1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất dân gian trong ngôn ngữ thơ nguyễn bính

52 1,4K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất dân gian trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính
Tác giả Nguyễn Thị Hằng
Người hướng dẫn Trần Anh Hào - Cán bộ giảng dạy khoa Ngữ Văn - Trường Đại Học Vinh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 257,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông là nhà thơ của chân quê thôn dã, với một thứ ngôn ngữ mang đậm chất dân gian dễ hiểu, gần gũi với cuộc sống đời thờng đợc thể hiện qua sự kết hợp tài tình các thể điệu cổ truyền của

Trang 1

Môc lôc

NguyÔn BÝnh

13

Trang 2

Lời nói đầu

Hoa chanh nở giữa vờn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

Mãi mãi khắc sâu trong tâm trí bao thế hệ ngời đọc hình ảnh Nguyễn Bínhvới những câu thơ đậm đà phong vị ca dao, đậm đà chất trữ tình dân gian truyền

thống Nguyễn Bính sẽ trờng tồn với thời gian bởi những danh hiệu: “nhà thơ chân quê , thi sĩ đồng quê , thi sĩ th”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ơng yêu , nhà thơ của h”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ơng đồng gió nội ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th

Mỗi con ngời trong cuộc đời sinh ra, lớn lên và trởng thành theo lối đi riêngcủa mình: Có ngời buông thả nhng cũng có ngời dè dặt, có ngời sôi nổi, nhngcũng có ngời rụt rè, e ấp, có ngời luôn luôn khát khao đi tìm cái mới nhng cũng

có ngời sáng tạo trên những cái truyền thống để đi tìm cái riêng cho mình Tronghoạt động nghệ thuật những cái riêng đó chính là phong cách sáng tạo của mỗinghệ sĩ - những con ong cần mẫn hút nhị hoa để gom mật ngọt cho đời

Với Nguyễn Bính, con đờng độc đáo, riêng bệt mà ông đã chọn để khẳng

định vị trí của mình trong phong trào thơ mới nói riêng và trên thi đàn văn họcdân tộc nói chung là: đa sáng tác của mình tìm về với những giá trị truyền thống,

về với những biểu hiện văn hoá cổ truyền, và đặc biệt ông chủ trơng đi theo ờng phái thơ riêng: dùng chất liệu văn học dân gian để chuyển tải những t tởngmới của thời đại Trong đó ngôn ngữ là một trong những chất liệu quan trọng tạonên phong cách riêng của Nguyễn Bính Đó là một thứ ngôn ngữ đồng quê, dân

tr-dã, gần gũi, dễ hiểu, dễ nhớ, đậm đà chất ca dao dân ca Tìm hiểu “Chất dân gian trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th cũng là tìm hiểu một tài năng và một hồn

thơ lớn

Khoá luận này không ngoài mục đích bày tỏ sự mến yêu và kính trọng ông

- một hồn thơ dung dị, man mác thanh tao nh một làn gió nhẹ xoa dịu cái nóngbức của buổi tra hè, một lối sống chan hoà bình dị

Mặc dù dới sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo hớng dẫn, bản thân cũng đãhết sức cố gắng song do trình độ và điều kiện cá nhân còn hạn chế cho nên bảnkhoá luận chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, bất cập Tôi chân thành mong nhận

đợc sự chỉ bảo góp ý kiến của các thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, các bậc anhchị và các bạn đồng nghiệp để tôi có điều kiện củng cố và hoàn thiện nhận thứccủa mình

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn chu đáo tận tình của thầy giáo TrầnAnh Hào - cán bộ giảng dạy khoa Ngữ Văn - Trờng Đại Học Vinh, sự giúp đỡquý báu của các thầy cô trong tổ Ngôn Ngữ và tôi cũng biết ơn gia đình đã tạo

điều kiện cho tôi học tập và sự động viên khuyến khích của bạn bè gần xa đãgiúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thiện khoá luận tốt nghiệp này

Trang 4

mở đầu

0 1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Bính (1918 - 1966) là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới

Ông là ngời yêu thơ và làm thơ từ tuổi niên thiếu Chàng trai quê xứ Vũ Bản,Tỉnh Nam Định đã vinh hạnh nhận giải thởng Tự Lực Văn Đoàn khi vừa tròn m-

ời tám tuổi với tập thơ: Tâm hồn tôi

Đối với Nguyễn Bính đờng vào thơ của ông khá nhẹ nhàng, thơ mộng nhcảnh làng quê yên ả đã truyền cho ông vốn sống và sự cảm nhận cái chân- thiện-

mĩ qua khung cảnh làng quê với bờ tre cong nghiêng bóng bên đồng lúa vàng,với những hội hè thôn dã, những mối tình chân quê của trai thanh gái đạm đãthêu dệt nên hồn thơ Nguyễn Bính

Dù cuộc đời và con sóng của tạo hoá xoay vần có xô dạt Nguyễn Bính đếnnhiều bến bờ lênh đênh, xa lạ trên nhiều miền đất nớc, nhng lúc nào và ở đâuhình ảnh chân quê vẫn lung linh, xao động và thăng hoa trong hồn thơ của ôngkhiến cho nhiều sáng tác của ông vừa lãng mạn, h ảo vừa sâu thẳm thấm đợmtình quê, duyên quê Cái thực và cái ảo trong thơ Nguyễn Bính là kết tinh củatâm hồn yêu quê hơng, yêu đất nớc, đợm tình nhân văn và nhuần nhuyễn bản sắcvăn hoá dân tộc của con ngời đất Sơn Nam Ông là nhà thơ của chân quê thôn dã,

với một thứ ngôn ngữ mang đậm chất dân gian dễ hiểu, gần gũi với cuộc sống

đời thờng đợc thể hiện qua sự kết hợp tài tình các thể điệu cổ truyền của thi cadân tộc, điểm xuyết trong đó lại lung linh rực sáng những ngôn từ hiện đại củacon ngời mới, nhận thức mới của tầng lớp văn sĩ đợc Đảng soi lối dẫn đờng.Chính vì vậy thơ Nguyễn Bính vừa đậm đà truyền thống dân gian vừa phảng phấtlàn gió mới của thi ca hiện đại Hoài Thanh- Hoài Chân khi nghiên cứu về thơNguyễn Bính có cảm nhận”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th nh khi đi vào một ngôi chùa có những ngọn đèn điệntrên bàn thờ phật”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th[16;310]

Thơ Nguyễn Bính lấy gốc từ truyền thống thi ca dân gian Việt Nam Trongbối cảnh lịch sử xã hội đang có trào lu hiện đại, cách tân, Âu hoá nhng NguyễnBính đã không bị cơn xoáy lốc ấy cuốn vào

Trong nền văn học Việt Nam 1930- 1945 Nguyễn Bính còn đợc xem là mộtnhà thơ chân quê đại diện cho một trờng phái văn học lúc bấy giờ Bởi giai đoạn

ấy xã hội Việt Nam ở trong cảnh”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th ma Âu gió Mĩ, cũ mới tranh nhau, á Âu xáotrộn”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Còn con ngời Việt Nam thì “ai nấy đều ngơ ngác không hiểu ra làmsao”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th[16; ] Trớc thực tế xã hội ấy văn họcViệt Nam, cụ thể hơn là phong trào thơmới 1930-1945 xuất hiện hai trờng phái: Một thì chủ trơng cách tân triệt để cảnội dung lẫn hình thức, tiêu biểu là Xuân Diệu, Nguyễn Vĩ, Phan Khôi Cho nên

ta thấy nhiều bài thơ y nh thơ Pháp mà nhiều ngời đùa là: nhà thơ Tây lai Cònmột nhóm đại diện là Nguyễn Bính thì chủ trơng: vẫn giữ lấy cái hồn dân tộc, cónghĩa là chủ trơng cách tân thơ ca theo con đờng trở về cội nguồn dân tộc, nhómnày phần nhiều là những ngời xuất thân với những ngời lao động ở nông thôn nh:Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ Vì thế kiểu sáng tác này đã mang lại

Trang 5

cho thơ mới một giá trị nhất định, một sự phong phú trong quá trình cách tân, cải

tiến, đó là giá trị về chất dân gian trong ngôn ngữ thơ mới

Đi vào tiếp cận tìm hiểu hồn thơ Nguyễn Bính chúng ta sẽ khẳng định đợcnhững giá trị độc đáo, riêng biệt trong thơ ông Để làm đợc điều đó và để hiểu rõ

hơn hồn thơ Nguyễn Bính việc đi tìm hiểu “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ

ông là một việc làm quan trọng và cần thiết Bởi vì từ việc tìm hiểu “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính ta sẽ thấy đợc cái duyên dáng, đặc sắc của một hồn thơ với các danh hiệu: “nhà thơ chân quê", "thi sĩ đồng quê", "nhà thơ của hơng đồng gió nội" Đây là một đóng góp của Nguyễn Bính vào dòng thơ

mới, vào nền nghệ thuật thi ca Việt Nam Chính vì thế ta hiểu đợc rằng: trên thi

đàn văn học Việt Nam (1930-1945) nếu nh Xuân Diệu đến với bạn đọc quanhiều bài thơ tình mới mẻ cả về tứ thơ, ngôn ngữ, âm điệu, ngôn ngữ thơ củaXuân Diệu có cái gì đó trừu tợng, nhiều tầng nghĩa, một thứ ngôn ngữ lãng mạngợi cảm giác bay bổng thì trái lại ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bính giản dị, đằmthắm thiết tha, đậm sắc hồn dân tộc, một thứ ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếngnói của nhân dân, gần gũi với ca dao dân ca mà ai đọc lên cũng có thể hiểu ngaytrên bề mặt câu chữ

Tìm hiểu “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính cũng là một dịp

để ta hiểu rõ hơn vấn đề cách tân trong thơ mới, thấy đợc sự phong phú của cuộccải tiến, cách tân này và đồng thời cũng là dịp để ta suy nghĩ về vấn đề truyềnthống - cách tân của thơ mới Việt Nam (1930-1945), cũng nh vấn đề sức hút

mạnh mẽ của hồn thơ đợc mệnh danh là: “thi sĩ của đồng quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Bính từ góc nhìn “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ ông tr-

ớc Cách mạng là một hớng có khả năng thâm nhập sâu vào thế giới nghệ thụâtcủa nhà thơ, khám phá ra những nét độc đáo so với những nhà thơ mới cùng thời

Đó cũng là lý do để cho tôi - một sinh viên khoa Ngữ Văn, cũng là một

ng-ời nh rất nhiều ngng-ời yêu thơ Nguyễn Bính đã chọn đề tài: “Chất dân gian trongngôn ngữ thơ Nguyễn Bính”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th để làm khoá luận tốt nghiệp Đại học của mình

Điều chúng tôi quan tâm tìm hiểu trong trong khoá luận này là: “Chất dângian trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, đợc nhìn nhận khái quát, toàn diện cả vềmặt thể loại, từ ngữ, biện pháp tu từ Chúng tôi hy vọng rằng với khoá luận này

sẽ khám phá sâu hơn, có hệ thống hơn thế giới nghệ thuật của nhà thơ, góp phầnkhẳng định những đóng góp độc đáo của Nguyễn Bính cũng nh vị trí của ôngtrong nền văn học nớc nhà

Chọn đề tài này làm khoá luận tốt nghiệp tôi có sự thuận lợi cơ bản là đã

đ-ợc học tập với sự giảng dạy có hệ thống và tận tình của các thầy cô giáo khoaNgữ Văn - Trờng Đại Học Vinh, đợc tham khảo nhiều công trình nghiên cứu vềthơ Nguyễn Bính dới nhiều góc độ Đó là nguồn t liệu chính để tôi tham khảo,gợi mở những ý tởng thẩm mỹ để tìm hiểu về ngôn ngữ thơ của Nguyễn Bính.Tôi có may mắn đợc thầy giáo Trần Anh Hào - một nhà giáo giảng dạy ở khoaNgữ Văn đã chấp nhận hớng dẫn khoa học cho khoá luận của tôi

0 2 Lịch sử vấn đề

Trang 6

Nguyễn Bính xuất hiện trên thi đàn văn học Việt Nam với một phong cáchthơ riêng, độc đáo và ông đã nổi tiếng nhanh Cùng với sự đón nhận nồng nhiệtcủa độc giả là sự ra đời của các công trình, các bài viết của giới phê bình, nghiêncứu dành cho ông

ở đây do tính chất của khoá luận này chúng tôi chỉ xin điểm xuyết một số ýkiến tiêu biểu, gắn với những vấn đề cần giải quyết của khoá luận

Ngời ta biết đến Nguyễn Bính từ khi “ Thi nhân Việt Nam”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th của Hoài Thanh

và Hoài Chân ra đời Từ đó nhiều công trình nghiên cứu công phu có tính khoahọc cao đã đợc giới thiệu Đúng nh Hoài Thanh đã nhận xét “những tác phẩmcủa ngời bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên cứu”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th[17; ]

Từ sau thời kỳ mở cửa tới nay có khoảng hơn 50 công trình nghiên cứu vềNguyễn Bính Trong đó có một số bài viết có giá trị nh: Bài viết của Hoài Thanh

- Hoài Chân, lời giới thiệu của Tô Hoài về Nguyễn Bính “Nguyễn Bính thi sĩnhà quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, “ Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và hàng loạt các bài viết cáccông trình nghiên cứu của các nhà văn, các học giả nổi tiếng nh: Mã Giang Lân,

Đỗ Đình Thọ, Nguyễn Huy Thông, Nguyệt Hồ cùng với các bài viết của cácnhà giáo, sinh viên, học sinh đã đợc giới thiệu trên các tạp chí, báo chí cácphơng tiện thông tin đại chúng

Vấn đề “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ của Nguyễn Bính cũng đã đợc

đề cập khá nhiều Có thể nói các tác giả khi đề cập đến Nguyễn Bính đều không

thể không nói đến “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong thơ ông Bởi đây là một đặc điểm nổi

bật, chủ đạo và xuyên suốt trong sáng tác của ông trớc Cách mạng tháng Tám

Hơn thế nữa, chính vấn đề “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th đã góp phần khẳng định một phong

cánh, một gơng mặt thơ riêng của Nguyễn Bính trong diễn đàn thơ mới

(1930-1945):”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Nguyễn Bính nhà thơ chân quê , Nguyễn Bính thi sĩ dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Bên

cạnh đó “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ ông đã góp phần khẳng định những

cống hiến của nhà thơ trong việc đa ra một quan niệm sáng tác có ý nghĩa rất lớntrong nền thơ mới nói riêng và trong văn học Việt Nam nói chung, đó là kiểusáng tạo nên những giá trị mới trên những chất liệu truyền thống:

Hoa chanh nở giữa vờn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

(Chân quê)

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính nhng do nhữngmục đích khác nhau, đối tợng khám phá và hớng tiếp cận khác nhau nên hầu hếtcác tác giả đã nhìn nhận vấn đề ở một số khía cạnh cụ thể, chứ cha có cái nhìn

hệ thống, đầy đủ về “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính Hoài

Thanh -Hoài Chân khi viết về Nguyễn Bính đã phát hiện những nét đặc sắc, tiêu

biểu và độc đáo về phong cánh thơ ông Đó chính là “chất nhà quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th thể hiện trong thơ Nguyễn Bính - một khía cạnh quan trọng của “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Theo

tác giả dù trong bất cứ hoàn cảnh xã hội nào con ngời nhà quê của Nguyễn Bínhvẫn sống nh thờng Để chứng minh cho nhận định đó các tác giả đã nói “thơ

Trang 7

Nguyễn Bính đánh thức ngời nhà quê ẩn náu trong lòng ta”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và rồi từ cái chất nhàquê ấy các tác giả còn khẳng định: “ giá Nguyễn Bính sinh ra thời trớc tôi chắcngời đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th[ 10 ;334] Nói

nh vậy để chúng ta thấy rằng mặc dầu mới ở những nhận định khái quát nhngcác tác giả của “ Thi nhân Việt Nam”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th đã chỉ ra một số nét cơ bản về phong cách,

về hồn thơ Nguyễn Bính và một số yếu tố “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong thơ ông nh:

việc sử dụng ngôn ngữ ca dao dân ca, ngôn ngữ quê hơng, ngôn ngữ của cuộcsống đời thờng

Còn Tô Hoài khi tiếp xúc với thơ Nguyễn Bính đã phát hiện đợc yếu tố hiện

thực- yếu tố chất liệu cuộc sống trong”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th nhà thơ chân quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th này:”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Nguyễn Bính

vốn là một nhà thơ của tình quê, hồn quê, chân quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, và ông khẳng định”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th chỉ cóquê hơng mới tạo đợc từng chữ, từng câu thơ Nguyễn Bính”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th [ 3;20 ] Điều đặcbiệt Tô Hoài đã thấy đợc mối quan hệ độc đáo giữa hiện thực cuộc đời và thơNguyễn Bính “ mỗi khi những gắn bó mồ hôi nớc mắt kia đằm lên, ngây ngất,nhớ thơng, day dứt không thể yên, khi ấy xuất hiện những bài thơ tình tuyệt vờicủa Nguyễn Bính”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Nh vậy trong bài giới thiệu này Tô Hoài đã khắc hoạ chochúng ta một điều khá quan trọng: “ thơ Nguyễn Bính là sự thăng hoa của cuộcsống thực tại, cuộc sống xảy ra nh cái làng Thiện Vịnh - quê hơng của ông Cũngtrong bài viết này Tô Hoài còn cho thấy: “Nguyến Bính rất có tài kể chuyện, lờithơ của ông hình nh chỉ nhấn nha nói những chuyện xung quanh mình mà khiến

ta phải chú ý”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th[ 3; 20] Có đợc điều đó chính là nhờ cái thần sáng tạo tuyệt vời từnhững chất liệu quen thuộc, có thực tồn tại xung quanh cuộc sống, ông đã dùngcách nói riêng của mình để đa chúng vào thơ một cách thích hợp, tạo thành mộtthế giới sống động, hấp dẫn trong thơ mình

Giáo s Hà Minh Đức đã đi sâu hơn về vấn đề “chân quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính Qua bài viết này tác giả cho ta thấy:

Nguyễn Bính bằng một hớng đi riêng đã trở về với cội nguồn dân tộc, tạo đợccho mình một phong cách đọc đáo, đậm đà chất trữ tình dân gian Điều đó đợcthể hiện qua hai nét lớn: “ hình ảnh quê hơng, cảnh vật và con ngời”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, “ thơ và thếgiới nghệ thuật trong thơ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th

Quê hơng có bờ tre xanh bao phủ, cánh đồng thơm hơng lúa, cách cò trắngdập dờn, rồi những ngày lễ hội, phiên chợ tết, đêm hội chèo tất cả đợc phản

ánh rõ ràng đậm nét trong thơ Nguyễn Bính Với một bút pháp khá thơ mộng,chứa chan thi vị với những chất liệu thi ca riêng: cánh bớm, dậu mồng tơi, maxuân bay và làng quê vào hội, giàn giầu không và hàng cau liên phòng, con đêlàng và sự hẹn hò chờ đợi, rồi những cô gái đang ở độ tuổi yêu đơng: cô hái mơ,cô lái đò, cô hàng xóm tất cả đều đợc Nguyễn Bính thể hiện qua một ngônngữ dễ hiểu, gần giũ đời thờng Đặc trng cho những hình ảnh làng quê là ngônngữ dân dã, mộc mạc Nguyễn Bính đã tạo nên một làng quê riêng của mình nh-

ng cũng là hình ảnh quen thuộc của nhiều làng quê Việt Nam

Điều đặc biệt là: qua công trình này giáo s Hà Minh Đức đã nhận xét:

“Nguyễn Bính đi tìm tính chất Việt Nam lại trở về với ca dao Thơ Nguyễn Bính

có cái vỏ mộc mạc của những câu hát đồng quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th[6;33] Và cái làm nên sức sống,

Trang 8

làm nên nét độc đáo trờng tồn trong thơ Nguyễn Bính không chỉ là việc sử dụngnhững yếu tố quen thuộc, gợi cảm trong cuộc sống mà quan trọng hơn là sự sángtạo, sự đổi mới, cách tân trong cách nói, cách diễn đạt”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th tác giả đã làm sống lại vẻ

đẹp của ca dao trong nguyên thể của nó và những cách tân sáng tạo”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Đây là pháthiện mới góp phần khẳng định những giá trị trong sáng tác của Nguyễn Bính

Nh vậy với công trình nghiên cứu này giáo s Hà Minh Đức đã cho ta mộtcách nhìn toàn diện về phong cách và đặc điểm nổi bật trong thơ Nguyễn Bính Đoàn Thị Đặng Hơng đã tiếp cận sự nghiệp văn thơ Nguyễn Bính từ góc

độ thi pháp để thấy đợc sự độc đáo của thà thơ này Đó là sự hoà nhập giữa nghệthuật và cuộc đời, giữa thi ca và đời sống văn hoá dân dã để giúp Nguyễn Bínhlàm nên những bài thơ nh chính bản thân đời sống vậy Tác giả đã nói:”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th có lẽ ởthế kỷ này Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ đã thành công lớn khi đemthi pháp của thơ ca dân gian vào trong thơ ca hiện đại”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, phát hiện mới mẻ ấy làtiền đề quan trọng cho khoá luận này nói riêng và cho việc khám phá thế giới

nghệ thuật của”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ ththi sĩ chân quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th này nói chung

Bên cạnh đó Đoàn Thị Đặng Hơng còn khẳng định:”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ thông đã mở rộng thipháp dân gian để đa vào những khái niệm mới, những hiện tợng, những cảm xúcthẩm mỹ, nội dung mới của thơ ca hiện đại”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Đó chính là sự sáng tạo trên nhữnggiá trị truyền thống để làm nên gơng mặt thơ riêng của Nguyễn Bính

Gần đây nhất trên tạp chí “Nghiên cứu văn học”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, Nguyễn Nhã Bản và HồXuân Bình đã khai thác một cách cụ thể, chi tiết “mã ngữ nghĩa của vốn từ tiếngViệt hay văn hoá làng quê trong thơ Nguyễn Bính “ Qua bài viết này, các tác giả

đã chứng minh một điều: Các ngôn ngữ làng quê, các cách nói quen thuộc củadân làng, việc sử dụng các thành ngữ, các cách nói chứa đựng văn hoá làng quê là một điều thờng trực trong thơ Nguyễn Bính Hay nói cụ thể hơn NguyễnBính đã sử dụng ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian để biểu hiện t tởngnghệ thuật riêng của mình

Điểm lại lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Bính ở phơng diện phong cách

riêng: “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ ông chúng tôi có vài nhận xét sau:

Các công trình, các bài viết đã có những phát hiện, những ý kiến cực kỳquan trọng và đúng đắn về sử dụng ngôn ngữ trong sáng tác của Nguyễn Bính tr-

ớc cách mạng Đặc biệt một số công trình đã có những khám phá độc đáo, có sự

phân tích sâu sắc và thuyết phục về “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ Nguyễn

Bính ở một số khía cạnh: thể thơ lục bát, cách nói dân gian, ngôn ngữ giản dị,cũng nh việc sử dụng các yếu tố văn hoá dân gian truyền thống

Tuy nhiên vì những lý do khác nhau, những cách nhìn khác nhau vấn đề

“Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong thơ Nguyễn Bính trớc Cách mạng mới chỉ đợc khai thác chủ yếu ở “chất quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, ở việc sử dụng cách nói, những sinh hoạt truyền thống của làng quê Hơn thế nữa, ở các công trình này vấn đề “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ thtrong ngôn

ngữ thơ Nguyễn Bính cha đợc nghiên cứu với t cách là một đối tợng độc lập Do

đó, vấn đề cha đợc trình bày có hệ thống và cha đợc soi sáng dới góc nhìn “Ngôn

Trang 9

ngữ mang tính dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th thể hiện trong thơ Nguyễn Bính về mọi mặt, để qua đóthấy đợc nét độc đáo, riêng biệt tạo thành phong cách thơ Nguyễn Bính với cáinhìn khái quát toàn diện, thống nhất Ta có thể đi sâu vào thế giới nghệ thuật củathơ ông đó là việc sử dụng nhuần nhuyễn những chất liệu truyền thống của dângian để chuyển tải một ý tởng mớ mẻ, độc đáo

Đó là những điều mà chúng tôi muốn thực hiện trong khóa luận này

0 3 Nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu

0 3 1 Do tính chất là một khoá luận cuối khoá, cũng nh điều kiện thờigian và khả năng hạn chế của bản thân, chúng tôi xin đợc đặt ra nhiệm vụ nghiêncứu nh sau:

Sáng tác của Nguyễn Bính có sự thể hiện độc đáo, riêng biệt và phong phú,

đa dạng của “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Đây là một đặc điểm có tính chất nỗi bật trong

sáng tác của Nguyễn Bính có nhiều giá trị to lớn, nhng do điều kiện đã trình bày

ở trên chúng tôi chỉ tìm hiểu việc tiếp thu những giá trị của dân gian trong thơ

Nguyễn Bính mà lại xem xét chủ yếu ở mặt “Chất dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong ngôn ngữ thơ

ông Chúng tôi sẽ khảo sát, thống kê, phân loại và có sự đối chiếu so sánh để tìmhiểu các biểu hiện của "Chất dân gian trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính".Từ đórút ra kết luận cần thiết Khoá luận sẽ xem xét việc sử dụng “Ngôn ngữ mangtính dân gian”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th đó nh một hệ thống chặt chẽ, có sự liên hệ mật thiết với thế giớinghệ thuật của nhà thơ, từ đó góp phần khẳng định cácgiá trị trong sáng tác củaNguyễn Bính cũng nh vị trí của ông trong lịch sử văn học Việt Nam

0 3 2 "Chất dân gian" là những phẩm chất, tính chất dân dã,mộc mạc, hồnnhiên,hồn hậu đợc biểu hiện trong đời sống cũng nh trong văn học mà nhất làvăn học dân gian Chất dân gian đó đã có một đời sống trong thơ Nguyễn Bính Để thực hiện khoá luận này chúng tôi quan tâm, tìm hiểu tất cả thơ của

Nguyễn Bính (cả trớc và sau Cách mạng) bao gồm những tập thơ nổi tiếng: Tâm hồn tôi, Lỡ bớc sang ngang, Hơng cố nhân, Một nghìn cửa sổ, Mời hai bến nớc , Tập thơ yêu nớc, Gửi ngời vợ Miềm Nam, Đêm sao sáng Trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm đến những tác phẩm mang đậm chất dân gian trớc Cách

mạng tháng Tám

0 4 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu

0 4 1 Với điều kiện là một sinh viên làm khoá luận tốt nghiệp, trongkhuôn khổ đề tài xác định, khoá luận chỉ xin đề cập đến những hiểu biết củamình về vấn đề: “Chất dân gian trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Khi nghiên

cứu đề tài này, chúng tôi muốn tập trung phân tích và làm sáng rõ chất dân gian

trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính Do điều kiện khả năng và hạn định thời giankhoá luận cha có điều kiện phân tích so sánh toàn bộ ngôn ngữ nói chung trongthơ Nguyễn Bính Mặc dù chúng tôi cho rằng đó là một vấn đề quan trọng và cầnthiết

Trang 10

0 4 2 Để thực hiện khoá luận này chúng tôi sử dụng các phơng phápnghiên cứu sau đây:

So sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hơp, khái quát trong đó phơng pháp

so sánh đợc sử dung ở các phơng diện: So sánh Nguyễn Bính với các nhà thơ

đ-ơng thời trong nớc, đặc biệt là các nhà thơ mới lãng mạn, và so sánh thơ NguyễnBính với các nhà thơ trớc đó, đồng thời so sánh với văn học dân gian để thấy đợccái độc đáo, riêng biệt trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính

0 5 Cấu trúc khoá luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của khoá luận đợc triển khai trên ba chơng:

Chơng 1: Chất dân gian xét từ mặt thể loại trong thơ Nguyễn Bính

1 1 Thể thơ lục bát mang phong vị ca dao

1 1 Thể thơ thất ngôn quen thuộc

Chơng 2: Chất dân gian xét từ mặt từ ngữ trong thơ Nguyễn Bính

Trang 11

chơng 1

Chất dân gian xét từ mặt thể loại trong thơ

Nguyễn BínhChúng ta biết rằng nói đến thể loại là nói đến một trong những phơng thứcbiểu hiện của văn học Mỗi thể loại nó mang những đặc trng riêng và chínhnhững đặc trng đó nó khẳng định vai trò, chức năng của mỗi thể loại trong việcthể hiện nội dung Từ đó ta thấy các tác giả văn học đều lựa chọn cho mình mộtcách thể hiện tốt nhất những t tởng, tình cảm của mình bằng cách sử dụng các

thể loại phù hợp Với Nguyễn Bính, ông đợc mệnh danh là : Nhà thơ chân

quê , đồng quê , Nhà thơ của h”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ơng đồng gió nội , ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th không phải ngẫu nhiên màmọi ngời gọi Nguyễn Bính với những tên gọi nh vậy, có thể nói ông là nhà thơrất gần gũi với ngời dân, với làng quê Việt Nam Để thể hiện tình cảm đó cũng

nh để khắc hoạ đợc những nét gần gũi, dân dã về con ngời, làng quê Việt NamNguyễn Bính đã sử dụng những thể thơ truyền thống cho phù hợp với nội dungthể hiện

1 1 Thể thơ lục bát mang phong vị ca dao

Nguyễn Bính đã từng tâm sự với độc giả rằng:Thơ Việt viết cho ngời Việt,

do đó giản dị là một điều cốt yếu Giản dị ở đây không đồng nghĩa với dễ dãi,tầm thờng Có lẽ chính vì thế mà Nguyễn Bính luôn tỏ lòng khâm phục đại thihào Nguyễn Du và “Truyện Kiều”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th lúc nào cũng là sách gối đầu của Nguyễn

Bính Bởi vì trong “Truyện Kiều”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Nguyễn Du đã sử dụng một cách độc đáo thể

thơ lục bát truyền thống để chuyển tải nội dung t tởng của tác phẩm Chính nhờ

thể thơ này mà chúng ta đọc “Truyện Kiều”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th mới bắt gặp những điều giản dị và

dễ hiểu

Một trong những yếu tố làm cho Nguyễn Bính – một nhà thơ mới nổi tiếngnhanh và có mặt trong tâm hồn con ngời Việt Nam khắp mọi miền của tổ quốcchính là việc thể hiện thành công thể thơ lục bát – một thể thơ truyền thống củadân tộc

Chúng tôi khảo sát 105 bài thơ trớc Cách mạng của Nguyễn Bính thì đã cótới 42 bài theo thể lục lục bát, chiếm 40% tức là gần một nửa trong sáng tác đồ

sộ ấy đợc viết theo thể lục bát quen thuộc Một con số nh vậy ở một nhà thơ mới,giữa cuộc cách tân thơ ca, giữa không khí sôi động của việc đi tìm cái mới, cái lạ

là một điều đặc biệt Nhng chính điều đó đã tạo nên một gơng mặt thơ độc đáo:

Nguyễn Bính – Thi sĩ của đồng quê Và hơn thế nữa tạo cho ông một chỗ đứng

xứng đáng trong dòng thơ mới và trong sự ngỡng mộ của bạn đọc

Có thể nói Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ bậc nhất của thế kỷnày về thơ lục bát Những bài thơ lục bát của ông thờng có một thi pháp riênghết sức độc đáo Nguyễn Bính đã kế thừa và vận dụng những sự thay đổi tronggiới hạn mà luật thơ cho phép Có thể nói ông là một trong những nhà cách tânlớn của thể thơ này cả về nội dung lẫn hình thức, kết hợp chặt chẽ với thi phápdân gian ông đã mở rộng sức thể hiện của nó Với ông thể thơ dân tộc lục bát đã

Trang 12

phát triển tới đỉnh cao của nó trên thi đàn hiện đại Những bài thơ của ông luônluôn đổi mới, muôn màu muôn vẻ, tránh đợc sự nhàm chán của một nhịp thơ,một hoà âm cố định mà thể lục bát thờng hay dẫn đến

Hôm nay dới bến xuôi đò Thơng nhau qua cửa tò vò nhìn nhau

Anh đi đấy anh về đâu ? Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm

Nhà thơ đã mở ra một hớng mới hết sức sáng tạo trong những vần thơ lụcbát này Ông mở rộng sức thể hiện của thơ trong vần (vần trong tứ và vần ngaycả trong một cảnh), thay đổi nhịp thơ để tăng sự sinh động của tiết tấu, hoà âmthơ và đặc biệt là mở rộng sự đa âm, đa nghĩa của từ Sự lặp lại của từ trong câu

ba và câu bốn lên tới độ rất cao khó có đợc trong thơ, nhất là đối với thơ lục bát

mà tiết tấu của nó rất dễ gây ra sự đơn điệu Sự mở rộng mã nghĩa và mã thẩm

mĩ của từ đặc biệt ở câu thứ t

Thơ lục bát là mọt thể thơ cách luật mà các thể thức đợc tập trung thể hiệntrong một khổ gồm hai dòng với số tiếng cố định: Dòng sáu tiếng (câu lục) vàdòng tám tiếng (câu bát) Trong đó có sự quy định của vần, điệu, nhịp, thanh .tạo nên sự gần gũi, nhịp nhàng dễ nhớ dễ thuộc, dễ ngâm, dễ truyền tụng Thơ

Nguyễn Bính cũng nh “Truyện Kiều”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Nguyễn Du, nếu không viết theo thể thơ

quen thuộc ấy thì cũng khó thâm nhập đợc vào trong đời sống của nhân dân

Từ những bài thơ nói về nỗi tơng t của một chàng trai:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một ngời chín nhớ mời mong một ngời (Tơng t)

Nỗi băn khoăn của một tâm trạng bớc vào tuổi yêu đơng:

Cái ngày cô cha lấy chồng

Đờng gần tôi cứ đi vòng cho xa (Qua nhà)

cho đến những bài thơ nói vè ớc ao hạnh phúc gia đình

Sáng giăng chia nữa vờn chè Một gian nhà nhỏ đi về có nhau

Và rất nhiều bài thơ khác hầu hết đợc viết theo thể thơ lục bát quen thuộc

để thể hiện tình cảm giữa con ngời với con ngời, tình yêu đôi lứa, cũng nh những

Trang 13

biến thái tinh vi trong tâm hồn ngời dân Việt Nam Thơ Nguyễn Bính đã gợi cho

ta nhớ lại những câu ca dao quen thuộc, đậm đà phong vị quê hơng, văn hoá làngquê Đó là những vần thơ thật gần gũi với nhân dân – những vần thơ, thể thơ dễnhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng ngời và hơn thế nữa đã đi vào giấc ngủ của từng em

bé trong nôi qua lời ru của bà, của mẹ:

Hôm nay dới bến xuôi đò Thơng nhau qua của tò vò nhìn nhau

(Không đề)

Ta đã từng bắt gặp hình ảnh: Cây đa, bến nớc, sân đình, con đê, chỗ hẹn

đầu làng đầy thơ mộng của trai gái làng quê trong ca dao:

Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thơng mình bấy nhiêu

và:

Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Giờ đây nó đã trở thành những chất liệu quen thuộc trong thơ Nguyễn Bính:

Nào đâu cái yếm lụa sồi Cái dây lng đũi nhuộm hồi sang xuân

Nào đâu cái áo tứ thân Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen

Chỉ riêng “cái yếm lụa sồi”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th đã gợi nhiều phong vị của cách ăn mặc giản dị

mà thi vị của gái quê

Trang 14

Năm thơng cổ yếm lụa đào Sáu thơng nón thợng quai thao dịu dàng

Đặc biệt cái giải yếm dài ngắn trong tấc gang mà khi cần là điểm tựa cho trítởng tợng tạo nên bao chuyện trong tình yêu quen thuộc của môi trờng ca dao:

Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu giải yếm để chàng sang chơi

đẹp nhất của quê hơng – cái mà Nguyễn Bính gọi là “chân quê”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, khi nhắc đến

“thầy u”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th là muốn nói đến truyền thống, đến những thế hệ ông cha ta đã từng gìngiữ, bảo vệ làng quê từ hàng ngàn năm đã từng tham gia đánh giặc, bảo vệ quê h-

ơng Làng quê rất cần đợc bảo vệ về văn hoá, về nếp sống, phong tục tập quán,sinh hoạt và điều quan trọng là phải bảo vệ trong sự chọn lọc, tiếp thu và pháttriển Bảo vệ văn hóa làng quê cũng chính là bảo vệ bản sắc và hồn quê - một nétcủa truyền thống dân tộc mà ca dao cũng từng nói đến:

Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

(Ca dao)

Nguyễn Bính đã dùng cách nói quen thuộc trong ca dao với những địa danh

cụ thể: Thôn Đoài, Thôn Đông, với những nhớ mong, chờ đợi, thao thức Đặcbiệt, Nguyễn Bính đã sử dụng cách nói quen thuộc trong ca dao từ xa đến gần, từphiếm chỉ đến cụ thể, xác định

Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông Một ngời chín nhớ mời mong một ngời”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th

(Tơng t)

Thôn Đoài, Thôn Đông nh hai địa danh có ý nghĩa tơng trng, có một khônggian gần gũi để quen biết, để nhớ thơng Nguyễn Du đã từng thể hiện nỗi nhớ ấytrong thể thơ lục bát quen thuộc:

Trang 15

Sầu đông càng lắc càng đầy

Ba thu dồn lại một ngày dài ghê

(Truyện Kiều)

Ca dao cũng đã có những câu rất hay về nỗi nhớ trong tình yêu:

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều Nhớ ngời yếm trắng, dải điều thắt lng (Ca dao)

Và tơng t cũng đợc diễn tả rất ý nhị trong ca dao:

Lá này gọi lá xoan đào Tơng t gọi nó thế nào hở em?

(Ca dao)

Trong thơ ca hiện đại, Xuân Diệu đã diễn tả trạng thái “Tơng t”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th nh lơ lửng,

nh quyến luyến trong tình cảm yêu thơng đôi lứa:

Sơng nơng theo trăng ngừng lng trời Tơng t nâng lòng lên chơi vơi (Nhị Hồ)

Nguyễn Bính cũng dùng cái tâm trạng nhớ mong, khắc khoải trong ca dao,trong thơ truyền thống ấy để diễn tả một tình yêu đơn phơng chứ không phải làmột tình yêu đong đầy kỷ niệm trong ca dao, trong thơ của một số nhà thơ khácnh: Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chơng

Một điều đặc biệt nữa, trong ca dao khi tình yêu bị ngăn núi cách sôngchàng trai đã tỏ rõ quyết tâm:

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua

Hình ảnh con đò, bến đỗ, hoa và bớm là những chất liệu quen thuộc trong

ca dao để nói lên tình yêu đôi lứa, vậy mà ở đây Nguyễn Bính đã dùng chúng đểdiễn tả một dự báo cách xa:

Trang 16

Bao giờ bến mới gặp đò Hoa khuê các, bớm giang hồ gặp nhau (Tơng t)

Bài thơ đi vào kết luận với khổ thơ mang phong vị ca dao

Nhà em có một giàn giầu Nhà anh có một hàng cau liên phòng Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông Cau Thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào

(Tơng t)

Nói tóm lại, cũng những vần thơ lục bát ấy nam nữ đã mợn lời thổ lộ tìnhyêu, oán trách tình yêu Cái cung bậc của tình yêu quen thuộc trong dân gian,hầu nh đều đợc Nguyễn Bính đa vào điệu thơ lục bát của mình Từ nỗi buồn man

mác của một lần “ ân ái nhỡ nhàng”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th đến lúc “ nghẹn ngào tôi khóc bởi tôi yêu nàng”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Từ lúc cô cha lấy chồng, đờng gần tôi cứ đi vòng cho xa”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th đến khi “ giếng thơi ma ngập nớc tràn”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th có lẽ chính những vần thơ lục bát ấy đã nói lên

đợc tấm lòng bao nhiên ngời, nên dù là thơ lục bát, thơ cổ truyền, Nguyễn Bínhvẫn có vị trí trong thơ mới Điều đó cha hoàn toàn đúng bởi điều quan trọng là:Nguyễn Bính sử dụng thể thơ dân tộc nhng không hoàn toàn giữ nguyên màtrong sự kế thừa ấy vẫn có sự nỗ lực, vẫn có quá trình cách tân, đổi mới, vẫn cócái riêng trong hồn thơ, điệu thơ Vẫn những dòng lục bát, những lời lẽ ý tởngtrong đó là lời của một nhà thơ mới Nguyễn Bính đã chứng minh sự kế thừatruyền thống trong việc cách tân thơ ca của thơ mới lúc này là đúng Thơ mớivẫn là một dòng thơ của nền văn học Việt Nam, vẫn là con đẻ của nền văn họcViệt Nam, nên nó nằm trong quy luật phát triển của đất nớc

Bên cạnh sự cải biến thể thơ, điệu thơ, thổi vào thơ mới cái hồn của thời đạithì việc giữ gìn những bản sắc truyền thống vẫn là điều tất yếu và cần thiết Vìvậy vẫn đề cách tân thơ mới gắn với vấn đề truyền thống là một nét đặc sắc tạonên hồn thơ Nguyễn Bính

Cũng nh nhiều nhà thơ tài năng khác của dân tộc, Nguyễn Bính biết cáchlàm giàu cho sáng tác của mình trên mảnh đất văn hoá dân gian, từ đó khai thác

và khơi nguồn cảm hứng để tạo nên những thi phẩm mới Nếu ca dao có câu:

Em về dọn quán bán hàng

Dể anh là khách đi đàng trú chân (Ca dao)

Thì ta gặp lại trong thơ Nguyễn Bính:

Lòng em là quán bán hàng Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi (Em với anh)

Trong thơ Nguyễn Bính, âm hởng của văn hoá dân gian còn vang vọng ởthể lục bát – thể loại điển hình nhất của ca dao dân ca Thơ lục bát đã có truyềnthống lâu đời, với sự tuần hoàn đều đặn của hai câu sáu – tám, với vần chân và

Trang 17

vần lng bao giờ cũng hiệp vần theo thanh bằng, thể thơ này rất thích hợp chonhững giọng kể lể, lời tâm sự, cho những nỗi niềm buồn đau, thơng xót, bângkhuâng nhớ nhung Trong sáng tác của Nguyễn Bính trớc Cách mạng thể thơnày chiếm số lợng tới 40% Nguyễn Bính đã phát huy cao độ sự phù hợp giữa

đặc trng của thể loại lục bát là mềm mại, uyển chuyển, giàu nhạc điệu với phongcách thơ của mình là mộc mạc, đằm thắm, dịu dàng Nhà thơ thờng dùng kiểungắt nhịp hai chữ một truyền thống, kiểu ngắt này tạo âm hởng trầm buồn thathiết:

Thu sang/ trên những/ cành bàng Chỉ con/ hai chiếc/ lá vàng/ mà thôi

( Cây bàng cuối thu)

Nhng Nguyễn Bính không làm thơ lục bất theo kiểu mô phỏng ca dao Dùsao Nguyễn Bính cũng là con ngời của thời đại ông và đơng thời Do vậy nhữngsáng tác của Nguyễn Bính là điều tất yếu và dễ hiểu, đáng cảm phục là tài hoa

điêu luyện của ông Có những câu thơ đợc ngắt nhịp linh hoạt, kiểu ngắt nhịp 3/3/ 2 ở câu tám đã làm cho lời thơ sinh động hẳn lên, nhịp thơ ngắt bất ngờ tạo sựxuất hiện đột ngột của tình huống:

Dừng chân trớc cửa nhà nàng Thấy hoa vàng/ với bớm vàng/ hôn nhau

Hoặc tạo ra màu sắc luân lý, tinh thần cho thơ:

Bao giờ bến mới gặp đò Hoa khuê các/ bớm giang hồ/ gặp nhau

(Tơng t)

Và trong lòng với trong tim

Có tình em/ có bóng em/ rõ ràng

Trang 18

Đúng là “ bình cũ rợu mới”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, những câu thơ lục bát truyền thống nhng lạimang ý chí, cách cảm nhận và biểu hiện cực kỳ hiện đại Chính sự sáng tạo trênnhững giá trị truyền thống đã làm nên những cái hồn riêng của thơ ông, đã làmnên những nét đặc biệt chỉ riêng thơ ông có, không ai có thể bắt chớc đợc ông.

Điều khác biệt đó không chỉ thể hiện ở chỗ: cảm thụ hiện thực Phải chăng đó làsức hút mãnh liệt, là sự sáng tạo độc đáo khiến cho ngời đọc không thấy bịnhàm, bị chán trớc những chất liệu quen thuộc

Nguyễn Bính đã dùng thể thơ lục bát, dùng không khí ca dao cùng nhữngyếu tố truyền thống làm chất liệu để diễn tả một t tởng, một tình cảm độc đáomang dấu ấn của thời đại Tác giả đã làm sống lại vẻ đẹp của ca dao trongnguyên thể của nó, đồng thời có những cách tân sáng tạo đặc biệt Đó chính là sựsáng tạo tuyệt vời tạo nên nét phong cánh thơ riêng của Nguyễn Bính, cũng nhtạo nên vị trí xứng đáng của Nguyễn Bính trên thi đàn văn học Việt Nam

1 2 Thể thơ thất ngôn quên thuộc

Chúng ta biết rằng, thể thơ thất ngôn là một thể thơ quen thuộc trong vănhọc Việt Nam, thể thơ này đã đợc nhiều nhà thơ sử dụng trong sáng tác củamình ở đây ta thấy rằng sau thể lục bát, thơ thất ngôn cũng đợc Nguyễn Bính sửdụng khá thành công, ông đã dùng thể thơ quen thuộc này để chuyển tải những ttởng mang tính truyền thống Mặc dù thể thơ thất ngôn trong sáng tác củaNguyễn Bính đợc cách tân, đổi mới rất nhiều so với thể thất ngôn của các nhàthơ trớc nh: Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến nhng điều đặc biệt là đằng sau đóNguyễn Bính đã dùng những yếu tố, những chất liệu, cách nói của dân gian đểbiểu hiện t tởng mới, độc đáo của thời đại Đó cũng là một nét đặc sắc khẳng

định việc sử dụng tài tình, điêu luyện chất liệu văn học dân gian của một nhà

thơ Những bài thơ: Lòng mẹ , Cô lái đò , Nhớ , Những bóng ng“ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ời trên sân

ga , truyện cổ tích , Mùa xuân xanh , Xây lại cuộc đời ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th là minh chứngcho tài năng của Nguyễn Bính trên lĩnh vực này

So sánh với thể thơ thất ngôn bác học ( Đờng luật nôm) của các nhà thơ trớcnh: Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến

ở Cao Bá Quát thể thơ thất ngôn hầu hết đợc sáng tác bằng chữ Hán

Nhất thanh cô ố nhập liêm lungKinh khởi ly phân phục chẩm trungKhả ức cố hơng phong vật phủ?

Am la hoàng tiếp lệ chi hồng

(Văn Bá Lao)

(Một tiếng tu hú vang vào trong rèm,

Đánh thức ngời khách tha hơng dậy, nằm gục đầu trên gối,

không biết ở quê nhà phong vật bây giờ nh thế nào?

Trang 19

(Có lẽ) mùa xoài chín vàng tiếp theo mùa vải đỏ)

Ngôn ngữ ở đây có một nét gì đó rất uyên bác, và trừu tợng chứ khônggiống ngôn ngữ trong thơ 7 chữ của Nguyễn Bính Điều đó cũng dễ hiểu thôi vìngôn ngữ của Cao Bá Quát là ngôn ngữ đợc sáng tác bằng chữ Hán, còn ngônngữ thơ Nguyễn Bính là ngôn ngữ thuần Việt, bình dân nên dễ hiểu và gần gũivới ngời dân hơn Với thể thơ 7 chữ nhng Nguyễn Bính viết ra nh những lời kể,lời tâm sự Chẳng hạn khi ngời mẹ tiễn con gái về nhà chồng và nói những lờirất mộc mạc, chân tình và rất chân quê

Ruộng tôi cày cấy, dâu tôi hái Nuôi dạy em cô tôi đảm đơng Nhà cửa tôi coi, nợ tôi trả

Tôi còn mạnh chân khiến cô thơng

( Lòng mẹ)

Từ Cao Bá Quát đến Nguyễn Khuyến thì thể thơ thất ngôn lại có sự cáchtân, đổi mới Nguyễn Khuyến không chỉ sáng tác bằng chữ Hán mà còn sáng tácbằng chữ nôm, đến đây qua thể thơ thất ngôn ta lại bắt gặp những điều gần gũihơn, quen thuộc hơn và dễ hiểu hơn so với những gì mà Cao Bá Quát thể hiện

Có thể nói Nguyễn Bính đã có sự gặp gỡ đối với Nguyễn Khuyến: đó là họ đều lànhững tâm hồn hớng về nông thôn Việt Nam Vì vậy mà trong thơ NguyễnKhuyến nói rất nhiều đến nông thôn, và nhiều hình ảnh thôn dã đợc ông đa vàothơ mình một cách chân thực, bình dị, gần gũi Bằng thể thơ thất ngôn ông đã nóilên cảnh mất mùa của ngời dân:

Năm nay cày cấy vẫn chân thua

Chiêm mất đằng chiêm, mùa mát mùa

Ông còn gàn gũi quan tâm tờng bữa ăn của ngời dân

Sớm tra da muối cho qua bữa Chợ búa trầu cau chẳng dám mua

Ngoài những khó khăn, vất vả nhà thơ cũng chú ý quan tâm đến niềm vuichuẩn bị ngày tết của ngời dân

Trong nhà rộn nhịp gói bánh chng Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt

Trang 20

Nh vậy từ thể thơ thất ngôn bằng chữ Hán của Cao Bá Quát đến thể thơ thấtngôn bằng chữ Nôm của Nguyễn Khuyến đã có một bớc chuyển biến rõ rệt: Đó

là hình thức đều là thể thất ngôn nhng cách thể hiện nội dung, t tởng thì đã có

b-ớc cách tân Nếu những gì Cao Bá Quát thể hiện ở thể thất ngôn còn mang tínhchất uyên bác, trừu tợng thì đến Nguyễn Khuyến cũng thể thơ đó ông đã đachúng ta về với làng quê, với ngời dân một cách gần gũi, quen thuộc và dễ hiểu

Và chúng ta càng thấy hình ảnh thôn quê với những gì bình dị nhất, dân dã nhất,gần gũi nhất đợc hiện lên một cách đầy đủ chân thật trong thơ Nguyễn Bính Nguyễn Bính cũng bằng thể thơ thất ngôn nh Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyếnnhng ở đây ông đã có sự chuyến biến về phơng thức biểu hiện: Cũng là thể thơbảy tiếng nhng Nguyễn Bính sử dụng một cách tự do, không theo niêm luật nhNguyễn Khuyến và Cao Bá Quát Thể thơ 7 tiếng của Nguyễn Bính mang đậm

chất dân gian, gần gũi và quen thuộc đối với ngời dân

Cũng nh thể thơ lục bát, sự thành công của một hồn thơ mang đậm tình quê,chứa chất những nét văn hoá cổ truyền, không chỉ thể hiện ở việc sử dụng thể thơtruyền thống mà điều quan trọng nhất là: Nguyễn Bính đã có sự cách tân sángtạo Hay nói đúng hơn: Nguyễn Bính đã biết kết hợp hài hoà giữa yếu tố truyềnthống (hình thức thơ) với hiện đại (ý tởng của nhà thơ)

Đọc những câu thơ:

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh Tôi đợi ngời yêu đến tự tình Khỏi luỹ tre làng tôi nhận thấy Bắt đầu là cái thắt lng xanh (Mùa xuân xanh)

Ta vẫn dễ dàng nhận ra phong cách riêng, rất riêng của Nguyễn Bính Bởi ở

đó chứa đựng một hồn thơ độc đáo nhng không hề xa lạ, mà trái lại góp phầnchứng minh cho phong cách một nhà thơ biến những chất liệu văn học dân gianquen thuộc thành hồn thơ riêng của mình Nó đợc thể hiện rõ ràng ở các hình

ảnh, các chi tiết, cách nói, cách diễn tả của nhà thơ: Tiết thanh minh tháng ba,luỹ tre làng và đặc biệt là cái thắt lng xanh duyên dáng, cổ truyền của cô gáiViệt Nam Những chi tiết cực kỳ quen thuộc, mang đậm hồn quê Nguyễn Bính

đã lấy đó làm chất liệu, làm cái để thể hiện t tởng, tình cảm của mình Ông yêuquê hơng, yêu từ ngọn cỏ lá cây, con đê làng, khóm tre đầu xóm đến nhữngnét văn hoá cổ truyền, những chất liệu quen thuộc gắn với cách cảm, cách nghĩcủa ngời dân Việt Nam Ông miêu tả mùa xuân, một bức tranh quê trong sáng, t-

ơi vui rực rỡ:

Đã thấy xuân về với gió đông Với trên màu má gái cha chồng Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm Ngớc mắt nhìn giời đôi mắt trong

Trang 21

(Xuân về) Hình ảnh mùa xuân về trên màu má gái cha chồng”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và trong đôi mắt

trong ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th của cô hàng xóm thì thật là độc đáo, rất Nguyễn Bính và cũng rất ViệtNam

Đặc biệt tín hiệu mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính hiện lên qua nhữngphong tục, tập quán, văn hoá làng quê của những con ngời sống trên đất quê: các

cô gái “yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và những cụ già “tay lần tràng hạt miệng nam mô ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Tất cả là sự thể hiện độc đáo nếp sống từ lâu đời, gần gũi, ănsâu, bám rễ trong tâm hồn mỗi ngời dân Việt Nam

Có thể nói Mùa xuân“ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th với thể thơ 7 chữ quen thuộc đã vẽ lên một khungcảnh đặc biệt của mùa xuân Từ các hình ảnh mùa xuân: đêm hội chèo, sự hò hẹncủa đôi lứa, những nỗi niềm vui buồn của cô gái quê, đến khung cảnh gia đìnhsống nề nếp với nghề canh cửi, có mẹ già và cô gái tuổi hoa niên

Em là cô gái trong khung cửi Dệt lụa quanh năm với mẹ già Lòng trẻ còn nh cây lụa trắng

Mẹ già cha bán chợ làng xa

(Ma xuân)

Dịu dàng, ngây thơ và trong trắng, khuôn khổ của một gia đình và côngviệc cần mẫn quanh năm tởng nh tách biệt cuộc sống của ngơì con gái với thếgiới bên ngoài

Hình ảnh thơ gợi ta nhớ đến câu ca:

Thân em nh tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

(Ca dao)

Hoặc:

Thân em nh giếng giữa đàng Ngời khôn rửa mặt, ngời phàm rửa chân

(Ca dao)

Và:

Thân em nh giọt ma sa Giọt vào đài các, giọt ra ngoài đồng

(Ca dao)

Trang 22

Mặc dù vậy ở đây cô gái trong trắng, thơ ngây đang sống trong tuổi hồng,trẻ trung đầy ớc mơ để rồi:

Bữa ấy ma xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy (Ma xuân) Hình ảnh M “ a xuân phơi phới bay”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th đã cùng với “Hoa xoan lớp lớp rụng vơi

đầy ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th tạo nên vẻ rạo rực, xốn xang nhng cũng chứa đầy tâm trạng AnhThơ đã có

lí và nghệ thuật khi viết “Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th cùng với hiện ợng, Nguyễn Bính sáng tạo “Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy" Tô Hoài đã nhắc

t-đến hai câu thơ này của Nguyễn Bính với lời khen trân trọng “ Tầm vóc, thật tầmvóc những câu thơ Nguyễn Bính”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th [3; 21]

Khi diễn tả trạng thái tự nhận biết của cô gái trẻ đang yêu, Nguyễn Bínhviết:

Lòng thấy giăng tơ một mối tình

Em ngừng tay lại giữa thoi xinh

Hình nh hai má em bừng đỏ

Có lẽ là em nghĩ đến anh

(Ma xuân) khổ thơ gợi không khí nh xa "giăng tơ", "thoi xinh", nhng lại rất mới mẻ, với trạng thái diễn tả không xác định qua các từ “có lẽ", "hình nh" và sự e ấp,

ngợng ngùng khi đối diện với tuổi yêu đơng

Nói tóm lại với thể thơ 7 chữ quen thuộc, Nguyễn Bính đã thổi vào nhữngbài thơ, những câu thơ, điệu thơ mùi hơng đất đai của làng quê Việt Nam, cũng

nh cái ngọt ngào hay cái cay đắng của thiên nhiên, tâm trạng và hơn thế nữa,

nó chứa đựng cả cái ao ớc, nguyện vọng, ý muốn cho đờng đi, nghệ thuật của tácgiả

Tất cả những bài thơ đó đã đa ngời đọc về với cội nguồn xa xăm mà đángnhớ, đáng yêu của dân tộc, tìm về với một thanh bình, yên ả trong tâm trạng yêuthơng, tự hào phảng phất cái cô đơn, “cái tôi bé nhỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th của một nhà thơ

Tiểu kết:

Nh vậy qua việc tìm hiểu về mặt thể loại chúng ta phần nào thấy đợc “Chấtdân gian trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Đó là những thể thơ truyền thống,quen thuộc mà Nguyễn Bính đã có sự kế thừa và sáng tạo một cách độc đáo, cónghĩa là mặc dù sử dụng thể thơ truyền thống nhng nội dung thể hiện nhiều lúccũng mang tính hiện đại Tuy nhiên ở Nguyễn Bính cái truyền thống vẫn là cáinổi trội, với thể thơ lục bát ông đã đa ta trở về với những câu ca dao, dân ca quenthuộc, gần gũi, dễ hiểu, dễ nhớ Bên cạnh đó thể thơ thất ngôn cũng đa ta về với

Trang 23

hai thể loại này chiếm đại đa số (thơ lục bát chiếm 40%, thơ thất ngôn chiếm48%), còn thể thơ khác chỉ chiếm một phần rất nhỏ Điều này cho ta thấy ôngviết về làng quê Việt Nam, con ngời Việt Nam thì việc sử dụng những thể thơtruyền thống đó là rất phù hợp

Trang 24

Chơng 2

Chất dân gian xét từ mặt từ ngữ trong thơ

Nguyễn BínhTrong thơ Nguyễn Bính một điều đặc biệt nữa là việc sử dụng vốn từ ngữ

trong tiếng Việt Vốn từ ngữ mà ông sử dụng cũng mang đậm chất dân gian, đó

chính là những lớp từ ngữ quen thuộc đối với ngời dân Việt Nam Khi tiếp cậnnhững lớp từ ngữ đó ai cũng hiểu ngay ý nghĩa muốn diễn đạt của tác giả ngaytrên bề mặt của câu chữ Chúng ta tìm hiểu vốn từ ngữ trong thơ Nguyễn Bính

cũng chính là tìm hiểu chất dân gian đợc thể hiện nh thế nào ở đó Vì vậy ở đây chúng ta chỉ khảo sát những lớp từ ngữ mà chúng mang đậm chất dân gian trong

thơ ông

2 1 Từ thuần Việt

Nói đến lớp từ thuần Việt là nói đến lớp từ chiếm tuyệt đại đa số trong sángtác của Nguyễn Bính Chúng tôi đã khảo sát 100 bài thơ thì từ Hán Việt chỉ xuấthiện có 112 lợt từ, còn lại là từ thuần Việt Nh vậy, tính trung bình mỗi bài thơNguyễn Bính chỉ có hơn một lợt từ Hán Việt Nguyễn Bính đã từng tâm sự rằngthơ Việt viết cho ngời Việt, do đó giản dị là một điều cốt yếu Có lẽ nói đến sựgiản dị, trong sáng, dễ hiểu thì chúng ta không thể không nói đến từ thuần Việt.Vì khi tiếp xúc với một từ thuần Việt chúng ta sẽ hiễu ngay ý nghĩa của nó, do

đó Nguyễn Bính đã tận dụng tối đa lớp từ thuần Việt khi viết về làng quê Việt

Nam, con ngời Việt Nam Chẳng hạn bài thơ Chân quê“ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th chúng ta thấy cả một

bài thơ Nguyễn Bính chỉ sử dụng duy nhất một từ Hán Việt đó là Tứ thân“ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th

Nào đâu cái áo tứ thân?

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

(Chân quê) Tuy nhiên tứ thân“ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th là từ Hán Việt nhng khi đọc lên ai cũng có thể hiểungay, vì nó quá quen thuộc với một kiểu áo của ngời dân quê Việt Nam Nói đến

áo tứ thân“ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th không ai không biết, vì vậy từ Hán Việt này trong tiềm thức ngờiViệt, đặc biệt là những con ngời ở vùng làng quê nông thôn nó nh đợc Việt hoá

Hay là ở bài thơ Đêm cuối cùng ,“ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th cả bài thơ chỉ có duy nhất một từ Hán

Việt: tiễn“ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th

Mấy lần tôi muốn gọi em

Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ

(Đêm cuối cùng)

ở đây có lẽ không có từ nào thay thế đợc từ Tiễn “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Vì vậy mà NguyễnBính đã phải dùng nó Hơn nữa, khi nói về một điều gì thuộc sự tích thì dùng từ

Trang 25

Bính rất ít dùng từ Hán Việt Có rất nhiều bài thơ dài không có từ Hán Việt nào,

chẳng hạn các bài: Ma xuân , Lòng mẹ , Cái tết của mẹ tôi ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th “ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và rất nhiềubài thơ khác

Trong thơ Nguyễn Bính, từ thuần Việt chủ yếu là từ đơn tiết, còn từ đa tiếtchỉ chiếm khoảng 10% Qua đó ta thấy nếu xét về cấp độ, từ đơn tiết chỉ có từthuần Việt là chủ yếu Chính điều đó đã đợc Nguyễn Bính thể hiện trong sáng

tác của mình Chẳng hạn bài thơ Qua nhà ,“ ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th khảo sát toàn bài ta chỉ thấy có hai

từ đa tiết đó là: Cời cời, yêu yêu

Khi Nguyễn Bính nói “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th thì ngời Việt nghĩ ngay đến “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh

Tôi đợi ngời yêu đến tự tình

(Mùa xuân xanh- 1937)

Xanh cây xanh cỏ xanh đồi

Xanh rừng xanh núi da giời cũng xanh

Cỏ đồi ai nhuộm mà xanh?

áo em ai nhuộm mà anh thấy chàm?

(Vài nét rừng) Hay là chữ “trời”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th

Trời ma ớt áo làm gì?

Năm mời bảy tuổi chị đi lấy chồng

Chị từ lỡ bớc sang ngang

Trang 26

Trời giông bão giữa tràng giang lật thuyền

(Lỡ bớc sang ngang)

“Cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và “trời”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th trong Hán Việt chính là “thảo”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và “thiên”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, nhng nghĩa của

“trời”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th là hình ảnh của sự vật khách quan, khi nghe đến hai chữ đó chúng

ta nghĩ ngay đến một nghĩa cụ thể là đang nói về “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th và “trời”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th Trái lại “thiên”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th

và “thảo”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th không hoạt động thành những từ độc lập, cho nên không có cái nghĩa của sự vật khách quan Nếu muốn tìm hiểu nghĩa của “thảo”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, ngời Việt phải nhớ

ít nhất hai từ có yếu tố này: thảo l, cam thảo chẳng hạn Kết quả nghĩa của

“thảo”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th vừa là “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th vừa không phải là “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, nó thấp thoáng Còn từ “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th mà Nguyễn Bính sử dụng ở đây chỉ có một nghĩa “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th mà thôi Ngời Việt còn có thể dùng chữ “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th để tạo nên vô số danh ngữ : Cỏ may, cỏ cú, cỏ lác , diễn tả mọi hành động liên quan đến “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th : Đào cỏ, xới cỏ và chính sự kết hợp này cũng

đã đợc Nguyễn Bính sử dụng:

Hồn anh nh hoa cỏ may

Một chiều cả gió bám đầy áo em

(Hoa cỏ may) Tuy nhiên dù kết hợp với yếu tố nào thì “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th vẫn là từ thuần Việt, vẫn là tên gọi gợi cho ta nghĩ ngay đến “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, hay một loại “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th cụ thể nào đó

Qua viêc so sánh “thiên”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, “thảo”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th với “trời”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, “cỏ”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th ta thấy rõ ràng từ thuần

Việt dễ hiểu và cụ thể chứ không trừu tợng, mơ màng nh từ Hán Việt ViệcNguyễn Bính ít sử dụng từ Hán Việt cũng chính là đa đến cho ngời đọc một cáchhiểu rõ nhất, cụ thể nhất, phù hợp với trình độ và lối t duy của ngời dân nôngthôn Việt Nam Mỗi trờng hợp dùng từ Hán Việt của Nguyễn Bính là những tr-ờng hợp bất đắc dĩ, có thể lúc đó từ thuần Việt không thể diễn tả hết ý nghĩahoặc sắc thái biểu đạt của nội dung thể hiện

Chẳng hạn:

Năm xa một buổi đang ma lụt

Tôi tiễn chân ngời sáng biệt ly

(Nhớ nguời trong nắng) Nếu ta thay “ tiễn" bằng "đa”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th, “biệt ly" bằng "chia tay”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th thì lúc đó âm hởng của cái “năm xa”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th sẽ giảm đi Vì vậy mà Nguyễn Bính đã đa những yếu tố Hán Việt này vào làm cho nét nghĩa hoài cổ, sức gợi lại kỷ niệm của “năm xa”, ”thi sĩ đồng quê”, “thi sĩ th tăng

lên Tuy nhiên trong những trờng hợp này ngời Việt cũng có thể hiểu đợc ýnghĩa cụ thể của nó

Chính lớp từ thuần Việt trong thơ Nguyễn Bính mang đậm chất dân gian, vì

chủ yếu ở đây là những từ ngữ rất dân dã, dễ hiểu Chúng ta tìm hiểu một số bàithơ, câu thơ của Nguyễn Bính sẽ thấy đợc điều đó

Khi nói đến sự lo lắng của ngời mẹ cho ngày Tết, ông viết:

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Bính - Nhà thơ chân quê (2000) - NXB Văn Hoá Thông Tin - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính - Nhà thơ chân quê
Nhà XB: NXB Văn Hoá Thông Tin -Hà Nội
2. Nguyễn Bính - Chân quê (1986) - NXB Văn Học - Hà Nội 3. Tuyển tập Nguyễn Bính (1986) - NXB Văn Học - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân quê
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 1986
4. Nguyễn Phan Cảnh (1987) - Ngôn ngữ thơ - NXB Đại Học & Giáo Dục Chuyên Nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ -
Nhà XB: NXB Đại Học & Giáo DụcChuyên Nghiệp - Hà Nội
5. Phan Cự Đệ (1982) - Phong trào thơ mới - NXB Khoa Học Xã Hội - Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thơ mới
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội - HàNéi
6. Hà Minh Đức (1985) - Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê - NXB Giáo Dục - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê
Nhà XB: NXB GiáoDục - Hà Nội
7. Hà Minh Đức (1986) - Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê - NXB Văn Học 8. Hà Minh Đức - Đoàn Đức Phơng (Tuyển tập và giới thiệu) Nguyễn Bínhvề tác gia và Tác phẩm - NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 1986
9. Đoàn Thị Đặng Hơng (1997) - Nguyễn Bính thi sĩ nhà quê - NXB Đại Học Quốc Gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính thi sĩ nhà quê
Nhà XB: NXB ĐạiHọc Quốc Gia - Hà Nội
10. Nguyễn Xuân Kính (1994) - Về việc vận dụng thi pháp ca dao trong thơtrữ tình hiện nay - Tạp Chí Văn Học số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc vận dụng thi pháp ca dao trong thơ"trữ tình hiện nay -
11. Đinh Trọng Lạc (1999)- Phong cách học tiếng Việt- NXB Giáo Dục- Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo Dục- HàNéi
Năm: 1999
12. Nguyễn Lộc (1999) - Văn học Việt Nam nửa cuối XVIII - hết XIX - NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối XVIII - hết XIX
Nhà XB: NXBGiáo Dục
13. Phan Ngọc (1985) - Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều - NXB Khoa Học Xã Hội - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội - Hà Nội
14. Vũ Ngọc Phan (1978) - Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam - NXB Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam
Nhà XB: NXB KhoaHọc Xã Hội
15. Phan Diễm Phơng (1998) - Thơ lục bát ở một thế hệ nhà thơ hiện đại - Tạp Chí Văn Học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ lục bát ở một thế hệ nhà thơ hiện đại
16. Hoài Thanh- Hoài Chân (1993)-Thi nhân Việt Nam- NXB Văn Học- Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh- Hoài Chân
Nhà XB: NXB Văn Học- HàNéi
Năm: 1993
17. Đỗ Lai Thuý (1994) - Con mắt thơ - NXB Lao Động - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con mắt thơ
Nhà XB: NXB Lao Động - Hà Nội
18. Vũ Thanh Việt (2000) - Thơ tình Nguyễn Bính - NXB Văn Hoá Thông Tin- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tình Nguyễn Bính
Nhà XB: NXB Văn Hoá ThôngTin- Hà Nội
19. Hoàng Xuân (tuyển chọn 1998) - Nguyễn Bính thơ và đời - NXB Văn Học - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính thơ và đời
Nhà XB: NXB VănHọc - Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w