1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) quản lý thanh toán viện phí tại bệnh viện sản nhi bắc ninh

121 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • MỤC LỤC

  • TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

      • 1.2.1. Mục tiêu chung

      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể

    • 1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

      • 1.3.1. Đối tương nghiên cứu

      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

  • PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THANHTOÁN VIỆN PHÍ TẠI BỆNH VIỆN

    • 2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

      • 2.1.1. Một số vấn đề về thanh toán viện phí trong các Bệnh viện

      • 2.1.2. Đặc điểm của quản lý thanh toán viện phí

      • 2.1.3. Vai trò, nguyên tắc của quản lý thanh toán viện phí

        • 2.1.3.1. Vai trò của quản lý thanh toán viện phí

        • 2.1.3.2. Nguyên tắc thanh toán, tạm ứng và quyết toán viện phí với cơ quanbảo hiểm

      • 2.1.4. Phân loại các dịch vụ cung cấp được tính phí

      • 2.1.5. Quy định về giá viện phí

      • 2.1.6. Quy trình thanh toán viện phí

        • 2.1.6.1. Quy trình thanh toán chi phí khám chữa bệnh của người bệnh với cơsở y tế

        • 2.1.6.2. Quy trình thanh toán chi phí KCB của bệnh viện với cơ quan bảo hiểm

      • 2.1.7. Nội dung quản lý thanh toán viện phí

        • 2.1.7.1. Hệ thống định mức

        • 2.1.7.2. Cách tính giá viện phí

        • 2.1.7.3. Công tác giám định hồ sơ thanh toán chi phí KCB BHYT của cơquan BHXH

        • 2.1.7.4. Tổ chức công tác thanh toán

    • 2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN

      • 2.2.1. Tình hình thanh toán viện phí ở Việt Nam

      • 2.2.2. Kinh nghiệm thanh toán viện phí tại BHXH tỉnh Bắc Ninh

      • 2.2.3. Các văn bản liên quan

      • 2.2.4. Kinh nghiệm quản lý thanh toán viện phí tại Bệnh viện Bãi CháyQuảng Ninh

      • 2.2.5. Bài học kinh nghiệm

  • PHẦN 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

      • 3.1.1. Đặc điểm địa bàn tỉnh Bắc Ninh

      • 3.1.2. Giới thiệu bệnh viện sản nhi Bắc Ninh

        • 3.1.2.1. Lịch sử hình thành

        • 3.1.2.2. Tổ chức bộ máy

        • 3.1.2.3. Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện

        • 3.1.2.4. Đặc điểm nguồn nhân lực

        • 3.1.2.5. Tình hình trang thiết bị của bệnh viện

        • 3.1.2.6. Kết quả hoạt động khám chữa bệnh năm 2016-2017

    • 3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu

        • 3.2.1.1. Thu thập số liệu thứ cấp

        • 3.2.1.2. Thu thập số liệu sơ cấp

      • 3.2.2. Phương pháp phân tích số liệu

        • 3.2.2.1. Phương pháp thống kê mô tả

        • 3.2.2.2. Phương pháp so sánh

        • 3.2.2.3. Phương pháp chuyên gia

        • 3.2.2.4. Phương pháp ma trận SWOT

  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

    • 4.1. QUI TRÌNH KCB VÀ THANH TOÁN VIỆN PHÍ TẠI BỆNH VIỆNSẢN NHI TỈNH BẮC NIN

      • 4.1.1. Qui trình thanh toán viện phí của người bệnh với bệnh viện

        • 4.1.1.1. Qui trình thanh toán ngoại trú

        • 4.1.1.2. Qui trình thanh toán nội trú

      • 4.1.2. Qui trình thanh toán viện phí của bệnh viện với cơ quan bảo hiểm y tế

    • 4.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THANH TOÁN VIỆN PHÍ TẠI BỆNHVIỆN SẢN NHI BẮC NINH

      • 4.2.1. Bảng giá dịch vụ KCB tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh

      • 4.2.2. Công tác thanh toán viện phí tại Bệnh viện Sản nhi Bắc Ninh

        • 4.2.2.1. Thanh toán ngoại trú

        • 4.2.2.2. Thanh toán nội trú

      • 4.2.3. Công tác kiểm soát chi phí KCB

      • 4.2.4. Công tác quản lý thanh toán viện phí

    • 4.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THANH TOÁNVIỆN PHÍ TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI BẮC NINH

      • 4.3.1. Nhân tố bên ngoài

        • 4.3.1.1. Các chính sách của Nhà nước

        • 4.3.1.2. Chất lượng giám định BHYT

        • 4.3.1.3. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giám định chi phí KCB

      • 4.3.2. Nhân tố bên trong

        • 4.3.2.1. Trình độ chuyên môn của cán bộ tại bệnh viện

        • 4.3.2.2. Công tác quản lý thuốc

        • 4.3.2.3. Quản lý các danh mục kỹ thuật phân tuyến tại bệnh viện

        • 4.3.2.4. Khả năng ứng dụng CNTT trong quản lý thanh toán viện phí

    • 4.4. ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THANH TOÁN VIỆN PHÍTẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI BẮC NINH

      • 4.4.1. Đánh giá của nhân viên bệnh viện về công tác quản lý thanh toán việnphí tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh

      • 4.4.2. Đánh giá của người bệnh, người nhà người bệnh về công tác thanhtoán viện phí tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh

      • 4.4.3. Hạn chế

      • 4.4.4. Nguyên nhân của hạn chế

    • 4.5. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THANHTOÁN VIỆN PHÍ TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI BẮC NINH

      • 4.5.1. Căn cứ đề xuất

      • 4.5.2. Các giải pháp quản lý thanh toán viện phí tại Bệnh viện Sản nhi Bắc Ninh

        • 4.5.2.1. Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh toán giữa người bệnh vớibệnh viện

        • 4.5.2.2.Các giải pháp tăng cường công tác quản lý thanh toán viện phí với BHXH

        • 4.5.2.3. Các nhóm giải pháp khác

        • 4.5.2.4. Quy trình thực hiện các giải pháp

  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 5.1. KẾT LUẬN

    • 5.2. KIẾN NGHỊ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thanh toán viện phí tại bệnh viện

Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số vấn đề về thanh toán viện phí trong các Bệnh viện

Quản lý là một lĩnh vực có nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau, nhưng theo cách tiếp cận hệ thống, quản lý được định nghĩa là sự tác động có tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý Mục tiêu của quản lý là sử dụng hiệu quả các nguồn lực và thời cơ của tổ chức để đạt được những mục tiêu đã đề ra trong một môi trường luôn biến động.

Quản lý tài chính trong bệnh viện bao gồm việc quản lý các nguồn vốn như ngân sách Nhà nước, vốn viện trợ, vốn vay và các nguồn khác, cùng với tài sản và vật tư của bệnh viện Mục tiêu của quản lý tài chính là đảm bảo nguồn lực phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến.

Quản lý thanh toán viện phí là một phần quan trọng trong quản lý tài chính bệnh viện, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế Việc hiểu rõ khái niệm phí và viện phí là cần thiết để cải thiện hiệu quả quản lý tài chính trong bệnh viện.

Chi phí, hay còn gọi là giá thành, được hiểu từ góc độ nhà sản xuất là giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ Giá trị này được xác định dựa trên việc sử dụng các nguồn lực khác nhau trong quá trình sản xuất.

Chi phí trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam được hiểu theo hai quan điểm khác nhau: đối với nhà cung cấp dịch vụ, chi phí bao gồm tất cả các khoản phải chi trả cho việc chuyển giao dịch vụ, trong khi đối với người bệnh, chi phí là tổng số tiền họ phải trả cho các dịch vụ y tế (chi phí trực tiếp) cùng với các chi phí phát sinh trong thời gian dưỡng bệnh và mất thu nhập do nghỉ ốm (chi phí gián tiếp và chi phí cơ hội) Hiện nay, số tiền mà người sử dụng dịch vụ y tế phải chi trả vẫn thấp hơn tổng chi phí thực tế của dịch vụ, phần chênh lệch còn lại được nhà nước hỗ trợ.

Viện phí là khái niệm đặc thù tại Việt Nam và một số nước trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế, đại diện cho khoản chi phí mà người bệnh phải trả từ tiền túi khi sử dụng dịch vụ y tế Theo Nghị định 95/CP ngày 27/08/1994, viện phí chỉ bao gồm một phần chi phí khám chữa bệnh, như tiền thuốc, dịch truyền, xét nghiệm, và không bao gồm khấu hao tài sản cố định hay chi phí hành chính Đối với bệnh nhân ngoại trú, viện phí được tính theo lần khám và dịch vụ kỹ thuật sử dụng, trong khi bệnh nhân nội trú sẽ thanh toán theo ngày giường điều trị và các chi phí thực tế liên quan đến điều trị.

Theo Điều 20 Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 Quy định về đối tượng phải thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

Tất cả cá nhân và tổ chức, bao gồm cả người nước ngoài đang làm việc, học tập, du lịch hoặc quá cảnh tại Việt Nam, đều phải thanh toán chi phí khi sử dụng dịch vụ y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập Chi phí này được tính theo mức giá dịch vụ và số lượng dịch vụ đã sử dụng.

Người có thẻ Bảo hiểm Y tế được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo quy định pháp luật Phần chênh lệch giữa chi phí thực tế và mức thanh toán của Quỹ sẽ do người bệnh tự thanh toán cho cơ sở khám chữa bệnh.

Người không sở hữu thẻ Bảo hiểm Y tế cần tự thanh toán chi phí khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế, ngoại trừ những trường hợp được Nhà nước chi trả chi phí khám chữa bệnh.

Người nước ngoài là công dân của quốc gia có ký kết Điều ước quốc tế về khám, chữa bệnh với Việt Nam, do đó, chi phí khám và chữa bệnh sẽ được áp dụng theo các quy định của Điều ước quốc tế đó.

- Các đối tượng sau được Nhà nước thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập:

+ Người bị bắt buộc chữa bệnh theo quy định tại Điều 66 của Luật khám bệnh, chữa bệnh;

+ Người bị bệnh phong và người bị một số bệnh theo Quyết định của cấp có thẩm quyền;

Người bệnh trong các trường hợp thiên tai và thảm họa lớn sẽ được điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Trung ương hoặc địa phương quản lý, theo quyết định của Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Quy định về KCB đúng tuyến của đối tượng có thẻ BHYT

Theo Điều 11, Thông tư 40/2015/TT-BYT quy định về các trường hợp được xác định là đúng tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế:

Người sở hữu thẻ bảo hiểm y tế có quyền khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế như trạm y tế tuyến xã, phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng một tỉnh, sau khi đã đăng ký khám bệnh ban đầu tại các cơ sở này.

Người sở hữu thẻ bảo hiểm y tế có quyền đăng ký khám và chữa bệnh ban đầu tại cơ sở y tế tuyến xã Nếu cần thiết, họ có thể chuyển tuyến đến các bệnh viện huyện, bao gồm cả bệnh viện huyện hạng I, hạng II và bệnh viện y học cổ truyền tỉnh, trong trường hợp bệnh viện huyện không có khoa y học cổ truyền.

Người có thẻ bảo hiểm y tế được quyền khám chữa bệnh tại các bệnh viện tuyến huyện, bao gồm bệnh viện hạng I, hạng II, bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và viện chuyên khoa Họ cũng có thể được chuyển tuyến đến các trung tâm chuyên khoa hoặc bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh cùng hạng hoặc hạng thấp hơn.

Người bệnh có thể được cấp cứu tại bất kỳ cơ sở khám chữa bệnh nào Bác sĩ hoặc y sĩ sẽ tiếp nhận, đánh giá tình trạng cấp cứu và ghi chép thông tin vào hồ sơ bệnh án.

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình thanh toán viện phí ở Việt Nam

Đến cuối năm 2017, quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế dự kiến sẽ bội chi khoảng 10.000 tỷ đồng Tình trạng lạm dụng và "tận thu" trong khám chữa bệnh BHYT vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức tinh vi Do đó, cần thiết phải có giải pháp hiệu quả để kiềm chế tình trạng bội chi của quỹ này.

Theo Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Phạm Lương Sơn (2017), trong 7 tháng đầu năm 2017, Trung tâm Giám định BHYT và thanh toán đa tuyến khu vực phía Bắc ghi nhận hơn 91 triệu lượt khám, chữa bệnh BHYT, với số tiền đề nghị thanh toán gần 46.700 tỷ đồng, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2016 Chi phí khám chữa bệnh trung bình đạt 570.987 đồng/lượt Đặc biệt, 15 tỉnh có số lượt khám, chữa bệnh tăng trên 20%, trong đó Bình Phước tăng 39,9%, Khánh Hòa 34,2%, và Hậu Giang 33% Ngoài ra, 31 tỉnh ghi nhận mức gia tăng chi phí khám, chữa bệnh trên 40% so với năm trước, với một số tỉnh như Kon Tum, Lạng Sơn, Khánh Hòa tăng trên 70%.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, ông Phạm Lương Sơn cho biết chi khám chữa bệnh từ Quỹ BHYT đạt 41.283 tỷ đồng, chiếm 59,5% tổng quỹ sử dụng trong năm Số tiền này đã vượt 6.500 tỷ đồng so với dự toán chi của BHXH Việt Nam cho cùng kỳ Tốc độ gia tăng chi phí trong 6 tháng đầu năm cho thấy sự gia tăng đáng kể trong việc sử dụng Quỹ BHYT.

2017 rất lớn, bằng 30% so với cùng kỳ năm 2016

Nhiều địa phương đã tiêu tốn từ 70% đến 90% quỹ khám chữa bệnh BHYT trong năm, với 51 tỉnh ghi nhận tình trạng bội chi lớn Cụ thể, Nghệ An bội chi trên 900 tỷ đồng, Thanh Hóa trên 800 tỷ đồng, và Quảng Nam trên 300 tỷ đồng.

Theo BHXH Việt Nam, tính đến cuối năm 2017, có 59 tỉnh đang đối mặt với tình trạng bội chi quỹ BHYT, với nhiều địa phương như Nghệ An, Thanh Hóa, Thái Bình, Quảng Nam, và Đà Nẵng dự kiến bội chi từ 500 đến 1.000 tỷ đồng Ông Phạm Lương Sơn nhận định rằng đây là một thực trạng đáng báo động.

Ông Phạm Lương Sơn cảnh báo rằng, nếu chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) không thay đổi và mức đóng giữ ổn định, quỹ BHYT sẽ phải bù 10.000 tỷ đồng mỗi năm cho chi phí khám chữa bệnh Đến năm 2020, nguồn dự phòng sẽ cạn kiệt Nếu các chính sách được điều chỉnh theo hướng mở rộng danh mục thuốc và điều chỉnh giá dịch vụ y tế, chi phí sẽ tăng cao, dự kiến đến năm 2020 sẽ thiếu hụt khoảng 100.000 tỷ đồng.

Theo ông Sơn, tình trạng gia tăng quyền lợi cho người tham gia BHYT đã bị các cơ sở KCB lợi dụng để tăng thu nhập Cụ thể, chính sách không chi trả KCB ngoại trú tuyến tỉnh và Trung ương đã dẫn đến việc bệnh nhân chuyển sang điều trị nội trú Thêm vào đó, việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo Thông tư 37 đã khiến nhiều cơ sở y tế tìm cách gia tăng sử dụng dịch vụ Nhiều cơ sở KCB đã tận dụng quy định thông tuyến để thu hút bệnh nhân thông qua khuyến mại, tặng quà, và gia tăng chỉ định xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh Sự hấp dẫn này đã khiến nhiều bệnh viện tư nhân xin xuống hạng để được KCB thông tuyến Hơn nữa, nhiều cơ sở y tế không đủ điều kiện vẫn thực hiện KCB, kê thêm giường và thống kê dịch vụ không chính xác để thanh toán, kéo dài thời gian điều trị.

Gần đây, số lượng bệnh nhân điều trị nội trú tại các tỉnh phía Bắc đã tăng đột biến, với tỷ lệ nội trú từ 10-12% lên 20-22% Tuy nhiên, nhiều cơ sở y tế không đủ điều kiện về cơ sở vật chất và nhân lực để đáp ứng nhu cầu này Tại Thanh Hóa, gần 100% cơ sở khám chữa bệnh đã kê thêm từ 70-100% giường bệnh, nhưng chỉ có 1 nhân viên y tế phục vụ cho 2 giường, không đạt tiêu chuẩn 1-1,2 nhân viên/giường Tại Bệnh viện Sơn La, mặc dù kế hoạch có 150 giường, nhưng thực tế đã kê lên 420 giường với chỉ 38 bác sĩ và 50 điều dưỡng, dẫn đến tỷ lệ nhân viên y tế/giường bệnh thấp, ảnh hưởng đến chất lượng điều trị Thêm vào đó, trong khi bệnh nhân có bảo hiểm y tế được trang bị điều hòa, nhiều bệnh viện tuyến tỉnh và huyện lại thiếu điều kiện này.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm dụng quỹ BHYT là việc một số cơ sở y tế sử dụng các thủ đoạn tinh vi, như soạn sẵn bộ con dấu với hơn 10 loại xét nghiệm Bệnh nhân khi đến khám thường bị yêu cầu thực hiện tất cả các xét nghiệm này như một quy trình bắt buộc, bất kể tình trạng sức khỏe Ngoài ra, việc kê thêm giường bệnh cũng góp phần làm tăng chi phí, với một số bệnh viện tăng hơn 40% chi phí do việc này.

Hiện tượng tách dịch vụ thanh toán trong ngành y tế đang ngày càng phổ biến, ví dụ như trường hợp chụp X-Quang cánh tay Mặc dù chỉ có một bức hình chụp, nhưng bệnh viện lại kê thanh toán cho cơ quan bảo hiểm xã hội thành ba mục riêng biệt: chụp X-Quang khớp vai thẳng, chụp X-Quang xương cánh tay thẳng và chụp X-Quang xương cánh tay nghiêng Điều này dẫn đến việc cơ quan bảo hiểm y tế phải thanh toán cho ba dịch vụ mặc dù chỉ thực hiện một lần chụp, gây lãng phí và không hợp lý trong việc sử dụng nguồn lực.

Nhiều cơ sở khám chữa bệnh không tuân thủ quy trình khám chữa bệnh theo quy định của Bộ Y tế, với số lượng khám tối đa cho phép là 45 lượt/bác sĩ/ngày tại bệnh viện hạng đặc biệt và hạng I, 35 lượt tại hạng II, III, và 33 lượt tại hạng IV Các quy định chi tiết về định mức khám bệnh cũng được đưa ra, như nội soi tiêu hóa 16 ca/ngày/bác sĩ, siêu âm Doppler tim mạch 16 ca/ngày/bác sĩ, và chụp X-quang KTS 48 ca/ngày/bác sĩ Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều địa phương đang khám lên đến hơn 100 bệnh nhân/ngày, đặc biệt tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh (Nghệ An), nơi có bác sĩ khám tới 180 bệnh nhân trong một ngày.

150 lượt Rõ ràng số lượng khám chữa bệnh đông như vậy không đảm bảo chất lượng trong khám chữa bệnh Người bệnh phải gánh chịu thiệt thòi

Tại Trung tâm Y tế Sóc Sơn (Hà Nội), bệnh nhân đông nhưng không có bác sĩ đa khoa, buộc phải sử dụng bác sĩ đông y để khám bệnh và sau đó xin chữ ký của bác sĩ đa khoa vào kết quả khám Điều này vi phạm quy trình khám chữa bệnh, sử dụng bác sĩ không đúng chuyên môn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến người bệnh.

Một nguyên nhân dẫn đến bội chi Quỹ BHYT là do công tác đấu thầu cung ứng thuốc và vật tư y tế còn nhiều bất cập, cùng với quy định xã hội hóa trong cơ sở y tế công lập làm tăng chi phí Ngoài ra, công tác thanh kiểm tra và giám định còn hạn chế do thiếu công cụ hỗ trợ Ông Sơn cũng nhấn mạnh rằng khó khăn trong kiểm soát quỹ BHYT còn xuất phát từ sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và sở y tế trong quản lý và giám sát quỹ, cũng như trách nhiệm quản lý quỹ của cơ sở khám chữa bệnh chưa cao.

Tình trạng lạm dụng và trục lợi quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) đang diễn ra phức tạp và khó kiểm soát, dẫn đến bội chi quỹ BHYT ở nhiều địa phương Theo đại diện BHXH Việt Nam, số liệu giám sát cho thấy trong 7 tháng năm 2017, có 1.580 bệnh nhân khám chữa bệnh trung bình 8 lần/tháng, với số tiền đề nghị thanh toán lên đến 21 tỷ đồng Đặc biệt, 732 bệnh nhân đã khám chữa bệnh tại 3 cơ sở y tế trở lên, với tổng chi phí đề nghị thanh toán là 10,8 tỷ đồng Tần suất khám chữa bệnh tại Bạc Liêu đạt 2,06 lần/thẻ, cao nhất cả nước, trong khi Đồng Nai là 1,57 lần/thẻ, so với tỷ lệ trung bình toàn quốc chỉ là 1,14 lần/thẻ.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, một bệnh nhân thuộc đối tượng bảo trợ xã hội đã được khám chữa bệnh theo thông tin từ cơ sở y tế.

Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 13/07/2021, 06:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Cẩm Nhung- BHXH tỉnh Bắc Ninh (2017). Bắc Ninh tăng cường giải pháp quản lý, sử dụng quỹ KCB BHYT, Tạp chí bảo hiểm xã hội, 19/05/2017. Truy cập tại http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/bac-ninh-tang-cuong-giai-phap-quan-ly-su-dung-quy-kham-chua-bhyt-17215 Link
16. Lương Ngọc Khuê (2017). Báo động nhiều địa phương vượt mức chi KCB BHYT, Thời báo Tài chính, 26/07/2017. Truy cập tại http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/tien-te-bao-hiem/2017-07-26/bao-dong-nhieu-dia-phuong-vuot-muc-chi-kham-chua-benh-bhyt-45912.aspx Link
19. Trung quân (2013). Giảm thủ tục thanh toán viện phí tại Bệnh viện Bãi Cháy, Báo Quảng Ninh, 20/06/2017. Truy cập tại http://baoquangninh.com.vn/doi-song/201306/giam-thu-tuc-trong-thanh-toan-vien-phi-tai-benh-vien-bai-chay-2199374/ Link
1. Bộ Tài chính (2014). Thông tư số 25/2014/TT-BTC qui định phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ Khác
2. Bộ Y tế (2008). Quyết định số 01/2008/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế cấp cứu, hồi sức tích cực và chống độc Khác
3. Bộ Y tế (2013). Quyết định 1313/2013-QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện Khác
4. Bộ Y tế (2014). Thông tư số 33/2014/TT-BYT quy định giá tối đa và chi phí phục vụ cho việc xác định giá một đơn vị máu toàn phần, chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn Khác
5. Bộ Y tế (2014). Thông tư số 50/2014/TT-BYT quy định việc phân loại phẫu thuật, thủ thuật và định mức nhân lực trong từng ca phẫu thuật, thủ thuật Khác
6. Bộ Y tế (2015). Quyết định số 3959/QĐ-BYT về việc ban hành định mức nhân lực và thời gian làm cơ sở xây dựng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh Khác
7. Bộ Y tế (2017). Thông tư 02/2017/TT-BYT về việc quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp Khác
8. Bộ Y tế (2017). Thông tư 04/2017/TT-BYT về việc ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với vật tư y tế thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế Khác
9. Bộ Y tế - Bộ tài chính (2015). Thông tư liên tịch 37/2015/TTLT-BYT-BTC quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc Khác
10. Bộ Y tế (1997). Quy chế bệnh viện Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/9/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế Khác
11. Bộ Y tế (2005). Quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh' Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT ngày 30/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế Khác
12. Bộ Y tế (2015). Thông tư 40/2015/TT-BYT quy định đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu và chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế Khác
14. Chính phủ (1994). Nghị định số 95-CP ngày 27-8-1994 của Chính phủ về việc thu một phần viện phí Khác
15. Chính phủ (2012). Nghị định 85/2012/NĐ-CP Nghị định về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập Khác
17. Quốc hội (2013). Luật 46/2014/QH13 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật bảo hiểm y tế Khác
18. Thủ tướng Chính phủ (2008). Quyết định số39/2008/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w