1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) quản lý an toàn lao động tại công ty điện lực bắc giang

136 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao công tác quản lý an toàn lao động cần thực hiện các giải pháp sau: Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch quản lý an toàn lao động; Bảo vệ an toàn hành lang lưới điện; Tăng cư

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:

Quản trị kinh doanh

60 34 01 02PGS.TS Bùi Bằng Đoàn

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan rằng:

Luận văn nghiên cứu là của cá nhân dựa trên cơ sở lý thuyết được

học tập và qua tham khảo tình hình thực tiễn tại Công ty Điện Lực Bắc Giang.

Các số liệu, bảng biểu, sơ đồ và những kết quả trong luận văn là trung thực,

các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu và kinh nghiệm phù hợp với

địa phương Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Sang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn.

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Bùi Bằng Đoàn đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của tập thể Bộ môn Kế toán quản trị & Kiểm toán trong quá trình thực hiện đề tài.

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban giám đốc Công ty Điện Lực Bắc Giang và các anh chị ở các phòng ban trong công ty đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp cho tôi số liệu, kiến thức, kinh nghiệm thực tế về quản lý an toàn lao động tại công ty.

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí, đồng nghiệp, bè bạn và gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên khích lệ tôi, đồng thời có những ý kiến đóng góp trong quá trình tôi thực hiện và hoàn thành luận văn.

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Sang

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ vıết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình ảnh viii

Danh mục bıểu đồ, sơ đồ ix

Trích yếu luận văn x

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tıễn 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Các khái niệm liên quan đến an toàn lao động 4

2.1.2 Quản lý an toàn lao động 6

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý an toàn lao động 21

2.2 Cơ sở thực tiễn 23

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý an toàn lao động của doanh nghiệp trên thế giới 23 2.2.2 Kinh nghiệm quản lý an toàn lao động của một số doanh nghiệp trong nước 26

2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Công ty Điện lực Bắc Giang 30

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 31

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31

3.1.1 Giới thiệu về tỉnh Bắc Giang 31

Trang 5

3.1.2 Giới thiệu về Công ty Điện lực Bắc Giang 32

3.2 Phương pháp nghiên cứu 43

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 43

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 44

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 44

3.2.4 Phương pháp chuyên gia 44

3.2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu 44

Phần 4 Kết quả và thảo luận 46

4.1 Thực trạng tổ chức nguồn lực tại Công ty điện lực Bắc Giang 46

4.1.1 Tình hình tổ chức lao động tại Công ty 46

4.1.2 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty 49

4.2 Thực trạng quản lý an toàn lao động tại Công ty 51

4.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý an toàn lao động 51

4.2.2 Xây dựng kế hoạch an toàn lao động 54

4.2.3 Tổ chức tập huấn an toàn lao động của Công ty 58

4.2.4 Thực trạng mất an toàn lao động tại Công ty 64

4.2.5 Thực trạng đầu tư mua sắm thiết bị an toàn, bảo hộ lao lao động tại Công ty 66

4.2.6 Công tác kiểm tra, giám sát về an toàn lao động 70

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ATLĐ tại Công ty Điện Lực Bắc Giang 73

4.3.1 Các yếu tố về điều kiện bên trong Công ty 73

4.3.2 Các yếu tố tác động từ bên ngoài 82

4.3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện Lực Bắc Giang 88

4.4 Giải pháp tăng cường quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện Lực Bắc Giang 91

4.4.1 Định hướng trong quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện Lực Bắc Giang 91

4.4.2 Giải pháp tăng cường quản lý an toàn lao động tại Công ty 92

Trang 6

Phần 5 Kết luận và kıến nghị 102

5.1 Kết luận 102

5.2 Kiến nghị 103

Tàı lıệu tham khảo 105

Phụ lục 107

Trang 7

: Chi nhánh điện : Doanh nghiệp : Tập đoàn Điện lực Việt Nam : Kế hoạch

: Lao động : Phòng cháy chữa cháy : Phòng chống độc hại : Phòng chống lụt bão : Phân xưởng

: Sửa chữa : So sánh : Thực hiện : Tai nạn lao động : Tìm kiếm cứu nạn : Thành phố

: Vệ sinh lao động : Ứng cứu khẩn cấp

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2014-2016 42

Bảng 3.2 Số lượng đối tượng điều tra 43

Bảng 4.1 Tình hình lao động của Công ty giai đoạn 2014-2016 47

Bảng 4.2 Phân công lao động theo vị trí công việc năm 2016 48

Bảng 4.3 Hệ thống nhà xưởng, trạm và kho bãi năm 2016 50

Bảng 4.4 Nguồn nhân lực tham gia công tác quản lý ATLĐ năm 2016 51

Bảng 4.5 Kế hoạch chỉ tiêu an toàn lao động năm 2017 54

Bảng 4.6 Nội dung kế hoạch ATLĐ và tình hình thực hiện kế hoạch ATLĐ năm 2016 56

Bảng 4.7 Công tác tổ chức tập huấn, huấn luyện quy trình an toàn lao động năm 2015-2016 60

Bảng 4.8 Tình hình kiểm tra ATĐ, ATVSLĐ 61

Bảng 4.9 Nội dung đào tạo công tác ATLĐ năm 2016 62

Bảng 4.10 Tình hình thực hiện quy trình ATĐ năm 2016 63

Bảng 4.11 Tình hình TNLĐ của công ty giai đoạn 2014-2016 65

Bảng 4.12 Mẫu tổng hợp đăng ký cấp phương tiện bảo vệ cá nhân 66

Bảng 4.13 Bảng tổng hợp kinh phí thực hiện kế hoạch ATLĐ giai đoạn 2015-2016 68

Bảng 4.14 Tình hình kiểm tra và kết quả vi phạm ATLĐ năm 2015-2016 72

Bảng 4.15 Kết quả công tác kiểm tra khám sức khỏe toàn công ty năm 2016 73

Bảng 4.16 Đánh giá về công tác bảo hộ và môi trường làm việc 75

Bảng 4.17 Trình độ học vấn của lao động năm 2015-2016 79

Bảng 4.18 Mức độ hợp tác lao động trong lúc làm nhiệm vụ trong số vụ vi phạm năm 2016 81

Bảng 4.19 Tình hình mắc bệnh nghề nghiệp của lao động năm 2015-2016 83

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 3.1 Trụ sở nhà điều hành Công ty Điện Lực Bắc Giang 34

Hình 4.1 Một số dụng cụ bảo hộ lao động ngành điện 69

Hình 4.2 Ví dụ tai nạn gãy cột điện mùa mưa bão 82

Hình 4.3 Khắc phục sự cố ngã đổ đường dây 22kV - huyện Lục Nam 83

Hình 4.4 Hình ảnh lưới điện ở khu vực vùng núi 84

Hình 4.5 Hình ảnh vi phạm hành lang lưới điện cao thế 84

Hình 4.6 Một buổ tuyên truyền ATLĐ tạ Đ ện lực TP Bắc G ang 95

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu bậc an toàn lao động của Công ty năm 2016(%) 49

Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức của Công ty Điện lực Bắc Giang 36

Sơ đồ 3.2 Sơ đồ lưới điện 110kV Bắc Giang năm 2016 40

Sơ đồ 4.1 Bộ máy quản lý ATLĐ tại Công ty Điện lực Bắc Giang 52

Sơ đồ 4.2 Sơ đồ thực hiện kiểm tra quy trình kỹ thuật an toàn 71

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Nguyễn Thị Sang

Tên luận văn: Quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện lực Bắc Giang Ngành: Quản trị Kinh doanh Mã số: 60.34.01.02

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp

Việt Nam Nội dung bản trích yếu:

- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Tập trung nghiên cứu các vấn đề

lý luận và thực tiễn về quản lý an toàn lao động và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện lực Bắc Giang.

Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng:

+ Phương pháp thu thập dữ liệu:

Thông tin thứ cấp được tiến hành thu thập bao gồm các tài liệu liên quan đến đặc điểm địa bàn nghiên cứu như: các thông tin chung về công ty điện lực Bắc Giang, đó là thông tin về quá trình hình thành và phát triển, kết quả sản xuất kinh doanh, bộ máy tổ chức, bộ máy nhân sự, Các thông tin về cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý an toàn lao động đã được thu thập từ các nguồn: internet, sách báo, tạp chí

Thu thập số liệu sơ cấp là việc thu thập các thông tin về ATLĐ, TNLĐ, quản lý ATLĐ của người lao động tại Công ty Điện lực Bắc Giang thông qua việc điều tra, trao đổi với nhà quản lý và người lao động Đưa ra các câu hỏi phỏng vấn sâu đối với nhà quản lý và người lao động Thu thập tài liệu sơ cấp trong đề tài thông qua phương pháp phỏng vấn, quan sát, điều tra.

+ Phương pháp phân tích thông tin: Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên g a.

Các kết quả nghiên cứu đã đạt được:

+ Cơ sở lý luận và thực tiễn về an toàn lao động cũng như quản lý an toàn lao động thông qua các khái niệm, nguyên tắc, công cụ, ý nghĩa, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý an toàn lao động tại công ty.

+ Thực trạng công tác quản lý an toàn lao động tại công ty, những kết quả đạt được và những vấn đề trong hệ thống quản lý an toàn lao động tại công ty, các yếu tố ảnh hưởng.

Thực trạng công tác quản lý an toàn lao động tại công ty về: Tổ chức bộ máy quản lý ATLĐ tạ công ty; Xây dựng kế hoạch an toàn lao động; Tổ chức tập huấn

Trang 12

ATLĐ; Thực trạng mất an toàn lao động tạ công ty; Thực trạng đầu tư mua sắm th ết bị an toàn, bảo hộ lao động; Công tác k ểm tra, g ám sát về ATLĐ.

Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ATLĐ tại công ty: yếu

tố bên trong, yếu tố bên ngoài, yếu tố về phía người lao động.

Để nâng cao công tác quản lý an toàn lao động cần thực hiện các giải pháp sau: Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch quản lý an toàn lao động; Bảo

vệ an toàn hành lang lưới điện; Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra, giám sát quá trình tác nghiệp của người lao động về ATLĐ; Thực hiện khen thưởng, xử phạt nghiêm minh đối với người lao động; Hoàn thiện công tác bảo hộ lao động ở công ty; Nâng cao trình độ cấp quản lý; Nâng cao kỹ năng ngh

ệp vụ và ý thức của người lao động để giảm thiểu TNLĐ;

Từ những nội dung trên về quản lý an toàn lao động để tiến hành đồng bộ và có hiệu quả đề nghị ban Giám đốc của Công ty Điện lực Bắc Giang quan tâm và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Trang 13

THESIS ABSTRACTAuthor Name: Nguyen Thi Sang

Thesis title: Labor safety management at Bac Giang Electricity Company Major: Business Administration Code: 60.34.01.02

Training Facility Name: Vietnam National University Of Agriculture (VNUA) Contents of the abstract:

Researching objectives of the thesis: To focus on the theoretical and practical issues on labor safety management and proposing some solutions to strengthen the management of labor safety at Bac Giang Electricity Company.

The research methods is used:

+ Method of data collection:

Secondary information was collected including documents related to research area such as: The general informations on Bac Giang Electricity Company, That is information on the formation and development process, the production and business results, organizational structure, human resources Informations on theoretical and practical aspects of labor safety management collected from sources as internet books and newspapers, magazine

Primary data collection is the collection of information on labor safety, labor accident, labor safety management of laborer at the Bac Giang Electricity Company through surveys and exchanges with managers and laborer Giving in- depth interview questions to managers and laborer Collection of primary materials through methods interview, observation and investigation

+ Information analysis method: Descriptive statistics method, comparison method, expert method

The results is achieved from reseach:

+ Theoretical and practical basis on labor safety as well as labor safety management through the concepts, principles, tools, meaning, contents and factors affecting to work at the safety management at the company.

+ Current situation of labor safety management at the company, achievements and problems in labor safety management system at company, factors affecting.

Situation of labor safety management at the company: Organizing the labor safety management apparatus in the company; Develop a labor safety plan; Organize training courses on labor safety; The situation of unsafe labor in the company; The

Trang 14

situation of investment to buy safety equipment, labor protection; The work of inspection and supervision on labor safety.

Factors influencing the workforce management in the company: internal factors, external factors, factors on the laborers.

In order to improve the management of labor safety, the following solutions should be implemented: Complete the development of safety management plans; Safeguard the electrict grid corridor; Strengthening the propaganda, education, inspection and supervision of the work process of laborers on labor safety; To reward and punish severely the laborers; Completing to work the labor protection in the company; Raise the level of management; Raise the level of professional skills and awareness of employees to reduce labor accidents.

From the above contents on labor safety management to conduct synchronously and efficiently, the Board of Directors of Bac Giang Electricity Company has to pay attention and strictly handle violations.

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Lao động hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xã hội, gia đình và bản thân mỗi người lao động Bất cứ một chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là một trong những yếu tố quyết định nhất, năng động nhất trong sản xuất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động Xây dựng giàu có, tự do dân chủ cũng là nhờ người lao động Tri thức mở mang, cũng nhờ lao động Vì vậy lao động là sức mạnh của sự tiến bộ của xã hội loài người” (Trần Thị Minh Tuyết, 2017).

Một quá trình lao động có thể tồn tại một hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm,

có hại Nếu không được phòng ngừa, ngăn chặn, chúng có thể tác động vào con người gây chấn thương, gây bệnh nghề nghiệp, làm giảm sút, làm mất khả năng lao động hoặc gây tử vong Cho nên việc chăm lo cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động.

Muốn duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, muốn cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải đảm bảo được quy trình quản lý an toàn lao động, bởi khi tai nạn lao động xảy ra, đối với người lao động và thân nhân của họ không những

bị mất mát về con người, suy giảm sức khỏe mà khả năng làm việc, thu nhập cũng bị giảm sút, dẫn đến đói nghèo và những đau đớn về thể xác, tinh thần cho người lao động Đối với người sử dụng lao động, chủ doanh nghiệp, khi tai nạn lao động xảy ra sẽ gây thiệt hại rất lớn về chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị, nhà xưởng; chi phí về y tế, giám định thương tật, và bồi thường, trợ cấp cho người bị tai nạn lao động, và thân nhân của họ; Uy tín của doanh nghiệp bị ảnh hưởng; Hoạt động sản xuất bị gián đoạn do phải ngừng việc để khắc phục hậu quả, điều tra nguyên nhân gây tai nạn; Gây tâm lý lo lắng, căng thẳng cho cả bạn

và người lao động, ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động, doanh thu của doanh nghiệp bị giảm sút, thậm chí có thể bị phá sản.

Trang 16

Các ngành nghề như điện, cơ khí, xây dựng, hóa chất… tai nạn lao động chiếm tỷ trọng cao, các vụ tai nạn xảy ra thường nghiêm trọng nguy hiểm tới tính mạng con người Tuy vậy, rất nhiều nhà quản lý lại coi thường công tác bảo hộ lao động, không chú trọng trang bị đầy đủ trang thiết bị cần thiết cho nhân viên trước khi làm việc, coi đó là một việc thừa, xem nhẹ tính mạng con người Nhưng cũng không chỉ trách từ một phía

mà nhiều khi cũng là do sự thiếu hiểu biết, chủ quan của chính những người lao động nên mới dẫn đến nhiều vụ tai nạn thương tâm, ảnh hưởng tới cuộc sống cũng như người thân, gia đình chủa chính người lao động.

Điện là ngành nghề tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tai nạn lao động cao vì tính chất phức tạp và nguy hiểm của công việc Theo thống kê của Cục an toàn lao động năm 2016,tổng số vụ tai nạn chết người là 7.588 vụ, giảm 0,42% so với 2015 và số người chết là 711 người, tăng 6,75% so với năm 2015 Riêng ngành điện chiếm 8,2% tổng số vụ tai nạn lao động và 7,1% tổng số người chết Trong đó, điện giật chiếm 18,9% tổng số vụ người chết và 17,2% tổng

số người chết Đặc biệt với tổng số gần 100.000 công nhân viên chức lao động của Tập đoàn điện lực Việt Nam-là tập đoàn có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của đất nước thì vấn đề an toàn lao động luôn phải đặt lên hàng đầu Nếu nhận thức được tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn lao động thì sẽ có các biện pháp làm giảm thiểu các sự cố dẫn đến mất an toàn lao động Theo thống kê của Cục an toàn lao động năm 2015 nguyên nhân chủ yếu xảy ra tai nạn lao động chết người do người sử dụng lao động chiếm 52,8% và người lao động chiếm 18,9% (Cục an toàn lao động, 2016).

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề an toàn lao động của các ngành nghề nói chung và ngành điện nói riêng, tôi đã quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện lực Bắc Giang” để đưa ra một vài giải pháp góp phần làm giảm tỷ lệ an toàn lao động trong ngành điện.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu và phân tích về thực trạng công tác quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện lực Bắc Giang từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện lực Bắc Giang.

Trang 17

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý

an toàn lao động trong các doanh nghiệp điện lực;

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện lực Bắc Giang.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện lực Bắc Giang.

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tình hình quản lý an toàn lao động và giải pháp nhằm tăng cường quản lý an toàn lao động tại Công ty Điện lực Bắc Giang 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: nghiên cứu tình hình quản lý an toàn lao động tại các công ty Điện lực và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý an toàn lao động tại một doanh nghiệp cụ thể.

Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện tại Công ty Điện lực Bắc Giang.

Phạm vi thời gian: đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng

5 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017 Các dữ liệu, thông tin tập trung trong khoảng thời gian từ 2014-2016.

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Các khái niệm liên quan đến an toàn lao động

Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của mình Nhưng họ không thể trực tiếp sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu mình đòi hỏi Vì thế, trong xã hội xuất hiện sự phân công LĐ xã hội để phục vụ cho các đối tượng khác chứ không phải chỉ phục vụ cho riêng mình (Phạm Đức Thành và Mai Quốc Chánh,1994).

Lao động là hoạt động có mục đích của con người, là quá trình sức LĐ tác động lên đối tượng LĐ thông qua tư liệu sản xuất nhằm tạo nên những vật phẩm, những sản phẩm theo mong muốn Vì vậy, LĐ là điều kiện cơ bản và quan trọng nhất trong sự sinh tồn và phát triển của

xã hội loài người (Phạm Đức Thành và Mai Quốc Chánh,1994).

Lao động là tạo ra của của vật chất bằng chính sức lực của con người chúng ta Lao động được chia làm hai loại: lao động trí thức và lao động chân tay Lao động trí thức là những người chuyên làm các công việc liên quan đến giấy tờ, đến tính toán dùng trí tuệ để lao động Còn lao động chân tay là những công việc sử dụng sức khỏe của chính chúng

ta để làm như bốc vác, công nhân (Đinh Anh Thi, 2017).

An toàn lao động: là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động (Quốc hội, 2015).

Tai nạn lao động: là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết trong thời gian làm việc theo Bộ luật Lao động quy định như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc) (Quốc hội, 2015).

Tai nạn được coi là TNLĐ trong các trường hợp sau: Tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi và về trực tiếp giữa nơi làm việc và nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người lao động; nơi người lao động đến nhận tiền lương, tiền công.

Trang 19

Tai nạn xảy ra do những nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động hoặc không xác định được người gây ra tai nạn xảy ra tại nơi làm việc.

Tất cả những trường hợp trên phải được thực hiện ở địa điểm

và thời gian hợp lý.

Tai nạn lao động được phân chia thành ba loại: chết người, nặng và nhẹ Việc xác định TNLĐ nặng hay nhẹ là căn cứ vào tình trạng vết thương (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, 2005).

Quy trình an toàn điện trong tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam được ban hành kèm theo quyết định số 1157/QĐ-EVN ngày 19 tháng 12 năm 2014 của Tổng Giám Đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, là hệ thống các quy định về nguyên tắc, biện pháp đảm bảo an toàn điện khi thực hiện công việc quản lý vận hành, thí nghiệm, sửa chữa, xây dựng đường dây dẫn điện, thiết bị điện và các công việc khác theo quy định của pháp luật

ở thiết bị điện, hệ thống điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý.

Người chỉ huy trực tiếp: là người có trách nhiệm phân công công việc, chỉ huy và giám sát nhân viên đơn vị công tác trong suốt quá trình thực hiện công việc.

Người cho phép: là người thực hiện việc cho phép đơn vị công tác vào làm việc ở tại hiện trường (nơi hoặc vị trí làm việc), khi hiện trường công tác đã đủ điều kiện đảm bảo an toàn về điện.

Người giám sát an toàn điện: là người có kiến thức về an toàn điện, được huấn luyện, chỉ định và thực hiện việc giám sát an toàn điện cho đơn vị công tác.

Đơn vị quản lý vận hành: là đơn vị trực tiếp thực hiện công việc quản lý, vận hành các thiết bị điện, đường dây dẫn điện.

Nhân viên đơn vị công tác: là người của đơn vị công tác trực tiếp thực hiện công việc do người chỉ huy trực tiếp phân công.

Làm việc có điện: là công việc làm ở thiết bị mang điện, có sử dụng các trang bị, dụng cụ chuyên dùng.

Làm việc có cắt điện hoàn toàn: là công việc làm ở thiết bị điện ngoài trời hoặc trong nhà đã được cắt điện từ mọi phía (kể cả đầu vào của đường dây trên không và đường cáp), các lối đi ra phần phân phối ngoài trời hoặc thông sang

Trang 20

phòng bên cạnh đang có điện đã khoá cửa; trong trường hợp đặc biệt thì chỉ có nguồn điện hạ áp để tiến hành công việc.

Làm việc có cắt điện một phần: là công việc làm ở thiết bị điện ngoài trời hoặc trong nhà chỉ có một phần được cắt điện để làm việc hoặc thiết bị điện được cắt điện hoàn toàn nhưng các lối đi ra phần phân phối ngoài trời hoặc thông sang phòng bên cạnh có điện vẫn mở cửa.

Phương tiện bảo vệ cá nhân: là trang bị mà người của đơn vị công tác phải sử dụng để phòng ngừa tai nạn cho chính mình Đối với ngành điện ngoài quần áo bảo hộ, mũ, giày, còn có một số dụng cụ an toàn điện đặc thù như: ủng cách điện, găng tay cách điện, thảm cách điện, ghế cách điện, bút thử điện, kìm cách điện, tiếp địa di động

Xe chuyên dùng: là loại xe được trang bị phương tiện để sử dụng cho mục đích riêng biệt.

Cắt điện: là cách ly phần đang mang điện khỏi nguồn điện.

Trạm cách điện khí: (Gas insulated substation - GIS) là trạm thu gọn đặt trong buồng kim loại được nối đất, cách điện cho các thiết bị điện chính của trạm bằng chất khí nén (không phải là không khí).

Điện hạ áp: là điện áp dưới 1000V.

Điện cao áp: là điện áp từ 1000V trở lên.

Bậc an toàn điện: bậc an toàn điện được chia thành năm cấp bậc, từ bậc 1/5 đến bậc 5/5 Đối với mỗi bậc an toan đều có yêu cầu

cụ thể, và công việc được phân cụ thể cho từng bậc an toàn.

Kỹ sư an toàn chuyên trách: là các cán bộ chuyên làm công tác an toàn bảo hộ lao động tại các đơn vị (Tổng công ty điện lực Việt Nam, 2014).

2.1.2 Quản lý an toàn lao động

2.1.2.1 Khái niệm quản lý an toàn lao động

Quản lý an toàn lao động là tạo ra một hệ công cụ cũng như các biện pháp thiết thực nhằm giúp các tổ chức, các cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện việc thực hiện công tác an toàn lao động từ đó xây dựng một hệ thống khuyến nghị mang tính mục tiêu tác động tích cực trong việc giảm thiểu nguy cơ tai nạn, bệnh nghề nghiệp cũng như hợp lý hóa quá trình và tăng năng suất lao động Quản lý an toàn lao động là quản lý việc lập và chấp hành pháp luật về đảm

Trang 21

bảo an toàn lao động, đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện làm việc, chăm sóc sức khỏe con người lao động, ngăn chặn và giảm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường Nâng cao nhận thức

và tuân thủ pháp luật về ATLĐ, BHLĐ đảm bảo an toàn tính mạng người lao động và tài sản của nhà nước, hạnh phúc của nhân dân góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia (Quốc hội, 2012).

Công tác quản lý về an toàn lao động bao gồm: quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn an toàn lao động, tiêu chuẩn vệ sinh lao động đối với máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nơi làm việc, lắp đặt hệ thống cảnh báo an toàn và các tác nhân có liên quan đến điều kiện lao động, tiêu chuẩn chất lượng, quy cách các loại phương tiện bảo vệ cá nhân Quản lý thống nhất tiêu chuẩn phân loại lao động theo điều kiện lao động, tiêu chuẩn về sức khỏe đối với các nghề, các công việc, các quy phạm an toàn, quy phạm vệ sinh lao động.

Quản lý an toàn về máy móc thiết bị là phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu về an toàn và vệ sinh lao động quy định hiện hành từ khâu thiết kế, chế tạo, lắp đặt, sử dụng và quản lý máy, thiết bị theo các quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn cụ thể và các yêu cầu trong lý lịch máy của nhà chế tạo Xác định cụ thể vùng nguy hiểm và các nguy cơ gây ra tai nạn lao động trong quá trình sử dụng máy, thiết bị.

Đối với nhà xưởng thì tổ chức mặt bằng phải phù hợp với điều kiện an toàn: Chọn vị trí và địa điểm phù hợp; Bố trí hợp lý nhà xưởng, kho tàng và đường vận chuyên đảm bảo hợp lý và thuận tiện; Lắp đặt thiết bị trong xưởng đảm bảo các điều kiện an toàn;

Mặc dù mọi phương pháp bảo vệ đã được toan tính trong khi lập dự án và thiết kế nghề nghiệp, song trong phần lớn trường hợp trong khi làm việc trong ngành điện vẫn cần phải có một số trang bị bảo hộ cần lao như mũ, kính bảo vệ mắt, ủng và găng tay… để bảo vệ người lao động Tuy nhiên, khi sử dụng trang

bị bảo hộ lao động vẫn có một số điều không thuận tiện như: Sử dụng trang bị bảo hộ làm vướng víu đi đứng và giảm tiến độ làm việc Cần có sự giám sát đặc biệt để đảm bảo trang bị bảo hộ lao động đã được sử dụng đầy đủ Tốn tiền mua các đồ dùng trang bị bảo hộ lao động Trong một số trường hợp, để mang lại hiệu quả tốt nhất nên loại trừ trước các xui xẻo và độc hại hơn là cung cấp trang

bị bảo hộ cần bảo vệ Một số loại trang bị bảo hộ cần được sử dụng trong tất cả các công việc như mũ, gang tay, ủng bảo hộ.

Trang 22

Trong quá trình làm việc phải có biển cảnh báo, bảng chỉ dẫn bằng tiếng Việt

và ngôn ngữ phổ biến của người lao động về an toàn, vệ sinh lao động đối với máy, thiết bị, vật tư và chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc, nơi lưu giữ, bảo quản, sử dụng và đặt ở vị trí dễ đọc, dễ thấy.

Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do kết quả của sự tác động đột ngột từ bên ngoài của các yếu tố nguy hiểm có thể gây chết người hoặc làm tổn thương hoặc làm phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một

bộ phận nào đó trên cơ thể Khi người lao động bị nhiễm độc đột ngột một lượng lớn chất độc gây chết người hoặc huỷ hoại chức năng hoạt động của một bộ phận

cơ thể (nhiễm độc cấp tính) cũng được coi là tai nạn lao động.

Ngành điện là một ngành đặc thù luôn tiềm ẩn các nguy cơ xảy ra tai nạn lao động trong quá trình quản lý vận hành, sửa chữa hệ thống điện.

Đối với ngành điện, tai nạn lao động thường là do nhóm các yếu tố gây nguy hiểm về điện: Theo từng mức điện áp và cách tiếp xúc tạo nguy cơ điện giật, điện phóng, điện từ trường, làm tê liệt hệ hô hấp, tim mạch, thần kinh hoặc gây cháy, bỏng người lao động Ngoài ra, còn có nguy cơ cháy do chập điện, phóng điện Theo thống kê thì tai nạn lao động chết người do điện chiếm 14% trong tất cả các vụ tai nạn lao động chết người xảy ra.

Trong thực tế người lao động mặc dù đã được trang bị đầy đủ các phương tiện, dụng cụ an toàn bảo hộ lao động, được đơn vị tổ chức huấn luyện thường xuyên các quy trình quy phạm an toàn và định kỳ kiểm tra, nâng cao nghiệp vụ… nhưng số vụ tai nạn lao động vẫn phát sinh hàng năm, gây ra những thương tích cho bản thân người bị nạn và kéo theo hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội Thực tế qua các vụ tai nạn thì một phần nguyên nhân tai nạn điện trong nhiều trường hợp lại do chính người lao động gây ra Ngay cả khi người lao động đã thuộc lòng các quy trình, quy phạm về an toàn điện thì tai nạn lao động vẫn có thể xảy ra vì chỉ một tích tắc mất cảnh giác, phán đoán sai, thao tác nhầm, người lao động đánh mất tất cả, đánh mất sinh mệnh của chính mình.

Tóm lại, quản lý an toàn lao động là quản lý rủi ro xảy ra đối với người lao động trong bất cứ trường hợp nào Kiểm soát để hạn chế rủi ro tức là hạn chế được các tai nạn đối với người lao động.

2.1.2.2 Nguyên tắc và công cụ quản lý an toàn lao động

Nguyên tắc quản lý an toàn lao động:

Trang 23

Việc thực hiện an toàn lao động trong các doanh nghiệp phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau đây:

- Nhà nước quy định nghiêm ngặt chế độ an toàn lao động.

An toàn lao động có liên quan trực tiếp đến đến sức khỏe, tính mạng của người lao động Xuất phát từ tầm quan trọng này mà Nhà nước quy định nghiêm ngặt chế độ bảo hộ lao động từ khâu ban hành văn bản pháp luật đến tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm Nhà nước giao cho cơ quan có thẩm quyền lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động Các đơn vị sử dụng lao động có nghĩa vụ cụ thể hóa các quy định này cho phù hợp với đơn vị mình và nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định này Trong

số 6 nhiệm vụ của thanh tra lao động thì nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành an toàn lao động, vệ sinh lao động được xếp hàng đầu.

Có thể nói, trong số các chế định của pháp luật lao động, chế định về

an toàn lao động, vệ sinh lao động có tính chất bắt buộc cao mà các chủ thể sử dụng lao động hầu như ít được thỏa thuận như các chế định khác.

- Thực hiện toàn diện và đồng bộ an toàn lao động

Nguyên tắc thực hiện toàn diện và đồng bộ an toàn lao động thể hiện trên các mặt sau :

An toàn lao động và vệ sinh lao động là bộ phận không thể tách rời khỏi các khâu lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh.

An toàn lao động và vệ sinh lao động là trách nhiệm của không chỉ người sử dụng lao động mà còn của cả người lao động nhằm bảo đảm sức khỏe tính mạng của bản thân và môi trường lao động Bất kỳ ở đâu có tiếp xúc với máy móc, công cụ lao động thì ở

đó phải có an toàn lao động, vệ sinh lao động.

- Đề cao và đảm bảo quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong việc thực hiện an toàn lao động

Công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính quần chúng rộng rãi, do vậy chúng là một nội dung quan trọng thuộc chức năng của bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động của tổ chức công đoàn.

Trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình, Công đoàn được quyền

Trang 24

tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng như xây dựng pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động Trong phạm vi đơn vị cơ sở, tổ chức công đoàn phối hợp với người sử dụng lao động tuyên truyền giáo dục người lao động tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động Công đoàn còn tham gia thực hiện quyền kiểm tra, giám sát chấp hành pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động

Tôn trọng các quyền của công đoàn và đảm bảo để công đoàn làm tròn trách nhiệm của mình trong lĩnh vực an toàn lao động, vệ sinh lao động là trách nhiệm của người sử dụng lao động và các bên hữu quan Các công cụ quản lý an toàn lao động:

Có ba công cụ chính để góp phần vào quá trình quản lý an toàn lao động, đó là:

- Công cụ giáo dục

Công cụ giáo dục là các cách tác động vào nhận thức và tình cảm của con người trong hệ thống, nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ Phương pháp giáo dục được cơ sở vận dụng chủ yếu dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của người lao động Công cụ này mang tính thuyết phục, tức làm cho con người phân biệt được phải, trái, đúng sai, lợi hại,

…từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với tổ chức Giáo dục trong bất cứ trường hợp nào cũng luôn được coi là công cụ hướng tới sự lâu bền của

tổ chức, với chi phí thấp và hiệu quả cao Thông qua giáo dục để truyền tải những kiến thức về hậu quả, thiệt hại khi để xẩy ra tai nạn, mắc bệnh nghề nghiệp Trang bị cho mọi người cách phòng chống và cách xử lý khi gặp tình huống xấu xẩy ra Giáo dục phải được tiến hành thường xuyên cùng với công tác tư tưởng, sử dụng nhiều hình thức phong phú kết hợp với các biện pháp hành chính, kinh tế, các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ mới có thể tạo lập được phương pháp quản lý an toàn khoa khọc và hiệu quả nhất.

- Công cụ hành chính

Vai trò của công cụ hành chính trong quản lý rất to lớn Nó xác lập trật

tự kỷ cương làm việc trong hệ thống, khâu nối các công cụ quản lý khác lại

và giải quyết các vấn đề gặp phải trong hệ thống tổ chức Công cụ này có hiệu lực ngay từ khi ban hành quyết định, rất thích hợp để giải quyết nhanh các vấn đề khó khăn Tuy nhiên khi sử dụng công cụ này cần đặc biệt tránh lạm dụng quyền lực để biến công cụ này thành cách hành xử quan liêu.

Trang 25

Công cụ hành chính là các công cụ tác động dựa vào mối quan hệ tổ chức, kỷ luật của tổ chức, thông qua cách tác động trực tiếp của người lãnh đạo lên tập thể những người lao động dưới quyền bằng các quyết định dứt khoát, mang tính bắt buộc, đòi hỏi mọi người trong hệ thống phải chấp hành nghiêm ngặt, nếu vi phạm xẽ bị xử phạt kịp thời, thích đáng.

Sử dụng các quy phạm pháp luật về an toàn - bảo hộ lao động , xây dựng quy chế và cách thức làm việc của các cá nhân, bộ phận chịu trách nhiệm trực tiếp và gián tiếp đến an toàn - bảo hộ lao động

Nội dung chủ yếu của công cụ hành chính để quản lý an toàn - bảo hộ lao

+ Quản lý quy trình kỹ thuật.

Một trong những hình thức quan trọng của công cụ hành chính để quản lý an toàn là kỷ luật lao động, đây được coi là biện pháp hành chính mạnh mẽ nhất Hầu hết các cơ quan đều có một vài hình thức kỷ luật chính thức hay không chính thức

để có thể thực hiện thành công những hình phạt cứng rắn đối với hành

vi vi phạm lặp lại hoặc mang tính nghiêm trọng hơn Một thủ tục kỷ luật chính thức thường bắt đầu bằng một lời cảnh cáo miệng, rồi tiến đến là cảnh cáo bằng văn bản, rồi đình chỉ và cuối cùng là đuổi việc Mục đích của kỷ luật nên hướng tới sự chỉnh sửa hơn là hướng tới sự trừng phạt, phải coi công việc kỷ luật như là một phương tiện khuyến khích người lao động tự nguyện tuân thủ theo các quy tắc và tiêu chuẩn của cơ quan.

- Công cụ kinh tế

Công cụ kinh tế là một công cụ tác động gián tiếp lên đối tượng thông qua các lợi ích kinh tế, kích thích họ lựa chọn phương án hành động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động Các phương pháp kinh tế luôn gắn liền với việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế, như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, lãi suất, tiền lương, tiền thưởng…

Lợi ích kinh tế mà người lao động được hưởng khi họ tuân thủ tốt quy định

Trang 26

an toàn là thông qua hệ thống điểm đánh giá, từ đây được quy đổi thành tiền thưởng cho người lao động.

2.1.2.3 Ý nghĩa của quản lý an toàn lao động

An toàn lao động trong ngành điện là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong hoạt động sản xuất Hàng năm những tai nạn lao động cướp đi rất nhiều sinh mạng của con người hoặc nếu không thì làm tổn hại sức khỏe, để lại những di chứng lâu dài cho người lao động Do vậy nghiên cứu vấn đề an toàn lao động tại ngành điện rất cần được chú trọng, càn phải đưa ra được những nguyên nhân, và phương pháp khắc phục nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng của điều kiện lao động xấu tới con người và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.

Người lao động khi làm việc sẽ chịu tác động của các yếu tố

về điều kiện lao động, trong đó có những yếu tố nguy hiểm, yếu tố

có hại gây bất lợi cho bản thân người lao động, có thể gây ra tai nạn lao động, ảnh hưỏng xấu đến sức khỏe người lao động Do đó cần phải được bảo vệ tránh những tác động của các yếu tố này.

Để xảy ra tại nạn lao động và mắc bệnh nghề nghiệp không những làm giảm chất lượng nguồn nhân lực gây tổn thất rất lớn về người và của cho bản thân, gia đình đối tượng, cho công ty và cho xã hội mà còn gây tâm lý bất ổn làm giảm nhuệ khí làm việc Chi phí cho việc phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp chiếm một tỷ lệ không nhỏ của một công ty, nhất

là đối với các doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vức có nguy cơ tai nạn nghề nghiệp cao như ngành điện Nếu quản lý không tốt khâu này sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Quản lý ATLĐ trong ngành điện là một trong những nhiệm vụ trọng yếu để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động Quản lý ATLĐ tốt sẽ góp phần:

- Đảm bảo an toàn thân thể người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất, hoặc không để xảy ra tai nạn trong lao động.

- Đảm bảo cho người lao động mạnh khỏe, không bị mắc bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động không tốt gây nên.

- Bồi dưỡng phục hồi kịp thời và duy trì sức khỏe, khả năng lao động cho người lao động.

- Ngoài ra, quản lý ATLĐ tốt còn giúp công ty giảm thiểu tổn thất về người và tài sản, nâng cao uy tín.

Trang 27

Ngoài các nội dung trên, công tác quản lý an toàn lao động nói chung và trong ngành điện nói riêng là công tác nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc những tác động xấu đến sức khỏe người lao động Như vậy công tác quản lý ATLĐ có ý nghĩa cả tầm vĩ

mô và vi mô và được thể hiện qua nhiều nội dung khác nhau.

Trước hết, ý nghĩa chính trị.

Quản lý an toàn lao động thể hiện coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển Nếu trong doanh nghiệp có tỷ lệ tai nạn lao động thấp, người lao động khỏe mạnh, không mắc bệnh nghề nghiệp sẽ là điều kiện tốt để người lao động yên tâm cống hiến cho doanh nghiệp Công tác quản lý an toàn lao động làm tốt là góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khỏe, tính mạng

và đời sống người lao động, biểu hiện quan điểm quần chúng, quan điểm quý trọng con người của Đảng và nhà nước, vai trò của con người trong xã hội được tôn trọng Qua đây cũng thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với sự an toàn của mỗi khi họ đóng góp sức lao động của mình để tạo ra của cải xã hội, góp phần ổn định an ninh, chính trị, xã hội được tốt hơn.

Ngược lại, nếu công tác quản lý an toàn lao động không tốt, điều kiện lao động không được cải thiện, để xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng thì uy tín của chế độ, uy tín của doanh nghiệp sẽ

bị giảm sút (Công ty TNHH công nghệ và thương mại Dương Châu) Thứ hai, ý nghĩa về xã hội.

Quản lý an toàn lao động là chăm lo đời sống, hạnh phúc của người lao động và là yêu cầu thiết thực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động Các thành viên trong mỗi gia đình ai cũng mong muốn khỏe mạnh, trình độ văn hóa, nghề nghiệp được nâng cao để cùng chăm lo hạnh phúc gia đình và góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh và phát triển.

Quản lý an toàn lao động đảm bảo cho xã hội trong sáng, lành mạnh, mọi người lao động khỏe mạnh, làm việc có hiệu quả và có vị trí xứng đáng trong xã hội, làm chủ xã hội, tự nhiên và khoa học kỹ thuật.

Khi tai nạn lao động xảy ra thì nhà nước và xã hội sẽ giảm bớt được những tổn thất trong việc khắc phục hậu quả và tập trung đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội (Công ty TNHH công nghệ và thương mại Dương Châu).

Trang 28

Thứ ba, ý nghĩa về kinh tế.

An toàn lao động đem lại lợi ích thiết thực: tạo ra các điều kiện lao động tốt tức là đảm bảo cho người lao động không bị tác động bởi các yếu tố có hại trong sản xuất, giữ gìn được sức khỏe và khả năng lao động của họ, do

đó người lao động làm việc được liên tục và được năng suất cao.

Bảo đảm thực hiện đầy đủ các biện pháp kỹ thuật an toàn lao động đúng theo quy phạm, quy trình và chỉ tiêu ngành điện sẽ bảo đảm cho máy móc thiết bị nhà xưởng sử dụng được lâu dài, không bị sự cố hư hóng, bảo vệ được tài sản

cố định và do đó cũng tránh được tai nạn lao động đáng tiếc xảy ra Mỗi khi tai nạn lao động xảy ra dù nặng hay nhẹ cũng gây thiệt hại rất lớn về kinh tế cho doanh nghiệp, người lao động và cả xã hội Như vậy, nếu quản lý tốt công tác này sẽ góp phần làm tiết kiệm chi phí cho xã hội là rất lớn.

Tóm lại, an toàn là để sản xuất, an toàn là hạnh phúc của người lao động,

là điều kiện đảm bảo cho sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2.1.2.4 Tính chất trong quản lý an toàn lao động

Quản lý ATLĐ là một hoạt động có tính phổ biến ở mọi Quốc gia, mọi doanh nghiệp trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế xã hội Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động, công tác quản lý ATLĐ có thể có những nội dung, cách thức khác nhau nhưng đều thể hiện tính chất cơ bản như nhau, đó là:

- Tính chất khoa học trong quản lý ATLĐ.

Mọi hoạt động của công tác an toàn lao động là nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại cho người lao động.

Các biện pháp phòng chống tai nạn lao động đều xuất phát từ

cơ sở khoa học và bằng những biện pháp khoa học kỹ thuật mới.

Các hoạt động điều tra, khảo sát, phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm và có hại đến sức khỏe của người lao động, các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường lao động, các giải pháp kỹ thuật an toàn dụng cụ thiết bị,… đều là những hoạt động khoa học kỹ thuật- công nghệ mới do các cán bộ khoa học kỹ thuật đề xuất thực hiện.

- Tính chất pháp lý trong quản lý ATLĐ.

Quản lý an toàn lao động phải mang tính pháp lý thể hiện ở chỗ mọi cách thức, biện pháp tổ chức đều phải dựa trên những quy định của luật pháp.

Trang 29

Muốn cho các giải pháp (về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội) đảm bảo an toàn lao động thực hiện được, trước hết Nhà nước phải thể chế hóa chúng thành những luật lệ, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn Trên cơ sở ban hành luật là việc hướng dẫn để buộc mọi cấp quản lý, mọi tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh thực hiện.

Để công tác này thực hiện tốt cũng cần phải tiến hành thường xuyên công tác thanh tra, kiểm tra Các cấp có thẩm quyền phải xây dựng kế hoạch, thực hiện thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên, đồng thời phải khen thưởng những đơn vị có thành tích và xử phạt kịp thời, thích đáng những đơn vị, cá nhân vi phạm các quy định về ATLĐ Chỉ trên cơ sở hoàn thiện luật pháp về ATLĐ thì công tác quản lý an toàn lao động mới được tôn trọng và có hiệu quả thiết thực.

- Tính chất quần chúng trong quản lý ATLĐ.

Lao động tạo ra của cải vật chất mang tính xã hội cao, thể hiện sự tham gia của quần chúng lao động ở tất cả các lĩnh vực, các ngành sản xuất khác nhau Cho dù khác nhau về điều kiện, đặc thù hoạt động nhưng tất cả đều rất dễ xảy ra mất ATLĐ Chính vì vậy, ở mọi doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, từ người sử dụng lao động đến người lao động đều là đối tượng cần được bảo vệ.

Chính người lao động là chủ thể tham gia vào mọi hoạt động và họ là đối tượng dễ bị tai nạn nếu không được bảo vệ tốt Ngoài các biện pháp bảo vệ từ xã hội, doanh nghiệp thì chính người lao động cũng phải tự bảo

vệ mình và bảo vệ người khác để không xảy mất ATLĐ.

Mọi hoạt động của an toàn lao động chỉ có thể đạt kết quả khi các cấp quản lý, người sử dụng lao động, các cán bộ khoa học công nghệ

và bản thân người lao động đều phải tự giác và tích cực tham gia thực hiện các chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, quy định và các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng chống tai nạn lao động.

Từ những nội dung trên đây, quản lý ATLĐ cần tham gia của tất cả các đối tượng liên quan, nói khác đi nó có tính quần chúng sâu sắc 2.1.2.5 Nội dung của quản lý an toàn lao động trong ngành điện

Quy trình quản lý an toàn bảo hộ lao động gồm có bốn bước chung cơ bản sau: Xây dựng kế hoạch, tổ chức điều hành thực hiện kế hoạch, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn lao động và xử lý, giải quyết khi mất ATLĐ.

Trang 30

a Công tác kế hoạch trong quản lý ATLĐ

Kế hoạch quản lý an toàn lao động là một nội dung rất quan trọng bảo đảm cho công tác bảo hộ lao động của doanh nghiệp được thực hiện một cách tốt nhất.

Do đó kế hoạch bảo hộ lao động là một nội dung có tính pháp lý của doanh nghiệp và phải tuân thủ các nội dung trong quản lý ATLĐ theo pháp luật Chính vì vậy công tác kế hoạch phải xây dựng được các chỉ tiêu cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu về ATLĐ và mục tiêu hoạt động Mặt khác, đây cũng là nghĩa vụ đầu tiên trong các nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với xã hội nói chung, người lao động nói riêng.

Nghị định số: 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính Phủ quy định

"Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động".

Đây là một bước quan trọng trong quá trình quản lý an toàn lao động Theo Nghị định 181 của Chính Phủ ngày 17/12/2004 quy định về việc lập kế hoạch an toàn lao động phải được tiến hành đồng thời cùng kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, đồng thời phải xét duyệt cả hai kế hoạch này cùng một thời kỳ nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động Mục đích của việc lập kế hoạch là định ra những mục tiêu, công việc cần làm, và các phương pháp để thực hiện mục tiêu đề ra đó Mục tiêu cuối cùng là sự an toàn ở mức độ cao nhất cho người lao động ở mỗi doanh nghiệp Kế hoạch cũng thể hiện dự trù về các mặt: thiết bị

kỹ thuật an toàn, thiết bị vệ sinh công nghiệp, tuyên truyền, huấn luyện tới cán bộ, công nhân viên của tổ chức đó về an toàn lao động.

Các nội dung chủ yếu trong kế hoạch quản lý ATLĐ trong doanh nghiệp

gồm:

- Kế hoạch giảm thiểu tai nạn lao động và các vi phạm về ATLĐ;

- Kế hoạch tổ chức các lớp bồi dưỡng về ATLĐ cho người lao động trong doanh nghiệp;

- Kế hoạch mua sắm vật tư, trang thiết bị bảo hộ lao động và các điều kiện cần thiết khác;

Trang 31

- Kế hoạch về tài chính cho các biện pháp quản lý ATLĐ trong doanh nghiệp.

Để công tác xây dựng kế hoạch đưa ra được các tiêu chí, biện pháp phù hợp, việc xây dựng kế hoạch ATLĐ phải dựa trên các căn cứ sau:

- Phải dựa vào nhiệm vụ, phương hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh và tình hình tổ chức lao động của năm kế hoạch của doanh nghiệp.

- Những thiếu sót tồn tại trong công tác bảo hộ lao động và an toàn lao

động được rút ra từ các vụ TNLĐ, cháy nổ, BNN, từ báo cáo kiểm điểm việc thực hiện công tác an toàn lao động năm trước.

- Các kiến nghị phản ánh của người lao động, ý kiến của tổ chức công đoàn và kiến nghị của các đoàn thanh tra kiểm tra.

Kế hoạch ATLĐ phải bao gồm: Mục tiêu, biện pháp, công cụ, kinh phí, thời gian hoàn thành, phân công tổ chức thực hiện Đối với công việc phát sinh trong năm kế hoạch thì phải xây dựng kế hoạch

bổ sung phù hợp với nội dung công việc.

b Chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch

Đây là bước thứ hai trong quy trình quản lý an toàn lao động Trước hết, việc triển khai thực hiện kế hoạch là phải thiết lập một hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận đó có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu đã đề ra Phối hợp chính là quá trình liên kết các hoạt động của con người, bộ phận, phân hệ và hệ thống riêng rẽ nhằm thực hiện các mục tiêu về ATLĐ được đưa ra trong bản kế hoạch ATLĐ Khi có sự phối hợp trong tổ chức thì mỗi cá nhân sẽ không theo đuổi mục tiêu riêng của mình mà hướng hành động của mình theo mục tiêu chung của cả tổ chức.

Để thực hiện tốt các nội dung kế hoạch ATLĐ các tổ chức, doanh nghiệp cần áp dụng một số phương pháp sau:

- Phải phổ biễn cho người lao động tuân thủ các chiến lược, chính sách

về an toàn lao động, BNN, các quy tắc, quy chế, thủ tục về ATLĐ trong quá trình làm việc của người lao động; các quy định về sự phối hợp hoạt động của các bộ phận, cá nhân theo một quy trình ăn khớp, thống nhất Các công cụ thực hiện thông qua hệ thống thông tin, truyền thông cơ bản.

Trang 32

- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức lao động, tạo điều kiện dễ dàng cho người lao động, các bộ phận giao tiếp theo chiều dọc và theo chiều ngang để tăng cường sự phối hợp trong hoạt động của từng bộ phận, cá nhân.

- Tăng cường công tác giám sát trực tiếp của các tổ chức, các cấp lãnh đạo đối với cấp dưới trong việc thực hiện quy trình ATLĐ, kịp thời đưa ra các mệnh lệnh buộc cấp dưới phải thực hiện đúng các quy định trong quy trình công tác, quy định về ATLĐ.

- Xây dựng văn hóa tổ chức phù hợp với điều kiện, đặc thù hoạt động Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần coi trọng tính chủ động trong nhận thức của người lao động về an toàn lao động, là những nghi lễ hàng ngày, những điều cấm

kỵ Mục đích là để gắn kết các bộ phận, con người trong tổ chức lại với nhau thành một thể thống nhất, làm tăng khả năng phối hợp trong tổ chức để đạt được mục đích an toàn chung trong quá trình sản xuất.

- Tăng cường phân cấp, phân quyền, phân chia nhiệm vụ cho mỗi phòng ban, mỗi cá nhân trong quản lý thực hiện quy trình an toàn lao động Việc giao nhiệm vụ cần căn cứ vào mục tiêu, phương pháp thực hiện và quan trọng nhất là căn cứ vào kế hoạch sản xuất của tổ chức để thực hiện công việc một cách đồng bộ và hiệu quả.

Về bản chất tổ chức là việc thực hiện phân công lao động, phân bổ nguồn lực một cách khoa học, là cơ sở để thực hiện quy trình quản lý an toàn lao động Với chức năng tạo khuôn khổ cơ cấu và nhân lực quản lý cho quá trình triển khai

kế hoạch an toàn, công tác tổ chức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định phần lớn sự thành công của quy trình an toàn trong tổ chức.

Công tác kế hoạch về ATLĐ thực hiện tốt hay không phụ thuộc rất lớn vào việc lãnh đạo điều hành thực hiện kế hoạch của các cấp quản lý Các phương pháp lãnh đạo thường dùng trong quy trình quản lý ATLĐ, gồm:

- Các phương pháp giáo dục, vận động, tuyên truyền về an toàn lao động: phương pháp này tác động vào nhận thức tình cảm của người lao động nhằm nâng cao tính tự giác, sự nhiệt tình của họ trong việc thực hiện đúng quy tắc, chuẩn mực ATLĐ Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục

do đó việc thuyết phục được người lao động áp dụng quy trình an toàn đúng hay sai là dựa hoàn toàn vào nhận thức của người lao động và cách thức thuyết phục của người lãnh đạo.

Trang 33

- Phương pháp hành chính: phương pháp tác động vào hệ thống tổ chức, kỷ luật của tổ chức Dựa vào những văn bản quy định ATLĐ và BHLĐ nhà lãnh đạo sẽ đưa ra quyết định dứt khoát đòi hỏi mọi người trong hệ thống phải chấp hành nghiêm ngặt, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng Để hệ thống ATLĐ hoạt động hiệu quả đòi hỏi người ra quyết định phải có những căn cứ khoa học, sáng suốt và phải nắm vững về quy trình quản lý ATLĐ nhằm tránh những quyết định không tập trung, không hiệu quả.

- Phương pháp kinh tế: là các phương pháp tác động gián tiếp vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế, để cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động trong phạm vi an toàn và hiệu quả nhất Trong công tác quản lý ATLĐ thì việc sử dụng các định mức kinh tế, các biện pháp đòn bẩy,kích thích kinh tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích người lao động vừa sản xuất hiệu quả vừa sản xuất an toàn Bằng các chế độ thưởng, phạt vật chất, trách nhiệm kinh tế rõ ràng, chặt chẽ sẽ hạn chế các vụ vi phạm ATLĐ đồng thời cũng khuyến khích các hoạt động phát triển hệ thống an toàn lao động nhằm nâng cao chất lượng lao động.

c Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn lao động

Kiểm tra là một trong những chức năng của quy trình quản lý Thông qua các chức năng kiểm tra mà chủ thể quản lý nắm bắt và điều chỉnh kịp thời các hoạt động để thực hiện tốt mục tiêu đã định Việc doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tổ chức kiểm tra công tác ATLĐ và phòng cháy chữa cháy (PCCC) trong đơn vị mình được coi là tự kiểm tra về ATLĐ.

Kiểm tra về ATLĐ nhằm phát hiện kịp thời các thiếu sót về ATLĐ, về PCCC để có biện pháp khắc phục, là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức, kỹ thuật nhằm phòng ngừa tác động của những yếu tố cơ bản gây ra cho người lao động.

Kiểm tra còn có tác dụng giáo dục, nhắc nhở người sử dụng lao động nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc chấp hành luật pháp nhà nước về lao động; nâng cao khả năng phát hiện các nguy cơ gây TNLĐ, BNN và phát huy tinh thần sáng tạo, tự lực trong công việc tổ chức thực hiện các nội dung; công tác kiểm tra phải nghiêm túc, kỹ lưỡng tránh hình thức.

Nội dung công tác kiểm tra ATLĐ của các Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh bao gồm:

Trang 34

- Kiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo hiểm lao động như: khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, khám phát hiện BNN; thời gian làm viêc, thời gian nghỉ ngơi, bồi dưỡng bằng hiện vật…

- Kiểm tra hồ sơ, sổ sách, nội quy, quy trình và biện pháp an toàn, sổ ghi biên bản kiểm tra, sổ ghi kiến nghị.

- Kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình, biện pháp an toàn.

- Kiểm tra tình trạng an toàn, vệ sinh của máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kho tang và nơi làm việc như: che chắn tại các vị trí nguy hiểm, độ tin tưởng của

cơ cấu an toàn, chiếu sáng, chống nóng, chống bụi, chống ồn…

- Kiểm tra việc sử dụng bảo quản trang thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động, phương tiện kỹ thuật PCCC, thiết bị y tế…Kiểm tra là chức năng quan trọng của nhà quản lý, kiểm tra là công cụ quan trọng để nhà quản lý phát hiện ra sai sót và có biện pháp điều chỉnh kịp thời, mặt khác thông qua kiểm tra các hoat động có thể được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được những sai sót nảy sinh.

Kiểm tra là chức năng quan trọng của nhà quản lý, kiểm tra là công cụ quan trọng để nhà quản lý phát hiện ra sai sót và có biện pháp điều chỉnh kịp thời, mặt khác thông qua kiểm tra các hoat động có thể được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được những sai sót nảy sinh.

Các hình thức kiểm tra thường được áp dụng trong quản lý ATLĐ, gồm:

- Kiểm tra toàn diện

- Kiểm tra chuyên đề

- Kiểm tra sau đợt nghỉ dài ngày

- Kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất

Có thể thấy kiểm tra không phải là hoạt động đan xen mà là một quá trình liên tục về thời gian và bao quát về không gian, nó là yếu tố thường trực của nhà quản lý ở mọi lúc mọi nơi (Đặng Thìn Tuấn, 2014) Việc kiểm tra có thể được thực hiện từ bên ngoài, từ trên xuống hoặc tự kiểm tra của từng cá nhân, bộ phận trước, trong và sau khi thực hiện các công việc.

Trang 35

d Giải quyết xử lý các vi phạm trong quản lý ATLĐ

Các vi phạm ATLĐ rất dễ xảy ra nếu các doanh nghiệp, tổ chức không làm tốt các khâu trong quy trình quản lý ATLĐ Trường hợp có vi phạm ATLĐ buộc các doanh nghiệp, tổ chức và các bên liên quan phải làm tốt công tác

xử lý, khắc phục các thiệt hại, nhất là thiệt hại liên quan đến con người.

Doanh nghiệp, tổ chức cần chuẩn bị tốt các điều kiện, phương tiện để kịp thời khắc phục, xử lý khi mất ATLĐ, đồng thời phải phối hợp tốt với các cơ quan chức năng trong việc xử lý, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật.

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý an toàn

lao động a Các yếu tố chủ quan

Các yếu tố chủ quan muốn đề cập đến các yếu tố liên quan đến

tổ chức, doanh nghiệp và bản thân người lao động trong việc chấp hành các quy định về ATLĐ Các yếu tố chủ quan bao gồm:

- Nhận thức và trình độ quản lý trong doanh nghiệp.

Trước hết là nhận thức của nhà quản lý đối với công tác quản lý ATLĐ Nếu nhà quản lý không coi trọng công tác này, không đầu tư nguồn lực xứng đáng chắc chắn mức độ mất ATLĐ sẽ cao hơn và ngược lại.

Mặt khác, trình độ của của người lãnh đạo cũng ảnh hưởng trực tiếp tới quy trình quản lý an toàn lao động Trình độ quản lý đối với nội dung này được thể hiện rõ ràng trong từng bước thực hiện quy trình quản lý ATLĐ Đồng thời ý thức hay cách thức thực hiện công việc, tuân thủ quy trình ATLĐ của nhân viên cũng phản ánh khả năng tổ chức và quản lý của các nhà quản lý về ATLĐ Một nhà lãnh đạo tốt, có năng lực sẽ tổ chức tốt ở tất cả các khâu, dẫn đến tất cả các quy trình sản xuất, trong đó có quy trình về ATLĐ cũng sẽ được thực hiện tốt.

- Ý thức và trình độ của người lao động.

Các mục tiêu an toàn, các phương pháp thực hiện để đạt mục tiêu an toàn đều liên quan trực tiếp tới người lao động Người lao động có tay nghề, có kiến thức và có ý thức về ATLĐ thì việc thực hiện quy trình an toàn sẽ được dễ dàng hơn và đồng bộ hơn Người lao động có tay nghề thấp lại hiểu biết kiến thức an toàn đều rất hạn chế không những thực hiện các quy trình sản xuất khó khăn hơn, mất nhiều thời gian hơn mà còn dễ xảy ra các vi phạm về ATLĐ hơn.

- Cơ cấu tổ chức sản xuất và quản lý của doanh nghiệp.

Trang 36

Cơ cấu tổ chức có sự phân cấp rõ ràng thì thuận tiện cho công tác tổ chức kế hoạch và các công tác của quy trình quản lý an toàn lao động Bên cạnh đó có sự phối hợp giữa các phòng ban được chặt chẽ hay không cũng phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu của tổ chức đó nên cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc quy trình an toàn lao động có được thực hiện đồng bộ hay không.

- Điều kiện trang thiết bị và nguồn kinh phí thưc hiện.

Trang thiết bị, máy móc, công cụ làm việc hiện đại không chỉ giúp tăng được năng suất lao động mà còn hạn chế được các tai nạn lao động xảy ra Điều kiện và đặc thù hoạt động của mỗi lĩnh vực cũng trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng xảy ra mất ATLĐ, trong đó ngành điện có nguy cơ là rất cao.

Để thực hiện được quy trình an toàn thì cần phải có nguồn kinh phí bảo đảm, khi nguồn kinh phí thiếu hụt sẽ dẫn đến sự không liền mạch và không hiệu quả Nguồn kinh phí chủ yếu là do tổ chức tự thực hiện do đó

sẽ dẫn tới giảm lợi nhuận cho tổ chức dẫn đến tổ chức sẽ trích kinh phí hạn chế chế cho việc thực hiện quy trình quản lý an toàn lao động.

b Các yếu tố khách quan

Ngoài các yếu tố chủ quan, các yếu tố khách quan hay bên ngoài cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý ATLĐ của các doanh nghiệp, tổ chức Các yếu tố khách quan có nhiều và được thể hiện qua một số nội dung sau:

- Điều kiện về môi trường, tự nhiên tác động đến công việc.

Môi trường làm việc cũng ảnh hưởng đến quá trình thực hiện quy trình quản lý an toàn lao động Về mặt khoảng cách và phạm vi hoạt động của tổ chức

đòi hỏi thông tin phải kịp thời khi đó việc thực hiên quy trình mới đồng bộ và toàn diện.

- Chiến lược phát triển dài hạn của tổ chức Các chiến lược phát triển dài hạn được tổ chức xây dựng để qua đó xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, trong

đó có kế hoạch an toàn lao động Các mục tiêu được đưa ra đều phải căn cứ trên

cơ sở của mục tiêu chung, mục tiêu dài hạn của tổ chức.

- Sự hoàn thiện của các chính sách của nhà nước liên quan đến quản lý ATLĐ Các chính sách của Nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các chế độ cho người lao động, nhất là khi mất ATLĐ xảy ra Các chính sách của Nhà nước không những bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm các quy định

Trang 37

ATLĐ mà cũng là căn cứ để các doanh nghiệp, tổ chức đưa ra các phương pháp quản lý hoạt động này hiệu quả.

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý an toàn lao động của doanh nghiệp trên thế giới

Kinh nghiệm quản lý ở Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia nổi tiếng về đảm bảo an toàn lao động Theo nghiên cứu của Nhật Bản, chỉ có 1,1% số vụ tai nạn xảy ra do nguyên nhân bất khả kháng Tới 93,8% vụ tai nạn xảy ra do hành vi không an toàn và 87,7% xảy ra vì điều kiện không an toàn, 82,6% các vụ tai nạn xảy ra do cả hai nguyên nhân trên Như vậy, tai nạn có thể được giảm thiểu triệt để nếu kiểm soát tốt các yếu tố chủ quan như hành vi và điều kiện làm việc (Công ty TNHH an toàn lao động Phú Thành, 2014).

Trước đây, vào những năm 50,60 của thế kỷ trước ngành công nghiệp bùng nổ thì Nhật Bản là quốc gia có số người bị tai nạn lao động rất lớn Nhất là năm 1961 có tới 6.712 người chết vì tai nạn lao động Tình hình này chỉ thay đổi khi chính phú Nhật Bản phát động phong trào “Không tai nạn” vào năm 1973 và

ý tưởng KY (viết tắt của Kzen và Yochi, nghĩa là “dự đoán các tình huống nguy hiểm”) ra đời năm 1974 Sau đó đã được phát triển và phổ biến bởi JISHA, Hiệp hội an toàn và vệ sinh lao động công nghiệp Nhật Bản Ý tưởng này đã góp phần quan trọng khiến tỉ lệ tai nạn lao động ở Nhật Bản giảm mạnh từ 6.712 năm 1961 xuống còn 1.514 năm 2005 Mô hình KY của Nhật Bản cho thấy nhiều đặc điểm rất đáng học hỏi để ứng dụng giải quyết thực trạng ở Việt Nam hiện tại Một trong những liên doanh với Nhật Bản đang thực thi mô hình này là nhà máy xi măng Nghi Sơn, Thanh Hóa (Nguyễn Nam, 2012).

Một biện pháp quản lý an toàn-bảo hộ lao động mà Nhật Bản đang áp dụng rất đáng để học hỏi nữa đó là biện pháp 5S

- 5S là tên của một phương pháp quản lý, sắp xếp nơi làm việc Nó được viết tắt của 5 từ trong tiếng Nhật gồm: Seiri (Sàng lọc), Seiton (Sắp xếp), Seiso (Sạch sẽ), Seiketsu (Săn sóc), và Shitsuke (Sẵn sàng).

- Sàng lọc: Seiri hay Sàng lọc có nghĩa là phân loại, tổ chức các vật dụng theo trật tự Đây chính là bước đầu tiên doanh nghiệp cần làm trong thực hành 5S Nội dung chính của S1 là phân loại, di dời những thứ không cần thiết, có thể bán đi hoặc tái sử dụng.

Trang 38

- Sắp xếp: Sau khi đã loại bỏ các vật dụng không cần thiết thì công việc tiếp theo là tổ chức các vật dụng còn lại một cách hiệu quả theo tiêu chí dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy, dễ trả lại.

- Sạch sẽ: Thường xuyên vệ sinh,giữ gìn nơi làm việc sạch sẽ thông qua việc tổ chức vệ sinh tổng thể và tổ chức vệ sinh hàng ngày máy móc vật dụng và khu làm việc S3 hướng tới cải thiện môi trường làm việc, giảm thiểu rủi ro, tai nạn đồng thời nâng cao tính chính xác xủa máy móc thiết bị (do ảnh hưởng của bụi bẩn).

- Săn sóc: Luôn luôn kiểm tra, duy trì 3S ở trên Bằng việc phát triển S4, các hoạt động 3S sẽ được cải tiến dần dựa theo tiêu chuẩn đã đặt ra và tiến tới hoàn thiện 5S trong doanh nghiệp.

- Sẵn sàng: Nghĩa là rèn luyện, tạo nên một thói quen, nề nếp, tác phong cho mọi người trong thực hiện 5S.

5S được áp dụng lần đầu tiên ở Toyota và phát triển rất nhanh sau

đó ở các công ty Nhật Bản Sau đó được phổ biến sang nhiều nước khác.

Ở Việt Nam, 5S lần đầu tiên được áp dụng vào năm 1993, ở công ty Nhật Vyniko 5S được một số nơi phát triển lên thành 6S S thứ 6 là Safety (An toàn), nhưng bản thân nếu làm đúng 5S kể trên là đã gồm an toàn cho nhân viên rồi Tuy nhiên, ở một số công ty Nhật, 5S lại được rút gọn lại thành 3S (lấy 3S đầu tiên) do mọi người đều sẵn sàng làm 3S và luôn luôn

ý thức, kỷ luật tốt (Công ty TNHH Thương Mại Dịch vụ VINAF, 2015).

Kinh nghiệm quản lý ở Hoa Kỳ

Theo Cơ quan An toàn và Sức khoẻ nghề nghiệp thuộc Bộ Lao động Hoa Kỳ, các thương tích và bệnh tật ở nơi làm việc đã khiến các doanh nghiệp Mỹ phải chi tới 170 tỷ đô la mỗ năm Một trong những cách tốt nhất để doanh ngh ệp hạn chế gây ra ta nạn lao động và đảm bảo sức khoẻ và năng suất của nhân viên là dựa vào hệ thống quản lý an toàn.

OHSAS 18001 là Tiêu chuẩn về Hệ thống quản lý An toàn sức khỏe nghề nghiệp do Viện tiêu chuẩn Anh (BSI) xây dựng và ban hành OHSAS là viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Occupational Health and Safety Assessment Series.

Ngày càng có nhiều tổ chức đang hoàn thành chứng nhận OHSAS 18001 do nhà tuyển dụng đang chịu áp lực ngày càng tăng để đảm bảo rằng một chính sách

an toàn và sức khỏe nghiêm ngặt đã được áp dụng để bảo vệ nhân viên khỏi rủi

Trang 39

ro nghề nghiệp và giảm nguy cơ tai nạn tại nơi làm việc Bằng cách lập

kế hoạch trước một tổ chức cũng có thể xác định những rủi ro về sức khoẻ và an toàn và phải tuân thủ luật pháp về sức khoẻ và an toàn Mục đích của OHSAS 18001 là nhằm k ểm soát các rủ ro về mặt an toàn và sức khỏe nghề ngh ệp Có thể áp dụng cho tất cả các tổ chức không phân b ệt quy mô, loạ hình sản suất và cung cấp sản phẩm dịch vụ.

Quá trình đánh giá OHSAS 18001.

Bước khởi đầu là thực hiện đánh giá nội bộ ở những phòng ban/ bộ phận có liên quan tới đánh giá OHSAS thông qua việc xác định và tiến hành đánh giá các mối nguy.

Có thể có chuyên gia trong công ty để xây dựng hệ thống Hoặc bạn có thể thuê chuyên gia từ các nguồn bên ngoài có kinh ngihệm triển khai hệ thống và có thể khuyên bạn cần làm gì để có được chứng nhận 18001 ACS Registrars được UKAS công nhận do vậy trước khi bắt đầu hãy liên hệ với chúng tôi để tìm hiểu thêm thông tin.

Sẽ cần thêm sự hỗ trợ từ Ban lãnh đạo để triển khai các quá trình ở các bộ phận trong công ty.

Cần phải xem xét những điều sau: Hoạch định và thiết lập khung; Thiết lập vai trò và trách nhiệm; Quá trình xác định các mối nguy và đánh giá các rủi ro; Báo cáo và theo dõi; Văn bản hóa; Các quy trình khẩn cấp; Đo lường

và cải tiến liên tục các quá trình; Xem xét các hoạt động; Tìm hiểu các nghĩa

vụ pháp lý; Các yêu cầu đào tạo nhân viên; Thiết lập checklist OHSAS.

Quy trình đánh giá thường xuyên theo OHSAS 18001.

Các cuộc đánh giá được tiến hành thường xuyên nhằm kiểm tra xem liệu các quá trình có được tuân thủ và hệ thống tài liệu luôn được cập nhật hay không.

Trong quá trình đánh giá, bạn sẽ được đánh giá về: Kiểm soát tài liệu; Lưu trữ hồ sơ; Lãnh đạo và nhân viên có tuân theo hệ thống hay không; Việc thực hiện kiểm soát hoạt động; Cách thức hoạt động của hệ thống trong từng bộ phận trong tổ chức; Đào tạo nhân viên nếu cần để đáp ứng mọi yêu cầu.

Lợi ích khi áp dụng OHSAS 18001: Hạn chế số lượng người lao động bị tai nạn nhờ các hoạt động kiểm soát và phòng ngừa các mối nguy; Hạn chế khả năng gây ra những tai nạn nghiêm trọng; Đảm bảo có một đội ngũ công nhân có

Trang 40

trình độ và nhiệt tình trong công việc thông qua việc đáp ứng những mong muốn của họ về môi trường làm việc tốt và an toàn; Hạn chế thất thoát nguyên vật liệu

và gián đoạn trong sản xuất gây ra do tai nạn lao động; Hạn chế chi phí bảo hiểm cũng như giảm thiểu những chi phí phát sinh do khiếm khuyết nhân sự; Giúp cho việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống tích hợp về quản lý chất lượng, môi trường, và sức khoẻ an toàn lao động; Đảm bảo việc tuân thủ đúng mức các qui định pháp luật; Tạo uy tín với cộng đồng qua việc đáp ứng tầm quan trọng ngày càng tăng của an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp.

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý an toàn lao động của một số doanh nghiệp trong nước

Nhà Máy xi măng Nghi Sơn, Thanh Hóa

“Những tình huống nguy hiểm tiềm ẩn là gì? Di chuyển đi lại cầu thang nhiều đất đá vấp ngã Chúng ta phải làm gì? Không bỏ tay vào túi quần áo khi di chuyển đi lại, phải buộc dây giày chắc chắn” Đó là nguyên văn một dòng trong một Bảng phân tích các tình huống nguy hiểm KY được thực hiện tại Nghi Sơn Những tình huống tưởng như không đáng quan tâm như “di chuyển cầu thang dễ vấp ngã” và các giải pháp quá đơn giản như “không bỏ tay vào túi quần” cũng đều được viết ra cụ thể Bên cạnh đó, đương nhiên là các tình huống nguy hiểm hơn như điện giật, bị cuốn vào máy, vật dụng rơi… và những giải pháp phức tạp hơn.

Điều đáng chú ý là mỗi ngày, khi thực hiện bất kỳ công việc gì, các nhóm làm việc đều phải thực hiện một Bảng phân tích KY như vậy Đầu tiên, trưởng bộ phận họp cả nhóm lại để cùng nhau phân tích các tình huống nguy hiểm tiềm tàng, tìm ra nguyên nhân và sau đó đề xuất giải pháp Tất cả các ý kiến dù nhỏ nhất như trên đều được viết vào một Bảng KY và đọc to cho mọi người cùng nghe Tờ giấy này sau đó được treo ngay tại vị trí làm việc để nhắc nhở.

Phương pháp KY còn có những yêu cầu hết sức thực tiễn như biện pháp

“chỉ tay, gọi tên” để thao tác an toàn, không nhầm lẫn Tại mỗi điểm nút thao tác công việc, nhân viên phải chỉ thẳng tay vào đối tượng thao tác và đọc to tên đối tượng Nếu cảm thấy đã an toàn, nhân viên tiếp tục hô to “OK” Nếu cả nhóm cùng chỉ tay vào đối tượng cùng hô to thì gọi là “chỉ tay đồng thanh”.

Đối với nhiều người, những biện pháp KY được áp dụng ở các doanh nghiệp có yếu tố Nhật Bản như Nghi Sơn có thể bị coi là mất thời gian, sáo rỗng

Ngày đăng: 13/07/2021, 06:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Hà nội mới (2012). Giảm thiểu tai nạn lao động theo cách Nhật Bản. Ngày truy cập 15/02/2017 tại http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Xa-hoi/543840/giam-thieu-tai-nan-lao-dong-theo-cach-nhat-ban Link
5. Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang (2015). Tổng quan Bắc Giang. Truy cập ngày 10/4/2017 tại http://www.bacgiang.gov.vn/tong-quan-bac-giang Link
6. Công ty lưới điện cao thế miền bắc (2013). Suy ngẫm về tai nạn lao động ngành điện. Ngày truy cập 20/4/2017: http://www.ngc.com.vn/ngc/vi/tin-tuc/145/UIP9M84854/Suy-ngam-ve-tai-nan-lao-dong-nganh-dien.html Link
7. Công Ty TNHH an toàn lao động Phú Thành (2014). Báo cáo đảm bảo an toàn lao động theo cách Nhật Bản. Truy cập ngày 15/2/2017 tại http://bienbaolaodong.com/dam-bao-an-toan-lao-dong-theo-cach-nhat-ban-51 Link
8.Công ty TNHH công nghệ và thương mại Dương Châu (2014). Khái niệm chung về bảo hộ lao động. Truy cập ngày 12/1/2017 tại http://sieuthibaoho.net/dich-vu/15-khai-niem-chung-ve-bao-ho-lao-dong.html Link
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015). Thông tư số 04/2015/TT-BLĐTBXH ngày 2/2/2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động Khác
3. Bộ Tài chính (2014). Thông tư số 31/2014/TT-BCT quy định chi tiết một số nội dung về an toàn điện Khác
9. Cục An toàn lao động (2012). Những vấn đề chung về bảo hộ lao động. Truy cập Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w