1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mùa xuân trong thơ thiền lý trần

113 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 901,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mùa xuân ở Việt Nam có những nét riêng về mặt địa lí so với mùa xuân của c c nước thuộc vùng khí hậu ôn đới, với bốn mùa rõ rệt và mùa đôn băn i Mùa xuân là một trong bốn mùa tron năm x

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

–––––––o0o–––––––

PHẠM THỊ THU HƯƠNG

MÙA XUÂN TRONG THƠ THIỀN LÝ –TRẦN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà N i

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

–––––––o0o–––––––

PHẠM THỊ THU HƯƠNG

MÙA XUÂN TRONG THƠ THIỀN LÝ –TRẦN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Trần Ngọc Vương

Hà N i

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới GS.TS r Ngọ ư g - gười hướng dẫn nhiệt tâm - đã động viên, chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luậ vă và trưở g thà h h tro g ghiê ứu khoa học Tôi xin gửi lời cảm hâ thà h tới các th y cô Khoa Ngữ

vă - rườ g Đại họ ho họ ã hội và Nhâ vă đã tận tình giảng dạy, trang bị cho tôi vốn kiến thức quý báu

Cảm bạ b , gười thâ u ủng hộ và ti tưởng sự lựa chọn của tôi

Hà Nội, thá g 12 ăm 2014

Tác giả luận văn

h h h n

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 hư n ph p n hi n cứu 9

5 Ý n hĩa của luận văn 10

6 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG CẢM THỨC MÙA XUÂN VÀ THI CA PHƯƠNG ĐÔNG 11

1.1 Cảm thức mùa xuân 11

1 1 1 uâ tro g tự hiê 11

1 1 2 uâ tro g vă h 12

1.1.3 Mùa xuân trong Thiền tông 15

1 2 Mùa xuân tron thi ca phư n Đôn 19

1 2 1 uâ tro g th Đườ g và th H iku 19

1 2 2 uâ tro g th tru g đại Việt Nam 27

CHƯƠNG CHỦ ĐỀ MÙA XUÂN TRONG THƠ THIỀN LÝ – TRẦN 39

2.1 Chủ đề mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần 39

2.1.1 Thiên nhiên mùa xuân 39

2 1 2 Co gười mùa xuân 44

2 2 Hình tượng mùa xuân 51

2.2.1 Hoa 51

2.2.2 Thanh âm mùa xuân 55

2 2 3 Cá h h tư g khá 58

2.3 Triết lí Thiền tron th thiền mùa xuân 63

2.3.1 Mùa xuân – cảnh giới của Thiền 63

2.3.2 Mùa xuân và triết í v thường 67

Trang 5

2.3.3 Mùa xuân và triết lí sắc – không 71

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN MÙA XUÂN TRONG THƠ THIỀN LÝ – TRẦN 75

3.1 Nghệ thuật miêu tả mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần 75

3.1.1 Miêu tả khái quát 75

3.1.2 Miêu tả chấm phá 78

3.2 Nghệ thuật tượn trưn về mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần 82

3 2 1 ư g trư g ủa mùa xuân vận hành theo quy luật 85

3 2 2 ư g trư g ủ m uâ m g tí h phủ đị h 89

3.3 Nghệ thuật ẩn dụ về mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần 91

3.3.1 Ẩn dụ ho “bản thể hâ hư” 92

3.3.2 Ẩn dụ ho o đường ngộ đạo 95

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học Lý – Trần đặc biệt là phần th Thiền có đón óp lớn lao cho

sự phát triển của nền văn học dân tộc buổi đầu tự chủ Là kết tinh của một thời đại văn hóa mà hật giáo phát triển đến cao độ, th Thiền trở thành phư n tiện để truyền tải triết lý Thiền tông Bên cạnh đó, khôn chỉ giới hạn trong nội dung tôn giáo, sự nhạy cảm và tài năn của các bậc Thiền sư đã tạo nên nhiều tác phẩm độc đ o dun hòa đạo với đời bằn hình tượn đẹp đẽ Với nhữn đặc trưn ri n , th Thiền Lý – Trần trở thành dòn nước nhỏ hòa chung với nguồn chảy lớn của văn học trun đại Việt Nam, tạo nên một nền văn học đa dạng, đặc sắc

Thiên nhiên là nguồn mạch bất tận gợi hứng cho n ười nghệ sĩ bao đời,

từ cổ đến kim Th ca thâu nhận thi n nhi n như một lẽ tất yếu bởi sự giao cảm giữa con n ười – vũ trụ được xem như một hằng số bất biến của muôn đời Qua bức tranh cảnh vật, thi sĩ gửi gắm xúc cảm trước biến chuyển của đất trời, hay ẩn ngụ tình cảm ri n tư cùn những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời Tron văn học trun đại, thiên nhiên đón vai trò quan trọng: đề tài vịnh vật, vịnh cảnh cùng các thủ ph p “tả cảnh ngụ tình”, “thi trung hữu họa” trở thành một sự quy chiếu có tính chất bắt buộc Như vậy, thi n nhi n đã trở thành một yếu tố có tính quy phạm của văn chư n Không nằm ngoài quy luật chung, hình ảnh thiên nhiên tron th Thiền Lý – Trần xuất hiện với tần

số cao, ẩn chứa những ý niệm sâu sắc Tuy nhiên, cảnh vật được soi chiếu dưới ánh quang của Thiền nên vẫn mang sắc thái riêng biệt Nó không chỉ là khách thể bên ngoài mà được chuyển thành chủ thể bên trong Các tác giả sử dụng thi n nhi n như một phư n tiện để truyền tải Thiền lý, đưa n ười tu học tìm được bản thể chân như, hay biểu hiện những xúc cảm thế sự mang ý

vị Thiền

Trang 7

Mùa xuân tron th Thiền vừa man ý n hĩa thời gian chảy trôi của tạo hóa, vừa gợi cảm thức không gian biến chuyển không ngừng của muôn vật

Nó kết đọn cao độ tinh thần ngộ đạo, thể hiện triết lí sâu sắc của Phật pháp

và trong nhiều trường hợp đem đến nhữn run động tinh tế, hấp dẫn, đậm đà tính nhân văn

Có thể thấy mùa xuân có vị trí quan trọng trong giáo lý Thiền học và

th Thiền Lý – Trần, song lại chưa được nghiên cứu một cách chỉnh thể Do

đó, chún tôi chọn đề tài “Mùa xuân trong thơ Thiền Lý – Trần”, với

mong muốn góp một phần nhỏ trong việc khai mở ý vị uyên áo của Thiền về mùa xuân – đối tượn được thể nghiệm và chứng ngộ trong thi ca

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về th hiền Lý – Trần

Trong dòng chảy văn học trun đại Việt Nam nói chun , văn học Lý – Trần nói ri n , th Thiền là bộ phận quan trọn , có đón óp khôn nhỏ cho diện mạo văn học thời đại và dân tộc Trên thực tế, có không ít giáo trình, chuyên luận, bài viết tìm hiểu đặc điểm, giá trị, ý n hĩa của thể loại văn học độc đ o này Do iới hạn thời ian, chún tôi chưa có điều kiện bao quát tất

cả các công trình nghiên cứu đã có Ở phần này, chúng tôi chỉ điểm qua mấy nét chính về tình hình nghiên cứu th Thiền Lý – Trần thông qua những tài liệu thu thập được

Ở óc độ khảo cứu, sưu tầm, văn học Lý – Trần và th Thiền iai đoạn

này được ghi chép từ sớm, từ Tinh tuyể hư gi uật thi (Dư n Đức Nhan),

Trích diễm thi tập (Hoàn Đức Lư n ) ở thế kỉ XV, tiếp đó là h hư Lục

(Trần Thái Tông), Thiền uyển tập anh ngữ lục (khuyết danh) ở thế kỉ XVI –

XVIII Sang thế kỉ XX, việc sưu tầm, giới thiệu th Thiền ghi dấu ấn quan

trọng bằng việc ra đời bộ h vă Lý r n (ba tập) do nhóm tác giả Viện Văn

học thực hiện Trong bộ sách, phần khảo luận văn bản của Nguyễn Huệ Chi

có đón óp lớn cho việc thu thập tác phẩm văn học Lý – Trần Tác giả đã thu

Trang 8

thập được gần 1000 bài th và trích đoạn th , ần 250 bài văn và trích đoạn văn, thôn qua đó, iới thuyết diện mạo văn học iai đoạn này trên các phư n diện nội dung và thể loại văn học Đến năm 2004, th văn Lý – Trần

được tuyển chọn và sưu tầm lại trong cuốn Tinh tuyể vă học Việt Nam (tập

3) do Nguyễn Đăn Na chủ biên

Nghiên cứu Th Thiền Lý – Trần đã có một qu trình lâu dài, được đề

cập qua các ý kiến nhận định tron c c côn trình kh i qu t như Việt N m vă

học sử yếu (1941) của Dư n Quảng Hàm, Việt Nam cổ họ vă sử (1942)

của Nguyễn Đổng Chi, ă họ đời Lý và đời Tr n của Ngô Tất Tố hay các bài viết như Tìm hiểu th vă á hà sư Lý – Tr n (1965) của Kiều Thu

Hoạch Tuy nhiên, phải từ sau năm 1975, th Thiền mới được xem như một đối tượng thẩm mĩ, một loại hình nghệ thuật độc đ o, được tiếp cận, đ nh i

ở nhiều óc độ khác nhau

Về loại hình tác giả, Nguyễn Phạm Hùng quan tâm tới tính loại biệt:

“t c iả th Thiền chủ yếu là các thiền sư và nhữn n ười am hiểu sâu sắc về

đạo Phật” [24; 33] Trần Nho Thìn trong ă học Việt Nam từ thế kỉ đến hết

thế kỉ XIX khẳn định: “c c nhà sư – thi tăn – chiếm một tỉ lệ lớn tron đội

n ũ t c iả văn học iai đoạn đầu của văn học trun đại Việt Nam” [66; 179],

“C c thiền sư còn là nhữn thi sĩ tài năn , học vấn uyên bác, có tầm quan sát, hiểu biết cuộc sống, nắm vững các học thuyết, tư tưởng triết học và tôn giáo,

sử dụng ngôn ngữ linh hoạt” [66; 187] Còn tác giả Đỗ Thu Hiền qua Các loại

hình tác giả tro g vă học thời Lý – Tr n (in trong cuốn ă học Việt Nam thế kỉ X – XIX – những vấ đề lí luận và lịch sử) thì phân tích diện mạo tác

giả văn học Lý – Trần theo hai hướn : “Thiền sư – những nhà trí thức đầu tiên của thời độc lập” [84; 385] và quý tộc nhà Trần: “thay thế địa vị của các nhà sư tron buổi ban đầu là tầng lớp quý tộc, võ tướn ” [84; 389]

Ở phư n diện nội dung, Phạm Ngọc Lan quan tâm đến Chất trữ tình

tro g th hiề đời Lý qua việc “ hi lại những giờ phút m đềm, những

Trang 9

khoảnh khắc xao động trong tâm hồn của c c nhà sư – thi sĩ trước cuộc sốn ”

[34; 92] Kh i qu t h n, c c t c iả giáo trình ă học Việt Nam (thế kỉ X

– nử đ u thế kỉ XVIII) nhận định th Thiền đời Lý “ ắn với triết lý Phật

i o” [32; 60], tuy nhi n có khi “nội dun vượt ra khỏi phạm vi i o lý”, thể hiện cái nhìn tinh tế và đầy xúc độn đối với thi n nhi n” [32; 60] của các thiền sư

Cuốn h hiền Việt Nam – Những vấ đề lịch sử và tư tưởng nghệ

thuật của Nguyễn Phạm Hùng là chuyên luận mang tính tổng quát nghiên cứu

th Thiền Việt Nam, tron đó có th Thiền Lý – Trần Đặc điểm chung của

th Thiền xét về giá trị tư tưởn được đề cập tới thông qua hai bộ phận th Thiền thiên về triết lí và thiên về trữ tình, tư tưởn “hòa quan đồng trần” cũn như tinh thần “tam i o” B n cạnh đó, t c iả nhận định th Thiền đời

Lý “chủ yếu đi vào iải thích, triết lý về c c tư tưởng Phật giáo, ca ngợi nhà Phật” và “ít nhiều là những cảm xúc trước thiên nhiên, cuộc sốn ” [24; 89] Còn th Thiền đời Trần “vừa mang tính triết lý, vừa mang tính trữ tình, mang

tinh thần nhập thế tích cực” [24; 133] Sau này, trong cuốn Cá khuy h hướng

vă học thời Lý – Tr n, Nguyễn Phạm Hùng nhấn mạnh th m th Thiền “như

một sự tổng kết toàn bộ nhận thức, tri thức và cả xúc cảm của nhà tu hành trong cuộc đời hành đạo” [24; 46]

Trong Nhữ g sá g tá vă học của các Thiề sư thời Lý – Tr n [68],

Thích Gi c Toàn khôn t ch th Thiền thành thể loại riêng mà xem xét giá trị

tư tưởn tron s n t c văn học nói chung của các Thiền sư tr n phư n diện tinh thần nhân bản và tinh thần dân tộc Tác giả nghiên cứu “sự hiện hữu của con n ười và cảm nhận về thân phận con n ười trong cuộc sốn ”, cảm nhận

về thi n nhi n, “ i o lý i c n ộ quy luật sanh tử” cũn như “tính truyền thống dân tộc trong sự nghiệp dựn nước và giữ nước”, “tinh thần độc lập tự do” và “tinh thần phụng sự lí tưởn hòa bình” Chuy n luận đề cập tới th Thiền như một bộ phận trong sự kh i qu t văn học Lý – Trần còn phải kể đến

Trang 10

ă học Phật giáo Lý – Tr n – Diện mạo vào đặ điểm của Nguyễn Công Lý

[37] Tron chư n ba (Đặc điểm văn học Phật giáo Lý – Trần), tác giả đề cập đến “kiểu tư duy trực cảm tâm linh”, “tinh thần dung hợp các hệ tư tưởn ”, nội dun “thể hiện giáo lý nhà Phật”, cảm hứng về đất nước, quan niệm con n ười và cảm hứng thiên nhiên, góp phần khẳn định giá trị nội dung – tư tưởng của văn học Phật giáo Lý – Trần nói chun , th Thiền giai đoạn này nói riêng

Xét về nghệ thuật, Trần Nho Thìn cho rằn : “Nhiều Thiền sư Việt Nam một mặt dùng thi kệ, kể cả hình thức th sấm vĩ để tuyên truyền giác ngộ, kể

cả sử dụng cho phục vụ chính trị; mặt kh c cũn s n t c n n nhữn bài th , những hình tượn đẹp, có tính chất nghệ thuật cao, thiên về sử dụng các hình ảnh sinh độn đầy thi ý làm ngôn ngữ biểu hiện đạo lý” [66; 186] Nguyễn Phạm Hùn quan tâm đến tượn trưn , ước lệ: “hình ảnh tượn trưn , ước lệ tron th Thiền là kết quả của những cảm xúc bột phát, tức thời”, “làm n n

c i đẹp của th Thiền” [24; 64] Đặc biệt, Khảo sát đặ trư g ghệ thuật của

th hiền Việt Nam thế kỉ X – XIV [77] của Đoàn Thị Thu Vân đã đi sâu khai

thác phần nghệ thuật th Thiền tr n c sở nhữn đặc điểm: ngôn ngữ, thể loại, thế giới hình tượng, không gian, thời gian, giọn điệu

Ở óc độ thi pháp, các nhà nghiên cứu, phê bình chú ý nhiều tới quan niệm nghệ thuật về con n ười tron th Thiền Lý – Trần Nguyễn Phạm Hùng

kh i qu t “con n ười tron th Thiền là con n ười lưỡng thể, nó là sự hòa nhập của con n ười Phật i o và con n ười c nhân” [24; 65] Đoàn Thị Thu

Vân trong bài viết Quan niệm o gười tro g th hiền Lý – Tr n [76] đưa

ra các luận điểm “con n ười tự do”, “con n ười – vô n ã”, “con n ười vô

n ôn”, “có xu hướng muốn đạt đến con n ười – vũ trụ” N uyễn Viết Ngoạn

trong chuyên luận khái quát ă hư g iệt Nam truyền thống với sự phản

á h o gười nhận định: “Con n ười tron th Thiền Lý – Trần, bên cạnh

nét chung của con n ười cộn đồn y u nước, thượng võ, nó còn là biểu

Trang 11

tượng một hoài niệm, một cảm nhận sâu sắc trước sự hư huyễn cuộc đời” [42;

48] Với công trình Mấy vấ đề thi pháp vă học trung đại Việt Nam [55],

Trần Đình Sử cũn nhận xét kh i qu t: con n ười “coi biến đổi như khôn , không sợ hãi, không kinh ngạc ”, “con n ười Thiền học còn khao kh t được tiêu dao tự tại, giải thoát mọi hữu hạn trần tục để đạt được cái tuyệt đối của thế giới” B n cạnh đó, t c iả còn đề cập đến thời ian vũ trụ bất biến”, khôn ian “thanh nhàn”, “tho t tục” tron th Thiền

Nhữn hướng nghiên cứu kh c nhau đã đem đến các cách giải mã phong phú, góp phần phát hiện vẻ đẹp cũn như i trị của th Thiền Lý – Trần N oài phư n diện như tr n, iới nghiên cứu còn nhìn nhận th Thiền ở

óc độ văn hóa – tư tưởn như Trần Nho Thìn trong ă họ tru g đại Việt

N m dưới g h vă h [65], Tầm Vu trong Tìm hiểu đặ điểm củ tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong thời đại Lý – Tr n qua các tác phẩm vă học, Nguyễn Huệ Chi trong Các yếu tố Nho – Phật – Đạo đư c tiếp thu và chuyể h hư thế ào tro g đời số g tư tưở g và vă học thời Lý – Tr n

[9]; từ sự đối sánh với th Thiền của các nền văn học kh c như L Từ Hiển

trong bài viết Basho (1644 - 1694) và Huyền Quang (1254 – 1334) – Sự gặp

gỡ mùa thu hay sự tư g h p về cảm thức thẩm mĩ [18], Trịnh Thị Tâm trong

h h i – ư Nhật Bả và th hiền Việt Nam – Nhữ g tư g đồng và dị biệt

[58], Đoàn Thị Thu Vân tron chư n 3 của công trình Khảo sát đặ trư g

nghệ thuật củ th hiền Việt Nam thế kỉ X – XIV [77] so s nh th Thiền Lý –

Trần với th Thiền Trung Quốc và Nhật Bản, Tăn Kim Huệ trong luận văn

Thạc sĩ h hiền Việt Nam thời Lý – Tr n trong so sánh với th hiền Nhật

Bản

Bên cạnh đó, th Thiền còn được nghiên cứu ở óc độ tác giả, tác phẩm

với số lượng bài viết đa dạn , phon phú như: Câu chuyện Huyền Quang và

á h đọ th thiền của Đỗ Văn Hỷ [30]; Tr n Tung – một gư g mặt lạ trong

à g th thiền thời Lý - Tr n [8], ã Giá và bài th ổi tiếng của ông [11]

Trang 12

của Nguyễn Huệ Chi, Huyền Quang – hà th , thi sĩ của Nguyễn hư n Chi [12], Thiề sư Huyề Qu g và o đường tr m lặng của mùa thu của Thích hước An [1], Tr n Nhân Tông và cảm hứng Thiề tro g th của Phạm Ngọc Lan [35], Sự đ e á khuy h hướng thẩm mĩ tro g th

Huyền Quang – nghiên cứu trường h p sáu bài th vịnh cúc của Nguyễn

Kim S n [53] C c bài viết đề cập, lí giải về con n ười, tư tưởn cũn như i trị th văn của các thiền sư, cun cấp cho n ười đọc cái nhìn cụ thể

về tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Nhìn chun , th Thiền Lý – Trần được tiếp cận, soi chiếu ở nhiều

óc độ, phư n diện kh c nhau Đây sẽ là những gợi ý quý báu giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát về giá trị cũn như ý n hĩa của thể loại văn học độc đ o này

2.2 Nghiên cứu về ùa x ân tron th hiền Lý – Trần

Mùa xuân tron Th Thiền Lý – Trần bước đầu đã được đề cập tới

Đ nh i chun về mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần phải kể đến Khảo sát

nghệ thuật th hiền Việt Nam từ thế kỉ X – XIV của Đoàn Thị Thu Vân Ở

óc độ thi liệu, mùa xuân gắn kết, song hành với mùa thu: “cặp hình ảnh xuân – thu thườn đi liền với nhau để biểu tượng cho quy luật sinh trưởng và tàn lụi của vạn vật” [77; 88] Ở hai mùa này, “sinh vật đan ph t triển theo hai hướn n ược nhau nhưn chưa phải đến tột độ để dừng lại và sắp biến đổi về

chất” [77; 94] Trong bài viết Tản mạn Xuân – Thu và triết í th thiê hiê

thời Lý – Tr n đăn tr n tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 4 – 2009, Hà Thúc

Minh cũn khôn t ch rời mùa xuân khỏi mối quan hệ với thu Xuân – Thu gắn với cảm thức thời ian, thôn qua đó thể hiện triết lí Phật giáo Theo tác giả, “thi sĩ Thiền tôn trước hết vẫn là con n ười “thế ian” nhưn lại là “xuất thế ian” của “thế ian”, cho n n càn cảm nhận được Xuân – Thu của Đất, Trời, Xuân – Thu của con n ười, của nhân tình thế th i nhưn lại từ triết lí của “đạo” chứ không phải của đời” [39; 7]

Trang 13

Mùa xuân tron th Thiền không nằm ngoài mạch chảy thiên nhiên, cảnh vật Các bài viết, công trình nghiên cứu thường dẫn c c ý th , c c thi phẩm viết về thiên nhiên, mùa xuân làm minh chứng cho các luận điểm được

nêu ra Trong Thi kệ và thủ pháp vă học, Nguyễn Phạm Hùng nhắc tới Cáo

tật thị chúng của Thiền sư mãn Gi c như là minh chứng cho việc “sử dụng rất

thành công các thủ ph p tượn trưn , ước lệ để trình bày một c ch sinh động cái bất biến của bản thể trước sự vạn biến của đời n ười và cảnh vật” [28; 31]

Nguyễn Kim S n – Trần Thị Mỹ Hòa trong Mấy phư g diện thẩm mĩ ủa

th Nho gi và hiền gia (in trong ă học Việt Nam thế kỉ X – XIX – những

vấ đề lí luận và lịch sử), qua hai bài th xuân của Trần Nhân Tông (Mộ xuân tức sự, Xuân vãn) cho rằng mùa xuân ở đây là “mùa xuân vĩnh cửu”, “khôn

gian siêu thế, an tĩnh, hằn nhi n”, thể hiện “con n ười trong trạng thái vô

ngôn, vô sự” [84; 370] Trong Thiề rú Lâm qu vă th hữ Hán (in trong cuốn Thiền họ đời Tr n), Thích Thanh Từ dẫn bài th Xuân cảnh của Trần

Nhân Tôn để chứn minh “cảnh trí được diễn tả và cảm nhận lý thiền một cách thâm trầm” [45; 45] “Với bốn câu th , Trúc Lâm đã khéo đưa cảnh xuân vào đạo Thiền một cách nhuần nhuyễn” [45; 46]

Mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần còn được đề cập tới ở qua sự phân

tích tác phẩm cụ thể Cáo tật thị chúng là bài th hay viết về mùa xuân của Mãn Giác Thiền sư N uyễn Huệ Chi trong bài viết ã Giá và bài th

Thiền nhận định: “T c iả khéo hình tượng hóa thời ian và đời n ười bằng

hai đại lượng rất giàu thi hứn xuân và hoa”

Nghiên cứu Tr n Nhân Tông với cảm hứng mùa xuân, Nguyễn Công

Lý nhận định th xuân Trần Nhân Tôn có khi là “những ý xuân, cảnh xuân bất chợt”; có khi là “những vần th trực tiếp tả cảnh mùa xuân, bộc lộ tình

xuân” T c iả giới thiệu, đ nh i về ba bài th Xuân hiểu, Xuân cảnh và

Xuân vãn gắn với những chặn đời quan trọng của vị Tổ Thiền phái Trúc

Lâm để đưa ra kết luận: “Th là tiếng lòng, là tiếng nói của thi nhân trước

Trang 14

hiện thực Cảm hứn mùa xuân tron th của nhà vua – thi nhân – Thiền sư – vị Phật hoàng Trần Nhân Tôn là như thế” [38]

Nhìn chung, vấn đề mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần được đề cập, soi chiếu từ óc độ triết lí Thiền tông hoặc từ óc độ nghệ thuật (thi liệu) Tuy nhi n, đó mới chỉ là những nhận định mang tính khái quát trong các bài giới thiệu tác phẩm cụ thể hoặc trong các công trình nghiên cứu th Thiền nói chung Chúng tôi nhận thấy chưa có côn trình, bài viết nào nghiên cứu mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần như một đối tượng khoa học thực sự Vì vậy, thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng góp thêm một cách tiếp cận giá trị th Thiền và có thêm tri thức quý báu cho sự nghiệp hoằn ph p độ sinh

3 Mục đích đối tượng và phạm vi nghiên cứu

h n hi n ứ

Thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung tìm hiểu mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần ở hai bình diện: chủ đề, đề tài và nghệ thuật thể hiện mùa xuân, từ đó óp phần khẳn định đón óp độc đ o của th Thiền Lý – Trần tron văn học trun đại nói chun , đồng thời có thêm hiểu biết về triết lí và

một vài nét đặc sắc của Phật giáo dân tộc

h i n hi n ứ

Về phạm vi tư liệu, chúng tôi khảo s t c c bài th viết về mùa xuân của

c c Thiền sư thời Lý – Trần (khoản từ thế kỉ I – XIV) có trong h vă Lý

– Tr n (3 tập) của Viện Văn học, Nxb Khoa học xã hội, năm 1977 - 1988

Phương ph p nghiên cứu

Chún tôi sử dụn một số phư n ph p n hi n cứu c bản sau:

Trang 15

- hư n ph p phân tích – tổn hợp: được dùng trong việc phân tích các luận chứng, từ đó có nhữn đ nh i và kết luận khách quan và khoa học

- hư n ph p so s nh: nhằm tìm ra những nét chung phổ quát của mùa xuân tron thi ca phư n Đôn cũn như nét ri n độc đ o của mùa xuân tron th Lý – Trần

- hư n ph p li n n ành: mùa xuân tron th Thiền không tách rời văn hóa tư tưởn phư n Đôn và có li n quan chặt chẽ đến Phật giáo Vì vậy, khi thực hiện đề tài, chúng tôi kết hợp với phư n pháp của các ngành khoa học kh c như: triết học, tôn i o, văn hóa học

5 Ý nghĩa của luận văn

Tr n c sở tìm hiểu các biểu hiện của mùa xuân tron th Thiền ở phư n diện chủ đề, đề tài và nhữn nét đặc sắc nghệ thuật, chúng tôi muốn góp thêm một cái nhìn, cách tiếp cận bộ phận th Thiền Lý – Trần Việt Nam Đây cũn là luận văn chuy n biệt đầu ti n khai th c mùa xuân tron th Thiền

Lý – Trần một cách hệ thống

6 Cấu trúc luận văn

N oài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dun của luận văn ồm ba chư n :

Chư n 1: Cảm thức mùa xuân và thi ca phư n Đôn

Chư n 2: Chủ đề mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần

Chư n 3: N hệ thuật thể hiện mùa xuân tron th Thiền Lý – Trần

Trang 16

CHƯƠNG CẢM THỨC MÙA XUÂN VÀ THI CA PHƯƠNG ĐÔNG

1.1 Cảm thức mùa xuân

1.1.1 Mùa xuân tron t nhi n

Mùa xuân là mùa đầu ti n tron năm, man nhữn đặc điểm chuyên biệt về khí hậu thời tiết, gắn liền với sự sinh trưởng và phát triển của các loài động thực vật Mùa xuân ở Việt Nam có những nét riêng về mặt địa lí so với mùa xuân của c c nước thuộc vùng khí hậu ôn đới, với bốn mùa rõ rệt và mùa

đôn băn i

Mùa xuân là một trong bốn mùa tron năm (xuân, hạ, thu, đôn ), vốn được phân chia để tách biệt về sự thay đổi thời tiết và chuyển biến của các loài động vật và thực vật Tron thi n văn học, mùa xuân được xem là bắt đầu

từ thời điểm diễn ra xuân phân (khoảng 21 tháng 3 ở Bắc bán cầu và 23 tháng

9 ở Nam bán cầu) và kết thúc vào thời điểm diễn ra tiết hạ chí (khoảng ngày

21 tháng 6 ở Bắc bán cầu và 21 tháng 12 ở Nam bán cầu) Ở Việt Nam cũn như c c nước chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trun Hoa (Nhật Bản, Triều

Ti n) n ười ta tính mùa xuân bắt đầu từ thời điểm diễn ra tiết lập xuân và kết thúc vào thời điểm diễn ra tiết lập hạ (khoảng từ tháng 2 đến tháng 5)

Khí hậu mùa xuân tư n đối ôn hòa, ấm p, ió mưa điều hòa Vào mùa xuân, Tr i đất nghiêng dần về phía mặt trời, n n n i b n cầu đan có mùa xuân sẽ được sưởi ấm, cung cấp đủ ánh nắng cần thiết làm cho các loài cây đâm chồi, nở hoa, chim muông cầm thú sinh sản thuận lợi

Mùa xuân là mùa nở hoa của đa số các loài thảo mộc Các loài hoa tiêu biểu của mùa xuân: thủy ti n, hoa mai, hoa đào,… C c loài hoa này thường

nở rực rỡ vào mùa xuân khi tiết trời ấm áp Bởi nở vào mùa xuân, vượt qua được gió tuyết của mùa đôn n n c c loài hoa này thường là dấu hiệu của mùa xuân, của sự hồi sinh, man ý n hĩa của lời chúc may mắn, thịnh vượng

Trang 17

C c loài động vật tuy có thể sinh sản vào c c mùa kh c tron năm (nhất

là các loài có tần số sinh sản cao và chu kì sinh sản ngắn), nhưn nhìn chun mùa xuân vẫn là mùa sinh sản mạnh nhất Mùa xuân có đủ c c điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản và sinh trưởn như khí hậu ấm áp, thảm thực vật phát triển tạo nên nguồn thức ăn dồi dào Sau một mùa đôn băn i , khan hiếm thức ăn, c c loài động vật chờ đợi cho mùa xuân đến để nạp nguồn năn lượng tràn trề và sinh sản, tiếp tục phát triển giống loài Từ c c loài thú như

hổ, b o… cho đến c c loài chim như: én, oanh,… đều sinh sản mạnh vào mùa xuân Vào mùa xuân chim én chao lượn, n ược xuôi làm tổ và tìm thức ăn cho chim con, do đó cũn được xem là biểu tượng báo hiệu mùa xuân về Chim oanh cũn là loài có sự sinh sản mạnh trong mùa xuân, rộn ràng cất tiếng hót sau những lùm cây Sự xuất hiện của những loài chim là dấu hiệu rõ ràn h n cả cho thấy sự sinh sôi của các loài vật trong sự phát triển của hoa

Như vậy, mùa xuân về mặt tự nhiên là mùa của khí hậu ấm áp, ôn hòa, với sự sinh trưởng và phát triển mạnh mẽ của các loài cả động vật và thực vật

Sự đổi thay của thi n nhi n tron mùa xuân cũn óp phần cho sự đổi thay vui mừng háo hức của tâm hồn con n ười trước tiết xuân

ùa x ân tron ăn h a

Trong sự chuyển biến của muôn vật qua bốn mùa, người xưa đã có ý niệm về thời gian chảy trôi, quy luật tuần hoàn của thi n địa Bốn mùa xuân,

hạ, thu, đôn vạn vật đổi thay từ sinh đến diệt, là nền tảng khái quát nên nhữn tư tưởng, học thuyết về con n ười, vũ trụ và nhân sinh Xuân là thời

Trang 18

gian của sự sinh, bắt đầu của một chu trình sinh diệt mới tron năm Ý niệm

về khởi đầu, nhữn điều tốt đẹp cùng sự sinh sôi luôn được gắn với mùa xuân

Có thể tìm thấy ý niệm cảm quan về mùa xuân qua việc tìm hiểu về cấu tạo từ, và n ũ hành âm dư n – học thuyết về sự sinh biến của vạn vật Về mặt từ n uy n, “xuân” tron chữ Hán phồn thể ( ) “ ồm có bộ Thảo (thực vật), chữ Đồn ( ) có n hĩa là mọc, sinh trưởng, và chữ Nhật là mặt trời Có

n hĩa là mùa mà cây cỏ sinh sôi nảy nở dưới ánh mặt trời” [Tản mạn Xuân – Thu và triết lí th thi n nhi n thời Lý – Trần, Hà Thúc Minh; 8] Còn theo

Hán Việt tự điển, xuân là “đầu bốn mùa, muôn vật đều có cái cảnh tượng hớn

hở tốt tư i” [14; 323] Từ “xuân” cho thấy cảm quan của n ười xưa về tính chất sinh sôi của muôn vật trong mùa Tron n ũ hành, sự sinh hóa của vạn vật dựa tr n năm n uy n tố c bản (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), mùa xuân được cho thuộc hành Mộc, do yếu tố trưởng sinh rõ nét của cây cối sau mùa đôn gió tuyết Như vậy, mùa xuân trong nhận thức chung của n ười xưa là sự sinh sôi của cây cỏ Từ đó, ph i sinh c c ý niệm kh c như sự khởi đầu của chu trình, sự trưởng sinh tốt lành, gắn với xúc cảm hân hoan của con n ười

hư n Tây ặp gỡ với phư n Đôn cùn với những ý niệm về mùa xuân Trong thần thoại Hi Lạp, nữ thần mùa xuân Persephone là con gái của thần mùa màng Demeter và là vợ của thần âm phủ Hades Nữ thần mùa xuân chỉ ở với chồng một phần ba hoặc một nửa thời gian của năm Đó là thời gian của mùa đôn băn i , mùa của sự diệt Sau đó ersephone trở về mặt đất, được mẹ là thần mùa màng vui mừn đón chào, làm muôn vật tốt tư i Đó là mùa xuân, gắn với niềm vui trong sự giao hòa, sinh sôi của mùa màng, cây

cỏ Con n ười phư n Đôn và phư n Tây đều có chung những ý niệm về mùa xuân, với sự sinh sôi, niềm vui của thi n nhi n, đất trời và lòn n ười

Đối với văn hóa phư n Đôn , mùa xuân có ý n hĩa quan trọn , đ nh dấu cho sự bắt đầu của một năm, man theo mon muốn khởi đầu tốt đẹp của con n ười Lễ hội truyền thốn được tổ chức vào mùa xuân tư n đối phổ

Trang 19

biến: Tết N uy n Đ n của Trung Hoa hay Việt Nam, hoặc ở Nhật Bản (lễ hội hoa anh đào) Đây là những lễ hội quan trọn tron năm, nhằm cầu mong một năm mới an lành Như vậy, mùa xuân có vai trò quan trọn tron đời sốn văn hóa, tín n ưỡn cũn như cảm quan chung của con n ười Á Đôn Nó chi phối sâu rộng và lan tỏa mạnh mẽ, trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho văn chư n

Cảm thức về bốn mùa là nhận thức về sự vận động của thời gian và sự đổi thay của cảnh vật Thời gian mang tính tuần hoàn Thiên nhiên tùy các mùa mà có sự khác biệt rõ rệt Đó là sự bắt đầu sinh sôi của cỏ cây muôn loài tron mùa xuân, xanh tư i tron mùa hạ, chuyển màu, rụng lá vào mùa thu và héo úa tron mùa đôn Bốn mùa là biểu trưn cho sự sinh thành, phát triển

và diệt vong của muôn loài trong một chu trình, được khái quát thành quy luật sinh diệt của tạo hóa Con n ười đặt ra các mùa từ sự quan sát quy luật đổi thay của thi n nhi n đất trời chứ không phải từ sự quy ước mang tính chất võ

đo n Mùa xuân ở Nhật Bản được tính từ khi những cây mận đầu tiên ra hoa

và kết thúc khi nhữn bôn hoa anh đào cuối cùng ở phía bắc r i xuống (khoảng từ th n ba đến th n năm) Thi n nhi n trở thành thước đo quan trọng nhận diện thời gian Sự đổi thay của cảnh sắc thiên nhiên gắn liền với chuyển biến của mùa như một lẽ tất yếu Ý niệm về bốn mùa tron năm bởi vậy gắn với ý niệm về sự tuần hoàn của thời ian và đổi thay của cảnh vật

Trong sự tư n quan iữa c c mùa tron năm, mùa xuân iữ vai trò khởi đầu quá trình từ sinh đến diệt Bốn mùa xuân hạ thu đôn theo quy luật

“thành, thịnh, suy, hủy” được quan niệm “xuân sinh, hạ trưởn , thu thu, đôn tàn” Mùa xuân và mùa thu là cặp mùa thườn đi liền với nhau, bởi xu hướng tiến triển mang tính chất đối cực của chún Mùa xuân man tính dư n , là sự sinh ở iai đoạn khởi đầu hưn thịnh, còn mùa thu mang tính âm, là bắt đầu của quá trình tàn lụi chuyển dịch về phía diệt uân thu là âm dư n đan trong quá trình phát triển, tăn tiến, chưa dừng lại Chúng có tính chất của sự

Trang 20

vận động, khác với mùa hạ là tột cùng của sự thịnh, mùa đôn là tột cùng của

sự diệt Do đó, xuân thu được dùn để biểu thị cho sự vận động không ngừng của tự nhiên

Tóm lại, mùa xuân là mùa khởi đầu sinh sôi, hưn thịnh, có vị trí quan trọn đối với đời sốn văn hóa tinh thần của n ười Á Đôn Ý niệm về mùa xuân in dấu ấn trong cả các lễ hội truyền thống, các học thuyết lớn, và là nền tản để khái quát quy luật sinh diệt tron vũ trụ Những cảm thức chung về mùa xuân ấy sẽ đi vào th ca một cách tự nhiên và gửi gắm tron đó những triết lí về nhân sinh và lẽ đạo

1.1.3 Mùa xuân trong Thiền tông

Ý niệm về mùa xuân là ý niệm chung, trở thành cảm thức văn hóa phư n Đôn Mùa xuân thâu nhận vào Thiền tôn cũn man nhữn đặc trưn của mùa, song có những giá trị biểu trưn ri n , nhằm truyền đạt và giác ngộ những triết lí thiền học

Trần Thái Tông khi bàn đến Tứ s n tron h hư ục đã luận về bốn

trái núi (Tứ s n) tượn trưn cho bốn iai đoạn sinh, lão, bệnh, tử của đời

n ười, tư n ứng với bốn mùa tron năm: “Nhân chi sinh tướng tuế nãi xuân thì” (Tướng sinh của con n ười là mùa xuân tron năm), “Nhân chi lão tướng, tuế nãi hạ thì” (Tướng già của con n ười là mùa hạ tron năm) “Nhân chi bệnh tướng tuế nãi thu thì” (Tướng bệnh của n ười là mùa thu tron năm),

“Nhân chi tử tướng, tuế nãi đôn thì” (Tướng chết của con n ười là mùa đôn tron năm) Thời gian của bốn mùa cùng sự đổi thay của thiên nhiên vạn vật được thâu nhận và bàn luận thành quy luật, chu trình sinh diệt của con n ười Tron đó, mùa xuân được xem là mùa của sinh: “Nhân chi sinh tướng, tuế nãi xuân thì Tr n tam dư n chỉ hanh thái; tân vạn vật chỉ tuy vinh Nhất thiên minh mị, thôn thôn liễu lục hoa hồng; vạn lí phong quang, xứ xứ oanh đề điệp vũ” (Tướng sinh của n ười là mùa xuân tron năm Khỏe khoắn thay sự thịnh vượng của dư n xuân, mới mẻ thay sự tốt tư i của muôn vật Một trời sáng

Trang 21

đẹp, xóm thôn liễu biếc đào hồng; muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh

ca, bướm múa) [80; 42] Với cảm thức chung của mùa xuân về sự hưn thịnh của muôn loài, Thiền tông hình thành quy luật tư n ứng về sự sinh của con

n ười Chu trình sinh diệt được quy chiếu từ chu trình của tự nhiên là một cách thức quen thuộc trong tâm thức phư n Đôn Quy luật của con n ười, tạo hóa được đúc rút từ quá trình quan sát tự nhiên, soi chiếu và tìm điểm đồng dạng giữa các hiện tượng

Thiền tông khi khái quát và truyền đạt triết lí, thường sử dụng hình ảnh của thiên nhiên bốn mùa Quan niệm Niết bàn không phải ở một thế giới khác, bên ngoài thế ian này, n i con n ười có thể rũ bỏ khỏi những sinh trụ

dị diệt, thoát khỏi vòng luân hồi bất tận như hật giáo Tiểu thừa, có thể dẫn giải một câu chuyện về một vị thiền sư và một n ười nọ trong Thiền tông:

“Một n ười kia hỏi vị thiền sư:

- Hạ đã qua rồi, đôn sẽ tới, vậy làm sao tránh khỏi?

- Tại sao anh không tìm một chỗ nào không có mùa hạ và mùa đôn ?

Vị thiền sư hỏi lại người kia

- Làm sao tìm ra được một n i như thế?

- Vậy thì đôn đến anh hãy cứ run, hạ đến anh hãy cứ để mồ hôi đổ như mọi n ười” [dẫn theo 84 ;353]

Qua câu chuyện trên có thể thấy, tìm một Niết bàn bên ngoài cõi trần ian là điều khôn tưởng Thiền học khôn hướn con n ười vào một cõi khác sau khi chết mà hướn con n ười đến một th i độ an nhi n trước thực tại đổi thay Câu chuyện tr n cũn là một dẫn chứng cho thấy phư n tiện, cách thức của Thiền khi truyền đạt những luận thuyết của mình là dựa trên những hình tượng bốn mùa Trong câu chuyện bàn về Niết bàn này, mùa hạ và mùa đôn là hai mùa có tính chất đối nghịch Vòng tuần hoàn của thời gian qua thiên nhiên biến chuyển hai mùa được dùn để thay thế cho sự thay đổi của con n ười Thiền học lấy c i vĩ mô, lẽ tất nhi n để truyền đạt cái vi mô

Trang 22

Dùng quy luật thi n nhi n để biểu đạt quy luật con n ười là một cách thức đã tồn tại lâu đời Khái niệm ban đầu của âm dư n cũn đến từ sự quan sát tự nhi n “Âm” tron n hĩa ban đầu là bên râm của sườn núi, “Dư n ” là phía bên kia nhiều nắng Trong Thiền học, phư n thức soi chiếu quy luật của đạo bằn hình tượng thiên nhiên có nguồn gốc từ triết lí “thi n nhân hợp nhất” của Đạo i o và “vạn vật nhất thể” của Thiền Ngay từ xưa c c học thuyết nói chun đều đặt con n ười trong vị trí giao hòa với tự nhiên, là một phần của tự nhi n Tư tưởn “thi n nhân hợp nhất” của Chu Dịch có ảnh hưởng lớn đến cách ứng xử của con n ười trước tự nhiên, là nguồn cảm hứng của văn hóa phư n Đôn Con n ười là một phần của tự nhiên, giữa con

n ười và thiên nhiên có mối tư n iao, dun hòa với nhau Trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một Con n ười cần hành động hợp lẽ theo quy luật của tự nhi n “Thi n nhi n và hoạt động tự nhiên, sự âm thầm diễn ra các biến cố đời đời kiếp kiếp, sự tuần hoàn của bốn mùa, sự vận chuyển uy nghi của tinh tú, đó là c i đạo mà ta thấy trong mỗi dòng suối, mỗi phiến đ , mỗi

n ôi sao, đó là c i luật của vũ trụ, vô tư, vô n ã, mà lại hợp lí, và loài n ười phải hành động theo luật ấy nếu muốn sống khôn ngoan và yên ổn” (Dẫn theo 44; 146) Con n ười là một tiểu thi n địa, một phần của vũ trụ, trời và n ười

là một Th i độ của con n ười trước thiên nhiên là sốn hòa đồng, hợp lẽ

Quan niệm “vạn vật nhất thể” cho rằng, một sinh ra tất cả và tất cả cũn

là một “Mặt trời mặt trăn chứa đựng trong một hạt cải” (Đ p h p Dun sắc không phàm thánh chi vấn) Mỗi sự vật trong thế giới đều chỉ là các hình tướng khác nhau của cùng một bản thể duy nhất Do đó, tron đất trời cần có

sự tư n iao hòa hợp của muôn vật, mọi sự biến chuyển đổi thay cũn chỉ là biến dịch của sắc tướng bên ngoài, biểu thị cho một bản thể duy nhất, chân như bất diệt Quan niệm như vậy cho thấy vị trí của con n ười trước thiên nhi n Con n ười, thi n nhi n cũn như tất cả tạo vật nói chun đều có chung một cội, cái này có thể là phản chiếu cho cái kia Trong tâm thức phư n

Trang 23

Đôn nói chun , thi n nhi n khôn phải làm nền cho con n ười mà có sự giao hòa, gắn bó giữa con n ười và thiên nhiên Quy luật của thiên nhiên có thể soi chiếu để khái quát quy luật của con n ười, tạo vật Với phư n ph p truyền đạo “trực chỉ nhân tâm”, chỉ có thể thông qua những hình ảnh trực quan, dùng trực i c để thấu đạt lẽ đạo, thì thiên nhiên là một chất liệu cho việc tu trấn, khai mở cho n ười tu học Như vậy, thiên nhiên trở thành một phư n tiện, cách thức giúp khái quát và truyền đạt các triết lí thiền học

Xuân - thu có vai trò quan trọn đối với việc gửi gắm và truyền tải các triết lí của Thiền Đây là hai mùa có xu hướng tiến triển đối nghịch nhau và đều ở dạng bắt đầu, vận động, không phải ở trạng thái vận độn đến tột độ như mùa hạ và mùa đôn Do đó, xuân và thu biểu thị cho quy luật vận động

và phát triển của tự nhi n, được khái quát trở thành quy luật biến đổi vô thường của vạn vật trong trạng thái soi chiếu với con n ười Mùa xuân là mùa của trưởng sinh, vạn vật đổi thay theo hướng phát triển hưn thịnh Bởi thế, mùa xuân được khái quát chứa đựng những ý niệm Thiền học hàm chứa về sắc tướn , hư huyễn của vạn vật, sự mon manh đổi thay vô thường Mùa xuân với ý niệm gắn với niềm vui, sự trưởng sinh, chuyển tải ý niệm về Niết bàn – xuân của đạo, cũn như xuân của trời Thiên nhiên mùa phản chiếu quy luật của tạo hóa Sự sinh tử của con n ười cũn như một số quy luật kh c đều được quy chiếu về quy luật thiên nhiên mùa Dễ dàng nhận thấy sự đồng dạng giữa các sự vật và quy luật chu trình phát triển của chún Tron đó, thi n nhi n được xem như điểm quy chiếu quan trọng bởi thiên nhiên gắn với sự tất yếu, hợp lẽ trời, không gì có thể thay đổi được

Như vậy, trong Thiền tông thiên nhiên bốn mùa nói chung và thiên nhiên xuân nói riêng có vai trò quan trọn tron đạt đạo và truyền đạo Mùa xuân – mùa của sự sinh được kh i qu t thành tư tưởng triết lí về sự tất yếu đổi thay vô thường của tạo hóa, ý niệm về mùa xuân bất diệt của chân như vạn

ph p, và đi vào th Thiền với ý n hĩa trực tiếp và ý n hĩa triết lí

Trang 24

Tóm lại, mùa xuân trong tâm thức phư n Đôn là mùa của sự khởi đầu sinh sôi, gắn với nhữn điều tốt đẹp Do đó có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa đi vào đời sốn văn hóa tinh thần truyền thống, vừa mang sức lan tỏa lớn đối với nguồn cảm hứn văn chư n Mùa xuân đối với Thiền tông là sự khái quát và phản ánh quy luật sinh diệt đổi thay, một tron hai đối cực quan trọng của sự vận động vạn vật

1.2 Mùa xuân trong thi ca phương Đông

ùa x ân tron th ờn à th aiku

Cảm thức mùa có vị trí quan trọn tron văn học Thiên nhiên bốn mùa

là yếu tố trung tâm trong tâm thức của con n ười phư n Đôn Tron văn học truyền thốn , hình tượng của thiên nhiên xoay vần trong bốn mùa trở nên phổ biến, đôi khi là bắt buộc (th haiku) Cùn tron dòn chảy chung ấy, mùa xuân với cảnh sắc tư i đẹp luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho thi nhân

Những xúc cảm, quan niệm triết lí được các thi nhân mã hóa bằng các hình ảnh của tự nhi n Th ca phư n Đôn truyền thốn nói chun , th Đườn Trun Hoa hay th haiku Nhật Bản nói ri n đều xuất hiện những hình ảnh về thiên nhiên mùa xuân với nguồn xúc cảm đặc biệt Tron Đường thi – nền thi ca có ảnh hưởng sâu rộn đến nền thi ca nói chung ở khu vực Đôn Á (như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam), mùa xuân vẫn iành được xúc cảm của c c thi nhân C c nhà th lớn như Lí Bạch, Đỗ Phủ cảm khái mùa xuân và gửi gắm tron đó những ý tứ ri n “dun tình ư cảnh vật chi trung, thác tứ ư phon vân chi ý” (dun hòa tình tron cảnh vật, kí thác tứ ở

áo gió mây)

Qua nhữn bài th Đường, bức tranh thi n nhi n mùa xuân tư i đẹp, đầy tình tứ, trong sự tư n iao, hòa quyện giữa con n ười và muôn vật Mùa xuân với mỗi nhà th lại được cảm nhận ở những sắc độ kh c nhau Đôi khi chỉ một cành hoa ẩn sau tán lá rậm, một tiến chim k u cũn có thể cảm được

cả sắc xuân đan về, bởi “Động nhân xuân sắc bất tu đa” (Sắc xuân làm rung

Trang 25

độn lòn n ười bất tất phải nhiều) (Vư n An Thạch) Tron th Vư n Duy – thi Phật đời Đường, ý vị thiền luôn hiển hiện trong nhữn bài th viết

về mùa xuân Đó có thể là một mùa xuân được cảm nhận qua tản đ b n suối, nhành liễu chạm vào chén rượu, để thi nhân tỏ bày nỗi băn khoăn:

“Nhược đạo xuân phong bất giải ý/ Hà nhân xuy tống lạc hoa lai” (Nếu bảo

rằng gió xuân không biết bày tỏ ý/ Thì ai thổi hoa rụn bay đến đây) tron Hí

đề bàn thạch; hay một ý niệm về lẽ tử sinh của đời qua sự đến đi của xuân:

“Nhật nhật nhân tôn lão/ Ni n ni n xuân c nh quy” (N ày lại n ày n ười cứ

già đi/ Năm theo năm xuân vẫn đến hoài) trong Tống xuân từ Quang cảnh

mùa xuân tron th Vư n Duy thanh nhã, u tịch với hình ảnh của con n ười

tự tại, nhàn tản Điểu minh giản cho thấy ý niệm về sức sống mùa xuân trong

sự tĩnh lặng vô biên:

Nhân nhàn hoa quế lạc

Dạ tĩnh xuân s n khôn Nguyệt xuất kinh s n điểu Thì minh xuân giản trung (N ười nhàn, hoa quế rụng

Đ m y n tĩnh, xuân non vắng không Trăn l n làm chim núi iật mình Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe núi) Màu sắc thiền học nằm khuất lấp sau sự tịch lặng của cảnh sắc và hồn

n ười Tron đ m xuân vạn vật đều r i vào trạn th i tĩnh mịch, n ười nhàn tịnh n he được âm thanh của hoa quế rụng, của tiếng chim hót trong khe núi Cảnh cô tịch nhưn lại thấy được sức sống của xuân, tron tĩnh có động, tạo nên sự cộn hưởng, giao quyện giữa tâm và cảnh trong sự trầm mặc của thiền Mùa xuân tron th thiền Vư n Duy là một đề tài quen thuộc với những ý tượng cảnh sắc riêng biệt, thấm đẫm ý vị của đạo

Trang 26

Đỗ Phủ nhà th tự coi mình như hạt bụi lăn lóc dưới gầm trời, trải lòng cho nỗi thống khổ của muôn dân, cũn có nhữn bài th vô cùn tình tứ về

mùa xuân Xuân dạ hỷ vũ là niềm vui trước cảnh sắc thi n nhi n xuân tư i

đẹp, trong trẻo:

Hảo vũ tri thời tiết,

Đư n xuân nãi ph t sinh Tùy phong tiềm nhập dạ Nhuận vật tế vô thanh (Mưa lành biết được tiết trời Đan lúc xuân về mà phát sinh ra Theo ió hây hây vào đ m tối Tưới mát muôn vật mà không nghe thấy)

(Xuân dạ hỷ vũ) Thiên nhiên có sự giao hòa trong thinh lặng, làn mưa âm thầm tưới mát

cỏ cây Tưới mát muôn vật bằn "vô thanh" nhưn lay độn được tâm hồn thi nhân Đỗ Phủ lắng nghe sự tư n iao của đất trời, muôn vật cùng sự sinh sôi đan dần hiện hữu

Tuyệt cú cũn là bức tranh thi n nhi n nhưn khôn phải sự giao hòa

tron "vô thanh" mà đầy sinh độn , đa thanh, đa ảnh Thi nhân thu vào tầm mắt cả bầu trời, cả sông núi với màu trắng thanh khiết trên nền trời xanh biếc, sắc vàng rực rỡ của đôi chim oanh tron l liễu

Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên Son hàm Tây Lĩnh thi n thu tuyết Môn bạc Đôn N ô vạn lý thuyền (Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc Một hàng cò trắng vút trời xanh

N hìn năm núi tuyết song in sắc Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình)

Trang 27

Cảnh sắc trước hết hiện lên với sự sinh động, trong trẻo, tràn đầy sức sống Muôn vật trong sự vận hòa của đất trời vào xuân quyến luyến, giao hòa Những hình ảnh quen thuộc của mùa xuân như: mưa, ió, núi, mây… đi vào thi ca với tài năn và tâm hồn thi nhân đã tạo nên những tứ th đa tình, đa ảnh

về thiên nhiên xuân

Trong sự sinh sôi của cỏ cây, sự giao hòa của đất trời có cả sự tình tứ của lòn n ười Con n ười trước thiên nhiên kết giao, gặp gỡ cũn sinh ý,

sinh tình Thôi Hộ đã đưa vào th xuân cả câu chuyện tình yêu trong Đề Đ

thành Nam trang, và hình ảnh hoa đào mùa xuân trở thành một hoài niệm

vĩnh cửu: “Đào hoa y cựu tiếu đôn phon ” (Hoa đào năm n o i còn cười gió đôn ) Đỗ Phủ lại cho thấy sự quyến luyến, kết giao tình tứ giữa thiên nhiên

và con n ười với Giang bạ độc bộ t m hoa Hoa xuân, bướm xuân nở rộ,

lượn quanh b n nhà n ười con i đẹp khiến ý xuân, tình xuân tràn đầy: “Lưu

li n hí điệp thời thời vũ/ Tự tại kiều oanh kh p kh p đề” (Lưu luyến quẩn quanh vờn lũ bướm/ Ung dung thánh thót hót hoàng anh)

Không gian mùa xuân rộn rã, vui tư i, tràn đầy nhựa sống Nỗi lòng của con n ười cùng bao khát khao tình tứ được gửi gắm vào thiên nhiên mùa xuân Đó là nỗi lòng biệt li của con n ười ẩn trong cảnh xuân: “ uân phon tri biệt khổ/ Bất khiển liễu điều thanh” (Gió xuân thấu nỗi biệt/ Chẳng cho

liễu xanh cành) (L o L o đ h – Lý Bạch) Nỗi nhớ thư n của n ười vợ trong cảnh li biệt cũn xuất hiện trong nhiều bài th như Xuân tứ (Lý Bạch),

Xuân oán (Kim ư n Tự) Thiên nhiên mùa xuân cùng sự sinh sôi, giao

hòa của muôn vật nảy sinh ở con n ười khát vọn y u đư n

Đư n quân hoài quy nhật Thị thiếp đoạn trường thì Xuân phong bất tư n thức

Hà sự nhập la vi (Đư n khi chàn mon nhớ muốn về

Trang 28

Là lúc thiếp cũn đau lòn nhớ chàng Ngọn gió xuân kia chả hiểu gì nhau

Cớ sao lọt vào trong bức màn the của ta)

(Xuân tứ, Lý Bạch)

Ngọn ió xuân lay động tấm mành, vô tình mà lại hữu tình gợi nhớ về

n ười chồn n i xa N ười thiếu phụ càng vờ như khôn biết, không hay càn th m đau lòn , xót xa, giày vò trong nỗi nhớ

Mùa xuân không chỉ tư i đẹp trong cảnh sắc, đắm say trong nhân tình

mà còn hiện hữu một cái nhìn về nhân sinh, nhân thế Mùa xuân gắn với cảnh loạn li, thống khổ của nhân dân cũn man màu ảm đạm, th lư n Đỗ Phủ - tác giả nhiều bài th man tinh thần phản chiến đã có những vần th viết về mùa xuân trong loạn lạc:

Quốc ph s n hà tại Thành xuân thảo mộc thâm Cảm thời hoa tiễn lệ

Hận biệt điểu kinh tâm (Nước ph tan, núi sôn còn đó Đầy thành xuân cây cỏ rậm sâu Cảm thời hoa rỏ dòng châu Biệt li tủi giận chim đau nỗi lòng)

(Xuân vọng, Trần Trọng Kim dịch)

Cảnh xuân không phải là cảnh hoa cỏ xanh tư i mà là sự rậm rạp, hoan s , ti u điều Nhà th nhìn hoa mà lệ r i, n he chim k u mà xót lòn Đây là mùa xuân buồn bã th lư n với tâm trạn cô đ n, sầu tủi của con

n ười tiếc thư n cho tình cảnh đất nước loạn li

N ười chinh phụ trong Khuê oán của Vư n ư n Linh n ắm nhìn

sắc xuân bỗng hối hận để chồn đi chinh chiến:

Trang 29

Hốt kiến mạch đầu dư n liễu sắc Hối giao phu tế mịch phong hầu (Chợt thấy sắc xuân của dư n liễu b n đường Hối hận đã để chồng tòng quân kiếm ấn phong hầu) Cảnh thiên nhiên mùa xuân, với sắc xuân của cây liễu b n đường khiến

n ười vợ thức nhận về tình cảnh của bản thân, nuối tiếc cho mùa xuân, tuổi trẻ đan qua Ấn phong hầu trở n n vô n hĩa đối với sự đoàn tụ, khát khao hạnh phúc lứa đôi

Mùa xuân tron th Đường hiện lên với đủ gam màu từ tư i s n , tron trẻo đến ảm đạm, bi thư n Đất trời lúc xuân sang gợi thức nỗi lòng riêng của con n ười, từ tình tứ đắm say, đến nhớ nhung li biệt Thiên nhiên và con

n ười gắn bó, hòa hợp hữu tình

Nằm trong dòng chảy của văn chư n truyền thốn phư n Đôn , haiku – quốc thi của xứ sở Phù Tang chọn cho mình một hình thức nghệ thuật với thức cảm riêng, song vẫn dành vị trí trang trọn cho thi n nhi n Th haiku khôn kiếm tìm sự cân bằn và đối xứn như Trun Hoa, mà tôn xưn

c i đẹp iản dị và đ n s từ những thiếu hụt, những khoảng trốn tron c i hòa điệu run cảm của thi n nhi n – vũ trụ – con n ười

Với dun lượng 17 âm tiết ít ỏi, th haiku thể hiện cảm quan tinh tế trước sự đổi thay của vạn vật Đề tài của th haiku là thi n nhi n, với những

sự vật đ n s , nhỏ bé Tron c c bài th haiku, quý n ữ (kigo - từ chỉ mùa) là yếu tố không thể thiếu Đó có thể là từ trực tiếp về các mùa xuân, hạ, thu, đôn hoặc các hình ảnh, hoạt độn man đặc trưn của mùa Bốn mùa đi qua đều để lại dấu ấn tron th , dù là một cánh hoa xuân, một c n mưa, một ánh trăn thu hay một vùng tuyết trắng Tất cả đều không phân biệt sang hèn, được nâng niu và trân trọng bởi sự chi phối của tư tưởng vô sai biệt của Thiền Trong bức tranh tứ bình ấy, mùa xuân xuất hiện với những hiện hữu mang sắc thái riêng của gió, của hoa, của cây hay đ n iản là một tiếng chuông chùa trong buổi chiều xuân

Trang 30

Cảnh sắc thi n nhi n mùa xuân tron th haiku tron trẻo, tư i s n với những khung cảnh bình dị: bông hoa triêu nhan bên giếng, chú chuột nhỏ uốn nước b n sôn , hoa anh đào rụn r i… Mỗi sự vật đều được miêu tả trong sự hồn nhiên, tồn tại với bản thể n uy n s của nó Đó là khun cảnh chiều xuân tron th Basho:

Từ phư n trời xa

C nh hoa đào lả tả Gợn sóng hồ Biwa hay

Một đ m mây hoa Chuôn đền Ueno vang vọng Hay đền Asakusa

Hoa anh đào là biểu trưn cho mùa xuân Trong tiết xuân ấm áp, nhà

th cảm nhận vẻ đẹp của tự nhiên từ nhữn bôn hoa anh đào r i rụng, từ tiếng chuông vang vọn trước thời khắc n ày tàn Bài th thứ nhất là mùa xuân có sự tư n iao tron thinh lặng, tinh tế giữa cánh hoa và mặt hồ Mặt

hồ gợn sóng bởi hoa r i, hoặc bởi làn ió đưa hoa đến Bài th thứ hai có sự quyện hòa giữa âm thanh (chuông chùa) và cảnh sắc (hoa anh đào) Buổi chiều xuân lắn đọng trong tiếng chuông chùa ngân vang

Thiên nhiên mùa xuân hiện hữu những sinh vật bé nhỏ, bình dị, gần

ũi Tình y u và sự bình đẳng cho muôn vật luôn bao trùm nhữn bài th haiku Tron th haiku, những sự vật bình dị nhất cũn được sống hồn nhiên,

tự tại và nâng niu trân trọn như bất kì tạo vật nào khác

Thi n nhi n mùa xuân tron th haiku có hình ảnh chú chuột uống nước b n sôn tron th Issa đầy tự tại, tận hưởn đất trời xuân:

B n dòn Sumida Chú chuột kia uốn nước

Mưa mùa xuân pha

Trang 31

Chú chuột nhỏ iữa bao la đất trời vẫn tự tại, thon thả uốn từn n ụm nước mùa xuân – tặn vật của thế gian Bức tranh xuân có sự giản dị thanh

b nh của thiên nhiên, tự tại, thảnh th i của những con vật bé nhỏ

Bức tranh xuân không chỉ có cỏ cây và muôn vật Th haiku còn có sự

tư n iao, hòa hợp đầy vi diệu giữa muôn loài và con n ười:

Triêu nhan Níu dây àu Nhà b n xin nước

(Chiyo)

Nữ sĩ nhận ra sự tư n iao của vạn vật tron vũ trụ vào một buổi sớm mai qua đóa tri u nhan níu xuốn dây àu Sự tư n iao đó vi diệu mon manh, khiến ta chẳn muốn ph vỡ Nữ sĩ san nhà b n xin nước để giữ vẹn toàn khoảnh khắc diệu kì Buổi s n mùa xuân cũn hiện l n tinh khôi, đẹp đẽ cùng sự tư n iao hòa hợp của tạo vật

Buson – thi sĩ của mùa xuân đưa vào bức tranh xuân hình ảnh của nhữn con n ười trần thế Đôi khi là nhữn con n ười vất vả, lam lũ:

Trong giông bão

Áo r m n ười chèo chống Hóa o hoa đào

Hay của những du nữ điểm trang cùng mùa xuân:

Hoa m tưn bừng Bên lầu, du nữ Mua sắm đai lưn Bức tranh xuân không mang sự u huyền sâu thẳm mà thấm đẫm sắc màu của thế gian Chiếc o r m của n ười chèo chiếc thuyền tron c n bão hóa thành một chiếc o đẹp đẽ bởi hoa đào theo ió b m đầy Sự khó khăn của con n ười bỗng trở n n đẹp đẽ dưới đôi mắt thi nhân Hay những du nữ cũn bình đẳn như mùa xuân tư i đẹp cùng trau chuốt Mùa xuân trở nên

Trang 32

trần thế hay du nữ xinh đẹp và đ n quý như xuân Những tạo vật với haiku đều được nâng niu và trân trọng

Khoảnh khắc giao hòa của con n ười được giữ lại với bao tình tứ:

Mưa xuân thầm thì

B n nhau đôi bón

Ô và o t i Đôi trai i cùn nhau trò chuyện thì thầm dưới mưa khiến bức tranh xuân mang một màu sắc mới, đời thực h n Mùa xuân hiện hữu qua mưa xuân hòa với lòn n ười đắm say

Như vậy, mùa xuân tron th haiku là bức tranh đầy ý vị thiền Đó là

sự trong trẻo trong cảnh vật, sự quyến luyến giữa con n ười - con n ười hay

sự tư n iao vi diệu của con n ười - thiên nhiên Vẻ đẹp thiên nhiên tùy thuộc vào sự cảm nhận riêng của mỗi độc giả bởi haiku “là một bàn tay vẫy, một c nh cửa mở…” ( H Blith)

Tron văn học truyền thốn phư n Đôn nói chun mà ti u biểu là Đường thi Trung Hoa và haiku Nhật Bản, mùa xuân là một đề tài cốt yếu, có

vị trí quan trọng Mỗi thể loại có cách cảm và thể hiện mùa xuân với những đặc trưn ri n uân tron Đường thi là thiên nhiên cân xứng, hài hòa, gửi gắm nỗi lòng thi nhân Xuân trong haiku là bức tranh chứa đựng những khoảng trống, thiếu hụt, thể hiện những sự vật nhỏ bé, bình dị nhưn to t l n nét đẹp sự hồn nhiên của bản thể n uy n s và sự tư n iao iữa con n ười với vũ trụ Có thể nói, thiên nhiên xuân là mạch chảy xuyên suốt đối với tâm thức con n ười và văn học phư n Đôn

1.2.2 Mùa xuân tron th a tr n i Việt Nam

Mùa xuân có thể coi là đề tài phổ biến tron văn học trun đại Việt Nam Mùa xuân không chỉ là đề tài, cảm hứng mà còn là thi liệu mang tính chất quy phạm đối với văn học trun đại Trải khắp cả n àn năm của nền văn học trun đại, cảm hứng về mùa xuân luôn ẩn hiện tron tran th của

Trang 33

thi nhân, với những cảm khái về sự đổi thay của đất trời hay tâm sự trước thời cuộc

Mùa xuân với tất cả những biến chuyển tinh tế đầy sức sống của đất

trời luôn là nguồn thi hứng bất tận trở thành đề tài quen thuộc củ vă học

tru g đại Trong bức tranh về thiên nhiên bốn mùa với sự chuyển vần từng

nhịp của thời gian, mùa xuân là mùa khởi đầu cùng với mùa thu là mùa đ nh

dấu sự hoàn t c là hai mùa được đi vào th ca trun đại nhiều h n cả

Tron văn học Á Đôn truyền thống, mùa xuân trở thành mối duyên huyền diệu của đất trời và thi nhân Điểm qua sáng tác của các thi nhân trong văn học trun đại Việt Nam có thể thấy mùa xuân xuất hiện với tần suất khác nhau tron th như N uyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, và cả Nguyễn Khuyến ở iai đoạn cuối của văn học trun đại

Tính quy phạm là một đặc trưn quan trọng của văn học trun đại Việt Nam Khuôn mẫu được biểu hiện trên các mặt từ quan niệm về ý thức nghệ thuật cho đến phư n tiện diễn đạt Sự quy định chặt chẽ về niêm luật và các chủ đề, đề tài của th Chịu ảnh hưởng của văn học Trun Hoa, đề tài mùa xuân nằm trong công thức của “tứ thời, tứ dân, tứ bình” Bốn mùa tron năm trở thành một công thức ước lệ không chỉ về phạm vi thể hiện mà còn trong các hình ảnh và phư n tiện biểu hiện Các hình ảnh về phong, hoa, tuyết, nguyệt hay tùng, cúc, trúc, mai gắn với các mùa là biểu hiện của thiên nhiên mang tính chất ước lệ Mùa xuân gắn với các hình ảnh về cỏ cây, núi sông với những cách thể hiện khác nhau Nằm trong dòng chảy chung của văn học Á Đôn , văn học trun đại Việt Nam cũn có c c quy định chặt chẽ về thể tài hay cách thức thể hiện Song trong khuôn mẫu chung ấy, c c nhà th vẫn tạo được cho riêng mình khoảng trời và sắc xuân với những nỗi niềm riêng

Mùa xuân không chỉ là đề tài mà còn là đối tượn được phản ánh Mùa

xuân trước hết hiện hữu là mùa xuân thiên nhiên với sự sốn sinh sôi, tràn đầy

cùn bước đi của thời gian in dấu Trong sắc xuân của đất trời Nam Việt, các

Trang 34

thi nhân vẽ nên trong thi ca với quy định bó hẹp những bức tranh xuân mang hồn Việt Nguồn hứng về mùa xuân luôn chảy dài bất tận tron tran th của các thi gia Nhữn nhà th ti u biểu như N uyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến… đều miêu tả về sắc xuân, cảnh xuân với những biến thái tinh tế

Tron th ca N uyễn Trãi, bên cạnh nhữn bài th tỏ chí, th thi n nhiên giữ một vai trò quan trọng Nguyễn Trãi hòa mình với thi n nhi n đất Việt, hòa mình cùng chốn quê dân dã, mộc mạc, lắng nghe từng nhịp mùa qua Mùa xuân với những biến chuyển của đất trời, sự khởi đầu và sinh sôi của vạn vật đi vào th ôn một cách tự nhi n Th chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi đều có bài viết về mùa xuân Có những khoảnh khắc thi nhân khép lòn trước cuộc đời trần thế thị phi để lắn n he h i thở của cỏ cây vào

xuân như tron Trại đ u uâ độ:

Độ đầu xuân thảo lục như y n uân vũ thi m lai thủy phách thiên

Dã kính hoan lư n hành kh ch thiểu

Cô châu trấn nhật các sa miên (Cỏ xuân như khói bến xuân tư i Lại có mưa xuân nước vỗ trời Quạnh quẽ đườn đồn thưa vắng khách Con đò ối bãi suốt n ày n i)

Khung cảnh xuân nhòe mờ tron làn mưa, khôn ian thưa vắng và tĩnh mịch nhưn khôn ợi lên vẻ cô lẻ của cảnh vật Hiện hữu là một mùa xuân đầy sức sống ẩn chứa trong màu xanh của cỏ xuân, c n mưa tưới mát cả đất trời và vẻ thanh bình sau sự tĩnh lặng của con đò nằm n i b n bến nước Phong thái ung dung, tự tại bình tâm trước thế sự để hòa lòng với thiên nhiên,

cảm nhận vẻ thanh bình của cảnh vật tron làn mưa xuân Tron Mộ xuân tức

sự, mùa xuân đã đ nh thức một con n ười tưởn đã t ch mình khỏi tạo vật:

Trang 35

Nhàn trung tận nhật bế thư trai Môn ngoại toàn vô tục khách lai

Đỗ vũ thanh trun xuân hướng lão Nhất đình s vũ luyện hoa khai (Suốt n ày nhàn nhã khép phòn văn Khách tục không ai bén mảng gần Trong tiếng cuốc k u xuân đã muộn Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan) Con n ười y u thi n nhi n được đ nh thức bởi tiếng cuốc kêu, ngỡ ngàng nhận ra mùa xuân sắp qua Bước đi của mùa xuân được hiện hữu trong tiếng cuốc cuối xuân, làm bừng tỉnh cả thi nhân Hình ảnh dân dã của làng quê Việt được Nguyễn Trãi đưa vào th một cách tự nhi n Tran th H n tự vốn nhiều quy định nghiêm ngặt lại nở một màu tím biếc hoa xoan bình dị Khoảnh khắc khi âm thanh (tiếng cuốc) và hình ảnh (hoa xoan nở) hòa làm một cũn là lúc ý xuân, tình xuân vi n mãn Thi nhân đã rời mình khỏi phòng trai tĩnh mịch để hòa lòng với thiên nhiên, cảnh vật

So với th chữ H n, mùa xuân tron th Nôm N uyễn Trãi được thể hiện rõ nét với tần số cao h n Nhà th tạo nên bức tranh thiên nhiên với màu sắc tư i vui của cỏ cây, sự chuyển mình của đất trời Thi nhân hòa mình vào

thi n nhi n và dõi theo bước đi thời gian trên tạo vật Tron chùm th Môn

hoa mộc, bên cạnh những hình ảnh hoa mai, hoa đào đã quen thuộc (Mai, Hoa

đào), những hình ảnh dân dã cũn được đưa vào tron th một cách tự nhiên:

Tự bén h i xuân tốt lại thêm Đầy buồng lạ, mùi thâu đ m Tình thư một bức phong còn kín Gió n i đâu ượng mở xem

(Cây chuối)

Trang 36

Cây chuối bình dị bừng sức sống từ khi đón nhận h i thở của mùa xuân Lá non cuộn lại như bức thư tình còn phon kín Bức tranh xuân thấm đượm xúc cảm của thi nhân Mùa xuân trở n n th mộng và sâu lắng tình

Khoảnh khắc mùa xuân được Ức Trai nắm bắt với tất cả những chuyển

biến tinh tế, từ đầu xuân (Đ u uâ đắ ý, Đêm trừ tịch), đến Cuối xuân Mỗi

thời khắc của xuân được cảm nhận với sự nhạy cảm trước thiên nhiên và cuộc sốn Th Nôm N uyễn Trãi, bởi thế có cả những cảnh sinh hoạt thường nhật giản đ n:

Chon đèn chực tuổi cay con mắt Đốt trúc khuya na đắng lỗ tai

(Đêm trừ tịch)

Mùa xuân với Nguyễn Trãi mang nhiều ý tứ, không chỉ là mùa của sự sống, của sự vi n mãn tròn đầy, ông còn cảm nhận được bước đi nhanh chón của thời gian Thi nhân muốn níu bước thời ian, để giữ lại cho mình những khoảnh khắc xuân Xuân sắp qua mà Nguyễn Trãi vẫn còn hi vọng:

Cầm đuốc ch i đ m này kh ch nói

Tiến chuôn chưa dón ắt còn xuân

(Cuối xuân)

Đó là tấm lòng của một thi nhân trân quý từng nhịp của thời gian và sự sống của vạn vật trong tiết xuân Cảm quan chun tron th xuân N uyễn Trãi là một mùa xuân vi n mãn, căn tràn nhựa sống với sự cựa mình của vạn vật, sự chuyển nhịp tinh tế của thời gian Thi nhân cảm nhận thiên nhiên bằng tình yêu tha thiết và gắn bó: “Cò nằm hạc lặn nên bầu bạn/ ủ ấp cùng ta làm

c i con”

Sang thế kỉ XVIII, mùa xuân trong Chinh phụ ngâm gắn với bốn mùa

thể hiện thời ian vũ trụ tuần hoàn:

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca

Trang 37

Nay quy n đã iục oanh già

Ý nhi lại y trước nhà líu lo Thuở đăn đồ mai chưa dạn gió Hỏi ngày về chỉ độ đào bôn Nay đào đã quyến ió đôn Phù dung lại rã bên sông ba xoà Bước đi của thời ian được thể hiện qua những hình ảnh biểu tượng Chim oanh, ý nhi (chim y), hoa đào chỉ mùa xuân, chim quyên gắn với mùa

hạ và hoa phù dung gắn với thu Thời gian tuần hoàn, chảy trôi vô tận đối sánh với sự chờ đợi mỏi mòn của n ười chinh phụ Thời ian vũ trụ vô thủy vô chung

mà con n ười thì hữu hạn Tâm trạng nhân vật trữ tình được tạo bởi hai mạch cảm xúc: hi vọng vào lời hứa trở về của n ười chinh phu và sự thất vọng vì thực

tế cay đắn , càn đợi chờ thì sự thất vọng càng chất chồn , bi đ t

Nguyễn Du cũn là thi ia nặng lòng với thiên nhiên Mùa xuân trong

th ôn hiện lên với nhiều sắc th i, đa ảnh đa hình Đó là một mùa xuân tràn

đầy sức sống, trong trẻo, vui tư i tron Truyện Kiều:

N ày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã n oài s u mư i

Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắn điểm một vài bông hoa Bức tranh xuân của đất trời là sự hòa điệu của màu sắc, của cỏ và hoa tron đôi mắt tinh tế của thi nhân Khí xuân, tiết xuân hiện lên thanh nhã, bình

dị hòa cùng với cảnh hội xuân đôn vui “N ựa xe như nước, áo quần như

Trang 38

Th N uyễn Du không chỉ là những sắc điệu vui tư i, b n cạnh một hồn quê trong sáng với khí xuân chan hòa, xuân cũn man cả cái nhìn u hoài, đầy suy nghiệm Nhữn đ m trăn xuân lưu lạc n i đất khách, cảnh sắc vẫn làm rung cảm hồn th , hòa vào cảnh trăn ợi bao thi hứng:

Nguyệt dạ khôn đình n uyệt mãn thiên

Y y bất cải cựu thuyền quyên (Đ m n uy n ti u sân vắn trăn đầy trời Trăn vẫn khôn đổi thay vẻ đẹp cũ)

Đ m trăn th n i n trăn đầy trời và thanh vắng, chan hòa muôn

n i, nhà th bỗng tự hỏi “Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc” (C i hứng xuân

cả một trời r i xuốn nhà nào) Trăn xuân chính là cảm hứng của mùa xuân,

là cái hồn của xuân, của đất trời trong sự tạo sinh ở thời điểm khởi đầu vẹn nguyên

Th N uyễn Du bên cạnh trăn xuân còn có hoa xuân Hoa đào và hoa mai là hai loại hoa tiêu biểu cho mùa xuân Hình ảnh của hoa tron th ôn không mang sắc điệu của mùa xuân tư i vui mà lại là cảnh hoa rụng, gợi lên

sự tàn úa, nuối tiếc, cảm thư n : “Đào hoa, đào diệp lạc phân phân” (Hoa

đào, l đào rụn t i bời) (U ư I) hay là “Lạc hoa vô số hạ thư n đài” (Thấy

vô số hoa rụng trên rêu xanh) (Đối tửu) Từ sự tàn úa của hoa, thi nhân tiếc

cho kiếp hoa, thư n cho kiếp n ười

Nguyễn Khuyến cũn là con n ười ưu thời mẫn thế, cáo quan về ở ẩn, gắn bó với làng quê Việt Nam uân qua lăn kính của con n ười từng nếm trải bao trái ngang của cuộc đời mang nhiều sắc th i Đó có thể là mùa xuân với ngày tết rộn ràn hoan ca “Tron nhà rộn rịp ói b nh chưn / N oài n õ

bi bô rủ chung thịt” (Cảnh tết), hay một khóm hoa nhỏ còn ướt đẫm sư n

đ m và nét vẽ của núi sông trong làn mây:

Tiểu cúc tân tài lô vị can

Hà xứ cô hồng thê dã thủ

Trang 39

Vô cùng thủy cáo nhập gian can

Âm vân vị p thi n s n họa (Khóm cúc nhỏ mới trồn sư n hãy chưa khô

Con chim hồng lẻ loi ở chốn nào về, đậu trên cây ngoài nội

Cỏ non xanh m n mởn ngút mắt trải rộng tới bờ sông

Mây mù chưa lấp được đườn nét như vẽ của ngàn núi sông

(Xuân hứng)

Bức tranh mùa xuân qua những cảm nghiệm khác nhau của nhà th ở các thời đại kh c nhau đem đến những cảm xúc mới Sự khác biệt ấy là hồn cảm của mỗi nhà th son có thể khẳn định mùa xuân luôn là nguồn cảm hứng dạt dào không ngừng chảy gợi thi hứn qua bao nhi u đổi dời của thời gian

Đằng sau bức tranh thiên nhiên xuân luôn có sự ẩn chứa tâm sự thi

nhân, hiện hữu m uâ ò g gười Con n ười cảm kh i trước thiên nhiên

để suy nghiệm về thân phận, lẽ đời Bức tranh xuân xuất hiện hình ảnh của con n ười với nỗi lòn thường trực vì dân vì nước của Nguyễn Trãi, nỗi cảm thư n cho thân phận tha hư n của Nguyễn Du, nỗi lo cho nỗi khổ của nhân dân tron th N uyễn Khuyến Mỗi thi nhân một cảm thức và một nỗi lòng trải cùng mùa xuân

Th của Nguyễn Trãi hiện diện một tâm hồn thanh thản nhưn đằng sau đó, vẫn lắng lại chút suy tư về thế sự Ức Trai rời bỏ chốn quan trường thị phi, tạm trở về hòa mình với thi n nhi n nhưn con n ười nguyện làm “n ựa đến tuổi già còn kham rong ruổi” ấy luôn thường trực nỗi lo nước thư n dân chưa bao iờ n uôi Th Ức Trai ẩn chứa một nỗi niềm sâu thẳm đằng sau bức tranh xuân vui tư i, đầy sức sốn Đó là nỗi niềm nuối tiếc thời gian, nuối tiếc tuổi xuân:

uân xanh chưa dễ hai phen lại Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên

( h tiếc cảnh III)

Trang 40

Tiếc xuân cầm đuốc mản ch i đ m Những lệ xuân qua tuổi tác thêm

( h tiếc cảnh VII)

Nguyễn Trãi là con n ười suốt đời nặng lòng với dân nước, bởi thế ước vọn được cống hiến nhiều h n luôn đau đ u tron ôn Mỗi mùa xuân trôi qua là thời ian đời n ười ngắn lại Bởi thế, thi nhân nuối tiếc thời gian, nuối tiếc mùa xuân và tuổi xuân

Bốn mùa là sự nhận thức về quy luật của thời gian:

Thân nhàn đến chốn dầu tự tại Xuân muộn nào hoa chẳng rụng rời Những thấy Ngu công tua sá hỏi Non từ nay mựa tốn công dời

(Thuật hứng 14)

Nhận ra quy luật dời đổi của tự nhi n cũn là lúc thi nhân chiêm nghiệm

về sự đổi thay của kiếp n ười, để xem công danh, phú quý chỉ là phù du:

Thuyền chèo đ m n uyệt sông biếc Cây đến ngày xuân tốt tư i

Phú quý chẳng tham thanh tựa nước Lòng nào vạy vọ h i h i

(Ngôn chí 21)

Nguyễn Trãi dù đã có lúc cuộc đời gặp nhiều trắc trở nhưn với tất cả tấm lòng một đời “trí quân trạch dân”, khôn lúc nào n uôi kh t khao với cuộc đời Bởi thế, ánh nhìn của ông với thiên nhiên, cuộc sốn con n ười luôn là ánh nhìn vui tư i, tràn đầy nhựa sống Mùa xuân – mùa của khởi sinh được nhà th cảm nhận và tỏ bày nỗi lòng với tất cả niềm chứa chan với cuộc đời, tuy có những lắn sâu nhưn cũn khôn n uội lạnh niềm hăn say với thời cuộc

Nếu như tron th N uyễn Trãi ta luôn thấy hình ảnh của một mùa xuân tràn đầy sinh khí với con n ười luôn gắng sức không mệt mỏi “trí quân

Ngày đăng: 13/07/2021, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thích hước An (1992), “Thiền sư Huyền Quan và con đườn trầm lặn của mùa thu”, ă họ , số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền sư Huyền Quan và con đườn trầm lặn của mùa thu”, " ă họ
Tác giả: Thích hước An
Năm: 1992
2. Dư n N ọc Anh (2011), Chữ hò tro g th hiề thời đại Lý – r , Luận văn Thạc sĩ khoa học N ữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ hò tro g th hiề thời đại Lý – r
Tác giả: Dư n N ọc Anh
Năm: 2011
3. Đỗ Tùn B ch (1999), h hiề Đườ g ố g, Nxb Đồn Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: h hiề Đườ g ố g
Tác giả: Đỗ Tùn B ch
Nhà XB: Nxb Đồn Nai
Năm: 1999
4. Thích Minh Châu (2008), Hiểu và hà h há h pháp, Nxb Văn hóa sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu và hà h há h pháp
Tác giả: Thích Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa sài Gòn
Năm: 2008
5. J.Chevalier, A.Gheerbrant (2002), ừ điể biểu tư g vă h thế giới, Trườn viết văn N uyễn Du, Nxb Đà Nẵn Sách, tạp chí
Tiêu đề: ừ điể biểu tư g vă h thế giới
Tác giả: J.Chevalier, A.Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵn
Năm: 2002
6. Minh Chi (2003), “Vua Trần Nhân Tôn và ph i Trúc Lâm Y n Tử”, hiề họ đời r (t i bản), Nxb Tôn i o, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua Trần Nhân Tôn và ph i Trúc Lâm Y n Tử”, " hiề họ đời r
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: Nxb Tôn i o
Năm: 2003
7. Minh Chi (2003), “Th Huyền Quan ”, hiề họ đời r (t i bản), Nxb Tôn i o, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th Huyền Quan ”, " hiề họ đời r
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: Nxb Tôn i o
Năm: 2003
8. N uyễn Huệ Chi (1977), “Trần Tun – một ư n mặt lạ tron làn th thiền thời Lý - Trần”, Nghiê ứu vă họ , số 4, tr 116-135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Tun – một ư n mặt lạ tron làn th thiền thời Lý - Trần”, "Nghiê ứu vă họ
Tác giả: N uyễn Huệ Chi
Năm: 1977
9. N uyễn Huệ Chi (1978), “C c yếu tố Nho – hật – Đạo được tiếp thu và chuyển hóa như thế nào tron đời sốn tư tưởn và văn học thời Lý – Trần”, ă họ , số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C c yếu tố Nho – hật – Đạo được tiếp thu và chuyển hóa như thế nào tron đời sốn tư tưởn và văn học thời Lý – Trần”, " ă họ
Tác giả: N uyễn Huệ Chi
Năm: 1978
10. N uyễn Huệ Chi (1983), ấy vẻ mặt thi iệt N m, Nxb T c phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ấy vẻ mặt thi iệt N m
Tác giả: N uyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb T c phẩm mới
Năm: 1983
11. N uyễn Huệ Chi (1987), “Mãn Gi c và bài th nổi tiến của ôn ”, ă họ , số 5, tr 67-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mãn Gi c và bài th nổi tiến của ôn ”, " ă họ
Tác giả: N uyễn Huệ Chi
Năm: 1987
12. N uyễn hư n Chi (1982), “Huyền Quan – nhà th , thi sĩ”, ă họ , tr.75-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền Quan – nhà th , thi sĩ”, " ă họ
Tác giả: N uyễn hư n Chi
Năm: 1982
13. N uyễn Đình Chú (1999), “Vấn đề “n ã” và “phi n ã” tron văn học trun cận đại”, ă họ , số 5, tr 38-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề “n ã” và “phi n ã” tron văn học trun cận đại”, " ă họ
Tác giả: N uyễn Đình Chú
Năm: 1999
14. Thiều Chửu (2009), Há iệt tự điể , Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Há iệt tự điể
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2009
15. Đỗ Thanh Dư n (2003), r Nhâ g – Nhâ á h vă hoá ỗi ạ , Nxb Đại học Quốc ia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: r Nhâ g – Nhâ á h vă hoá ỗi ạ
Tác giả: Đỗ Thanh Dư n
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc ia Hà Nội
Năm: 2003
16. N uyễn Thế Đăn (2003), “Ý n hĩa tích cực của đời sốn tron c i nhìn của c c Thiền sư đời Trần”, hiề họ đời r (t i bản), Nxb Tôn i o, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý n hĩa tích cực của đời sốn tron c i nhìn của c c Thiền sư đời Trần”, " hiề họ đời r
Tác giả: N uyễn Thế Đăn
Nhà XB: Nxb Tôn i o
Năm: 2003
17. L B H n, Trần Đình Sử, N uyễn Khắc hi (đồn chủ bi n) (2006), ừ điể thuật gữ vă họ (t i bản), Nxb Gi o dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ừ điể thuật gữ vă họ
Tác giả: L B H n, Trần Đình Sử, N uyễn Khắc hi (đồn chủ bi n)
Nhà XB: Nxb Gi o dục
Năm: 2006
18. L Từ Hiển (2007), “Basho (1644 – 1694) và Huyền Quan (1254 – 1334) – Sự ặp ỡ với mùa thu hay sự tư n hợp về cảm thức thẩm mĩ”, H ikư – Ho thời gi , Nxb Gi o dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basho (1644 – 1694) và Huyền Quan (1254 – 1334) – Sự ặp ỡ với mùa thu hay sự tư n hợp về cảm thức thẩm mĩ”, "H ikư – Ho thời gi
Tác giả: L Từ Hiển
Nhà XB: Nxb Gi o dục
Năm: 2007
19. Đỗ Đức Hiểu (chủ bi n) (2004), ừ điể vă họ (bộ mới), Nxb Thế iới Sách, tạp chí
Tiêu đề: ừ điể vă họ
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu (chủ bi n)
Nhà XB: Nxb Thế iới
Năm: 2004
20. N uyễn Duy Hinh (1992), “ hật i o với văn học Việt Nam”, ă họ , số 4, tr 4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hật i o với văn học Việt Nam”, " ă họ
Tác giả: N uyễn Duy Hinh
Năm: 1992

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w