Ở văn học trung đại, thiên tính nữ cũng đã được thể hiện khá rõ trong một số sáng tác của các nữ sĩ như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, hoặc qua một số tác phẩm viết về người phụ nữ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM
TRẦN THỊ LỆ
THIÊN TÍNH NỮ TRONG THƠ NÔM TRUYỀN BẢN
CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên - Năm 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM
TRẦN THỊ LỆ
THIÊN TÍNH NỮ TRONG THƠ NÔM TRUYỀN BẢN
CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lã Nhâm Thìn
Thái Nguyên - Năm 2012
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Lã Nhâm Thìn, người thầy nhiệt tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Đồng thời tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Sau Đại học
- Khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên, Trường THPT Lạng Giang số 3 - Bắc Giang đã chỉ bảo tận tình, động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012
Tác giả
Trần Thị Lệ
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Thị Lệ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 THIÊN TÍNH NỮ QUA CHỦ ĐỀ NGƯỜI PHỤ NỮ 11
1.1 Khái niệm tính nữ và thiên tính nữ 11
1.1.1 Tính nữ 11
1.1.2 Thiên tính nữ 12
1.3 Thiên tính nữ qua bi kịch của người phụ nữ 15
1.3.1 Bi kịch về tinh thần, tình cảm 15
1.3.2 Những bi kịch về thể chất 23
1.4 Thiên tính nữ qua vẻ đẹp và khát vọng người phụ nữ 25
1.4.1 Vẻ đẹp người phụ nữ 25
Tiểu kết 43
Chương 2 THIÊN TÍNH NỮ QUA THƠ THIÊN NHIÊN 45
2.1 Cảm nhận thiên nhiên mang thiên tính nữ 45
2.2 Hình tượng thiên nhiên mang thiên tính nữ 47
2.2.1 Hình tượng thiên nhiên mang vẻ đẹp hình thể, trần thế của người phụ nữ 47
2.2.2 Hình tượng thiên nhiên mang vẻ đẹp phồn thực, đầy nữ tính 54
Tiểu kết 64
Chương 3 THIÊN TÍNH NỮ QUA NGHỆ THUẬT THƠ 65
3.1 Hệ thống từ ngữ thể hiện thiên tính nữ 65
3.1.1.Cách xưng hô 65
3.1.2.Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao 69
3.1.3 Chơi chữ 73
Trang 63.1.4 Nói lái, nói vòng 74
3.2 Giọng điệu mang thiên tính nữ 76
Tiểu kết 79
PHẦN KẾT LUẬN 80
1 Khái quát những vấn đề đã nghiên cứu 80
2 Hướng phát triển của đề tài: 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7tính nữ Do đó từ trước đến giờ người ta nhiều khi coi đó là một thứ “cấm kị”,
tránh nói đến, nhất là ở các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam
1.1.2 Thiên tính nữ được thể hiện ở nhiều mặt trong các loại hình nghệ thuật, nhưng có lẽ không có loại hình nghệ thuật nào thể hiện được tính nữ một cách đầy đủ, trọn vẹn, có chiều sâu như trong văn chương Ở văn học trung đại, thiên tính nữ cũng đã được thể hiện khá rõ trong một số sáng tác của các nữ sĩ như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, hoặc qua một số tác phẩm viết
về người phụ nữ như Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc Nữ sĩ họ Hồ
có được vị trí đặc biệt trên văn đàn là bởi những tư tưởng, những vấn đề mà bà
đã đề cập được soi sáng ở mọi thời điểm và vào lúc nào vấn đề đó cũng mới, cũng lạ, cũng gây hứng thú cho người đọc Những điều đó không nằm ngoài khát vọng của con người về hạnh phúc, về tình yêu… nhằm thỏa mãn mọi nhu
cầu “tự nhiên”, rất “bản chất” của con người
1.1.3 Ở một nhà thơ nữ viết nhiều và viết hay về người phụ nữ như Hồ Xuân Hương thì thiên tính nữ càng được thể hiện một cách sắc nét Dường như bất cứ ai khi tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương cũng thấy vấn đề thiên tính nữ là điểm mạnh, khía cạnh độc đáo nhất, nổi bật nhất trong các vấn đề bà đề cập Đặt vấn đề nghiên cứu thiên tính nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương chắc hẳn
Trang 8người viết sẽ tìm được những điều mới mẻ, thú vị, bổ ích Ở đề tài này, cùng với những người nghiên cứu đi trước, người viết hy vọng sẽ góp thêm ý kiến nhỏ làm rõ hơn diện mạo vấn đề thiên tính trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Nghiên cứu thiên tính nữ trong thơ Nôm truyền bản của Hồ Xuân Hương là một hướng tiếp cận mới, có thể chỉ ra những biểu hiện độc đáo cả về
nội dung và nghệ thuật của "Bà chúa thơ Nôm"
1.2 Về thực tiễn
1.2.1 Thơ Hồ Xuân Hương được giảng dạy trong nhà trường các cấp, từ phổ thông đến đại học Ở chương trình phổ thông, nhiều bài thơ của Hồ Xuân
Hương có liên quan tới vấn đề thiên tính nữ như Bánh trôi nước, Đề đền Sầm
Nghi Đống, Mời trầu, Tự tình Đề tài này giúp cho việc giảng dạy Ngữ văn
trong nhà trường được tốt hơn
1.2.2 Đề tài còn mang ý nghĩa xã hội Hiện nay vấn đề bình đẳng giới, công bằng giới đang được xã hội rất quan tâm Đề tài này, từ góc độ văn học đã góp thêm một tiếng nói vào vào vấn đề vừa mang tính chất thời sự vừa có ý nghĩa lâu dài đó của cả cộng đồng
2 Lịch sử vấn đề
Hồ Xuân Hương với tài thơ độc đáo đã trở thành một “trung tâm” thu
hút biết bao nhiêu thế hệ nhà nghiên cứu và các độc giả yêu quý Xuân Hương cũng như thơ bà vào cuộc kiếm tìm, vì vậy mà thân thế và thi tài của bà liên tục được định giá lại Nghiên cứu về con người và thơ Hồ Xuân Hương đã như một vấn đề thời sự văn học Thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã được giới nghiên cứu tiếp nhận ở nhiều góc độ như phê bình văn học, tiếp nhận văn học, nhiều khuynh hướng như phân tâm học, văn bản học, xã hội học, văn hóa học… Qua các công trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, từ trước đến nay, chúng ta nhận thấy, việc đánh giá về thơ Hồ Xuân Hương đã diễn ra rất phức tạp Riêng việc tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ thiên tính nữ thì chưa thật nhiều, các ý kiến chủ yếu xoay quanh vấn đề dâm, tục trong thơ bà
Nhìn chung có ba hướng nghiên cứu chủ yếu có liên quan tới đề tài
Trang 92.1 Nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương
Tìm hiểu thơ Hồ Xuân Hương nói chung, một số công trình nghiên cứu
đã ít nhiều đề cập tới những biểu hiện mang đặc điểm riêng của người phụ nữ
trong thơ Hồ Xuân Hương, có thể xem là đã đề cập tới khía cạnh "giới" có liên
quan tới đề tài
Hướng nghiên cứu này gồm các giáo trình đại học và các chuyên luận về thơ Hồ Xuân Hương Các giáo trình đại học như giáo trình Đại học Tổng hợp
Hà Nội (nay là Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) với phần viết của PGS Nguyễn Lộc; giáo trình Đại học Sư phạm Hà Nội qua các thời kì với các phần viết của PGS Lê Hoài Nam, PGS Hoàng Hữu Yên, PGS.TS Lã Nhâm Thìn Các chuyên luận về Hồ Xuân Hương như chuyên luận của GS Lê Trí Viễn, PGS.TS Đỗ Lai Thuý, PGS.TS Đào Thái Tôn, Luận án tiến sĩ của Ngô Gia Võ
Trong Lời giới thiệu in trong tập Thơ Nôm Hồ Xuân Hương (1982), bài
viết này của Nguyễn Lộc đã xem hình tượng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân
Hương như là hình tượng đại diện cho toàn thể người phụ nữ bị áp bức trong xã hội phong kiến Việt Nam Vì vậy, đối với ông, những nội dung trữ tình trong thơ Hồ Xuân Hương cũng phản ánh nội dung tình cảm của những người phụ nữ
bị áp bức Tuy nhiên, Nguyễn Lộc không xem vấn đề nghĩa ngầm, dâm và tục
là phương tiện chính đả kích sự dâm đãng Mặt khác, ông luôn đặt hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương trong tiến trình lịch sử văn học, bên cạnh trào lưu nhân văn chủ nghĩa trong văn học thế kỉ XVIII –XIX Điều này soi sáng được mối liên hệ giữa thơ Hồ Xuân Hương và các sáng tác khác, góp phần cho thấy hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương không phải là hiện tượng lạ lẫm, bất thường
Những công trình nghiên cứu thơ Nôm Hồ Xuân Hương theo hướng tiếp
cận văn hoá cũng có đề cập đến vấn đề giới tính như công trình Hồ Xuân Hương
– Hoài niệm phồn thực của Đỗ Lai Thuý Ông vận dụng hai khái niệm chủ chốt
của nhân học văn hoá là “biểu tượng phồn thực” – âm vật và dương vật, “vô thức
Trang 10tập thể” để soi chiếu và giải mã hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương Theo ông “tín ngưỡng phồn thực” là cơ sở chính tạo nên hiện tượng thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Ở công trình này, Đỗ Lai Thuý cũng đã lý giải hiện tượng tục dâm trong thơ Hồ
Xuân Hương bắt nguồn từ điểm nhìn văn hoá Ý kiến này giải thích phần nào sức
hấp dẫn của thơ Hồ Xuân Hương trong đời sống dân gian
Cùng quan niệm trên phải kể đến Lê Hoài Nam viết về phần Hồ Xuân
Hương trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, thời kì I (Gs Lê Trí Viễn chủ biên) Về vấn đề tục dâm ông cho rằng muốn nhận định một tác phẩm nghệ
thuật dâm hay không dâm, trước hết phải căn cứ vào thái độ, mục đích của tác giả khi sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật, phải tìm bắt cho được cái nỗi niềm kín, cái rung động sâu xa mà người nghệ sĩ muốn thổ lộ với người đời Ông cho rằng những đòi hỏi hạnh phúc ái ân trong thơ Hồ Xuân Hương là chính đáng khi đặt nó trong hoàn cảnh xã hội nhất định, trong những điều kiện nhất định của một cá nhân Điều đáng chú ý là trong công trình này, ông là một trong những người đầu tiên nhấn mạnh rằng thơ Hồ Xuân Hương thể hiện một khía cạnh đầy cá tính, đó là ý thức về giá trị của mình
Giáo sư Lê Trí Viễn trong bài Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương có một số nhận xét về thơ Nôm Hồ Xuân Hương khi viết về người phụ nữ: “Nó chính là
sự sống gốc nguồn và cuộc sống trần tục Nhìn thân thể người phụ nữ mà thành
“Đèo Ba Dội”, nhìn cái riêng của phụ nữ thành “cái quạt”, “cái giếng”,
“hang Cắc Cớ” thì đó là “vật chất xác thịt được khuyếch đại đến mức khổng lồ” tựa thần thoại về nòi giống như Ông Đùng Bà Đà, Tứ Tượng, Nữ Oa mà thôi, bởi đó là hình ảnh của tập thể nhân dân luôn luôn phát triển và luôn luôn đổi mới” [39, tr.31]
Trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn
thể loại, PGS – TS Lã Nhâm Thìn, có viết những lời nhận xét thật chân xác về
cuộc đời và thơ bà từ góc độ thiên tính nữ: “Cuộc đời Hồ Xuân Hương chưa đến
mức là một “tấm gương oan khổ” cho bi kịch của người phụ nữ trong xã hội
Trang 11xưa Nhưng cuộc đời nữ sĩ đã điển hình cho những đau khổ riêng của người phụ nữ: tình duyên trắc trở, thân phận lẽ mọn,…Chính vì vậy Hồ Xuân Hương viết về mình mà tiếng nói của bà lại trở thành phát ngôn chung cho giới phụ nữ và ngược lại, khi Hồ Xuân Hương nói về nỗi khổ đau chung của giới mình thì người đọc nhận ra ngay những dấu án riêng của chính cuộc đời nhà thơ” [30, tr.87]
Ngô Gia Võ trong bài " Nghệ thuật với ý nghĩa khẳng định khát vọng
nhân văn trong thơ nôm Hồ Xuân Hương" in trong cuốn Hồ Xuân Hương tác gia và tác phẩm đã khẳng định: " Thơ Hồ Xuân Hương là khúc hát bay bổng
và rạo rực ngợi ca, khẳng định hạnh phúc trần tục của con người Thơ bà xoay
đi, xoay lại cuối cùng chủ yếu để nhằm xoáy vào việc khẳng định khát vọng tự nhiên, ngợi ca hạnh phúc trần tục, đòi giải phóng bản năng con người khỏi mọi trói buộc khổ hạnh của cường quyền và thần quyền " [42]
2.2 Nghiên cứu chủ đề người phụ nữ
Nghiên cứu chủ đề người phụ nữ trong văn học, các tác giả ít nhiều có
đề cập tới những vấn đề người phụ nữ có liên quan tới đề tài như nghiên cứu về
chủ đề người phụ nữ trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ với các bài viết
của PGS Bùi Duy Tân, PGS.TS Lã Nhâm Thìn, PGS.TS Vũ Thanh ; chủ đề
người phụ nữ trong các khúc ngâm như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, với
các bài viết của GS Đặng Thai Mai, PGS Nguyễn Lộc, GS Đặng Thanh Lê ; chủ đề người phụ nữ trong các truyện thơ Nôm với các bài viết của GS.TS Kiều Thu Hoạch, GS Đặng Thanh Lê, PGS.TS Đinh Thị Khang Đặc biệt là
chủ đề người phụ nữ qua Truyện Kiều với nhiều công trình nghiên cứu của
Trang 12Trong Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam tập I (PSG.TS Lã Nhâm Thìn chủ biên) PGS.TS Vũ Thanh có viết “Nhà văn đề cao những phẩm chất
tốt đẹp của người phụ nữ, thậm chí là những người phụ nữ có thân phận hèn kém trong xã hội Túy Tiêu, một con hát, thực chất là nô lệ trong dinh thự một vị quan nhà Trần trong Chuyện nàng Túy Tiêu, hay “ả kĩ nữ” tên Hàn Than trong Chuyện nghiệp oan của Đào Thị…Họ là những người mang trong mình những phẩm chất mẫu mực của người phụ nữ Việt Nam truyền thống, như nàng Vũ Thị Thiết “thùy mị, nết na”, chung thủy chờ chồng, hiếu nghĩa nhất mực với mẹ chồng (Chuyện người con gái Lam Xương), hoặc như nàng Nhị Khanh tiết
nghĩa, khuyên chồng chịu theo cha đến nhậm chức ở nơi “tử địa…lam chướng
nghìn trùng”, rồi ở nhà một mực thủ tiết chờ chồng, “quyết không mặc áo siêm của chồng để đi làm đẹp với người khác” khi bị ép gả cho kẻ giầu có…nhưng những con người với những đức tính cao đẹp đáng được ca ngợi và trân trọng
đó dường như không phải sinh ra để hưởng hạnh phúc mà để chịu đau khổ Tất
cả họ đều rơi vào bi kịch không lối thoát và đều phải tìm đên cái chết đôi khi đầy oan khốc dành cho những người như Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh…” [31,
tr.214 - 215] Nhận định trên đã ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người phụ
nữ trong Truyền kì mạn lục cũng như của người phụ nữ nói chung Thế nhưng
sống trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ họ “dường như không phải sinh ra để
hưởng hạnh phúc mà để chịu đau khổ”
Viết về Truyện Kiều của Nguyễn Du trong bài Quan niệm của Nguyễn
Du về cuộc đời và thân phận con người, TS Lê Thị Lan (Viện Triết học, Viện
KHXHVN) có viết: “Trong Truyện Kiều, ông đã gửi gắm tất cả niềm yêu
thương, xót xa và kỳ vọng vào người phụ nữ khi xây dựng hình tượng nàng Kiều, một phụ nữ đa tài, đa sắc, lại thánh thiện và nhân ái Trọn vẹn những lý tưởng thẩm mỹ, đạo đức và con người lý tưởng của Nguyễn Du được ông gửi gắm vào nàng Kiều Đó là hình tượng người phụ nữ đẹp nhất mà văn học Việt Nam thời phong kiến đã đạt được Nhân vật “nàng Kiều” là sự hình tượng hoá các phẩm chất cao quý của người phụ nữ: tài năng, giàu đức hy sinh, biết dũng
Trang 13cảm đương đầu với số phận, thách thức số phận, chiến thắng số phận bằng chính sự tôi luyện theo lẽ thiện, vì thế cải biến được số phận” [42]
Như vậy, với những nghiên cứu về chủ đề người phụ nữ trong văn học trung đại, các nhà nghiên cứu đã khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp hình thức, vẻ đẹp tâm hồn, nghị lực phi thường của họ Đồng thời các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra được những bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ
2.3 Nghiên cứu giới trong văn học
Đây là hướng nghiên cứu mới nên các bài viết theo hướng này ở mảng văn học trung đại Việt Nam chưa nhiều Phần lớn các bài viết nghiên cứu giới trong văn học là ở mảng văn học hiện đại Tuy nhiên có một số bài viết về Hồ Xuân Hương ít nhiều có liên quan tới vấn đề giới như các bài viết của của Tản
Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu), Văn Tân, Trần Thanh Mại
Trước hết phải kể đến Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, đầu những năm hai
mươi của thế kỉ XX, đã viết về thơ Hồ Xuân Hương: “Thơ Hồ Xuân Hương
thật tinh quái, những câu thơ hay đọc lên đến ghê người Người ta thường có câu: “Thi trung hữu hoạ” Nghĩa là trong thơ có vẽ Nhưng thơ Hồ Xuân Hương thì lại là: “Thi trung hữu quỷ” Nghĩa là trong thơ có ma! Song mà nhận ra thời tục” [24] Như thế, Tản Đà đã khẳng định có yếu tố “tục” trong
thơ Xuân Hương
Đến năm 1961, Trần Thanh Mại trong bài: “Thử bàn lại vấn đề tục và
dâm trong thơ Hồ Xuân Hương” đã khiến cho văn đàn bàn về thơ Hồ Xuân
Hương lại có dịp trở nên sôi động Từ đó thêm nhiều ý kiến về góc nhìn này
trong nội dung thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Đến Trương Tửu, dường như người ta thấy trong thơ Hồ Xuân Hương chỉ
có thuần tục và dâm Trương Tửu còn gọi Xuân Hương là “thiên tài hiếu dâm” Trương Tửu cho rằng trong thơ Hồ Xuân Hương có những “khát vọng tiềm thức”
và những “ám ảnh”, bệnh thần kinh vì dục tình không được thoả mãn [36]
Trang 14Sau đó, Nguyễn Văn Hanh đã phát triển quan điểm của Trương Tửu dựa
trên quan điểm của học thuyết phân tâm học Trong công trình Hồ Xuân
Hương, tác phẩm, thân thế và văn tài, Nguyễn Văn Hanh viết: “Dục tình ngày càng tăng, càng nén lại càng bồng bột Ngày qua tháng qua, sức ép tình dục càng tăng vì sự cần kia càng khẩn cấp Kết quả: Hồ Xuân Hương khủng hoảng tình dục Khủng hoảng nặng sẽ kết bệnh thần kinh” [36] Nguyễn Văn Hanh đã
thông qua thơ ca để tái hiện lại cuộc đời, con người Hồ Xuân Hương, từ đó ông rút ra kết luận là Hồ Xuân Hương bị khủng hoảng tình dục Nhà nghiên cứu này đã đi sâu, lí giải cội nguồn hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương từ bên trong, qua sự uẩn ức tâm lý
Tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương theo hướng này còn có Văn Tân,
trong bài Ý nghĩa và giá trị thơ Hồ Xuân Hương (trích quyển: Hồ Xuân Hương
với các giới phụ nữ, văn học và giáo dục đặt vấn đề tục dâm, nhưng khi phân
tích, ông lại bị lôi cuốn theo bởi ám ảnh của vấn đề thiếu thốn cái sinh lí: “Ở
Xuân Hương, dâm và tục gặp một khu đất màu mỡ thuận tiện cho sự phát triển:
sự khủng hoảng tính dục luôn luôn sôi sục và trầm trọng của con người rất mực đa tình là Xuân Hương Dâm và tục đã ăn sâu vào ý thức tư tưởng Xuân Hương, chi phối hầu hết thi phẩm của Xuân Hương”
Như vậy có thể thấy, mặc dù không trực tiếp đề cập tới vấn đề giới nhưng khi các nhà nghiên cứu bàn về vấn đề tính dục, vấn đề dâm và tục trong thơ của nữ sĩ họ Hồ thì cũng đã ít nhiều có sự nhìn nhận từ góc độ giới
Kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu trước, luận văn của chúng tôi trực tiếp nghiên cứu thơ Nôm truyền bản của Hồ Xuân Hương từ góc
độ thiên tính nữ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Những bài thơ Nôm truyền bản của Hồ Xuân Hương Những bài thơ nữ
sĩ được lấy từ cuốn Thơ Nôm Hồ Xuân Hương của GS.TS Kiều Thu Hoạch,
NXB Văn học, Hà Nội, 2008 Ngoài ra chúng tôi có tham khảo một số văn bản khác về thơ Hồ Xuân Hương
Trang 153.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào một số phạm vi nghiên cứu chủ yếu sau:
a Thiên tính nữ qua chủ đề người phụ nữ
b Thiên tính nữ qua thơ thiên nhiên
c Thiên tính nữ qua nghệ thuật thơ
d Ngoài ra luận văn còn mở rộng, so sánh thiên tính nữ trong thơ Hồ Xuân Hương với một số sáng tác của tác giả cùng thời như: Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm…
Trong những phạm vi nghiên cứu nói trên thì ba phạm vi nghiên cứu đầu
là trọng tâm
4 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp chủ yếu được sử dụng khi làm luận văn:
4.1.Phương pháp thống kê, phân loại:
Thống kê, phân loại những bài thơ Nôm của Hồ Xuân hương theo tiêu chí và nội dung nghiên cứu của đề tài Phương pháp này giúp cho quá trình nghiên cứu có cơ sở dữ liệu về văn bản, tránh những khái quát mang tính võ đoán, tư biện
4.2.Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản, phân tích trực tiếp những bài thơ của Hồ Xuân Hương, từ đó khái quát, tổng hợp những kết luận mang ý nghĩa khoa học
4.3 Phương pháp cấu trúc - hệ thống:
Xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc tác phẩm, tìm ra nguyên tắc chi phối
sự hình thành của chúng Đặt các tác phẩm trong toàn bộ hệ thống thơ Hồ Xuân Hương để tìm hiểu vấn đề
4.4 Phương pháp liên ngành:
Vấn đề thiên tính nữ có liên quan tới vấn đề giới, vì vậy đề tài sử dụng
phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học - xã hội học, văn học – tâm lí học…
Ngoài ra trong quá trình làm luận văn, người viết còn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử
Trang 165 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Thiên tính nữ qua chủ đề người phụ nữ
Chương 2: Thiên tính nữ qua thơ thiên nhiên
Chương 3: Thiên tính nữ qua nghệ thuật thơ
6 Đóng góp của luận văn
Kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu trứơc, luận văn của chúng tôi nghiên cứu thơ Nôm Hồ Xuân Hương từ góc độ thiên tính nữ Qua luận văn này đóng góp cho việc giảng dạy thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong nhà trường
từ THCS đến THPT Đồng thời luận văn còn mang ý nghĩa về vấn đề bình đẳng giới trong xã hộ hiện nay
Trang 17Chương 1 THIÊN TÍNH NỮ QUA CHỦ ĐỀ NGƯỜI PHỤ NỮ
1.1 Khái niệm tính nữ và thiên tính nữ
1.1.1 Tính nữ
Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường
Nữ giới trong sự phân biệt với nam giới về thể chất, sinh lí, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người
Nhìn theo khía cạnh sinh học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái
Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "nữ giới", đều chỉ
một nhóm đối tượng thuộc giới nữ nhưng mang tính phân loại cao hơn Một số
từ tiêu biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái Cách hiểu những từ này còn
rất khác nhau, do đó, cần phải chuẩn hóa chúng để tránh những thành kiến, những hiểu lầm hay những sai sót trong việc sử dụng
"Phụ nữ" là để chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành,
hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người
sử dụng Nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là không xấu, đến những giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này Ngoài ra nữ giới còn có thể gọi là đàn bà, con gái, mụ, thị… Khó để đưa ra những định nghĩa chính xác, và cũng không nên đưa ra những định nghĩa chính xác một cách quá máy móc Chúng ta sử dụng các từ này thường dựa trên đánh giá của xã hội và đánh giá của bản thân về một hay nhiều đối tượng nữ giới cụ thể Trong mỗi trường hợp nhất định, nên cân nhắc chọn cái nhìn nào thích hợp, từ phía xã hội hay từ phía bản thân, hay kết hợp cả hai cái nhìn đó
Trang 181.1.2 Thiên tính nữ
Thiên tính nữ có thể hiểu với hai nghĩa nội hàm, đó là xu hướng nghiêng
về tính nữ ("thiên" với nghĩa là nghiêng về) và những thiên bẩm riêng, thiên chức riêng của nữ
Người phụ nữ được thiên nhiên ban phát cho thiên chức tự nhiên trong mỗi con người là làm vợ, làm mẹ, là người chuyển dịch suối nguồn yêu thương vào trong nguồn sống Thiên chức làm vợ, làm mẹ là chức năng thiên bẩm của tạo hóa ban cho người phụ nữ vượt qua mọi không gian, thời gian, quan niệm và hoàn cảnh sống Bởi vậy cho nên trong việc duy trì nòi giống và đảm bảo cho sự sinh tồn của loài người phụ nữ có một vai trò quan trọng không gì có thể thay thế
được Người ta vẫn nói “Một nửa thế gới là phụ nữ” Nhà văn Macxim Goocki
đã nói: “Không có mặt trời thì hoa không nở/ Không có mẹ hiền, anh hùng, thi sĩ
hỏi còn đâu?”nên người phụ nữ có quyền tự hào về những gì tạo hóa ban cho họ
mà chỉ có ở giới nữ
Thiên tính nữ bao gồm những nét rất riêng của nữ giới, qua đó mà người phụ nữ biểu hiện giới tính của mình một cách trọn vẹn và đẹp đẽ nhất Quan niệm về thiên tính nữ cũng có nhiều thay đổi qua các thời đại Trong xã hội
phong kiến, vẻ đẹp nữ tính của người phụ nữ bị giới hạn bởi khuôn phép của lễ giáo, với những cấm đoán khe khắt xâm phạm đến nhân cách của nữ giới Ngày nay, nữ giới bước ra ngoài phạm vi gia đình và công việc nội trợ, tham gia vào các họat động xã hội và bình quyền với nam giới trên mọi lĩnh vực Từ
đó, những tính cách mới của người phụ nữ được hình thành trong xã hội hiện
đại.Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là “giới tính đang bị xóa nhòa” mà người
phụ nữ luôn mang trong mình nét riêng thuộc về thiên tính nữ:
nhã; cách ăn mặc làm toát lên được những đường nét mềm mại, thanh tao mà thiên nhiên đã phú cho nữ giới (nhưng vẫn kín đáo và đoan trang)
Đức tính hy sinh, vị tha là một trong những đức tính truyền thống tiêu
biểu nhất của phụ nữ Việt Nam Biểu hiện của phẩm chất này là biết quan tâm,
Trang 19chu đáo với mọi người, sự hy sinh một cách tự nguyện, không so đo tính toán
giữa “cho và nhận”
Lòng thương người: Đặc điểm của nữ giới là sống thiên về tình cảm hơn
là lý trí, dễ xúc động trước nỗi khổ của người khác và sẵn lòng tương trợ, giúp
đỡ Họ cũng thường dễ cảm thông, tha thứ, bao dung với lỗi lầm của người khác,
nên thường là “bóng mát cho tâm hồn”, là chỗ dựa tinh thần cho người khác khi
phạm sai lầm khuyết điểm, là nơi được bày tỏ, cảm thông, tha thứ và thương yêu, chia sẻ Đó là một biểu hiện đẹp của thiên tính nữ
Tính đảm đang, quán xuyến: Với thiên chức làm mẹ, phụ nữ phải biết lo
toan, quán xuyến trong gia đình, biết nữ công, gia chánh, siêng năng, cần mẫn, chịu khó
Tính chung thủy: Bản chất của người phụ nữ Việt Nam là có tình yêu thủy
chung, son sắt Đã yêu ai là một lòng một dạ, không dời đổi, không so sánh
người mình yêu với người khác (dù cho “người khác ấy” có cao sang hơn, danh
vọng hơn), không bị tiền tài, vật chất cám dỗ
Song, có lẽ thiên tính nữ nổi bật lên trong mỗi người phụ nữ là đức hi sinh
vì chồng, vì con Đức hi sinh ấy luôn gắn bó cùng với những bản năng rất con người- mà ở mỗi người phụ nữ cái bản năng ấy luôn gắn liền với thiên chức của giới mình Nhìn lại cuộc sống cơ cực, tủi nhục của phụ nữ trong xã hội cũ đã
ghìm nén khát khao sống hạnh phúc, tỏa chiết khát vọng bản năng của họ chúng
ta mới thấy được rằng hoàn cảnh xã hội chẳng qua chỉ là bức rào cản tạm thời che khuất đi bản năng của họ chứ không bao giờ có thể làm lụi tàn và mất hẳn Cùng với sự thay đổi đi lên của lịch sử, xã hội cũng ngày càng phát triền hơn người phụ nữ ngày nay đã được sống trong một xã hội hiên đại mà chính họ là người làm chủ cuộc sống Nhờ đó mà người phụ nữ có nhiều điều kiện và cơ hội
để phát huy và hoàn thiện thiên tính nữ
Như trên đã nói, thiên tính nữ có thể hiểu với hai nghĩa nội hàm, đó là xu
hướng nghiêng về tính nữ ("thiên" với nghĩa là nghiêng về) và những thiên bẩm
Trang 20riêng, thiên chức riêng của nữ Ở luận văn này, chúng tôi dùng khái niệm "thiên tính nữ" nghiêng về hàm nghĩa thứ nhất
1.2 Thiên tính nữ qua đối tượng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương
Trong thơ mình, Xuân Hương không nói đến toàn bộ nổi khổ của phụ nữ Xuân Hương hình như chỉ muốn nói đến nỗi đau khổ riêng có tính chất giới tính của mình Viết về đề tài phụ nữ, nhà thơ thường xoáy sâu vào các ngóc ngách éo
le của cuộc đời để nêu lên những bi kịch riêng của người phụ nữ - bi kịch mang thiên tính nữ.
Hồ Xuân Hương là nhà thơ phụ nữ, và nhà thơ của phụ nữ, bằng kinh nghiệm của cuộc đời chung và kinh nghiệm của cuộc đời riêng chẳng ra gì của mình, nhà thơ đứng về phía những người phụ nữ bị áp bức Trong cuộc đời cũ, đau khổ chẳng phải là phận riêng dành cho phụ nữ Nhưng cái đau khổ của phụ
nữ bao giờ cũng có khía cạnh chua xót, tái tê riêng của nó Phụ nữ cũng là người làm lụng đầu tắt mặt tối, cũng đói cơm rách áo, cũng bị trăm nghìn thứ chà đạp như bất cử một người bị áp bức nào khác Nhưng xã hội phong kiến còn dành cho họ nhiều sự bạc đãi
Nghiên cứu, thống kê 45 bài thơ viết về phụ nữ trong tác phẩm Thơ Nôm
Hồ Xuân Hương của tác giả Kiều Thu Hoạch, cho thấy:
- Nói về bi kịch của người phụ nữ: 10 bài – Tỉ lệ 22,2%
- Miêu tả vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ: 15 bài – Tỷ lệ: 31,11%
- Cảnh sinh hoạt phòng the: 7 bài – Tỷ lệ: 15,55%
- Nỗi niềm khao khát bản năng: 20 bài – Tỷ lệ: 44,44%
Như vậy, qua thống kê trên cho thấy thơ Nôm Hồ Xuân Hương chiếm tỉ lệ cao những bài thơ viết về người phụ nữ Đối tượng người phụ nữ trong thơ Hồ
Xuân Hương: tình duyên muộn mằn, éo le, "cả nể" nên "dở dang"; hôn nhân gia
đình bi kịch: lấy chồng chung, chồng chết .; cuộc sống vất vả, phụ thuộc nhưng họ luôn là những người phụ nữ tràn đầy khát vọng được sống
Trang 21hạnh phúc, được yêu thương hết mình Những người phụ nữ trong thơ bà với
những bi kịch, những vẻ đẹp, những khát vọng mang thiên tính nữ
1.3 Thiên tính nữ qua bi kịch của người phụ nữ
1.3.1 Bi kịch về tinh thần, tình cảm
Có thể nói, thơ Xuân Hương là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ
Không phải là những “cung tần” như trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều hay những người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần
Côn mà là những người phụ nữ bình dân, lam lũ; những số phận bất hạnh Ngoài văn học dân gian, Hồ Xuân Hương thuộc số những nhà thơ đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc đã đem đến cho thơ văn tiếng nói của những người phụ nữ ấy
1.3.1.1.Bi kịch tình yêu, gia đình
*Bi kịch duyên phận
Thơ Nôm Hồ Xuân Hương là tiếng nói đầy xót xa của những thân phận
lỡ dở, nỗi đau của tình duyên không toại nguyện Nếu như trong bài thơ Mời
trầu, Xuân Hương dự cảm về con đường tình duyên bấp bênh, không bền vững
“xanh như lá, bạc như vôi” đã trở thành hiện thực thì khi viết chùm thơ Tự tình
nữ sĩ trực tiếp thể hiện nỗi lòng, suy nghĩ và khát vọng về cuộc đời và thân phận mình
Bài thơ Tự tình I là nỗi niềm buồn thảm của Hồ Xuân Hương trước
duyên phận hẩm hiu, trước cuộc đời đầy nghịch cảnh, éo le:
Tiếng gà văng vảng gáy trên bom Oán hận trông ra khắp mọi chòm
Mõ thảm không khua mà cũng cốc, Chuông sầu không đánh có sao om
Trước nghe những tiếng thêm rền rĩ, Sau giận vì duyên để mõn mòn
Trang 22Giữa không gian mênh mông đêm tối nổi lên tiếng gà văng vẳng gáy trêm bom từ xa vọng lại Nhà thơ lấy động để tả tĩnh, mượn tiếng gà gáy trong đêm để nói lên sự vắng lặng của đêm khuya thanh vắng.Qua đó làm nổi bật lên tâm trạng của con người Đó là hình ảnh một người đàn bà trong đêm khuya một mình không ngủ, não nuột cái thân đơn côi lẻ bóng, thiếu thốn yêu thương Trước thời gian, không gian ấy làm cho cái sầu, cái thảm cứ ngùn ngụt dâng lên
trong lòng mặc dù không có duyên cớ nào “Mõ thảm không khua mà cũng cốc/
Chuông sầu không đánh cớ sao om” Có lẽ sâu xa hơn của nỗi sầu, nỗi thảm
dường như là không duyên cớ kia là có nguyên nhân “duyên để mõn mòn”
“Duyên để mõn mòn” là duyên đã già, người phụ nữ trong bài thơ đã qua lứa,
lỡ thì Và ngay chính cuộc đời Hồ Xuân Hương cũng đầy những éo le, cay đắng
mà bà phải gánh chịu: tình duyên lỡ dở khi còn trẻ, đến khi già thì phận hẩm, duyên ôi Xuân Hương muộn màng mới lấy chồng nhưng cả hai lần lấy chồng
đều làm lẽ và cả hai lần đều trở thành góa bụa
Nỗi niềm buồn tủi vì phận hẩm, duyên ôi một lần nữa được Hồ Xuân
Hương bộc lộ trong xót xa qua bài thơ Tự tình II:
Trơ cái hồng nhan với nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn (…)
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con
(Tự tình II) Thơ Nôm Hồ Xuân Hương luôn ý thức về nữ tính, về tuổi trẻ, về tình yêu
và thường đi liền với cảm thức về thời gian Bài thơ nêu lên một nghịch đối: duyên phận muộn màng, lỡ dở của người phụ nữ trong khi thời gian cứ lạnh lùng lặng lẽ trôi qua Bởi thế cho nên người phụ nữ trong bài thơ mang một
Trang 23tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất, xót xa lại thêm cả nỗi bẽ bàng Thời gian
thì dồn dập bước qua, không gian mênh mông rợn ngợp khiến con người càng thấy mình nhỏ bé, cô đơn Cái thời gian và không gian ấy như đang bào mòn, đang phá hủy đi tuổi xuân của con người Trong đêm khuya với tận cùng là nỗi
buồn bà tìm đến với rượu nhưng “say lại tỉnh” còn lại là sự rã rời, đắng chát Bi kịch tình duyên không trọn vẹn thật xót xa khi trăng sắp tàn mà vẫn “khuyết
chưa tròn” Sự sống của đất trời cứ vận hành như muôn thưở vậy, còn riêng
mình thì vẫn cứ bất hạnh, hẩm hiu trong số phận, trong tình duyên
Mỗi người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương có một số phận khác nhau những họ đều rơi vào bi kịch Bi kịch chung nhất của họ là hạnh phúc lứa đôi
bị dang dở Nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự dang dở ấy có một phần là do chế
độ phong kiến Đó là chế độ năm thê bảy thiếp, là chiến tranh phi nghĩa, là mộng công hầu Các thi nhân xưa với niềm cảm thông sâu sắc đã cất lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền được hạnh phúc cho những người phụ nữ Niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi là niềm khát khao chính đáng của người phụ nữ nói riêng và của con người nói chung
Thiên tính nữ trong thơ Xuân Hương còn biểu hiện qua nỗi lòng của
những người con gái nhẹ dạ Rất tự biết cái thế thua sẵn mà xã hội cũ dành cho
mình,là“khôn ba năm, dại một giờ”, người phụ nữ vẫn cầm lòng chẳng đậu
trước tình yêu, rồi chẳng mấy chốc bị kẻ Sở Khanh bỏ lại mình bụng mang dạ
chửa trước xã hội cũ ác nghiệt, tàn khốc:
“Cả nể cho nên hoá dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng”
(Không chồng mà chửa)
Thật không có sự lệ thuộc nào bằng sự lệ thuộc của người phụ nữ trong
xã hội phong kiến Pháp luật, lễ giáo, tập tục, những tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức đã nhiều khi biến phụ nữ thành một thứ sở hữu của người gia trưởng, của người đàn ông Họ biết tước hết mọi quyền lợi, kể cả quyền được yêu, và quyền đối với con cái của họ
Trang 24*Bi kịch người phụ nữ trong hoàn cảnh đa thê
Phụ nữ vốn là những người nhạy cảm Chỉ riêng điều ấy thôi cũng đủ để
họ phải chịu nhiều bất hạnh hơn đàn ông Mềm yếu, đa sầu, đa cảm và cả đa đoan đã khiến người phụ nữ luôn rất nhạy cảm với những bất hạnh của mình dù
họ sống trong xã hội nào Trong xã hội cũ, khi người đàn ông có quyền được
lấy “năm thê bảy thiếp”, thì những bất hạnh mà người phụ nữ phải gánh chịu lại càng lớn hơn Người phụ nữ phải sống trong cảnh “Chồng chung đâu dễ ai
nhường cho ai”, họ phải chịu những nỗi niềm cay đắng xót xa Những khao
khát hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn luôn day dứt họ Nữ sĩ Hồ Xuân Hương - người phụ nữ đầy bản lĩnh đã phải thốt lên đầy uất ức khi phải sống trong nỗi tủi hờn ấy:
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Câu thơ được ngắt làm hai theo biện pháp đối ngẫu của thơ Ðường luật, nhằm đối lập hai cảnh sống trái ngược nhau, một bên thì ấm áp, một bên thì lạnh lẽo Tiếp tục ý của câu phá đề, tác giả ném ngay cái bực bội, cái căm uất của mình lên cảnh sống bất công đó bằng những lời, ý thơ rất mạnh bởi động từ
“chém” mang thanh trắc rất gọn, sắc:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Từ thái độ căm giận đó, Hồ Xuân Hương đã chuyển sang miêu tả mối quan hệ vợ chồng của cảnh sống đa thê Bà đã cho chúng ta thấy sự thiệt thòi
của người vợ "lấy chồng chung" một cách cụ thể mà chua xót biết nhường nào
Quan hệ ái ân giữa người chồng và người vợ diễn ra trong tình trạng:
Năm thì mười họa hay chăng chớ Một tháng đôi lần có cũng không
Cảnh chồng chung, nhà thơ vạch ra làm lẽ chẳng qua chỉ là một thứ làm mướn, thậm chí còn tệ hơn làm mướn nữa: đó là thứ làm mướn không công, Hồ Xuân Hương nêu lên được một nét điển hình nổi bật của chế độ hôn nhân phong kiến Xã hội phong kiến bắt người phụ nữ phải chính chuyên một chồng trong
Trang 25khi cho phép đàn ông có quyền năm thê bảy thiếp Lời người phụ nữ trong bài thơ gợi ta nhớ tới người phụ nữ trong ca dao Nhưng cái khác nhau giữa ca dao
và thơ Hồ Xuân Hương là ở chỗ: “Lời người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương
là muối sát lòng, là ớt trên miệng lưỡi Trong hai nỗi khổ của người phụ nữ ca dao đưa nỗi khổ về vật chất, về lao động lên trước (“Lấy chồng làm lẽ khổ thay – Đi cấy, đi cày, chị chẳng kể công – Tối tối chị giữ mất chồng – Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài”), thơ Xuân Hương lại đưa lên vị trí đầu tiên nỗi khổ về tinh thần, tình cảm Điều đó chững tỏ tác giả thấu hiểu sâu sắc người phụ
nữ, thấu hiểu nỗi đau khổ riêng của người phụ nữ” [30, tr.89]
Đau xót, cay đắng đến tột cùng để rồi người phụ nữ vừa như buông xuôi cho số phận và thốt lên một cách bất lực với bản thân trước cuộc đời, vừa ngang ngạnh trước số phận:
Thân này ví biết nhường này nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy xong
Ðây là lời tâm sự của người vợ "lấy chồng chung", tự lòng mình nói với
mình Hai tiếng “thân này” cùng với những từ biểu thị ý hối hận buông xuôi đi liền nhau:”Ví biết”, “thà”, “thôi đành”,” vậy”, “xong” nghe như một tiếng thở
dài não ruột mà ngẫm kĩ lại là lời hờn trách phẫn uất Con người ta sợ nhất là
sự cô đơn khi phải sống cảnh “chăn đơn gối chiếc” nhưng người phụ nữ trong
thơ Hồ Xuân Hương nếu cho chọn lựa lại thì thà chấp nhận sống một mình còn
hơn cảnh làm vợ "lấy chồng chung" Tiếng thở dài trong bài thơ còn chứa đựng
một sự phản ứng, một lời tố cáo đối với chế độ đa thê
1.3.1.2 Bi kịch không được làm chủ cuộc đời
Từ khía cạnh thiên tính nữ, Hồ Xuân Hương nhận ra thân phận phụ
thuộc của người phụ nữ Bà đã nói lên bi kịch không được làm chủ cuộc đời
của họ
Dưới chế độ phong kiến, người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, họ là
nạn nhân của một số tư tưởng phong kiến Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” là
Trang 26nguyên nhân sâu xa dẫn đến những bi kịch số phận của phụ nữ Người phụ nữ không được quyền quyết định số phận mình, không được học hành, họ phải chấp nhận sống phụ thuộc Cảm thông và thấu hiểu nỗi đau đớn của thân phận đàn bà trong xã hội cũ, các thi nhân xưa đã ghi lại những bi kịch ấy qua số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa Nỗi đau không được làm chủ cuộc đời được nói ra từ tận sâu đáy lòng của người phụ nữ Đó là tâm trạng phân vân của chiếc thuyền duyên phận không biết sẽ ra sao khi nửa yêu thương dào dạt, nửa như hiểm nguy đe dọa:
Chiếc bách buồn về phận nổi nênh Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng Nửa mạn phong ba luống bập bềnh Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến
Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy, Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh
Chiếc thuyền trong bài thơ tượng trưng cho số phận người phụ nữ trong
xã hội xưa Lẽ ra họ phải làm chủ số phận của mình, thế nhưng chiếc thuyền đó lại do một người khác cầm lái, lại do một người khác nữa giong lèo, còn mình
thì chỉ bị động ôm đàn chờ đợi cái người thăm ván còn lơ lửng ở đâu đâu
Nỗi đau không được làm chủ cuộc đời một lần nữa được khắc họa sâu
sắc trong bài thơ Bánh trôi nước:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
Trang 27Câu thơ đầu như là sự bằng lòng, sự vừa ý của người phụ nữ ý thức được vẻ đẹp của mình Ðó là vẻ đẹp của nước da trắng nõn nà, thân hình gọn gàng, xinh xắn Người phụ nữ với vẻ đẹp ấy đáng lẽ phải được sống trong hạnh
phúc nhưng không, người con gái ấy đã phải sống một cuộc đời “bảy nổi ba
chìm với nước non”, “rắn nát”, hạnh phúc hay đau khổ, đời minh ra sao, may
mắn, rủi ro đến mức nào là hoàn toàn phụ thuộc vào người khác Người khác
đó là cha, là chồng, bởi xã hội phong kiến vốn là xã hội nam quyền
1.3.1.3 Bi kịch người phụ nữ lâm vào cảnh góa chồng
Ðọc thơ Xuân Hương, người đọc có cảm giác người phụ nữ gần như chưa một lần nhận diện được hạnh phúc Bởi vì họ không chỉ sống trong bi kịch của những cuộc tình lận đận hẩm hiu mà đau đớn, xót xa hơn khi họ lâm vào bi kịch của người phụ nữ góa chồng Chính cuộc đời của Hồ Xuân Hương duyên
phận hẩm hiu khi còn trẻ, đến khi muộn màng mới lấy chồng thì phận hẩm
duyên ôi nên bà đã viết hai bài thơ: Khóc Tổng Cóc và Khóc ông phủ Vĩnh Tường
Thực ra bài Khóc Tổng Cóc không phải vì ông Tổng Cóc chết, chỉ vì chuyện vợ chồng tan vỡ "đứt đuôi con nòng nọc" đấy thôi:
Chàng Cóc ơi ! Chàng Cóc ơi ! Thiếp bén duyên chàng có thế thôi Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi
Qua đó, bà than cho thân phận mình Lời từ biệt một ông chồng chưa chết, hờn giận chê bai ông vô tích sự, đã là chàng Tổng Cóc còn hèn kém nhu nhược Bà nguyền rủa sự rẽ duyên của người vợ cả cùng với những người nhà ông Bà đã đem cả một xâu: nào nhái bén, nòng nọc, chẫu chàng, chẫu chuộc ra
mà giễu cợt Lời thơ nghe có vẻ cũng thống thiết , nhưng ý lại cay chua Bài thơ mang tính bi hài
Trang 28Thời gian chung sống tri ngộ ông phủ Vĩnh Tường (ở Thổ Tang, Vĩnh Phú bây giờ) tuy làm vợ lẽ nhưng ông Phủ coi nàng là bạn văn chương tình duyên không đến nỗi bẽ bàng Nhưng tình nghĩa vợ chồng chỉ trong hai mươi bẩy tháng ông Phủ mất, Xuân Hương đã khóc chồng Cuộc đời Xuân Hương về tình duyên bất hạnh Ông Phủ xem nàng là bạn văn chương Nhưng số phận của Xuân Hương không được may mắn, cuộc tình ngắn ngủi hơn hai năm sau phải khóc chồng, chồng chết là nỗi khổ đau nhất của người thiếu phụ, thương cho thân phận kẻ ở người đi Xuân Hương buồn khổ trước cảnh nhà lạnh lẽo đơn côi, bà trang trải nỗi bi thương của mình trên những dòng thơ buồn não nuột, là tiếng nấc nghẹn ngào của người góa phụ vĩnh viễn xa chồng:
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!
Thiếp bén duyên nàng có thế thôi Chôn chặt văn chương ba thước đất Ném tung hồ thỉ bốn phương trời Cán cân tạo hoá rơi đâu mất;
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi Hăm bảy tháng trời là mấy chốc;
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi !
(Khóc ông phủ Vĩnh Tường)
Cuộc đời Xuân Hương có thể “bảy nổi ba chìm” qua hai đời chồng, hy
sinh cả đời chịu thân phận làm lẽ mọn, nỗi khổ đau cũng là niềm dang dở cái mối duyên thiên, duyên trời nào có phải là hậu qủa oan nghiệt của con nguời
như “chữ tài liền với chữ tai một vần” !
Và bà đã viết bài thơ Bỡn bà lang khóc chồng như một sự cảm thông
giữa những người đàn bà duyên phận bất hạnh đến nỗi góa chồng:
Thương chồng nên nỗi khóc tỉ tì ti
Trang 29Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo, Cay đắng chàng ơi, vị quế chi
Thạch nhũ, trần bì sao để lại, Quy thân, liên nhục tẩm mang đi
Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ?
Sinh ký chàng ơi! Tử tắc quy
Bài thơ Bỡn bà lang khóc chồng hay còn có nhan đề khác là Khóc chồng
làm thuốc Trong bài thơ Hồ Xuân Hương mượn tên các vị thuốc Đông dược:
cam thảo, quế chi, thạch nhũ, trần bì, quy thân, liên nhục Trong rất nhiều vị thuốc bà lại chỉ chọn có năm vị thuốc chắc hẳn là không phải tùy tiện Bà có
nhắc đến “nhũ”(vú), “bì”(da) để chỉ người vợ ở lại Nói đến “nhục”(thịt), “quy
thân” (lẽ ra phải là đương quy) Thêm đó bà còn sử dụng tên loại dao chuyên
dùng để cắt thuốc của các ông lang Bằng tấm lòng của người đàn bà giầu lòng yêu thương và bằng chính những đau khổ, mất mát từ cuộc đời của mình nên bà
thấu hiểu được nỗi đau mất chồng của người phụ nữ trong bài thơ “Sinh kí
chàng ơi tử tức quy” có nghĩa là sống chỉ là gửi tạm còn cái chết mới là vĩnh
hằng Cũng từ đây kẻ sống thì đau lòng mà người chết thì phải chia lìa
1.3.2 Những bi kịch về thể chất
Hồ Xuân Hương viết về nỗi khổ riêng của người phụ nữ: tình duyên trắc trở, thân phận lẽ mọn… Bà là người đại diện phát ngôn cho nỗi khổ và những tâm
sự của giới mình Hơn ai hết cuộc đời Hồ Xuân Hương chính là “tấm gương
oan khổ” cho những bi kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa Trong bài Cảnh chồng chung, nhà thơ đã nêu lên được một nét điển hình nổi bật của chế
độ hôn nhân phong kiến bắt người phụ nữ phải chính chuyên một chồng trong khi cho phép đàn ông có quyền năm thê bảy thiếp
Mở đầu bài thơ là sự bất công ngang trái:
Trang 30Câu thơ phơi bày một hiện thực đối lập “Kẻ đắp chăn bông/kẻ lạnh
lùng” đến nỗi Hỗ Xuân Hương phải cất lên tiếng chửi:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Tiếng chửi ấy là kết quả của nỗi phẫn uất cao độ của thân phận người
phụ nữ làm lẽ Từ “kiếp” mang ý nghĩa đối lập với sự sung sướng hạnh phúc và
nó luôn đi cùng với khổ đau, tủi cực Người phụ nữ sống cảnh lẽ mọn trong bài thơ không chỉ chịu bi kịch về tinh thần mà đau đớn hơn là bi kịch về thể chất:
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm, Cầm bằng làm mướn, mướn không công
Hồ Xuân Hương đã chỉ ra làm lẽ chẳng qua chỉ là một thứ làm mướn,
thậm chí còn tệ hơn làm mướn nữa: đó là thứ làm mướn không công Trừ trường hợp cá biệt, lấy vợ lẽ vì người vợ cả không có con trai ''nối dõi tông
đường'', nhiều khi trong xã hội phong kiến lấy lẽ là để thỏa mãn cuộc sống dâm
dật của bọn địa chủ, đồng thời để có thêm sức lao động Đó là cách thuê nhân công mà không phải trả tiền công Những người ở lẽ ấy trên danh nghĩa là vợ còn thực tế là một kẻ đi ở không công, ý nghĩa phê phán sâu sắc trong bài thơ của Hồ Xuân Hương là ở đó Và ý nghĩa ấy được nhân lên rất nhiều, do chỗ người phụ nữ của Xuân Hương cố hết sức để chịu đựng, nuốt tủi, nuốt sầu mà
cái tủi, cái sầu càng nhiều càng lớn
Hồ Xuân Hương nhận thức được cảnh bất công, ngang trái của việc lấy chồng chung, nhà thơ lên tiếng chửi mắng quyết liệt, nhưng điều kiện xã hội phong kiến vẫn cứ cho phép nó nghiễm nhiên tồn tại Lịch sử hạn chế nhà thơ, Xuân Hương không tìm được lối thoát Bài thơ kết thúc không mở ra bước ngoặt nào cả, mà đóng lại bằng một tiếng thở dài:
Thân này ví biết dường này nhỉ, Thà trước thôi đành ở vậy xong !
Nhà thơ không thể vuợt lên trên hoàn cảnh xã hội Bất mãn với thực tại, Xuân Hương nghĩ giá gì ngày trước, đừng đi lấy chồng! Đó là một cách nói chứ
Trang 31không phải một giải pháp, và tiếng thở dài của Xuân Hương chỉ làm đậm thêm
sự mỉa mai thực tại
Hồ Xuân Hương miêu tả người phụ nữ trong thơ Nôm của bà rất đẹp cả
về hình hài lẫn tâm hồn Tuy nhiên theo mô típ trong văn học trung đại, người phụ nữ đẹp thường bất hạnh Điểm lại gương mặt phụ nữ trong thơ bà ta thấy hầu như họ có cuộc đời đầy bất hạnh, sóng gió, bẽ bàng, không mấy người
được hưởng hạnh phúc thực sự Tiếng thơ trong bài Bánh trôi nước là một tiếng
nói chung mà bà nói cho mình cũng là cho nỗi khổ của giới mình:
Bảy nổi ba chìm với nước non
Câu thơ với thành ngữ “Bẩy nổi ba chìm” mang ý nghĩa tượng trưng mà
cụ thể, chỉ hoàn cảnh sống của người phụ nữ trong xã hội cũ: long đong, gian
truân Cuộc đời họ được miêu tả trong trạng thái “nổi”, “chìm” trong khi đó vốn dĩ sinh ra họ đã mang vẻ đẹp mộc mạc, chân chất và đầy phúc hậu “Thân
mà chủ yếu bà đi sâu vào những nỗi đau có tính chất giới tính nhưng không
kém phần bi kịch Những bài thơ trên của Hồ Xuân Hương đã hòa vào tiếng nói chung của văn học đương thời để nói lên tiếng nói về cuộc đời đầy bất hạnh của người phụ nữ
1.4 Thiên tính nữ qua vẻ đẹp và khát vọng người phụ nữ
1.4.1 Vẻ đẹp người phụ nữ
1.4.1.1.Vẻ đẹp hình thức
Người xưa xem vẻ đẹp của người phụ nữ, đặc biệt là cơ thể của họ là nguồn gốc của tội lỗi, tai họa Ngược lại, xuất phát từ thiên tính nữ, Hồ Xuân Hương xem đó là vẻ đẹp, và bà đi ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ một cách
Trang 32rất riêng Cách miêu tả vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương thuộc vào loại độc đáo nhất của thời đại bấy giờ Bà chú ý đến những bộ phận thân thể thường được giấu kín của con người Những bộ phận
đó văn học thời trung đại thường né tránh Riêng Hồ Xuân Hương lại nhìn thấy
đó chính là một trong những biểu hiện của vẻ đẹp thân thể mà tạo hoá ưu ái ban cho người phụ nữ Cách miêu tả của bà tuy ước lệ mà có phần cụ thể, không
chung chung, mờ nhạt:
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc Yếm đào trễ xuống dưới nương long, Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm, Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
(Thiếu nữ ngủ)
Bà miêu tả cơ thể đẹp của người phụ nữ giữa ban ngày, vào một buổi
trưa hè có gió mát và “Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng” Không biết vô tình hay hữu ý, cô “gái đương xuân thì” quá giấc nồng để rồi hiện ra giữa thanh thiên bạch nhật thân thể trinh nguyên của mình với “đôi gò bồng đảo”, “một
lạch ĐàoNguyên” Hồ Xuân Hương muốn ca ngợi một cơ thể đẹp Đối với bà
cái cơ thể đẹp là niềm tự hào của con người, giống như người ta tự hào về vẻ đẹp và tài năng, về tuổi trẻ của mình Cơ thể con người mang vẻ đẹp tự nhiên
và càng đẹp hơn khi đó là vẻ đẹp thanh tân của cơ thể thiếu nữ
Nguyễn Du khi miêu tả Thúy Kiều tắm đã tinh tế để thân thể nàng Kiều
lộ ra sau bức màn:
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dày dày đúc sẳn một tòa thiên nhiên
(Truyện Kiều)
Hồ Xuân Hương không có “sự e ấp theo kiểu Nguyễn Du”, bà miêu tả một cách
trực diện và rõ ràng, bà muốn ca ngợi một cơ thể thiếu nữ đẹp, đó là một niềm
Trang 33tự hào Nhiều người vin vào điều này để qui kết bà là dâm, là tục Thật ra, điều này hoàn toàn mang một ý nghĩa khác: sự sùng bái khỏa thân…có ý nghĩa hoàn thiện con người, có khía cạnh đạo lí chứ không phải là thân xác Đó là ý thức sâu sắc về những gì tiềm ẩn trong vẻ đẹp thân thể của con người tạo nên cảm xúc thẩm mỹ Vẻ đẹp của người phụ nữ gắn liền với tuổi trẻ, ca ngợi vẻ đẹp thanh tân ấy, Hồ Xuân hương viết về tuổi trẻ với biết bao nồng nhiệt:
Đôi lứa như in tờ giấy trắng Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh,
(Tranh tố nữ)
Trong bài Giếng thơi thì hình tượng giếng gợi liên tưởng về vẻ đẹp của
người thanh nữ: cầu trắng phau phau, nước trong leo lẻo, cỏ gà lún phún, cá diếc
le te,…Tất cả như vừa mới bắt đầu, còn đang trinh nguyên, đang phát triển
Mùa xuân tượng trưng cho tuổi trẻ, cho sức sống, cho khát vọng; thiếu nữ
với mùa xuân chính là biểu tượng của vẻ đẹp vĩnh hằng “nghìn năm còn mãi” Nhưng đời người hữu hạn, thời gian thì vùn vụt trôi Mà “Hồng nhan tự cổ như
danh tướng – Bất khẳng nhân gian kiến bạc đầu”, hiểu được sự mong manh,
thoáng chốc ấy của đời người; cũng như muốn lưu giữ vẻ đẹp ấy trường tồn cùng với thời gian, Hồ Xuân Hương đã ví thân thể của người phụ nữ như trăng:
Một trái trăng thu chín mõm mòm
(Trăng thu) Đêm tối cớ sao soi gác tía?
Ngày xanh còn thẹn mấy vầng tròn?
(Hỏi trăng)
Theo nguyên lý âm dương, trăng là âm, giữa trăng và phụ nữ có sự
tương đồng là đều mang “nguyên tắc nữ tính” Trong văn học cổ, người ta vẫn
thường ví người phụ nữ với trăng Nhưng chỉ riêng Hồ Xuân Hương là người đầu tiên xem trăng như thân thể của người phụ nữ Những bộ phận trên thân thể
Trang 34phụ nữ cũng được tác giả dụng công gợi tả: đôi gò bồng đảo, nương long, lưng
ong, chân ngọc,…Người hiện đại vẫn xem tiêu chuẩn ba vòng đo biểu trưng
cho vẻ đẹp hình thể của người thiếu nữ Người Việt xưa thì xem “lưng ong” như là biểu chuẩn của một người phụ nữ khéo và đảm đang “vừa khéo chiều
chồng, lại khéo nuôi con” Sắc “trắng” cũng là một biểu trưng mà Hồ Xuân
Hương thường dùng để ngợi ca vẻ đẹp cơ thể của người thiếu nữ: “Đôi lứa như
in tờ giấy trắng”, “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”, “Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau”, “Đêm trắng cớ chi phô tuyết trắng?”,… Màu trắng biểu hiện của
thân xác, của vẻ đẹp thể chất, cho sự trong trắng, tinh khiết, trinh nguyên
Trong tác phẩm Bánh trôi nước của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, hiện lên hình ảnh người con gái "vừa trắng lại vừa tròn", một người mang vẻ bề ngoài đầy đặn,
tròn trịa Đó là vẻ đẹp tự nhiên, dân dã, không chăm chút mà mộc mạc, tự nhiên nhưng không kém phần duyên dáng với làn da trắng mịn màng Đấy chính là vẻ
đẹp của người con gái lao động hay lam hay làm, đầy mạnh mẽ chốn thôn quê
Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương đa dạng, họ không chỉ là những mỹ nhân để tự hào về vẻ đẹp thân thể của mình Đó còn là những người phụ nữ bình thường, thậm chí là hèn kém và xấu xí:
Thân em như quả mít trên cây,
(Quả mít) Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,
những thiếu nữ “mười bảy hay là mười tám đây”, còn đang độ “hồng hồng má
Trang 35phấn” Tuy tác giả không tả chi tiết nhưng vẫn rất nhiều gợi cảm Hồ Xuân
Hương đã công khai ca ngợi và khẳng định vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ Đều là đẹp nhưng mỗi người lại mang một vẻ đẹp khác nhau, mỗi thân phận có một đặc điểm ngoại hình riêng biệt
Thời đại phong kiến trọng nam khinh nữ, đầy rẫy những sự bất công oan trái Bị ảnh hưởng và phải chịu đựng nhiều nhất chính là người phụ nữ Thế nhưng, những người phụ nữ ấy vẫn luôn xinh đẹp, nết na, giàu lòng thương yêu
và hết mực quan tâm đến mọi người xung quanh Ta có thể bắt gặp lại hình ảnh của họ qua các tác phẩm văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam Người phụ nữ ngày xưa xuất hiện trong văn học thường là những người phụ nữ đẹp Từ vẻ đẹp ngoại hình cho đến tính cách Ta cũng bắt gặp những người phụ
nữ như thế xuất hiện trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, trong nhiều
truyện thơ Nôm
1.4.1.2 Vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất
Có thể nói Hồ Xuân Hương là người phụ nữ “nổi loạn” trong thời đại lúc
bấy giờ nhưng bà lại có một cái nhìn mới về vẻ đẹp của người phụ nữ, bà đứng
ở vị trí là người phát ngôn cho vẻ đẹp của giới mình Hồ Xuân Hương đã nhìn thấy vẻ đẹp thực sự của họ, nêu bật được vẻ đẹp bên trong tâm hồn của họ Họ
là những người phụ nữ Việt Nam gánh trên vai gánh nặng của cuộc sống nhưng luôn tiểm ẩn trong tâm hồn những giá tri đạo đức rất đẹp đẽ mà muôn đời vẫn
ngợi ca Đó là sự thủy chung, son sắt (Bánh trôi nước, Tự tình), sự vị tha, thánh
thiện đầy bao dung (Không chồng mà chửa), ý thức về tài năng của giới mình (Mắng học trò dốt, Đề đền Sầm Nghi Đống)…
Trong nền văn học trung đại Việt Nam có rất nhiều tác giả lên tiếng ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ như: Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Nguyễn Dữ…Với Nguyễn Du người phụ nữ trong Truyện Kiều là người phụ nữ mà
“Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn”, đã lựa chọn "Làm con trước phải đền
ơn sinh thành" Nguyễn Dữ ca ngợi tấm lòng thủy chung son sắt của Vũ Nương
Trang 36nhưng nàng lại phải ra đi bằng cái chết đầy bi thảm Với Hồ Xuân Hương bà miêu tả vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong thơ Nôm bằng những nét rất riêng mang đậm phong cách của Bà chúa thơ Nôm, mang đậm thiên tính nữ
* Tấm lòng thủy chung, trong sáng
Bằng lối thơ vịnh vật rất tài tình, Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước để kí thác tâm tình, để gửi gắm tình cảm Bánh trôi nước
là một món ăn dân tộc, dân gian rất quen thuộc Dưới bàn tay khéo léo của người phụ nữ chiếc bánh trôi ấy như mang vẻ đẹp tâm hồn dân dã và tấm lòng của người làm ra bánh:
Thân em thì trắng phận em tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Bánh trôi nước)
“Thân em thì trắng phận em tròn”, có văn bản viết là “Thân em vừa trắng
lại vừa tròn -“Câu thơ trần trụi như là chỉ tả một cục bột” (Trần Đình Sử) Hai
từ “thân” và “phận” gợi lên hình ảnh của một người phụ nữ đầy đặn mà phúc
hậu Người phụ nữ ấy mang một phẩm hạnh trong trắng lại luôn làm tròn được bổn phận của mình Thế nhưng họ lại phải chịu cảnh sống nổi nênh, số phận của mình phụ thuộc vào tay người khác Song, điều quan trọng và giá trị hơn hết là
“tấm lòng son” mà “em” vẫn giữ gìn được qua bao sóng gió của cuộc đời
* Sự vị tha thánh thiện, bao dung
Trong bài Không chồng mà chửa chúng ta không chỉ thấy được sự thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội cũ “Cả nể cho nên hóa dở dang” mà còn thấy
sự vị tha thánh thiện có sẵn trong con người họ Người phụ nữ mang những nỗi niềm riêng mà chỉ có giới mình mới hiểu được Mặc dù bị người đàn ông phụ
bạc “Tiếc thay một đóa trà mi; Con ong đã tỏ đường đi lối về”, để nên nỗi cái
Trang 37thai như cái vạ tày đình đang lớn dần lên trong cơ thể họ Nhưng với người phụ
nữ đó là mầm sống, là cuộc đời một con người nên:
Có phải chăng đây là tấm chân tình của người phụ nữ đã sống và yêu hết mình trước sự khắc nghiệt của xã hội cũ Người phụ nữ trong bài thơ thật bao dung, thật mạnh mẽ Họ không chỉ là người mẹ của đứa con trong bụng mà cao
cả hơn nữa họ là người mẹ giữa cuộc đời Mặc dù bị bỏ rơi và thật là đáng oán
giận người đàn ông kia, nhưng họ vẫn tha thứ, coi đó là "cái nghĩa trăm năm"
Tuy nghìn vạn cực nhục từ miệng lưỡi thế gian nhưng người phụ nữ vẫn hi vọng
vào một mần sống đang dần lớn lên trong cơ thể Lời tự bạch “thiếp xin mang”,
xin mang tất cả những cay đắng, những tủi nhục, những yêu thương… dẫu biết rằng trong xã hội cũ đầy khắc nghiệt ấy chửa hoang là một tội rất nặng có thể sẽ
bị gọt đầu bôi vôi Song, có lẽ nỗi đau về thể xác và tinh thần ấy cũng không đủ sức làm cho người phụ nữ phải cúi mặt:
Không có, nhưng mà có mới ngoan
Hồ Xuân Hương có một tấm lòng thật rộng lớn Đó không chỉ là sự vị tha
thánh thiện như trong bài Không chồng mà chửa mà đọc thơ Nôm của bà, suy
nghĩ cho thật sâu, ta còn thấy được một nét hiện thực trong vẻ đẹp của người phụ
nữ là lòng yêu thương với chồng, với con, như trong bài thơ Cái nợ chồng con:
Hỡi chị em ơi có biết không?
Một bên con khóc, một bên chồng
Bố cu lổm ngổm bò trên bụng, Thằng bé hu hơ khóc dưới hông, Tất cả những là thu với vén, Vội vàng nào những bống cùng bông
Nói như Xuân Diệu thì đây là “một bài thơ lớn” Bước ra từ bài thơ là
người phụ nữ đảm đang, tháo vát, chịu thương, chịu khó và rất yêu chồng,
Trang 38thương con: “ một bên con khóc; một bên chồng; chồng đòi quyền lợi của
chồng; con đòi quyền lợi của con, mà đòi cùng một lúc! Vừa phải chăm con, vừa phải chiều chồng, Xuân Hương tài thật!” Và còn đáng quý biết bao khi:
Tất cả những là thu với vén, Vội vàng nào những bống cùng bông,
Với sự hài hước nhưng không nông cạn, thô kệch mà quý báu, khiến ta
càng khâm phục tấm lòng của người vợ là ở câu thơ:“Bố cu lổm ngổm bò trên
bụng” Ở câu thơ này người phụ nữ không còn là “em”, là “thiếp” nữa mà trở
thành bà mẹ của Tạo Vật Thân thể người phụ nữ thật bé nhỏ có gì đâu mà lớn lao đến vậy? Nhưng trước tấm lòng rộng lớn bao la ấy thì người đàn ông hóa bé nhỏ lại, thu hẹp lại trước người phụ nữ Vậy đấy tình yêu thương bao bọc của người phụ nữ đã biến những điều giản dị thành những cái vĩ đại, lớn lao Hồ Xuân Hương đã khơi dậy vẻ đẹp ngàn đời của người phụ nữ Việt Nam Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ này gợi cho ta nhớ tới hình tượng người phụ
nữ có chồng và con nhỏ trong ca dao:
Có chồng chẳng được đi đâu
Có con chẳng được đứng lâu nửa giờ
Đẹp về hình thức, đẹp về tâm hồn nhưng nếu chỉ có vậy thì họ dễ bị chìm lấp trong các hình tượng khác và không gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc Xuân Hương là người có phong cách riêng và người phụ nữ trong thơ bà cũng vậy Người phụ nữ trong thơ Xuân Hương còn có cá tính mạnh mẽ, có sự phá cách khác với những gì nhàn nhạt bình thường Đây chính là nét độc đáo trong nhân vật phụ nữ của bà
* Ý thức về tài năng và sự khẳng định tài năng
Xuất phát từ thiên tính nữ, Hồ Xuân Hương luôn ý thức về tài năng của người phụ nữ, điều mà quan điểm Nho giáo thường phủ nhận
Trong lịch sử văn học dân tộc, có lẽ Xuân Hương là một trong những người đầu tiên dám cất lên tiếng nói khẳng định tài năng trí tuệ của người phụ
Trang 39nữ, nói lên ước vọng được khẳng định mình Bà luôn tin vào tài trí và khả năng sáng tạo của người phụ nữ - vẻ đẹp của tài năng, trí tuệ
Trong bài Ðề đền Sầm Nghi Ðống, tác giả đã thể hiện được sự tự ý thức
về mình, tự ý thức về giới mình:
Ví đây đổi phận làm trai được, Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
Ði qua ngôi đền thờ tên tướng bại trận, nhà thơ phụ nữ này đã không chịu
cất nón, cúi đầu chào kính cẩn, trái lại còn buông lời chê cười, mỉa mai: “Ghé
mắt” tức là nhìn liếc, nhìn bằng nửa con mắt.“Kìa” là chỉ, trỏ, không đáng chú ý
“Ðứng cheo leo”: thế đứng không có gì là vững chãi Ðặc biệt ở hai câu kết nhà
thơ đã dám nói một điều táo bạo: nếu được làm trai thì sự nghiệp anh hùng của ta
sẽ không xoàng, không tồi tệ như sự anh hùng của nhà ngươi đâu
Cái ước vọng ấy là của một người luôn ý thức được giá trị của mình, luôn
có lời tự xưng đầy thách thức:
Quả cau nho nho miếng trầu hôi Này của Xuân Hương đã quệt rồi
(Mời trầu) Cách xưng hô “Này của Xuân Hương” thật mới mẻ trong văn học lúc bấy giờ
có ý nghĩa biểu hiện Xuân Hương là một người con gái rất có ý thức về bản
thân, có bản lĩnh nhưng cũng có tấm lòng bình dị, chân chất cũng có những tình cảm rất chân thành Đồng thời qua cách tự xưng đó ta còn thấy một Xuân Hương đầy nữ tính và đáng yêu
Hồ Xuân Hương không bao giờ mặc cảm phụ nữ phải thua đàn ông mà
đối với bà có khi còn ngược lại Bà dỗ người phụ nữ khóc chồng “ Nín đi kẻo
thẹn với non sông” chứ không phải thẹn với đàn ông, bà đã đặt người phụ nữ
ngang tầm với núi sông Sự cô đơn của họ cũng là sự cô đơn của vũ trụ “Trơ cái
hồng nhan với nước non” và cuộc đời bẩy nổi ba chìm cũng là “ Bẩy nổi ba chìm với nước non”
Trang 40Bài thơ Mời trầu cùng với chùm thơ Tự tình I, II làm nên mảng thơ đặc
biệt cuả Xuân Hương thi tập - mảng thơ tâm sự, thơ thân phận Ðây là những bài thơ trực tiếp thể hiện nỗi lòng, suy nghĩ và khát vọng hạnh phúc của tác giả về cuộc đời và thân phận mình:
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại, Ðừng xanh như lá, bạc như vôi
(Mời trầu)
Dân gian thường nói “miếng trầu là đầu câu chuyện”, Xuân Hương đã mượn miếng trầu, quả cau để nói lên tâm sự của mình Quả cau thì “ nho nhỏ”,
“miếng trầu" thì "hôi”, rất giản dị và gần gũi biết bao, nhưng thông qua đó nhân
vật trữ tình bộc bạch nguyện vọng trong quan hệ tình cảm lứa đôi dẫu biết rằng trong xã hội cũ đối với người phụ nữ hạnh phúc chỉ là điều có trong mơ ước, còn