1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN văn học KHÔNG GIAN và THỜI GIAN SIÊU HIỆN THỰC TRONG THƠ THIỀN lý TRẦN

12 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 83,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc sống ngày càng hiện đại, con người dường như cứ mãi quẩn quanh giữa những bộn bề, tất bật để thỏa mãn những nhu cầu của cuộc sống ấy. Họ dần đánh mất mình, lạc vào cái mê cung của những toan tính, âu lo trước vòng quay của cuộc đời đầy những rủi ro và bất an. Thế nhưng, khi vô tình đứng trước những dòng thơ Thiền bình dị, lắng nghe một thanh âm trong trẻo của tiếng chuông chùa vọng lại, của tiếng mưa rơi trong đêm, thả hồn trước một đóa hoa, trước khí trời ấm áp khi xuân về, êm đềm trên con thuyền giữa trời nước mênh mông…hẳn mỗi người chúng ta sẽ tìm được cho mình những phút giây tĩnh lặng, những phút giây được trở về với chính mình, lắng nghe “mình” được nhiều nhất, hiểu được mình hơn. Và để biết rằng, mình vẫn đang tồn tại…

Trang 1

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN SIÊU HIỆN THỰC

TRONG THƠ THIỀN LÝ – TRẦN Cuộc sống ngày càng hiện đại, con người dường như cứ mãi quẩn quanh giữa những bộn bề, tất bật để thỏa mãn những nhu cầu của cuộc sống ấy Họ dần đánh mất mình, lạc vào cái mê cung của những toan tính, âu lo trước vòng quay của cuộc đời đầy những rủi ro và bất an Thế nhưng, khi vô tình đứng trước những dòng thơ Thiền bình dị, lắng nghe một thanh âm trong trẻo của tiếng chuông chùa vọng lại, của tiếng mưa rơi trong đêm, thả hồn trước một đóa hoa, trước khí trời ấm

áp khi xuân về, êm đềm trên con thuyền giữa trời nước mênh mông… hẳn mỗi người chúng ta sẽ tìm được cho mình những phút giây tĩnh lặng, những phút giây được trở về với chính mình, lắng nghe “mình” được nhiều nhất, hiểu được mình hơn Và để biết rằng, mình vẫn đang tồn tại…

Lão Tử từng nói “Biết người khác là minh triết Biết chính mình là Giác ngộ” Vậy khi đứng trước những dòng thơ Thiền bình dị ấy, có

mấy ai minh triết để hiểu được, “ngộ” ra được những gì mà các thiền

sư – thi sĩ đã trải lòng trước một đêm thu lạnh, trước một buổi chiều cuối xuân hay trước một đóa hoa mai nở muộn, một nén nhang tàn? Thật khó để nắm bắt được những giây phút thăng hoa tinh thần trong trẻo và hồn nhiên nhất của thi sĩ Thiền khi được giải thoát khỏi mọi ràng buộc của những trăn trở, âu lo, cũng như những giây phút mà các thiền sư – thi sĩ đã thấu triệt chân lí, trở về với bản ngã chân như, trở về với tự tính hồn nhiên chân thật

Trang 2

Soi chiếu qua lăng kính chủ quan, người viết không dám nói nhiều

về thơ Thiền Lý– Trần – dòng thơ được nhiều người say mê, nhiều người quan tâm, nghiên cứu nhưng cũng rất khó để cảm nhận và thấu hiểu đến tận cùng - chỉ dám thể hiện trên câu chữ những gì mà mình tâm đắc nhất

Xuất phát từ tính chất của Thiền là cái trống không, bình đạm, không mùi vị, trong lặng, không có sự say đắm ngọt ngào, thiết tha, nồng cháy, nên không gian nghệ thuật trong thơ Thiền Lý – Trần thường là một không gian bao la, khoáng đạt, trong trẻo và lặng lẽ Không gian này cũng chính là thế giới tâm linh của chính con người – thiền gia Khác với không gian, thời gian nghệ thuật lại có sự vận động biện chứng giữa cái vô thường và cái hằng thường, giữa khoảnh khắc

và trường cửu

Bên cạnh đó, còn có một không gian và thời gian siêu hiện thực Không gian, thời gian này không xa xôi hư ảo mà cũng ở ngay trong thực tại Con người sẽ tiếp cận với nó, ở trong nó khi giác ngộ chân lý Khi ấy, phạm trù của cái phàm tục, tương đối chuyển sang phạm trù của cái vĩnh hằng, tuyệt đối Đó chính là Niết bàn nơi trần thế Tất cả những điều này cho thấy rõ quan điểm duy tâm hay duy thức của Phật giáo nói chung trong đó có Thiền tông – “vạn pháp duy thức” "Vạn pháp duy thức", chữ “thức” trong từ “Duy thức” là "Nhất thiết chủng" cũng gọi là "Tàng thức", cũng gọi là "Dị thục thức" Thức này chứa đựng hết thảy chủng tử hạt nhân của vạn vật hiện tượng, chứa đựng hết thảy khái niệm, nhận thức và tư duy của các loại hữu tình

Trang 3

Hạt nhân của vạn vật hiện tượng tuy nhiều tựu trung gồm trong ba loại: khoáng vật, thực vật và động vật Qua cái nhìn của nhà Phật học thì "Nhất thiết chủng thức" chứa đựng bảy thứ có tánh chất phổ biến là: Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại, Không đại, Kiến đại và Thức đại Từ những chất liệu hạt nhân đó, chuyển biến sinh hóa, tác động tương quan qua lại với nhau mà hình thành sự vật hiện tượng vạn pháp

Hạt nhân của vạn pháp vẫn chưa phải là nguyên tố duy nhất khởi đầu để sinh ra vạn vật hiện tượng mà hạt nhân của vạn pháp phải tác động qua lại với nhau mới phát triển, mới tiến hóa hình thành vạn vật hiện tượng Điều đó cắt nghĩa cho ta thấy rõ ràng sự biến hóa của Duy Thức và giáo lý Duyên Sinh của đạo Phật là chân lý hiển nhiên Hiện tượng vạn vật vô tri gọi là sở biến, khái niệm nhận thức tư duy được gọi là năng biến Năng biến, sở biến đều là sản phẩm cơ bản, sản phẩm hạt nhân hiện hữu một cách tự nhiên của Nhất thiết chủng thức Sự hiện hữu này, Duy Thức Học gọi là "Bất khả tri"!

Nhưng điều đáng quan tâm ở đây là quan điểm triết học này là nguồn gốc của một thế giới nghệ thuật hết sức độc đáo và phong phú, trong đó có hình tượng không gian, thời gian nghệ thuật siêu hiện thực, góp phần đạt tới một hiệu quả thẩm mĩ cao cho thơ Thiền Lý – Trần Đối với người cầu đạo, mục đích cuối cùng chính là cõi Bồ đề -một thế giới bao la, mênh mông, bát ngát, trong suốt, tĩnh lặng – thế giới mà con người ao ước đặt chân đến:

“Hà sa cảnh thị Bồ đề cảnh Nghĩ hướng Bồ đề cách vạn tầm”

(Đạo Hạnh)

Trang 4

(Khắp những thế giới nhiều như cát sông Hằng đều là đạo của Phật

Thế mà lại tưởng rằng đến cõi Phật còn phải mất hàng vạn tầm) Đạt đến cõi Niết bàn là đạt đạo, là đạt đến cõi chân tu Thế nhưng, trong thơ Thiền Lý – Trần, thế giới niết bàn – không gian của sự đốn ngộ - không phải ở một nơi nào đó xa xôi, ngoài thế giới hiện thực mà

ở ngay trong chính thế giới hiện thực Chỉ cần phá bỏ được mê lầm, những yếu tố vọng kiến với cái nhìn nhị nguyên phân biệt thì thế giới

Bồ đề, Cõi niết bàn ở ngay trước mắt chúng ta, mở rộng cửa cho ta bước vào, không cần phải tìm đâu xa xôi

Cõi niết bàn có thể coi là một không gian siêu hiện thực trong thơ Thiền Lý –Trần Khi con người không còn bị cầm tù trong vòng dây của sự đau khổ, lo sợ, nuối tiếc và những được – mất, thắng – thua… Khi con người hiểu rõ quy luật sinh –trụ - diệt của thế giới tự nhiên và sinh-lão-bệnh-tử của đời người, khi tâm tư con người trở về với sự hồn nhiên, chân thật, thanh thản thì giây phút đốn ngộ sẽ tự đến, con người

sẽ giác ngộ tức thời chân lí và sẽ đạt đến cõi Niết bàn:

“Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

Lộ trích thu đình dạ khí hư Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”

(Nguyệt – Trần Nhân Tông) (Nửa khung cửa sổ ánh đèn, đầy giường sách Móc rơi trên sân mùa thu, hơi đêm trống không Thức giấc tiếng chày đập vải không còn nghe thấy

Trên hoa mộc tê, ánh trăng mới đến) Bài thơ mở đầu bằng không gian hẹp - không gian của đời sống thường nhật từ đó mở rộng ra không gian vũ trụ Một đêm thu lặng có

Trang 5

thể nghe được tiếng sương rơi Cái động nhờ cái tĩnh mà sinh ra Ngược lại cái động nhờ cái tĩnh mà hiện hữu, không gian tĩnh mịch vắng lặng được nhận thức bởi tiếng sương rơi ngoài sân thu Cái tâm của nhà thơ phải bình lặng lắm, hồn nhiên lắm mới có thể lắng nghe được bước chuyển mình của thiên nhiên, vạn vật

Có thể nói không gian của bài thơ là không gian đặc trưng của thơ Thiền, một không gian bao la, khoáng đạt, trong trẽo và tĩnh lặng Tất

cả điều đó càng làm tăng cảm giác về sự bao la vô hạn của không gian Đặc biệt là cái cảm giác về sự trống không, hư không Nó biểu trưng cho cái "Không" của Thiền Tâm Thiền là cái trống không, bình đạm, trong trẻo và lặng lẽ Đây là không gian được lọc qua con mắt Thiền,

là ngoại cảnh nhưng cũng là tâm cảnh

Không gian của bài thơ này được bao trùm bởi trạng thái "hư" trống không - trạng thái tương thông giữa tâm Thiền tĩnh tại an nhiên với cái trống không của bản thể vũ trụ Trong bài thơ này thi nhân - Thiền nhân tỉnh dậy, "thụy", không phải bởi sự chi phối của những âm thanh thế tục mà đó là cái tỉnh giấc tự nhiên - sự ngộ lẽ Thiền

Thế nên thi nhân mới cảm nhận được ánh sáng của vầng trăng ngộ đạo tỏa chiếu trên đóa mộc tê Bài thơ thể hiện cảm hứng Thiền qua những hình ảnh thiên nhiên rất đỗi bình dị: trên nền không gian hư tịch ánh trăng nhẹ đến trên đóa mộc tê - Một chi tiết nhỏ, rất bình thường của đời sống tự nhiên bổng trở nên huyền diệu, bừng lên ánh sáng của Thiền

Trước thiên nhiên tươi đẹp, Thiền nhân chỉ "cảm" mà không trực tiếp

"giãi bày" bằng lời Con người Thiền thường "vô ngôn" trước cảnh sắc

Trang 6

ngoại giới Lời nói hữu hạn không thể nào diễn tả được hết cái biến thiên, cái hằng thường Cái Hữu của lời nói không thể nào chiếm lĩnh cái Vô, cái Không tuyệt đối mang tính vĩnh hằng của Bản thể

Không gian, thời gian hiện thực nhường chỗ cho một không gian, thời gian siêu thực Cái vô thường lùi sang một thế giới khác nhường chỗ cho chân lí hằng thường Vạn vật xung quanh: ánh đèn bên khung cửa

sổ, tiếng sương rơi, hơi lạnh, tiếng chày đập vải như lùi lại, mờ dần,

mờ dần, tan chảy, nhường chỗ cho sắc trắng của trăng – “Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ” Ánh sáng của trăng lồng chiếu trên cành hoa quế hay chăng sự bừng ngộ huyền diệu của tâm thức? Đó là giây phút bất chợt, giây phút nhà thơ giác ngộ tức thời chân lý “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu” Giây phút giác ngộ chân lý cũng là giây phút mà tâm hồn nhà thơ hòa tan vào bản thể vũ trụ, trở về với tự tính, với bản ngã chân như “Có một bước chuyển từ không gian hiện thực sang một không gian huyền ảo không phân định rõ hư hay thực, hay nói cách khác từ không gian của thực tại vật chất sang không gian của thực tại tâm linh Không gian này không xác định bến bờ, mênh mông như bất chợt bắt gặp và sống trong nó mà không biết ở đâu” (Từ những đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Lý – Trần đi đến phân tích một bài thơ cụ thể PGS TS Đoàn Thị Thu Vân) Chỉ bằng một ánh trăng đêm, với thi nhân, đó là một phút giây vĩnh cửu Chỉ là một thời khắc hữu hạn, bỗng trở nên vô hạn, vô cùng Trong một khoảnh khắc của thực tại, đã hé lộ cái hằng thường, bất biến Thời gian ở đây cũng không xác định Chỉ biết rằng, thi nhân đã bước tới được Cõi Niết bàn

Trang 7

– thế giới tự do, tự tại, mênh mông, vô bờ bến, giải thoát tâm hồn khỏi vòng trói buộc của lẽ đời Đó là giây phút “diệu ngộ”

Sự thanh thản, siêu thoát của tâm hồn nhà thơ bắt nguồn từ ý thức bứt mình ra khỏi những hư vô của cõi trần “Tâm phủ trừng triệt”, con người rời xa những thói quen của cuộc sống phàm tục “tham, sân, si”

để hòa mình vào đại ngã, đem đến cho mình một cái tâm trong trẻo, tĩnh lặng, hồn nhiên Đó chính là cái chân tâm của người giác ngộ Chúng ta có thể bắt gặp kiểu không gian, thời gian siêu hiện thực này trong một bài thơ khác của Trần Nhân Tông:

“Địa tịch đài du cổ, Thời lai xuân vị thâm.

Vân sơn tương viễn cận.

Hoa kính bán tình âm.

Vạn sự thủy lưu thủy, Bách niên tâm dữ tâm.

Ỷ lan hoành ngọc địch, Minh nguyệt mãn hung khâm”.

(Đăng bảo Đài Sơn – Trần Nhn Tơng) (Đất hẻo lánh, đài thêm cổ kính, Theo thời tiết, mùa xuân về chưa lâu

Núi mây như xa, như gần, Ngõ hoa nửa rợp, nửa nắng

Muôn việc như nước tuôn nước, Trăm năm lòng lại nhủ lòng

Tựa lan can nâng ngang chiếc sáo ngọc, Ánh trăng sáng chan hòa trước ngực.)

Trang 8

Trong cảnh thiên nhiên ở núi Bảo Đài, Nhân Tông đã được thấy cái vẻ “cổ” sẵn có của nó khi mùa xuân đến chưa lâu Thiên nhiên như đang hồi sinh Mây núi như mờ như ảo, nửa hư, nửa thực Mây chen lưng chừng núi, mây phủ đến đỉnh núi, xa gần núi nối tiếp nhau Chính

sự hòa quyện của mây và núi tạo nên một không gian ẩn hiện ngay trước mắt ta, khi gần đó mà cũng như xa xăm Con đường hoa dại mọc đầy, tranh sáng tranh tối, nở tràn khắp Đó là sự phối cảnh hài hòa của một nghệ sĩ tài ba Chính trong khoảng không gian thơ mộng ấy, nhà vua như quên hết mọi việc trên đời, không vướng bận tâm can Không gian vừa thực vừa hư tạo cảm giác về sự hiện hữu vô thường của vạn vật trong cái hằng thường của bản thể vô tận “Tựa lan can nâng ngang chiếc sáo ngọc” phải chăng là một sự hòa điệu tâm hồn, hòa mình vào bản thể vũ trụ để rồi “ánh trăng sáng chan hòa trước ngực”, chiếu rọi tâm hồn thi nhân? Sắc trắng của trăng một lần nữa lại xuất hiện trong thơ Trần Nhân Tông Ánh trăng sáng phủ lên vạn vật, lên cả tâm hồn nhà thơ, tạo nên một không gian, thời gian siêu hiện thực Chính trong giây phút hòa điệu ấy, đã đem lại niềm an lạc khôn nguôi, không thể tỏ bày bằng ngôn ngữ Chỉ thi nhân mới có thể thấu triệt, mới cảm nhận được một cách trọn vẹn Bởi đó là sự trực cảm tâm linh, vượt ra ngoài

bờ cõi của cuộc sống trần tục Đó là giây phút bừng ngộ của tâm linh, giây phút nhiệm màu khi lạc vào cõi Niết bàn hiện hữu chốn nhân gian

Trang 9

Các nhà thơ Lý – Trần luôn ý thức được cái ngắn ngủi, chóng vánh của thời gian hiện hữu Bởi vũ trụ là bao la, vô cùng, vô tận, còn con người chỉ là một hạt bụi bé nhỏ giữa cuộc đời đầy rẫy những bất an

Đời người như ánh chớp, có rồi lại không, như băng gặp nắng trời, như ngọn đèn trước gió và cuộc sống, tuổi xuân, công danh, phú quý đều như một giấc mộng tỉnh mộng rồi, tất cả sẽ tiêu tan, chỉ là hư vô Thế nhưng, xuất phát từ một tâm hồn mẫn cảm, một trí tuệ siêu việt, một lòng yêu đời, ham sống, cũng như ý chí, nghị lực phi thường của con người thời đại, các nhà thơ Lý – Trần luôn vượt lên những cái vô thường, vượt lên thời gian thực tại để hướng đến cái tồn tại, vĩnh hằng, hướng đến “thời gian siêu hiện thực” – mặc dù vẫn ở trong hiện thực:

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”

(Cáo tật thị chúng – Mãn Giác) (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một cành mai) Thời gian vẫn cứ xoay vần Xuân đến rồi xuân đi, hoa nở rồi hoa lại tàn, muôn đời nước vẫn chảy về đông Thế nhưng, cái tâm của người đạt đạo không muốn con người cứ mãi khư khư bám vào cái hiện tượng được nhìn nhận dưới giác quan hữu hạn để rồi giữ mãi tri kiến hẹp hòi về sự vật, để rồi họ cứ mãi mê rượt đuổi theo một cái gì

hư ảo, giống như “con hươu khát chạy đuổi theo bóng nắng” Dù xuân tàn nhưng cành mai vẫn nở Cành mai ấy đã không còn là cành mai của thế giới hiện tượng, của mùa xuân hiện thực nữa mà nó là cành mai của tâm hồn, của thế giới Niết bàn, của mùa xuân vĩnh cữu:

“Xuân lai xuân khứ nghi xuân tận Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân”

Trang 10

(Đáp đệ tử diệu đạo chi vấn – Chân Không) (Xuân đến xuân đi nghĩ là xuân đã hết Hoa rụng hoa nở vẫn chỉ là mùa xuân ấy)

(Trả lời đồ đệ hỏi về diệu đạo) Con người cần cởi bỏ mọi sự ràng buộc nơi trí tuệ để tiếp cận được chân lí đích thực, để rồi sống một cuộc sống “như mây trên trời xanh,

tự do tự tại, hòa điệu với bản thể vũ trụ, đạt được cái vui vĩnh hằng ở thế giới đời thường và con người luôn tìm về với tự tính, bản thể của chính mình, đó mới là chân tâm

Khác với thơ thiền Lý – Trần, thơ Thiền Nhật Bản duy chỉ có thời gian hiện thực Đấy là thời gian của một mùa nào đó trong năm (xuân,

hạ, thu, đông) mà mỗi bài thơ Haiku đều phải đề cập Haiku vẫn được gọi là “thơ của khoảnh khắc”, nhưng đó không phải là cái khoảnh khắc được cảm nhận một cách chủ quan như trong thơ Thiền Lý – Trần – khi sự trực cảm tâm linh vượt lên trên mọi tư duy logic thông thường –

mà là cái khoảnh khắc như nó vốn có vậy

Một điều dễ hiểu là nền văn học Nhật Bản là nền văn học duy mĩ, luôn hướng tới cái đẹp, đó là cái đẹp mong manh, trong suốt, tinh khiết như tuyết trắng quanh năm bao phủ đỉnh núi Fuji Còn thơ Thiền Lý – Trần nói riêng, văn học Việt Nam nói chung luôn hướng tới đối tượng chính

là con người Đó là những con người mẫn cảm, minh triết, sâu sắc, những con người luôn vượt lên chính mình Có thể nói, thơ Thiền Lý – Trần đậm chất nhân văn là vì thế

Kết luận:

Trang 11

Jacques Bacot đã từng nói “Cái hay nhất trong giáo lý Phật giáo

là những chỗ mà Đức Phật làm thinh, tức là những chỗ mà sự Im Lặng có nhiều ý nghĩa hơn là lời nói”

Thiền là dòng sống lặng lẽ của tự tâm và thiền sư là kẻ nắm chắc được dòng sống ấy Trước cuộc sống đầy rẫy bất an, nhiều người đã tìm đến Thiền Họ học Thiền, ngồi Thiền, và cảm thấy bình yên Họ bằng lòng với trạng thái ấy và cho rằng đã đạt được Thiền Với họ, giữ cho tâm thanh thản, nhẹ nhàng thì sự an lạc sẽ nở hoa Nhiều người cho rằng họ đã “giác ngộ”, đã “đạt đạo” Thế nhưng không phải thế

Họ đã quên đi một điều rằng, vị Thiền sư của họ không phải đạt đạo bằng những cách đó Nếu không có một rung cảm nghệ thuật, một

“trực cảm tâm linh vượt khỏi tầng không gian của suy luận và nhận thức lí trí”, một tâm hồn ham sống, yêu đời, đầy bản lĩnh và nghị lực, một “tinh thần vô trụ” thì không thể đạt đến sự giác ngộ, đạt đến giây phút viên mãn tột độ của tâm thức Thiền (còn gọi là trạng thái nhất tâm – ekagia) Tất cả những điều này đều có thể tìm thấy trong thơ Thiền Lý – Trần Và hơn bao giờ hết, Thơ Thiền Lý – Trần, có thể coi

đó như một dòng nước mát lạnh, tinh khiết tưới đều lên những tâm hồn khô cằn, chết cứng vì những lo toan, tất bật, phiền lụy, tính toán, tham vọng, âu lo, sợ hãi giữa cuộc sống xô bồ, nhộn nhịp giúp họ đạt đến những giây phút trở về với chính mình, tìm lại chính mình, bởi một lẽ

“Càng trong tĩnh lặng, con người càng lắng nghe được nhiều nhất” Và như lời của Trần Nhân Tông:

“ Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Ngày đăng: 31/07/2021, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w