1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN văn học HÌNH ẢNH HOA TRONG THƠ THIỀN lý TRẦN

29 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 184 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, ngày càng hiện đại, cuộc sống bộn bề khiến con người luôn phải chạy đua với thời gian, với bao lo toan vất vả. Nhưng đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn họ luôn muốn hướng tới những điều tốt đẹp, thanh tao, hướng tới chân – thiện – mĩ. Những giây phút con người lắng lòng mình để nghe âm thanh của tiếng mưa đêm hay nghe thanh âm trong trẻo của tiếng chuông chùa vọng lại cũng là lúc họ tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn. Đôi lúc con người ấy lắng lòng mình với một ý thơ, một lời văn để trở về với cái tâm vô tư, trong sáng, hồn nhiên – cội nguồn của bản tính con người.

Trang 1

Mở đầu

Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, ngày càng hiện đại, cuộc sống bộnbề khiến con người luôn phải chạy đua với thời gian, với bao lo toan vất vả Nhưngđâu đó trong sâu thẳm tâm hồn họ luôn muốn hướng tới những điều tốt đẹp, thanhtao, hướng tới chân – thiện – mĩ Những giây phút con người lắng lòng mình đểnghe âm thanh của tiếng mưa đêm hay nghe thanh âm trong trẻo của tiếng chuôngchùa vọng lại cũng là lúc họ tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn Đôi lúc conngười ấy lắng lòng mình với một ý thơ, một lời văn để trở về với cái tâm vô tư,trong sáng, hồn nhiên – cội nguồn của bản tính con người Trở về với văn học, đặcbiệt là văn học trung đại, chúng ta sẽ bắt gặp một dòng thơ “tĩnh lặng” mà khôngkém phần sâu sắc – như đóa hoa sen dù sống trong đầm lầy vẫn vươn cao, tỏahương thơm ngát – đó là dòng thơ Thiền Lí – Trần

Thơ Thiền Lí – Trần

Thơ thiền Lý Trần ra đời dưới thời đại Lý Trần với sự ảnh hưởng mạnh mẽcủa Phật giáo Thời đại Lý Trần (1009 - 1440) là thời kì đỉnh cao trong lịch sử cáctriều đại phong kiến Việt Nam Thời Lý (1009 - 1225) bắt đầu từ khi Lý Công Uẩnlên ngôi vào tháng 10 năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ trong tay nhà tiền

Lê và kết thúc năm 1225 khi vua Lý Chiêu Hoàng, lúc đó mới có 8 tuổi bị ép thoái

vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tổng cộng là 216 năm Thời Trần (1225

- 1440) bắt đầu khi vua Thái Tông Trần Cảnh lên ngôi năm 1225 sau khi giànhđược quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới 5 tuổi bịép thoái vị để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quí Ly

Thời đại này đầy biến động đòi hỏi nhiều lần phải dùng đến vũ lực để đánh dẹpngoại xâm và nội loạn nhưng giá trị được dân tộc đề cao hơn hết là tinh thần nhânvăn nhân đạo từ bi mang đậm màu sắc Phật giáo Ngay từ triều Lý, Phật giáo đãcực kì hưng thịnh Các đời vua về sau tiếp tục tích cực ủng hộ việc chép kinh, đúcchuông, tạc tượng, xây chùa Phật giáo trở thành quốc đạo và phát triển tới mức

“nhân dân quá nửa là sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền” (Lê Văn Hưu– dẫn theo [1, tr 19])

Thời đại Lý Trần là thời đại phóng khoáng và hào sảng Tinh thần tam giáođồng nguyên cùng với tinh thần hòa quang đồng trần đã mở ra một thời kì văn hóa

Trang 2

rực rỡ trong lịch sử dân tộc Văn hóa Phật giáo tôn trọng tự do của con người.Trong không khí văn hóa ấy, con người mở ra bốn hướng với tâm hồn bao dungrộng lớn đầy sức sáng tạo Vì thế con người của nền văn hóa thiền là con người đadiện đa chiều, hiền minh, phóng khoáng Ba thế kỉ thời Lý Trần đã sản sinh ra chodân tộc biết bao tên tuổi lừng lẫy ở nhiều phương diện: giữ nước, dựng nước, vănchương học thuật và cả trong phương diện tâm linh.

Xét về mặt chức năng, thơ Thiền Lí – Trần bao gồm hai loại: loại là thơ đíchthực và loại là vốn là những bài kệ trình bày triết lí của Phật giáo nhưng do tínhchất giảng truyền đặc biệt của Thiền cũng như tính khoáng đạt của giáo lí Thiềntông và của nhà thơ Thiền, đã trở thành những bài thơ về tự nhiên và cuộc sống đầyhình ảnh, màu sắc, âm thanh Đó là những bài thơ của các tác giả là thiền sư hoặckhông phải là thiền sư nhưng hâm mộ Thiền, có nghiên cứu và hiểu biết về Thiền,sáng tác theo những nội dung sau:

- Trực tiếp giảng về yếu chỉ Thiền tông – đó là những bài kệ như Thị tịch(Ngộ Ấn), Cáo tật thị chúng (Mãn Giác)

- Gián tiếp thuyết giảng về yếu chỉ thiền tông (bằng hình ảnh trong thiênnhiên và cuộc sống hàng ngày với cách nói ẩn dụ, nghịch ngữ…) ví dụ nhưTham đồ hiển quyết (Viên Chiếu), Ngữ lục vấn đáp môn hạ (Trần TháiTông), Đối cơ (Tuệ Trung)…

- Bày tỏ cảm xúc mang ý vị Thiền trước cái đẹp của thiên nhiên, con người,cuộc sống; hoặc bày tỏ trạng thái tâm tư đã giác ngộ chân lí, miêu tả cái đẹp

vi diệu của thế giới bên trong con người, ví dụ như Ký Thanh Phong amtăng Đức Sơn (Trần Thái Tông), Độc Phật sự đại minh lục hữu cảm, Tựthuật (Trần Thánh Tông), Giới am ngâm (Trần Minh Tông), Tảo thu (HuyềnQuang)…

Xuất phát từ mục đích nguyên thủy của thơ Thiền là dùng để thể hiện sự ngộđạo và truyền đạo nên thơ Thiền Lí – Trần có tính chất triết lí, luận lí về nhữngquan điểm của nhà Phật, triết luận về vũ trụ và nhân sinh quan mang màu sắc và tưtưởng Thiền Với tính chất đó thơ Thiền chọn một hệ thống đề tài, chủ đề và nộidung phản ánh có tính riêng biệt – đó là sự quan tâm đến thiên nhiên, cuộc sống vàcon người bằng cảm quan Phật giáo Tất cả những đối tượng được nói đến đều

Trang 3

được soi rọi, nhìn nhận bằng giác quan nhà Phật mà độ đậm nhạt tùy theo từng tácgiả , từng giai đoạn và cũng tùy theo từng đối tượng được phản ánh.

Có thể nói chất triết lí và tư tưởng Phật giáo là đặc điểm nổi bật và có tính chất khubiệt thơ Thiền với các loại thơ khác Tính chất này thể hiện rõ nét trong những bàithơ trực tiếp lí giải các quan niệm thiền, các quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh bằng

tư tưởng thiền

Thiên nhiên trong thơ Thiền Lí – Trần

Như trên đã đề cập, thơ Thiền Lí – Trần chọn một hệ thống đề tài, chủ đề vànội dung phản ánh có tính riêng biệt – đó là sự quan tâm đến thiên nhiên, cuộc sốngvà con người bằng cảm quan Phật giáo Trong đó, nổi bật nhất là chủ đề về thiênnhiên Chính vì con người và vũ trụ có cùng bản ngã nên thiên nhiên trong vũ trụvới con người không có gì xa lạ mà rất gần gũi, thân thiết Trong thơ Thiền Lí -Trần, thiên nhiên không phải là đối tượng miêu tả mà nó là cái để các thiền sư, cácnhà thơ đạt đạo thể hiện cái tâm thanh tịnh của mình Qua thiên nhiên, toát lên vẻđẹp của chiều sâu tâm hồn của các nhà thơ Thiền Từ đó, giúp ta hiểu sâu hơn vềcuộc sống và con người đương thời

Thiên nhiên xuất hiện trong thơ Thiền Lí – Trần khá đậm đặc và chia làm hai xuhướng: mang ý nghĩa trực tiếp và mang ý nghĩa biểu tượng

a Thiên nhiên mang ý nghĩa trực tiếp

Đó là thiên nhiên sinh động, nên thơ, gợi cảm của con người đời thường,đồng thời cũng có chứa cảm hứng thiền, tâm trạng thiền, mang ý vị thiền dođược nhìn qua con mắt thiền gia

b Thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tượng

Thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tượng cho những quan niệm của triết lí thiềntông Đó là:

- Vạn vật và con người vốn cùng một bản thể, tức chân như

- Thế giới hiện tượng là hư ảo, vô thường, luôn vận động, biến đổi và tuântheo quy luật

- Trí tuệ bát nhã và chân tâm của người đạt đạo

- Sự lầm lạc của người đời

Trang 4

- Sự vận động biện chứng giữa hai đối cực: giả và thực, động và tĩnh, cáimong manh hữu hạn và cái trường cửu

Các bài thơ về thiên nhiên hầu như chiếm đa số trong thơ Thiền Lí – Trần.Với con mắt ngộ đạo của thiền sư và những người yêu mến đạo Phật thì thiên nhiênsinh động, nên thơ là nguồn cảm hứng bất tận cho họ Qua thiên nhiên, các thiền

sư –thi sĩ gửi lòng mình vào cõi thanh tịnh trong không gian của vũ trụ cao rộng, côtịch và luôn hiện hữu hằng thường Sự vật trong thiên nhiên dưới con mắt các thiền

sư vừa thực, vừa hư, vừa mang ý nghĩa trực tiếp, vừa mang ý nghĩa biểu tượng.Thiên nhiên trong thơ Thiền Lí – Trần xuất hiện với nhiều hình ảnh như trăng, hoa,chim, mây, núi…trong đó hoa là một trong những hình ảnh nổi bật Mỗi loài hoamang một ý nghĩa biểu tượng cho những quan niệm của triết lí thiền, cho cái hưtâm của con người đã giác ngộ, không vướng bận, không lo toan, hay nói cách kháclà con người đã đạt đạo Mỗi loài hoa còn gợi sự liên tưởng về cái vĩnh hằng củabản thể, của quy luật, về cái hữu hạn của thế giới hiện tượng Nó tạo thành một thếgiới hình tượng đa thanh với nhiều giao thoa của các âm hưởng, các phương tiệncảm xúc nhưng đều nhất quán thể hiện một triết lí của thiền tông: lấy cái “không”làm nền tảng Chính nhờ trống không mà thâu tóm được tất cả và không sợ mất cáigì, hòa điệu với bản thể vũ trụ, đạt được cái vui vĩnh hằng ở thế giới đời thường vàcon người luôn luôn tìm về với tự tính, bản thể của chính mình, đó mới là chân tâm,đó mới là giác ngộ

Hình ảnh hoa trong thơ Thiền Lí – Trần

1 Hoa sen

Người dân Ấn Độ nghiêng về nhìn hoa sen dưới cái đẹp của năng lực huyềnbí Người Trung Quốc lại nghiêng về thưởng thức vẻ đẹp thanh thoát ở sen Trongkhi đó, người dân Việt Nam lại nhìn hoa sen trong sự dung hợp, hoa sen vừa đẹptrong vẻ đơn sơ, gắn với cuộc sống nơi đồng quê, nhưng hoa sen cũng là cái đẹpcủa một tinh thần tôi luyện (vượt lên trên sự nhiễm ố của bùn lầy) Thơ thiền Lý-

Trần thường nhắc về hình ảnh “đóa sen trong lò lửa” cũng là vì vậy.

Bước vào nền mỹ thật dân tộc, ta có thể bắt gặp hoa sen xuất hiện dày đặctrên các phù điêu, đá tảng kê chân cột, bệ tượng Phật trong chùa, trên các họa tiết

Trang 5

trang trí, đặc biệt là trong kiến trúc chùa tháp Hoa sen trở thành biểu tượng ẩn chứachiều sâu tâm thức tín ngưỡng người dân

“Giấc mộng hoa sen, giáng sinh Thiên tử”, đã trở thành truyền thuyết thi vị

về nguồn gốc xuất thân kỳ diệu của vua Lê Đại Hành Đại Việt sử ký toàn thư, cónói đến việc một hôm mẹ vua mộng thấy hoa sen nở trong bụng mà có thai rồi sinh

ra vua Đến triều Lý, hoa sen một lần nữa lại xuất hiện trong giấc mộng của vua LýThái Tông để rồi một một kiến tạo vô giá, là chùa Một Cột đã được ra đời

Trở lại với biểu tượng hoa sen trong thơ thiền Lý-Trần - biểu tượng mang

tính đa nghĩa: hoa sen - biểu tượng của bản thể (vẻ đẹp thanh thoát, đơn sơ, gần

gũi), và hoa sen – biểu tượng quá trình tu chứng, có thể lý giải điều này dưới cái

nhìn nguồn gốc văn hóa dân tộc như dưới đây

Với nền văn minh lúa nước, con người Việt Nam vốn giữ cho mình bản tínhhiền hòa, sống theo thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên Trong con mắt của họ, thiênnhiên mang một vẻ đẹp hồn hậu, gần gũi Ưa màu sắc thanh đạm, thanh âm hài hòa,thích cái đẹp giản dị.… đó là nét thẩm mỹ riêng của con người Việt Nam Nhữngtâm hồn bình dị ấy, trước vẻ đẹp đơn sơ, thanh thoát của một đóa sen thường saysưa chiêm ngưỡng hơn là thích triết lý Là người Việt Nam, chắc hẳn, không ai lạikhông biết đến, hoặc ít nhất một lần ngâm ngợi những câu ca dao giản dị thế này:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Hoa sen thường gắn với khung cảnh sinh hoạt nơi bến nước – sân đình, mộttrong những nét văn hóa làng – xã Việt Nam Với cái nhìn trong trẻo, đôi khi đầy dídỏm của người dân, hoa sen còn là nhịp cầu nối duyên đôi lứa:

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen

Âm hưởng truyền thống ấy không hề mất đi theo thời gian, mà một lần nữa,chúng được tái hiện lại trong cái nhìn của các thiền sư - thi sĩ Lý - Trần Đó là vẻ

đẹp của “sen đỏ mùa hoa nghe nước thơm” trong thơ Trần Thái Tông, là “Nhị sen

đỏ thơm, chẳng nhuốm bùn” trong lời ngợi ca của Tuệ Trung, hay cái đẹp toàn chân

Trang 6

của đóa sen Bát Nhã hiện lên trong thơ Lý Thái Tông “Sen Bát Nhã ngát hương thơm” Dù để ngụ ý triết lý bản thể, nhưng trong cái nhìn của các tác giả trên vẫn

vang vọng hơi thở của những lời ca dao, dân ca

Bên cạnh vẻ đẹp bản thể, hoa sen trong thơ thiền Lý – Trần còn được nhìn

trong quá trình tu chứng, viên thành Sen ẩn chứa vẻ đẹp của nghị lực, vừa mang

niềm vui của sự vượt thoát Đây chính là nét độc đáo riêng của thơ thiền Lý-Trần

khi cảm nghiệm vẻ đẹp của sen Trong cảm nghiệm của các thiền sư thời Lý-Trần,hình ảnh hoa sen thường nghiêng về vẻ đẹp kín đáo, vẻ đẹp được rèn giũa trong thửthách Ở hoa sen, ta bắt gặp một nguồn nội lực bất diệt, rất gần với con người Việtvà dân tộc Việt luôn phải đấu tranh cho sự tồn tại và khẳng định chính mình.)

Trong văn học Lý – Trần, đặc biệt là trong mảng thơ thiền, hoa sen là biểu

tượng cho trí tuệ bát nhã và chân tâm của người đạt đạo, cho cái gì hằng thường, bất diệt, vượt lên trên luật sinh diệt của cõi trần Hình ảnh hoa sen trong

lò lửa là biểu tượng cho cái chân tâm vĩnh hằng, trường tồn Đóa hoa sen là cáitượng trưng cho phẩm chất thanh khiết, bất diệt Lò lửa là cái lò của tạo hóa nhàonặn, sản sinh ra vạn vật, con người với lẽ sinh hóa Người tu hành nhờ giác ngộ nêndù thân xác có bị hủy diệt nhưng chân tâm không bao giờ mất đi, vẫn mãi mãi vớithời gian, chẳng khác nào đóa hoa sen trong lò thiêu đốt nó vẫn nở tươi thơm ngát.Đóa hoa ấy không có lửa nào thiêu hủy được kể cả cái thứ lửa đáng sợ nhất là lửatam muội (tham, sân, si) Ngộ Ấn đời Lý đã viết hai câu thơ thật ý nghĩa:

Ngọc phần sơn thượng sắc trường nhuận Liên phát lô trung thấp vị can

(Phật tâm ca)

(Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền

Trang 7

Trong lửa lò hồng một đóa sen)

Hay:

Tu tri thế hữu nhân trung Phật Hữu quái lô khai hỏa lí liên (Nên biết trong đời sinh đức Phật

Lạ chi giữa lửa nở sen vàng)

(Trình thiền sư Tiêu Dao ở Phúc Đường)Những biến chuyển cuộc đời, sự vận hành các pháp diễn ra trước mắt khônghề làm Tuệ Trung mảy may xao động Không phải ngồi nơi am mây tọa thiền mớithật sự là tu, là thiền Với Tuệ Trung, “đi” cũng có thể thiền được, “ngồi” cũng có

thể thiền được miễn sao giữ cho tâm mình thanh tịnh trong sáng như “một đóa sen trong lò lửa đỏ” Nhà sư muốn khuyên chúng ta đừng nên câu chấp vào hình thức

bên ngoài, hãy chú trọng đến cái bản chất, cái tự tính bên trong của mỗi con người.Chúng ta hẳn còn nhớ câu chuyện của một tên cướp với một nhà tu hành đang trênđường tìm Đức Phật Tên cướp đã mổ bụng mình gửi “tấm lòng thành” cho nhà sưđem đến cho Đức Phật, nhưng giữa đường vì không chịu nổi mùi hôi thối và chorằng hắn là cướp thì làm sao thành Phật được, nhà sư đã vứt bỏ nó Cuối cùng têncướp đã đạt thành chánh quả, còn nhà sư kia mãi vẫn không được thành Phật Nhưvậy, dù là ai, làm việc gì, miễn có tấm lòng thành, giữ được tự tính của mình, đừngquá câu chấp vào cái “có – không”, “mê – ngộ” thì cũng có thể đạt đạo Và đạo thìcũng không cần phải tìm kiếm đâu xa, nó ở ngay trong chính mỗi con người

Có thể thấy, hình ảnh hoa sen xuất hiện với tần số khá cao trong thơ thiền Lý– Trần Trong số 39 bài thơ thiền có sự góp mặt của hình ảnh hoa được khảo sát,hoa sen xuất hiện tới hơn 10 lần Có khi đó là đóa sen bát nhã ngát thơm:

Hạo hạo Lăng Già nguyệt Phân phân bát nhã liên

Hà thì lâm lâm diện kiến Tương dữ thoại trùng huyền (Trăng Lăng Già vằng vặc Sen bát nhã ngạt ngào Bao giờ được gặp mặt

Trang 8

Cùng nhau giảng lẽ huyền)

(Truy tán Pháp Vân tự Tỳ Ni Đa Lưu Chi Thiền sư - Lý Thái Tôn)khi là bông sen lặng lẽ đưa hương:

Yểu điệu hoa đường trú ảnh trường,

Hà hoa xuy khởi bắc phong lương.

Viên lâm vũ quá lục thành ác, Tam lưỡng thiền thanh náo tịch dương.

(Hạ cảnh – Trần Thánh Tông)

(Nhà hoa thăm thẳm, bóng ngày rủ dài, Hoa sen đưa hương mát đến cửa sổ phía Bắc.

Vườn rừng sau mưa trở thành tấm màn biếc, Vài ba tiếng ve khua rộn bóng chiều.)

Có lúc lại là đóa sen thanh khiết “không nhuốm bùn”:

Thu quang hắc bạch tùy duyên sắc, Liên nhị hồng hương bất trước nê.

(Ánh thu tùy duyên mà lúc đen lúc trắng, Nhị sen đỏ thơm không nhuốm bùn).

(Thị chúng – Tuệ Trung)Lý tưởng thiết tha của Thiền tông là nở đóa sen vàng trong lò lửa Đời đốivới họ chỉ là cái lò lửa thiêu đốt con người, là địa ngục trần gian của con người.Nếu giác ngộ thì sẽ là đóa hoa tươi trong cái lò ấy, là đóa sen vàng, lửa không làmhủy hoại được:

Sắc thân dữ diệu thể

Bất hợp bất phân lyNhược nhân yếu phân biệt

Lô trung hoa nhất chi

(Thân mầu và thể nhiệm Không hợp chẳng chia phôi Nếu ai muốn tách bạch

Lò lửa bông hoa cười)

Thị tật – Đạo Huệ thiền sư

Trang 9

Rõ ràng, con người đã vượt qua được cái ranh giới của tư duy logic thôngthường để đạt đến trí tuệ bát nhã, thứ trí tuệ siêu việt được soi chiếu bằng ánh sángtâm linh Thứ trí tuệ vượt lên khoảng không của sự tự do tuyệt đối, sáng suốt tuyệtđối.

Trong thơ Thiền Đường - Tống, hình ảnh hoa sen cũng mang ý nghĩa bản

thể, tượng trưng cho cái gì đó hằng thường, bất diệt:

Liên hoa hà diệp cộng trì trung Hoa diệp niên niên lục gian hồng Xuân thủy liên y thanh triệt để Nhất thinh đề điểu ngũ canh phong

Trương Vô Tận cư sĩ

(Hoa sen, hoa và lá của nó đều ở trong ao nước Quanh năm nó không thay đổi: lá vẫn xanh, hoa vẫn đỏ.

Nước ao mùa xuân gợn sóng và trong suốt thấy đáy Một tiếng chim hót báo canh năm rồi(trời sáng rồi))

Hoa sen, ở đây, còn tượng trưng cho cái chân tâm của người đạt đạo Trở vềvới bản thể, với tự tính, thoát ra khỏi những đua chen, danh lợi đời thường, giữ chocái tâm thanh tịnh, trống không chính là con đường “đạt đạo”:

Nê thủy vị phân hồng hạm đảm Vũ dư tiên thấu bích ba hương Thiên ban ý lộ chung nan hội Nhất trước quy căn tiện tư đương

Phật Đăng Tuần thiền sư

(Lúc bùn nước chưa phân thì tính chất của hoa sen đã được xác định: hoa sen đỏ

Đợi nước mưa thúc phát thì hoa sen mới trồi lên khỏi mặt nước tỏa hương thơm thanh khiết lan xa

Nếu trên ý thức khởi lên muôn ngàn thứ thì rốt cuộc khó mà thể hội

(Chỉ cần) một phen trở về nguồn liền khai ngộ)

2 Hoa mai

Trang 10

Cũng như Sen, Mai bước vào trong thơ thiền Lý – Trần với vẻ đẹp thanh

nhã, cao quý, vẻ đẹp của tự tính, bản thể:

Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,San hô trầm ảnh hải lân phù

Cá tam đông bạch chi tiền diện,Tá nhất biện hương xuân thượng đầu

Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,Dạ quang như thủy khát cầm sầu

Hằng Nga nhược thức hoa giai xứQuế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu!

(Năm cánh hoa tròn nhị điểm vàng, [Như] bóng san hô chìm, [như] vảy cá biển nổi.

Cành hoa trắng xóa suốt trong ba tháng đông, Sang đầu xuân chỉ còn loáng thoáng một vài cánh thơm nhẹ Móc ngọt chảy mùi thơm làm chú bướm si ngây tỉnh giấc, Ánh sáng ban đêm như nước khiến con chim khát buồn rầu Nếu Hằng Nga biết được vẻ đẹp thanh nhã của hoa mai, Thì có ưa gì cây quế với cung thiềm lạnh lẽo.)

Tảo mai 1 – Trần Nhân Tông

Hoa mai nở là dấu hiệu của sự luân chuyển thời gian, sự tuần hoàn của

đất trời:

Sương dung tẩy hạ, hà phương trạmPhong sắc lai xuân, mai dĩ hoa

Thái thế hư huyễn – Tuệ Trung

(Vẻ sương tắm hạ, sen mới đơm bông Sắc gió vời xuân đến, mai đã nở hoa)

Cây mai trong sân chùa ở làng quê Việt Nam được xem là hình ảnh quantrọng trong thơ thiền thời đại Lý - Trần Trong tuệ giác của các bậc thánh nhân,hình ảnh cây mai sống trong sương mai nắng chiều, sống qua bốn mùa xuân, hạ,

thu, đông mà nở hoa đó là năng lực sống nhiệm mầu Chính vì vậy, nó xứng đáng

là biểu tượng cho trạng thái thân tâm vô nhiễm trong cuộc đời này Thiền sư Mãn

Trang 11

Giác làm bài thơ “Cáo tật thị chúng” với hình ảnh cây mai vàng đã gửi gắm tinh

thần siêu việt tiềm ẩn trong khả năng của con người Đó là năng lực sống tự chủ vàtrí tuệ Trí tuệ ấy là tầm nhìn tổng quát trong mọi hoàn cảnh thăng trầm của cuộcsống, vượt qua mọi ràng buộc ước lệ thời gian và không gian trong thế giới hiệntượng:

Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá

Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Xuân đi trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa cười Trước mắt việc đi mãi Trên đầu, già đến rồi Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua – sân trước – một cành mai)

Có thể thấy, nổi bật trong hai câu kết, và trong cả bài thơ, là hình ảnh nhànhmai thanh thản rung rinh trước gió Mai là một trong tứ quý của người xưa Mai thểhiện sức sống mãnh liệt, thể hiện sự cao quý và thanh khiết Trong bài kệ này, cành

mai là biểu hiện cho cái chân tâm của người đạt đạo, an nhiên tự tại vượt lên

trên sinh diệt, là niềm tin vào sự sống vẫn không ngừng sinh sôi nảy nở đến bất tận dù cuộc sống có hạn định, là biểu tượng cho những giá trị đẹp đẽ tồn tại vĩnh hằng mãi mãi “Nhất chi mai” thể hiện sự bất diệt và vẻ đẹp tâm linh theo

quan niệm Phật giáo Vượt trên mọi bể dâu, biến đổi của cuộc đời cành mai kia vẫnkiêu hãnh tươi thắm Tính biểu tượng của nhành mai, vì thế, mà cũng trở nên đậmnét hơn Xưa nay, thơ viết về mai có nhiều (Lục Du đời Tống có hơn một trăm bài,

“Vịnh mai thi tập cẩm” có hơn 290 bài…), Cao Bá Quát cũng có câu thơ rất nổi

tiếng “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” nhưng có lẽ chỉ ở Mãn Giác thiền sư chất

thiền mới thấm nhuần trong nhành mai một cách đậm đà đến thế Hai câu thơ nămchữ như một bước rẽ ngoặt bứt khỏi nhịp đều đặn tuần hoàn của bốn câu thơ năm

Trang 12

chữ Thiền sư đang có bệnh, sớm hay muộn gì rồi thân sẽ diệt đi nhưng cái tâmthiền an lạc, tấm gương sống tốt đời, đẹp đạo truyền lại cho đời sau thì mãi mãitươi thắm như cành mai vĩnh cửu Hai câu thơ toát lên sự tự do tuyệt đỉnh, tự do vớichính cả cái chết của con người đã giác ngộ được quy luật cuộc sống và hiểu rõ giátrị đời sống.

Lời nhắn nhủ của thiền sư mang theo tinh thần lạc quan của Thiền phái Vôngôn, như là một chứng nghiệm về con đường giải thoát, với niềm tin tưởng vào sựsống trường cửu Từ cách diễn đạt theo ý niệm thông thường về “bách hoa lạc” đến

“bách hoa khai”, tới cách diễn đạt ý niệm Thiền từ “hoa lạc tận” đến “nhất chi mai”là sự vận động đầy lạc quan của tư tưởng Thiền tông Cái thản nhiên tự tại trước lẽsinh diệt để đúc kết thành tinh hoa Phật pháp trong cành - mai tinh - thần đã chothấy nhà thơ không bận lòng vì lẽ sinh - diệt trước lúc thị tịch Nét độc đáo của hìnhtượng nhất chi mai này chính là thể hiện quan niệm Thiền phái Vô Ngôn Thông:

“Tất cả các pháp – Đều từ tâm sinh” Điều quan trọng nhất để đạt đến cõi Niết Bànchính là xuất phát từ tâm của con người không vọng động trước mọi biến chuyển.Một nhành mai hiện hữu trong đêm trước, hiện hữu ngay trong bóng tối – vô minhcũng chính là nhành mai bất tử trong tâm tưởng về sự sống vĩnh hằng Hiểu điều đócũng chính là lúc con người đạt đến “vô úy”, đối diện với cái vô thường, hư huyễncủa cuộc đời Đó là con đường giải thoát xuất phát từ tâm thường nhiên, vượt quasự chi phối của thời gian, không gian, để đi đến cảnh giới của thật sự “đốn ngộ”

Cũng như thiền sư Mãn Giác, thiền sư Huyền Quang nhìn nhận thế giớixung quanh không chỉ đơn thuần là một phản ánh mà nhìn sâu vào bản chất của sựvật trong những tương quan của nó Với người đời, hoa mai chỉ là hoa mai, biểutượng cho sự thanh cao Huyền Quang miêu tả mai hoa trong sự tương phản vớicảnh sắc quanh nó:

Dục hướng thương thương vấn sở tòng, Lẫm nhiên cô trĩ tuyết sơn trung.

Chiết lai bất vị già thanh nhãn, Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông

Mai hoa tác

(Muốn hỏi trời xanh: hoa tự đâu,

Trang 13

Một mình gội tuyết chốn non sâu.

Bẻ về, đâu muốn lừa tri kỷ, Chỉ mượn tinh hoa giải bệnh sầu)

Huyền Quang khắc họa sự tương phản giữa cây mai và bối cảnh xungquanh Hoa mai mỏng manh là thế nhưng lại đứng lẫm liệt một mình giữa núi tuyết

cô đơn và lạnh giá Giữa núi tuyết khô lạnh, khắc nghiệt, cây hoa mai vẫn tồn tại,hơn nữa còn đứng một cách lẫm liệt và đơm hoa, tỏa hương thanh khiết Đó là cái

đức quý báu của hoa mai, cũng có thể ẩn dụ cho cái đức thanh cao của con người

giữa muôn trùng khắc nghiệt của đời sống Cái cô đơn của hoa mai trên đỉnh núi

tuyết không phải là cái cô đơn thường tình của thế gian, không phải là cái cô đơnthường đi cùng với khổ đau, thất vọng Niềm cô đơn của hoa mai trên núi tuyết vàHuyền Quang trên đỉnh mây (Vân Yên) là niềm cô đơn mà thế gian không hiểu nổi

Ở đây, cô đơn không phải là ngục tù của một con người riêng lẻ mà là sự cô đơnvới vũ trụ Đó là niềm cô đơn của con người biết sống một mình Nói cách khác,niềm cô đơn ấy là sự dừng lại những dục vọng và thấu thị những huyền diệu của vũtrụ Dung nhan rạng rỡ của hoa mai khi tiết xuân về, cảm giác bay lượn với mâyvới núi mà Huyền Quang trải nghiệm trên đỉnh mây là một vài trong vô số nhữnghuyền diệu ấy

Trong văn hóa Trung Quốc, hoa mai được coi là quốc hoa Tính chịu đựngsương gió lạnh lẽo giúp nó trổ hoa chính là tượng trưng cho tinh thần và khí tiết củangười Trung Quốc Hoa mai được các nhà thơ khen tặng là đứng đầu trăm hoa:

Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển

Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn

Lâm Hòa Tĩnh

(Bóng thưa của hoa nằm ngang giữa làn nước trong ở nơi cạn Hương thầm của hoa làm lung lay bóng nguyệt lúc hoàng hôn)

Trang 14

(Những cánh hoa mai rơi lả tả mới ngỡ rằng trăng rải ánh vàng trên cây

Nhà thơ như hòa làm một với hoa mai lúc hoàng hôn)

Đối với các cao tăng kiến đạo thì hoa cỏ không những làm người vui mà còngửi gắm tình cảm ẩn chứa đạo lí Bài thơ “Cổ mai” của một nhà sư đời Đường đãnói lên cái tiết tháo của những bậc hiền nhân quân tử giữa những cơn biến động củacuộc đời:

Hỏa ngược phong thao thủy tứ cănSương thuân tuyết trựu cổ đài ngânĐông phong vị khẳng tùy hàn thửHựu nguyệt thanh hương dữ phản hồn

(Lửa táp gió lùa lại nước ngâm Sương như búa, tuyết như cưa khắc dấu hằn Gió đông lạnh buốt dù chưa đến

Song vẫn đâm chồi tỏa ngát hương)

Như vậy, hoa mai, trong cảm thức của những bậc thiền sư Đường Tống,

tượng trưng cho khí tiết thanh cao của những hiền nhân quân tử giữa những biến động của cuộc đời.

Đối với Vương Duy – nhà thơ nổi tiếng của những bài thơ mang đậm ý vị

Thiền đời Đường – hoa mai còn biểu đạt cho nỗi niềm thương nhớ quê hương.

Trong Tạp thi, nhà thơ đã viết:

Quân tự cố hương laiƯng tri cố hương sự

Lai nhật ỷ song tiềnHàn mai trước vi hoa

(Anh từ quê cũ tới Chắc biết tình hình quê nhà Trước cửa sổ chắn màn the ngày anh tới Cây hàn mai đã nở hoa chưa?)

Trong thơ của Mỗ Ni (đời Tống), hoa mai là biểu tượng cho sự giác ngộ

Phật pháp của con người:

Ngày đăng: 31/07/2021, 14:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w