Bài viết của tác giả Bùi Văn Nguyên "Âm vang tục ngữ, ca dao trong thơ quốc âm của Nguyễn Trãi"Tạp chí ngôn ngữ, số 3- 1980 ở bài viết này tác giả đã đề cập đến ảnh hởng của văn học dân
Trang 1A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu.
Nguyễn Trãi là một trong số các nhà văn lớn của nền văn học trung đạiViệt Nam, đồng thời là danh nhân văn hoá thế giới "Ngôi sao Khuê " này đãtoả sáng trên văn đàn hơn sáu thế kỷ và thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiêncứu văn học trong và ngoài nớc Đến với văn, thơ của ức Trai, một điều dễnhận thấy là các tác phẩm dù đợc viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm thì ít nhiều
đều chịu sự ảnh hởng của sáng tác dân gian Thực tế đó đã đợc một số nhànghiên cứu đề cập tới trên các phơng diện, từ các góc độ khác nhau trong cácbài viết từ trớc tới nay (Điều này sẽ đợc trình bày cụ thể ở phần lịch sử vấn
ấp ủ nguyện vọng là sẽ đi sâu tìm hiểu một vấn đề có liên quan tới văn thơ của
ức Trai mà mình tâm đắc Với niềm hứng thú đó cùng với sự gợi ý của cácnhà nghiên cứu, tôi đã chọn đề tài tìm hiểu về: "ảnh hởng của sáng tác dângian trong thơ Nôm Nguyễn Trãi"
Vấn đề mà tôi quan tâm vừa có giá trị về mặt lý luận vừa có ý nghĩa vềmặt thực tiễn Bởi vì: Tìm hiểu "ảnh hởng của sáng tác dân gian trong thơNôm Nguyễn Trãi" thực chất là xem xét mối quan hệ giữa văn học dân gian vàvăn học viết nói chung và văn học trung đại nói riêng qua một tác gia tiêubiểu NHiệm vụ khoa học khi thực hiện đề tài này đòi hỏi phải chỉ ra cho đợccơ sở lý luận của vấn đề và những biểu hiện cụ thể về sự ảnh hởng của sángtác dân gian đối với tác phẩm "Quốc âm thi tập" của ức Trai Sự ảnh hởng đódiễn ra trên những phơng diện nào? Nguyễn Trãi đã tiếp thu sáng tác dân giantrong bộ phận thơ Nôm theo xu hớng ra sao và những nguyên nhân nào tạonên sự ảnh hởng?
Nếu những câu hỏi đó đợc trả lời một cách thấu đáo thì hy vọng bảnthân sẽ góp thêm một tiếng nói trong việc tìm hiểu giá trị lớn lao của văn thơNguyễn Trãi khi về với cội nguồn
2 Lịch sử vấn đề
Trang 2Nguyễn Trãi xuất hiện trên thi đàn văn học Việt Nam với một hồn thơ
đa dạng và phong phú, đặc biệt là qua thơ Nôm "Quốc âm thi tập" Ra đời vàtồn tại hơn sáu thế kỷ, nên tác phẩm này đã đợc rất nhiều ngời quan tâmnghiên cứu và đánh giá Đặc biệt là qua kỷ yếu hội thảo"Kỷ niệm 600 nămsinh Nguyễn Trãi" đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị Nhng donhững mục đích khác nhau, đối tợng khám phá và hớng tiếp cận không giốngnhau nên mỗi tác giả có cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Dới đâychúng tôi xin giới thiệu một số bài viết có liên quan hay đề cập đến thơ Nômcủa Nguyễn Trãi với văn học dân gian
2.1 Bài viết của tác giả Bùi Văn Nguyên "Âm vang tục ngữ, ca dao trong thơ quốc âm của Nguyễn Trãi"(Tạp chí ngôn ngữ, số 3- 1980)
ở bài viết này tác giả đã đề cập đến ảnh hởng của văn học dân gian đốivới thơ Nôm của Nguyễn Trãi Tác giả viết:"Có thể nói yếu tố tục ngữ, ca daokhá đậm đà trong nhiều câu, nhiều bài thơ của ức Trai tiên sinh Tiếng nói của
tổ tiên ta đợc truyền lại gần nh nguyên vẹn trong tục ngữ, ca dao qua bao thế
hệ Tuy nhiên cho đến nay, chúng ta khó biết đích xác đợc xuất xứ nhiều câutục ngữ, ca dao cổ truyền Chính nhờ Nguyễn Trãi ghi lại một số câu tục ngữ,
ca dao trong thơ Quốc âm của mình mà chúng ta có đợc cái mốc lịch sử chắcchắn để tìm hiểu đợc một số dạng về tục ngữ, ca dao với ý nghĩa lịch đại củanó."
Chẳng hạn, câu tục ngữ: "Miệng ăn núi lở" đợc Nguyễn Trãi vận dụngviết câu: "Làm biếng hay ăn lở non" (Bảo kính cảnh giới - Bài 22)
Câu ca dao: "Khi vui thì vỗ tay vào
Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai ?"
đợc Nguyễn Trãi vận dụng viết: "Đắc thời thân thích chen chân đến
Thất sở láng giềng ngảnh mặt đi"
(Tự thuật - bài 12)
Cuối cùng tác giả khẳng định: "Cách khai thác vốn cổ trong tục ngữ, cadao của Nguyễn Trãi cũng linh hoạt sáng tạo"[9, 36] Có thể tóm lại trong haicách sau: một là, lấy trọn vẹn cả từ lẫn ý, hoặc gần nh trọn vẹn và có chỉnh lýchút ít Hai là: lấy ý chính trong một câu ca dao dài, bằng cách rút gọn khuônvào một câu thơ cách luật hoặc lấy ý chính qua hai câu khác nhau, ghép lạithành hai câu thơ cách luật đối nhau trong phần thực hoặc luận
Trang 3ở bài viết này, tác giả Bùi Văn Nguyên đã nói một cách khái quát về
ảnh hởng của tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm Nguyễn Trãi Đồng thời khẳng
định sự sáng tạo trong cách vận dụng văn học dân gian vào thơ Nôm của ông,góp phần nâng cao giá trị văn học của tiếng Việt, làm cho tiếng Việt ngàycàng phong phú
2.2 Bài viết của Cao Huy Đỉnh (chơng IV "Những chứng tích văn nghê dân gian từ trên trống đồng đến giữa dòng Quốc âm thi tập - Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, H 1976")
Trong chơng này, Cao Huy Đỉnh cũng nhận xét Nguyễn Trãi đã học tậpvăn học dân gian trong sáng tác thơ Nôm của mình Ông viết : "Riêng NguyễnTrãi đã mợn t tởng của nhân dân cùng hình thức đúc kết trí tuệ và tình cảm tậpthể của nhân dân để tự thuật, để hoài niệm cá nhân Thật ra thì ông muốn nói
đến nhân tình thế thái, đến chính trị quốc gia phong kiến." Và Cao Huy Đỉnhcũng kết luận: "Với Nguyễn Trãi tục ngữ, ca dao chính thức trở thành nguồnkhai thác của văn học và văn học thành văn đã chan hoà với sáng tác dân gianthì càng đậm đà tính nhân dân và tính dân tộc."[2, 103]
Nh vậy ở bài viết này, Cao Huy Đỉnh cũng mới chỉ lấy một số dẫnchứng để làm sáng tỏ dấu vết của văn học dân gian trong văn học viết Bài viếtnày chỉ mới là nhận xét bớc đầu
2.3 ở cuốn giáo trình "Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII" Nguyễn Trãi (1380-1442) và tấm lòng u ái "Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông", tác giả Đinh Gia Khánh cũng đã đề cập đến ảnh hởng của sáng tác dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Trãi.
Tác giả khẳng định: "Thành tựu lớn nhất của Nguyễn Trãi không phải là
ở chỗ đồng hoá kho từ vựng và văn liệu Hán mà là ở chỗ xây dựng ngôn ngữvăn học dân tộc trên cơ sở ngôn ngữ của nhân dân và ngôn ngữ của văn họcdân gian" Chẳng hạn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi ta thờng gặp những khẩungữ quen thuộc của nhân dân:
"Co que thay bấy ruột ốc
Trang 4Khúc khuỷu làm chi trái hoè"
(Trần tình - Bài 8).
"Ruộng đôi ba khóm đất con ong
Đầy tớ hay cày kẻo muộn mòng."
(Thuật hứng - Bài 11)
Nguyễn Trãi đã sử dụng ngôn ngữ văn học dân gian để biểu tình đạt ý mộtcách rât nhuần nhị Từ câu tục ngữ: "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài", ông viết:
"ở bầu thì dáng ắt nên trònXấu tốt đều thì rắp khuôn"
(Bảo kính cảnh giới - Bài 21)
Chỉ qua một vài ví dụ trên đủ thấy Nguyễn Trãi am hiểu ngôn ngữ của nhândân nh thế nào [7,259]
2.4 ở bài viết: "Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt" của Hoàng Tuệ (Nguyễn Trãi về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo Dục, H 2000)
Tác giả đã chỉ ra: Tục ngữ rất đợc quý chuộng, đây là chất liệu, nộidung rất đợc đề cao trong "Quốc âm thi tập" Có những câu thơ toàn bộ là tụcngữ:
"Lân cận nhà giàu no bữa cốmBạn bè kẻ trộm phải đau đòn."
Có những tục ngữ đợc dùng nhiều lần trong các biến thể, ví dụ
- "ở bầu thì dáng ắt nên tròn"
- "ắt đã tròn bằng nớc ở bầu"
Cuối cùng tác giả khẳng định: "Rõ ràng là ở thời Nguyễn Trãi và vớichính Nguyễn Trãi, sự đề cao chất liệu ngôn ngữ và văn học dân gian có ýnghĩa thời đại của nó" [16, 820]
Nh vậy, trong bài viết này, tác giả cũng chỉ mới quan tâm đến vai tròcủa Nguyễn Trãi đối với việc vận dụng tục ngữ
Sau khi điểm qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả Bùi VănNguyên với tiều đề: "Âm vang của tục ngữ , ca dao trong thơ quốc âm củaNguyễn Trãi", Cao Huy Đỉnh với chơg IV trong chuyên luận "Tìm hiểu tiếntrình văn học dân gian Việt Nam", Đinh Gia Khánh với những nhận xét bớc
đầu của sự ảnh hởng sáng tác dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Trãi ở một giáo
Trang 5trình "Văn học Việt Nam thế kỷ X- nửa đầu thế kỷ XVIII, Hoàng Tuệ đứng từgóc độ ngôn ngữ với bài "Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt",chúng tôi rút ra nhận xét:
Việc tìm hiểu ảnh hởng sáng tác dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
là vấn đề sớm đợc đặt ra không chỉ đối với các nhà nghiên cứu văn học màcòn đối với các nhà ngôn ngữ học Dù nhìn từ góc độ nào thì sự ảnh hởng này
là một thực tế đã đợc các nhà nghiên cứu khẳng định nh một đóng góp lớn củaNguyễn Trãi vào tiến trình phát triển văn học nớc nhà
Tuy việc tìm hiểu sự ảnh hởng này đã đợc một số công trình nghiên cứu
điểm tới nhng cha có một công trình nào giải quyết vấn đề một cách triệt để
và toàn diện Sự ảnh hởng chỉ mới đợc nói tới trong một phần của những
ch-ơng trình nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Trãi nói chung hoặc ở mức độ cảmnhận Vì thế sự ảnh hởng này đạt tới mức độ nào cũng cha đợc chứng minhbằng số liệu cụ thể, do đó tính thuyết phục có phần hạn chế
Trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu củanhững ngời đi trớc, khoá luận này chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách cụthể, đầy đủ và có hệ thống sự ảnh hởng của sáng tác dân gian trong thơ NômNguyễn Trãi Đồng thời, chỉ ra đợc sự vận dụng sáng tạo và độc đáo củaNguyễn Trãi trong việc sử dụng văn học dân gian, khẳng định sáng tác củaNguyễn Trãi có sự kế thừa, tiếp thu văn học dân gian nhng đồng thời cũng lànhững sáng tác rất riêng, rất độc đáo đúng với bản lĩnh của Nguyễn Trãi
3 Phơng pháp nghiên cứu.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phơng pháp khảo sát thống kê,
so sánh đối chiếu để thấy đợc sự tơng đồng và vận dụng sáng tạo, những
"hoán cải" mới lạ của thơ Nôm Nguyễn Trãi so với văn học dân gian về cácgiá trị nội dung cũng nh hình thức nghệ thuật
Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng phơng pháp phân tích, tổng hợpnhằm khái quát hoá, cụ thể hoá từng vấn đề, đa ra những nhận xét, đánh giáxác đáng có cơ sở khoa học đúng đắn để khẳng định sự ảnh hởng của sáng tácdân gian trong thơ Nôm Nguyễn Trãi là có thực và tất yếu Mặt khác đây làmột vấn đề thuộc về quá khứ nên chúng tôi quán triệt quan điểm lịch sử khinghiên cứu
Trang 64 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng: Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng văn bản "NguyễnTrãi toàn tập", Nxb khoa học xã hội, H 1976
Về phạm vi nghiên cứu: Thơ Nguyễn Trãi có hai bộ phận: thơ chữ Hán
và thơ chữ Nôm, chúng tôi chỉ nghiên cứu bộ phận thơ chữ Nôm
Về sáng tác dân gian có nhiều nhng chúng tôi cũng chỉ nghiên cứumảng thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Trang 7là suy nghĩ của ngời dân trong xã hội Bởi vậy văn học dân gian luôn là nềntảng cơ bản, là "văn học mẹ" cho văn học thành văn sau này Dới đây chúngtôi sẽ trình bày một cách tóm lợc nhất sự ảnh hởng của văn học dân gian vớivăn học trung đại Việt Nam Đi tìm hiểu sự ảnh hởng đó, thực chất là chúng tatìm hiểu về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học trung đại ViệtNam.
Trớc hết, chúng ta cần làm rõ khái niệm mối quan hệ
Mối quan hệ là sự tác động qua lại, sự ảnh hởng chi phối lẫn nhau, sựxuyên thấm vào nhau giữa các sự vật hiện tợng trong thế giới khách quan Khinói tới mối quan hệ giữa các sự vật hiện tợng chúng ta cần lu ý một thực tế làkhông phải chỉ có các sự vật giống nhau, cùng bản chất thì mới có quan hệ màngay cả những sự vật khác nhau, cách xa nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau,cũng có quan hệ Giới nghiên cứu văn học so sánh Xô Viết nhấn mạnh: "Chỉthấy chỗ giống nhau mà kết luận về những liên hệ phụ thuộc giữa hai hiện t-ợng văn học thì cũng vu vơ nh là không thấy chỗ giống nhau mà phủ địnhquan hệ phụ thuộc" [8, 76]
Từ khái niệm chung về mối quan hệ đã trình bày ở trên, chúng ta thấyrằng mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết nói chung, văn họctrung đại nói riêng là một trong những mối quan hệ cơ bản của nền văn họcdân tộc Mối quan hệ này là phổ biến và có tính quy luật không chỉ đối với cácnền văn học trẻ tuổi mà cả đối với các nền văn học đã có một lịch sử phát triểnlâu đời Ngay cả khi văn học dân gian của một dân tộc không phát triển nữathì bộ phận văn học dân gian cổ truyền vẫn tác động đến tiến trình văn họccủa dân tộc đó một cách tích cực ở mỗi nền văn học dân tộc, trong từng giai
Trang 8đoạn lịch sử mối quan hệ đó có những xác định cụ thể, độc đáo trong khi thểhiện những quy luật chung phổ biến.
ở Việt Nam chúng ta do có những điều kiện lịch sử riêng, văn học dângian có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng nền vănhọc dân tộc Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học trung đại ViệtNam hết sức chặt chẽ, sâu sắc, đã trở thành một động lực thúc đẩy nền vănhọc dân tộc phát triển mạnh mẽ Mối quan hệ giữa hai bộ phận văn học nàycũng nằm trong quy luật sinh thành và phát triển của nghệ thuật Đó là quyluật kế thừa và cách tân Đây là lẽ sống còn của văn học nghệ thuật Hay nóicách khác văn học chỉ có thể tồn tại, phát triển trên cơ sở sự kế thừa và đổimới Rõ ràng, văn học trung đại Việt Nam chỉ có thể ra đời, phát triển trên cơ
sở thừa và cách tân văn học dân gian Đối với văn học dân gian thì sự kế thừa
và cách tân diễn ra khác nhau, trong đó sự kế thừa mạnh mẽ hơn sự cách tân.Vì hiện tợng phổ biến trong văn học dân gian là sáng tác lại Tính lặp lại là
đặc trng vốn có trong văn học dân gian và nó đợc diễn ra chủ yếu ở mặt hìnhthức Còn ở văn học viết nói chung, văn học trung đại nói riêng sự đổi mớidiễn ra mạnh mẽ hơn sự kế thừa, tất cả không chấp nhận sự lặp lại
Nh vậy, chúng ta thấy không thể nghiên cứu văn học dân gian màkhông tìm hiểu tác động qua lại của nó với văn học trung đại Việt Nam Càngkhông thể hiểu đợc đầy đủ và sâu sắc bộ phận văn học trung đại Việt Nam nếukhông biết đến ảnh hởng của văn học dân gian đối với nó Về khái niệm mốiquan hệ giữa văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam thực chất là mốiliên hệ tác động qua lại giữa hai hình thái lịch sử của nghệ thuật ngôn từ, hai
hệ thống thẩm mỹ độc lập ra đời, tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh
điều kiện cụ thể khác nhau, theo những quy luật riêng Tuy cả hai đều có mộtcái nền chung là thực tiễn đời sống dân tộc, nền văn học dân tộc và đều chịu
sự chi phối bởi những quy luật chung của hoạt động sáng tạo nghệ thuật bằngngôn từ
Có một điều cần chú ý rằng khi nói đến mối quan hệ văn học dân gian
và văn học trung đại Việt Nam là quan hệ hai chiều thì không có nghĩa là sứctác động, hiệu qủa tác động của hai bên là ngang nhau Trong thực tế, văn họcdân gian thờng cho nhiều hơn là nhận Vì vậy, khi nghiên cứu mối quan hệnày chủ yếu chúng ta tìm hiểu ảnh hởng của văn học dân gian đối với văn họctrung đại Việt Nam Đây là loại ảnh hởng t tởng - thẩm mỹ Ta có thể tìm thấy
Trang 9dấu vết ảnh hởng này cả trong thế giới quan, cả trong cảm xúc, cả trong quan
điểm thẩm mỹ và phong cách nghệ thuật của nhà văn Tất cả những yếu tố đóhoà chung với nhau thành một nội dung thống nhất và đợc thể hiện ra trongmột hình thức hoàn chỉnh
1.2 Vị trí, vai trò của Nguyễn Trãi trong việc tiếp thu văn học dân gian ở lĩnh vực thơ Nôm.
Văn học trung đại Việt Nam chịu sự ảnh hởng mạnh mẽ, sâu sắc củavăn học dân gian Nó đợc biểu hiện cụ thể trên các thể loại nh truyện cổ tích,thành ngữ, tục ngữ, ca dao ở các tác giả tiêu biểu nh Nguyễn Trãi, NguyễnDữ, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du…Đối với thơ Quốc âm thì sự ảnh hĐối với thơ Quốc âm thì sự ảnh hởng củavăn học dân gian ở Nguyễn Trãi là khá sâu sắc và độc đáo, rất đáng để chochúng ta học tập và nghiên cứu
Sự ảnh hởng văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam khôngphải lúc nào cũng nh lúc nào mà nó còn tuỳ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử
cụ thể mà sự ảnh hởng đó có những mức độ đậm nhạt khác nhau Nhìn chungthì sự ảnh hởng của văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam đợcdiễn ra theo ba giai đoạn
Giai đoạn thứ nhất: Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV:
ở giai đoạn này sự ảnh hởng cuả văn học dân gian và văn học trung
đại Việt Nam mới ở mức độ ghi chép truyện dân gian để hình thành nên vănxuôi tự sự bằng chữ Hán Mở đầu là "Báo cực truyện " (Khuyết danh) rồi đến
"Việt điện U Linh" (Lý Tế Xuyên) và "Lĩnh Nam chích quái" (Vũ Quỳnh,Kiều Phú)
Nh vậy ở giai đoạn đầu này mức độ ảnh hởng của văn học dân gian vớivăn học trung đại còn thấp, chỉ là việc cố định hoá các truyện kể dân gianbằng văn bản chữ viết Nguyên nhân của việc ảnh hởng đơn giản đó là donhững thế kỷ này chỉ có dòng văn học viết bằng chữ Hán Thứ ngôn ngữ nàymặc dầu đã đợc Việt hoá về mặt ngữ âm, vẫn cách biệt quá xa với ngôn ngữhàng ngày của dân tộc
Giai đoạn thứ hai: Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII.
ở giai đoạn này cùng với sự phát triển của chữ Nôm, sự ảnh h ởng củavăn học dân gian đối với văn học trung đại Việt Nam có thêm nhiều biểuhiện mới: thành ngữ, tục ngữ, ca dao đợc đa vào thơ Nôm của Lê ThánhTông và Nguyễn Trãi, đặc biệt là ở Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi ở giai
Trang 10đoạn này Nguyễn Trãi nổi lên nh là ngời đi tiên phong trong việc đa lời ăntiếng nói của quần chúng nhân dân vào văn chơng Và sự ảnh hởng sâu sắccủa văn học dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Trãi đợc biểu hiện khá rõ ởviệc vận dụng chất liệu, đề tài, nội dung triết lý đạo đức …Đối với thơ Quốc âm thì sự ảnh h
Giai đoạn thứ ba: Từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX
ở chặng này sự tác động của văn học dân gian đối với văn học trung
đại Việt Nam một cách toàn diện, sâu sắc và vơn tới đỉnh cao với các nhà thơtiêu biểu nh Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Đình Chiểu Các nhà thơnày đã tiếp thu văn học dân gian cả về nội dung và hình thức
Qua ba giai đoạn phát triển đó của văn học dân tộc, ta đều tìm thấynhững mức độ ảnh hởng khác nhau của văn học dân gian đối với văn họctrung đại Việt Nam Và điều quan trọng hơn là chúng ta đã nhận thấy vai trò,
vị trí quan trọng của Nguyễn Trãi trong việc tiếp thu ảnh hởng văn học dângian ở lĩnh vực thơ Nôm Ông chính là nhịp cầu nối liền giữa hai giai đoạn,biểu hiện sự ảnh hởng của văn học dân gian đối với văn học trung đại ViệtNam, đó là giai đoạn một và giai đoạn ba Đồng thời chúng ta thấy NguyễnTrãi là ngời có công lao lớn nhất trong việc vận dụng chất liệu văn học dângian vào sáng tác thơ Nôm Nó thể hiện ý thức phục hng văn hóa và t tởnglấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi
"Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi với 254 bài thơ là khối l ợng thơNôm cổ nhất hiện còn và Xuân Diệu ghi nhận đây là tác phẩm mở đầu củanền thơ cổ điển Việt Nam Trong tập thơ Quốc âm của mình - một tập thơ trữtình có phong vị triết học - Nguyễn Trãi đã đúc kết khá nhuần nhuyễn nhữngtri thức hoặc rút ra từ sử sách hoặc khai thác từ trong kho tàng văn học dângian của nhân dân ta về đề tài và chất liệu Có thể nói, nguồn từ ngữ dân giannhất là nguồn thành ngữ tục ngữ, ca dao khá đậm đà trong nhiều câu thơ,nhiều bài thơ của ức Trai tiên sinh Tiếng nói của tổ tiên ta đợc truyền lại gần
nh nguyên vẹn trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao qua bao thế hệ Tuy nhiên,cho đến nay chúng ta khó biết đợc chính xác xuất xứ của nhiều câu thành ngữ,tục ngữ, ca dao cổ Chính nhờ Nguyễn Trãi ghi lại một số câu thành ngữ, tụcngữ, ca dao trong thơ Quốc âm của mình mà chúng ta có đợc cái mốc lịch sửchắc chắn để tìm hiểu về một số dạng tục ngữ, ca dao của văn học dân gian
nh ý kiến của ông Bùi Văn Nguyên đã đợc trình bày ở phần lịch sử vấn đề.Chúng ta thấy vợt ra khỏi sơng mù của lịch sử hàng loạt thành ngữ, tục ngữ, ca
Trang 11dao đã đợc lu truyền trớc hay ít nhất là đơng thời nhà thơ Lối nói vần vè, ngắngọn của nhân dân ta ra đời rất xa cùng với tiếng mẹ đẻ bây giờ với NguyễnTrãi chính thức trở thành nguồn khai thác của văn học.
Trong bài "Huấn nam tử" (Dạy con trai) ở hai câu kết Nguyễn Trãi nói:
"Xa đã có câu truyền bảo Làm biếng, hay ăn lở non."
Và ở câu kết bài"Bảo kính cảnh giới" số 22 Nguyễn Trãi cũng nói:
"Làm biếng ngồi ăn lở non"
Vậy rõ ràng câu thành ngữ: "Miệng ăn núi lở" vốn đã có từ lâu lắm, khi
tổ tiên ta đã có ý thức giáo dục con cháu phải biết quý trọng biết yêu lao động.Vì chỉ có lao động mới có sáng tạo, mới chắp cánh cho cuộc sống không haomòn Nếu không lao động thì miệng tuy nhỏ nhng cũng có thể ăn lở núi lớn.Dạng bốn từ "Miệng ăn núi lở" vốn đợc nhân lên từ dạng hai từ "Miệng ăn" và
"Núi lở" đều là dạng câu nói câu ví đơn giản kiểu "Xúc xắc", "Xúc xẻ" có từlâu đời
Đến dạng ca dao dùng thể lục bát là dạng xuất hiện về sau cũng cha xác
định đợc thời nào nhng âm vang của nó đã có trong thơ Quốc âm của NguyễnTrãi
trong bài "Bảo kính cảnh giới" số 12 có bốn câu thực, luận, nh sau:
"Những kẻ ân cần khi phú quý Hoạ ai bao bọc thuở gian nan ?Lều không con cái hằng tình phụBếp lạnh anh tam biếng hỏi han"
Hay trong bài "Tự thuật" số 12 cũng có hai câu thực:
"Đắc thời thân thích chen chân đếnThất sở, láng giềng ngảnh mặt đi."
Hai câu thực ở bài thơ trên khá giống với câu ca dao:
"Khi vui thì vỗ tay vào
Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai."
Và hai câu luận của bài "Bảo kính cảnh giới" số 12 lại ứng với câu cadao sau đây:
"Khó khăn ở quán ở lều
Bà cô ông cậu ít nhiều hỏi han."
Trang 12Đó chính là những câu ca dao nói về lòng ngời đen bạc, dễ đổi thay, vềthế thái nhân tình dới chế độ phong kiến.
Nh vậy, ta thấy phần lớn các câu ca dao, tục ngữ mà Nguyễn Trãi dùngkhông giữ nguyên trạng thái vốn có mà đợc nhào nhuyễn lại, đợc biến hoámột cách tài tình để thành những kết cấu ngôn ngữ nghệ thuật sinh động Đómới chính là sự sáng tạo của một nhà thơ, là cách chuyển hoá đúng đắn vănhọc dân gian vào thơ ca bác học
Tất cả những cố gắng để tạo ra mọi sự đổi thay nh vậy đối với chúng tangày nay hẳn không phải là cái gì ghê gớm đến không thể hiểu đợc Nhng đặtvào thời đại Nguyễn Trãi thì đó là một cố gắng vợt bậc, vợt lên quá xa so vớithời đại Một cố gắng đòi hỏi ngời thực hiện phải vứt bỏ cả thói quen nếp t t-ởng cũ, cả cảm hứng thẩm mĩ vốn đã đợc bồi dỡng trong trờng học chínhthông của Nho giáo Có thể nói Nguyễn Trãi rõ ràng là nhịp cầu nối làm chothơ ca dân gian và thơ ca bác học xích lại gần nhau
Bởi vậy, không có gì là thiếu chính xác khi Hoàng Trung Thông và NguyễnHuệ Chi xếp Nguyễn Trãi vào "Một vị trí quan trọng bậc nhất trong lịch sử văn họcViệt Nam thế kỷ XV, vị trí khai sáng cũng là vị trí báo hiệu Nguyễn Trãi khai sáng rathơ ca tiếng Việt cổ điển, và cũng báo hiệu triển vọng của nền văn học tiếng Việt đầysức sống"[17, 943]
Nh vậy, ta thấy sự ảnh hởng của văn học dân gian trong "Quốc âm thi tập" củaNguyễn Trãi là điều có thực, diễn ra khá phổ biến Sự ảnh hởng đó nh thế nào sẽ đợc đisâu khảo sát, phân tích ở hai chơng tiếp theo của khoá luận này
Ch ơng 2: Sự ảnh hởng của thành ngữ, tục ngữ trong thơ nôm Nguyễn Trãi
Tục ngữ là một thể loại của văn học dân gian, nó đã đợc nhân dân sángtạo và lu truyền, phổ biến sâu rộng Tục ngữ cứ tồn tại trong cuộc sống hàngngày của nhân dân cho đến khi có chữ Nôm ra đời Trong các sáng tác văn thơbằng chữ Nôm ngời ta bắt gặp rất nhiều các yếu tố thành ngữ, tục ngữ Tiêubiểu nhất vẫn là “Quôc âm thi tập” của Nguyễn Trãi ở đó, chúng ta tìm thấy
sự tiếp thu vận dụng thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Trãi một cách uyểnchuyển, linh hoạt, đầy biến hoá tạo nên những giá trị đặc sắc cho tập thơ
Lâu nay, một số nhà nghiên cứu ăn học dân gian xếp tục ngữ vào loạivăn học đúc rút kinh nghiệm, nhng lại có ngời xếp nó vào loại văn học phản
Trang 13ánh trí tuệ dân gian, Nhng nhìn chung ngời ta đã thống nhất quan niệm tụcngữ thiên về lý trí, tục ngữ gắn liền với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhândân Theo quan niệm của chúng tôi thì tục ngữ là vốn tri thức thực tiễn củamọi mặt cuộc sống mà nhân dân ta đã kết thúc trong một hình thức ngắn gọn,cô đúc cho việc diễn đạt cảm nghĩ của con ngời và đợc xã hội chấp nhận Cònthành ngữ thực ra cha phải là một thể loại của văn học dân gian nhng nhiềuthành ngữ ví von giàu hình ảnh lại cô đúc, có nội dung phong phú nên nó cũngtrở thành chất liệu trong sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Trãi.
2.1.1 Thống kê:
Xét toàn bộ 1848 câu thơ trong “Quốc âm thi tập” chúng ta có thểthống kê đợc khoảng 50 câu thơ có sử dụng thành ngữ, tục ngữ hoặc yếu tốthành ngữ, tục ngữ Nếu tính phần trăm thì các câu thành, tục ngữ hoặc cáccâu có yếu tố thành ngữ, tục ngữ đó chiếm khoảng 2,7% Tỉ lệ phần trăm này
dù sao vẫn chỉ là tơng đối, cha thật chính xác Bởi vì trong “Quốc âm thi tập”của Nguyễn Trãi hiện có gần khoảng 30 bài thơ trùng với thơ quốc âm củaNguyễn Bỉnh Khiêm Nhng dù sao qua tỉ lệ đó cũng cho chúng ta nhận xét vềviệc ảnh hởng của sáng tác dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Trãi là thực tế dễnhận thấy, đặc biệt là sự ảnh hởng của thành ngữ, tục ngữ
Trong “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi hầu hết các mục nh “Thuậthứng”, “Mạn thuật”, “Tự thuật”, “Trần tình”, “Tự thán”, “Bảo kính cảnh giới”, đều có ảnh h
…Đối với thơ Quốc âm thì sự ảnh h ởng của thành ngữ, tục ngữ Theo sự khảo sát thống kê chúngtôi thấy cụ thể nh sau:
Mục “Mạn thuật” có 2 câu
Mục “Thuật hứng ” có 4 câu
Mục “Tự thuật ” có 3 câu
Mục “Trần tình ” có 4 câu
Mục “Tự thán ” có 5 câu
Mục “Ngôn chí ” có 2 câu
Mục “Bảo kính cảnh giới ” có 30 câu
Nh vậy, qua những con số thống kê cụ thể đó cho chúng ta nhận thấymột điều rằng: Nguyễn Trãi là một ngời có tâm hồn phong phú, sống với thếgiới nội tâm đầy sâu lắng
Trang 14Do vậy, ở trong “Quốc âm thi tập” những mục nào có nội dung mà tácgiả có thể bộc lộ đợc trực tiếp nội niềm suy nghĩ của mình nh “Tự thán”, “Tựthuật”, “Trần tình” thì sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ của văn học dân gian sẽ
đợc Nguyễn Trãi đa vào nhiều hơn
Chẳng hạn nh chứng kiến cuộc sống đen bạc, lòng ngời dễ đổi trắngthay đen trong xã hội lúc bấy giờ Nguyễn Trãi chua chát thốt lên:
mà đó là một dụng ý nghệ thuật của tác giả Bởi mục “Bảo kính cảnh giới”nghĩa là “Gơng báu răn mình” Nh vậy, qua mục này Nguyễn Trãi muốn bày
tỏ tấm lòng u ái của mình với thời cuộc, muốn đem những kiến thức rống lớn,sâu xa của mình phổ biến cho muôn ngời không ngoài mục đích để giáo huấn
đạo đức, triết lý về xã hội những mong xã hội sẽ ngày một tốt đẹp hơn, conngời ngày càng sống tốt hơn, nhân ái hơn để đợc “đời thái bình ca khúc tháibình” Đó chính là niềm mong ớc đầy tâm huyết của một tâm hồn đầy tiên uvới cuộc đời với con ngời
2.1.2 Phân loại:
Trong 50 câu thơ có ảnh hởng của thành ngữ, tục ngữ hoặc các yếu tốthành ngữ, tục ngữ thì cũng không phải tất cả những câu thơ ấy có sự ảnh h-ởng giống nhau mà cách khai thác, vận dụng thành ngữ, tục ngữ của NguyễnTrãi rất linh hoạt và sáng tạo Có chỗ Nguyễn Trãi vận dụng nguyên xi nhngcũng có chỗ chỉ “lẩy”, có chỗ nh “tập”, có chỗ nh “phỏng”, có chỗ lấy ý, lấy
từ, có chỗ biến đổi và sáng tạo viết ra những câu thơ có tính chất nh thànhngữ, tục ngữ
Trang 152.1.2.1 Vận dụng thành ngữ, tục ngữ nguyên xi:
Trong tổng số 50 câu thơ có ảnh hởng của thành ngữ, tục ngữ thì số câu
đợc Nguyễn Trãi vận dụng một cách nguyên xi chiếm tỉ lệ rất thấp cụ thể nóchỉ chiếm 1 câu, chiếm 2% Câu tục ngữ “Giàu ngời họp, khó ngời tan” cũng
có nội dung giống nh câu thơ cổ: “Bần c trung thị vô nhân vấn, phú tại sơnlâm hữu khách tầm” (nghèo ở giữa chợ không ai hỏi, giàu ở nơi rừng núi cókhách tìm) Câu tục ngữ này đợc Nguyễn Trãi dùng làm câu phá đề cho bài
“Bảo kính cảnh giới ” Bài 12:
“Giàu ngời họp, khó ngời tanHai ấy hằng lề sự thế gian”
(Bảo kính cảnh giới - Bài 12)
Câu tục ngữ của văn học dân gian đợc chuyển vào thơ của Nguyễn Trãimột cách nguyên xi nhng nó cũng hết sức tự nhiên, không có gì là gợng ép.Mặc dù vậy, điều đáng ghi nhận của Nguyễn Trãi đó là sự vận dụng sáng tạo,linh hoạt thành ngữ, tục ngữ vào thơ của mình làm cho tập thơ Nôm của ôngvừa đậm đà tính dân tộc nhng cũng hết sức mời mẻ độc đáo
2.1.2.2 Chỉ lấy ý, lấy từ hoặc biến đổi:
Thành ngữ, tục ngữ đã đi vào "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi mộtcách sâu sắc hay nói cách khác ông đã vận dụng thành ngữ, tục ngữ một ph-
ơng tiện đắc lực, ngôn ngữ của văn học dân gian đợc ông trân trọng và pháthuy Với số liệu thống kê đợc 50 câu thơ có sử dụng thành ngữ, tục ngữ thì cótới 46 câu đợc Nguyễn Trãi vận dụng một cách sáng tạo đầy biến hoá, có khảnăng biểu đạt cao, nó chiếm tỉ lệ cao nhất 92%
ở trong văn học dân gian câu tục ngữ: “Con sâu làm rầu nồi canh” đợcnhân dân ta sử dụng khi nói đến một cá nhân nào đó với việc làm xấu mà ảnhhởng đến cả một tập thể Câu tục ngữ ấy đã đợc Nguyễn Trãi chuyển thànhcâu thơ lục ngôn trong bài “Bảo kính cảnh giới” số 9, một câu thơ theo thểtrắc:
“Nếu có sâu, thì bỏ canh”
Hoặc nh câu tục ngữ: “Thuốc đắng giã tật” lại đợc Nguyễn Trãi chuyểnthành câu thất ngôn, theo thể trắc trong bài "Tự thuật" số 1:
“Tật đợc tiêu, nhờ thuốc đắng cay”
Nh vậy, ngữ ý “sâu”, “canh” hoặc “thuốc đắng”, “Tật tiêu” đợc giữvững, nhng vần điệu đợc điều chỉnh theo khuôn khổ của cầu thơ
Trang 16Hay nh câu tục ngữ khá dài: “Khôn cho ngời ta rái, dại cho ngời ta
th-ơng, dở dở ơng ơng cho ngời ta ghét” đợc Nguyễn Trãi cắt ra làm 2 câu gần
nh trọn vẹn, thành hai câu phá đề và thừa đề bài: “Bảo kính cảnh giới” số 30:
"Chẳng khôn chẳng dại luống ơng ơngChẳng dại ngời hoà lại chẳng thơng."
ở đây, về vần điệu, Nguyễn Trãi đã sử dụng đợc hai vần “ơng” và
“th-ơng” rút ra từ bản thân câu tục ngữ Trong bài thơ số 100 ở “Bạch vân quốcngữ thi tập”, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng sử dụng câu tục ngữ này để phá đề,nhng chỉ lấy đựơc có một vế, do đó cha trọn ý và câu thừa đề lại là ý khác:
"Chẳng khôn chẳng dại luống ơng ơngBiết một khăng khăng chữ đạo thờng."
(Bài số 100 – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, thấm đẫm phong vị triết học Thôngthờng ông quan sát các hiện tợng tự nhiên để rút ra qui luật của tạo vật rồi đốichiếu với qui luật của xã hội nhằm tự đề ra một phép xử thế hợp với đạo lý conngời
Chúng ta thấy việc quan trọng nhất của con ngời là sống, chết hoặc đợcthua thì cũng là điều tự nhiên, không nằm trong sự ý thức của con ngời Cũnggiống nh những điều tự nhiên của tạo hoá nh chim thì bay, cá thì nhảy Chínhnhờ quan sát từ những hiện tợng đó, Nguyễn Trãi đã viết:
“Bành đợc thơng thua con tạo hoá
Diều bay, cá nhảy đạo tự nhiên.”
(Tự thán bài 33)
Hay là:
“Tự nhiên đắp đổi đạo trời
Tiêu trởng, doanh h, một phút đời.”
(Tự thán - Bài 34)
Và từ những hiện tợng nh chim ngủ, thuyền đỗ, trăng lên, nớc dâng:
Hàng chim ngủ, khi thuyền đỗ
Vững nguyệt lên, thuở nớc cờng
(Trần tình- Bài 6)
Là do qui luật tự nhiên của tạo hoá và qui luật tự nhiên đó có ảnh hởng
đến cuộc sống con ngời Nhân dân ta trong cuộc sống hàng ngày cũng thờng
Trang 17nói đến những hiện tợng sự vật, những qui luật của cuộc sống qua các câu tụcngữ sau đây:
- "Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây."
(Bảo kính cảnh giới Bài 21)
“Muốn ăn trái duỡng nên cây”
(Bảo kính cảnh giới Bài 10 )
Trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi chúng ta cũng thấy ông nói nhiều đếnlòng ngời, đến thói đời đen bạc Và trong cuộc sống lao động qua những trảinghiệm của từng cá nhân dần dần nhân dân ta cũng đúc kết nên hàng loạtnhững câu tục ngữ để nói về lòng ngời nham hiểm khôn thấu nh:
- Khẩu phật, tâm xà
- Miệng nam mô bụng một bồ dao găm
- Lỡi không xơng nhiều điều lắt léo
“Ngoài chng mọi chốn đều thông hết
Bui một lòng ngời cực hiểm thay.”
(Mạn thuật Bài 4)
“Dễ hay ruột biển sâu cạn
Khôn biết lòng ngời ngắn dài.”
Trang 18(Ngôn chí – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) bài 5)
Nguyễn Trãi bằng chính những thăng trầm khổ cực của cuộc đời mình
ông đã khái quát lên đợc những cái xấu xa, độc ác những ích kỷ cá nhân củacon ngời của con ngời dới chế độ phong kiến Tác giả đã bằng cách nói ví vonhình ảnh để so sánh rằng bất cứ lòng sông, lòng biển nào cũng không thể sánhnổi với lòng ngời Lòng sông, lòng biển dù rộng lớn mênh mông cũng có thể
đo đợc; còn lòng ngời thì không thể biết đợc nh Nguyễn Trãi đã nói: “ai kẻbiết!”
Sự ảnh hởng của thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi tậptrung nhất, cô đọng nhất là ở chùm thơ “Bảo kính cảnh giới” Qua mảng thơ
“Gơng báu răn mình” này, ông đã bộc lộ những quan điểm nhân nghĩa, nhữngtriết lý, những lời răn dạy đạo đức rất có giá trị đối với muôn đời, với muônngời Tính giáo huấn mà Nguyễn Trãi đa ra không nằm ngoài nền luân lý Nhogiáo trong xã hội phong kiến với khung cảnh sinh hoạt gia đình, thôn dã, hơng
đảng, Nguyễn Trãi đã đa ra những bài học ăn ở cho ngời ta
Trong gia tộc thì phải lấy nghĩa thơng yêu, đùm bọc làm cốt yếu:
"Có tông có tộc mạ sơ thay
Vạn diệp thiên chi bởi một cây
Yêu trọng ngời dng là của cải."
Thơng vì thân thích nghĩa chân tay
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 18)
Nguyễn Trãi viết bài thơ này từ ý câu tục ngữ: “Chim có tổ, ngời cótông.” Mà nhân dân ta vẫn luôn nhắc nhở cho con cháu biết hớng về cộinguồn về gốc gác của mình, phải biết quí trọng nghĩa tình
Và Nguyễn Trãi còn bằng những vần thơ Nôm mộc mạc của mình đểnhắc nhở con ngời nên nhớ một điều: anh em ruột thịt đừng nên vì tham lợi
mà sơ tình mất nghĩa:
"Điền địa chớ tham hơn bổ ái
Nhân luân mạ lấy dới làm trên
Chân tay dầu đứt bề khôn nối
Xống áo chẳng còn mô dễ xin."
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 15)
Nhân có câu tục ngữ:
Anh em nh thể tay chân
Trang 19Vợ chồng áo mặc đổi thay tức thì.
(Tục ngữ)
Nguyễn Trãi khi vận dụng câu tục ngữ này đã giữ nguyên ý của câu,nhng sang đến câu thứ hai thì tác giả đã điều chỉnh lại: Tuy vợ chồng nh “áomặc” có thể đổi thay nhng cũng không phải, cũng không nên đổi thay dễ dàng
“Xống áo chẳng còn mô dễ xin” – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) xống áo mất rồi có phải đâu là dễ xin, câutục ngữ này vốn là một quan niệm sai Nó đề cao tính cốt nhục mà xem thờngnghĩa tao khang Khi đa ý này vào thơ của mình, Nguyễn Trãi đã uốn nắn lại
Ông rất quý trọng tình huynh đệ nh chân tay đứt rồi không thể nối và ôngcũng đề cao nghĩa vợ chồng nh áo mặc nhng để mất khó bề xin lại
Quan hệ anh em, tình nghĩa vợ chồng đợc Nguyễn Trãi nhắc đến trongthơ Nôm của mình một cách nhẹ nhàng nhng ý nghĩa giáo dục của nó lại hếtsức thấm thía Ra đến làng mạc, đối xử với bà con làng xóm Nguyễn Trãicũng nhắc nhở mọi ngời lấy chữ “hoà”, chữ “nhẫn” làm tôn chỉ:
"Việc ngoài hơng đảng chớ đôi coThấy kẻ anh hùng hãy nhẫn choNhợ nọ có dai nào có đứt
Cây kia toan đắn lại toan đo
Chớ đua huyết khí nên giậnLàm mất lòng ngời những lo
Hễ làm kẻ khôn thì phải khóChẳng bằng vô sự ngáy o o."
"Nhợ nọ có dai nào có đứt
Cây kia toan đắn lại toan đo "
Trang 20“Dẫn chứng” mà tác giả đa ra cho mọi ngời hết sức mộc mạc, dễ hiểu.
Sự ôn hoà, mềm mỏng trong cách c xử của con ngời nó cũng khác gì chiếc dây
có sức dai thì sợ gì đứt và cái cây trớc khi đem dùng nó thì phải đắn đo Saunhững lời giải thích Nguyễn Trãi lại đa ra lời khuyên:
"Chớ đua huyết khí nên giận
Làm mất lòng ngời những lo."
Sự nóng nảy, giận dữ trong c xử đa đến những hậu quả chẳng lấy gì làmtốt đẹp: “mất lòng ngời”, còn về phần mình lại chuốc thêm “những lo lắng”không đáng có Và để kết thúc bài “Bảo kính cảnh giới” 45 Nguyễn Trãi đãviết:
Quan hệ ứng xử giữa ngời với ngời trong xã hội từng đã đợc ông cha ta
đúc kết thành những câu tục ngữ ngắn gọn, dễ nhớ nh:
“Giận quá mất khôn”
Và hậu quả đa đến của việc làm ấy thật tai hại, nguy hiểm Cho nênNguyễn Trãi đã viết:
"Nẻo đua khí huyết, quên nhân nghĩa
Hoà mất nhân tâm, nát cửa nhà"
Trang 21ở đời chúng ta có thể sẽ gặp phải những kẻ gian tham, những điều bạc
ác, song tác giả đã khuyên chúng ta đừng nên đem sự bạc ác mà trả lại kẻ giantham:
"Lòng thế bạc đen dẫu nó biến
Ta gìn nhân nghĩa chớ loàn đan"
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 12)
Thói đời đen bạc, dễ đổi thay nhng con ngời Nguyễn Trãi với bản lĩnhcứng cỏi không dễ gì uốn theo thói thờng ấy đợc Cách sống ấy, cách nghĩ ấycủa Nguyễn Trãi bắt gặp t tởng của nhân dân ta trong câu tục ngữ:
“ Sống có phúc sẽ có phần ”
Điều đáng quí, đáng trọng ở nhà thơ lớn Nguyễn Trãi nữa là ôngkhuyên chúng ta nên yêu điều thiện, bởi điều thiện tự nó có hơng thơm, cókhả năng hấp dẫn và khả năng cải hối con ngời:
“Lành ngời đến, dữ ngời ruồng
Yêu xạ vì nhân có mùi hơng.”
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 20)
Điều đó bắt bắt nguồn từ câu tục ngữ nói về sức lan toả của cái đẹp, cáichính nghĩa thực chất:
"Hữu xạ tự nhiên hơng"
(Tục ngữ )
Với Nguyễn Trãi nhân nghĩa đáng chuộng hơn tiền bạc, hơn cả sự giàusang và có thể đa con ngời ta đến khắc phục phần nào những éo le, ngang tráicủa số phận:
Nguyễn Trãi viết:
"Lộc trời cho đã có ngần
Tua hay thửa phận chớ phàn nàn
Giàu nhiều của, con chẳng có
Sống hơn ngời mệnh khó khăn
Hễ kẻ danh thơm hay đợc phúc
Mấy ngời má đỏ phải nhiều lần"
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) bài 48)
Trong mục “Bảo kính cảnh giới” Nguyễn Trãi đã sử dụng thành ngữ,tục ngữ ở nhiều nội dung khác nhau nh giáo dục đạo đức, luân lý, đối nhân xửthế, về thế thái nhân tình …Đối với thơ Quốc âm thì sự ảnh h và chúng ta thấy mảng nội dung rất lớn trong
Trang 22thành ngữ, tục ngữ là vấn đề lao động và yêu quí lao động đợc Nguyễn Trãivận dụng vào thơ Nôm của mình một cách sáng tạo, độc đáo.
Việc lao động hàng ngày của con ngời rất đợc quần chúng nhân dân coitrọng và không hờ hững với nó Nguyễn Trãi đã tiếp thu tinh thần đó Trongbài “Huấn nam tử” tác giả đã nhấn mạnh đến hai điểm: Sống giản dị và chăm
lo lao động Ông viết:
“Xa hoa lơ đãng nhiều hay hết
Hà tiện âu đơng: ít hãy còn
áo mặc miễn là cho ấm cật
Cơm ăn chẳng lọ kém mùi ngon
Xa đã có câu truyền bảoLàm biếng ngồi ăn lở non.”
(Huấn nam tử)
Đọc bài thơ này của Nguyễn Trãi lại làm cho ta nhớ đến câu tục ngữ:
"Tay làm hàm nhai tay quai miệng trễ"
(Tục ngữ)
Giáo s Hoàng Tuệ khi đọc bài thơ này đã có nhận xét: “Nguyễn Trãi cómột thái độ trân trọng đặc biệt với tục ngữ, trích tục ngữ mà nh ngời ta tríchthánh hiền ” [15, 820]
Cuộc sống lao động của nhân dân gắn bó với sản xuất nông nghiệp lam
lũ quanh năm, đầu tắt mặt tối nên nhân dân ta có t tởng sống giản dị, khôngcầu kỳ kể cả trong cách ăn mặc, đúng nh sự phản ánh trong câu tục ngữ:
"Ăn ham chắc mặc ham bền"
(Tục ngữ)
Tiếp thu t tởng này của quần chúng lao động, Nguyễn Trãi rất có lý khigắn sự sống giản dị với việc làm chăm chỉ:
"Cơm ăn miễn có dầu xoa bạc
áo mặc âu chi quản cũ đen'
(Tự sự – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 4)
Những ngời sống giản dị là những ngời a lao động, quý lao động Trongbài thơ “Bảo kính cảnh giới ” số 2 Nguyễn Trãi viết:
“ Nớc đào giếng, cơm cày ruộng ”
Trang 23Câu thơ tuy không bộc lộ ý tứ một cách quá rõ ràng nhng dù sao đọclên chúng ta cũng thấy ý tởng của Nguyễn Trãi đã bắt gặp cách suy nghĩ củanhân dân:
“ Đói đầu gối phải bò ”
ở đây, Nguyễn Trãi cũng nói tới việc cần thiết phải làm việc do nhu cầuthiết yếu của cuộc sống đòi hỏi nh cần nớc phải đào giếng, cần cơm thì phảicày ruộng
Việc vận dụng sáng tạo thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Trãi đợc biểuhiện một cách sâu sắc ở ví dụ này Nguyễn Trãi đã hút nhuỵ tinh hoa củanhiều câu tục ngữ để viết nên những vần thơ lấp lánh:
"Kẻ không thời bảo, kẻ ngây phàm
Nghề nghiệp cầm tay, ở mấy cam
Nên thợ nên thầy vì có học
No ăn no mặc bởi hay làm"
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 46)
Từ rất nhiều câu tục ngữ khác nhau Nguyễn Trãi đã tập hợp nó lại vàotrong một bài thơ với ý tởng sáng rõ, tập trung vào một chủ đề Cụ thể là từnhững câu tục ngữ sau:
- "Ruộng bề bề không bằng nghề cầm tay"
- "Có học có hơn"
- "Siêng làm thì có, siêng học thì hay
Với câu tục ngữ:
“ Ăn quả nhớ ngời trồng cây ” Nguyễn Trãi đã đa tục ngữ vào thơ Nôm của mình với một ý nghĩa rấtmới, có tầm sâu sắc hơn nhiều:
"Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày"
Với câu thơ của mình Nguyễn Trãi đã nhắn nhủ với những kẻ khôngtham gia lao động mà ngồi "ăn lộc" thì phải thấm nhuần sự gian nan vất vảcủa ngời lao động và biết ơn “ kẻ cấy cày ” chứ không phải biết ơn vua haybiết ơn một ai khác
Trong cuộc sống hàng ngày ta thờng nghe ông bà, cha mẹ căn dặn concháu phải biết sống thảo hiền, nhân nghĩa Vì đó nh là một qui luật nhân quả
- "gieo cây nào ăn quả ấy"
Mọi ngời còn truyền bảo nhau:
Trang 24"Ai ơi cứ ở cho lành.
Tu nhân tích đức để dành về sau"
Tiếp thu ảnh hởng t tởng đẹp đẽ này của nhân dân, khi giáo dục đạo đứcnhân nghĩa, Nguyễn Trãi thờng nói đến hình ảnh trồng cây đức để cho concháu mai sau Những câu thơ cụ thể, sinh động ấy là:
"Muốn ăn trái dỡng nên cây
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 10)
"Tích đức cho con hơn tích của"
(Tự thán – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 41)
Bằng sự chứng kiến, trải nghiệm ở cuộc đời Nguyễn Trãi hiểu ra rằng:
"Của nhiều sinh chẳng đợc con hiền"
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 59)
Và cái khổ sở của việc lắm của cải:
"Có của bo bo hằng giữ của"
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 11)
Bao nhiêu kẻ vì của cải, lo làm giàu rồi trở thành bất nhân, bất nghĩa màNguyễn Trãi từng chứng kiến và đã lên tiếng phê phán:
"Có của cho ngời rộng miệng
Chẳng tham ở thế kẻo chau mày
Bất nhân vô số nhà hào phú
Của ấy nào ai từng đợc chầy"
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 44)
Lấy ý từ trong câu tục ngữ:
"Khó khăn trọng nghĩa cháo càng ngon"
Nguyễn Trãi đã viết lên những câu thơ ân cần, đằm thắm để khuyên răncon cháu:
"Khó khăn phải đạo cháo càng ngon"
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 22)
Và cũng lấy từ ý một câu tục ngữ khác:
“Khôn ngoan chẳng lọ thật thà
Lờng thng tráo đấu chẳng qua đong đầy”
Tác giả đã dạy cái khôn khéo thật thà một cách đàng hoàng cho chúng
ta qua câu thơ:
"Nhiều khôn chẳng đã bề khôn thật
Trang 25Trăm khéo nào qua chớc khéo đầy".
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 44)
Cái khôn khéo mà Nguyễn Trãi muốn nói ở câu thơ trên là sự thôngminh và tinh tế, chứ không phải phát triển theo chiều hớng láu cá và ranhmãnh Cái khôn khéo không đi ngợc với chính nghĩa, khôn mà chân thật, khéo
mà đầy đặn, đong đầy chứ không đong thiếu Cuối cùng nh thế lại đa đến lợiích cho ta hơn là xảo quyệt, gian tham
Qua việc phân tích và tìm hiểu phần thơ Nôm của Nguyễn Trãi chúng tathấy nhà thơ đã vận dụng, khai thác văn học dân gian mà cụ thể ở đây là thànhngữ, tục ngữ một cách đầy biến hoá và linh hoạt Có chỗ tác giả cũng sử dụngnguyên xi thành ngữ tục ngữ nhng số lợng này quá nhỏ bé chỉ có 1 câu so với
số lợng 50 câu có ảnh hởng thành ngữ, tục ngữ Điều giá trị, đáng để ghi côngcho Nguyễn Trãi là việc ông đã cải biến, sáng tạo lại thành ngữ, tục ngữ làmcho nó có một sức sống riêng trong thơ Nôm của mình
2.1.2.3 Sáng tạo những câu thơ có tính chất nh tục ngữ:
Trong quá trình tiếp thu ảnh hởng của văn học dân gian mà cụ thể làthành ngữ, tục ngữ vào thơ Nôm của mình, có lúc Nguyễn Trãi đã dựa theocách nói, cách cảm của nhân dân ta trong thành ngữ, tục ngữ để bản thân mìnhcũng viết những câu thơ có tính chất nh tục ngữ
Số lợng những câu thơ nh vậy là 3 câu, chiếm tỉ lệ 6% nhng điều đócũng góp phần khẳng định công lao to lớn của Nguyễn Trãi
Có những câu thơ Nguyễn Trãi viết:
"Thế sự ngời no ối tiết bảy
Nhân tình ai ủ cúc mồng mời"
(Ngôn chí - Bài 21)
Đọc qua chúng ta tởng đó nh là lời ăn tiếng nói của quần chúng nhândân Tiết tháng bảy là mùa ổi chín, lúc ấy rất dễ lấy, dễ mua, ăn cho đến no ýnói: Khi gặp thời thì dễ, hoa cúc đợc quí là nó vào tiết trùng dơng mồng chíntháng chín Quá ngày đó sang tới mồng mời là cúc đã lỡ thì rồi
Hoặc nh trong hai câu thơ sau:
"Một cơm hai việc nhiều ngời muốn
Hai thớ ba dòng hoạ kẻ tham"
(Bảo kính cảnh giới – thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm) Bài 46)