Tác phẩm của SơnNam và Nguyễn Ngọc T chắc chắn có những nét tơng đồng và dị biệt về các ph- ơng diện: cảm hứng, đề tài, nội dung t tởng, bút pháp nghệ thuật, cách sử dụngngôn ngữ Bất cứ
Trang 1mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T tuy thuộc hai thế hệ nhà văn khác nhau,
nhng đều là hai cây bút văn xuôi nổi tiếng của đất Nam Bộ Tác phẩm của SơnNam và Nguyễn Ngọc T chắc chắn có những nét tơng đồng và dị biệt về các ph-
ơng diện: cảm hứng, đề tài, nội dung t tởng, bút pháp nghệ thuật, cách sử dụngngôn ngữ Bất cứ cấp độ nào trong ngôn ngữ nghệ thuật của họ cũng đều là vấn
đề có thể đối sánh để rút ra những kết luận có ý nghĩa
1.2 Trong các cấp độ ngôn ngữ thuộc một thứ tiếng, từ ngữ là đơn vị có sự
thay đổi thờng xuyên nhất Sự thay đổi này không chỉ diễn ra ở mặt số lợng, màcòn thể hiện ở mặt nghĩa trong hành chức của từ Tình hình này đợc phản ánh cảtrong ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ phi nghệ thuật lẫn trong ngôn ngữ nghệthuật Đối sánh về mặt từ ngữ giữa hai nhà văn thuộc hai giai đoạn khác nhaucùng sáng tác trên một vùng đất sẽ cho ta những dữ kiện bổ ích, từ đó, phần nàothấy đợc sự biến đổi của tiếng Việt trong dòng chảy của đời sống và văn học;
đồng thời cũng từ đó, nhận ra một số biểu hiện trong phong cách ngôn ngữ củaSơn Nam và Nguyễn Ngọc T
1.3 Hiện nay, văn xuôi Việt Nam đang vận động theo hớng đổi mới về hình
thức, thi pháp Đã có không ít tìm tòi thể nghiệm về cách tiếp cận hiện thực, vềthể loại, ngôn ngữ Riêng trong cách xử lí ngôn ngữ của các nhà văn, khâu sửdụng từ ngữ cho thấy có những vấn đề đáng quan tâm Việc nghiên cứu thấu đáo
từ ngữ trong các tác phẩm của Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T sẽ giúp soi tỏ một sốvấn đề đặt ra trong văn học đơng đại
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Việc nghiên cứu phơng ngữ Nam Bộ về mặt lý thuyết
Cho đến nay đã có không ít những công trình nghiên cứu về từ ngữ, cả bìnhdiện lý thuyết lẫn bình diện hành chức Riêng về phơng ngữ tiếng Việt, trong đó
có phơng ngữ Nam Bộ, một số công trình bài viết đã đề cập đến Với bài viết
Thử bàn về một vài đặc điểm trong phơng ngữ Nam Bộ, Nguyễn Kim Thản đã có
những tìm hiểu bớc đầu về một đặc điểm trong phơng ngôn mà ngời miền Nam
sử dụng Trong đó tác giả đã đa ra và chứng minh một số biểu hiện khác biệt củaphơng ngôn Nam Bộ so với phơng ngôn Bắc Bộ ở bình diện ngữ âm, từ vựng,ngữ pháp Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng lại ở một vài đặc điểm rút ra trên cơ sở tliệu ít ỏi quan sát đợc bằng phơng pháp trực quan qua ngôn ngữ giao tiếp của
một số ngời Nam Bộ sống ở đất Hà thành [57] Bài viết Mấy nhận xét bớc đầu về những khác biệt từ vựng - ngữ nghĩa giữa phơng ngữ miền Nam và ngôn ngữ
Trang 2toàn dân của hai tác giả Nguyễn Đức Dơng và Trần Thị Ngọc Lan (1983) nhằm
mục đích “thử nêu lên một số khác biệt đáng kể về mặt từ vựng - ngữ nghĩa củamột trong những phơng ngữ lớn tiếng Việt” [16, tr.47-51] Tuy bài viết chỉ nêumột số nét lớn về sự khác biệt từ vựng - ngữ nghĩa của phơng ngữ miền Nam sovới ngôn ngữ toàn dân và còn nhiều điểm cha đợc mô tả kỹ, nhng đây là một tliệu bổ ích về tiếng địa phơng cho những ngời quan tâm nghiên cứu phơng ngữ
Cuốn Sổ tay phơng ngữ Nam Bộ do tác giả Nguyễn Văn ái chủ biên đã ra
đời năm 1987 (năm 1994, cuốn sách đợc chỉnh sửa và in thành Từ điển phơng ngữ Nam Bộ) Với công trình này, lần đầu tiên phơng ngữ Nam Bộ đợc điều tra,
nghiên cứu và công bố kết quả dới dạng một từ điển
Trên cơ sở luận án tiến sĩ đợc bảo vệ năm 1993, đến năm 1995, Trần Thị
Ngọc Lang đã cho ra đời công trình Phơng ngữ Nam Bộ Những khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa so với phơng ngữ Bắc Bộ Đây là một đề tài đi sâu vào tìm hiểu
phơng ngữ Nam Bộ trên cơ sở so sánh với phơng ngữ Bắc Bộ Trong đó, tác giảtập trung khảo sát về ngữ âm, ngữ nghĩa của các lớp từ Nam Bộ theo hớng chỉ ranhững nét khác biệt
Năm 2004, trong cuốn Phơng ngữ học tiếng Việt, Hoàng Thị Châu cũng đề
cập đến phơng ngữ Nam Bộ khi tác giả nói về các vùng phơng ngữ Giải thích vềcác vùng phơng ngữ, tác giả khẳng định: “Có những vùng có rất nhiều thổ ngữ
nh vùng châu thổ sông Hồng, lại có những nơi hầu nh không có thổ ngữ, cả vùngbao gồm một diện tích mênh mông nói một phơng ngữ thống nhất nh đồng bằngNam Bộ” [10]
Những công trình nghiên cứu về phơng ngữ Nam Bộ mà chúng tôi điểm quatrên đây, dù số lợng cha phải là nhiều, song cũng cho thấy vùng phơng ngữ này
đã thu hút sự quan tâm nhất định của giới Việt ngữ học Một số vấn đề cơ bản vềmột vùng phơng ngữ cũng đã đợc làm sáng tỏ trong những công trình, bài viếtấy
2.2 Về thực tiễn nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm của Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm của Sơn Nam
Ngôn ngữ trong tác phẩm của Sơn Nam là một trong những phơng diện đợcnhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Trong bài viết Sơn Nam, ông già Ba Tri của Đồng bằng Nam Bộ, NguyễnMạnh Trinh đã nhận xét: lối văn của Sơn Nam là lối văn: “rặc ròng Nam Bộ”.Theo tác giả đặc trng Nam Bộ trong sáng tác của Sơn Nam toát lên “từ suy t đếnngôn ngữ”, “dù tả cảnh thành thị hay thôn quê, cũng lột tả đợc một tính cách
Trang 3riêng, dễ làm ngời đọc liên tởng và chia sẻ” [71] Với t cách là một độc giả yêuthích văn phong Sơn Nam, Nguyễn Mạnh Trinh cho rằng: “khi còn trẻ, hay lúc
đã già, đọc văn ông tôi vẫn thấy có cảm giác đợc nói chuyện với một ông già BaTri có lúc chất phác nhng nhiều khi sắc sảo” [71]
Huỳnh Công Tín trong bài viết Nhà văn Sơn Nam - Nhà Nam Bộ học cũng
đề cập đến ngôn ngữ trong tác phẩm Sơn Nam Theo tác giả, ngôn ngữ là mộttrong những phơng diện làm nên thành công cho tác phẩm của nhà văn Sơn Nam
và là t liệu quí giá để các nhà nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề về Nam Bộ.Theo tác giả, “Ông là ngời am hiểu nhiều vấn đề của Nam Bộ; biết rõ tâm lí, tínhcách con ngời Nam Bộ Các sáng tác của ông đã giúp ích rất nhiều cho việcnghiên cứu những vấn đề của Nam Bộ từ nhiều phơng diện: “lịch sử, văn hoá, xãhội, phong tục, tập quán, lễ hội, phơng ngữ, ngành nghề.” [63] Chính vì thế,Huỳnh Công Tín trân trọng gọi ông là “Nhà Nam Bộ học”
Trong bài Vùng đất Nam Bộ trong văn chơng Sơn Nam, Minh Nguyệt ngợi
ca: “Nếu ai đã từng đọc qua tác phẩm của bậc lão thành nhà văn Sơn Nam, đềuphải công nhận rằng, trong những câu chuyện kể về rừng núi U Minh, đầy nhữngcâu chuyện bàng bạc và thắm đợm tình ngời” Đặc biệt, ở bài viết này, tác giả đã
đề cập đến ngôn ngữ trong sáng tác của Sơn Nam Đó là thứ ngôn ngữ mộc mạc,biểu hiện tâm hồn, tính cách Nam Bộ cũng cũng rất đỗi mộc mạc, giản dị:
“Những áng văn của ông, kể qua về những mẫu đối thoại vụn vặt, về chuyện đờicủa những ngời dân Nam Bộ, nói lên tâm hồn mộc mạc, đơn sơ, nhng đầy gắnbó Ngòi bút của ông thật tài ba, làm thẩm thấu cả tâm hồn, làm ngời đọc muốnbật khóc trớc nỗi đau thơng của một thời khai hoang ở vùng đất âm u của ngờidân Nam Bộ” [45]
Ngoài ra, còn phải kể đến bài Sơn Nam và tình quê hơng Nam Bộ của Tràng Thiên, bài Nhà văn Sơn Nam - nhà văn đồng quê [20] của Ngô Hà Các tác giả
cũng đã có những nhận xét bớc đầu về đặc trng ngôn ngữ văn xuôi Sơn Nam.Nhng cũng nh một số nhà phê bình mà chúng tôi đã nhắc trên đây, Tràng Thiên
và Ngô Hà cha đi vào phân tích cụ thể đặc trng ngôn ngữ văn xuôi của Sơn Nam.Tổng quan những nghiên cứu về ngôn ngữ văn xuôi Sơn Nam có thể thấy,các tác giả đã đề cập đến đặc trng ngôn ngữ trong sáng tác của Sơn Nam, đó làngôn ngữ đậm chất Nam Bộ Tuy nhiên, các nhận xét chủ yếu mang tính chấtphát hiện dới dạng những nhận xét khái quát lồng ghép trong bài viết bàn về nộidung tác phẩm của nhà văn Sơn Nam Nh vậy, đến nay cha có tác giả nào đi vàonghiên cứu cụ thể và có hệ thống các vấn đề thuộc ngôn ngữ trong sáng tác củanhà văn này Mặc dù thế, đó là những tiền đề quan trọng để chúng tôi tập trung
Trang 4khảo sát một cách hệ thống các đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn SơnNam Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát, tìm hiểu về những lớp từ
và các biện pháp nghệ thuật trong tác phẩm cụ thể của Sơn Nam: tập truyện
H-ơng rừng Cà Mau, trong sự đối sánh với tập Cánh đồng bất tận của Nguyễn
Ngọc T
Trang 52.2.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc T
Nguyễn Ngọc T là một nhà văn trẻ của vùng đất Nam Bộ Tác phẩmNguyễn Ngọc T không chỉ thu hút ngời đọc ở chất nhân văn đậm đà, mà còn ởthứ ngôn ngữ rất riêng toát ra từ mỗi thiên truyện Đây là lý do cắt nghĩa tại saokhông ít nhà phê bình quan tâm phơng diện này trong sáng tác của nhà văn trẻ
đất Cà Mau
Trong bài viết Nguyễn Ngọc T, đặc sản miền Nam, Trần Hữu Dũng đánh
giá khái quát ngôn ngữ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc T: “Nếu bạn là ngờiNam, và nhất là nếu bạn đã xa quê hơng lâu năm, thì chỉ những chữ mà NguyễnNgọc T dùng cũng đủ làm bạn sống lại những ngày thơ ấu xa xôi ấy Từ vựngcủa Nguyễn Ngọc T không quí phái hay độc sáng ( ) nhng, đối nghịch đó làmột từ vựng dân dã lấy thẳng từ cuộc sống chung quanh”
Cùng quan niệm với Trần Hữu Dũng, Huỳnh Công Tín trong bài Nguyễn Ngọc T - nhà văn trẻ Nam Bộ cũng nhận thấy ở Nguyễn Ngọc T khả năng ngôn ngữ điêu luyện Tác giả thổ lộ: “Cá nhân tôi khi làm quyển Từ điển từ ngữ Nam
Bộ, lại có một suy nghĩ khác: có đợc văn phong Nam Bộ của Ngọc T làm dẫn
liệu, nói có thể ngời ta cho là hơi quá, nh “vớ đợc vàng” [62]
Nhận xét ngôn ngữ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc T, các tác giả đặc biệt
chú ý đến đặc điểm ngôn ngữ trong tập truyện Cánh đồng bất tận Trong bài
Đọc Nguyễn Ngọc T qua Cánh đồng bất tận, Hoàng Thị Thiên Nga khẳng định:
“Vẫn bút pháp giản dị, gọn gẽ đầy ắp âm sắc Nam Bộ, cách chọn lọc ngôn ngữ
cử chỉ sống động nh đẽo nh tạc mạch văn liên kết chặt chẽ bởi vô số chi tiếthình ảnh thú vị, cốt truyện hình thành theo dòng suy tởng của nhân vật xng tôi,nhẫn nhịn lặng lẽ mà xuyên mỗi lúc một sâu phơi mở tận đáy tâm hồn, tính cách,
số phận con ngời” [40]
Nắng, gió, vịt, và đàn bà giữa những Cánh đồng bất tận là nhan đề một bài
viết của Đoàn Nhã Văn Tác giả nhận thấy: “Câu văn của của Nguyễn Ngọc T,
qua Cánh đồng bất tận, thờng ngắn, gãy gọn, không lê thê theo lối kể thờng tình.
Ngắn nhng không gầy Ngắn, khác với cái trần trụi của Nguyễn Huy Thiệp, ởgiai đoạn mới xuất hiện Ngắn nhng chữ nối chữ, ý liền ý, theo cái duyên thầmcủa ngời dựng truyện Giọng văn nh thế đánh dấu một sự làm chủ hoàn toàn tr-
ớc khi những con chữ trờn mình ra trang giấy” [73]
Bên cạnh những ý kiến đề cao văn phong Nguyễn Ngọc T qua tập truyện,còn có không ít những ý kiến tỏ ra không thích lối hành văn của tác giả Bùi Việt
Thắng trong bài báo Bài học văn chơng từ Cánh đồng bất tận, Bùi Việt Thắng
cho rằng: “Trớc hết chúng tôi thấy văn viết của Nguyễn Ngọc T rất gần với vănnói ( ) Cha bao giờ trong văn chơng (kể cả thơ) trong nghệ thuật (nh kịch và
Trang 6phim) những câu chửi thề, chửi tục, lối nói trần trụi, vạch vòi xuất hiện nhiều đếnthế” ở một chỗ khác tác giả chỉ ra hạn chế trong sử dụng ngôn ngữ của NguyễnNgọc T: “Nguyễn Ngọc T trong truyện ngắn có xu hớng lạm dụng từ ngữ địa ph-
ơng” [66] Đỗ Hồng Ngọc, Lê Duy cũng là những ngời đồng tình với cách đánhgiá của Bùi Việt Thắng
Từ những gì đã điểm qua trên đây, có thể nói rằng, các bài viết về sáng tác
của Nguyễn Ngọc T nói chung và Cánh đồng bất tận nói riêng đã ít nhiều đề cập
tới việc sử dụng từ ngữ trong truyện của chị Tuy nhiên, trong giới hạn củanhững bài viết riêng lẻ, những nhận định còn rất tản mạn, cha nêu lên đợc những
đặc điểm nổi bật trong việc sử dụng từ ngữ, biện pháp nghệ thuật - những vấn đềvốn rất cần đợc khảo sát một cách cụ thể, kỹ lỡng
Điểm lại những bài viết về Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T để thấy đây là nhữngtác giả có vị trí đích thực trong nền văn học Việt Nam ở những giai đoạn cụ thể,rất đáng đợc tìm hiểu thêm ở nhiều khía cạnh Cũng từ việc nhìn lại tổng quáttình hình đánh giá về hai nhà văn trên đây, chúng tôi muốn nhận ra nhữngkhoảng trống cha đợc đề cập đến, từ đó, xác định ý nghĩa của đề tài mà mình đãchọn để triển khai nghiên cứu
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là từ ngữ, biện pháp nghệ thuật trong tập
truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T và tập truyện Hơng rừng Cà Mau
của Sơn Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát, thống kê lớp từ ngữ tiêu biểu, các biện pháp nghệ
thuật trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T và tập truyện
H-ơng rừng Cà Mau của Sơn Nam Qua đó, chỉ ra giá trị biểu hiện nghệ thuật cũng
nh phong cách ngôn ngữ, quan niệm của mỗi nhà văn thể hiện ở các xử lí từ ngữtrong sáng tác của mình
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chơng:
Trang 7Chơng 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài Giới thiệu khái quát về Sơn Nam với
H-ơng rừng Cà Mau và Nguyễn Ngọc T với Cánh đồng bất tận.
Chơng 2: So sánh từ ngữ trong Hơng rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận Chơng 3: So sánh các biện pháp nghệ thuật trong Hơng rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận.
Sau cùng là Tài liệu tham khảo.
Chơng 1 Cơ sở lí thuyết của đề tài.
Giới thiệu khái quát về Hơng rừng Cà Mau
Muốn hiểu đợc các phơng diện của tác phẩm văn học, trớc hết phải hiểu đợcngôn từ mà nhà văn sử dụng
Từ vựng bao gồm cả từ và ngữ Tuy nhiên trong các đơn vị từ vựng, từ là
đơn vị cơ bản
Trang 8Từ là đơn vị cốt lõi tạo nên những đơn vị lớn hơn nh: cụm từ, câu, văn bản.Vì thế, từ là đơn vị quan trọng giống nh viên gạch để xây dựng nên toà lâu đàingôn ngữ phục vụ nhu cầu giao tiếp của con ngời.
Từ là một đối tợng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Sở dĩ nh thế là vì
từ mang trong mình những đặc trng có tính chất loại hình của các ngôn ngữ.F.de Saussure đã viết: “Từ là đơn vị luôn ám ảnh chúng ta nh một cái gì đótrung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ” [dẫn theo 25, tr.111] Quả đúng nhthế, khi vào hoạt động ngôn ngữ, các từ luôn đợc tái hiện nh một đơn vị cơ bảnnhất và vấn đề từ bao giờ cũng là một trong những vấn đề trung tâm nhất củanghiên cứu ngôn ngữ
Các từ trong một ngôn ngữ cụ thể đều có sự biến đổi và kết hợp trong câutheo một quy tắc ngữ pháp của ngôn ngữ đó Tuy vậy, khái niệm về từ rất khó
định nghĩa Thiếu một định nghĩa thống nhất, nguyên nhân là do sự khác nhau vềchức năng và những đặc điểm, ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhaucũng nh trong một ngôn ngữ
Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị có thể đảm nhiệm nhiều chức năngnhất Chức năng cơ bản của từ là chức năng định danh, nhng trong ngữ đoạn, từcòn mang chức năng phân biệt nghĩa, nhằm bộc lộ ý nghĩa này hay ý nghĩa kháccủa những từ nhiều nghĩa Từ vốn là đơn vị định danh, từ có thể biến thành yếu
tố có chức năng cấu tạo giống nh hình vị hoặc có thể đảm nhiệm chức năngthông báo vốn là chức năng của các câu Tùy theo tính chất nghĩa mà từ có thể
đảm nhiệm những chức năng khác nhau trong cấu trúc Với thuộc tính nhiềuchức năng, từ trở thành một đơn vị chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống - cấutrúc của ngôn ngữ
M Gorky đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Bất kỳ mộttác phẩm văn xuôi nghệ thuật nào cũng đều phản ánh cuộc sống con ngời thôngqua hình thức ngôn ngữ So với lời nói hàng ngày thì ngôn ngữ trong tác phẩmvăn xuôi nghệ thuật không còn là ngôn ngữ mang chức năng giao tiếp thông th-ờng nữa, mà đã đợc đa vào một hệ thống giao tiếp khác, mang chức năng khác
Từ với t cách là một đơn vị của ngôn ngữ, khi tham gia hành chức trong vănbản nghệ thuật, nó thể hiện các nét nghĩa rất đa dạng Với hoạt động sáng tạo,nhà văn đã cấp thêm nghĩa mới cho các đơn vị từ vựng
Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, quan niệm về đặc trng củangôn ngữ nghệ thuật có những thay đổi để phù hợp với mọi thời đại Ngôn ngữvăn học hiện đại không bị ràng buộc, hạn chế, bởi đặc trng phong cách ngôn ngữnghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu tố, phơng tiện, huy động
Trang 9mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất cho mục đíchnghệ thuật mà nhà văn hớng tới.
Nh vậy, việc sáng tạo ngôn ngữ trong tác phẩm thể hiện rõ dấu hiệu củaphong cách nhà văn Chính phạm vi lựa chọn vốn từ một cách rộng rãi mà nhàvăn có chỗ để nhào nặn, gọt dũa, vận dụng một cách sáng tạo và có hiệu quảnhất ở nhiều tác giả, ngôn ngữ thật sự là cuộc trình diễn của cá tính nghệ sỹ.Trong thực tiễn, nhà văn bao giờ cũng hớng đến xác lập phong cách ngôn ngữ,trong đó, lớp từ là biểu hiện nổi trội mang đậm cá tính sáng tạo của anh ta Mỗitác giả có sự lựa chọn ngôn ngữ riêng cho mình, và ngôn ngữ riêng đó đợc quy
định bởi lối tiếp cận cuộc sống, t tởng, thẩm mĩ và vốn liếng về tiếng mẹ đẻ củacá nhân ngời cầm bút Vì vậy, tìm hiểu ngôn ngữ truyện ngắn của một tác giả, tr-
ớc hết, chúng tôi đi vào xem xét các lớp từ mà tác giả sử dụng trong tác phẩm
Và từ xuất phát điểm ấy, một số vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩmcũng sẽ dần dần đợc soi tỏ
Trong sáng tạo văn học, vốn từ đóng vai trò quan trọng Sự đa dạng vàphong phú của vốn từ sẽ giúp nhà văn rộng đờng trong việc lựa chọn để miêu tảbức tranh cuộc sống cũng nh bộc lộ thế giới tinh thần của mình Để có đợc ngônngữ nghệ thuật, bản thân chủ thể sáng tác phải vận dụng một cách linh hoạt,sáng tạo nhằm làm cho từ ngữ mang phẩm chất thẩm mỹ, có sức biểu đạt cao.Trong tiến trình văn học Việt Nam, có những cây bút nổi tiếng với sự giàu có về
từ ngữ nh Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài ở
ph-ơng diện này, bất cứ nhà văn nào cũng có thể là đối tợng khảo sát, nghiên cứu
1.1.2 Vai trò của từ ngữ trong văn xuôi nghệ thuật
Từ ở vào vị trí trung tâm của hệ thống ngôn ngữ Nó là cơ sở để con ngời cóthể tiến hành, sáng tạo ra mọi sản phẩm ngôn ngữ và nó còn phục vụ nhu cầugiao tiếp trong xã hội
Nh chúng ta đã biết, từ là đơn vị ngôn ngữ có sẵn, tồn tại trong hệ thốngngôn ngữ, tạo nên kho từ vựng rất phong phú và đa dạng ở mỗi ngời, từ đợc tíchluỹ dần và tồn tại với t cách một biểu hiện tiềm năng ngôn ngữ Trong vốn ngônngữ của mỗi ngời, từ tồn tại ở trạng thái tĩnh với các tiềm năng nhất định
Trong nghệ thuật, không có hình tợng chung chung, mà chỉ có các hình ợng nghệ thuật gắn liền với một chất liệu cụ thể: hình tợng hội hoạ, hình tợngsân khấu, hình tợng âm nhạc, hình tợng văn học Tính chất đặc trng của mỗiloại hình nghệ thuật gắn liền với đặc điểm và khả năng của chất liệu đợc dùng đểlàm nên tác phẩm của nghệ thuật đó Văn học là nghệ thuật ngôn từ Muốn hiểumột cách cặn kẽ, sâu sắc bản chất thẩm mĩ của ngôn từ trong tác phẩm văn xuôinghệ thuật, cũng nh phong cách ngôn ngữ của nhà văn, nhất thiết phải gắn nó với
Trang 10t-thể loại, vì mỗi t-thể loại đòi hỏi một thứ ngôn ngữ riêng Có t-thể áp dụng quanniệm này để xem xét mọi cấp độ ngôn ngữ trong văn xuôi nghệ thuật và trớc tiên
là ở cấp độ từ
Do những quy định của thể loại, từ trong văn xuôi tự sự có những đặc trngriêng, những đặc trng này sẽ dễ dàng thấy khi chúng ta so sánh từ ngữ trongtruyện với từ ngữ trong thơ
Xét ở góc độ ngôn ngữ học thuần túy, từ ngữ trong thơ không phải là thứsản phẩm gì xa lạ Đó luôn là những từ ngữ của cuộc sống, đợc lấy ra từ vốn từchung - từ ngữ toàn dân Những từ ngữ ấy vốn đã có nghĩa xác định và đó là cơ
sở để chúng luân chuyển, tồn tại trong các ngữ cảnh khác nhau với những ngời
sử dụng khác nhau Qua các từ đã có sẵn, nhà thơ sử dụng chúng bằng năng lựcsáng tạo của mình Có những trờng hợp nhà thơ không hề dùng một từ lạ nào, màcâu thơ, bài thơ vẫn bị xem là khó hiểu Cái khó hiểu ấy không phải do nghĩa của
từ mang lại mà ở cấu trúc ngôn từ của văn bản, đó là kiểu cấu trúc tạo nên những
mã mà ở đó họ cất giấu những mật ngữ đầy sức khêu gợi đối với độc giả Xuất
phát từ điều đã nói ở trên mà nhiều ngời cho rằng: nghĩa của từ trong thơ lànghĩa đợc tạo sinh bởi quan hệ chứ không còn là nghĩa nh trong từ điển
Trong sáng tạo thơ, việc lựa chọn từ ngữ là khâu chịu nhiều áp lực nhất đólà: cảm hứng, cá tính sáng tạo, thể thơ, âm luật Thơ càng chặt chẽ về kết cấu,thi luật, thì áp lực càng nặng nề Về lý thuyết, mọi từ ngữ đều có thể có mặttrong thơ, nhng thực tế từ ngữ thơ ca nặng tính “đặc tuyển” Mỗi từ trong thơ đều
là kết quả của việc sàng lọc từ “hàng tấn quặng ngôn từ” Trong thơ, có nhữnglớp từ ít có cơ may đợc đa vào, kể cả với sáng tác thơ hiện đại Chình vì điều này,vốn từ cần cho nhà thơ không phong phú, đa dạng nh vốn từ của nhà tiểu thuyết.Khác với thơ, văn xuôi tự sự tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lý con ngờitrong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó Ngôn ngữ tự sự là ngôn ngữ của cuộcsống đời thờng Nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, có khi cả sự xô bồ, phồntạp tới cực độ Không phải văn xuôi không cần sự sàng lọc, trau chuốt, nhng sựtrau chuốt từ ngữ của cây bút văn xuôi khác với sự trau chuốt của nhà thơ Đốivới ngời viết văn xuôi tự sự, phải viết làm sao để từ ngữ lột tả đối t ợng một cáchchính xác nhất qua cái nhìn của anh ta
Trong văn xuôi - Đào Thản viết : “Ngôn ngữ nghệ thuật có thể đạt tới một
độ chính xác lý tởng về mặt miêu tả Điều này trớc hết và chủ yếu đợc quyết
định bởi tài năng của nhà văn, thêm nữa, cũng phải kể đến sức mạnh và tiềmnăng của phơng tiện biểu đạt Không bị ràng buộc, han chế bởi đặc trng phongcách, ngôn ngữ nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu tố phơngtiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất
Trang 11cho mục đích thẩm mĩ của mình Văn xuôi hiện đại không phân biệt đối xử vớicác phơng tiện thể hiện ở đây không có biện pháp nào đợc đánh giá là tốt hayxấu, trội hơn hay kém hiệu lực hơn, mà chỉ quen dùng, a dùng trong thời kỳ, xuhớng hoặc tác giả nhất định” [dẫn theo 27, tr.19].
ý kiến này của Đào Thản đã chỉ rõ đặc điểm từ ngữ trong văn xuôi tự sựhiện đại Bởi cách tổ chức khá phong phú, ngôn ngữ tự sự sẵn sàng dung chứamọi lớp tự ngữ, mọi cách nói, không phân biệt sang - hèn, thanh - tục, cao - thấp,miễn sao chúng thể hiện tốt nhất dụng ý nghệ thuật của tác giả [dẫn theo 27,tr.19]
Do sự phong phú của từ ngữ, tác phẩm văn xuôi tự sự vẫy gọi nhiều cáchtiếp cận Từ ngữ là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên giọng điệu của tácgiả Nhà từ vựng học thống kê vốn từ của nhà văn, đặt chúng trong tơng quan vớivốn từ toàn dân ở một nhát cắt đồng đại để nhận xét Nhà ngữ pháp học thì quantâm đến vấn đề từ loại, cách tạo từ trong tác phẩm và đối chiếu với đặc điểm từloại, đặc điểm cấu tạo từ trong ngôn ngữ nói chung Còn các nhà ngữ dụng quansát từ ngữ trong tác phẩm của nhà văn ở sự hành chức của nó, và cắt nghĩa sựhành chức ấy dới ánh sáng của lý thuyết hoặc tìm kiếm ngữ liệu sống động nhằmcủng cố thêm một số vấn đề lý thuyết
Từ ngữ trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật có một vai trò rất quan trọng
Và chính trên cái nền văn bản phù hợp mà từ ngữ có thể thay đổi ý nghĩa: cũ kỹhay mới mẻ, trang trọng hay hài hớc, dịu dàng hay thâm độc, mộc mạc hay cầukỳ Một từ trong tác phẩm nghệ thuật không thể đợc xem ngang bằng nh từtrong giao tiếp hàng ngày Vì từ trong văn bản nghệ thuật, thể hiện những dụng ýthẩm mỹ của tác giả mà giao tiếp ngoài cuộc sống không diễn tả hết đợc
Ta có thể khẳng định từ có vai trò quan trọng trong tác phẩm nghệ thuật.Thông qua các lớp ngôn từ ta bắt gặp các chi tiết tạo hình, các chi tiết sự kiện và
từ đó hiện lên các sự vật, tính cách con ngời, quan hệ xã hội, thế giới, nhữnghình tợng vừa xa lạ vừa thân quen Các hình tợng nghệ thuật hiện lên thông quaviệc sử dụng từ ngữ của tác giả
1.2 Biện pháp tu từ trong văn xuôi
1.2.1 Giới thuyết khái niệm
Trong cuốn 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc
viết: “Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nóicác phơng tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữcảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn tợng về hình ảnh, cảmxúc, thái độ, hoàn cảnh)” [29, tr.142]
Trang 12Dựa vào cấp độ ngôn ngữ và các phơng tiện ngôn ngữ đợc phối hợp sửdụng, các biện pháp tu từ đợc chia làm 5 loại: biện pháp tu từ từ vựng, biện pháp
tu từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản, biện pháp tu từngữ âm và văn tự Dù ở cấp độ nào của ngôn ngữ, các biện pháp tu từ cũng khácvới phơng tiện tu từ với những đặc trng sau:
- Biện pháp tu từ là những cách phối hợp các đơn vị lời nói có giới hạn của
đơn vị thuộc bậc cao hơn
- Biện pháp tu từ không những đợc sinh ra trong ngữ cảnh của một đơn vịlời nói, mà biện pháp tu từ còn bị quy định bởi những quan hệ cú đoạn giữa các
đơn vị nhiều bậc hay các bậc khác nhau
- Biện pháp tu từ đợc tạo ra do sử dụng các phơng tiện tu từ, có thể cùngmột phơng tiện tu từ xây dựng nên những biện pháp tu từ khác nhau Và nhữngphơng tiện tu từ ấy có thể cùng tham gia vào tạo dựng một biện pháp tu từ [29].Việc lựa chọn, sử dụng biện pháp tu từ là sự sáng tạo của những ngời sửdụng ngôn ngữ trong sáng tác nghệ thuật, sao cho phù hợp với mục đích mà ngờiviết đặt ra
2.2.2 Vai trò của biện pháp tu từ trong văn xuôi
Biện pháp tu từ là những cách diễn đạt mới mẻ trong những ngữ cảnh cụthể, bên cạnh những cách diễn đạt bình thờng quen thuộc trong mọi ngữ cảnh
Tu từ nghệ thuật thực chất là sự sáng tạo Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng, phảiluôn dùng những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm mới là hay Về vấn đềnày, những nghệ sĩ có sự trải nghiệm trong sáng tác là những ngời có thẩmquyền phát biểu quan điểm riêng, đáng cho ta phải suy nghĩ Lê Đạt cho rằng:
Thời trang là thuật của phái đẹp / Tu từ là thuật của nhà thơ, một phái đẹp khác.
Ngợc lại, Trần Dần – một nhà thơ có những cách tân táo bạo về thơ - đã tuyên
bố: Nắm lấy tu từ vặn ngoẹo cổ / Viết nh khạc nhổ mọi tu từ.
Việc sử dụng các biện pháp tu từ là một việc không thể thiếu đối với mỗitác giả văn xuôi nghệ thuật Nó không đơn thuần là miêu tả sự vật, cung cấpthông tin mà biện pháp tu từ còn góp phần rất lớn và quan trọng tạo nên giá trịnghệ thuật cho tác phẩm văn xuôi Cũng nhờ đó mà mỗi một nhà văn có thể xâydựng nên những hình tợng văn học gây ấn tợng, có sức sống trong lòng độc giả.Mỗi nhà văn tài năng có một phong cách ngôn ngữ riêng Phong cách ngônngữ mà các tác giả có đợc không chỉ thể hiện về sự giàu có về vốn từ, cách đặtcâu, mà nó còn thể hiện ở sự lựa chọn, kết hợp, sáng tạo chúng trong mọi hoạt
động ngôn ngữ, nhằm tạo nên một hiệu quả nghệ thuật Biện pháp tu từ, vì thế, lànhững cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể nhằm tạo ragiá trị thẩm mĩ nhất định
Trang 13Để tạo đợc một văn bản nghệ thuật hấp dẫn thì bản thân chủ thể sáng tạophải vận dụng các phơng tiện tu từ và các biện pháp tu từ với hiệu quả nghệ thuật
cao Đinh Trọng Lạc đề cập đến 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt Tất
nhiên, các phơng tiện và biện pháp này có lúc cũng đợc sử dụng trong lời ăntiếng nói hàng ngày, nhằm làm cho lời nói trở nên bóng bẩy, mợt mà đầy sứccuốn hút, nhng nó không mang tính đặc thù Chỉ có trong văn học, các phơngtiện và biện pháp tu từ mới trở nên đắc dụng bởi hiệu quả mà chúng có thể tạo ra.Vì lẽ đó, biện pháp tu từ có một vai trò rất quan trọng trong sáng tác văn xuôinghệ thuật Chẳng hạn, nếu nh việc sử dụng biện pháp so sánh nhằm tạo liên t-ởng bất ngờ nhờ những hình ảnh lạ, hấp dẫn, thì biện pháp nhân hoá đợc sử dụngnhằm thiết lập mối quan hệ gắn bó hơn, thân thiết hơn giữa ngời và tạo vật Vàchính hiệu năng nghệ thuật của các biện pháp không giống nhau, cho nên việc sửdụng biện pháp này hay biện pháp khác là tùy thuộc vào những ngữ cảnh vàdụng ý nghệ thuật khác nhau, những cảm quan thẩm mĩ khác nhau
1.3 Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn dới cái nhìn đối sánh
1.3.1 Các phơng diện có thể so sánh trong ngôn ngữ của các tác giả khác nhau
Nói một cách khái quát: ngôn ngữ nghệ thuật có bao nhiêu cấp độ thì cóbấy nhiêu phơng diện có thể so sánh
So sánh ở cấp độ từ, để thấy đợc sự phong phú về vốn từ của nhà văn Vốn
từ của các tác giả không hề giống nhau, có ngời ít, có ngời nhiều, có ngời tíchlũy từ nguồn sách vở, có ngời tích lũy từ cuộc sống, có ngời lại kết hợp từ hainguồn này để tạo ra vốn từ cho mình Có tác giả thích dùng từ đơn, có tác giả lại
a dùng từ ghép, từ láy Và cách họ sử dụng các từ nh thế nhằm tạo nên mộtgiọng điệu riêng, không lẫn với bất kì ai khác
So sánh cách sử dụng cụm từ cố định (thành ngữ) trong các tác phẩm nghệthuật để thấy đợc sự linh hoạt, nhạy bén và khéo léo của mỗi nhà văn Qua việcdùng những thành ngữ đó, các nhà văn muốn thể hiện mục đích nghệ thuật củamình
Có thể so sánh ở cấp độ câu, bởi câu chính là đơn vị giữ vai trò trọng yếutrong văn bản nghệ thuật, là những nhân tố mà khi liên kết với nhau sẽ tạo nhữnghình tợng, yếu tố quyết định sự tồn tại của tác phẩm nghệ thuật Có tác giả thíchdùng loại câu ngắn nh câu đơn (câu đơn bình thờng; câu đơn đặc biệt) Có nhữngtác giả a dùng câu dài nh câu phức, câu ghép (câu ghép chính phụ; câu ghép
đẳng lập, ghép chuỗi) Có ngời a sử dụng các phép tu từ cú pháp trong câu, ngợclại, có ngời cho cái đẹp của câu văn là sự tối giản Mỗi quan niệm khác nhau vềcâu văn sẽ quyết định sự trau dồi ngôn ngữ theo hớng nào
Trang 14Khi nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật ta không chỉ so sánh về mặt từ, câu màcòn so sánh về biện pháp nghệ thuật để thấy đợc sự linh hoạt trong cách sử dụngbiện pháp nghệ thuật đó, mỗi một biện pháp nghệ thuật đều mang mục đíchnghệ thuật khác nhau Có thể cả hai tác giả đều sử dụng biện pháp tu từ so sánh,nhng ở tác giả này lại khác so với tác giả kia về kiểu thức, mô hình, từ so sánh,hình ảnh so sánh, kênh liên tởng, dụng ý nghệ thuật
1.3.2 ý nghĩa của việc so sánh ngôn ngữ giữa các tác giả
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công của mỗi nhàvăn Vì lẽ đó là việc so sánh ngôn ngữ giữa các tác giả sẽ có ý nghĩa rất lớn
So sánh là để nhận ra sự tơng đồng và sự khác biệt trong cách sử dụng ngônngữ ở mỗi nhà văn Cả sự tơng đồng và khác biệt, đều bật ra những ý nghĩa nhất
định, trong đó, sự khác biệt có ý nghĩa quan trọng hơn
Đặt trong sự đối sánh, trớc hết sẽ thấy sự giàu nghèo trong vốn từ của cáctác giả là hoàn toàn khác nhau Nó không chỉ phụ thuộc vào học vấn, vào trình
độ văn hóa, sự am hiểu thực tế đời sống mà còn phụ thuộc vào khả năng tích luỹngôn ngữ của từng tác giả Từ vựng là vốn từ chung của ngôn ngữ là mỗi tác giả
đã sử dụng đợc bao nhiêu từ lấy ra từ cái vốn từ chung của toàn dân Những từ đókhông chỉ có một ngời sử dụng mà đã có vô số ngời dùng nhng ở những ngữcảnh khác nhau Do đó ta có thể khẳng định về số lợng vốn từ của các nhà văn làkhác nhau Có những tác giả giàu có về từ ngữ nhng cha hẳn hiệu quả sử dụng đãtốt hơn những tác giả khiêm tốn hơn về từ vựng
Có thể nói, việc so sánh từ là để nhận ra những dấu ấn riêng của phong cáchtác giả, không những phải tìm hiểu vốn từ ngữ mà tác giả a dùng, xuất hiện nhiềutrong tác phẩm tạo sự nổi bật, đạt hiệu quả cao có sự khác biệt rõ rệt về chất vớinhững ngời cầm bút đồng đại hay lịch đại
So sánh cách sử dụng từ ngữ là để thấy đợc sự tơng ứng với chúng là nhữngtrờng từ vựng chiếm u thế trong tác phẩm So sánh còn thấy đợc trong hệ thống
từ vựng của nhà văn có những đặc điểm gì nổi bật về cấu tạo, từ loại thấy đ ợc sựsáng tạo độc đáo của anh ta
ở trên, chúng ta đã thấy tầm quan trọng của từ ngữ và ý nghĩa của nó Nhngkhi so sánh về câu, nhiều vấn đề cũng sẽ đợc phát lộ
Câu là đơn vị trung tâm, là đơn vị bản lề Qua câu nhà văn tìm đợc phơngthức thể hiện cái riêng biệt độc đáo của mình Trong thực tế sáng tạo nghệ thuậtcủa mỗi nhà văn tạo cho mình những lối câu khác nhau Có ngời thích viếtnhững câu ngắn ngủn, cộc lốc, chỉ có thành phần nòng cốt Có ngời lại u dùngnhững câu văn dài, cấu trúc phức tạp, có thể co duỗi nhịp nhàng, thể hiện nhữngcảm xúc nồng nàn Có ngời thích dùng từ loại nh động từ với mục đích tạo cảm
Trang 15giác động, biến hoá Lại có những ngời với sở trờng là dùng những câu đầy danhngữ, tính ngữ, uyển chuyển, mềm mại Dù sở thích ở mỗi ngời có đa dạng đến
đâu thì ta không thể phân định đợc mức độ cao - thấp, hay - không hay Mà là ởchỗ những loại câu đó đợc nhà văn lựa chọn có ý thức hay không có ý thức, cóphù hợp với mục đích phát ngôn với dụng ý nghệ thuật hay đạt đợc những giá trịthẩm mỹ hay không?
So sánh biện pháp tu từ giữa hai tác giả để thấy đợc sự nhạy bén, linh hoạtcủa nhà văn không chỉ nhấn mạnh, khẳng định sự việc và thể hiện cảm xúc màcòn làm tăng thông tin, gây hiệu quả thẩm mỹ Sử dụng biện pháp tu từ sẽ đemlại những giá trị nghệ thuật nhất định Cùng sử dụng biện pháp tu từ giống nhaunhng ở mỗi tác giả sắp xếp tạo ra những dấu ấn riêng không nhầm lẫn đợc
Biện pháp tu từ vì thế nó là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt tronghoàn cảnh cụ thể nhằm một mục đích tu từ nhất định Đó là ý nghĩa khi chúngtôi so sánh giữa hai tác giả
Tóm lại, so sánh, đối chiếu ngôn ngữ trong tác phẩm của những tác giảkhác nhau là một thao tác nghiên cứu cần thiết Điều này, không những có ýnghĩa trong việc xác định phong cách ngôn ngữ của một nhà văn, mà còn giúp tahình dung rõ nét hơn bức tranh chung về ngôn ngữ nghệ thuật một thời đại, mộtkhuynh hớng, một trờng phái văn học
1.4 Cơ sở của việc so sánh từ ngữ, các biện pháp tu từ trong Hơng rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận
1.4.1 Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T - hai cây bút văn xuôi tiêu biểu của
đất Nam Bộ ở hai thời kỳ văn học
Mỗi trang viết của Sơn Nam có thể xem là sự lên tiếng của văn hóa Nam
Bộ Có lẽ không quá lời khi cho rằng: ông đã tích tụ vào mình cả một nền văn
minh - một nền văn minh đợc chính ông gọi tên là Văn minh miệt vờn, cả một nền văn hóa mà chính ông gọi là Văn hóa sông nớc Trữ lợng của nền văn minh
ấy không bao giờ vơi cạn, đủ cho ông khai thác suốt một đời cầm bút Nhờ vốntích tụ khổng lồ, ông đã để lại một khối lợng tác phẩm cũng đồ sộ: trên 300 đầu
Trang 16sách! Không chỉ là một nhà biên khảo, Sơn Nam còn là một nhà văn tiêu biểucủa đất Nam Bộ.
Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu nhận xét: dấu ấn văn học của Sơn Nam đậm chấtNam Bộ Văn ông luôn gợi mở nh một kho cổ tích, đến độ tuổi nào đó sẽ khai
mở và hiểu lý lẽ trong câu chuyện Cốt lõi văn học của nhà văn Sơn Nam là luôngắn bó máu thịt với quê hơng [dẫn theo 52]
Sơn Nam không sinh ra ở Cà Mau, mà chỉ sống một thời gian ngắn ở CàMau nhng ông lại rất yêu mến mảnh đất này Bằng chứng là nhà văn đã viết rấtnhiều tiểu thuyết, truyện ngắn về nơi đây Nhà thơ Kiên Giang nói rất đúng:
“Ông ấy yêu miền Nam từ trong máu ra”
Văn xuôi là sự nghiệp của Sơn Nam Mặc dù thỉnh thoảng ông cũng có mấyvần thơ, nhng truyện ngắn mới là thể loại mà ông thích nhất
Sơn Nam viết văn từ những năm đầu thập niên 50, viết trong khu khángchiến Tác phẩm của ông chỉ đợc công chúng biết đến nhờ đợc in và phát hành ở
Sài Gòn từ năm 1955 Hơng rừng Cà Mau đợc đăng tải nhiều kỳ trên báo Nhân loại Tác phẩm văn học của Sơn Nam luôn đợc đông đảo bạn đọc là tầng lớp lao
động bình dân đón nhận Trong các tác phẩm, Sơn Nam thờng xuyên đề cập đếnphong tục tập quán, cách ăn mặc, lễ hội của vùng đất phơng Nam Nó tạo ramột thứ đặc sản mang "thơng hiệu Sơn Nam"
Sinh thời, Sơn Nam sáng tác khoảng 300 truyện ngắn Tập truyện Bên rừng
Cù Lao Dung, đoạt giải nhất, năm 1951 Một tập truyện ngắn khác Tây đầu đỏ, cũng đoạt giải văn chơng năm 1952 Hơng rừng Cà Mau có lẽ là tập truyện ngắn nổi tiếng nhất của Sơn Nam, đợc xuất bản năm 1962 Mùa len“ ” trâu, Cây Huê
Xà của ông đợc dựng thành phim, đợc ngời xem cả trong và ngoài nớc biết đến.
Sơn Nam quả rất xứng đáng với danh xng nhà “Nam Bộ học” [dẫn theo 63]
2008, Nguyễn Ngọc T cho ra mắt bạn đọc 9 cuốn sách: Ngọn đèn không tắt (tập truyện - Nxb Trẻ, 2000); Ông ngoại (tập truyện thiếu nhi - Nxb Trẻ, 2001); Biển ngời mênh mông (tập truyện - Nxb Kim Đồng, 2003); Giao thừa (Tập truyện - Nxb Trẻ, 2003); Nớc chảy bèo trôi (truyện và ký - Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí
Trang 17Minh, 2004); Truyện ngắn Nguyễn Ngọc T, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005; Cánh
đồng bất tận (tập truyện - Nxb Trẻ, 2006), Ngày mai của những ngày mai (tạp văn - Nxb Phụ nữ, 2007); Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, (tập truyện - Nxb Trẻ,
2008)
Nguyễn Ngọc T thực sự là một tài năng văn học đã đợc khẳng định, khôngchỉ bằng số lợng mà còn bằng chất lợng các tác phẩm Tác phẩm của NguyễnNgọc T thu hút đợc sự chú ý của giới phê bình cũng nh độc giả cả nớc, nhiều lúckhuấy động d luận Chị cũng đoạt một số giải thởng văn học: Giải Nhất cuộc vận
động sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ hai với tác phẩm Ngọn đèn không tắt (2000); Giải B Hội nhà văn Việt Nam với truyện Ngọn đèn không tắt (2001);
Giải thởng dành cho tác giả trẻ - Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học
nghệ thuật Việt Nam với tập truyện Ngọn đèn không tắt (2000); Giải Nhất của Hội nhà văn Việt Nam cho truyện Cánh đồng bất tận (2006), giải thởng văn học
Aseal 2008
Cánh đồng bất tận là truyện vừa viết về những con ngời Nam Bộ với tính
cách đặc thù, chân thực, hồn nhiên, chất phác và bản năng Cốt truyện mang tínhchất cổ điển, không có gì mới, nhng tác giả viết bằng thứ ngôn ngữ và hơi văn lạ,gây đợc chú ý của ngời đọc Cái hồn của truyện chứng tỏ nhà văn là ngời rất yêuvùng đất và con ngời miền Tây chứ không hề có gì là xúc phạm, bóp méo sựthật Ngời miền Bắc, miền Trung đọc tác phẩm này sẽ cảm thấy yêu mến hơnmảnh đất Cà Msau
1.4.2 Những nét tơng đồng về đề tài và thể loại của Hơng rừng Cà Mau
và Cánh đồng bất tận
1.4.2.1 Những nét tơng đồng về đề tài
Trong văn học nghệ thuật, lựa chọn đề tài đợc xem là vấn đề chủ chốt đểhình thành tác phẩm Sự lựa chọn ấy thể hiện t tởng, vốn sống, vốn văn hóa, kinhnghiệm, đặc điểm và đặc biệt là cá tính sáng tạo nhà văn Hơn ai hết, nhà vănluôn phải hoà mình, phải thờng xuyên đi sâu và nắm bắt những hiện tợng, sự việccủa thực tại đời sống Mỗi nhà văn chiếm lĩnh một mảng cuộc sống riêng nhất
định, và chính sự hiểu biết sâu sắc, sự quan tâm của tác giả về một mặt nào đócủa đời sống cũng góp phần tạo nên phong cách cá nhân nhà văn Có ngời viết vềthành thị, có ngời viết về nông thôn, có ngời viết về miền núi, viết về tình yêu, vềthân phận, Sự lựa chọn ấy phụ thuộc vào sự trải nghiệm và khả năng khám phá,cũng nh tình cảm của tác giả vào mảnh đất nơi mình sống Viết về mảnh đấtNam Bộ thơng yêu là điểm gặp nhau giữa hai nhà văn Sơn Nam và Nguyễn Ngọc
T Cả Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T đều khá thành công khi viết về cuộc sống,con ngời của vùng đất Nam Bộ, cụ thể là mảnh đất Cà Mau Nhng chính ở điểm
Trang 18gặp gỡ này mà mỗi tác giả lại có những nét đặc sắc riêng thì vấn đề rút ra từ sự
đối sánh lại càng có ý nghĩa
Trên tiến trình sáng tạo của mình, vẫn là giọng văn đậm chất Nam Bộ,Nguyễn Ngọc T thử sức với nhiều mảng đề tài, trong đó có những câu chuyện vềtình yêu nam nữ Tình yêu đợc Nguyễn Ngọc T miêu tả khá nhẹ nhàng, chủ yếu
đi vào tâm trạng và cái nhìn của những thiếu nữ mang đậm tính cách miệt vờnchân chất Câu chuyện kết lại trong tình trạng ngổn ngang của cảm xúc và những
dự cảm yêu thơng: Huệ lấy chồng (2004); Duyên phận so le (2004)
Nguyễn Ngọc T có lẽ hay nghĩ đến cái tình đằm thắm, sâu lắng của nhữngngời già, khi một loạt truyện ngắn của cô viết về những mối tình của những ngời
lớn tuổi Cuối mùa nhan sắc (2004) là câu chuyện tình thầm lặng của ông già Chín với đào Hồng trong nhà dỡng lão Cái nhìn khắc khoải (2005) là câu
chuyện về một ông lão cả đời chăn vịt chạy đồng, bỗng một ngày nhận ra mìnhcần dựng một căn nhà đủ vững chãi để ngồi chờ đợi một ngời đàn bà
Đề tài mà Sơn Nam lựa chọn thể hiện ngay ở những danh xng đợc độc giả
đặt cho: “Ông già Ba Tri”, “nhà văn đồng quê” Dờng nh đời ông cũng nh văn
ông chỉ có một niềm thiết tha: quê hơng Dù ông viết gì (truyện ngắn, truyệndài), khảo luận, dù ông viết tại đâu, chung qui cũng chỉ về đề tài về quê hơngsông nớc và con ngời đất Mũi mà thôi
Thơng nhớ quê hơng là trạng thái có lắm cung bậc Có những ngời sốngngay tại Việt Nam, nh ông Vũ Bằng, sống Nam nhớ Bắc; có những ngời sống tại
miền Nam mà vẫn nhớ miền Nam Sơn Nam thuộc loại ấy, và phần đầu cuốn
H-ơng rừng Cà Mau đã thể hiện điều đó Và chính nỗi niềm nhớ quê hH-ơng ngay tại
quê hơng, nỗi nhớ nhung ngay tại chỗ ấy đã làm nên sự nghiệp văn chơng củaSơn Nam Nhớ quê, tình cảm ấy có thể xuất hiện dới nhiều dạng vẻ khác nhau.Khi thì Sơn Nam trình ra những cái lạ lùng, ngoạn mục, xảy ra ở chỗ quê mình,làm thiên hạ trố mắt, nén hơi mà xem: hoặc ông dắt ra giới thiệu mấy ngời dân
trần truồng ở hòn Cổ Tron (Ông già xay lúa); hoặc ông thuật truyện hát bội ở
rạch Tà Tng, khán giả ngồi xem hát trong rào, sấu và cọp lợn ngoài vòng rào
(Hát bội giữa rừng) Khi khác, ông lại nhấn mạnh vào cái nghèo khổ, cái thê
l-ơng của dân Miệt dới: lão Bích lúc chết chỉ có một chiếc áo mặc trên ngời, muốncởi ra để lại cho con mà yếu quá không cởi đợc, lão chết giữa đồng nớc mênh
mông, chôn bằng cách bó thây, buộc vào nửa thới cối xay vất xuống nớc (Một cuộc bể dâu) Có lúc, Sơn Nam nói về tấm lòng yêu nớc, về sự gan dạ anh hùng của bà con nơi quê ông, về sự tàn bạo dã man của thực dân Pháp (Miếu bà chúa Xứ) Có khi, ông kể chuyện ngời tài giỏi, nghĩa khí ở quê ông, tài đức đến nỗi
Trang 19ông Tây Rốp phải bái phục sát đất (Sông gành Hào) Có khi ông lại xoay quanh
chuyện hò hát lãng mạn tình tứ trên sông, trên rạch, có trăng có nớc, có trai bềnh
bang bốn biển là nhà, có gái đẹp bùi ngùi tấc dạ (Con Bảy đa đò) Cứ xoay
quanh đề tài đó, truyện ngắn Sơn Nam thoạt tiên đập mạnh vào độc giả, có sứclôi cuốn lạ lùng Nhng cái rốt cuộc để lại là d vang lâu dài trong lòng ngời đọc,
để lại một rung động sâu xa và kín đáo, lại là một cảm tởng ngậm ngùi trớcnhững thân thế tàn phai, trớc những suy lụy theo thời gian Đọc truyện của ông,
ta lại thấy thấm vào tâm hồn một nỗi buồn man mác Những chuyện sống đời, nósống đời vì cái man mác ấy
Sơn Nam là một trong những nhà văn đầu đàn, tiêu biểu của Nam Bộ cũng
nh của cả nớc Toàn bộ các tác phẩm của ông làm thành một cuốn “địa phơngchí” đồ sộ, phong phú, rất đặc sắc thấm đẫm tình quê hơng đất nớc cũng nh đậm
đà hơi thở đồng quê với các con sông, cánh đồng và những miệt rừng Và đặcbiệt núi rừng, đồng quê, làng mạc luôn là đề tài mà Sơn Nam yêu thích nhất
1.4.2.2 Những nét tơng đồng về thể loại
Thể loại là một trong những phạm trù cơ bản nhất của sáng tác văn học.Không một sáng tác văn học nào lại không thuộc về một loại (thể loại) dới dạngmột thể (thể loại, thể tài) nhất định nào đó Ngời sáng tác khi đứng trớc một hiệntợng của đời sống, muốn chiếm lĩnh nó, tất yếu phải lựa chọn một phơng thức,
một cách thức với một dạng thức cấu trúc - tổ chức ngôn từ cụ thể Hơng rừng
Cà Mau của Sơn Nam và Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T đều là những
tập truyện ngắn
Bên cạnh hai phơng thức trữ tình và kịch, truyện là thể loại tái hiện đời sốngbằng phơng thức tự sự ở tác phẩm trữ tình, hiện thực đợc phản ánh thông qua sựcảm nhận chủ quan, còn truyện lại tái hiện đời sống một cách khách quan Tuynhiên, qua truyện, ta vẫn bắt gặp t tởng, tình cảm của nhà văn
Từ điển văn học (1984) đã định nghĩa: “Truyện ngắn là hình thức tự sự nhỏ.
Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lợng nhỏ hơn, tập trung mô tả mộtmảnh của cuộc sống: một biến cố, hay một vài biến cố sảy ra trong một giai
đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đố tính cách nhân vật,thể hiện một mặt nào đó tính cách nhân vật, thể hiện một vấn đề nào đó của vấn
đề xã hội Cốt truyện của một truyện ngắn thờng dãn ra trong một không gian vàthời gian hạn chế Kết cấu của truyện thờng ngắn, cũng không chia thành nhiềutuyến phức tạp Truyện ngắn viết ra để tiếp thu liền mạch, đọc một hơi khôngnghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn” [dẫn theo 27, tr.11, 12]
Trang 20Truyện ngắn luôn nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội nên tự
nó đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong những hình thức nhỏ,gọn gẽ và truyền dẫn rất nhanh những thông tin mới mẻ
Cả Hơng rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận đều là những tập truyện ngắn
khá đặc sắc của hai nhà văn mà ta đang đề cập Sự đối sánh về từ ngữ trong haitác phẩm này vì thế có cơ sở khoa học
Tiểu kết
Trong chơng 1, nhiệm vụ trung tâm của chúng tôi là điểm qua một số kháiniệm liên quan đến đề tài nh ngôn ngữ nghệ thuật, từ ngữ trong văn xuôi, biệnpháp tu từ, đề tài, thể loại, phong cách ngôn ngữ Đây là những khái niệm lýthuyết cơ bản mà chúng tôi phải xác định nội dung trớc khi đi vào khảo sát cụthể và đối chiếu với mục đích nhận ra sự tơng đồng và khác biệt về từ ngữ trongtác phẩm của hai nhà văn
Chơng 2
So sánh về từ ngữ
trong Hơng rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận
2.1 Dẫn nhập
Trang 21Vốn từ vựng của mỗi con ngời ngày càng phong phú, đa dạng và nhờ sựtích lũy liên tục và không ngừng theo thời gian Vốn từ vựng đó không phải làmột tập hợp hỗn độn, là một hệ thống chặt chẽ cũng tơng tự nh một hệ thống từvựng ngôn ngữ vậy Trong đầu óc của mỗi con ngời, từ đợc sắp xếp theo các lớphạng trên cơ sở những mối liên hệ đồng nhất và đối lập giữa chúng với nhau.
Từ ngữ trong đầu óc của mối con ngời là một bản sao, một biểu hiện củamột hệ thống từ vựng ngôn ngữ Tất nhiên “bản sao” này trong mỗi con ng ời cókhác nhau và không thể hoàn toàn đầy đủ nh hệ thống từ vựng ngôn ngữ Vốn từvựng của mỗi ngời đợc sắp xếp bằng hệ thống dựa trên quan hệ liên tởng
Nh chúng ta đã biết, chất liệu của sáng tác văn học là ngôn ngữ Vì lẽ đó
mà vốn từ càng phong phú thì khả năng diễn đạt của nhà văn càng lớn Đó là vaitrò quan trọng của vốn từ nhà văn, trong sáng tạo nghệ thuật
Không phải sinh ra, lớn lên ai cũng có vốn từ dồi dào Mà mồi ngời cómột vốn từ khác nhau Vốn từ có trong tất cả mọi ngời, nhng ngời có vốn từ ít, cóngời vốn từ nhiều
Do đó, vốn từ của mỗi nhà văn phong phú hay hạn chế là do sự tích lũy vàcách sử dụng của họ
Vốn từ nghèo sẽ làm cho khẳ năng dùng từ gặp phải nhiều lỗi nh: thừa,lặp, không chính xác Và điều đó phản ánh một tình trạng nghèo nàn trong tâmhồn cũng nh trong suy nghĩ, dẫn tới việc đánh mất cá tính trong diễn đạt Ngợclại, nếu vốn từ giàu có thì khả năng diễn đạt càng dễ dàng, chính xác và hấp dẫn
Vốn từ vựng của một ngời phụ thuộc vào quá trình học tập, tích lũy từnhiều nguồn khác nhau
Khi nhà văn hiểu rõ những từ đó, thì họ có thể vận dụng nó để sáng tạonghệ thuật Có thể từ đó khi đứng độc lập thì nó mang nghĩa vốn có Còn khi đivào tác phẩm nghệ thuật thì nó lại gắn cho mình một nghĩa hoàn toàn mới.Không phải nhà văn nào cũng có khả năng tạo lập nên những từ mới nh thế, màphải là những nhà văn có tri thức, có kinh nghiệm và hơn thế nữa họ có vốn từvựng rất phong phú
Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T là hai nhà văn không nằm ngoài lớp nhà văn
có vốn từ đa dạng, phong phú và đặc sắc đó Điều đó sẽ đợc chứng minh bằngnhững trang viết rất ấn tợng và có thể nói là “gây chấn động” d luận qua hai tập
truyện ngắn Hơng rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận.
Vốn từ trong sáng tạo nghệ thuật nó là một yếu tố quyết định sự thànhcông hay thất bại của tác phẩm nghệ thuật
2.2 So sánh các lớp từ tiêu biểu trong Hơng rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận
Trang 222.2.1 Lớp từ tiêu biểu
2.2.1.1 Lớp từ sinh hoạt
Lớp từ sinh hoạt thuộc phong cách sinh hoạt (phong cách khẩu ngữ, phongcách hội thoại) Trớc tiên chúng ta phải hiểu đợc phong cách sinh hoạt hằngngày và khái niệm về phong cách này nh thế nào?
“Phong cách sinh hoạt hằng ngày là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớpphát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện vai trò của ngời tham gia giao tiếp trongsinh hoạt hàng ngày Nó cụ thể hơn, đó là vai trò của ngời ông, ngời bà, vai củangời bố, mẹ, con, cháu, anh em Tất cả những cái vai với t cách là cá nhân trao
đổi t tởng, tình cảm của mình với ngời khác” [30, tr.122]
Phong cách sinh hoạt đợc chia làm hai biến thể: sinh hoạt hàng ngày tựnhiên (có tính chất quan hệ vai bằng nhau, và dùng trong một hoàn cảnh khôngtheo nghi thức nào bởi có lúc dùng từ ngữ thô tục, tục tằn ) và sinh hoạt văn hóa(đợc dùng trong hoàn cảnh theo nghi thức, có thể có vai bằng nhau hoặc khôngbằng nhau)
Ngôn ngữ đợc sử dụng trong phong cách sinh hoạt hàng ngày tồn tại ở haidạng nói và viết, mà dạng nói là chủ yếu Tồn tại dới dạng nói là những lời tròchuyện, tâm sự, thăm hỏi, trao đổi, nhận xét, đánh giá, triết lý, phân tích Tồntại dới dạng viết là những dòng th ngắn, báo tin, chào hỏi, những đoạn nhật ký,những lu niệm tâm tình [30, tr.123]
Chính ngôn ngữ trong phong cách hội thoại, đa dạng, phong phú, nhiềutính chất tu từ là cái nguồn vô tận để tạo nên một nền văn học, những từ hội thoại
đợc nhà văn sử dụng nh một công cụ lợi hại nhất để miêu tả, tái tạo cuộc sốngthực [dẫn theo 27, tr.28] Có thể nói, từ thuộc phong cách sinh hoạt là lớp từ xuấthiện nhiều trong lời ăn tiếng nói hằng ngày Đó là những từ do thói quen sử dụngcủa ngời dân ở mỗi vùng khác nhau Nhờ vậy, ta mới có thể nhận ra những nét
đặc sắc trong ngôn ngữ của một vùng miền
Trong rất nhiều tác phẩm, hai tác giả Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T đa ta vềvới những sinh hoạt thờng của ngời dân Nam Bộ qua những lớp từ mà họ sửdụng
Trên cơ sở tiến hành khảo sát hai tập truyện ngắn Hơng rừng Cà Mau (gồm: 18 truyện ngắn) của Sơn Nam, và tập truyện Cánh đồng bất tận (gồm: 14
truyện ngắn) của Nguyễn Ngọc T ở mỗi tập truyện chúng tôi khảo sát 3 truyệnngắn tiêu biểu để thấy đợc hai nhà văn sử dụng lớp từ sinh hoạt này nh thế nào
Chúng tôi khảo sát 3 truyện ngắn trong tập Hơng rừng Cà Mau là những truyện
Trang 23sau: Hòn Cổ Tron, Ông già xay lúa, Chiếc ghe “ngo”, 3 truyện trong tập Cánh
đồng bất tận là: Hiu hiu gió bấc, Cái nhìn khắc khoải, Cánh đồng bất tận.
tỉ lệ %
Sơn Nam
tác phẩm thì ít Cụ thể là truyện Hòn Cổ Tron lớp từ mang phong cách sinh hoạt xuất hiện 8 lần chiếm 0,33%, truyện Chiếc ghe “ngo” từ sinh hoạt xuất hiện 8 lần chiếm 0,42%; Ông già xay lúa lớp từ này xuất hiện 14 lần chiếm 0,55% Từ đó ta
thấy trung bình tỷ lệ từ mang phong cách sinh hoạt xuất hiện trong từng tácphẩm của Sơn Nam là 0,43% So sánh với lớp từ sinh hoạt của Sơn Nam, thì sinhhoạt của Nguyễn Ngọc T xuất hiện với số lợng nhiều hơn trên những trang văn
ở truyện Hiu hiu gió bấc có 16 lần lớp từ sinh hoạt xuất hiện chiếm 0,78%, Cái
nhìn khắc khoải từ mang phong cách sinh hoạt hàng ngày xuất hiện 14 lần chiếm 0,54%, nhiều nhất là truyện Cánh đồng bất tận có tới 48 lần lớp từ sinh hoạt xuất
hiện nhng chỉ chiếm 0,35% Trung bình tỷ lệ lớp từ sinh hoạt đợc Nguyễn Ngọc
T sử dụng trong từng tác phẩm là 0,55%, cao hơn tỷ lệ mà Sơn Nam sử dụng
Tập truyện Hơng rừng Cà Mau đợc Sơn Nam sử dụng rất nhiều từ mang
phong cách sinh hoạt hàng ngày Hầu hết các từ này đợc nhà văn sử dụng tronglời thoại nhân vật Đó là những ngữ khí từ với màu sắc, tính chất khác nhau để
thực hiện giao tiếp: nhé, đấy, chớ, lận, vậy cà, à, hả, coi Chẳng hạn:
- “Bữa nay họ làm gì vậy cà?” (Hòn Cổ Tron).
- “Ông giỡn sao chớ?” (Hòn Cổ Tron).
- “Xứ này chịu cảnh này không biết tự hồi nào, từ hồi cha có giặc Xiêm
lận” (Hòn Cổ Tron).
- “Cha này coi vậy mà gan ta” (Ông già xay lúa).
Trang 24Trên những trang văn mà Sơn Nam viết còn sử dụng nhiều cảm thán từ đểchỉ tình cảm, thái độ, bổ sung cho lời nói làm nên sự hấp dẫn :
- “Đợc! Đợc! Phiền bà con quá” (Ông già xay lúa).
- “Nè cha nội sành sỏi lắm!” (Hòn Cổ Tron).
- “Ông già! Đây là Bu lô Đa ma mà?” (Hòn Cổ Tron).
ở một truyện khác, Sơn Nam còn đa ta về với không khí lễ hội của đồngbào Khơ me với cuộc đua ghe ngo đợc ông miêu tả hết sức thú vị, hào hứng:
- “ào! ào! Hai tai chú nghe lùng bùng tiếng cồn, tiếng trống, tiếng hò
reo” (Chiếc ghe “ngo”).
- “Môn! Môn! Môn!” (Chiếc ghe “ngo”).
Không chỉ ở ba truyện mà chúng tôi khảo sát, mà tất cả các truyện ngắn
của Sơn Nam trong tập Hơng rừng Cà Mau đều sử dụng từ theo phong cách sinh
hoạt rất nhiều, rất phổ biến và chính điều đó đã làm cho lối viết của Sơn Nam trởnên thoải mái, tự nhiên
Giống với Sơn Nam, Nguyễn Ngọc T cũng rất a lối sử dụng lớp từ ngữsinh hoạt Thậm chí, số lợng từ sinh hoạt trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc T
còn chiếm số lợng vợt trội so với truyện của Sơn Nam Tập truyện Cánh đồng bất tận cho ta thấy rõ điều đó.
Lớp từ sinh hoạt trong Cánh đồng bất tận chiếm số lợng đáng kể trớc hết
là những từ tình thái nh: nghen, hen, à, lận, nè, vậy cà, hà, ờ hờ, trời, mèn ơi, chèm ơi, trời đất ơi, bộ Cách dùng của tác giả đối với loại từ này là khá linh
hoạt Ví dụ:
- “Ông ngừng lại, vuốt cánh con vịt, vậy hen Cộc!” (Cái nhìn khắc khoải).
- “Ba lúc này ngon rồi nghen” (Cái nhìn khắc khoải).
- “Trời! vịt gì mà khôn quá vậy?” (Cánh đồng bất tận).
- “Trời đất ơi, sao vầy nè cng?” (Cánh đồng bất tận).
- “Trời ơi, ba mấy cng sộp quá chừng” (Cánh đồng bất tận).
- “Mèm ơi, mắt con sao vậy?” (Cánh đồng bất tận).
- “Bộ hết chuyện giỡn rồi sao, cha nội?” (Cánh đồng bất tận).
Các từ láy mang phong cách sinh hoạt nh chí mí, dằng dặc, thắt thẻo, chộn rộn, lập lòe, khọm rọm, xơ xác, lớ ngớ, xởi lởi, xốc xếch cũng đợc
Nguyễn Ngọc T dùng khá thờng xuyên để miêu tả ngoại hình, hành động, tâmtrạng nhân vật:
- “Một ngời đàn bà xốc xếch đã lạc gọng” (Cánh đồng bất tận).
Trang 25- “Nên mỗi lần cha đăm đắm và mỉm cời với một ngời đàn bà mới, chúng
tôi lại thắt thẻo” (Cánh đồng bất tận).
- “Mút Cà Tha nằm hiu hắt, lâu lâu mới thấy bóng dáng một con tàu lớ ngớ chạy vào rồi tẽn tò quay ra đi lầm đờng ” (Thơng quá rau răm).
Việc sử dụng các từ láy giàu hình ảnh, không chỉ làm cho câu văn củaNguyễn Ngọc T gợi hình, gợi cảm, mà còn nhấn mạnh, đôi khi bộc lộ sự hài hớcrất có duyên
Việc Nguyễn Ngọc T sử dụng từ ngữ thuộc phong cách hội thoại làm lờivăn trong truyện của chị thoải mái, tự do, phóng thoáng hơn, và nhất là rất sinh
động, tạo sự gần gũi thân mật giữa ngời đọc với ngời kể chuyện trong tác phẩm.Nhiều trờng hợp, độc giả nh đợc tiếp xúc trực tiếp với nhân vật, nghe chính họ
đang nói năng bằng cái giọng Nam Bộ đặc thù, không lẫn với bất cứ một vùngmiền nào khác
2.2.1.2 Lớp từ thi ca
“Từ thi ca là từ đợc sử dụng chủ yếu trong thơ văn xa, ngày nay nếu dùng
để chỉ những con ngời, sự vật hiện đại thì rất kệch cỡm, buồn cời” [29, tr 13]
Từ thi ca gồm cả những từ rút trong thơ cổ, có tính chất cổ điển Thuộc vàoloại này có cả những từ đợc nâng lên mức tợng trng
Chúng tôi khảo sát ba truyện trong tập Hơng rừng Cà Mau và ba truyện trong tập Cánh đồng bất tận để thấy đợc việc sử dụng từ thơ ca giữa Sơn Nam, và
Nguyễn Ngọc T có những điểm tơng đồng và khác biệt gì
Trang 26Từ bảng thống kê trên cho chúng ta thấy một điều Sơn Nam sử dụng từ thi
ca nhiều hơn hẳn so với Nguyễn Ngọc T
Trong ba truyện ngắn của Sơn Nam mà chúng tôi khảo sát, truyện Con bảy
đa đò lớp từ thi ca đã xuất hiện 44 lần chiếm 1,6%; truyện Miễu bà chúa Xứ lớp
từ này xuất hiện 20 lần chiếm 1,3%; nhiều nhất là truyện Hơng rừng lớp từ thi ca
xuất hiện 75 lần nhng chỉ chiếm 1,5% Trung bình tỷ lệ lớp từ thi ca xuất hiệntrong tác phẩm của nhà văn Sơn Nam xấp xỉ 1,5% So với Sơn Nam thì số lợng từ
thi ca xuất hiện trên trang văn của Nguyễn Ngọc T là ít hơn, cụ thể ở truyện Hiu hiu gió bấc có 12 lần từ thi ca xuất hiện chiếm 0,6%; Cuối mùa nhan sắc lớp từ thi ca xuất hiện 18 lần chiếm 0,6%; trong Biển ngời mênh mông, lớp từ này xuất
hiện chỉ 20 lần chiếm tỷ lệ rất nhỏ 0,7% Trung bình tỷ lệ % lớp từ thi ca xuấthiện trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc T là 0,6%
Sơn Nam là nhà văn thuộc thế hệ lớp trớc, vì thế ông tiếp xúc và học hỏi
đ-ợc nhiều ở văn thơ cổ Điều đó đã ảnh hởng trực tiếp tới giọng văn của ông vàcho thấy trong truyện ngắn của mình, ông đã sử dụng không ít lớp từ lớp từ thi
ca ở truyện Con bảy đa đò, những từ ngữ nh thế xuất hiện với mật độ khá dày.
Sơn Nam đã sử dụng từ “chàng” và từ “nàng” – những từ rất ít dùng trong
văn học hiện đại - vì thế, những truyện nh Con bảy đa đò của ông phảng phấtchút không khí của văn chơng xa
Trong truyện Hơng rừng, nhà văn Sơn Nam đã sử dụng từ nàng để gọi tên
cô Hoàng Mai đầy yêu thơng:
- “Ví nàng nh cánh bèo rày đây mai đó thì không đúng cho lắm: có lẽ nàng
nh đó hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi tranh mùi bùn”; “Nàng bắt gặp cái màutrắng trong leo lẻo của làn da mình”; “Nàng cau mày trở vào phòng, cầm lợc,chải kỹ Nàng toan rú lên, lợc đùa đến đâu là tóc rụng đến đó nh lá trên cành đến
độ gió trở mùa Nàng e thẹn, nàng giận dỗi” (Hơng rừng).
Qua ví dụ ta thấy, Sơn Nam sử dụng từ ngữ thi ca nhiều và những từ ấy chủ
yếu đợc lấy trong thơ văn xa nh: chàng, nàng, giai nhân Tất cả tạo nên một
giọng truyện có vẻ cổ xa
Trang 27Là một cây bút trẻ, sống giữa thời hiện đại, song thi thoảng, Nguyễn Ngọc
T vẫn sử dụng từ ngữ thơ ca với hiệu quả nghệ thuật rõ rệt Chẳng hạn:
- “Không, chị bảo nghiêm nghị, cờ tớng là loại cờ tao nhã chỉ dành cho
quân tử, có già mà sợ” (Hiu hiu gió bấc).
- “Buổi chiều, tôi mừng nh vừa sống dậy, thế nào cũng gặp đợc, cố nhân”
(Cuối mùa nhan sắc).
- “Nh cái phong thái tao nhã ung dung vẫn nh ngày xa” (Cuối mùa nhan sắc).
Một điều khá thú vị; tuy Sơn Nam là nhà văn lớp trớc, nhng từ thi ca trong
truyện của ông thờng thuộc loại từ thuần Việt, chẳng hạn chàng, nàng (trong các truyện Hơng rừng, Con bảy đa đò ); ngợc lại, Nguyễn Ngọc T tuy là nhà văn
lớp “hậu sinh”, nhng từ thi ca trong tác phẩm của chị phần lớn lại là từ Hán Việt
nh: cố nhân, quân tử, tri âm vậy mà giọng văn của Nguyễn Ngọc T vẫn rất
mới Sỡ dĩ nh vậy có lẽ là do nhà văn biết phối hợp lớp từ thi ca với những lớp từkhác, nhất là từ sinh hoạt đậm tính địa phơng Có lẽ sự khác biệt về cách dùng từgiữa Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T một phần là ở đó
2.2.1.3 Lớp từ nghề nghiệp
ở Việt Nam, có rất nhiều ngành nghề khác nhau Có khảo sát, su tập đầy đủcác lớp từ ngữ nghề nghiệp đó chúng ta mới thấy hết sự phong phú và đa dạngcủa từ vựng
Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị công cụ lao động, sản phẩm, lao động
và quá trình sản xuất của một nghề nào đó, thờng chỉ đợc những ngời trongngành đó biết và sử dụng [29, tr.28]
Từ nghề nghiệp nằm trong từ vựng của ngôn ngữ văn hóa Từ nghề nghiệpthờng đợc dùng trong khẩu ngữ của những ngời cùng nghề nghiệp Nó cũng cóthể đợc dùng trong sách, báo, chính luận và nghệ thuật Với vai trò của nhữngphơng tiện tu từ để miêu tả nghề nghiệp, lao động, phơng pháp sản xuất và đặc
điểm lời nói của nhân vật
Việc sử dụng từ nghề nghiệp, tuy vậy cũng phải rất hạn chế Nhà văn thờngchọn lúc, chọn chỗ cho nhân vật nói lên một vài tiếng tiêu biểu, dễ gây sắc thái
đặc biệt chứ không phải luôn luôn đặt vào cửa miệng nhân vật toàn những từnghề nghiệp Vì lạm dụng nh vậy, nhất định sẽ gây ra rắc rối, khó hiểu, là trởngại cho việc cảm thông của ngời đọc đối với tác phẩm
Tập truyện ngắn Hơng rừng Cà Mau của Sơn Nam và tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T đều sử dụng khá linh hoạt và phong phú lớp từ chỉ nghề nghiệp Có thể nói lớp từ chỉ nghề nghiệp trong hai tập truyện ngắn Hơng
Trang 28rừng Cà Mau và Cánh đồng bất tận đợc hai tác giả sử dụng rất nhiều, đa dạng.
Và số lợng từ nghề nghiệp xuất hiện ở mỗi truyện, mỗi tác giả sẽ đợc cụ thể quabảng thống kê sau:
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê lớp từ nghề nghiệp mà Nguyễn Ngọc T sử
dụng trong 3 truyện ngắn trên nh sau: truyện Cái nhìn khắc khoải 16 từ xuất hiện chiếm 0,62%; Mối tình năm cũ lớp từ nghề nghiệp mà nhà văn Nguyễn Ngọc T dùng là 35 lần chiếm 1,53%; trong tác phẩm Cuối mùa nhan sắc từ nghề nghiệp
đợc sử dụng dày đặc 106 lần và chiếm tới 3,68% Trung bình tỷ lệ lớp từ nghềnghiệp xuất hiện trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Ngọc T là 1,94% So vớiNguyễn Ngọc T thì lớp từ nghề nghiệp đợc nhà văn Sơn Nam sử dụng gần nh t-
ơng đơng: ở truyện Ông già xay lúa lớp từ nghề nghiệp đợc dùng 29 lần chiếm 1,15%; còn truyện Hát bội giữa rừng lớp từ này đợc nhà văn dùng 63 lần, chiếm
tỷ lệ cao hơn các truyện khác với 3,44% ; truyện Cây Huê Xà lớp từ nghề nghiệp
xuất hiện 20 lần chiếm tỷ lệ nhỏ 0,91% Trung bình tỷ lệ lớp từ nghề nghiệp xuấthiện trong tác phẩm của nhà văn Sơn Nam là 1,83%
Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T là hai nhà văn của đồng bằng Nam Bộ, cả hainhà văn này thờng lấy đề tài con ngời và cuộc sống Nam Bộ để viết Vì lẽ đó, mànhững truyện ngắn của hai nhà văn đều viết những câu chuyện xung quanh cuộcsống con ngời nơi đây, từ rừng núi, dòng sông cho tới nghề nghiệp mà ngời dân
Cà Mau thờng làm Do vậy, truyện ngắn của Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T đều sửdụng khá phong phú lớp từ chỉ nghề nghiệp
Đồng bằng sông Cửu Long là một vựa lúa lớn nhất của cả nớc, và nghề xaylúa là nghề rất quen thuộc với ngời dân nơi đây Từ nghề nghiệp trong truyện
ông già xay lúa của Sơn Nam, ngay từ nhan đề truyện đã sử dụng lớp từ chỉ nghề nghiệp nh từ xay lúa.
Trang 29- “Vui quá! lại còn ông “Năm xay lúa” từ ngoài hòn Cổ Tron vào xay lúa
mớn” (ông già xay lúa).
- “Cái ông già này mới cừ khôi, đứng xay từ hừng sáng tới 10 giờ đêm”
(ông già xay lúa).
- “ở xóm biển có ngời chuyên môn xay lúa mớn” (ông già xay lúa).
- “Gió biển hiu hiu, hơi lạnh nh gió bấc, muỗi bay tha thớt từng con bên cây
đèn toạ đăng, tuy van tim lên cao nhng mãi lu câm vì ống khói không chùi sạch
Ông Năm nắm tay vào giàn xay, đa tới lui Thớt cối quay tròn, lúa phun ra kêu rồ
rồ, vang đều đều, mãi rồi sanh nhàm tai, buồn ngủ, cơ hồ không có” (ông già xay lúa).
Ngoài nghề xay lúa thì trong truyện này nhà văn Sơn Nam còn sử dụng một
số từ của các nghề khác nh: nghề chài lới, đánh me, đánh vố Không chỉ sửdụng từ của nghề xay lúa, nghề chài lới mà từ của nghề hát cũng đợc Sơn Nam
dùng nhiều Ví dụ truyện Hát bội giữa rừng:
Lớp từ nghề hát đã xuất hiện ngay ở nhan đề: Hát bội giữa rừng: hát bội,
đào kép, tuồng, ông bầu, gánh hát
- “Cháu nói hồi đó dân mình a hát đối, hát huê tình Không phải vậy đâu!
Hát đối cần có sông rạch thông thơng” (Hát bội giữa rừng).
- “Phải mời gánh hát bội từ xa lại hát chơi một đôi tháng Nói đúng hơn,
ông bầu gánh đích thân tới xóm mình” (Hát bội giữa rừng).
- “Nghe qua, mấy ông kỳ lão lắc đầu vì đào kép toàn ban hát họ đông gần
bằng dân xóm này” (Hát bội giữa rừng).
- “Đào kép thì áo mão xanh đỏ, đầu giắt lông trĩ, ngặt hai bàn tay chân thiếu
hia, thiếu hài Trống đánh thùng thùng, kèn thổi tò tí te” (Hát bội giữa rừng) Trong truyện của Sơn Nam còn xuất hiện các từ nghề thuốc: thuốc, vị thuốc, toa thuốc
- “Cây Huê xà vốn là vị thuốc chánh trong toa thuốc rắn của ba nó Nhờ đó
mà đi đến đâu ngời ta đều khâm phục, ba nó nổi danh là thầy Hai rắn” (Cây Huê Xà).
- “Phi thờng nhứt là toa thuốc khi thoa vào tay, rắn không bao giờ giám
mổ ” (Cây Huê Xà).
Qua những ví dụ trên, ta thấy Sơn Nam rất giàu từ ngữ chỉ nghề nghiệp
ông sử dụng lớp từ này trong mỗi truyện nhằm thể hiện đợc sự phong phú vềnghề làm ăn kiếm sống và sinh hoạt của ngời Nam Bộ Nhà văn đã sử dụng lớp
từ nghề nghiệp này rất linh hoạ, từ đó, tạo ấn tợng sâu đậm đối với bạn đọc Và
Trang 30ngời đọc nh có cảm giác quen thuộc, gần gũi với con ngời chân chất mộc mạccủa một vùng đất.
Nếu nh ở Sơn Nam sử dụng nhiều lớp từ chỉ nghề nghiệp nh: lớp từ củanghề xay lúa, nghề chài lới, nghề thuốc và nghề hát bội thì Nguyễn Ngọc T dùngnhiều từ thuộc nghề ca hát, nghề nuôi vịt chạy đồng, nghề làm phim
ở truyện Cái nhìn khắc khoải, Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc T đã dùnglớp từ nghề nghiệp để miêu tả nghề nuôi vịt chạy đồng rất gian nan đi hết cách
đồng này sang cánh đồng khác, đó là nghề mà rất nhiều ngời dân đất mũi làm đểkiếm sống
- “Ông làm nghề nuôi vịt chạy đồng Hôm nay ở đồng Rạch Mũi, ngày mai
ở Nhà Phấn Ngọn, xa nữa lại dạt đến Cái Bát không chừng Ông đậu nghe, dựnglều, lùa vịt lên những cánh đồng vừa mới gặt xong, ngó chừng chừng sang nhữngcánh đồng lúa mới vừa chứa tới và suy nghĩ về một vạt đồng khác lúa vừa no
- “Bây nói sao tao chiều vậy, mà tuồng đó tao không nhớ miếng nào đâu”
(Cuối mùa nhan sắc).
- “Đào Hồng cời, tôi đã nguyện với Tổ cả đời theo nghiệp hát” (Cuối mùa nhan sắc).
- “Không biết hát hò, tớng mạo cục mịch, nhỏ con, ông không đợc lên sânkhấu Kêu quân sĩ thì ông dạ, kêu “bây đâu” ông cũng dạ, tối ngày lụi hụi kéo
màn, dựng cảnh Ăn cơm quán, ngủ sàn diễn ” (Cuối mùa nhan sắc).
Trong truyện Mối tình năm cũ, xuất hiện những từ của nghề làm phim nh:
đạo diễn phim, quay, đoàn làm phim, bộ phim, cảnh kết, góc quay, diễn viên chuyên nghiệp
- “Trần Hng, tác giả kiêm đạo diễn phim, vốn là ngời kỹ tính, cầu toàn, anhbảo, làm phim Nguyễn Thọ mà không quay đợc chân dung ngời yêu ông ”
(Mối tình năm cũ).
Trang 31- “Lên phim hổng biết nói cái gì, h truyền hình của ngời ta” (Mối tình năm cũ).
- “Vì vậy mà Trần Hng mới dắt mọi ngời ra gò Cây Quao để quay cảnh
kết ” (Mối tình năm cũ).
Qua những ví dụ trên, ta thấy Nguyễn Ngọc T cũng không kém phần linhhoạt trong việc sử dụng các từ ngữ chỉ nghề nghiệp ở mỗi tác phẩm, lại xuấthiện những từ chỉ nghề nghiệp khác nhau Nếu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
T, số phận con ngời thờng gắn với nghề nghiệp rất cực khổ nh nuôi vịt chạy
đồng, thì trong truyện của Sơn Nam lại nói về cuộc sống của con ngời luôn tìm
kiếm những điều lý thú để thởng thức, chẳng hạn truyện Hát bội giữa rừng.
Có thể nói rằng, dù có sự khác nhau về số lợng (tuy nhiên sự chênh lệchkhông lớn lắm), nhng ở tác phẩm của hai nhà văn đất phơng Nam này, từ nghềnghiệp là lớp từ tơng đối nổi bật Và dĩ nhiên, điều quan trọng là cách sử dụngcủa họ Chính lớp từ này, trong sự phối hợp với những lớp từ khác đã giúp cáctác giả miêu tả rất chân thực, chính xác cuộc sống của những con ngời phải th-ờng xuyên vật lộn với cuộc mu sinh trên một miền đất vừa đợc sự u đãi của thiênnhiên, vừa không ít phần khắc nghiệt Mặt khác, cũng lớp từ này đã cho ta thấy
sự gắn bó của Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T đối với quê hơng, xứ sở Nó cũnggóp phần thể hiện cái phong vị riêng trong tác phẩm của hai nhà văn Khôngphải ngẫu nhiên, nhiều ngời xa xứ đọc văn Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T đã cảmthấy nh đợc về hít thở cái không khí miệt vờn, hoặc giữa những cánh đồng ngậptràn nắng gió
2.2.1.4 Từ địa phơng
Về tiếng địa phơng, đã có nhiều tác giả nghiên cứu theo những phơng diệnkhác nhau cho ta một bức tranh chung về phơng ngữ tiếng Việt
Theo Hoàng Thị Châu: “Phơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ
sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể với những nét khácbiệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay một phơng ngữ khác” [7, tr.10]
Phơng ngữ Nam Bộ là một bộ phận mằm trong dòng chảy của ngôn ngữ dântộc Phơng ngữ Nam Bộ là biến thể địa lý của ngôn ngữ toàn dân, nói cách khác,phơng ngữ Nam Bộ là những biểu hiện khác biệt của ngôn ngữ tiếng Việt trênvùng địa lý c dân Nam Bộ, đợc ngời Nam Bộ quen dùng Cho nên, cũng có thểxem phơng ngữ Nam Bộ là lời ăn tiếng nói tự nhiên, hằng ngày của ngời dânNam Bộ
Phơng ngữ Nam Bộ đợc hình thành và phát triển cùng với tiến trình pháttriển lịch sử 300 năm của vùng đất mới Tiếng Việt ở Đồng bằng Nam Bộ cùng
Trang 32với cuộc sống của ngời dân nơi đây đã không ngừng phát triển, biến đổi thànhsắc thái riêng nh hiện nay, khác biệt với ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ khác.Phơng ngữ Nam Bộ không chỉ đợc sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày củangời dân nơi đây, mà còn đợc sử dụng phổ biến trong sáng tác văn học nghệthuật Nhiều thế hệ nhà văn nhà thơ Nam Bộ ở những thời kì khác nhau đã nânglời ăn tiếng nói của con ngời nơi vùng đất này thành ngôn từ nghệ thuật trongcác áng văn thơ, tạo thành một thứ đặc sản, mà nhiều ngời ví nh hơng vị đặc biệtcủa trái sầu riêng
Thông thờng, xét trên bình diện chuẩn ngôn ngữ, nếu chỉ nhằm mục đíchthông báo nội dung mà không nhằm mục đích nghệ thuật thì ngôn ngữ toàn dân
sẽ đợc sử dụng Tuy nhiều trong tác phẩm nghệ thuật, ngời ta có thể dùng ngônngữ toàn dân để thông báo cũng có thể dùng những từ mang sắc thái địa phơng
để cho tác phẩm của mình có tính sáng tạo, phong phú và giàu tính biểu cảm.Trong văn học nghệ thuật, phơng ngữ đợc dùng với dụng ý tu từ học Và phơngngữ nhằm biểu đạt tính chân thực của hình tợng, tâm lý, tình cảm, con ngời ởtừng vùng, miền Tóm lại là có sắc thái vùng miền rõ nét Trong thơ ca dân gian,
đặc biệt là thơ ca hiện đại, nhiều nhà thơ đã sử dụng phơng ngữ có giá trị thẩmmỹ
Trong lĩnh vực truyện ngắn, nhiều nhà văn đã sử dụng phơng ngữ với dụng
ý tu từ để chuyển tải nội dung nhất định Nhng cũng có một vài tác phẩm đã quálạm dụng không những không làm rõ đợc sắc thái địa phơng, mà ngợc lại gâycho ngời đọc một cảm giác khó chịu vì mật độ dày đặc những từ địa phơng.Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T là những nhà văn thực sự tài năng Cả hai câybút đã làm chủ rất cao phơng tiện ngôn từ, trong đó có từ địa phơng Số liệuthống kê mà chúng tôi thu đợc đã phần nào nói lên điều đó
Bảng 2.4: So sánh tỷ lệ từ địa phơng trong truyện ngắn của Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T
Trang 33Sơn Nam Cây Huê xà 2180 100 4,58%
Bắt sấu rừng U Minh Hạ
Đó là cha kể sự xuất hiện nhiều lần của một từ địa phơng trong một tác phẩm
Địa danh Nam Bộ trong truyện Hòn Cổ Tron xuất hiện tới 13 lần không kể nhan
đề, điều đó cho ta thấy từ địa phơng mà Sơn Nam sử dụng trong văn của mình cómật độ rất cao Tỷ lệ trung bình từ địa phơng xuất hiện trong tác phẩm của nhàvăn Sơn Nam là 5,12%
Dùng từ địa phơng, nhiều lúc Sơn Nam làm công việc giải nghĩa từ ngữ theothao tác của một nhà ngữ học Điều này đủ nói lên sự quan tâm sâu sắc của ôngvới từ địa phơng Nam Bộ Ông sợ rằng, với thời gian, chúng có thể bị mai một.Quả thật, từ ngữ địa phơng giống một thứ đặc sản, ngời đọc ở những vùng miến
khác không khỏi cảm thấy lạ lẫm, chẳng hạn: bài kía, bến bạ, bòng bong, bối, bồn bồn, bồn cốt, cà lang, cà ràng, buồm dới nớc, cà ròn, chạy tờ, choại, chòi mui, củi lục, đất phát, điệu nghệ, giá triệu, ghe bè, ghe cui, ghe diệu, ghe giản, huê xà, lái rối, len trâu, miệt thứ, miệt vờn, ngọc ong, ngủ nớc, nò xiêm, nớc rặc, nớc rằm, thèo lèo, thỏn mỏn, xã Tây, xính xái Nhờ lớp từ ngữ này, ta hiểu đợc
nhiều câu ca dao, nắm bắt đợc nhiều câu thơ văn hay, đồng thời qua đó, hiểu đợcnhững đặc điểm tự nhiên, xã hội của vùng đất của những ngời Nam Bộ đangsống, và lâu nay còn có nhiều điều vẫn thấy khó hiểu hoặc còn bàng quan khôngmuốn biết [dẫn theo 62] Chẳng hạn:
U Minh, Rạch Giá, thị quá sơn trờng, Dới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.
Hoặc :
Một mai ai đứng bên kinh,
Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài?
Trang 34Bên kinh đã có con trai, Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu
Ngoài ra, Sơn Nam còn sử dụng một khối lợng rất lớn từ ngữ Nam Bộ thôngthờng trong cuộc sống mà bất cứ ngời Nam Bộ nào khi đọc tác phẩm của ôngcũng có thể nhận ra Những từ từng xuất hiện khá thờng xuyên trong truyện Sơn
Nam: ai dè, ảnh, ăng kết, ấp giáp, ậy, ba, bà cậu, bảnh, bển, bịnh, bông cỏ, bông rua, cà rá, cà kéo, cắc, cắn, chà chóp, chà và, chén, chẹt, chệt, choại, con mẻ, dừa nớc, dòm, dợn, đau, dờn, gây lộn, ghe hát, ghe bầu, kiềng, kinh, láng, lục bình, má, mần miệt, ô rô, ổng, qua, rạch, rắn mối, thơng hồ, ấp, xe đò
Giống nh Sơn Nam, Nguyễn Ngọc T cũng là nhà văn sử dụng với số lợngrất cao từ địa phơng Nam Bộ Theo kết quả chúng tôi thống kê, khảo sát đợc ở
năm truyện ngắn của nhà văn nữ này: Cải ơi có 65 lần sử dụng từ địa phơng chiếm 2,81%; ở truyện Thơng quá rau răm từ địa phơng đợc dùng với 98 lần chiếm 4,50%; truyện Nhà cổ xuất hiện 76 lần từ địa phơng chiếm 3,7%; tác phẩm Dòng nhớ có 80 lần từ địa phơng đợc nhà văn sử dụng 3,50%; truyện Cánh đồng bất tận với 559 lần, chiếm 4,14% Trung bình tỷ lệ lớp từ địa phơng
xuất hiện trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Ngọc T là 3,73% Tỉ lệ này ít hơn
so với Sơn Nam
Cả hai nhà văn Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T đều sử dụng những biến thểphát âm không chỉ trong lời đối thoại nhân vật mà nó xuất hiện trong ngôn ngữdẫn truyện của tác giả Những biến thể phát âm này, thờng diễn ra ở một bộ phận
âm chính và đó thờng là hiện tợng rút ngắn độ mở của nguyên âm Ví dụ nh: bí thơ/ bí th; tánh/ tính, đờn/ đàn; thiệt/ thật; mếch lòng/ mất lòng Có thể dẫn ra
một số dẫn chứng sau:
- “Mình thèm lên ti vi muốn chết giấc mà không đợc, còn mấy ông cán bộngồi chình ình trong đó hoài, thấy mắc ngán, ông già Năm Nhỏ than thở với
thằng Thàn, nói sao tao muốn làm bí thơ tỉnh quá” (Cải ơi).
- “Về Mỹ Hng với dì Thấm từ sau giải phóng, ông cha cãi cọ, mếch lòng ai,
suốt ngày chăm chú cho mảnh ruộng miếng vờn, cho bốn đứa con vừa chung vừa
riêng nhng đất quê vợ mãi mãi không yêu ông nh một đứa con ruột thịt” (Mối tình năm cũ).
- “Chú nói sao! Hòn Cổ Tron à! Thiệt không?” (Ông già xay lúa).
- “Đờn “ghi ta” hoà theo, tuy nhanh nhng buông rõ rệt từng giọt đồng, kém dồn dập hơn giọng đờn ở bên Tây Ban Nha tuyệt vời” (Ông già xay lúa).
Trong truyện ngắn của mình, cả Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T đều thể hiện
rõ nét đặc điểm phát âm của ngời Nam Bộ Cách phát âm ấy hiện nay rất phổ
Trang 35biến trong phong cách khẩu ngữ miền Nam Việc sử dụng những biến thể phát
âm trong lời nhân vật cho tác phẩm của Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T thể hiệnchân thật và sinh động cách nói năng của ngời dân Nam Bộ Nhng những trờnghợp cách phát âm ấy đợc dùng trong lời trần thuật, thì chúng ta cảm thấy giọng
điệu của ngời kể chuyện cũng là giọng nói của một con ngời gắn bó sâu nặng vớivùng đất này
Cả hai tác giả đều sinh ra và lớn lên ở vùng đất Nam Bộ, nên họ có điềukiện tiếp xúc, học hỏi và sử dụng thờng xuyên lời ăn tiếng nói hàng ngày của ng-
ời dân Trong sáng tác, hai nhà văn này thờng xuyên sử dụng từ khẩu ngữ, dùngmột cách khéo léo, không chỉ trong ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật mà cảtrong lời văn miêu tả và lời kể Nhiều trờng hợp họ sử dụng rất “đắt”, phản ánh
đợc cảnh vật, tâm trạng tình cảm của con ngời Nam Bộ, tạo ra những trang vănthật sinh động Cũng vì vậy, tác phẩm của Sơn Nam và Nguyễn Ngọc T trở nêngần gũi, quen thuộc với nhiều ngời, nhất là ngời Nam Bộ
Sơn Nam rất a sử dụng lớp từ khẩu ngữ trong tác phẩm của mình và cách
dùng cũng rất đặc biệt, chẳng hạn: cao nghệu, ớt mèm, say mèm Sơn Nam không dùng từ gốc nh cao, say, ớt mà tác giả lại kết hợp thêm yếu tố sau nh: nghệu, mèm làm cho những từ này có khả năng gợi hình hơn Không chỉ thế, tác giả còn sử dụng các từ rất lạ, có phần khó hiểu nh: so cựa, ca rê, búa xua, cà la quách
- “Cậu áo bành tô, cổ thắt cà ra quách” (Ông già xay lúa).
- “Chính cậu xã phổ biến cách chào hỏi mới bắt tay “búa xua” với ông Đại Hơng Cả” (Ông già xay lúa).
- “Bậy quá! Nó “đi bông” tới đây rồi mất dạng Chờ một hồi nữa coi”
(H-ơng rừng).
- “Nhớ chớ Làm sao mà quên đợc! Hồi nhỏ tôi hớt “ca rê”, tay xách tòn ten
bình mực đi học ở trờng làng” (Tình nghĩa giáo khoa th).
Sơn Nam không chỉ dùng những từ đợc xem là "đặc sản" của vùng đất Nam
Bộ, lạ, khó hiểu đối ngời đọc ở miền trung hay miền bắc, ông còn sử dụng không
ít lần những từ lạ tai lấy từ kinh kệ của Phật giáo: ga xơ na, ma lanh đa, mi lanh
đa băng ha xơ na … Đây là những từ hiếm gặp trong truyện của Nguyễn Ngọc
- “Chữ phạn gọi nó là “Mi lanh đa băng ha” Mấy tiếng “băng ha, xơ na”
khiến chú T Đức rối trí quá” (Sông gành hào).
Trong Bài học văn chơng từ Cánh đồng bất tận Bùi Việt Thắng đã có ý kiến
về sử dụng phơng ngữ nh sau: “Là một nhà Nam Bộ, dĩ nhiên ngôn ngữ văn
Trang 36ch-ơng của Nguyễn Ngọc T phải mang một sắc thái vùng miền” [59] Giống với
Sơn Nam về cách dùng từ địa phơng, trong tập Cánh đồng bất tận của Nguyễn
Ngọc T, chúng ta cũng bắt gặp rất nhiều cách diễn đạt kiểu Nam Bộ rất độc đáo,
mới lạ nh: búa la xua, cà lơ phất phơ, ít xịu, cà chớn, chành miệng, mát trời ông
địa, biết chết liền Đó là những từ cha hề gặp trong tác phẩm của những cây bút
Nam Bộ đậm đặc nh Hồ Biểu Chánh, Phi Vân trớc đây Những từ khẩu ngữ nàythật mộc mạc, quen thuộc, gần gũi với ngời Nam Bộ, nhất là ngời miền Tây, làmcho tác phẩm của chị mang hơi thở, dáng dấp của cuộc sống miền Nam Điều
đáng nói là Nguyễn Ngọc T dử dụng những từ ngữ nh thế rất nhuần nhuyễn,không gây cảm gợng gạo Ví dụ:
- “Nhng vừa rảnh tay, xuyến đã nghe buồn anh cõng buồn em đi lê thêtrong dạ, cô dựa lng vào tờng những vuông vải phơi trên đầu cồn cào, oằn oại, tơi
tả gió” (Duyên phận so le).
- “Nhà mấy cng ở chỗ nào?, thằng Điền đổ quạu” (Cánh đồng bất tận)
- “Biết chết liền!” (Cánh đồng bất tận).
Phần lớn khẩu ngữ là một từ gốc kết hợp với một yếu tố khác trong truyệnngắn của Nguyễn Ngọc T đợc sử dụng nhiều hơn hẳn so với truyện của SơnNam
Đó là những từ: lạnh trơ, dễ ợt, chết điếng, chết ngắc, gọn hơ, sớng ran, ớng rơn, chạy tọt, cũ mèm, ốm nhom, ốm teo, gầy nhom, gầy gò, chối bay, hết trơn, điếc đát, xơng xẩu, nhẹ hều, sắm sửa, thơng điếng, khóc điếng duyên dẻ, tỉnh queo, rẻ rề, khô nẻ, ngọt xớt, láng vo, khô quắt, lãng xẹt, làm òm, mốc cời, lãnh nhanh, đầy nhóc, bậy bạ, nạt nộ, quên phứt, tối thui, nhỏ teo, buồn xo, chiều muộn, lanh lợi, buồn bã, xinh xẻo, đen đúa, biết tỏng, chửi rủa, trẻ măng, chạy xịt khói, cời thúi mũi, buồn hiu hắt, buồn ác chiến, lớn dữ dằn, lạnh căm căm, nhớ mồn một, ngồi chình ình
s-Những từ khẩu ngữ (thêm yếu tố vào từ gốc) này mang tính biểu cảm cao,thể hiện đa dạng, cung bậc cũng nh sắc thái tình cảm đối với sự vật, sự việc hayhiện tợng gì đó của con ngời
Với khẩu ngữ này nhà văn Nguyễn Ngọc T đã rất thành công khi thể hiệnnhân vật, sự vật Ví dụ:
- “Con vịt không chạy lại, nó lạch bạch đi tới bộ ván ngựa sần sùi, nó chuixuống gầm, bữa nay hai ông bà có chuyện gì mà bắt mình ăn thấy bà cố nội”
(Cái nhìn khắc khoải).
Sử dụng từ khẩu ngữ có cấu tạo lặp lại bộ phận của từ gốc cũng là sở trờngcủa nhà văn Nguyễn Ngọc T mà ít ai sử dụng sáng tạo và linh hoạt, nhiều nh thế:
Trang 37dậm chân dậm cẳng, văn nghệ văn gừng, yêu này yêu nọ, vạch đi vạch lại, nhớ
đau nhớ đớn, cãi qua cãi lại, buồn thiu buồn thỉu, cà núp cà nó, nín thin nín thít,
cù bất cù bơ, chết bờ chết bụi, dở cời dở mếu, mỏi mê mỏi nhừ, cắm đầu cắm cổ, ngủ nghiêng ngủ ngửa Những kiểu tách từ đọc đáo, phản ánh kiểu ăn nói của
con ngời hôm nay nh thế, hoàn toàn vắng bóng trong tác phẩm của Sơn Nam.Phải nói rằng, những từ ấy thực sự in đậm “dấu vân tay” của Nguyễn Ngọc T
- “Chị chng hửng hỏi ông đi đâu, ông trả lời, giọng buồn thiu buồn thỉu” (Cái nhìn khắc khoải).
- “Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi
vị của nớc, từ ngọt sáng mặn chát; những cánh đồng vắng bóng ngời và cây lúa
rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thành thị” (Cánh đồng bất tận).
Những từ khẩu ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc T đợc sử dụng rấtlinh hoạt, đa dạng Điều này, giúp cho những sáng tác của chị trở nên sinh động,
đầy cá tính Nó không chỉ phản ánh lời ăn tiếng nói hàng ngày của ngời Nam Bộ,
mà còn cho ta cảm thấy thấp thoáng hình ảnh một ngời kể chuyện hóm hỉnh vàrất có duyên
Một trong những phần quan trọng của từ khầu ngữ là ngữ khí từ, cũng đợcnhà văn Nguyễn Ngọc T khai thác và sử dụng rất nhiều, trong khi lớp từ này ítthấy trong truyện ngắn của Sơn Nam
Ngữ khí từ là nhóm h từ có mặt trong câu, góp phần làm tăng giá trị củacâu, giúp ngời nói, viết đạt đợc giá trị giao tiếp Ngữ khí đợc xem là một biểuhiện quan trọng trong khẩu ngữ Nam Bộ Trong giao tiếp, ngời Nam Bộ thờng sửdụng ngữ khí từ nh một phơng tiện đắc lực trong việc bộc lộ tình cảm, cảm xúctrớc một hiện thực cụ thể Cùng vì lẽ đó, trong truyện ngắn của mình, NguyễnNgọc T sử dụng rất nhiều ngữ khí từ trong việc tái hiện sự giao tiếp của nhân vật
Một số từ ngữ khí nh: hôn, hen, nghen, hả, ha, hà, vậy cà xuất hiện nhiều
trong lời thoại của nhân vật trong truyện mà chị sử dụng với mục đích hỏi:
Chẳng hạn nh:
- “ừ, lạnh quá, Điềm ha?” (Huệ lấy chồng).
- “Mai mốt mình đi nữa hen Cộc” (Cái nhìn khắc khoải).
- “Tao đốn tràm, sửa lại cái nhà, ở luôn nghen” (Cái nhìn khắc khoải).
Ngữ khí từ trong câu hỏi thể hiện tình cảm, thái độ thành khẩn của ngời hỏilàm cho câu hỏi trở nên “nhẹ nhàng” hơn Ngoài mục đích đó, nó giúp ngời nghexác định rõ hơn nội dung hỏi