1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng sử dụng trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3 6 tuổi) ở một số trường mầm non trên địa bàn tp vinh

82 9,9K 35
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Sử Dụng Trò Chơi Dân Gian Trong Việc Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mẫu Giáo (3 - 6 Tuổi) Ở Một Số Trường Mầm Non Trên Địa Bàn Tp Vinh
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh
Người hướng dẫn ThS. Trần Thị Hoàng Yến
Trường học Trường Mầm Non Hoa Hồng
Chuyên ngành Giáo Dục Mầm Non
Thể loại Khóa Luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 402,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRÒ CHƠI DÂN GIAN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 3-6 TUỔI...34 1.. Việc hướng dẫn và tổ chức trò chơi dân gian một cách khoa học, hợp lý để đạt được c

Trang 1

Hoàn thành khoá luận này, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp

đỡ của thầy cô và bạn bè Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Chủ Nhiệm cùng các thầy cô giáo khao Giáo Dục Tiểu Học - Những người đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi xin cảm ơn ban giám hiệu, các cô giáo tập thể các cháu trường mầm non bán công Hoa Hồng, Trường Thi đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá luận này.

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã quan tâm, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian thực hiện khoá luận.

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn ThS Trần Thị Hoàng Yến - người đã giành cho tôi sự chỉ bảo tận tình.

-Bước đầu làm công tác khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học giáo dục để đề tài được hoàn thiện hơn.

Vinh, tháng 5 năm 2009

Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của đề tài 3

PHẦN II: NỘI DUNG 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

2 Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu 6

2.1 Vai trò của ngôn ngữ với sự phát triển của trẻ 6

2.1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và sự phát triển 6

2.1.2 Vai trò của ngôn ngữ với sự phát triển của trẻ 7

2.2 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 10

2.2.1 Đặc điểm phát triển ngữ âm của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 10

2.2 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 11

2.2.3 Đặc điểm ngữ pháp của trẻ mẫu giáo 11

2.2.4 Đặc điểm lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 13

2.3 Nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 14

2.3.1 Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 14

2.3.2 Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 15

2.3.3 Các hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 16

2.4 Trò chơi dân gian với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 17

2.4.1 Một số vấn đề chung về trò chơi 17

3.4.2 Trò chơi dân gian và khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ qua trò chơi dân gian 22

4.2.4.Phân loại trò chơi dân gian 26

Trang 3

5 Kết luận chương I 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRÒ CHƠI DÂN GIAN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU GIÁO (3-6 TUỔI) 34

1 Khái quát về tình hình nghiên cứu thực trạng lựa chọn-sử dụng TCDG đối với việc phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuôi) 34

1.1 Mục đích nghiên cứu 34

1.2 Đối tượng khảo sát 34

1.3 Nội dung nghiên cứu 34

1.4 Phương pháp nghiên cứu 34

2 Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng 35

2.1 Nhận thức của giáo viên mầm non về TCDG và việc sử dụng TCDG trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 35

2.2 Thực trạng việc lựa chọn, sử dụng TCDG trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 37

3 Kết luận chương II 40

CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NGHUYÊN TẮC LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG TCDG NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO (3-6 TUỔI) 42

1 Các nguyên tắc lựa chọn trò chơi dân gian 42

1.1 Lựa chọn trò chơi phù hợp khả năng phát triển ở từng độ tuổi 42

1.2 Lựa chọn trò chơi theo chủ điểm giáo dục 44

1.3 Lựa chọn trò chơi cần căn cứ vào mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ 45

1.4 Lựa chọn trò chơi dựa vào hình thức tổ chức hoạt động 46

2 Giới thiệu trò chơi dân gian nhằm phát triển ngôn ngữ dành cho trẻ mẫu giáo 47

3 Giới thiệu một số giáo án thử nghiệm vận dụng TCDG nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 60

4 Kết luận chương III 72

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO PhiÕu ®iÒu tra

Trang 4

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sinh thời Hồ chủ tịch đã dạy: ''Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và

vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn, quý trọng nó…" Lời dạy

của Người đã khắc sâu vào tâm trí người dân Việt Nam bao đời Cũng vậy thành

ngữ Việt Nam có câu: ''Học ăn, học nói, học gói, học mở" Với con người phải

học nói ngay từ thũa còn thơ Trẻ em sinh ra mới chỉ có tiền đề vật chất, để trởthành người, có tình cảm đạo đức, trí tuệ những yếu tố đầu tiên của nhân cáchthì trẻ phải được sống trong môi trường xã hội, môi trường ngôn ngữ nhất định Ngôn ngữ là một hiện tượng tồn tại khách quan trong đời sống tinh thầncủa xã hội loài người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, là công cụ tư duy củacon người Nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ tác giả Usinxki cho rằng: ''Tất cảmọi sự hiểu biết dều bắt đầu từ ngôn ngữ và trở lại với ngôn ngữ Tiếng mẹ đẻ là

cơ sở của mọi nhân thức'' Vì vậy: ''Việc dạy tiếng mẹ đẻ một cách có hệ thống,

việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là cơ sở cho toàn bộ hệ thống giáo dục mầm non'' (Theo E.Tikheva – “Phương phát triển ngôn ngữ trẻ em'' - NXBGD,

1977)

Trẻ em là lứa tuổi đánh dấu nhiều bước phát triển về tư duy và ngôn ngữ

Vì vậy dạy ngôn ngữ cho trẻ giai đoạn này là cần thiết Điều quan trọng để giáodục ngôn ngữ cho trẻ là cần có nội dung hình thức và phương tiện giáo dục cụthể Một trong những hình thức giáo dục trẻ có hiệu quả là tổ chức cho trẻ vuichơi bằng các trò chơi Thông qua trò chơi trẻ tìm tòi khám phá thế giới xungquanh, thoã mãn nhu cầu vui chơi, đặc biệt qua chơi trẻ bộc lộ được khả nănggiao tiếp, ứng xử trong xã hội

Trò chơi dân gian là loại trò chơi do nhân dân sáng tạo nên, trên cơ sở môphỏng các hoạt động tự nhiên và xã hội xảy ra trong cuộc sống xung quanh Tròchơi dân gian mang chủ đề nhất định, nó là dạng trò chơi dễ chơi, dễ hoà nhập,chơi ở bất cứ đâu và đem lại cho trẻ em tinh thần sảng khoái Nhiều nhà nghiên

Trang 5

thơ Trò chơi dân gian thường gắn liền với các bài ca dao, đồng dao, hò vè, câuđố…mang tính vần điệu Những bài ca dao, đồng dao, hò vè… là loại hình nghệthuật ngôn từ có ý nghĩa giáo dục cao, đặc biệt trong việc giáo dục phát triểnngôn ngữ cho trẻ Vậy việc sử dụng TCDG nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ làviệc làm cần thiết

Việc hướng dẫn và tổ chức trò chơi dân gian một cách khoa học, hợp lý

để đạt được các mục tiêu giáo dục nói chung và phát triển ngôn ngữ nói riêng lànhiệm vụ quan trọng đối với giáo viên mầm non Nhằm làm rõ thực trạng sửdụng trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non

để từ đó định hướng một số nguyên tắc tổ chức có hiệu quả hơn cho loại trò chơi

này chúng tôi đã xác định và thực hiện đề tài: ''THỰC TRẠNG SỬ DỤNG

TRÒ CHƠI DÂN GIAN NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO (3-6 TUỔI)”.

3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng lựa chọn và sử dụng trò chơi dân gian với việc phát triển ngônngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1.Nghiên cứu cơ sở lý luận về trò chơi dân gian đối với việc phát triểnngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo

Trang 6

4.2.Tìm hiểu thực trạng sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát triển ngônngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non.

4.3 Đề xuất một số nguyên tắc lựa chọn và sử dụng tốt trò chơi dân giannhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non

4.4 Rút ra kết luận khoa học

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Mục đích: Xây dựng cơ sỏ lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

Mục đích: tìm hiểu việc hướng dẫn trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo ởcác trường mầm non

- Phương pháp nghiên cứu điều tra

Mục đích: tìm hiểu nhận thức của giáo viên mần non về trò chơi dân gian

và việc sử dụng trò chơi dân gian vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở cáctrường mầm non

5.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số lượng thu được

Trang 7

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ được sinh ra và phát triển

trong xã hội loài người Như Mac đã nhận định: “Ngôn ngữ là một sáng tạo kì

diệu của con người, ngôn ngữ cũng cổ xưa như con người.’’ Nhờ có ngôn ngữ

mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau nhữngkinh nghiệm, những tình cảm yêu thương …Chính ngôn ngữ là công cụ giaotiếp quan trọng nhất của con người, là phương tiện nhận thức thế giới xungquanh, là công cụ của tư duy Sự phát triển của nó có mối quan hệ gắn kết với sựphát triển tâm lí, ý thức, nhân cách của con người

Vì thế trong nhiều thế kỷ qua ngôn ngữ luôn là đối tượng nghiên cứu củanhiều ngành khoa học như: triết học, ngôn ngữ học, tâm lí học, sinh lí học, xãhội học…

Vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ em là một trong những vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm như: I.Jrutxo, J.Hpestoloji , I.Acomenxki,

K.Pusinssky, J.Piegie Và người đặt nền móng đầu tiên cho quá trình nghiên cứu ngôn ngữ cho trẻ em có hệ thống nhất là nhà giáo dục người Nga-Bà E

Tikheeva (1867-1943) với tác phẩm “ Phát triển ngôn ngữ trẻ em ” Trong công

trình nghiên cứu bà đã đề xuất một số phương pháp, hình thức giáo dục ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đến trường có giá trị khoa học cao

Ở Việt Nam vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ em cũng được nhiều nhàgiáo dục quan tâm nghiên cứu Tác giả Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Việt,

Nguyễn Kim Đức trong giáo trình “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ

em dưới 6 tuổi” đã xây dựng hệ thống phương pháp, bài tập thực hành tạo cơ sở

cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt nhất

Trang 8

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa lựa chọn sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu

giáo làm đối tượng nghiên cứu của mình, trong giáo trình “Phương pháp phát

triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” cũng đề xuất hệ thống phương pháp phát triển

ngôn ngữ (phương pháp trực quan, phương pháp dùng lời, phương pháp thựchành trò chơi)

Với những góc độ nghiên cứu khác nhau nhưng các nhà khoa học đều

phát hiện ra “mảnh đất màu mỡ” cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Đó là thông

qua con đường thực hành trải nghiệm mà hoạt động vui chơi là chủ đạo, trong

đó trò chơi dân gian có ý nghĩa quan trọng

Đối với trẻ em trước tuổi đi học thì trò chơi có tầm quan trọng đặc biệt.Bởi trò chơi là phương thức nhận biết thế giới, là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm

chân lí “Chơi với trẻ vừa là học, vừa là lao động, vừa là hình thức giáo dục

nghiêm túc…”( N.K Crupxkaia, tuyển tập 6, trang 344_1959).

Tác giả Ph.Phreben (1782_1852) cho rằng: “Ở tuổi mẫu giáo hoạt

động chơi chính là cơ sở giáo dục thể chất, để làm giàu vốn từ, phát triển tư duy, óc tưởng tượng.”

Trò chơi dân gian là loại trò chơi đến với trẻ rất sớm, không những thoảmãn nhu cầu chơi của trẻ mà trò chơi còn là phương tiện, nội dung, hình thứcgiáo dục trẻ hiệu quả, đặc biệt là giáo dục ngôn ngữ Tác giả Trương Thị Kim

Oanh xem: “ Trò chơi dân gian là một biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ em dân

tộc thiểu số” (tạp chí giáo dục số 1 năm 2001).

Tác giả Ninh Viết Giao viết về tầm quan trọng của trò chơi dân gian: “…

Ở lứa tuổi mẫu giáo, giữa chơi và học thì chơi là chủ yếu, chơi để học ,trong học có chơi Chơi không chỉ để các em thoải mái về cơ thể, về tâm hồn mà là để tiếp xúc, để hiểu biết, nhận thức thế giới xung quanh” Chính vì lẽ đó tác giả đã

sưu tầm và giới thiệu “ Trò chơi dân gian xứ Nghệ ” Tuy nhiên các trò chơi mà

tác giả giới thiệu chưa thực sự phù hợp với trẻ mẫu giáo

Người có công lớn trong việc sưu tầm và giới thiệu “Trò chơi dân gian

trẻ em Việt Nam” là tác giả Hà Huy Với nhiều trò chơi phong phú vùng miền,

Trang 9

đa dạng độ tuổi đã góp phần phục hồi, lưu giữ trò chơi giải trí lành mạnh, đậm

đà bản sắc dân tộc này Và đưa nó đến với trẻ thơ như một món ăn tinh thầnkhông thể thiếu và là một phương thức giáo dục hiệu quả

Như vậy, vấn đề trò chơi với sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã đượcnhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu một cách sâu rộng và toàn diện.Tuy nhiên vẫn chưa có những nghiên cứu về vấn đề lựa chọn, hướng dẫn tổchức trò chơi dân gian nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại các trường mầmnon

2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2.1 Vai trò của ngôn ngữ với sự phát triển của trẻ

2.1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và sự phát triể

Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng: Phát triển là quá trình biếnđổi sự vật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Đó là quá trình tích luỹ dần

về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất ở sự vật, hiện tượng, là quá trình đấu tranhgiải quyết những mâu thuẩn bản chất bên trong sự vật hiện tượng

Theo các nhà giáo dục học: Phát triển là quá trình trong đó có sự hìnhthành, hoàn thiện, đa dạng hoá, phức tạp hoá các chức năng của con người và sựphát triển mang tính tổng thể Hai quá trình giáo dục và phát triển khác biệt nhaunhưng phụ thuộc vào nhau, diễn ra trong suốt quá trình liên tục phản ứng vàthích ứng với những điều kiện bẩm sinh và môi trường xã hội bao quanh

Theo các nhà ngôn ngữ học: Ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị (âm vị,hình vị, từ, câu) và những quy tắc kết hợp với các đơn vị này để tạo thành lời nóitrong giao tiếp Những đơn vị ngôn ngữ và các quy tắc này được phản ánh trong

ý thức của cộng đồng và trừu tượng hoá khỏi bất kì một tư tưởng, cảm xúc vàmột ước muốn cụ thể nào

Giữa ngôn ngữ và sự phát triển chúng luôn luôn có mối quan hệ tương táclẫn nhau Sự phát triển của con người trải qua những giai đoạn: Sơ sinh, nhà trẻ,mẫu giáo, tuổi đi học, tuổi trưởng thành Ở mỗi độ tuổi cơ thể con người có mộttầm cỡ và cấu tạo nhất định, cùng với những khả năng về tâm lí, nhận thức nhất

Trang 10

định Mà con người khác với động vật ở chỗ con người có trí tuệ, con người cókhả năng nhận thức thế giới bên ngoài nhờ có năng lực tư duy và quan trọngnhất là con người có ngôn ngữ Nhân cách con người chỉ được hình thành vàhoàn thiện trong điều kiện nắm vững ngôn ngữ Ngôn ngữ là nền tảng cho mọi

sự phát triển của mỗi con người

2.1.2 Vai trò của ngôn ngữ với sự phát triển của trẻ

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, ngôn ngữ có vai trò rất lớnđối với cuộc sống con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, là công cụ tưduy của con người

Với công tác giáo dục thế hệ mầm non thì ngôn ngữ cũng có vai trò rấtquan trọng, ngôn ngữ giúp đứa trẻ trở thành con người phát triển toàn diện

2.1.2.1 Ngôn ngữ với sự phát triển trí tụê của trẻ

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho

trẻ Tác giả Usinxky trong “Phát triển ngôn ngữ trẻ em” nhận định: “Tiếng mẹ

đẻ là cơ sở cho mọi sự phát triển, là vốn quý của mọi tri thức” (Nguyên bản

tiếng Nga, NXB Matxcơva, tr13)

Ngôn ngữ trước hết là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xungquanh Sự phát triển của trẻ chỉ diễn ra khi trẻ lĩnh hội những tri thức về sự vật

và hiện tượng xung quanh Song sự lĩnh hội những tri thức đó lại không thể thựchiện được khi không có ngôn ngữ

Trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh.Trong quá trình nhận thức những sự vật, hiện tượng, muốn trẻ biết được tên gọi,màu sắc, công dụng hay phân biệt vật này với vật khác, nếu chỉ cho trẻ tri giác

mà không dùng từ ngữ để giải thích, hướng dẫn và khẳng định những kết quả trigiác được thì những tri giác mà trẻ thu được sẽ hời hợt, nông cạn, có khi còn sailệch

Khi nhận thức của trẻ phát triển, nhu cầu nhận thức tăng lên, trẻ không chỉnhận biết những sự vật, hiện tượng trẻ trực tiếp tri giác mà còn gián tiếp, trẻmuốn biết về quá khứ, tương lai Để đáp ứng nhu cầu nhận thức này người lớn

Trang 11

phải giải thích, hướng dẫn và tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động đadạng và phong phú, khi đó ngôn ngữ chính là công cụ không thể thiếu được đểtrẻ nhận thức thế giới xung quanh.

Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi nhận thức và là công cụ của tư duy.Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành và phát triển tư duy củacon người, tư duy chính là cái được biểu hiện mà ngôn ngữ là cái để biểu hiện tưduy

Khi trẻ có vốn ngôn ngữ nhất định, trẻ sử dụng ngôn ngữ như phươngtiện hữu ích để phát triển nhận thức của mình Trẻ có thể dùng lời để diễn đạtnhững hiểu biết, những suy nghĩ, những xúc cảm, những mong muốn của mìnhcho người khác hiểu, đồng thời trẻ hiểu được lời chỉ dẫn của người lớn, của côgiáo, thì hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy của trẻ được chính xác hơn, kíchthích trẻ tích cực hoạt động hơn

Chính ngôn ngữ giúp trẻ nhận thức thế giới xung một cách sâu rộng, rõràng, chính xác Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực sáng tạo trong hoạt động trí tuệ Vìvậy việc phát triển trí tuệ cho trẻ không thể tách rời việc phát triển ngôn ngữ chotrẻ

2.1.2.2.Ngôn ngữ với việc giáo dục tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ của trẻ

Phát triển và hoàn thiện dần ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo khôngnhững có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ mà còn có tác dụngquan trọng đối với việc giáo dục tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ…

Ngay từ thủa ấu thơ trẻ thường được nghe những câu hát ru, những lời âuyếm ngọt ngào, đem đến cho trẻ cảm giác yêu thương, bình yên, vui mừng.Ngôn ngữ là phương tiện giao lưu xúc cảm của trẻ với người xung quanh Từ đóhình thành ở trẻ những xúc cảm tình cảm tích cực

Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu hiểu biết vàlĩnh hội những khái niệm, những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội.Tuy chỉ là những khái niệm ban đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có tính chấtquyết định đến việc hình thành những nét tính cách riêng biệt của mỗi con người

Trang 12

trong tương lai Việc cho trẻ hiểu và lĩnh hội những khái niệm đạo đức này,chúng ta không chỉ thông qua những hoạt động cụ thể hay những sự vật, hiệntượng trực quan đơn thuần mà cần có ngôn ngữ.

Ngôn ngữ giúp cho trẻ thể hiện được nhu cầu, nguyện vọng và tình cảmcủa mình Ngược lại ngôn ngữ cũng giúp nhà giáo và các bậc cha mẹ hiểu đượctrẻ thơ, sớm uốn nắn, giáo dục cho trẻ những tình cảm, hành vi đạo trong sáng,chuẩn mực nhất

Ngoài ra, ngôn ngữ cũng có vai trò tích cực trong quá trình tác động cómục đích, có hệ thống nhằm phát triển năng lực cảm thụ cái đẹp, hiểu đúng cáiđẹp, lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp

Trong quá trình giao tiếp hàng ngày trong cuộc sống, dưới sự hướngdẫn, uốn nắn của người lớn, trẻ nhận thức được cái đẹp ở xung quanh, từ đó trẻ

có thái độ yêu cái đẹp, tôn trọng cái đẹp, và tạo ra cái đẹp

Đặc biệt khi trẻ tiếp xúc với bộ môn nghệ thuật như: âm nhạc, tạo hình,trẻ có thể cảm nhận được cái đẹp tuyệt vời của cuộc sống qua âm thanh, đườngnét Từ đó giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn về giá trị thẩm mĩ, tâm hồn trẻ phong phú,nhạy cảm hơn với cái đẹp Và khi trẻ làm quen với tác phẩm văn học, thông quangôn ngữ văn học, trẻ cảm nhận được cái hay cái đẹp trong tiếng mẹ đẻ, tìmthấy được những nhân vật điển hình, mỗi nhân vật mang một sắc thái riêng, một

vẻ đẹp riêng Từ đó trẻ tự biết mình phải sống như thế nào

Qua đây chúng ta có thể khẳng định rằng ngôn ngữ đã góp phần khôngnhỏ trong việc giáo dục cho trẻ những tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ cao đẹp.Ngôn ngữ đã góp phần trang bị cho trẻ dồi dào những hiểu biết về nhữngnguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ những tình cảm và hành viđạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống

2.1.2.3 Ngôn ngữ với sự phát triển thể lực của trẻ

Giáo dục thể lực trong trường mầm non là quá trình tác động chủ yếu vào

cơ thể trẻ, tổ chức cho trẻ vận động, rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh, tổ chức tốtchế độ sinh hoạt hợp lí nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ phát triển hài hoà, cân

Trang 13

đối, sức khoẻ tăng cường đạt và đến trạng thái hoàn thiện về mặt thể chất.

Để giáo dục thể lực cho trẻ, các nhà giáo dục học đã kết hợp nhiềuphương pháp khác nhau Trong đó ngôn ngữ đóng vai trò cực kì quan trọng

Trong giáo dục thể lực cho trẻ bài tập vận động đóng vai trò trung tâmsong bài tập vận động muốn đạt hiệu quả giáo dục lại cần đến ngôn ngữ Nếukhông dùng ngôn ngữ để giải thích, hướng dẫn thì trẻ không thể thực hiện mộtcách chính xác những động tác của bài tập, có khi còn sai lệch, điều này rất cóhại cho sự phát triển thể lực bình thường của trẻ

Trong chế độ sinh hoạt hàng ngày, nhờ có ngôn ngữ mà người lớn, côgiáo hướng dẫn trẻ thực hiện tốt các yêu cầu của mình đề ra, góp phần làm cho

cơ thể phát triển Ngoài ra cô giáo phải thường xuyên động viên, khích lệ trẻtrong các hoạt động (ăn, ngũ, học tập, lao động…) mà vai trò cả ngôn ngữkhông thể thiếu

Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục thể lực cho trẻ

Kết luận: Từ những luận điểm trên ta có thể nói rằng ngôn ngữ đóng vai

trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thành con người phát triển hoànthiện Sự phát triển chậm trể về mặt ngôn ngữ có ảnh hưởng lớn đến sự pháttriển toàn diện của trẻ

2.2 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)

2.2.1 Đặc điểm phát triển ngữ âm của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)

Ở thời kì này trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, âm cuối,

âm đệm, thanh điệu dần dần được định vị Trẻ phát âm đúng hết các âm vị củatiếng mẹ đẻ, kể cả các âm, vần khó (iêu, ươu, uông)

Trẻ biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp để phùhợp với từng hoàn cảnh, lời nói của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn Tuy vậy, ởtuổi này trẻ vẩn còn mắc một số lỗi về phát âm, còn nhầm lẫn khi phát âm mộtvài phụ âm và nguyên âm (x-s, ch-t,… ươ, uô, ie) và thanh điệu (? /~)

Trẻ 3-4 tuổi hay nói chậm và kéo dài giọng, còn ậm ừ, ê, a không liên tục,không mạch lạc

Trang 14

Trẻ 4-5 tuổi ít ậm ừ, e, a hơn song trẻ vẫn phát âm sai thanh ngã, âm đệm

và âm cuối

Trẻ 5-6 tuổi phạm vi tiếp xúc rộng, vốn từ và sự hiểu biết của trẻ phongphú hơn nên trẻ phát âm đúng hơn, trẻ phát âm được những âm khó như: loanhquanh, nghênh ngang…

Đến cuối 6 tuổi về cơ bản trẻ phát âm đúng, trừ một số trường hợp dokhuyết tật bẩm sinh của cơ quan phát âm, hoặc do ảnh hưởng của môi trườngsống (do những người xung quanh trẻ phát âm sai dẫn đến trẻ bắt chước và phát

âm theo)

2.2 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)

*Về số lượng

So với nhà trẻ, trẻ mẫu giáo có số lượng từ nhiều hơn hẳn

Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội thành

Hà Nội thì vốn từ của trẻ mẫu giáo là:

Trẻ 4 tuổi 1900-2000 từTrẻ 5 tuổi 2500-2600 từTrẻ 6 tuổi 3000-4000 từNhư vậy, với số lượng từ trên có thể giúp trẻ giao tiếp một cách thuận lợi

* Về từ loại

Theo Xtecnơ lớp từ loại xuất hiện nhiều và trước hết trong vốn từ của trẻ

là danh từ, động từ và sau đó mới đến từ loại khác

Theo Lưu Thị Lan ở ngôn ngữ của trẻ em mẫu giáo tỷ lệ từ loại như tính

từ, trạng từ, quan hệ từ được tăng lên, nhưng động từ lại giảm đi so với trẻ tuổinhà trẻ Nếu trẻ 3 tuổi: Danh từ 40,2 %, Tính từ chiếm 7,8%, Trạng từ chiếm2,4% Thì ở trẻ 5 tuổi: Danh từ chiếm 35,52%, Tính từ chiếm 8,64%, Trạng từchiếm 3,73% Và ở trẻ 6 tuổi: Danh từ giảm 34,47% xuống 30,97%, Tính từtăng 9,94% lên 11,64%

2.2.3 Đặc điểm ngữ pháp của trẻ mẫu giáo

Qua điều tra vốn ngôn ngữ của trẻ các nhà khoa học đã rút ra nhận xét: Tỉ

Trang 15

lệ câu nói ngữ pháp, câu mở rộng thành phần, câu ghép được tăng dần theo độ tuổi Các câu có cấu trúc đơn giản giảm dần.

Trẻ 13-18 tháng câu 1 từ chiếm 50%, câu cụm từ chiếm 46,21%

Trẻ 19-21 tháng câu cụm từ chiếm 42,21%, câu C-V chiếm24,29%

Trẻ 25-30 tháng câu C-V chiếm 29,42%, câu C-V-B chiếm 19,57%

Trẻ 31-36 tháng câu C-V chiếm 19,57%, câu C-V-B chiếm 22,84%

Câu ghép đẳng lập chiếm 25,57%

Trẻ đã có những tiến bộ lớn trong việc tiếp nhận và sử dụng các loại câu trong hệ thống câu tiếng Việt, xong trẻ vẫn còn mắc một số lỗi khi cấu trúc câu như từ trong câu sắp xếp sai trật tự, không rõ ràng hay thiếu từ trong câu, diễn

đạt thiếu rỏ ràng (VD: Trẻ nói: “Ông bà bánh”; câu cần nói: “Ông đưa bánh cho

bà”)

Bước sang giai đoạn 4-6 tuổi thì trẻ rất ít sử dụng câu 1 từ mà thường dùng các loại câu: Câu cụm từ, câu đơn đầy đủ thành phần (C-V), câu đơn mở rộng thành phần, câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ

Xét về loại hình câu thì số lượng không tăng nhưng thành phần trong từngloại câu đều có sự mở rộng, phát triển Trẻ 4-6 tuổi đã nói câu có cụm từ làm

chủ ngữ hoặc làm vị ngữ (Ví dụ: Quả bóng này rất nảy.)

Thành phần trạng ngữ, bổ ngữ cũng được mở rộng (Ví dụ: Hôm nay ở lớp, con ăn cơm với thịt, với rau.)

Các loại câu phức cũng được mở rộng Trẻ biết nói các câu hoàn chỉnh để

kể lại nội dung câu chuyện hoạc diễn tả sự hiểu biết, diễn tả điều mong muốn

Ví dụ: Cháu và mẹ cháu với em Hùng đi đu quay Cháu thích ngồi xem đu

hổ Bé Hùng cung cười khi ngồi đu quay Mẹ cháu đứng xem.

Các câu phức chính phụ của trẻ đãđủ các từ chỉ quan hệ, ý của các câu được diễn đạt rõ ràng mạch lạc hơn

Ví dụ: Bố đánh cháu vì cháu đánh em Hùng.

Trẻ đã có bước tiến khá xa trong việc sử dụng các loại câu so với tuổi nhà trẻ, nhưng trẻ mẫu giáo vẫn còn hạn chế: Từ dùng trong câu nhiều khi chưa chính xác,

Trang 16

khi thừa, khi thiếu, vị trí sắp xếp các từ trong câu cũng chưa đúng nên câu dài mà nghĩa không rõ ràng.

2.2.4 Đặc điểm lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)

*Với trẻ 3-4 tuổi

Trẻ hiểu và trả lời được những câu hỏi của người lớn, nhưng trẻ chỉ đàm thoại được những gì trẻ đang tri giác, trẻ bắt đầu trình bày sự hiểu biết của mình một cách có liên kết, trẻ có thể nghe và hiểu được khi người lớn đọc hoặc kể về những điều phù hợp với nhận thức của trẻ Tuy vậy ngôn ngữ của trẻ còn mang nặng tính ngữ cảnh, trẻ còn nói láu táu, chưa rõ ràng, còn phải sử dụng nhiều đến cử chỉ, điệu bộ trong khi diễn đạt

*Với trẻ 4-5 tuổi

Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi có vốn từ phong phú hơn trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi về

số lượng cũng như từ loại Trẻ sử dụng nhiều loại mẫu câu khác nhau, tư duy của trẻ phát triển hơn, trẻ biết so sánh, nhận ra những đặc điểm giống nhau, khácnhau của sự vật, hiện tượng

Ở trẻ bắt đầu xuất hiện khả năng tổng quát, đưa ra kết luận, nhưng đặc điểm này của tư duy ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ mạch lạc của trẻ Ngôn ngữ của trẻ rỏ ràng hơn, có nội dung, người nghe dễ hiểu hơn

Trong ngôn ngữ độc thoại, trẻ thường dùng những câu, những đoạn ngắn Trẻ thích được trò chuyện với người lớn, trẻ không chỉ đàm thoại về những gì trẻ đang tri giác mà còn biết đàm thoại về những gì trẻ đã biết và biết đưa ra nhận định của mình, măc dù không phải lúc nào trẻ cũng dưa ra được nhận định đúng

Trẻ có thể kể lại một câu chuyện mà trẻ biết hoặc được nghe, có thể kể theo tranh hoặc đồ chơi, đồ vật

*Với trẻ 5-6 tuổi

Ở mẫu giáo lớn, trẻ tích cực tham gia trò chuyện với người lớn Trẻ có thểđàm thoại về những gì trẻ biết hoặc đã được nghe Trẻ có thể tranh luận đưa ra ýkiến của mình

Trang 17

Tư duy của trẻ phát triển hơn, trẻ có thể nhận biết nhữg dấu hiệu, đặc điểm đặc trưng, có thể đưa ra những phân tích đầy đủ và rỏ ràng,mạch lạc ý nghĩ, sự hiểu biết của mình

Trẻ biết xây dựng câu chuyện tương đối liên tục, rỏ ràng, phong phú theo

đề tài cho sẵn hoặc kể theo tranh, đồ chơi, đồ vật

2.3 Nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)

2.3.1 Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)

2.3.1.1 Luyện cho trẻ phát âm đúng, rõ ràng, biểu cảm âm thanh tiếng

mẹ đẻ

Nghĩa là dạy trẻ biết phát âm chính xác những thành phần của âm tiết(thanh điệu, phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối), các đơn vị được táchbạch rõ ràng Đồng thời dạy trẻ biết điều chỉnh âm lượng (không nói quá nhanhhoặc quá chậm, quá to hoặc quá nhỏ), biết thể hiện đúng sắc thái, ngữ điệu, cótác phong văn hoá trong quá trình giao tiếp

2.3.1.2 Làm giàu, củng cố, tích cực hoá vốn từ cho trẻ

Lời nói của trẻ được phát triển qua quá trình giao tiếp với mọi người vàqua quá trình tiếp xúc với môi trường thiên nhiên Muốn mở rộng vốn từ cho trẻtrước hết phải tổ chức cho trẻ làm quan với môi trường xung quanh để mở rộnghiểu biết Sau đó giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ, từ đó tích cực hoá vốn từ chotrẻ

2.3.1.3 Dạy trẻ nói đúng các cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt

Tức là dạy trẻ nói đúng quy luật ngữ pháp mẹ đẻ: Câu đơn, câu ghép…trong các tình huống giao tiếp khác nhau Bên cạnh đó sửa các câu sai, câu què,câu cụt , câu sai logic ngữ nghĩa… Đồng thời dạy trẻ nói đúng kết hợp hành vibiểu cảm phù hợp

2.3.1.4 Dạy trẻ nói mạch lạc

Ngôn ngữ mạch lạc là sản phẩm cuối cùng mà trẻ trẻ đạt được, đây là hìnhthức ngôn ngữ khó nhất, phức tạp nhất đối với trẻ Dạy trẻ nói mạch lạc thông

Trang 18

qua hai hình thức ngôn ngữ, đó là hình thức độc thoại và hình thức đối thoại.

Đối với hình thức đối thoại: Cần dạy trẻ biết nghe, hiểu lời nói đối thoại.Biết nói chuyện, biết trả lời câu hỏi, đặt ra câu hỏi trong quá trình nói chuyện vàbiết biết điều khiển hành vi có văn hoá trong đối thoại

Đối với hình thức độc thoại: Cần dạy trẻ biết kể lại chuyện đã được nghe,được xem Đồng thời dạy trẻ tự đặt nhiều câu chuyện đơn giản mà nội dung,hình thức câu chuyện phải thể hiện được tính độc lập sáng tạo của trẻ

2.3.1.5 Dạy trẻ làm quen với các chữ cái ghi âm tiếng Việt

Nội dung này thực hiện cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Cho trẻ làm quen vớicác chữ cái ghi âm tiếng Việt nghĩa là giúp cho trẻ nhận biết cấu tạo chữ cái,cách phát âm Từ đó giúp trẻ có kỹ năng, tâm thế cần thiết trước khi vào lớp 1

2.3.2 Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)

Để thực hiện nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong truờng mầm non,các nhà giáo dục đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau

có thể cho trẻ xem qua tranh ảnh, máy chiếu…Phương pháp quan sát gián tiếpnày cũng được sử dụng cho trẻ làm quen đối tượng lần hai để cũng cố kiến thứcthu nhận được ở lần quan sát đầu tiên

2.3.2.2 Nhóm phương pháp dùng lời

Bao gồm các phương pháp sau: đọc thơ, ca dao, tục ngữ, đồng dao cho trẻnghe, kể và đọc chuyện, kể lại chuyện, đàm thoại, mẫu ngôn ngữ, câu hỏi để hỏitrẻ, giảng giải Đây là phương pháp đặc thù trong nội dung phát triển ngôn ngữcho trẻ, giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo cho các nội dung phát triển ngônngữ trên Đối với mỗi độ tuổi cần có những nội dung mức độ yêu cầu phù hợp

Trang 19

2.3.3 Các hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)

Có hai hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo: Phát triển ngônngữ qua các giờ học và phát triển ngôn ngữ trong sinh hoạt, lao động, vui chơi

2.3.3.1 Phát triển ngôn ngữ qua giờ học

Phát triển ngôn ngữ qua các giờ học bao gồm: Nhận biết tập nói (nhà trẻ),Làm quen với môi trường xung quanh (mẫu giáo), Làm quen với tác phẩm vănhọc và Các giờ học khác như (Tạo hình, âm nhạc, làm quen với biểu tượng toán

…) Đây là hình thức chủ yếu để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nó được thực hiệnmột cách có kế hoạch, có hệ thống, giúp trẻ nắm đuợc các nội dung quan trọngcủa chương trình (phát âm đúng, nói đúng ngữ pháp, mở rrộng vốn từ, nói mạchlạc ) Trong các giờ hoạt động khác, ngôn ngữ vẫn được chú ý cao bởi phát triểnngôn ngữ đi vào mọi lĩnh vực hoạt động

2.3.3.2 Phát triển ngôn ngữ trong sinh hoạt, lao động, vui chơi, tham quan

Không phải bài học nào cũng có thể thực hiện bằng con đưòng giảng dạytrên lớp như giáo dục thói quen nói chuyện có văn hoá khi giao tiếp, biết phátbiểu mạnh dạn trước đám đông Theo quan điểm tích hợp trẻ học mọi lúc mọinơi thì hình thức giáo dục này giúp phát triển ngôn ngữ cho trẻ rất hiệu quả.Thông qua hoạt động vui chơi đặc biệt trò chơi, hoạt động tham quan, laođộng… không nhưng giúp trẻ hứng thú hoạt động mà còn tích cực giao tiếp,sáng tạo giúp cho khả năng ngôn ngữ của trẻ được phát triển

Trang 20

2.4 Trò chơi dân gian với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo

(3-6 tuổi)

2.4.1 Một số vấn đề chung về trò chơi

2.4.1.1.Khái niệm trò chơi

Chơi là một dạng hoạt động độc lập, tự do và tự nguyện của trẻ mẫu giáo.Chơi không nhằm tạo ra sản phẩm mà chỉ để thoả mãn nhu cầu được chơi củatrẻ Nội dung chơi luôn phản ánh hiện thực cuộc sống xung quanh, và trong khichơi bằng ngôn ngữ của mình trẻ cùng nhau trao đổi, thoả thuận làm chính xác ýđịnh và vạch ra nội dung

Đã có nhiều khái niệm về từ “chơi”, trong tiếng anh có 59 định nghĩa về

chơi, chơi được gọi là “play ” có nghĩa là vui đùa, giải trí.

Tác giả Văn Tân trong cuốn “Từ điển tiếngViệt” cho rằng: chơi có nghĩa

là hoạt động bằng chân, tay hoặc bằng trí tuệ nhằm mục đích thấy cái vui, thoả mãn ý thích.

Trong tác phẩm “Về phạm trù chơi trong giáo dục học mầm non” của Đặng Thành Hưng (7, tr45-46 ) thì chơi và hoạt động chơi là phạm trù rộng lớn,

cần được giải thích trên nguyên tắc tiến hoá, nó là một dạng hoạt động của sinh vật Ở người chơi là một hoạt động ngày càng được xã hội hoá.

Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng họ đều có sự thống nhất xemchơi như một hoạt động tự nguyện, bày ra để giải trí và hoạt động chơi là mộtdạng hoạt động mang tính xã hội của con người

Vui chơi là một hoạt động cần thiết ở mọi lứa tuổi mà trò chơi là hình

thức bày ra để vui chơi giải trí Trong tiếng Anh trò chơi là game được định nghĩa là “afrom of play” ( tức là một kiểu loại của chơi, hay hoạt động chơi).,

amusement with ruler ( trò chơi gắn với những quy tắc, luật lệ ) Tác giả Lê Vũ

cũng cho rằng: “Trò chơi là một hoạt động vui chơi chứa đựng một chủ đề, một

nội dung nhất định, có những quy định bắt buộc người tham gia phải tuân theo.”

Từ những cách hiểu trên chúng tôi thống nhất với quan điểm cho rằng:

Trang 21

Trò chơi là hình thức vật chất của chơi, hoạt động chơi mang tính chất xã hội Trò chơi chính là một kiểu phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật, có quy định rõ ràng, kết quả và yêu cầu của hoạt động có tính cạnh tranh thách thức đối với người tham gia.

2.4.1.2 Nguồn gốc của trò chơi

Xét về phương diện nguồn gốc ra đời của trò chơi, tác giả Plêkhanôp quaphân tích nhiều trò chơi trẻ em của nhiều dân tộc khác nhau, chủ yếu ở thời đại

nguyên thuỷ, đã nhận định rằng: “Trong lịch sử loài người, trò chơi là một nghệ

thuật xuất hiện sau lao động và trên cơ sở của lao động” Sự phát triển của trò

chơi cũng gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và với sự thay đổi vịtrí của đứa trẻ trong xã hội đó (theo nhiều công trình nghiên cứu của các tác giảL.X.Vưgotxki, A.N.Lêônchiep…)

Ở những giai đoạn đầu của sự phát triển của xã hội loài người, khi lựclượng sản xuất còn ở trình độ thấp kém và phương thức kiếm sống chỉ là háilượm và săn bắn, thì trẻ em đã tham gia vào lao động chung của người lớn Bằngcon đường thực tế trẻ đã lĩnh hội được cách thức sử dụng công cụ thô sơ và trởthành thành viên của xã hội Ở giai đoạn này chưa có trò chơi

Khi điều kiện lao động và công cụ lao động trở nên phức tạp, xuất hiệnviệc phân công lao động thì vị trí của trẻ trong xã hội cũng thay đổi Trẻ khôngthể tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất và các mối quan hệ của người lớn.Việc sử dụng công cụ lao động phức tạp đòi hỏi trẻ cần phải có sự chuẩn bị laođộng, người lớn đã làm cho trẻ những công cụ lao động nhỏ hơn, nhẹ hơn.và cáctrò chơi luyện tập bắt đầu xuất hiện Trong những trò chơi đó trẻ trẻ lĩnh hộiđược các kĩ năng cần thiết để sử dụng công cụ lao động Như vậy, hoạt độngcủa chúng gần giống với lao động của người lớn

Do tính chất phức tạp của công cụ lao động khiến cho việc làm nhữngcông cụ lao động nhỏ cho trẻ em trở nên khó khăn, vì thế xuất hiện loại đồ chơi

mô phỏng, chỉ giữ lại vẻ bề ngoài giống như công cụ lao động, chúng không thể

sử dụng để lao động mà chỉ để tập dượt, mô phỏng những hành động lao động

Trang 22

tức là chơi Cũng vào lúc đó trò chơi đóng vai theo chủ đề xuất hiện để môphỏng lại đời sống xã hội của người lớn Trong trò chơi đó trẻ được thoả mãnước muốn của mình là được sống và làm việc như người lớn.

Như vậy, hoạt động vui chơi không xuất hiện cùng một thời điểm khi loàingười xuất hiện Trò chơi xuất hiện khi nền văn minh của loài người đạt đến mộttrình độ nhất định, khi công cụ sản xuất trở nên phức tạp mà trẻ em không thể sửdụng để làm việc như người lớn

2.4.1.3 Bản chất xã hội của trò chơi

Trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí Macxit đã khẳngđịnh: Trò chơi trẻ em được xem là một dạng hoạt động xã hội, nó mang tính chất

xã hội cả về nguồn gốc ra đời, về khuynh hướng, về nội dung và về hình thứcbiểu hiện Như vây, trò chơi của trẻ em mang bản chất xã hội

Trong lịch sử loài người trò chơi xuất hiện sau lao động và trên cơ sở củalao động Trò chơi phản ánh hoạt động lao động của con người Trò chơi còn làsợi dây nối liền các thế hệ với nhau và truyền đạt những kinh nghiệm, nhữngthành quả văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác

Trong lịch sử mỗi dân tộc đều có một kho tàng lớn trò chơi trẻ em đượctích luỹ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong đó một mặt trẻ em đượcgiải trí, mặt khác được biểu hiểu biết thêm về thế giới xung quanh và hoàn thiệnnhững khả năng của mình Mỗi xã hội đều ảnh hưởng đến nội dung trò chơi củatrẻ em bằng con đường tự phát hay tự giác Trò chơi chính là phương tiện truyềnđạt những kinh nghiệm lịch sử loài người

Bản chất xã hội của trò chơi đựơc biểu hiện bởi những điều kiện mà mỗi

xã hội đều tạo ra cho trò chơi Nhưng không phải xã hội nào cũng đều có thể tạo

ra được những điều kiện đó Trong một số xã hội mà trẻ em ở các gia đình đãsớm tham gia vào công việc lao động nặng nhọc làm cho chúng bị tước mất đituổi thơ và mất đi một người bạn đồng hành đó là trò chơi

Bản chất xã hội cùa trò chơi còn được biểu hiện ở nội dung của trò chơi,đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề Đó là những trò chơi mà trẻ mô phỏng

Trang 23

lại đời sống xã hội của người lớn, các nhân vật của trò chơi là những con người

cụ thể của một xã hội nhất định Qua trò chơi trẻ có thể nhìn thấy dấu ấn củatừng thời đại lịch sử

Như vậy trò chơi của trẻ em ở mỗi thời đại và ở mỗi dân tộc đều mangtrong mình những dấu ấn sâu sắc về sự phát triển của xã hội Chỉ có thể xuấtphát từ bản chất xã hội của trò chơi mới có thể giải thích được trò chơi, lịch sử

cụ thể của nội dung các trò chơi trẻ em Khẳng định bản chất xã hội của trò chơitrẻ em cũng là khẳng định tác động tích cực của người lớn lên trò chơi trẻ em

Trong trò chơi người lớn tổ chức hướng dẫn trẻ chơi một cách có mụcđích, có phương hướng, có kế hoạch nhằm đảm bảo sự phát triển tích cực chủđộng sáng tạo của trẻ và sự phát triển hiệu quả nhất ở trẻ Hay nói cách khác cóthể sử dụng trò chơi như một phương tiện giáo dục quan trọng đối với trẻ em

2.4.1.4 Ý nghĩa của trò chơi với sự phát triển của trẻ em

Tác giả A.X.Maracencô viết: Trò chơi có một ý nghĩa rất quan trọng

trong đời sống trẻ em, có một ý nghĩa giống như ý nghĩa của hoạt động, công tác và sự phục vụ của người lớn vậy Do đó, việc giáo dục những nhà hoạt động trong tương lai bắt đầu trước tiên từ trò chơi (Giáo dục học mầm non, tập III).

Bước vào tuổi mẫu giáo những hình thức, hoạt động phong phú đã xuất

hiện như: Hoạt động vui chơi, học tập, lao động nhưng vui chơi mà trò chơi

đóng vai trò theo chủ đề được coi là hình thức hoạt động chủ đạo Vui chơi là

hoạt động chủ đạo không phải vì trẻ mẫu giáo dành những thời gian cho nó màchính trò chơi đã gây ra những biến đổi về chất trong tâm lí của trẻ, nó chi phốitoàn bộ đời sống tâm lí của trẻ và các dạng hoạt động khác như học tập, laođộng

Trong hoạt động vui chơi những phẩm chất tâm lí và những đặc điểmnhân cách của trẻ mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ nhất

Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành tính chủ địnhcủa quá trình tâm lí Trong trò chơi ở trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý có chủ định

và ghi nhớ có chủ định Bởi vì bản chất của trò chơi đòi hỏi trẻ tập trung vào

Trang 24

nhiều đối tượng được đưa vào tình huống của trò chơi và nội dung của chủ đề.

Để trò chơi được thành công buộc đứa trẻ phải tập trung chú ý và ghi nhớ mộtcách có chủ định

Nội dung của hoạt động vui chơi chủ yếu là phản ánh thế giới xung quanh

và chính nhờ có hoạt động vui chơi mà trẻ hiểu sâu sắc hơn nữa về cuộc sốngxung quanh Thông qua trò chơi những tri thức trẻ nắm được trước kia bắt đầutham gia vao mối liên hệ mới và trẻ tập trung điều khiển những tri thức ấy Việcgiải quyết tình huống trò chơi và những hành động của vai chơi cũng ảnh hưởngthường xuyên tới sự phát triển của trẻ mẫu giáo Trong trò chơi đứa trẻ hànhđộng với vật thay thế mang tính chất tượng trưng, vật thay thế trở thành đốitượng của tư duy Trong khi hành động với vật thay thế trẻ học cách suy nghĩ vềnhững đối tượng thực dần dần những hành động chơi với vật đươc thay thế đượcrút gọn và mang tính khái quát, nhờ đó những hành động chơi với vật thay thếbên ngoài được chuyển vào bình diện bên trong Nhờ vậy trò chơi góp phần lớnvào việc chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bên trong

Trong khi vui chơi trẻ còn được thả sức suy nghĩ, tìm tòi, thả sức mà ước

mơ tưởng tượng, trẻ có thể làm bất cú việc gì có thể là chú công nhân, là côgiáo, bác sĩ chữa bệnh,… thậm chí bay cả vào vũ trụ Những hình ảnh tưởngtượng vừa ngây thơ vừa phi lí này, không chỉ đem lại cho tuổi thơ niềm hạnhphúc mà còn cần cho mỗi con người sau này lớn lên, dù là người lao động chântay nhà khoa học hay nghệ sĩ Như vậy phương tiện có hiệu quả nhất để nuôidưỡng trí tưởng tượng đó chính là trò chơi

Vai chơi ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non

Đo chính là tình huống chơi nó đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải cómột trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Nếu đứa trẻ không thể diễn đạtmạch lạc nguyện vọng và ý kiến của mình đối với trò chơi, nếu nó không hiểuđược những lời chỉ dẫn hay bàn bạc của các bạn cùng chơi, thì nó không thểtham gia vào trò chơi được Để đáp ứng được những yêu cầu của việc cùng chơi,trẻ phải phát triển ngôn ngữ một cách mạch lạc, rõ ràng Chơi chính là điều kiện

Trang 25

để trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng nhất.

Trò chơi cũng các động rất mạnh đến sự phát triển đời sống tình cảm, đạođức của trẻ mẫu giáo Đứa trẻ lao vào chơi với tất cả tinh thần say mê của nó,trong khi chơi trẻ tỏ ra sung sướng và nhiệt tình, khi phản ánh vào trò chơinhững mối quan hệ giữa người và người, và nhập vào những mối quan hệ đó thìnhững rung động hay tình người được gợi lên ở trẻ Thông qua trò chơi cũnghình thành những hành vi xã hội, phẩm chất đạo đức đáng quý và đúng đắn củacon người chân chính Trò chơi đã tác động mạnh mẽ đến trẻ trước hết chính là

vì nó thâm nhập một cách dễ dàng hơn cả vào thế giới tình cảm của chúng, màtình cảm đối với trẻ lại là động cơ hành động mạnh mẽ nhất

Trò chơi luôn đem lại cho trẻ niềm vui sướng, đây chính là yếu tố quantrọng đẩy mạnh sự phát triển chung của thể lực vì tinh thần khoẻ mạnh giúp thểxác khoẻ mạnh theo Mỗi trò chơi đều kèm theo một số vận động, những vậnđộng này đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoànmáu, đồng thời hình thành ở trẻ những kỹ năng vận động giúp cơ thể phát triểncân đối nhất, tuy vậy cần có sự lựa chọn, hướng dẫn trò chơi một cách có khoahọc để đảm bảo sự phát triển thể lực của trẻ Như vậy trò chơi đã góp phần quantrọng trong việc phát triển thể lực cho trẻ mầm non

Kết luận: Trò chơi có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với trẻ thơ Trò chơi có

mặt trong tất cả các hoạt động học tập, giao tiếp, sinh hoạt hàng ngày của trẻ.Trò chơi chính là phương tiện giáo dục, phát triẻn toàn diện nhân cách của trẻthơ

3.4.2 Trò chơi dân gian và khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ qua trò chơi dân gian

3.4.2.1 Khái niệm trò chơi dân gian

Trẻ em có nhu cầu rất lớn về vui chơi, vui chơi không những đem lại niềmvui sướng cho trẻ mà còn giúp hoàn thiện nhân cách con người trẻ trong tươnglai Chính vì vậy trên thế giới mỗi dân tộc đều có những trò chơi dành riêng chotrẻ em mình Ngay từ thủa xa xưa trẻ em Việt Nam cũng được đáp ứng nhu cầu

Trang 26

vui chơi thông qua trò chơi dân gian.

Trò chơi dân gian xuất hiện từ rất sớm, do nhân dân lao động sáng tạonên, là dạng trò chơi dễ chơi, dễ hoà nhập, chơi ở bất cứ đâu, bất cứ nơi nào vàđược lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ vùng này qua vùng khác

Trò chơi dân gian không những nhiều về số lượng, phong phú về thể loại,

mà còn mang đặc trưng tính chất vùng miền

Như vậy chúng ta có thể hiểu: Trò chơi dân gian chính là những trò chơi

do nhân dân lao động sáng tạo nên, được lưu truyền tự nhiên, rộng rãi trong dângian, là trò chơi mang tính chất cộng đồng, chơi giúp con người gần gũi nhauhơn hay trò chơi chính là một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá dân gianViệt Nam

Một số trò chơi dân gian như: Kéo co, Tập tầm vông, Dệt vải, Ném còn,Thả địa ba ba, Thả diều, Lộn cầu vồng…

3.4.2.2 Cấu trúc trò chơi dân gian.

Cũng giống các trò chơi khác, trò chơi dân gian cũng có cấu trúc gồm cácphần như sau:

a Nội dung chơi

Nội dung chơi chính là khía cạnh hiện thực được phản ánh trong trò chơi.Nội dung chơi của trò chơi dân gian là sự mô phỏng các hoạt động tự nhiên và

xã hội xảy ra trong cuộc sống xung quanh con người

b Hành động chơi

Là những hành động người chơi thực hiện trong lúc chơi Những hànhđộng ấy càng phong phú, nhiều hình thức thì trò chơi càng hấp dẫn, người chơitham gia trò chơi càng nhiều

c Luật chơi

Luật chơi là những quy định mà trẻ phải tuân theo trong khi chơi, tuy vậyluật chơi của trò chơi dân gian không quy định quá chặt chẽ, luật chơi có thểđiều chỉnh để phù hợp với điều kiện chơi

3.4.2.3 Đặc điểm, tính chất của trò chơi dân gian

Trang 27

Trò chơi dân gian là những trò chơi do nhân dân lao động sáng tạo nên,được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác vì vậy trò chơi dân gian mangnhững đặc điểm và tính chất sau:

a Trò chơi dân gian thường gắn liền với lời ca

Đa số trò chơi dân gian đều có lời ca, đó là những bài đồng dao, ca dao,

hò vè, câu đố…phản ánh hoạt động tự nhiên và cuộc sống sinh hoạt của conngười, nên nó có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục trẻ Lời ca còn mang tínhvần điệu, nó giúp cho trẻ chơi sôi nổi, hấp dẫn, nhịp nhàng hơn Như vậy lời ca

là một phần không thể thiếu đối với trò chơi dân gian, nếu không có lời ca tròchơi trở nên vô vị, tẻ nhạt

b.Trò chơi dân gian mang tính tập thể

Trò chơi dân gian được người dân lao động sáng tạo ra trong cuộc sốnghàng ngày, trong lao động, trong lễ hội vui chơi Tất cả trò chơi dân gian đềuchơi theo từng nhóm người, có trò chơi chơi theo nhiều nhóm nhỏ 2, 4, 6, 8người như trò chơi: Xĩa cá mè, thả đĩa ba ba, kéo cư lừa xẻ….Có trò chơi lại lêntới hàng chục người như trò chơi: Mèo đuổi chuột, đua thuyền, kéo co…

Trò chơi dân gian luôn cuốn hút tất cả mọi người tham gia: không phânbiệt già trẻ, trai gái, đẳng cấp, tôn giáo, sắc tộc, văn hoá, ai cũng có thể tham gia

Trang 28

trò chơi dân gian diễn ra quanh năm, bất kì ở đâu, bất kì thời gian nào vẫn đượctất cả mọi người tham gia một cách hứng thú.

d Trò chơi dân gian không quy định quá nghiêm ngặt về luật chơi

Luật chơi là những quy định mà người chơi buộc phải tuân thủ một cáchnghiêm ngặt, tuy vậy trò chơi dân gian lại mang tính linh hoạt, dễ điều chỉnhluật chơi để phù hợp với điều kiện chơi Tuỳ vào đối tuợng chơi như: Trình độngười chơi, độ tuổi chơi, nhóm người chơi… mà ta có thể điều chỉnh luật chơibằng cách biến đổi làm phức tạp, hay đơn giản hoá luật chơi để trò chơi hấp dẫnhơn

e Đồ chơi là phương tiện quan trọng của trò chơi Nhưng đối với trò chơidân gian thì đồ chơi rất dân dã, dễ kiếm, dễ làm, là các vật liệu từ thiên nhiên cỏcây, hoa lá, hột, hạt, que, gậy, giấy…Thậm chí có những trò chơi không có đồchơi như: Rồng rắn lên mây, Bịt mắt bắt dê, Thả địa ba ba… Còn có những tròchơi bắt buộc phải có đồ chơi mới có thể chơi được như: Thả diều, Câu ếch,Ném còn…

g Trò chơi dân gian mang tính dị bản

Tính dị bản là đặc trưng phổ biến của của văn hoá dân gian, trong đó cótrò chơi Cùng một trò chơi, nhưng ở mỗi địa danh lại có một bà đồng dao khácnhau Như “Nu na nu nống”

Trang 29

Ngay như trò chơi “Ú tím” là trò chơi phổ biến, trẻ chơi ở bất cứ đâu, bất

cứ nơi nào, nhưng mỗi nơi lại có những dị biệt về chi tiết thao tác chơi hoặc vềđồng dao

Ví dụ: Có nơi gọi: Cụp choè hoe muống

Nơi khác gọi: Chu chi chu chập

Nơi khác nữa gọi: Trồng bầu trồng bí

Có nơi lại gọi: Mê mê miến miến

Không những dị biệt về lời ca mà còn dị biệt cả thao tác chơi Nhiều tròchơi như: Chồng lộng chồng cà, Đánh đáo, Nhảy lò cò… đều có dị bản, mỗi nơi

có thêm bớt một vài chi tiết hoặc cách thức chơi

4.2.4.Phân loại trò chơi dân gian

Trò chơi dân gian rất đa dạng, phong phú nên việc phân loại trò chơi dângian cũng có nhiều cách, dựa vào nhiều tiêu chí phân loại khác nhau như đã nói

4.2.4.1 Phân loại trò chơi dân gian dựa theo lời đồng dao

Lời đồng dao là một đặc trưng nổi bật của trò chơi dân gian, trong côngtrình này chúng tôi phân loại trò chơi dân gian thành 2 loại:

Trò chơi dân gian có sử dụng kết hợp lời ca, lời đồng dao như: Thả đĩa ba

Trang 30

ba, dệt vải, dã chày một, thìa là thìa lẫy, kéo cưa lừa xẻ, nu na nua nống…

Trò chơi dân gian không sử dụng lời ca, lời đồng dao như: Trốn tìm, cắpcua, cướp cờ, bịt mắt bắt dê, kéo co,…

4.2.4.2 Phân loại trò chơi theo mảng chủ đề

Trò chơi dân gian là những trò chơi do con người sáng tạo nên nhằm môphỏng sinh hoạt của con người, hiện tượng thiên nhiên, hành động con vật…Vìvậy trò chơi dân gian được phân chia thành những mảng đề tài riêng:

- Môi trường tự nhiên: một số trò chơi như: bịt mắt bắt dê, mèo đuổichuột, cắp cua, …

- Môi trường xã hội: một số trò chơi như: dệt vải, kéo cưa lừa xẻ, kéo co,thả diều…

4.2.5 Tổ chức và hướng dẫn trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo

a Khái niệm tổ chức hướng dẫn

“Tổ chức” trong tiếng Anh là “to oranize” hay “arrange for” được hiểu làsắp xếp chuẩn bị Còn trong “Từ điển tiếng Việt” thì tổ chức có nghĩa là “sửasoạn một việc để tiến hành trong những điều kiện mang lại kết quả tốt”

Hướng dẫn là “to conduct” (chỉ dẫn), “to guide”, “to lead” (dẫn dắc), là

“dìu dắt, chỉ bảo đường lối”

Từ đó có thể hiểu tổ chức hướng dẫn là sắp xếp, chuẩn bị những điều kiện

để tiến hành một việc nào đó và chỉ dẫn cách thức thực hiện việc đó nhằm manglại kết quả tốt nhất

Vậy, tổ chức hướng dẫn chơi trò chơi dân gian chính là hoạt động gồmcông tác chuẩn bị cho trò chơi và quá trình chỉ dẫn thực hiện trò chơi nhằm đemlại kết quả cao nhất

b Tổ chức, hướng dẫn trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo.

Tổ chức, hướng dẫn cho trẻ chơi trò chơi dân gian là giúp trẻ tham giavào trò chơi, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của trẻ, vì vậy khi tổ chức, hướngdẫn cho trẻ chơi trò chơi dân gian người giáo viên mầm non cần giải quyết cácnhiệm vụ sau:

Trang 31

B1 Xác định nhiệm vụ, lựa chọn biện pháp tương ứng, xây dựng kếhoạch tổ chức hướng dẫn chơi trò chơi dân gian.

Để tổ chức hướng dẫn trò chơi dân gian cho trẻ, nhiệm vụ trước tiên củangười giáo viên là xác định được nhiệm vụ giáo dục phát triển thông qua tròchơi Đồng thời căn cứ vào không gian, thời gian, thời tiết…, theo kế hoạch củachương trình giáo dục từng tháng, từng học kì, trong năm, để đảm bảo cácnguyên tắc trong giáo dục trẻ mần non Từ đó lựa chọn trò chơi phù hợp vớinhiệm vụ phát triển, phù hợp với nội dung chương trình giáo dục

Sau đó giáo viên biên soạn thành giáo án, lựa chọn biện pháp thích hợp

và lập kế hoạch tổ chức hướng dẫn cho trẻ chơi

B2 Chuẩn bị cho trẻ chơi

Chuẩn bị địa điểm chơi: địa điểm để thực hiện trò chơi dân gian thường làkhoảng không rộng trong lớp hay ngoài sân Sau khi đã chọn địa điểm chơi, giáoviên thu nhặt các vật gây nguy hiểm, vệ sinh sạch sẽ, an toàn, thông thoáng…Sau đó tiến hành: kẻ sân, vẽ minh hoạ về sân chơi trò chơi…phù hợp với tròchơi mình sắp tổ chức

Chuẩn bị phương tiện chơi: đa số trò chơi dân gian không cần phương tiệnchơi mà vẫn tổ chức được, một số ít trò chơi cần chuẩn bị phương tiện chơi nhưkhăn, hột, hạt, cần câu, dây long…trong các trò chơi như: bỏ khăn, tập tầmvông, câu ếch…

Việc chuẩn bị tốt địa điểm, phương tiện chơi sẽ giúp cho việc tổ chức tròchơi hiệu quả hơn, trẻ hứng thú hơn Vì vậy giáo viên cần hết sức coi trọng khâuchuẩn bị, tránh sự chuẩn bị sơ sài

Trang 32

chức cho trẻ chơi theo đội hình khác nhau (vòng tròn, hàng ngang, dọc ) Ở mỗiđội hình đó vị trí đứng của cô để giải thích và điều khiển cũng khác nhau, nhưngvẫn đảm bảo trẻ quan sát được cô làm mẫu, nghe rõ được cô hướng dẫn giảithích, và nhìn thấy được các bạn cùng chơi mà không bị cản trở tiến trình chơi.

+ Giới thiệu và giải thích trò chơi

Việc giới thiệu và giải thích trò chơi có thể tiến hành theo nhiều cách khácnhau, phụ thuộc vào sự hiểu biết của đối tượng trẻ và tình hình thực tiễn Tuyvậy việc giới thiệu và giải thích luôn tiến hành theo một trình tự: gọi tên tròchơi, giới thiệu luật chơi, yêu cầu về tổ chức kỉ luật, đánh giá kết quả chơi vàmột số điểm cần chú ý khác

- Đối với trò chơi mới: giáo viên giới thiệu, giải thích và làm mẫu mộtcách chi tiết tỉ mỉ Đối với trẻ mẫu giáo lớn cô có thể giới thiệu và giải thích tròchơi một cách ngắn gọn, dể hiểu sau đó có thể cho trẻ làm mẫu, hoặc cho trẻchơi Đối với trẻ nhỏ cô giáo có thể cùng tham gia chơi với trẻ qua đó vừa giảithích và hướng dẫn trò chơi cho trẻ Trò chơi dân gian giúp phát triển ngôn ngữluôn có lời đồng dao kèm theo, vì vậy cô giáo chú ý dạy trẻ thuộc lòng bài đồngdao trước khi tham gia trò chơi

- Đối với trò chơi trẻ đã biết, đã hiểu luật chơi: giáo viên không cần phảigiải thích trò chơi nữa mà nên nêu thêm một số yêu cầu (yêu cầu cao hơn, chặtchẽ hơn) lần chơi trước để tạo sự hào hứng, tránh nhàm chán và phát huy đượctính tích cực hoạt động sáng tạo của trẻ

- Việc giới thiệu và giải thích trò chơi một cách hấp dẫn, lôi cuốn thu hútđược sự chú ý, khích lệ được trẻ tham gia một cách tích cực đó là nghệ thuật củangười điều khiển Vì vậy mỗi giáo viên phải sáng tạo, học hỏi để hiệu quả tròchơi được nâng cao

+ Điều khiển trò chơi

-Khi trẻ chính thức bước vào trò chơi thì người điều khiển đóng vai tròquan trọng như một trọng tài của trận thi đấu Mọi tình huống xảy ra (vi phạmluật, kiện cáo, ) tất cả đều do người điều khiển quyết định Vì vậy người điều

Trang 33

khiển phải luôn theo dõi diễn biến cuộc chơi một cách chặt chẽ từ đó giải quyếtcác tình huống xảy ra một cách khéo léo, phù hợp nhất.

- Trong quá trình điều khiển trò chơi người điều khiển cũng cần phải chú

ý nhắc nhở và giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho trẻ, đồng thời chú ý đến vấn

đề an toàn của trẻ khi tham gia trò chơi

- Người điều khiển phải thường xuyên động viên, khích lệ trẻ tích cựchoạt động, sáng tạo trong khi tham gia chơi sẻ làm cho trẻ tự tin, mạnh dạn,thích thú với trò chơi nhiều hơn

- Đối với một số trò chơi người điều khiển nên tổ chức thi đua giữa cácnhóm, tổ với nhau để trò chơi sinh động, hấp dẫn hơn

B4 Nhận xét đánh giá cuộc chơi

Sau mỗi lần chơi, hay một số lần chơi, giáo viên có thể tổ chức nhận xétđánh giá (có thể tổ chức cho trẻ nhận xét đánh giá trước) Việc để cho trẻ tựnhận xét đánh giá bản thân mình, đánh giá bạn chơi sẽ giúp cho việc phát triểnngôn ngữ của trẻ được bộc lộ mạnh mẽ, đồng thời rèn luyện cho trẻ mạnh dạntrước đám đông, trẻ tự nhận thức được hoạt động chơi của mình Sau khi tổ chứccho trẻ tự nhận xét, giáo viên sẽ tổng hợp ý kiến của trẻ, cùng với nhận định củamình sẻ nhận xét, đánh giá kết quả chơi Để đánh giá đúng thực chất của cuộcchơi, người giáo viên phải chỉ ra được ưu điểm, khuyết điểm của từng đội, từngnhóm, từng cá nhân Dựa vào những yêu cầu của luật chơi, kết quả của cuộcchơi để giáo viên đánh giá, phân loại thắng thua thật công bằng, rõ ràng, có nhưvậy trẻ mới thoả mãn với kết quả mà nhóm mình, bản thân mình làm được

Tuy vậy trong quá trình nhận xét, đánh giá kết quả thắng thua, cô giáocủng cần chú ý đặc điểm tâm lí độ tuổi Khen khích lệ đối với trẻ, nhóm trẻ làmtốt đồng thời với nhóm trẻ, trẻ yếu nên khuyến khích, động viên trẻ tham gia tốt

ở lần sau để trẻ tránh cảm giác tự ti và mất hứng thú trong các hoạt động tiếptheo

Nhận xét, đánh giá là khâu cuối cùng của cuộc chơi cũng là khâu có ýnghĩa quan trọng đối với hoạt động, vì vậy người giáo viên cần tổ chức nhận xét,

Trang 34

đánh giá cuộc chơi một cách hợp lí, có sức thuyết phục, để tạo cho trẻ khôngnhững có cảm giác thoã mãn sau khi chơi mà còn ham thích hoạt động ở các lầnsau Đó chính là thành công của trò chơi, cũng như thành công của người giáoviên mầm non

4.2.6 Khả năng phát triển ngôn ngữ qua trò chơi dân gian

Lứa tuổi mẫu giáo là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm đối với các hiện tượngngôn ngữ Điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt đến tốc độ khánhanh Ngôn ngữ của trẻ phát triển nhanh trong các trò chơi, trong đó trò chơidân gian là phương tiện hữu ích để hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Trò chơi dân gian do là những trò chơi do nhân dân sáng tạo nên, nộidung phản ánh thế giới xung quanh, tâm tư tình cảm của mình thông qua ngôn

từ lời ca Trẻ vui chơi để lớn lên, trò chơi dân gian xuất hiện từ rất sớm đi vàođời sống trẻ thơ như một món ăn tinh thần, trẻ chơi với lòng say mê, nhiệt tình,thích thú

Tuy vậy để có thể tham gia vào trò chơi dân gian trẻ phải thuộc lòng lời

ca, lời ca là những lời “Đồng dao, ca dao, tục ngữ, hò vè, câu đố….”, là nhữngnghệ thuật ngôn từ, là một đặc trưng của trò chơi dân gian mà ít trò chơi khác cóđược

Việc thuộc lời ca ấy không những giúp trẻ biết thêm về thế giới xungquanh mà quan trọng trẻ được phát triển khả năng ngôn ngữ của mình: khả năngphát âm, mở rộng vốn từ, nói đúng câu ngữ pháp, phát triển lời nói mạch lạc,hay làm quen với chữ cái Trò chơi dân gian đa dạng, phong phú về chủ đề, nộidung Đây còn là điều kiện mở rộng nhận thức cho trẻ, cũng như bổ sung vốn từcho trẻ…

Trò chơi dân gian là những trò chơi mang tính tập thể, để tham gia vào tròchơi cũng yêu cầu mỗi đứa trẻ có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhấtđịnh Nếu trẻ không thể diễn đạt được nguyện vọng và ý kiến của mình với cácbạn và ngược lại trẻ không thể hiểu được lời chỉ dẫn hay bàn bạc của cô giáo,các bạn thì trẻ không thể tham gia vào trò chơi được

Trang 35

Trong quá trình chơi, việc bắt chước các hành động chơi để tái tạo lại tròchơi cũng giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển vốn từ được mở rộng, tăng thêm

số lượng câu, trẻ nói mạch lạc hơn…

Trong khi chơi trẻ còn biết đánh giá, nhận xét các bạn chơi khá cũng nhưnhận xét bản thân mình, bằng sự hiểu biết và diễn đạt bằng ngôn ngữ của trẻ, đểđưa ra những kết luận của mình về bản thân cũng như bạn chơi Điều này thúcđẩy ngôn ngữ của trẻ phát triển

Kết luận: Như vậy khả năng phát triển ngôn ngữ qua trò chơi dân gian làrất lớn, điều này đòi hỏi cao sự tích cực hoạt động của trẻ, cũng như quá trình tổchức, hướng dẫn của giáo viên

5 Kết luận chương I

Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ mầm non.Ngôn ngữ trẻ phát triển nhanh chóng thông qua hoạt động chơi trong đó có sựđóng góp đặc biệt của trò chơi dân gian Trò chơi dân gian là một trong nhữnghình thức sinh hoạt văn hoá dân gian phản ánh khá phong phú và sinh động mốiquan hệ của con người với thiên nhiên và xã hội

Sử dụng trò chơi dân gian trong giáo dục nói chung và trong giáo dục pháttriển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nói riêng là việc làm cần thiết Trò chơi dângian vừa là nội dung, là hình thức và là phương tiện giáo dục phát triển ngônngữ cho trẻ có hiệu quả

Sử dụng trò chơi dân gian sẻ giúp thực hiện các nhiệm vụ ngôn ngữ chotrẻ: luyện phát âm, phát triển vốn từ, nói đúng ngữ pháp, lời nói mạch lạc vàgiúp trẻ làm quen chữ viết Đồng thời thông qua trò chơi dân gian giúp hìnhthành và hoàn thiện nhân cách trẻ (phát triển tư duy, óc tuởng tượng, bồi dưỡngphẩm chất cao đẹp cho tâm hồn trẻ thơ, giúp nâng cao thể lực, tinh thần chotrẻ…)

Trò chơi dân gian mang những đặc trưng mà ít trò chơi khác có được Tròchơi dân gian rất giản tiện, dể chơi, không cầu kỳ, tốn kém, trẻ vui chơi mộtcách thoải mái.Mặt khác trò chơi này không hạn định về không gian cũng như

Trang 36

thời gian chơi…do đó có thể làm thoả mãn nhu cầu hứng thú của trẻ.

Trò chơi dân gian chính là di sản văn hoá quý báu của ông cha ta đượclưu giữ và truyền bá cho mai sau Như vậy việc sử dụng trò chơi dân gian thôngqua hoạt động giáo dục sẽ chứng tỏ giá trị tinh thần cổ truyền vẫn lưu giữ đượctrong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Tuy vậy đối với việc giáo dục phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi dângian nhằm đạt hiệu quả cao thì người giáo viên mầm non cần biết lựa chọn, sửdụng trò chơi dân gian một cách hợp lí và khoa học Để làm được điều này mỗingười giáo viên cần có tinh thần học hỏi, biết tích luỹ, tổng kết kinh nghiệmthực tiễn, trang bị cho mình những kiến thức khoa học cần thiết Ngoài ra họ cần

có thêm tài liệu, thời gian để tìm tòi, nghiên cứu Đặc biệt người giáo viên cầnchủ động sáng tạo, lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ để góp phần thực hiện tốtyêu cầu đổi mới của giáo dục mầm non hiện nay

Trang 37

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRÒ CHƠI DÂN GIAN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU

GIÁO (3-6 TUỔI)

1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG LỰA CHỌN-SỬ DỤNG TCDG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU GIÁO (3-6 TUÔI)

1.1 Mục đích nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu thực trạng để thấy được nhận thức của giáo viên vềviệc lựa chọn, sử dụng TCDG nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo

1.2 Đối tượng khảo sát

20 giáo viên chủ nhiệm các lớp mẫu giáo (Mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ,mẫu giáo lớn) ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh

Trường MNBC Hoa Hồng

Trường MNBC Trường Thi

Trường MNBC Quang Trung I

Trường MNBC Quang Trung II

Trường MNBC Bình Minh

1.3 Nội dung nghiên cứu

Ý kiến của giáo viên qua điều tra bằng câu hỏi

3.1 Tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non về TCDG và việc sửdụng TCDG trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo

3.2 Tìm hiểu thực trạng việc lựa chọn và sử dụng TCDG trong việc pháttriển ngôn ngữ cho trẻ

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp điều tra

Sử dụng 20 phiếu điều tra để tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non

Trang 38

về TCDG, và việc lựa chọn, sử dụng TCDG trong việc phát triển ngôn ngữ chotrẻ mẫu giáo.

1.4.2 Phương pháp quan sát.

Sử dụng phương pháp quan sát để nghiên cứu thực trạng tổ chức, hướngdẫn TCDG của giáo viên mầm non trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫugiáo

1.4.3 Phương pháp xử lý toán học

Xử lý các số liệu qua điều tra quan sát

2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG

2.1 Kết quả điều tra.

Tổng số giáo viên được hỏi: 20 (100%)

2.1.1 Nhận thức của giáo viên mầm non về TCDG và việc sử dụng TCDG trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.

Câu hỏi 1: Theo chị TCDG đóng vai trò như thế nào trong quá trình giáo

Còn (20%) giáo viên cho rằng trò chơi dân gian có vai trò quan trọngtrong quá trình giáo dục trẻ mầm non

Như vậy hầu hết các giáo viên đã nhận thấy vai trò quan trọng của tròchơi dân gian trong quá trình giáo dục cho trẻ mầm non

Câu hỏi 2: Chị sử dụng trò chơi dân gian nhằm thực hiện mục đích giáo

dục nào cho trẻ mẫu giáo?

Trang 39

Như vậy có thể nói rằng: đa số giáo viên đã nhận thức đúng vai trò của tròchơi dân gian trong việc thực hiện mục đích giáo dục toàn diện cho trẻ, đặc biệt

là thực hiện mục đích phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Như vậy trò chơidân gian chính là phương tiện hữu hiệu để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo

Câu hỏi 3: Chị thường sử dụng trò chơi dân gian nhằm thực hiện nhiệm

Trang 40

gian vào các nhiệm vụ ngôn ngữ đã được giáo viên quan tâm, chú ý và ứng dụngmột cách đa dạng vào các hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.

Qua kết quả trên và trao đổi với giáo viên cũng cho ta thấy: số ít giáo viên

sử dụng trò chơi dân gian nhằm thực hiện nhiệm vụ ngôn ngữ: nói đúng ngữpháp chỉ có (25%), làm quen chữ viết chỉ có (20%) Bởi một số lí do: một sốgiáo viên còn chưa biết lựa chọn, sử dụng trò chơi dân gian vào hai nhiệm vụngôn ngữ này, do số lượng trò chơi để ứng dụng vào hai nhiệm vụ này còn hạnchế

2.1.2 Thực trạng việc lựa chọn, sử dụng TCDG trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo

Câu hỏi 4: Chị thường sử dụng trò chơi dân gian vào thời điểm nào

của hoạt động?

a Đầu hoạt động

b Giữa hoạt động

c Cuối hoạt động

Có 8/20 giáo viên sử dụng trò chơi dân gian vào thời điểm đầu hoạt động

Có 2/20 sử dụng trò chơi dân gian vào thời điểm giữa hoạt động Có 10/20 giáoviên sử dụng trò chơi dân gian vào thời điểm cuối hoạt động

Theo kết quả trên và qua trao đổi với giáo viên thì hầu hết (40%) giáoviên đều sử dụng trò chơi dân gian vào thời điểm đầu hoạt động nhằm tạo hứngthú, tâm lí thoải mái cho trẻ khi bắt đầu bước vào giờ học (50%) giáo viên sửdụng trò chơi dân gian vào thời điểm cuối hoạt động nhằm cũng cố kiến thức,tạo trạng thái cân bằng sau giờ hoạt động Chỉ có (10%) sử dụng trò chơi dângian vào thời điểm giữa hoạt động

Như vậy giáo viên đã biết sử dụng trò chơi dân gian vào tiết học nhằmlàm cho tiết học đạt hiệu quả hơn, trẻ hứng thú học tập hơn

Câu hỏi 5: Việc sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát triển ngôn ngữ dựa

vào cơ sở nào:

TT Sử dụng trò chơi dân gian Số lượng Tỷ

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên) – Tâm lý học trẻ em trước tuổi đến trường NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em trước tuổi đến trường
Nhà XB: NXBĐại học Quốc gia Hà Nội – 2001
3. Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên) – Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo – NXB Đại học sư phạm Hà Nội – 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻmẫu giáo
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội – 1991
4. Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ - Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị việt, Nguyễn kim đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
5. E.Tikheva – Phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em –NXBGD, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em
Nhà XB: NXBGD
6. Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hoà, Đinh Văn Vang (1997) – Giáo dục học mầm non - Tập II, III NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáodục học mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
7. Nguyễn Anh Tuyết (2000) – Trò chơi trẻ em – NXB Phụ nữ - Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: – Trò chơi trẻ em
Nhà XB: NXB Phụ nữ - Hà Nội
8. Đ.B.Encônhin – Tâm lý học trò chơi – NXB Giáo dục Matxcowva, 1978 9. Nguyễn Thị Thanh Hà - Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường mẫu giáo - Sở giáodục thành phố Hồ Chí Minh, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: – Tâm lý học trò chơi" – NXB Giáo dục Matxcowva, 19789. Nguyễn Thị Thanh Hà - "Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường mẫu giáo
Nhà XB: NXB Giáo dục Matxcowva
10. Trương Kim Oanh, Phan Quỳnh Hoa – Trò chơi dân gian cho trẻ dưới 6 tuổi – NXBGD, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi dân gian cho trẻ dưới 6 tuổi
Nhà XB: NXBGD
11. Đặng Thành Hưng - Về phạm trù chơi trong giáo dục mầm non - Tạp chí KHGD, số 82, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phạm trù chơi trong giáo dục mầm non
12. Trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam – Hà Huy sưu tầm, Hà Nội, NXB Văn Hoá Dân Tộc, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam
Nhà XB: NXB VănHoá Dân Tộc
13. Trò chơi dân gian Việt Nam - Phan Thanh Hiền, Trần Mạnh Tiến, Huy Trang, Nguyễn Khánh Trâm, TPHCM, NXB TP HCM, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXB TP HCM
(1) Theo chị trò chơi dân gian đóng vai trò như thế nào trong quá trình giáo dục trẻ mẫu giáo?a. Rất quan trọng b. Quan trọng c. Không quan trọng Khác
(2) Chị sử dụng trò chơi dân gian nhằm thực hiện mục đích giáo dục nào?a. Phát triển ngôn ngữ b. Phát triển nhận thức c. Phát triển T/C xã hội d. Phát triển thể chất e. Tất cả Khác
(3) Chị thường sử dụng trò chơi dân gian nhằm thực hiện nhiệm vụ ngôn ngữ nào ở trẻ?a. Luyện phát âm b. Phát triển vốn từ c. Nói đúng ngữ pháp d. Nói mạch lạc e. Làm quen chữ viếtf. Tất cả các nhiệm vụ trên Khác
(4) Chị thường sử dụng trò chơi dân gian vào thời điểm nào của hoạt động?a. Đầu hoạt động b. Giữa hoạt động c. Cuối hoạt động Khác
(6) Hiện nay số lượng trò chơi dân gian được sử dụng trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở nhóm, lớp của chị là :a. Quá nhiều b. Vừa đủ c. Quá ít Khác
(7) Chị thường sử dụng trò chơi dân gian với mức độ nào ?Hoạt động Mức độ sử dụngThường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Không bao giờ Trong tiết họcHoạt động ngoài trời Hoạt động chiều Chơi tự do Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng số liệu trên cho ta thấy có 40% giáo viên cho rằng việc sử dụng trò chơi dân gian nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục tất cả các mặt cho trẻ mẫu giáo - Thực trạng sử dụng trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3   6 tuổi) ở một số trường mầm non trên địa bàn tp vinh
ua bảng số liệu trên cho ta thấy có 40% giáo viên cho rằng việc sử dụng trò chơi dân gian nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục tất cả các mặt cho trẻ mẫu giáo (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w