhớ và tiếc nuối về thời tuổi nhỏ … Nhưng, ẩn sõu

Trang 23

trong mạch ngầm của văn bản, mỗi truyện ngắn - tự nó đều biểu thị một ýnghĩa riêng – song hành với ý tưởng của tác giả.

Trong dòng văn học Việt Nam 1930 – 1945, nếu so sánh truyện ngắncủa Xuân Diệu với truyện ngắn của các tác giả khác cùng thời - thấy đượcnhiều nét khác biệt

Cụ thể hơn, so sánh trong dòng truyện ngắn trữ tình, người ta thấydòng truyện ngắn của Thạch Lam hiện khá rõ đề tài người nông dân vàngười trí thức với những tình huống đặt ra không phải là không có nhữngtrăn trở, buồn đau; Còn truyện của Thanh TÞnh lại mang đậm cái không giancủa làng quê Việt Nam – làng Mỹ Lý: nơi có con sông êm ả chảy qua, cónhững cô gái e lệ mà khát khao cháy bỏng hạnh phúc, có những kiếp ngườilao động nghèo khổ, mộc mạc … ; Còn Hồ Dzếnh, như là tự truyện, mỗitruyện ngắn của ông là một hình ảnh về người thân trong gia đình hay làngxóm hiện về trong ký ức …

Nhìn sang dòng văn học hiện thực phê phán: Ngô Tất Tố, NguyễnCông Hoan quan tâm nhiều đến cái đói của những kiếp người nghèo khổ.Nhưng nếu Nguyễn Tất Tố đặc biệt lưu tâm đến nạn sưu thuế đè nặng lênvai người nông dân; thì Nguyễn Công Hoan lại chú ý nhiều đến mâu thuẫngiữa kẻ giàu người nghèo trong xã hội; Vũ Trọng Phụng nhấn mạnh ngòibút vào việc phân tích, mổ xẻ một xã hội văn minh Âu hóa rởm đời có đầynhững trò hài hước cùng những bi kịch dữ dội …

Như thế, c¸c tác giả Êy, khác với Xuân Diệu, đang có nhiều chuyện

để viết thành truyện Xuân Diệu không thế, ông nhặt nhạnh những câuchuyện chẳng có gì “độc đáo”, rất “xoàng xĩnh”, tủn mủn … rồi quan sát,cảm nhận bề sâu và cất lên tiếng nói của mình về ý nghĩa cuộc sống quanhững trang văn xuôi

Có thể tìm thấy trong truyện ngắn của Xuân Diệu ở hai tập truyện

“Phấn thông vàng” và “Trường ca” – hai ý tưởng chủ đạo: hoÆc lµ kh¸t

Trang 24

vọng sống hết mình, sống có ý nghĩa; hoặc là lũng thương xút, cảm thụngđối với lớp người nghốo khổ và khỏt vọng cú nhiều tỡnh thương.

Ở ý tưởng thứ nhất, khỏt vọng sống hết mỡnh và sống cú ý nghĩa:khụng chỉ đơn thuần là nhõn vật trong truyện tự ý thức được cuộc sống củamỡnh – như chàng họa sĩ trong truyện ngắn “Phấn thụng vàng”, như chỳ lỏikhờ - thi sĩ giàu cú đó ban phỏt lũng mỡnh cho nhõn gian, và cả là nhân vật

“truyện ngắntôi” hoá thân ở những truyện “truyện ngắnChuyện cái giờng” hay “truyện ngắnHoa học trò” luônmong muốn đợc sống để cống hiến sức mình cho cuộc sống con ngời; Bêncạnh đó, ở ý tởng thứ hai, còn là việc tác giả thực sự xót thơng cho kiểu ngời

“truyện ngắntồn tại” mà không “truyện ngắnsống” – nh anh chàng Phan, hai cô gái Quỳnh , Giao

và cả ông bố của các cô trong truyện ngắn “truyện ngắnToả nhị kiều” Rồi sự xót thơng

ấy còn ở cả anh chàng T (Ngời học trò tốt) – Cái anh chàng siêng năngchăm học đến độ không biết cuộc sống là gì: Không vui chơi, không yêu đ-

ơng, không gì hết… chỉ biết đến việc chỉ biết đến việc “truyện ngắntự đày mình trong sự học hành, trong

sự chinh phục ngôi thứ và khi chàng thành công là lúc chàng thất bại hẳn” ;

Nếu ở khía cạnh thứ nhất: Nhân vật ý thức đợc cuộc sống của mình; thì ởkhía cạnh thứ hai này: Nhân vật vì không ý thức đợc cuộc sống của mình,nên qua câu chuyện, tác giả khát khao nhân vật hãy “truyện ngắnsống lại” để mà hởngthụ những gì vốn là của con ngời có tự ngàn xa

Theo Xuân Diệu, cuộc sống chỉ có nghĩa khi con ngời sống hết mìnhvới tình yêu trần thế Hơng vị và không khí tình yêu ấy không chỉ có tronglòng ngời, mà còn lảng bảng khắp trời đất: cả trong cảnh sắc thiên nhiên vàtrên cỏ cây hoa lá Nên dới con mắt của một thi sĩ đa tình, thiên nhiên bốn

mùa nh cũng mang một ý nghĩa khác: Thu không phải là mùa thu sầu “truyện ngắn ấy là mùa thu yêu , mùa yêu nhau bằng linh hồn, mùa những linh hồn yêu mến nhau … Trời muốn lạnh nên ng Trời muốn lạnh nên ng ời ta cần nhau hơn … Trời muốn lạnh nên ng Xuân, ng ời ta vì ấm mà cần tình Thu, ngời ta vì lạnh mà rất cần có đôi… Trời muốn lạnh nên ng”(Thu); Chúng ta lại gặp

một trái tim yêu da diết, yêu đến không cần có sự đền đáp nh chàng thi sĩ đối

với nhân gian – trong truyện “truyện ngắnChú lái khờ” : chú lái giả say, tự say, chứ r “truyện ngắn

-ợu làm sao say đợc chú Lái! Chú vẫn tỉnh, nhng chú muốn khờ , ” nên đã cốtình hớ hênh để cho ngời đời lấy đi vàng ngọc chõu bỏu của chỳ Và đấycũng là cỏch Chỳ Lỏi - Thi Sĩ gửi lũng mỡnh đến cuộc đời - bằng một trỏitim yờu của tấm lũng nghệ sĩ; tơng tự, tỡnh yờu của chàng họa sĩ trong

“Phấn thụng vàng” cũng thế: chàng cứ yờu, “lăn vào cuộc sống mà yờu,

Trang 25

yêu, mà cho, cho tất cả lòng tươi thắm của chàng” Bởi chàng hiểu “tình yêu có bao giờ mất”!

Xuân Diệu - một trái tim yêu đến hết và yêu đến chết từng thú nhận:

“Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá; Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì” – đã giúpđộc giả thấy khái niệm “tình yêu” trong truyện ngắn của nhà văn – khôngmang nghĩa bó hẹp là tình yêu đôi lứa; mà đó còn là sù biểu hiện của lòngngười với cuộc sống này … Bởi thế mà cạnh những trang viết hết sức lãngmạn về tình yêu như đã nói ở trên, tác giả còn giành một phần không nhỏtình yêu của mình đến những số phận nhỏ bé có cuộc sống cơ cực và camchịu trong các truyện ngắn: “Thương vay”, “§øa ăn mày”, “Chó mèohoang”, cả trong truyện “Tỏa nhị kiều” … Đó thực sự là những trang vănmang đậm chất hiện thực

Không hiện thực là gì ở hình ảnh bà lão nhà quê nghèo khổ nhập

nhòa trong bóng tối: “Một người bằng thịt, bằng xương, thịt khô và xương

gầy - với một lịch sử chắc chắn khổ sở hết chín phần mười” Nhưng hình

ảnh ấy cũng chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ những suy nghĩ và tình cảm của

mình cho kiếp người nghèo khổ ấy: “Bao giờ lòng thương lại chẳng có

duyên cớ ở trên cái đời cùng cực đau đớn, khổ sở, rách rưới cô đơn này

…” (Thương vay).

Hay trong “Đứa ăn mày”, “Chó mèo hoang”, tác giả vẽ nên số kiếpnhững con người không nơi nương tựa, những loài vật không chốn nươngthân Nhà của chúng là đường, là phố, là những nơi bỏ hoang không hơingười … Với những dòng chữ tràn đầy xúc cảm, chúng ta đọc được ở XuânDiệu sự hòa cảm xót xa với những đối tượng phải sống trong cảnh tối tăm,

bị đời hắt hủi và khinh rẻ

Tìm kiếm tình thương cũng là một biểu hiện của nỗi khát khao giaocảm với con người của Xuân Diệu Ở khía cạnh ý tưởng hiện thực thươngcảm xót đau những kiếp người nghèo đói đã kể trên, chúng ta bắt nhận đượcphần nào nhu cầu tình thương đồng loại của tác giả Đây cũng chính là chỗ

Trang 26

phõn biệt Xuõn Diệu với Thạch Lam hay với Thanh Tịnh: Nếu Thạch Lam,Thanh Tịnh khắc họa những con người nghốo đúi, rỏch rưới chủ yếu là nhấnmạnh sự thiếu thốn vật chất, hoặc dẫn đến sự xộc xệch về linh hồn hay càngtỏa rạng phẩm chất; cũn Xuõn Diệu, cũng nhấn mạnh sự chật vật trong miếngcơm manh ỏo, nhưng quan trọng hơn, điều tỏc giả muốn núi tới là sự thiếuthốn tỡnh thương, là khỏt khao đún nhận sự yờu quý của người đời - một biểuhiện của sự khỏt vọng giao cảm trong Xuõn Diệu.

Như thế ở loại truyện ý tưởng này, thấy nổi lờn trờn hết là những cảmxỳc và suy ngẫm của Xuõn Diệu trước cuộc đời

Truyện ý tưởng cú nội dung rất thơ, rất trữ tỡnh và dĩ nhiờn nú thuộc

về phạm trự của nghệ thuật biểu hiện Núi khỏc đi, kiểu truyện này xột đếncựng cũng là một cỏch thức làm thơ của Xuõn Diệu Ở đú, cỏi tụi trữ tỡnh,cỏi tụi rộng mở của nhà thơ vẫn tràn đầy cảm xỳc mạnh mẽ, dạt dào Cúđiều nú tồn tại trong hỡnh thức khỏc thụi: hỡnh thức văn xuụi mang tớnh trữtỡnh Những truyện ngắn trong hai tập truyện kể trờn đó chứng minh đầy đủcho nhận định này Vậy nờn, dự ở cảm hứng hiện thực hay cảm hứng lãngmạn, thỡ tất thảy Xuõn Diệu cũng chỉ để bộc lộ cỏi ý tưởng của mỡnh màthụi – đú là cỏi tỡnh của nhà văn trước cuộc đời, cũn là niềm khỏt khao đượcgiao cảm với con người, thiờn nhiờn và thế giới - bằng một tỡnh yờu vụcựng, sẵn cú như mỏu trong tim vậy Và ý tưởng ấy – nương nhờ vào chấtthơ sõu đậm kia mà chảy trụi và thấm sõu trong lũng độc giả …

2 “Nhõn vật ý tưởng” - mảnh phõn thõn của tỏc giả.

2.1 Khỏi niệm chung về nhõn vật văn học

2.1.1 “Nhõn vật văn học” là gỡ ?

Để giải quyết cõu hỏi này, chỳng tụi xin mượn ý của “Từ điển tiếngViệt” (Hoàng Phờ cb – NXB Đà Nẵng 2001), và của “Từ điển Thuật ngữvăn học” (nhúm tỏc giả Lờ Bỏ Hỏn, Trần Đỡnh Sử, Nguyễn Khắc Phi cb-NXB Giáo dục.1992) nh sau:nhân vật văn học là đối tợng(thờng là con ng-ời) đợc miêu tả, đợc thể hiện trong tác phẩm văn học nghệ thuật

Trang 27

Xin mượn cả ý trong “150 thuật ngữ văn học” (Lại Nguyên Ân biênsoạn NXB ĐHQG – Hà Nội) : Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật

về con người, là một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của conngười trong nghệ thuật ngôn từ

Tương tự thế, sách “Lý luận văn học” (Tập II, nhóm tác giả TrầnĐình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam) cho rằng : nhân vật văn học làcon người được miêu tả trong văn học - bằng phương tiện văn học

Như vậy, dù không đồng nhất, nhưng khái niệm “Nhân vật văn học”

kể trên – đã có điểm thông nhất, đó là cùng phản ánh một nội dung cụ thể :Cùng chỉ về hình tượng con người từ hiện thực cuộc sống, qua sự “khúc xạ”chủ quan của nhà văn vào trong nghệ thuật, cùng sự trợ giúp của phươngtiện văn học – mà thành kiểu nhân vật văn học Nói cách khác, nhân vật vănhäc chính là cách thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ củanhà văn đối với con người

2.1.2 Phân loại.

2.1.2.1 Các loại nhân vật văn học

Trong văn học nghệ thuật, có nhiều kiểu loại nhân vật khác nhau : xét từphương diện thể loại: có kiểu nhân vật tự sự, nhân vật kịch, nhân vật trữ tình

Ở góc độ kết cấu: lại có nhân vật chính, nhân vật trung tâm và nhânvật phụ

Xét trên khía cạnh cấu trúc nhân vật: có nhân vật chức năng nhân vậtloại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng

Còn ở phương diện tư tưởng của tác phẩm, có hai loại là nhân vậtchính diện và nhân vật phản diện

Như thế, sự phân loại nhân vật như trên – cho thấy nhân vật trong vănhọc là rất phong phú và đa dạng

2.1.2.2 “Nhân vật ý tưởng” - một dạng của nhân vật tư tưởng.

Trang 28

Nếu “nhân vật tư tưởng” là một tiểu loại trong hệ thống nhân vậtphân theo khía cạnh cấu trúc nhân vật; thì loại “nhân vật ý tưởng” lại là mộtdạng của nhân vật tư tưởng

Theo định nghĩa của sách “Lý luận văn học” tập II (Trần Đình Sử,Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam cb NXB Giáo Dục - 1987), thì: loại nhânvật tư tưởng này – tiêu biểu cho một tư tưởng, một ý thức nào đó Chẳnghạn: Các nhân vật như Giăng Van giăng, Giave của Huy Gô, Anđrây của L.Tônxtôi – là những nhân vật tư tưởng Cụ thể hơn: nhân vật Giave hiện thâncho tư tưởng phụng sù pháp luật nhà nước; còn Giăng vangiăng thì hoạtđộng theo tư tưởng nhân đạo phụng sự con người; Nhân vật người điêntrong tác phẩm “Nhật ký người điên” (Lỗ Tấn) hiện thân cho tư tưởng lên

án lễ giáo “đạo đức nhân nghĩa”, “ăn thịt người” của phong kiến trung cổ;Tôn Ngộ Không trong “Tây Du Ký” lại mang tư tưởng nổi loạn đòi tự do, lànhân vật hiện thân cho sức mạnh và trí tuệ của nhân dân trong việc chốnglại cái ác; hay nhân vật AQ của Lỗ Tấn là nhân vật của “Chủ nghĩa AQ”,một di sản tư tưởng tai hại đối với quốc dân Trung Quốc đầu thế kỷ trước

… Chung quy lại, thì loại nhân vật tư tưởng này sẽ biểu hiện những quanđiểm tư tưởng cụ thể mà nhà văn hướng đến

Còn loại “nhân vật ý tưởng”, do là nhân vật trung tâm của loại “truyện ýtưởng”, nên nó nhất thiết phải chịu ảnh hưởng của đặc điểm loại truyện này

mang lại - loại truyện mà nhân vật là: “Chàng này, nàng kia hay ông nọ có hệ

trọng gì đâu ! Miễn là có những ý tưởng chảy thành tràng giang, những tình cảm chảy ra một bóng chiều ôm ấp, một trái tim đương đập theo nhịp đời”.

Như vậy, điều quan trọng trước hết ở đây, không phải là việc khắc họa hìnhtượng nhân vật, số phận nhân vật – mà là ý tưởng Nhân vật nếu xuất hiệntrong tác phẩm, chỉ là cái cớ để làm rõ thêm ý tưởng, cảm xúc trong thế giớitâm hồn tác giả Ví dụ: nhân vật Quỳnh và Giao (trong Tỏa nhị kiều) – xuất

hiện trong không khí tù đọng “không ánh sáng, chẳng hơi người” và sống

cuộc đời yên ổn đến độ bình lặng ấy – tác giả muốn qua đó thể hiện tư tưởng

Trang 29

của mình rằng: mỗi cá nhân con người, để không bị xóa mờ bản thân trongdòng đời, cần phải sống sâu sắc và có ý nghĩa, sống với tất cả những gì mìnhnghĩ và làm tất cả những gì mình quan niệm Phải tránh sự chết cứng tronglinh hồn như hai cô Quỳnh và Giao kia - một kiểu sống mà như đã chết.

Tóm lại, xét đến cùng, “nhân vật ý tưởng” là một dạng của nhân vật

tư tưởng Dù mỗi loại nhân vật mang những đặc điểm riêng biệt, nhưng tựuchung lại, chúng đều nhằm mục đích khái quát và biểu thị tư tưởng, quanđiểm của nhà văn Vấn đề sẽ được giải quyết rõ hơn trong các truyện ngắncủa Xuân Diệu

2.2 BiÓu hiện của “nhân vật ý tưởng” trong văn xuôi Xuân Diệu.

Thông thường, khi xây dựng tác phẩm văn học nghệ thuật, nhà văntrước hết phải xây dựng và lựa chọn cho tốt nhân vật hay hệ thống nhân vật

- bởi nhân vật là một phương tiện chuyển tải nội dung tư tưởng của nhà vănđối với nhân sinh; Do vậy, tìm hiểu nhân vật cũng chính là tìm hiểu thế giớinghệ thuật tác giả, qua đó giúp ta nhìn nhận rõ ràng và khách quan hơn thếgiới tâm hồn tác giả

Việc quan tâm đến nhân vật trong tác phẩm văn xuôi Xuân Diệu cũngkhông nằm ngoài mục đích trên Nghiên cứu “nhân vật ý tưởng” (trong loạitruyện ý tưởng) – là để thấy rõ hơn cái tư tưởng và cảm xúc của Xuân Diệuvới cuộc sống

Như đã chứng minh ở trên, nhân vật ý tưởng có mặt trong tác phẩm,không gì ngoài việc biểu hiện quan điểm của nhà văn trước cuộc sống Chonên, nhân vật kiểu này rất dễ rơi vào công thức, rồi trở thành cái loa phátngôn tư tưởng của tác giả

Chúng ta đã biết quá rõ nhân vật của Xuân Diệu là nhân vật ý tưởng.Nhưng việc trở thành cái loa phát ngôn tư tưởng cứng nhắc như trên dườngnhư không xảy ra; vì nhân vật của tác giả mang đậm chất trữ tình và cảmxúc nên đã lấn át tất cả Do đó, cái lưu lại lớn nhất trong lòng độc giả khiđọc truyện của Xuân Diệu – là những ý tưởng độc đáo mà tác giả đề cập

Trang 30

qua hệ thống nhân vật – trên hai loại cơ bản: loại nhân vật tồn tại mờ nhạtgiữa cuộc đời; và loại nhân vật có ý thức và khát vọng sống.

2.2.1 Loại nhân vật tồn tại mờ nhạt giữa cuộc đời

Ở loại nhân vật này, Xuân Diệu trước nhất chú ý đến những nét vẽ vềmặt ngoại hình Song, nét vẽ ấy lại là nét vô nghĩa, hài hước thái quá, khiếnngười khác phải chán ngán, buồn cười đến mức thương hại

§Êy là ngoại hình của những ông thầy giáo trong truyện “Thương

vay” rất đơn điệu và tẻ nhạt : “Ờ ông Viên, cái trán cao như một cái lầu,

xương cao như một tấm đá; ông Bính, miệng cười như khóc, méo mó một cách hãi hùng; ông Thịnh, hai tay chốc chốc lại kéo lại cái quần tây, như

sợ tụt; ông Lịnh, sau vài tiếng nói, lại “hớ!”, “hớ!” nghĩa là : hiểu không : Nghe chưa? Sao họ buồn cười thế”.

Hay là những cô gái, như Phi : “Đôi mắt nàng nhỏ vàTàu Mí mắt hơi

xếch lên, màu xanh trong, không khi nào mở rộng để ngạc nhiên hay giận

dữ … Mắt đẹp, cô Phi che dấu một linh hồn luôn luôn ở trong thầm kín mơ

hồ Mà cả đôi má hồng chỉ phơn phớt bình minh, cả nét môi chúm lại chỉ thắm vừa vừa, cả khuôn mặt nhỏ nhắn cám dỗ người, cũng Á Đông như cô Phi e lệ” (Sợ).

Cũng thế, là hình ảnh của “Cô Quỳnh, cô em hiền lành quá với đôi

mắt yên ổn như không Cô hơi xinh Mặt cô tròn Hay nhíu đôi mày cong,

cô có vẻ trẻ con lắm …”; Còn “cô chị, dường như có một tật nhỏ nơi chân : bước đi của cô cao thấp không đều”; Rồi như để bổ trợ cho hai nhân vật

trên, còn có sự xuất hiện của ông bố trong ngoại hình kỳ quặc : m¾t «ng“truyÖn ng¾n

trßn nh hai chÊm mùc, miÖng h¬i qu¹u, đôi môi giơ tới trước như kình với ai” – cùng cái anh chàng hàng xóm tên Phan : “Phan, cái anh chàng khó hiểu làm sao ! … Kiểu mặt Á đông, mắt nhỏ và dài không biết chứa những

gì trong vẻ mập mê kín hẹp ấy …” Và có đôi khi, nhân vật “tôi” “gặp được nơi khóe môi anh một chút nhíu da giống như một phần sáu nụ cười” Thật

là khó hiểu !

Trang 31

Ngoại hình các nhân vật ấy phản ánh phần nào con người của họ Tất

cả gợi nên cái gì đó trống rỗng, “như không” và “hư vô” (Tỏa nhị kiều),đơn điệu vô cùng …

Đặc tả những nét vẽ về ngoại hình cho kiểu nhân vật tồn tại mờ nhạtgiữa cuộc đời - với Xuân Diệu – như thế là chưa đủ Nhà văn muốn để nhânvật sinh động hơn, qua việc miêu tả hành động của nhân vật Có điều, hànhđộng đó có thực, mà cũng như không, bởi nó chỉ là một vòng tuần hoànluẩn quẩn, khép kín và lặp đi lặp lại đến độ buồn tẻ

Nhân vật có khi chỉ biết đến vòng quay : học – thi, rồi tự đày mìnhtrong chinh phục ngôi thứ, tự lúc nào đã quên đi và xa lạ với những thú vuicủa đời thường, xa lạ cả cái men say cuộc đời – tình yêu lứa đôi – như anh Tưtrong truyện ngắn “Người học trò tốt”: Tư quá ham học (nhưng thực ra Tư cày

chứ không học), nên “chàng hoàn toàn xa lạ với cái thú nện giày chan chát

trên hè phố, ưỡn ngực nở cho dải ca vát phồng lên, đi mạnh như xuân, trong quần áo gọn”; rồi “Tư bóp nghẹn thương nhớ, như bóp nghẹn thanh xuân”, nên ái tình “đã tàn đi rồi, không nở lại nữa” – dù mới 23 tuổi đầu.

Có khi nhân vật còn “buồn buồn ngồi đó, trên trường kỷ, chờ đợi một

sự gì xảy ra”, mà không có biểu hiện gì đáng gọi là một hành động có ý

nghĩa của con người Quỳnh và Giao cứ vậy, chỉ ngồi và ngồi Vô nghĩa, vôhồn và lạnh lẽo …

Con người ta sinh ra trong đời này – luôn ý thứcđược rằng: cuộc sốngchỉ có nghĩa khi ta biết sống, lao động và biết yêu Vậy mà loại nhân vật tồntại mờ nhạt giữa cuộc đời - lại không hề biết đến điều đó: họ xa lạ với cuộcsống sôi động xung quanh, họ không dám thử nghiệm những buồn vui củacuộc đời, những hờn giận yêu thương Nói là yêu nhưng họ muốn êm đềm,

bình lặng và chẳng nhọc nhằn gì: tình yêu với Thu khác nào “gói bạc ta cất

được vào rương khóa kỹ, niêm phong, bỏ vào buồng, rồi đóng cửa ngủ yên” (Cái dây không đứt) Bởi thế Thu mới không hiểu nổi tình yêu dạt dào

và mãnh liệt của người yêu

Trang 32

Với Phi, tình yêu cũng không khác mấy: “Phi nghe ái tình như một

bóng trăng; lòng nàng lâng lâng sương mờ, nàng cũng không đủ chú ý để gọi tên sự mới mẻ vừa đến trong ấy” … Nàng cho rằng : “yêu là dễ, yêu là thường” Nhưng “thực ra nàng không xét, không rõ; nàng phớt qua trên mặt, nàng không đến trong tim của ái tình” Vì vậy, nàng không thể đón

nhận hết tình yêu của người yêu – là Châu Tình nhiều làm cho Phi sợ, Phisụp Nàng hết dám yêu Châu (Sợ)

Yêu là biểu hiện trọn vẹn nhất của cuộc sống Phi, Thu, Tư, Giao,Quỳnh hay Phan đã bao giờ “sống” để mà yêu đâu Họ lạ, họ sợ, họ rút lui

là kết quả tất yếu

Những kiếp người kể trên sống trong tối tăm, bằng lặng và rỗngtuyếch, đã đau xót rồi Nhưng xót hơn nữa là họ không ý thức được sức ỳthảm hại của bản thân: họ cứ sống an bằng từ giờ này sang giờ khác, từngày này qua ngày nọ Họ sống một cuộc sống của con người thừa Họ thực

sự mới chỉ “tồn tại” mà không “sống”, bởi chính họ tự làm cho cuộc sốngcủa họ mờ nhạt đi … Nỗi thương vay của tác giả vì thế mà càng ngập trànhơn Rồi, qua đó, tác giả mong muốn bứt nhân vật ra khỏi cuộc sống u ámhiện tại; lại cũng mong nhân vật tự ý thức được mình - để mà sống cuộc đờitheo cái nghĩa chân thật và trần thế nhất

2.2.2 Loại nhân vật có ý thức và khát vọng sống.

Đối lập với kiểu “nhân vật mờ nhạt” ở trên, là kiểu “nhân vật có ýthức và khát vọng sống” Đó là những nhân vật có tên cụ thể (như tên Châu,Hứa, Sơn, chú Lái khờ) hoặc không tên; đặc biệt là loại nhân vật “tôi” -mảnh phân thân đậm nhất của nhà văn … Tất cả loại nhân vật này - xuấthiện trong tác phẩm, thường để bộc lộ ý tưởng quan niệm sống và thái độcủa Xuân Diệu - đối với cuộc sống hiện thực xung quanh

Đọc các tác phẩm văn xuôi của Xuân Diệu ở hai tập truyện “Phấnthông vàng” và “Trường ca”; độc giả dễ dàng cảm nhận được quan niệmsống thật đơn giản mà sâu sắc của nhà văn - Ấy là việc Xuân Diệu cho rằng

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lại Nguyên Ân (bs), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
[2]. Nguyễn Bao, Toàn tập Xuân Diệu, tập II, Nxb Văn học, 2001 [3]. Xuân Diệu, Những bớc đờng t tởng của tôi, in trong sách toàn tập Xuân Diệu, tập II, Nxb Văn học, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập Xuân Diệu, "tập II, Nxb Văn học, 2001 [3]. Xuân Diệu," Những bớc đờng t tởng của tôi, "in trong sách "toàn tập Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
[4]. Hà Minh Đức, Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ, “ ” in trong Xuân Diệu tình đời và sự nghiệp, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ, "“ ” in trong "Xuân Diệu tình đời và sự nghiệp
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
[5]. Hà Minh Đức, Lời giới thiệu, in trong Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu, "in trong "Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[6]. Hêghen, Mỹ học, tập III, Nxb Nghệ thuật Matxcơva, 1971 (Tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học
Nhà XB: Nxb Nghệ thuật Matxcơva
[7]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tõ ®iÓn thuËt ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[8]. Lê Đình Kỵ, Nhà thơ lãng mạn tiêu biểu nhất, in trong Nghệ Tĩnh g – ơng mặt một nhà văn hiện đại, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ lãng mạn tiêu biểu nhất, "in trong "Nghệ Tĩnh g"– "ơng mặt một nhà văn hiện đại
Nhà XB: Nxb Văn hoá
[9]. Phơng Lựu (cb), Kết cấu là phơng tiện khái quát nghệ thuật, trong sách Lý luận văn học, tập II, Nxb Giáo dục, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu là phơng tiện khái quát nghệ thuật, "trong sách "Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[10]. M.Gorki, Về tơng quan của cái chính xác và không chính xác trong các khoa học chính xác, in trong sách Lôgic và phơng pháp luận khoa học Nxb khoa học, Matxcơva, 1967 (Tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tơng quan của cái chính xác và không chính xác trong các khoa học chính xác, "in trong sách "Lôgic và phơng pháp luận khoa học Nxb khoa học
Nhà XB: Nxb khoa học
[11]. Nguyễn Đăng Mạnh, Vài cảm nghĩ về văn xuôi Xuân Diệu, trong sách Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài cảm nghĩ về văn xuôi Xuân Diệu, "trong sách "Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[12]. Nguyễn Thị Hồng Nam, Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ Xuân Diệu, trong Tạp chí văn học, số 12, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ Xuân Diệu, "trong "Tạp chí văn học
[13]. Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, tập II, Nxb Khoa học xã hội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[14]. Hoàng Phê (cb), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
[15]. Lu Khánh Thơ, Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dôc,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dôc
[16]. Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội,2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w