Nghiên cứu về triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần không những khẳng định lại những giá trị văn hóa của dân tộc mà còn góp phần củng cố niềm tin qua các thế hệ.. Triết học Phật giá
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Lan Vi
Trang 4MỤC LỤC TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG THƠ VĂN LÝ – TRẦN Error!
Bookmark not defined
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI HÌNH THÀNH THƠ VĂN LÝ – TRẦN VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH 9
1.1 Một số vấn đề về Triết học và Triết lý, Triết lý nhân sinh 9
1.1.1 Khái niệm về Triết học và Triết lý 9
1.1.2 Khái niệm Triết lý nhân sinh và Triết lý nhân sinh trong thơ văn 12
1.2 Một số vấn đề về thơ văn Lý -Trần 14
1.2.1 Những điều kiện hình thành thơ văn Lý - Trần 14
1.2.2 Vài nét về thơ văn thời Lý - Trần 26
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2: NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG THƠ VĂN LÝ – TRẦN 33
2.1 Triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên 33
2.2 Triết lý về mối quan hệ giữa con người với con người 36
Tiểu kết chương 2 54
Chương 3: Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC VẬN DỤNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG THƠ VĂN LÝ – TRẦN Ở GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 56
3.1 Ý nghĩa triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần 56
3.2 Bài học vận dụng triết lý nhân sinh trong giai đoạn hiện nay 64
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác đang bước vào xu thế Hội nhập hóa – Quốc tế hóa trên toàn thế giới Xu thế này đã đem lại cho Việt Nam những thuận lợi to lớn nhưng bên cạnh đó cũng mang lại không ít những khó khăn thử thách Quá trình Hội nhập hóa – Quốc tế hóa đã làm cho con người phải đối diện với những “luồng” giá trị văn hóa tốt, xấu lẫn lộn, làm cho bản sắc dân tộc ngày một phai nhạt trước “cơn lốc” của công cuộc hội nhập quốc tế của đất nước
Đứng trước thực trạng ấy, Việt Nam cần phải khắc phục những khó khăn, hạn chế, đồng thời phát huy những nhân tố tích cực để đưa đất nước
ta không ngừng phát triển đi lên Để làm được điều đó, trước hết chúng ta cần phải quan tâm, chú trọng và phát triển rất nhiều lĩnh vực bao gồm cả kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị… Đặc biệt, vấn đề “khơi dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” được Đảng và nhân dân ta hết sức quan tâm, được đặt lên hàng đầu nhằm mục đích nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức
tự hào tự tôn trong mỗi người dân Việt Nam, đồng thời chống lại những âm mưu phá hoại của kẻ thù trong giai đoạn hiện nay
Vấn đề “khơi dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” đã được
đề cập tới rất nhiều trong các nghiên cứu khoa học những năm gần đây Đặc biệt thời đại Lý – Trần một trong những thời kỳ dành được sự quan tâm nghiên cứu Bởi vì đây là giai đoạn phục hưng, đất nước được độc lập chủ quyền, dân tộc được hồi sinh sau hơn một nghìn năm nô lệ phương Bắc, được xem là mốc son rực rỡ trong xây dựng và phát triển diện mạo văn hóa, tư tưởng của quốc gia phong kiến độc lập Đây là thời đại hào hùng và oanh liệt, rực rỡ và đẹp đẽ nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Trang 6Bên cạnh đó, sự phát triển rực rỡ của thơ văn Lý – Trần đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của thơ văn Việt Nam nói riêng và nền văn học nói chung Văn học là phương thức biểu trưng cho văn hóa của mỗi dân tộc, quốc gia, mỗi thời đại và văn học cũng chính là một thành tố của nền văn hóa Chính vì vậy, văn học Lý – Trần, bản thân nó đã mang theo cả nền văn hóa dân tộc của thời đại ấy Đó là nền văn hóa sôi sục lòng yêu nước, lòng vị tha, nhân bản sâu sắc Thơ văn Lý - Trần là di sản vô cùng quý giá được cha ông ta để lại Trong lịch sử, có một thời gian chúng
ta chỉ mới tôn vinh, biểu dương những tác phẩm tiêu biểu cho hào khí dân tộc - hào khí Đông A đời Trần Nhưng một nền văn học được xem là hoàn thiện, không phải chỉ có những tráng ca, còn là những mất mát đau thương, những nỗi thống khổ của dân đen, những suy tư trăn trở về nhân tình thế thái, biểu hiện tính nhân văn, nhân bản sâu sắc Chúng ta cần đánh giá đầy
đủ và thấu đáo, biểu dương đúng với giá trị đích thực của nó
Thơ văn Lý – Trần được xem là tâm hồn Việt Nam, văn hóa Việt Nam, nó chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh sâu sắc Triết lý nhân sinh là sự đúc kết kinh nghiệm của cha ông ta về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với xã hội Những quan điểm, quan niệm cho ta sự hiểu biết sâu sắc về lẽ sống, về đạo làm người, về cách thức ứng xử của con người với tự nhiên và giữa con người với con người trong đời sống xã hội Nghiên cứu về triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần không những khẳng định lại những giá trị văn hóa của dân tộc mà còn góp phần củng cố niềm tin qua các thế hệ Chính vì vậy mà tác giả chọn “Triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về con người, về giá trị, về triết lý trong thơ văn Lý – Trần đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu theo các phương diện, hình
Trang 7thức và mức độ khác nhau Có thể khái quát các công trình nghiên cứu đó theo các hướng sau:
Hướng thứ nhất, các công trình triết lý, triết học thời Lý – Trần
Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần của Trương Văn Chung (1998) nghiên cứu những tiền đề về xã hội, tôn giáo và tư tưởng ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển của thiền phái Trúc Lâm Tác phẩm đã phân tích ảnh hưởng của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ đến sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm mà sau này do Trần Nhân Tông sáng lập Nội dung cơ bản của trường phái này thể hiện qua tư tưởng của Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Tác phẩm cũng nêu lên những đặc trưng cơ bản của trường phái này, nhấn mạnh tính nhập thế tích cực
Triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần của Đỗ Hương Giang, tác giả đã làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần một cách có hệ thống trên các phương diện: Bản thể luận, nhân sinh quan và nhận thức luận thông qua việc triển khai hệ thống các khái niệm về bản thể, mối quan hệ giữa bản thể và thế giới hiện tượng, quan niệm về nguồn gốc và bản chất con người, quan niệm về sinh tử, về cuộc sống, về lý tưởng sống, về mục đích, đối tượng và phương pháp nhận thức trong triết học Phật giáo thời Trần
Tác phẩm Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần do hai tác giả Trương Văn Chung và Doãn Chính đồng chủ biên (2008) là công trình nghiên cứu xoay quanh chủ đề tư tưởng thời Lý và Trần, trong đó tập trung trình bày tư tưởng chính trị, nhà nước và pháp luật, quân sự Với các nhà tư tưởng tiêu biểu: Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Quốc Tuấn,… Tư tưởng trình bày xuyên suốt là tinh thần độc lập dân tộc, lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm
Trang 8Trong luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa nhân văn và tư tưởng giải thoát trong thơ thiền Lý – Trần (2003) của Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã nêu lên được khái niệm con người đời đạo không hai và con người Phật tính thường hữu
Tư tưởng Phật giáo trong thơ Lý – Trần, luận văn Thạc sĩ, Nguyễn Tôn Hoàng, 2005, Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân văn, nghiên cứu tư tưởng Phật giáo và sự thể hiện tư tưởng đó qua thơ ca dưới thời Lý - Trần
Một số quan điểm triết lý nhân sinh quan trong Phật giáo nhà Lý, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 4, 2010, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
Triết lý nhân sinh trong triết học Phật giáo thời Trần, Doãn Chính, Trần Huy Du, Tạp chí Khoa Học Xã Hội số 11, 2013, Hà Nội Bài viết đã phân tích tư tưởng nhân sinh của Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông để thấy rõ các bước phát triển của Phật giáo Việt Nam dưới thời Trần
Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa thời Lý –Trần, Nguyễn Lan Anh, Tạp chí Khoa học Xã Hội số 7, 2015, Hà Nội, triết lý nhân sinh được thể hiện trong nền chính trị, trong công cuộc dựng nước và giữ nước
Ngoài ra tác giả còn tham khảo trên một số trang Web như: thuvienhoasen.com, giacngo.vn, philosophy.vass.gov.vn đây là nguồn tư liệu quý giá hỗ trợ tác giả trong việc nhiên cứu đề tài của mình với rất nhiều bài viết về thơ văn thời Lý Trần
Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu văn học thời Lý – Trần
Tiêu biểu nhất là Thơ Văn Lý – Trần tập I (1977); Thơ văn Lý –Trần tập II (quyển thượng) (1988); Thơ văn Lý – Trần tập III (1979), Viện Văn Học, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Đây là công trình tiêu biểu, đồ sộ, trình bày nguyên bản các tác phẩm, bản văn, thơ Đó là cơ
Trang 9sở đáng tin cậy để tác giả luận văn kế thừa trong việc trích dẫn và nhân định đánh giá của mình
Trần Thái Tông và Khóa Hư lục, luận văn Thạc sĩ, Trần Lý Trai,
2004, Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia TP HCM Luận văn đã khảo sát một cách toàn diện, có hệ thống từ tác giả đến tác phẩm qua lăng kín văn học, làm nổi bậc lên những giá trị tư tưởng yêu nước, nhân văn, tinh thần Thiền tông nhập thế, tích cực
Giá trị văn học trong tác phẩm Thiền phái Trúc Lâm, luận án Tiến
sĩ, Thích Phước Đạt, 2008, Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia TP HCM đã giới thiệu các tác phẩm của những tác giả nổi tiếng như: Tuệ Trung Thượng Sĩ, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông Qua đó là rõ giá trị nghệ thuật, tư tưởng Thiền học và cảm hứng chính trong các tác phẩm của Thiền Trúc Lâm
Thiền và Lão Trang trong thơ thời vãn Trần, luận văn Thạc sĩ, Hoàng Gia Thành, 2010, bảo vệ tại trường Đại học Khoa Học Xã Hội
Và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia TP HCM đã trình bày tiền đề bao gồm bối cảnh văn hóa, xã hội, ảnh hưởng của tinh thần dung hợp tư tưởng tam giáo và sự hình thành cảm hứng Thiền và Lão Trang trong thơ văn thời vãn Trần
Thơ tứ tuyệt trong văn học đời Trần, luận văn Thạc sĩ, Trần Kim Tiền, 2011, Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia
TP HCM Luận văn này đã đi sâu nghiên cứu về mặt diện mạo, nội dung, cảm hứng và giá trị nghệ thuật trong thơ tứ tuyệt ở đời Trần Qua việc nhiên cứu đi rực tiếp vào chính nội dung, nghệ thuật (ở các khía cạnh: ngôn ngữ, điển cố, điển tích, giọng điệu, không gian, thời gian) trong tác phẩm ta thấy được nét riêng, giá trị của thơ tứ tuyệt trong tiến trình chung của thơ ca Việt nam
Trang 10Thơ bát cú Đường luật trong văn học đời Trần, luận văn Thạc sĩ,
Vũ Thị Cẩm Tú, 2012, Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia TP HCM trình bày một cách tổng quan diện mạo thơ bát cú Đường luật với những nội dung: nguồn gốc, đặc trưng, vai trò, những cảm hứng chính và giá trị nghệ thuật của thơ bát cú Đường luật thời Trần
Văn học Việt Nam thời Lý – Trần (thế kỷ X – đầu thế kỷ XV) những vấn đề về nội dung cảm hứng, thể loại, tác giả tiêu biểu, Nguyễn Công Lý, Nxb Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2018 đã trình bày các đặc trưng của văn học Việt Nam thời Lý – Trần, nội dung cảm hưng, thể loại và các tác giả tiêu biếu
Một số bài viết đăng trên Tạp Chí của Nguyễn Công Lý như:
“Mấy đặc trưng về thời đại Lý – Trần” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 3 – 2000; “Mấy đặc điểm văn học Lý – Trần”, Tạp chí Hán Nôm, số 2 – 2001 Tác giả nghiên cứu từ nhiều khía cạnh khác nhau làm nổi bậc lên đặc điểm văn học thời Lý – Trần
“Chất nhân văn trong thơ thiền đời Trần” http://www.hoalinhthoai.com/news/detail/news-177Chat-nhan-van-
trong-tho-thien-doi-Tran.html qua việc phân tích một số bài thơ, bài viết cho thấy chất nhân văn trong thơ Thiền đời Trần trong việc miêu tả vẻ đẹp tâm hồn của con người và đỉnh cao của tư tưởng nhân văn là hướng con người đến cuộc sống hạnh phúc
Qua những tài liệu mà tác giả tìm hiểu được thì đề tài “Triết lý nhân sinh trong thơ văn thời Lý – Trần” vẫn là đề tài chưa được nghiên cứu chuyên sâu Vì vậy với đề tài Triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần , tác giả hy vọng có thể góp thêm một phần nhỏ vào việc nghiên cứu triết lý nhân sinh thời Lý – Trần nói chung và triết lý nhân sinh trong thơ văn nói riêng
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa và bài học kinh nghiệm trong giai đoạn hiện nay
- Xác định những triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý- Trần Phân tích
và đánh giá ý nghĩa của những triết lý nhân sinh đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: triết lý nhân sinh trong thơ văn thời Lý – Trần
- Phạm vi nghiên cứu: Vì phạm vi nghiên cứu có hạn nên đề tài sẽ chỉ làm sáng tỏ một vài triết lý nhân sinh nổi bật trong thời kỳ này là triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; và triết lý về mối quan hệ giữa con người với con người
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
về mối quan hệ giữa hình thái ý thức xã hội và tồn tại xã hội, về tư tưởng
và đời sống con người
Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: lịch
sử và xã hội, logic, so sánh, hệ thống hóa tài liệu, phân tích, tổng hợp … Nhưng nổi bật lên là các phương pháp sau:
Trang 12- Phương pháp lịch sử và xã hội: Giới thiệu tiền đề của sự hình thành thơ văn Lý - Trần và những triết lý nhân sinh trong thơ văn
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Luận văn sẽ chọn lọc những triết lý trong thơ văn để tạo thành một hệ thống triết lý nhân sinh
- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh và logic: Qua những tài liệu tham khảo và tài liệu chính là Thơ Văn Lý - Trần luận văn sẽ ghi nhận, tổng hợp các nhận định trong đó Qua đó sẽ phân tích và
so sánh các luận điểm đó, đồng thời đưa ra quan điểm và nhận định của chính tác giả trong luận văn này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ nội dung, đặc điểm của triết lý nhân sinh trong thơ văn thời Lý – Trần
Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu, giảng dạy một số môn như: Triết học Việt Nam, Việt Nam học,
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương, sáu tiết
Trang 13Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI HÌNH THÀNH THƠ
VĂN LÝ – TRẦN VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH 1.1 Một số vấn đề về Triết học và Triết lý, Triết lý nhân sinh
1.1.1 Khái niệm về Triết học và Triết lý
Khái niệm Triết học:
Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây vào khoảng từ thế
kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên
Ở phương Đông, người Trung Quốc cổ đại quan niệm “triết” chính là
“trí”, là cách thức và nghệ thuật diễn giải, bắt bẻ có tính lý luận trong học thuật nhằm đạt tới chân lý tối cao Theo người Ấn Độ, triết học được gọi là dar'sana, có nghĩa là sự chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đi đến với lẽ phải
Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp Nếu chuyển
từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, có nghĩa
là yêu mến, ngưỡng mộ sự thông thái Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng kiếm tìm chân lý của con người
Tóm lại, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học được xem
là hình thái cao nhất của tri thức; nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sang tỏ bản chất của mọi vật Đã
có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau đó là: Triết học nghiên cứu thế giới với
tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý
Trang 14Triết học theo Từ điển triết học là “khoa học về các quy luật chung nhất mà cả tồn tại (tức giới tự nhiên và xã hội) lẫn tư duy của con người, quá trình nhận thức đều phải phục tùng Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, xét cho cùng, bị quy định bởi các quan hệ kinh tế của
xã hội” [48, tr.599]
Theo Từ điển và danh từ triết học, triết học “theo quan điểm hiện đại: học về tinh thần con người và những gì liên quan đến tinh thần đó Hay là: học về tinh thần con người với tất cả chiều hướng hiện sinh của nó” [32, tr.279]
Khái quát lại ta có thể hiểu: Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò, vị trí của con người trong thế giới ấy Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người phục
vụ nhu cầu sống Song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây: Con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận Trong xã hội, lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội có sự phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ
Khái niệm Triết lý:
Triết lý theo Từ điển và danh từ triết học là cái lý sâu xa, cái lẽ huyền diệu của một học thuyết hay của một sinh hoạt, một hiện tượng, một cử chỉ [32, tr.280]
Theo Giáo sư Hoàng Trinh, “Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những ưt tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản
Trang 15thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày” [49 tr.8]
Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng, “Triết lý là triết học khiêm tốn nói về mình, triết lý không thể hiện tầm khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan mà thể hiện ý nghĩ và hành vi có nghĩa chỉ đạo cuộc sống con người” [27, tr.3]
Các tác giả “Triết lý phát triển C.Mác, Ph.Ăng ghen, V.I Lênin
và Hồ Chí Minh” có quan điểm “Triết lý có thể thể hiện bằng một mệnh
đề hàm súc những ý nghĩ về nhân tình thế thái; về tự nhiên, về xã hội,
nó cũng có thể là một hệ mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết… Triết lý đúng và khoa học thì nó trở thành cơ sở lý luận khoa học cho một hệ thống quan điểm, học thuyết; nó làm công cụ lý thuyết cho hành động hiệu quả của con người.” [26, tr.9]
Khi nói về mối quan hệ giữa triết học và triết lý, trong bài viết Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý, Hồ Sĩ Quý quan niệm “nếu có thể đem so sánh với triết học thì triết lý luôn luôn ở trình độ thấp hơn về tính hệ thống, độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy” [34, tr.57] Về hình thức thể hiện “triết lý có thể và nên được hiểu là những tư tưởng, quan điểm hay quan niệm,…mang tính khái quát cao; được phản ánh một cách cô đúc dưới dạng mệnh đề hoặc các phán đoán thường là trau chuốt về mặt ngữ pháp” [34, tr.57] Triết lý cũng có những giá trị về mặt thế giới quan, nhân sinh quan định hướng hoạt động con người trong đời sống xã hội
Triết lý không phải là triết học nhưng triết lý có quan hệ mật thiết với triết học Từ những nguyên lý, những luận điểm của một học thuyết triết học nhất định người ta có thể rút ra triết lý hành động, phương châm sống nhất định Tuy nhiên không phải triết lý nào cũng rút ra từ học thuyết triết học, mà triết lý được đúc kết, được rút ra trong
Trang 16thực tiễn, trong hoạt động sống, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và trong chính mối quan hệ giữa con người với con người
Tóm lại, từ những quan điểm về triết lý, có thể hiểu: Triết lý là những mệnh đề được cô đúc từ sự trải nghiệm, chiêm nghiệm của con người mang tính hướng về đạo lý trong quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, con người với xã hội, trở thành phương châm sống và hành động của con người
Qua ngàn năm dựng nước, giữ nước nhân dân ta đã rút ra nhiều triết lý trong quan hệ gia đình, triết lý về nếp sống, lối sống… Trong lịch sử tư tưởng thời Lý – Trần cũng có nhiều tư tưởng lớn mang tính triết lý được rút ra tổng kết kinh nghiệm, đạt đến vấn đề quốc kế dân sinh như tư tưởng Lý Thường Kiệt với Nam quốc sơn hà, Nam đế cư, hay Trần Hưng Đạo với Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc sâu rễ
1.1.2 Khái niệm Triết lý nhân sinh và Triết lý nhân sinh trong thơ văn
Theo Hồ Sĩ Quý thì nhân sinh quan “Là quan điểm sống, quan niệm sống, hệ thống các giá trị người và các giá trị xã hội có ý nghĩa định hướng hành vi, tức là quan niệm gắn liền với cách sống, lối sống với hành vi và phẩm chất của hành vi với việc xác định ý nghĩa của cuộc sống và ý nghĩa của sự làm người” [35, tr.8]
Theo Đại từ điển tiếng Việt nhân sinh quan “ là quan niệm về cuộc đời, thành hệ thống bao gồm lý tưởng lẽ sống” [56, tr.764]
Từ điển bách khoa Việt Nam; “Nhân sinh quan gồm có nhiều quan niệm về cuộc sống của con người: lẽ sống của con người là gì? Mụch đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng” [24, tr.235]
Trang 17Khi trình độ con người còn thấp, những quan điểm, quan niệm này thể hiện rời rạc, tản mạn; nhưng khi con người đạt đến trình độ khái quát hóa thì những quan điểm, quan niệm này có thể được thể hiện dưới dạng lý luận, bộc lộ những nhận định, đánh giá và xác định hệ thống các giá trị định hướng cho hoạt động của con người Những vấn đề thuộc về mục đích, ý nghĩa cuộc đời thể hiện khát vọng, tình cảm, ý chí, gắn liền với các quan hệ, thể hiện lối sống, nếp sống của con người luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu của nhân sinh quan
Như vậy, có thể hiểu: nhân sinh quan là các quan điểm, quan niệm
về cuộc sống của con người, trong đó các quan điểm, quan niệm giữ vai trò định hướng cho hoạt động của con người
Từ những vấn đề về “triết lý” và “nhân sinh quan”, có thể hiểu: Triết
lý nhân sinh là những quan điểm, quan niệm cơ bản, đóng vai trò nền tảng chỉ đạo cách ứng xử, suy nghĩ và hành động của con người trong quan hệ với bản thân, với tự nhiên và với xã hội
Triết lý nhân sinh trong thơ văn cũng là những quan niệm, quan điểm chung của con người trong việc xem xét mọi mặt của cuộc sống, là những quan niệm về cuộc sống, là tâm tư, tình cảm, ước mơ, khát vọng của con người thể hiện qua thơ văn, góp phần định hướng hoạt động của con người Triết lý nhân sinh trong thơ văn thời Lý – Trần là triết lý sâu sắc về cuộc sống, mục đích và lẽ sống của con người trong xã hội và về cách ứng
xử của con người với tự nhiên và xã hội được đúc kết qua quá trình đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng đất nước ở thời kỳ này
Trang 181.2 Một số vấn đề về thơ văn Lý - Trần
1.2.1 Những điều kiện hình thành thơ văn Lý - Trần
Thời kỳ Lý – Trần là thời kỳ thịnh trị của chế độ phong kiến về mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng đã đạt được một trình độ hoàn thiện, một chế độ phong kiến tập quyền, độc lập, tự chủ
Về chính trị, năm 938, dưới sự chỉ huy của Ngô Quyền quân dân ta đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt Nam mở sang trang sử mới: thời đại độc lập tự chủ Đây là thời kỳ nhà nước phong kiến bắt đầu ổn định và phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội qua các triều đại: Ngô (939 – 967), Đinh (968 -980), Tiền Lê (980 – 1009), Lý (1009 – 1225), Trần (1225 - 1400), Hồ (1400 – 1407) và thời Hậu Trần (1407 – 1418) Trong đó, hai triều đại Lý – Trần có những thành tựu rực rỡ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Cuối thế kỷ X, xã hội Việt Nam có những chuyển biến mang tính bước ngoặt với sự khủng hoảng, suy thoái của triều Tiền Lê Sau khi Lê Hoàn mất (1005), diễn ra cuộc nội chiến cướp ngôi trong thân tộc dẫn đến hậu quả Lê Long Việt bị em là Lê Long Đỉnh giết chỉ sau ba ngày lên ngôi
Lê Long Đỉnh lên ngôi hoàng đế năm 1005 lại rơi vào cảnh ăn chơi trụy lạc làm cho nhân dân mất niềm tin vào chính quyền Cùng với đó là thiên tai, dịch bệnh, hạn hán, mất mùa làm cho đời sống nhân dân càng trở nên khốn khổ Đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - chính trị - xã hội nghiêm trọng Năm 1009 dưới sự hậu thuẩn của Phật giáo, Lý Công Uẩn lên ngôi vua mở đầu cho chế độ phong kiến ở Việt Nam
Việc xây dựng chế độ phong kiến và ổn định trật tự xã hội, phát triển kinh tế thời Lý – Trần đòi hỏi đáp ứng yêu cầu của thời đại là dựng nước
và giữ nước Năm 1010, Lý Công Uẩn quyết định dời đô về Đại La và đổi tên thành Thăng Long để phát triển đất nước về mọi mặt Vua khẳng định:
Trang 19“Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn canh năm lần dời đô…cứ chịu yên đống đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp Trẫm rất đau đớn, không thể không dời…đúng
là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” [4, tr.229 – 230]
Nhà Lý xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đứng đầu là vua rồi đến các quan văn – võ chia làm chín phẩm và một số
cơ quan chuyên trách từ trung ương đến cơ sở Lý Thái Tổ chia đất nước thành 24 lộ và hai trại
Về pháp luật, vào năm 1042, Lý Thái Tông ban chiếu sai trung thư san định trên cơ sở kết hợp các điều luật trước, các tập tục, truyền thống của người Việt, hình thành bộ luật Hình thư hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta Đại Việt sử ký có ghi: “Ban hành hình thư… vua lấy làm thương xót, sai Trung thư sửa định luật lệnh, chăm chước cho thích dụng với thời bấy giờ, chia ra môn loại, biên ra điều khoản là sách Hình luật của một triều để người xem dễ hiểu Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện” [15, tr 32] Các vua rất chú trọng đến hình luật, hình luật là một trong
ba môn thi bắc buộc để tuyển chọn người tài Năm 1077 “Mùa xuân mở hội Nhân Vương ở điện Thiên An Tháng 3 thi lại viên bằng thư (viết chữ), toán và hình luật” [15, tr.280]
Về quân sự, nhà Lý luôn luôn cũng cố, kế thừa kinh nghiệm thời trước, xây dựng lực lượng quân sự với chính sách “Ngự binh ư nông” – quân sỉ có thể thay nhau về nhà sản xuất nông nghiệp Với chính sách này vừa đảm bảo nguồn lương thực cho đất nước vừa đủ sức và lực chống ngoại xâm Chính quyền nhà Lý từng bước được ổn định đáp ứng nhu cầu bảo vệ chính quyền thống trị đứng đầu là vua và lợi ích của quý tộc họ Lý xuốt 215 năm
Trang 20Nhà Lý còn thi hành nhiều biện pháp tích cực nhằm đoàn kết dân tộc
và quan tâm đến miền núi phía Bắc Đây là vùng biên cương có vị trí chiến lược quan trọng trong kháng chiến chống giặc phương Bắc Triều đình nhà
Lý thực hiện chính sách củng cố chính trị, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc bằng cách liên kết các tù trưởng, bộ tộc và mở rộng ảnh hưởng của triều đình trên miền núi Do vậy, đất nước ổn định về chính trị, vững mạnh
về quân sự, quân dân ta giành thắng lợi vẻ vang trước quân Tống xâm lược Đầu thế kỷ XIII, triều đình nhà Lý dần suy yếu, gian thần bao quanh nhà vua, kinh tế trì trệ, chính trị bất ổn định, ngoại xâm xâm lược Chính vì vậy, Thái sư Trần Thủ Độ phế truất Huệ Tông, điều hành công việc, nhường ngôi cho Trần Cảnh Trần Cảnh chính thức lên ngôi vào tháng giêng năm 1226, mở đầu cho triều đại phong kiến mới ở nước ta
Trần Thái Tông tiếp tục cũng cố chính quyền trung ương nhằm chặt chẽ và quy cũ hơn Năm 1242, nhà Trần tổ chức sắp xếp lại các đơn vị hành chính từ trung ương đến cơ sở gồm: phủ, huyện, châu, hương, xã Nhà Trần đổi 24 lộ thời nhà Lý thành 12 lộ và lập thêm 5 phủ, 6 châu Mô hình
bộ máy chính quyền gồm hai bộ phận: quan lại trung ương và quan lại địa phương Năm 1230 bộ Quốc triều thông chế ra đời với mục đích quy định cấp bậc lương bổng trong bộ máy nhà nước Nhà Trần còn thiết lập cơ quan kiểm pháp, nhằm kiểm tra việc xét xử của các cơ quan xét xử vào năm
1332 Đến cuối thế kỷ XIII, ban hành bộ Quốc triều hình luật Năm 1253, Trần Thái Tông lập ra Giáng võ đường để cho các võ quan tập trung học hỏi binh pháp và rèn luyện võ nghệ Quân lính được học binh pháp do chính Trần Hưng Đạo soạn ra trong “Binh thư yếu lược” Nhà trần vẫn duy trì chính sách “Ngự binh ư nông”
Về ngoại giao, phía Nam nước Đại Việt giáp với Chiêm Thành Hàng năm, nước Chiêm Thành vẫn cho sứ thần sang giao hảo Năm 1028, Lý
Trang 21Thái Tông lên làm vua, trải qua mười lăm năm Chiêm Thành không chịu thông sứ Do đó, năm 1044, đích thân vua Lý Thái Tông ngự giá đi đánh Chiêm Thành Từ đấy, phía Nam an yên, vua nước Chiêm Thành hàng năm
cử sứ, thiết lập ổn định vùng biên giới
Phía Bắc nước ta giáp với Trung Quốc, các vua Trung Quốc tự cho mình là “thiên triều” luôn muốn xâm lược các nước lân cận Năm 1068 –
1075 quân Tống xâm lược Đại Việt, quan hệ ngoại giao Lý – Tống trở nên căng thẳng Nhưng sau khi kháng chiến quân Tống thắng lợi, nhà Lý vẫn giữ tư thế một nước độc lập, tiếp tục bang giao với nhà Tống trên tinh thần hữu nghị Trải qua hai thế kỷ, triều đình nhà Lý đã thực hiện chính sách ngoại giao lúc cương nghị, lúc mền dẻo, uyển chuyển linh hoạt nhằm mở rộng giao thương để trao đổi hàng hóa với các nước láng giềng và giữ vững nền độc lập dân tộc
Đến thời nhà Trần, vẫn thiết lập mối quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng Từ năm 1258, đối với Mông Cổ vua Trần đã sai sứ sang đặt quan hệ ngoại giao Nhưng do chính sách bành trướng của các vương triều Mông Cổ, chúng đã đưa ra những yêu sách để gây hấn với ta Sau khi kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thắng lợi, nhà Trần nối lại quan
hệ hòa hiếu giữa hai nước trên tinh thần độc lập tự chủ
Bên cạnh việc đảm đương sứ mệnh xây dựng chế độ phong kiến, chế định kỷ cương, điển lễ, văn hiến cho một quốc gia phong kiến có chủ quyền, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam trong các thế kỷ sau thì các triều đại Lý – Trần còn phải tiến hành các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm như đời Lý, Lý Thường Kiệt chống Tống; đời Trần, Trần Hưng Ðạo chống Nguyên - Mông Đây cũng chính là nguồn cảm hứng với nội dung chủ nghĩa yêu nước được thể hiện qua văn chương của các nhà thơ, nhà văn
Trang 22Về kinh tế, thời Lý – Trần là thời kỳ độc lập tự chủ, giương cao ngọn
cờ thống nhất, khôi phục đất nước Là thời kỳ tách khỏi sự lệ thuộc phương Bắc, xây dựng nhà nước phong kiến Viêt Nam vững mạnh Trong đó, kinh
tế đóng vai trò hết sức quan trọng Xã hội Đại Việt suy cho cùng vẫn mang đặc trưng của Châu Á Đó là xã hội tiểu nông truyền thống với đặc trưng là nhà nước quân chủ chuyên chế phương Đông, ruộng đất đều nằm trong tay nhà vua Kết cấu làng xã theo lối cổ truyền, là đơn vị quản cấp ruộng đất công và nạp tô thuế cho nhà nước Phương thức sản suất thời Lý – Trần nằm trong phương thức sản xuất Châu Á Từ thế kỷ XII – XIII trở đi chế độ
tư hữu về ruộng đất nảy nở và phát triển, sự sở hữu tư nhân trở thành tác nhân đánh vào chế độ sở hữu công xã, từ đó xuất hiện chế độ tiểu tư hữu của nông dân và chế độ chiếm hữu lớn của địa chủ Chế độ sở hữu công xã tồn tại phổ biến, bao trùm kết cấu kinh tế xã hội Thời nhà Lý – Trần có hai dạng sở hữu cơ bản là ruộng đất thuộc sở hữu của nhà vua và một phần sở hữu tư nhân Ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước có nhiều dạng: quốc khố, tịch điền, đồn điền, sơn lăng, ruộng công làng xã Thời Lý – Trần, mức tô thuế không chiếm toàn bộ mức lao động của nông dân, người dân ngoài nộp tô thuế, dùng cho hoạt động sống, người dân vẫn còn một phần nhỏ sản phẩm thừa để trao đổi với nhau Chính sự phát triển của sở hữu tư nhân ruộng đất làm phá vỡ chế độ sở hữu công xã, dần dần thay thế bởi chế
độ tư hữu ruộng đất, kinh tế công xã có khuynh hướng ngày càng thu hẹp
và kinh tế tư hữu ngày càng mở rộng Tuy nhiên, chế độ ruộng công vẫn là chủ yếu, nhà nước có pháp luật để bảo vệ công điền, ruộng vương hầu, cấm chiếm ruộng công thành ruộng tư
Tịch điền và ruộng sơn lăng là hai hình thức sở tiêu biểu về hữu công về ruộng đất Vào thời Lê Hoàn đã có ruộng tịch điền Hình thức cày tịch điền này là nghi lễ chịu ảnh hưởng bởi các triều đại phương Bắc
Trang 23nhưng là một hoạt động nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp, phản ánh tư tưởng trọng nông, phù hợp với nước nông nghiệp Sang thời Lý, hình thức cày tịch điền vẫn còn duy trì Năm 1038, “vua ngự ra Bố Hải cày ruộng tịch điền… tự cầm cày để làm lễ cày” [15, tr.295], việc làm này của vua Thái Tông nhằm “khôi phục lễ cổ, tự mình cày ruộng tịch điền để noi gương cho thiên hạ, trên để cúng tổ tiên, dưới để nuôi muôn dân, công hiệu trị nước dẫn đến dân đông, của giàu” [15, tr.259] Tịch điền thời Lý có ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình), Ứng Phong (Nam Định), Lý Nhân (Hà Nam) Ngoài tịch điền, các vua Lý còn có ruộng sơn lăng ở châu Cổ Pháp (Bắc Ninh) để dùng vào việc thờ cúng tổ tiên Ruộng sơn lăng không nhiều, là loại ruộng dùng vào việc thờ phụng tổ tiên dòng họ nhà vua Ruộng công làng xã do vua và triều đình trực tiếp quản lý Vào năm 1137, nhà Lý khẳng định biện pháp “cứ ba nhà làm một bảo, không được mổ riêng bò trâu, nếu có việc cúng tế phải tâu xin được chỉ rồi mới cho mổ, kẻ làm trái thì trị tội nặng, láng giềng không cáo giác thì thì cũng xử cùng tội” [15, tr.315] Việc kiểm tra chặt chẽ số lượng dân đinh vùng với việc bảo vệ sức kéo trâu bò đã phản ảnh nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất suất ruộng công làng xã Chính sách “ngự binh ư nông” ở thời Lý đã phát huy tác dụng trong việc sản xuất nông nghiệp, tận dụng được sức lực của quân lính khi đất nước không có chiến tranh
Ở thời Lý còn có ruộng ban thưởng cho triều thần có công với triều đình được gọi là ruộng thác đao Ruộng thác đao được xem là ruộng công, người nhận ruộng được hưởng một phần thuế do ruộng thác đao mang lại Ngoài ra nhà vua còn ban phát ấp thang mộc cho quần thần có công với đất nước Hình thức ban phát ấp thang mộc phát triển rõ nét dưới thời Trần Thời Trần việc cấp bổng cho các quan văn võ dưới hình thức thái ấp Ban
Trang 24thái ấp là cơ sở kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính quyền nhà Trần
Đến năm 1266, do nhu cầu khẩn trương mở rộng diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng, cũng cố thêm thế lực của quý tộc, nhà Trần
đã cho các vương hầu, công chúa, phò mã, phi tần chiêu tập những người không có tài sản làm nô tỳ khai khẩn đất hoang làm điền trang Từ năm
1266 trở đi, tầng lớp quý tộc đã dựa vào hai hình thức tổ chức kinh tế cơ bản là thái ấp và điền trang; đây là hai bộ phận quan trọng có ý nghĩa
quyết định tính chất loại hình sở hữu ruộng đất của quý tộc
Về công cuộc trị thủy, thời Lý – Trần, nhà nước rất chú trọng đến đê điều, trị thủy Năm 1108 “mùa xuân, tháng 2, đắp đê ở phường cơ xá” [15, tr.285] Nhà Lý cũng đào đắp một số công trình thủy lợi như Đàn Nãi năm
1029 Đến năm 1051 vua lại cho “đào kênh Lẫm” ở Hà Nam Ở khu vực thành Thăng Long, nhà nước cũng cho khơi sâu rộng các sông Lãnh Kinh
và Tô Lịch để tàu bè thuận tiện giao thương, tưới tiêu nông nghiệp Thời Trần, việc đắp đê thủy lợi, trị thủy thực hiện trên phạm vi cả nước Năm
1248, Trần Thái Tông đặt cơ quan hà đê có chánh, phó sứ phụ trách việc đê điều ở các lộ phủ Đây là công việc quan trọng, một bước ngoặt to lớn trong lịch sử thủy lợi của nước ta Công việc xây dựng thủy lợi được nhà Trần chú trọng ở vùng Thanh Hóa và Nghệ An Đây là nơi có nhiều công trình thủy lợi nhất cả nước Năm 1248, Trần Nhân Tông cho đào sông Mã, sông Lễ và đục núi Chiếu Bạch ở Thanh Hóa Năm 1256, triều đình cho khơi lại sông Tô Lịch nhằm đảm bảo giao thông và đảm bảo nguồn nước tưới tiêu cho các vùng quanh kinh thành
Nhờ những thành tựu trong công tác trị thủy, mở ra hệ thống giao thông đường thủy tạo điều kiện phát triển trao đổi mua bán giữa các vùng trong cả nước Kinh thành Thăng Long là nơi “bốn phương hội tụ”, là
Trang 25trung tâm kinh tế cả về nông nghiệp và thương nghiệp của cả nước Thương nghiệp phát triển mạnh nhờ hệ thống thủy lợi Các trung tâm thương nghiệp như Tư Phổ(Thanh Hóa), Long Biên (Hà Nội), Luy Lâu (Hà Bắc), Thăng Long,… nhiều làng quê đã xuất hiện chợ Quan hệ giữa Đại Việt và các nước khác như Trung Quốc, Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm được thực hiện chủ yếu qua đường biển và một số thương cảng lớn như Vân Đồn (Quảng Ninh)
Để phát triển lưu thông hàng hóa các vua Đại việt đều thực hiện đúc tiền Nhà Trần đã mở rộng việc mua bán ruộng bằng tiền, việc đúc tiền do quan xưởng đảm nhiệm Quan hệ tiền tệ đã thâm nhập vào đời sống kinh tế
- xã hội Nhà nước thu tô thuế bằng tiền, chức năng thanh toán bằng tiền đến thời Trần đã phát triển rộng khắp
Kinh tế thủ công nghiệp, nhà nước tiếp tục xây dựng xưởng công nghiệp lớn gồm nhiều ngành nghề như: Nghề gốm, nghề dệt ở Trích Sài (Hà Nội), nghề dâu ở Nghi Tầm (Hà Nội), nghề làm nón ở Ma Lôi (Hưng Yên), nghề mộc, rèn, sản xuất vũ khí, nghề làm giấy, Thời kỳ này thủ công nghiệp được tiến hành sản xuất chủ yếu trong gia đình, mang tính tự cung tự cấp
Dệt là nghề thủ công cổ truyền của dân tộc, đến thời Lý thì ngành dệt mang tính phổ biến và được nhà nước bảo trợ, đặc biệt là nghề dệt tơ tằm như vào năm 1040, vua Lý Thái Tông đã dạy cung nữ dệt được gấm vóc Nghề gốm đã tồn tại khá lâu trong lịch sử dân tộc, đến thời Lý thì đạt trình độ cao về kỹ thuật lẫn nghệ thuật Triều đình ra lệnh cho người dân làm ngói, gạch lớn, có trang trí hình tháp, hoa, rồng trong xây dựng Hoàng Thành, chùa, đền, miếu, Các đồ gia dụng, kiến trúc, điêu khắc Phật giáo thể hiện tính sáng tạo, khéo léo đạt tới mức tinh xảo Cho nên,
Trang 26sau khi đất nước giành độc lập, nghề gốm đã góp phần tạo dựng nét văn hóa riêng của dân tộc
Nghề luyện kim, vào năm 1014, Lý Công Uẩn vừa mới lên ngôi xuống chiếu phát 310 lạng vàng trong kho để đúc chuông treo ở chùa Hưng Thiên Năm 1057, Lý Thánh Tông xuống chiếu cho đúc hai pho tượng Phạm Vương và Đế Thích bằng vàng để phụng thờ Ngoài ra, năm 1010,
Lý Thái Tổ cho 1680 lạng bạc để đúc chuông lớn ở chùa Đại Giác; năm
1056 Lý Thánh Tông cho 12.000 cân đồng để đúc chuông đặt ở chùa Sùng Khánh Báo Thiên, Dù kỹ thuật bấy giờ là thủ công nhưng dân ta đã biết cách nung chảy kim loại để đúc tượng, chế tạo vũ khí và đúc tiền
Từ thế kỷ XII – XIV là giai đoạn kinh tế hàng hóa và ngoại thương phát triển, kinh tế tiểu nông, kinh tế đại địa chủ phát triển mạnh, góp phần thúc đẩy kinh tế Đại Việt phát triển bền vững
Đời sống kinh tế của nhân dân ta trong giai đoạn này phát triển một cách bền vững là nhờ vào những vị vua anh minh đã thiết lập chế
độ chính trị ổn định, các chính sách kinh tế phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của nhân dân Khi kinh tế phát triển thì mức sống của nhân dân được nâng cao, người dân có điều kiện để quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, tâm linh,
Những điều kiện về kinh tế, chính trị không phản ánh trực tiếp ngay trong nhân sinh quan, nhưng chính sự phát triển kinh tế, quân sự, ngoại giao góp phần tạo nên triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần
Về văn hóa – xã hội Việt Nam thời Lý – Trần
Về xã hội, từ những chuyển biến trong đời sống chính trị, kinh tế, cùng với việc xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế vững mạnh đã tác động đến kết cấu giai cấp trong xã hội thời Lý – Trần Cấu trúc xã hội với
Trang 27hệ thống cộng đồng làng xã và chế độ công hữu ruộng đất và thân tộc gia trưởng Xã hội tồn tại ba đẳng cấp chính:
Một là, đẳng cấp quý tộc: Trong kết cấu đẳng cấp thời Lý – Trần, nhà vua giữ vai trò đặc biệt, đứng đầu trung tâm cộng đồng, điều hành mọi công việc nhà nước Nhà vua nắm quyền độc tôn và vô thượng, tập trung lãnh đạo toàn diện trong một thể thống nhất không thể phân chia Theo quan niệm phương Đông, hoàng đế được xem là “thiên tử”, con của trời, nên vâng mệnh hoàng đế là vân mệnh trời Trong Chiếu dời đô, nhà vua cũng nói mình thuận theo lòng trời và xã tắc “Trên kinh mệnh trời, dưới theo ý dân” [4, tr 229 - 230] Việc kết hợp thần quyền và vương quyền, chính trị và tôn giáo là một nét đặc trưng của văn hóa phương Đông, nhằm gia tăng quyền lực vào tay Hoàng đế Nhà Lý – Trần duy trì chế độ kế thừa cha truyền con nối trong tôn thất, duy trì việc kết hôn trong thân tộc, nhằm hạn chế sự xâm nhập của các gia tộc khác Để tránh những cuộc va chạm tranh chấp ngôi vua, giữ vững vương triều, nhà Trần còn áp dụng chế độ Thái thượng hoàng, tức là vua cha chỉ điều hành đất nước trong trong khoản thời gian nào đó rồi giao chuyển quyền hành cho con nối nghiệp Giúp việc cho vua còn có đội ngũ quan lại – quý tộc Khi các vua lên ngôi, việc đầu tiên là phong tước, phong hầu cho tầng lớp quý tộc cho dòng
họ thân thích gần xa Cơ cấu dòng họ vào những chức vụ quan trọng như Đông chính vương, Vũ đức vương, Khai quốc vương…, những chức quan như thái sư, thái úy, đô nguyên soái, phó đô nguyên soái, đại tướng quân… thì chỉ dành cho tôn thất dòng họ Nhà Trần còn thi hành chế độ “tông tử duy thành” vững chắc bảo vệ dòng họ nhà vua Bộ máy quan lại quý tộc ngày càng mở rộng do sự phát triển kinh tế, dân số tăng, mở rộng lãnh thổ
Hai là, đẳng cấp bình dân: là đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội bao gồm nhiều thành phần từ dân thành thị đến dân làng xã với đủ các
Trang 28ngành nghề từ nông dân, nghề thủ công, buôn bán nhỏ, đánh cá, làm gồm,… Trong đó nông dân là bộ phận chính tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là bộ phận nòng cốt đóng vai trò quan trong trong nền kinh tế của cả nước Người nông dân phải nộp tô thuế cho quốc khố Với chính sách “ngự binh ư nông”, giới bình dân có thể vừa sản xuất nông nghiệp vừa đi lính
Tổ chức đời sống của nông dân theo làng xã, thân tộc Hệ thống làng xã đóng vai trò quan trong trong xã hội Đại Việt, nó là tế bào hạt nhân nuôi dưỡng cả dân tộc, là tường thành vững chắc chống ngoại xâm và đồng hóa
về văn hóa Làng xã là tường thành vững chắc bảo vệ chế độ phong kiến trung ương tập quyền Chính vì vậy, chính quyền rất coi trọng làng xã và các vị hương lão trong làng
Ba là, đẳng cấp nô tỳ: họ cũng đóng góp vào việc sản xuất, canh tác song họ phải phục vụ cho nhà vua, các quý tộc, vương hầu sử dụng trong phủ Thân phận của họ thấp kém, chỉ là người phụ vụ cho vương thân quý tộc Nô tỳ là những người dân tự do sa cơ thất thế, bị bắt làm nô dịch cho phủ Pháp luật thời Lý – Trần cũng có điều luật công nhận nô tỳ của đẳng cấp quý tộc Điều này có nghĩa là nô tỳ là đẳng cấp cùng đinh trong xã hội được triều đình và xã hội công nhận
Cấu trúc xã hội – chính trị thời Lý – Trần tồn tại ba đẳng cấp: quý tộc, bình dân và nô tỳ Cơ chế đẳng cấp này tồn tại, cần bằng, ổn định một thể thống nhất Quyền lực tập trung vào tay vua và các qúy tộc thiết lập bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền vững chắc
Về văn hóa, tư tưởng các triều đại phong kiến chủ động tiếp thu Nho giáo, từ thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, các triều đại mới thành lập, nên phải dành thời gian quan tâm xây dựng đất nước sau ngàn năm Bắc thuộc, xây dựng kinh tế, phát triển chính trị ổn định đời sống xã hội, vấn đề văn hóa, tư tưởng chưa được quan tâm phát triển Đến thời Lý – Trần đất nước
Trang 29thanh bình, nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước ngày càng cao hơn,
đã chủ động tiếp thu tư tưởng Nho, Phật, Đạo Thời kỳ này Phật giáo ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống xã hội, giải quyết được vấn đề đạo đức, nhân sinh, vấn đề nhân tâm, tạo nên sự bình ổn trong xã hội Chính
vì vậy văn học, đặc biệt là văn học Phật giáo phát triển với nhiều tác giả vừa là thiền sư vừa là nhà thơ
Trong thời kỳ Lý – Trần, Nho – Phật – Đạo đều tồn tại, tuy nhiên Phật giáo có ảnh hưởng lớn trong thời Lý – Trần Đầu thời kỳ độc lập, Nho giáo phát triển chưa đáng kể Đến thời nhà Lý (1070), khi Nho học có khoa thi đầu tiên để chọn người làm quan thì Nho học bắt đầu bước lên vũ đài chính trị của các triều đại phong kiến Việt Nam Phật giáo phát triển, đi vào đời sống dân gian Nó tập trung giải quyết vấn đề đạo đức dân sinh, nó không thể trở thành hệ thống lý luận để quản lý xã hội Cho nên Nho giáo
có mảnh đất mới để tồn tại và phát triển Khi Nho – Phật – Đạo cùng tồn tại phát triển, Lý – Trần đã đạt được nhiều thành tựu trong mọi lĩnh vực, trở nên hưng thịnh, nó phát huy được sức mạnh tổng hợp của ba trường phái
Ở thời kỳ này các tầng lớp trí thức không chỉ am hiểu thuần túy Nho – Phật – Đạo, mà họ nghiên cứu cả ba trường phái Nhờ đó mà phát huy được sức mạnh của Nho – Phật – Đạo
Thời nhà Trần, Nho – Phật cùng tồn tại nhưng xảy ra cuộc đấu tranh lẫn nhau về tư tưởng, tạo ra mạch ngầm về phân chia địa bàn hoạt động, Nho giáo hoạt động trên chính trị, Phật giáo hoạt động trên đạo đức, mặc
dù Phật giáo chiếm ưu thế trong đời sống dân gian nhưng do phát triển của nền khoa cử giáo dục Nho giáo, số lượng Nho sĩ ngày càng tăng lên cùng với sức mạnh của chính quyền phong kiến tạo điều kiện cho Nho giáo có vị trí cao hơn so với Phật giáo
Trang 30Khi Nho – Phật – Đạo được dân tộc ta chủ động tiếp thu thì có những biến đổi lớn trên nhiều phương diện, đặc biệt là các nội dung, các quan điểm, các phạm trù của Nho – Phật – Đạo, nó biến đổi theo nhu cầu
xã hội Việt Nam Chẳng hạn, tư tưởng “thiên mệnh” của Nho giáo không chỉ bảo vệ lợi ích của nhà vua mà còn bảo vệ lợi ích của dân tộc Tư tưởng Phật giáo từ xuất thế nhưng khi vào Việt Nam thì nhập thế, trung quân gắn với ái quốc Đặc biệt các giá trị của Nho – Phật có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Tầng lớp sĩ phu Nho giáo tiếp nhận cả giá trị của Phật giáo Trong tác phẩm “Nam quốc sơn hà”, Lý Thường Kiệt vừa sử dụng quan điểm “Thiên mệnh” của Nho giáo nhưng nội dung đã thay đổi Đó là thể hiện ý chí độc lập tự chủ, quan tâm bảo vệ đất nước, phản ánh chủ nghĩa yêu nước, phản ánh ý chí của dân tộc Việt Nam, có thể nói khi dân tộc ta chủ động tiếp thu
đã làm xuất hiện nhiều vấn đề trong đời sống xã hội gắn liền với bản sắc của văn học Việt Nam như là chữ Nôm đã xuất hiện
Chính vì vậy, thời đại Lý – Trần theo Nguyễn Công Lý là thời đại oanh liệt, rực rỡ, hào hùng và đẹp đẽ của lịch sử Việt Nam Chính tinh thần thời đại đã sản sinh ra những nhà vua, vị sư, các vị tướng cũng đồng thời là nhà văn, nhà thơ Và cũng chính những câu văn, lời thơ đã phản ánh đúng tinh thần thời đại Là thời đại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thống nhất cộng đồng Thời đại phục hưng dân tộc và phát triển đất nước Thời đại khoan thai, an lạc, nhân thứ, mở rộng và cao đẹp
1.2.2 Vài nét về thơ văn thời Lý - Trần
Thời Lý – Trần là thời kỳ nước ta được giải phóng khỏi ách thống trị của ngoại xâm bắt đầu công cuộc xây dựng đất nước Đây là thời kỳ oanh liệt và rực rõ nhất trong lịch sử dân tộc Khi nói đây là thời kỳ oanh liệt được thể hiện trong việc chống ngoại xâm, và rực rỡ trong công việc bảo
vệ, xây dựng bờ cõi sau chiến thắng Theo “Thơ văn Lý – Trần tập I:
Trang 31“Chúng ta có thể hiểu nỗi niềm vui sướng của cả một dân tộc lúc này là thế nào Đây là hào hứng của cả nước Chế độ vương triều, nhà Lý (1009 - 1225) cũng như nhà Trần (1225 - 1400), nói chung có những vị vua xứng đáng với dân tộc anh hùng Hào hứng đó bao hàm một niềm tin, một quyết tâm Tin vào tiền đồ của đất nước, quyết tâm bảo vệ bờ cõi, xây dựng cơ đồ.” [4, tr.35] Chính vì vậy, Lý – Trần là thời kỳ phát triển đỉnh cao cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng
Văn học giai đoạn này phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt là dân tộc
ta giành được độc lập sau ngàn năm Bắc thuộc Văn học có những bước ngoặt lớn, văn học viết ra đời (thế kỷ X) và sự xuất hiện của văn học chữ Nôm (cuối thế kỷ XIII) với sự đa dạng về thể loại và nội dung cảm hứng
Về mặt thể loại, văn học thời Lý – Trần có các thể loại chính như: thi ca gồm thơ Thiền, thơ tự sự, thơ trữ tình, ; biền văn có các cách thể hiện như phú, hịch, cáo, chiếu, biểu, tấu, ; tản văn có các dạng điển hình như văn bình luận, ngữ lục…; truyện kể có các hình thức chủ yếu như truyện, sử, bi, ký, Nhiều thể loại văn chương trong thời đại này đã góp phần tạo nên bộ mặt chính trị - xã hội và bộc lộ những quan điểm cụ thể, những tư tưởng trong việc dựng nước và giữ nước
Văn học thời Lý – Trần gồm văn học Phật giáo và văn học yêu nước
Tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Lý – Trần chủ yếu là tư tưởng Thiền học
Nó bao gồm các tác phẩm triết học, lịch sử, thơ, phú, kệ do các tăng ni tri thức viết, như các tác phẩm Khóa hư lục, Thiền tông chỉ nam của Trần Thái Tông, Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam tổ thực lục,…
Bài Sơ nhật vô thường kệ trong quyển hạ Khóa Hư Lục:
“Dạ sắc sơ phân hiểu,
Thần quang tiệm xuất không
Ám thôi tân phát bạch,
Trang 32Tiệm cải cựu nhan hồng
Bất giác niên hoa xúc,
Do tranh nghiệp quả bùng
Thân như băng kiến hiện,
Mệnh tự chúc đương phong
Mạc tác trường niên khách,
Chung quy tảo chiếu công” [5, tr.172]
Dịch thơ:
Đêm tối vừa hửng rạng,
Vầng dương ló khoảng không
Tóc xuân ngầm điểm trắng,
Nét ngọc sắp phai hồng
Nào biết niên hóa ngắn,
Còn tranh nghiệp quả hùng
Thân: lớp băng nắng rọi,
Mệnh: ngọn đuốc gió tung
Chớ mãi làm thân khách,
Sớm về mà thu công
Tiêu biểu dòng thơ mang cảm hưng thiền học như bài Tự tại của Tuệ Trung thượng sĩ:
“Đằng thử vô đoan tiệm tiệm xâm,
Quy lai chung lão ký sơn lâm,
Sài môn mao ốc cư tiêu sái,
Vô thị vô phi tự tại tâm” [5, tr.241]
Dịch thơ:
Nanh chuột dây bìm cứ lấn xâm,
Về thôi, già gởi chốn sơn lâm
Trang 33Nhà tranh cửa liếp phong quang chán,
Phải trái đều không, tự tại tâm
Dòng thơ văn yêu nước cũng giữ vị trí quan trọng trong thơ văn Lý – Trần, phản ánh tinh thần bất khuất, anh dũng chống giặc ngoại xâm, lòng trung quân ái quốc cũng như lòng tự hào dân tộc
Văn học thời Lý đã mở đầu cho những truyền thống lớn của dòng văn học viết, như truyền thống chống ngoại xâm và trong việc kiến thiết xây dựng đất nước Bài thơ “Quốc Tộ”mà thiền sư Đỗ Pháp Thuận đã trả lời Lê Hoàn về vận nước năm 981:
“Quốc tộ như đằng lạc,
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh.” [4, tr.204]
Đáp Quốc vương quốc lộ chi vấn – Đỗ Pháp Thuận
Dịch thơ:
Ngôi nước như mấy quấn,
Trời Nam mở thái bình
Vô vi trên điện gác,
Chốn chốn tắt đao binh
Trả lời nhà vua về ngôi nước – Đoàn Thăng dịch
Đây không chỉ là bài từ sắc sảo về đường lối chính trị tiêu biểu cho nội dung yêu nước mà còn về ngôn ngữ văn bản Đây được xem là một trong những văn bản mở đầu cho văn học viết Việt Nam tính từ khi giành được độc lập tự chủ
Các tác phẩm khác như, Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của Lý Công Uẩn, bài thơ Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn hà) đã mở đầu cho dòng văn học yêu nước Những tác phẩm như Hịch tướng sĩ (Dụ chư tì tướng
Trang 34hịch văn) của Trần Quốc Tuấn, Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) của Trần Quang Khải, Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú) của Trương Hán Siêu tiêu biểu cho nội dung yêu nước
Bài thơ Nam Quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.” [4, tr.322]
Dịch thơ:
Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ
Hay bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão:
“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.” [5, tr.562]
Dịch thơ:
Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân hùng khí át sao Ngưu
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu
(Trần Trọng Kim dịch)
Văn học Lý – Trần đã phản ánh đặc trưng thời đại, theo Nguyễn Công Lý, nổi bật lên với ba đặc điểm cơ bản: “Một là văn học Lý – Trần
Trang 35hình thành trong sự lệ thuộc, ảnh hưởng có thể nói là nặng nề bởi nhiều yếu tố ngoại lai, đặc biệt là yếu tố Hán nhưng vẫn cố gắng vận động để phát triển theo hướng dân tộc hóa Hai là, văn học Lý – Trần đã vận động
và phát triển trên cơ sở ý thức dân tộc kết hợp cảm hứng thời đại, mở ra
một dòng văn học yêu nước trong văn chương Việt Nam Ba là, văn học
Lý – Trần đã hình thành những giá trị nhân bản trong đó lòng nhân ái, nhân đạo đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn chương” Tinh thần nhân bản này không chỉ là tình thương con người mà còn là sự khám phá các giá trị của con người trong mối quan hệ với vũ trụ, tự nhiên, gia đình,
xã hội Chính vì vậy luận văn này đi sâu nghiên cứu phân tích giá trị triết lý
nhân sinh của thơ văn Lý – Trần ở hai cấp độ: Thứ nhất, triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; Thứ hai, triết lý về mối quan hệ giữa
con người với con người
Tiểu kết chương 1
Thời đại Lý – Trần trong lịch sử dân tộc Việt Nam là mốc son chói lọi trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của một quốc gia phong kiến độc lập Lý – Trần cho thấy một tổng quan xuyên suốt trên nhiều phương diện
từ xã hội đến tư tưởng Từ những mặt quen thuộc như kinh tế, chính trị, xã hội, tác giả cũng muốn điểm qua các vấn đề khác như tư tưởng, văn hóa và mấy suy nghĩ về văn chương thời đại Đó là hào khí sôi sục lòng yêu nước,
là lòng vị tha nhân bản sâu sắc
Văn học Lý – Trần đã phản ánh những đặc trưng cơ bản của thời đại Văn học Lý – Trần là thời kỳ văn học chính thức mở đầu, có nhiệm vụ khai phá, mở đường cho văn học Việt Nam sau khi giành lại độc lập (năm 938) Thơ văn Lý – Trần đã hình thành những giá trị nhân bản trong đó lòng nhân ái, nhân đạo đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn chương.Tinh thần nhân bản này không chỉ là tình thương con người mà còn
Trang 36là sự khám phá các giá trị của con người trong mối quan hệ với vũ trụ, tự nhiên, gia đình, xã hội
Thơ văn thời Lý – Trần là tấm gương phản chiếu của đời sống kinh
tế - xã hội thời Lý – Trần nói riêng và Việt Nam nói chung Vì vậy, thông qua sự phản ánh đó chúng ta có thể nắm bắt được những triết lý về đời sống của con người ở thời đại này Theo nghĩa đó, chương 1 của luận văn
là tiền đề cho sự tiếp tục triển khai ở chương 2
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG THƠ VĂN LÝ – TRẦN
Nói đến nhân sinh quan tức là chúng ta nói đến cuộc sống của con người trong xã hội và trong quan hệ của con người với tự nhiên, đến mục đích và lẽ sống của con người Vì vậy, khi bàn đến tính triết lý nhân sinh chính là bàn những quan điểm, quan niệm cơ bản, đóng vai trò nền tảng chỉ đạo cách ứng xử, suy nghĩ và hành động của con người trong quan hệ với bản thân, với tự nhiên và với xã hội
2.1 Triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
Triết học Mác- Lênin khẳng định: “Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức” [3, tr.298] Thực tế đã cho thấy rằng, con người trong mọi hoạt động nhận thức của mình đều có quan hệ với thế giới tự nhiên, với mục đích cải tạo thế giới tự nhiên để phục vụ cuộc sống của mình Tuy nhiên, việc cải tạo giới tự nhiên không phải là vấn đề đơn giản, đòi hỏi con người phải hiểu được các hiện tượng của tự nhiên, vạch ra được các thuộc tính, nắm được các quy luật vận động và phát triển của nó
Con người đã tự xem mình là một phần tử của vũ trụ và điều đó được thể hiện qua thơ văn bởi quan niệm thiên nhân tương dữ, thiên nhân hợp nhất Vì thế, giữa con người với vũ trụ, tự nhiên có sự gắn bó hoà đồng, có mối quan hệ tương giao Nhờ sự gặp gỡ của Phật, Lão – Trang và tính cánh người Việt, đó là sự gặp gỡ giữa chất phóng khoáng, cởi mở, nhập thế, cùng xuất phát từ tư duy tổng hợp, nhất nguyên, vạn vật nhất thể, tâm pháp nhất như của Phật với chất phiêu diêu, tư tưởng hoà quang đồng trần của Lão – Trang với đức tính dung dị, mềm dẻo, linh hoạt, sống phụ thuộc vào thiên nhiên của người Việt Chính vì vậy, văn học Lý – Trần, đặc biệt là văn học Phật giáo Lý – Trần đã đem lại
Trang 38cho người đọc nhiều tác phẩm thể hiện sự gắn bó tương giao ấy, tạo nên hình ảnh con người vũ trụ thật đẹp:
“Phả nại hề thế thái viêm lương
Thâm tắc lệ hề thiển tắc yết,
Tỉnh một đời chừ, chớ chạy quàng
Cảm nhận được sự hòa hợp giữa con người vơi thiên nhiên,Tuệ Trung thượng sĩ đã đưa ra nguyên tắc sống: “Tùy duyên theo lẽ trời, tùy tục theo lẽ đời, sống hết mình theo trời, theo người và theo tâm” [16, tr.171] Tùy duyên ở đây là sống hợp với quy luật tự nhiên và cả quy luật xã hội
Với tinh thần tuân theo quy luật của tự nhiên và xã hội, Tuệ Trung đã đưa ra nguyên tắc sống hòa với đời và không làm trái quy luật của tự nhiên Một ví dụ về nguyên tắc sống của ông, một hôm trong bữa cơm thân mật với hoàng hậu (em gái ông), thấy ông không kiêng thịt, hoàng hậu lấy làm
lạ và hỏi rằng:
“Anh tu Thiền mà ăn thịt thì thành Phật sao được?”
Tuệ Trung Thượng Sĩ đã trả lời:
“Phật tự Phật, huynh tự huynh
Huynh dã bất yếu tố Phật
Phật dã bất yếu tố huynh
Trang 39Giải thoát là giải thoát” đó sao?
Trong một bài thơ khác ông đã giải thích hành động của mình: ăn thịt hay ăn cỏ đều là đặc điểm của tự nhiên như mùa xuân đến thì cỏ cây mọc lên Vì vậy, không thế cho là tội hay phúc trong việc ăn thịt và ăn cỏ Ông viết:
“Khiết khảo dữ khiết nhục,
Xuân về cây cỏ sinh,
Họa phúc nào đâu có?
Quan điểm mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới này luôn luôn biến động Con người là một sinh thể trong thới giới ấy cũng không nằm ngoài quy luật này
“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,
Trang 40Vận mộc xuân vinh, thu hựu khó
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.” [4, tr.218]
Dịch thơ:
Thân như bóng chớp, có rồi không
Cây cối xuân tươi, thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,
Kia kia ngọn cỏ giọt sương đông
(Ngô Tất Tố dịch)
Thơ Thiền đời Lý không chỉ thuyết minh cho tư tưởng, giáo lý nhà Phật mà còn thể hiện một thái độ tích cực nhập thế, gắn bó sâu sắc với con người và tạo vật
Thiền sư Không Lộ, đã thể hiện một các phóng khoáng sự hòa cảm với thiên nhiên của mình:
“Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.” [4, tr.385]
Dịch thơ:
Kiểu đất long xà chọn được nơi,
Tình quê lai láng chẳng hề vơi
Có khi xong thẳng lên đầu núi,
Một tiếng kêu vang, lạnh cả trời
(Kiều Thu Hoạch dịch)
2.2 Triết lý về mối quan hệ giữa con người với con người
Triết lý về mối quan hệ giữa con người với con người là những nguyên tắc đạo lý làm người, là thái độ ứng xử tốt đẹp trong các mối quan