Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T đợc coi là một hiện tợng văn chơng năm 2005 khi tuần báo Văn nghệ in thành nhiều số, sau đó nhà xuất bản Trẻ và báo Tuổi trẻ phối hợp xuất bản thành s
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn
Trang 2giàu nội lực Trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc T, tập truyện Cánh đồng bất tận
đợc đánh giá khá cao Truyện Cánh đồng bất tận (nằm trong tập này) đã đợc trao
giải nhất về văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam Tìm hiểu về tác phẩm của NguyễnNgọc T dù từ bất cứ phơng diện nào cũng là việc làm thiết thực, không chỉ giúp hiểuthêm về một tác giả, mà còn có thể hình dung phần nào diện mạo của văn xuôi ViệtNam đơng đại Đây là lí do đầu tiên khiến chúng tôi lựa chọn đề tài này cho luậnvăn tốt nghiệp đại học
Trang 31.2 Đọc Nguyễn Ngọc T, độc giả không chỉ bị lôi cuốn bởi cái duyên kểchuyện, bởi những nhân vật sống động, gần gũi, mà còn đợc tắm đẫm trong cáiphong vị rất riêng của một vùng đất Làm nên cái phong vị ấy phải kể đến cái ngônngữ đậm chất Nam Bộ mà Nguyễn Ngọc T đã sử dụng hết sức nhuần nhuyễn Trongbức tranh văn học cả nớc, sự đóng góp của một cây bút ở phơng diện ngôn ngữ làrất đáng quí Thêm một lí do để chúng tôi lựa chọn đề tài đặc sắc ngôn ngữ
trong tập Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T cho công việc tập
dợt nghiên cứu khoa học
1.3 Hiện nay, việc nghiên cứu trong tác phẩm văn học là một hớng đợc cácnhà ngôn ngữ học quan tâm nhiều Bởi vì nhiều vấn đề lý thuyết cũng đợc làm sáng
tỏ bằng những ngữ liệu đợc khảo sát trong tác phẩm thuộc nhiêu thể tài khác nhau
nh (tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa thậm chí là phóng sự, tuỳ bút…Nguyễn Ngọc T) Với mục
đích vận dụng hớng tiếp cận văn học bằng ngôn ngữ học nhằm tự bồi dỡng tri thức
và phơng pháp nghiên cứu, chúng tôi đã mạnh dạn đi vào đề tài thú vị nhng cũngkhông ít thách thức này
2 Lịch sử vấn đề
Xuất hiện trong một bầu không khí hết sức nhạy cảm, truyện ngắn NguyễnNgọc T đã gây đợc một cuộc tranh luận sôi nổi cha từng thấy trên văn đàn văn họcnớc ta thời kì đổi mới Đã có nhiều công trình, bài viết, bài báo, phê bình, của cácgiáo s, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo…Nguyễn Ngọc Ttiép cận truyện ngắn củaNguyễn Ngọc T từ nhiều góc độ Thống kê trong thời gian từ 2003 đến 2006 cókhoảng trên một trăm bài viết về sáng tác của Nguyễn Ngọc T, trong đó sự đối lậpgiữa các ý kiến phải nói là gay gắt, cực đoan vào loại nhất nhì so với tất cả các cuộctranh luận trong văn nghệ từ 1975 trở đi
ở Mỹ, có một giáo s kinh tế mê văn học nớc nhà và yêu văn chơng của nhà
văn trẻ Nguyễn Ngọc T ở Cà Mau Ngời ấy đã lập trang web Văn hoá & Giáo dục,
trong đó có hẳn một “tủ sách” Nguyễn Ngọc T Chủ nhân của “tủ sách” ấy, ôngTrần Hữu Dũng cho biết : “Qua những th từ mà tôi nhận đợc (từ Sài Gòn, từ CầnThơ, từ một thành phố nhỏ bang LoWa ở Mỹ, từ MunChen ở Đức, từ Pari ở Pháp…Nguyễn Ngọc T,tôi không thấy có khác nhau nào giữa “Việt kiều” và những ngời trong nớc ở nhữnggì mà Nguyễn Ngọc T gợi dậy trong lòng họ Đến một chừng nào đó, ai cũng là xaquê hơng làng xóm của mình (dù chỉ là ở Mỹ Tho lên Sài Gòn), ai cũng cảm thấylòng dịu lại khi hồi tởng đến thời thơ ấu của mình (nhất là những ngời lớn lên ở tỉnh
Trang 4nhỏ, hay thôn quê) Ai cũng thích nghe một câu chuyện hay, đọc những nhận xéttinh tế Trong văn chơng Nguyễn Ngọc T, chúng ta, khắp mọi phơng trời, tìm đợccái quê hơng đích thực trong tâm tởng, những tình tự ngủ quên trong lòng mình,những kỷ niệm mà mình tởng nh không ai chia sẻ”(4) Điều đáng nói là trong hànhtrình đi tìm Nguyễn Ngọc T, qua các cuộc tranh luận bàn cãi, tính “có vấn đề” của
lý luận, phê bình văn học, tiếp nhận văn học của nớc ta bấy lâu nay lộ rõ và đặt rayêu cầu bức thiết về một sự định hớng đúng đắn Nhìn chung, giữa hai luồng khẳng
định và phủ định, khen và chê, khuynh hớng khẳng định những đóng góp củaNguyễn Ngọc T vẫn nổi trội, có sức thuyết phục và ngày càng đông đảo hơn Hầuhết các bài viết có giá trị đều nói đến tính giáo dục, tính hiện thực và tính nhân văn
và những mặt trái của xã hội cùng với ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác củaNguyễn Ngọc T
Truyện ngắn dài 58 trang – Văn có thể gọi là truyện vừa - đợc chú ý nhất vẫn là
truyện đợc đặt tựa cho cả tập sách: Cánh đồng bất tận Có thể nói lần đầu tiên tác
giả muốn bất thoát không còn là cảnh yên ả, bình lặng của cuộc sống Nam bộ heohút nh các truyện trớc đó Không tẻ nhạt một cuộc sống trên con đò du mục khốcliệt hơn nhiều Một ngời mẹ ngoại tình bỏ con đi theo tình nhân Một ngời cha trảthù bằng các cuộc tình lang bạt Một ngời tình của ông là một cnn điếm bị đánh xé,bầm dập nhng vẫn tự nhận mình là “con đĩ ” Tất cả đều đợc nhìn với cặp mắt trẻthơ Cuối cùng con phải gánh tội bố mẹ Cuộc sống rồi vẫn co cái lý của nó Nóitheo ngời Nam bộ, nhân vật trong các truyện nghĩ sao nói vậy, không màu mè chauchuốt Cuộc sống cho ta thấy mọi điều, tất cả đều có ý nghĩa từ ngời già đến ngờitrẻ, từ đô thị đến nông heo hút, phải chăng đó là điều Nguyễn Ngọc T muốn gửitới
Nguyễn Ngọc T ngòi bút trẻ ấy, rõ ràng đã tạo đợc một chỗ đứng khu biệt chomình Nhiều ngời cho rằng cái độc đáo của Nguyễn Ngọc T là sự chân chất mộcmạc từ mỗi truyện cô viết Song, trớc hết cái làm cho ngời đọc choáng váng (thíchthú) là nồng độ phơng ngữ miền Nam trong truyện của Nguyễn Ngọc T
“Song, nhìn kỹ sự hấp dẫn của truyện Nguyễn Ngọc T không chỉ ở kho từ vựngdồi dào của cô, mà ở chỗ cô sử dụng phơng ngữ tối đa và đúng chỗ vào những câuchuyện thật “miền Nam”
Văn của Nguyễn Ngọc T nghe nh nhạc Nhiều câu trong trẻo và buồn (nhngkhông nghẹn ngào) nh một bản vọng cổ hoài lang Giọng buồn của Nguyễn Ngọc
Trang 5T không là tiếng than vãn thì thầm của ngời lớn tuổi nhng là một lời thốt, lửng lơ,
đứt ngang, nhng rất đủ của một ngời trẻ bỗng nhiên phát giác những bất hạnh củacuộc đời, mà vẫn hy vọng Văn Nguyễn Ngọc T là văn của lời nói Cách ngắt câucủa cô là cách ngắt của âm điệu Cái tài của Nguyễn Ngọc T là đem những cảnh rấtbình tthờng đem khoanh lại, biến nó thành châu báu [3]
Hồ Anh Thái và một số ngời nữa, đã có khen “cách dẫn chuyện gọn gàng, sựcắt cảnh chuyển lớp chính xác ” của Nguyễn Ngọc T , nhng cha thấy ai nói đến cấutrúc câu của cô, mới và độc đáo Lối bắt đầu với chữ “Mà”, rồi dấu phẩy Hoặc lốichen vào giữa câu một chi tiết trong ngoặc đơn: “Hai đứa tôi ngồi đâu đó (chỗ mà ai
cũng nhìn thấy) nói chuyện chơi có lúc chẳng cần nói gì ” (Nhà cổ) Hoặc lối dức
câu có bằng một thán từ có âm bổng : “Sao tự nhiên em qua đây lãng xẹt vậy không
biết ? ”(Lý con sáo sang sông).
Nhiều ngời so sánh cô với Sơn Nam Nhng Sơn Nam là ngời viết ký sự giỏi, hầu
nh là nhà nghiên cứu, nhà dân giả học chuyên nghiệp Nguyễn Ngọc T không nhvậy, cô là nhà văn chuyên môn Những cây bút khác ở miền Nam trớc cô (nh LêVăn Thảo, Nguyễn Quang Sáng) là thế hệ của chiến tranh dành độc lập, tuy NguyễnNgọc T không phải mang nhiệm vụ (gánh nặng) đó nữa, song quá khứ ấy đợc cô đa
vào trong truyện rất tự nhiên (Mối tình năm cũ, Ngọn đèn không tắt) Có lẽ Nguyễn
Ngọc T không biết chính cái trẻ của cô, cái tính “tỉnh nhỏ ”của cô đã cho cô mộtlợi thế rất lớn Đó là không bị hành trang của thế hệ trớc làm nặng vai, hay bị ảnh h-ởng của những ngời đi trớc
Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T đợc coi là một hiện tợng văn chơng
năm 2005 khi tuần báo Văn nghệ in thành nhiều số, sau đó nhà xuất bản Trẻ và báo
Tuổi trẻ phối hợp xuất bản thành sắch với ghi chú: những chuyện ngắn mới nhất và
hay nhất gồm 14 truyện)
Vgôn từ nghệ thuật trong truyện Cánh đồng bất tận từng có những ý kiến trái ngợc nhau Theo ông Bùi Việt Thắng: “Trớc Cánh đồng bất tận Nguyễn Ngọc T đ-
ợc độc giả và giới phê bình ca ngợi là cây bút có chất giọng Nam bộ hồn nhiên,mộc mạc Đó là một u điểm không thể phủ nhận Nhng đọc kỹ tập truyện mới củachị sẽ thấy gợi lên một số vấn đề về ngôn ngữ văn chơng mà chúng ta cần suynghĩ”
Trớc hết, chúng tôi thấy văn viết của Nguyễn Ngọc T rất gần gũi với văn nói.Rất có thể quan niệm phải làm sao cho văn chơng ngày càng gần gũi hơn với lời ăn
Trang 6tiếng nói hàng ngày của nhiều ngời, tạo nên một cái mà giới nghiên cứu gọi là
“suồng sã trong giọng điệu, thành phần khẩu ngữ gia tăng, cú pháp linh hoạt, mềmmại hơn” cha bao giờ trong văn chơng (kể cả thơ) Trong nghệ thuật, những câuchửi thề chửi tục, lối nói trần trụi rạch ròi lại xuất hiện nhiều đến thế Nhng cái gìcũng có “ngỡng” của nó Nếu suỗng sã quá, nếu “khẩu ngữ ” gia tăng, liệu đến đó
có còn ranh giới giữa văn chơng và lời ăn tiếng nói hàng ngày?
Đối lập với ý kiến của Bùi Việt Thắng, ông Trần Thiện khanh cho rằng: ÔngBùi Việt Thắng yêu cầu ngôn ngữ của cây bút có chất giọng Nam bộ phải đợc
“quốc gia hoá”, chứ không đợc sử dụng nhiều phơng ngữ là “thiếu sự lao độngnghiêm túc, kỹ lỡng” Khi miêu tả nhà văn không đợc đặt “trời đất, thần phật ” và
“rắn rít ” cạnh nhau, ngang nhau hoá ra, Bùi Việt Tháng đã xoá nhoà cá tính sángtạo của chủ thể thẩm mỹ, ông muốn mọi tác phẩm phải giống nhau nh khuôn ngay
cả về hệ từ vựng và ngữ pháp Đòi hỏi Bùi Việt Thăng có phần ảo t ởng? [9] Cánh
đồng bất tận có ngôn ngữ, giọng điệu, sắc thái, cấu trúc riêng của mình, không thể
cô lập Cánh đồng bất tận ra khỏi ảnh hởng của phơng ngữ Nam bộ nh Bùi Việt
Thắng cố gắng làm Không nên đo thế giới của Nguyễn Ngọc T bằng kích thớcngôn ngữ khác Chế tạo một ngôn ngữ - đặt biệt hoặc đem cách diễn đạt của ai đógán cho Nguyễn Ngọc T, bắt buộc chị làm theo, là ý đồ không thể thực hiện đợc ýtởng về một ngôn ngữ thống nhất và duy nhất đối với sáng tác văn chơng của BùiViệt Thắng nh một điều không tởng Trên thực tế xa rời sáng tác văn học nghiêmtúc nhất và triệt tiêu bản sắc cá nhân, phủ nhận chất vùng vốn là nguồn bổ sung,góp phần tạo thành đờng nét cụ thể trên diện mạo một cá tính sánh tạo [9]
Trong bài viết Ngày đầu năm đọc Cánh đồng bất tận với sức hút kỳ lạ Nguyễn
Tý cho rằng: “Đây là tập truyện thứ 7 của Nguyễn Ngọc T, ngay từ khi Cánh đồngbất tận xuất hiện trên tuần báo Văn nghệ 4 kỳ liên tiếp đã tạo đợc một hiệu ứng lạ
Có ngời cho rằng Nguyễn Ngọc T đang thể nghiệm một phong cách sáng tác mớisau khi đã có nhiều truyện ngắn viết về miền Tây – Văn nhất là những thân phận ng ờinghệ sĩ cũng nh ngời phụ nữ ở tận cùng đất Mũi Cà Mau ” Nguyễn Ngọc T tạo ramột phong cách không lẫn vào ai – Văn ấy là chỗ văn T dễ đọng vào lòng ngời saunhững giờ phút mệt nhọc với cuộc sống cơm áo gạo tiền, đọc th giãn đọc nghiềnngẫm, ồ hay và tình làm sao ấy ”
Báo Tiền phong số ra ngày 31 - 1 - 2006 với bài Nguyễn Ngọc T, nhón chân hái
trái ở cành quá cao! lại viết : “Văn phong dung dị, ngôn ngữ truyện cứ nh đợc bê
vào từ đời thờng nhng chính nỗi đau của những kiếp ngời, những số phận nhỏ bé ở
Trang 7một vùng quê nghèo và triết lí nhân quả của cuộc đời lại làm nên sức ám ảnh củatruyện …Nguyễn Ngọc T ”.
Phải nói rằng, hầu hết các bài viết về ngôn từ nghệ thuật trong truyện củaNguyễn Ngọc T nói chung và trong tập truyện Cánh đồng bất tận nói riêng đã ítnhiều nói đến đặc điểm của việc sử dụng từ ngữ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc T.Tuy nhiên, trong giới hạn những bài viết riêng lẻ, những nhận định của các tác giảphần nhiều còn tản mạn, cảm tính, cha nêu lên đợc đặc điểm nổi bật trong việc sử
dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc T trong tập truyện Cánh đồng bất tận Đây có lẽ là
cơ sở để luận văn đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Giới thuyết một số khái niệm công cụ liên quan đến đề tài nh Ngôn ngữnghệ thuật, Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn, các khái niệm thuộc các cấp độngôn ngữ…Nguyễn Ngọc T
- Khảo sát các cấp độ ngôn từ nghệ thuật trong tập truyện Cánh đồng bất tận
của Nguyễn Ngọc: Phơng ngữ Nam bộ, từ thuộc phong cách sinh hoạt, các trờng từvựng – Văn ngữ nghĩa tiêu biểu, câu văn nhìn từ góc độ cấu tạo và tu từ cú pháp, một sốbiện pháp tu từ khác nh phép so sánh, nhân hóa, nghệ thuật xây dựng biểu tợng
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát của luận văn là tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc T (Nxb Trẻ 2006, 220 trang) gồm 14 truyện (trong đó có 13 truyệnngắn và 1 truyện vừa
5 Phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp chủ yếu luận văn sử dụng để nghiên cứu là: thống kê - phân loại,khảo sát - phân tích - tổng hợp, cấu trúc - hệ thống
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm có những chơng sau:
Chơng 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài.
Chơng 2: Từ ngữ trong tập truyện Cánh đồng bất tận Nguyễn Ngọc T
Chơng 3: Câu văn trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T Chơng 4: Một số biện pháp tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc T.
Trang 8Sau cùng là Tài liệu tham khảo
Chơng 1
Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài
1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Nhng nghệ thuật ngôn từ, từ xa xa đã baogồm không chỉ thơ trữ tình, kịch, sử thi và bao gồm cả nghệ thật hùng biện, dùngtrong giảng đạo, trong xét xử…Nguyễn Ngọc T Ngày nay, với sự phát triển của báo chí và phơngtiện truyền thông đại chúng, thì phạm vi còn rộng hơn Do vậy, khi nói văn học lànghệ thuật ngôn từ, ta chỉ nói tới một loại hình của nghệ thuật đó – Văn tức loại hình sửdụng ngôn từ để tạo ra thế giới nghệ thuật, vì mục đích nghệ thuật
Ngôn ngữ văn học do vậy, không chỉ khác với lời nói tự nhiên, khác với cáchình thức phi nghệ thuật, mà cũng khác với hình thức của các nghệ thuật ngôn từkhác
Trong đời sống hàng ngày ngôn ngữ đợc sử dụng với mục đích giao tiếp,truyền đạt thông tin, cốt nói sao cho ngời nghe hiểu rõ, ngời nói có thể nói đủ mọicách kể cả biểu hiện của nét mặt…Nguyễn Ngọc T Do vậy, lời nói thờng ngẫu nhiên tạm thời
“Ngôn từ văn học là ngôn từ đợc lựa chọn, đợc tổ chức thành văn bản cố định, saocho nói một lần mà có thể giao tiếp mãi mãi Nếu ngôn từ hàng ngày trong đời sốngphụ thuộc vào ngữ cảnh trực tiếp, thì ngôn từ nghệ thuật dựa vào nguyên tắc thủ tiêu
đặc trng trực tiếp của ngữ cảnh Nó chỉ có ngữ cảnh thời đại, ngữ cảnh văn hoá, ngữcảnh nội tại của chính nó” Theo G.V.Xtêpanốp : “Ngôn ngữ văn học là một hiện t-ợng nghệ thuật do nghệ sĩ sáng tạo theo quy luật chung của nghệ thuật Văn bảnnghệ thuật phải truyền đạt một ý nghĩa mà không một phát ngôn đồng nghĩa nào cóthể thay thế đợc”
M.Bakhtin cho rằng: thật là ngây thơ nếu cho rằng nghệ sĩ chỉ cần một ngônngữ nh ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ của ngôn ngữ học (bởi vì chỉ nhà ngôn ngữ học
Trang 9mới nghiên cứu ngôn ngữ nh là một ngôn ngữ) Thực ra, nghệ sĩ gia công ngôn ngữ
nh là ngôn ngữ để biến nó thành phơng tiện biểu hiện nghệ thuật của ngôn ngữ, màchỉ là sử dụng nó thôi
Pôxpêlốp cũng nói về t duy nghệ thuật với sự trợ giúp của ngôn ngữ Bởi vìnhiệm vụ chung của sáng tạo là khắc phục mọi chất liệu, từ chất liệu đời sống tớichất liệu ngôn ngữ, mà chỉ là sử dụng nó thôi
Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật là sáng tạo ra thực tại nghệ thuật, sángtạo ra khắch thể thẩm mỹ, đồng thời sáng tạo ra bản thân các hình tợng ngôn từ, cácbiểu trng nghệ thuật, các hình thức lời thơ, lời văn xuôi nghệ thuật, để thoả mãn nhucầu giao tiếp nghệ thuật
Trớc nay, một số công trình lí luận chỉ xem ngôn ngữ văn học nh một phơngtiện bề ngoài, một phơng tiện giản đơn để truyền đạt các hình tợng có sẵn Với cáchhiểu đó, có ngời xem ngôn ngữ không quan trọng hơn chi tiết Có ngời chỉ chú ý
đến cá tính của ngôn từ nhân nhân vật và ngôn từ tác giả Một số tác giả khác xem
“chất thơ ” của ngôn từ ở cấu tạo ẩn dụ của nó Các nhà giải cấu chủ nghĩa thì lạixem ngôn từ nghệ thụât không đáng tin cậy, chẳng qua là trò chơi dựa trên sự tơng
đồng và khác biệt của các ký hiệu Tuy nhiên, lý luận cực đoan không thể phủ nhậntính xác định của ngôn từ, điều kiện của giao tiếp và tính đa nghĩa của nó
Trong ngành ngữ văn học lại có quan niêm về tính độc lập tuyệt đối của sángtác văn học, tức xem giá trị bản chất của văn học nằm trong văn bản ngôn từ, phântích ngôn từ đợc thay thế cho việc phân tích nôi dung cuộc sông đợc thể hiện trong
đó Đó là một cực đoan khác hẳn với phản ng với cách tiếp cận thực dụng, khôngbiết đến ngôn ngữ nghệ thuật
Trong văn học, nội dung và ngôn ngữ không tách rời nhau, cho nên hiện tạicác nhà nghiên cứu văn học có xu hớng vận dụng tri thức ngôn ngữ học, còn ngợclại trong các nhà ngôn ngữ học đã có khuynh hớng khám phá đặc thù văn học Dùthế nào thì tính hình tợng văn học và ngôn ngữ văn học vẫn đợc thừa nhận
Trong cuốn Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử cho rằng: ngôn
từ nghệ thuật là một hiên tợng nghệ thuật (thể hiện ở tính hình tợng của ngôn từnghệ thuật) Đồng thời ngôn từ nghệ thuật còn đợc thể hiện ở nhãn quan và loạihình ngôn từ văn học (sử thi, tiểu thuyết); thi pháp ngôn từ trên các cấp độ ngôn ngữ(từ và cụm từ, cú pháp) thi pháp ngôn từ trên cấp độ hình thức nghệ thuật (lời trựctiếp của nhân vật, lời gián tiếp)
Trang 10Khái niệm ngôn từ nghệ thuật trong Lí luận văn học (Phơng Lựu chủ biên) lại
định nghĩa nh sau: “ngôn từ nghệ thuật là văn, văn chơng Đó là ngôn từ của tácphẩm văn học, của thếgiơi nghệ thuật kết quả sáng tạo của nhà văn Đó là ngôn từgiàu tính hình tợng nhất và giàu sức biểu hiện nhất, đợc tổ chức một cách đặc biệt
để phản ánh đời sống, thể hiện t tởng tình cảm và tác động thẩm mỹ tới ngời đọc”
Chúng tôi xét thấy trong số những nội dung đã trình bày, cách lí giải của
Trần Đình Sử trong cuốn Giáo trình dẫn luận thi pháp học và của Phơng Lựu trong cuốn Lí luận văn học là xác đáng hơn cả Chúng tôi xem đây là công cụ lí thuyết,
làm cơ sở để khảo sát, phân tích, đánh giá những vấn đề đợc đặt ra trong đề tài màchúng tôi đã nêu
1.2 Thể loại truyện và ngôn từ thể loại truyện
1.2.1 Thể loại truyện
Từ điển văn học (Nxb Khoa học xã hội 1984) chú giải: “Truyện thuộc loại tự
sự - có hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật – Văn thủ pháp nghệ thuậtchính là kể Truyện thừa nhận vai trò rông rãi của h cấu và tởng tợng- tùy theo nộidung phản ánh, dung lợng, chủ thể sáng tác cụ thể mà truyện đợc chia thành nhiềuloại: truyện dân gian, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài…Nguyễn Ngọc TTruyện nôm khuyếtdanh, truyện nôm ”
Truyện thuộc loại tự sự: “phơng thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phơngthức khác là trữ tình và kịch, đợc dùng làm cơ để phân loại tác phẩm văn học Nếutác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan, thì truyện lại táihiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó Truyện phản ánh hiện thực quabức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian qua các sự kiện, biến cốxảy ra trong cuộc đòi con ngời Trong truyện, nhà văn thể hiện t tởng, tình cảm củamình, thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con ngời tới mứcgiữa chúng dờng nh không có sự phân biệt nào cả Nhà văn kể lại, tả lại những gìxẩy ra bên ngoài mình, khiến cho ngời đọc có cảm giác rằng hiện thực đợc phản
ánh trong truyện là một thế giới tạo hình xác định đang tự phát triển, tồn tại bênngoài nhà văn, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn
Phơng thức phán ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con ngờilàm cho truyện trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên,truyện thờng có kết truyện Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật đợckhắc hoạ đầy đủ nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch Trong truyện, cốt
Trang 11truyện đơc triển khai, nhân vật đợc khắc họa nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuậtphong phú đa dạng, bao gồm chi tiết, sự kiện, xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hìnhnhân vật, chi tiết tính cách, chi tiết nội thất, ngoại cảnh, phong cảnh, đời sống, vănhoá, lịch sử lại còn có cả chi tiết liên tởng, tởng tợng, hoang đờng mà không nghệthuật nào tái hiện đợc.
Những đặc điểm nói trên làm cho truyện trở thành loại hình văn học có vaitrò quan trọng trong đời sống tinh thần của con ngời hiện đại
1.2.2 Truyện ngắn
Từ điển văn học (tập hai – Văn Nxb Khoa học xã hội 1984), mục Truyện ngắn
định nghĩa: “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyệnvừa ở dung lợng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố,hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểuhiện một mặt nào đó tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đềxã hội Cốt truyện của truyện ngắn thờng dễn ra trong một không gian và thời gianhạn chế Kết cấu của truyện ngắn thờng ngắn, cũng không chia thành nhiều tuyếnphức tạp Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi khôngnghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn”
Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 1999) cho rằng:
“truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùmhầu hết các phơng diện của đời sống, đời t, thế sự hay sử thi nhng cái độc đáo của
nó là ngắn Truyện ngắn đợc tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ…Nguyễn Ngọc T
Truyện ngắn là thể loại bắt nhịp và bắt mạch nhanh nhạy với đời sống ởnhững bớc ngoặc mau lẹ Có thể nói truyện ngắn nh một “hàn thử biểu” soi rõ dòng
đời nơi âm thầm, nơi dữ dội, tái hiện đợc mọi biến thái trong đời sống vật chất cũng
nh tinh thần của con ngời
Có nhiều nhà văn thế giới và Việt Nam khẳng định bản lĩnh của mình trênvăn đàn bằng thể loại này nh : Môfatxăng, K.Pautôpki, Hêmingguây…Nguyễn Ngọc T Nam Cao,Nguyễn Công Hoan, Thặch Lam …Nguyễn Ngọc T
Các nhà văn bằng sự trải nghiệm nghề nghiệp đã định nghĩa truyện ngắn ởnhiều góc độ khác nhau
Trang 12K Pautôpxki – Văn nhà văn Nga, nhấn mạnh tính sự kiện: “Tôi nghĩ rằng truyệnngắn là một thể loại viết rất gọn, trong đó cái không bình thờng hiện ra nh cái gìbình thờng, và cái bình thờng hiện ra nh một cái gì không bình thờng”.
Nguyễn Công Hoan trong Nhà văn hiện đại thì chú ý đến tính chủ đề:
“Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề đợc xây dựng bằng chi tiết với
sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ vơí cách đặt câu, dùng từ có cân nhắc …Nguyễn Ngọc T muốntruyện ngắn ấy là truyện ngắn chỉ nên lấy ngần ấy ý làm ý chính, làm chủ đề chotruyện …Nguyễn Ngọc T những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi”
Nguyên Ngọc lại chỉ rõ sức ôm chứa và khả năng khái quát hiện thực củatruyện ngắn : “Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung, vì thế khôngnên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn vốnnhiều vẻ Có truyện viết về cả một đời ngời, có truyện chỉ ghi lại một vài giây phútthoáng qua”
Những kiểu đề cập đến dung lợng của truyện ngắn, nhấn mạnh ý nghĩa điểnhình của sự việc, tình huống: “mỗi truyện ngắn là một trờng hợp…Nguyễn Ngọc T trong quan hệgiữa con ngời với đời sống, có những khoảnh khắc nào đó, một mối quan hệ nào đóbộc lộ Truyện ngắn phải nắm bắt đợc cái trờng hợp ấy Trờng hợp ở đây là mộtmàn kịch: chớp nhoáng, có khi chỉ là một trạng thái tâm lý, một chuyển biến tìnhcảm kéo dài chậm rãi trong nhiều ngày”
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t duy mới, một cách nhìn cuộc đời, mộtcách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính chất thể loại
Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thời gian hạnchế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó về cuộc đời và tình ngời.Kết cấu của truyện ngắn thờng không chia thành nhiều tuyến mà thờng đợc xâydựng theo nguyện tắc tơng phản hoặc viễn tởng Bút pháp trần thuật của truyệnngắn thờng là chấm phá
Yếu tố quan trọng bậc nhất của truỵen ngắn là những chi tiế cô đúc, có dunglợng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chanói hết”
Những ý kiến trên cho ta cách nhìn khá toàn diện về thể tài này Các ý kiến
dù đa dạng nhng nhìn chung đều xoay quanh những khía cạnh chính: dung lợng, kết
Trang 13cấu, độ dồn nén, sức khái quát hiện thực, hình thức biểu đạt…Nguyễn Ngọc Tta có thể rút ra nhng
đặc điểm chính về thể tài này nh sau:
Một thể tài tự sự cỡ nhỏ Nhỏ ở đây đồng nghĩa với ngắn gọn, hàm súc tinhlọc và hay
Về dung lợng và cốt truyện: truyện ngắn tập trung vào một mặt nào đó của
đời sống, nó xoay quanh một vài biến cố, sự kiện tập trung trong một không gian,thời gian nhất định
Kết cấu truyện cực kỳ chặt chẽ, và là kết cấu đơn tuyến
Nhân vật truyện ngắn thờng thể hiện tâm thế của con ngời trong thời đại
1.2.3 Truyện vừa
Lý luận văn học (Nxb Giáo dục, 2003) định nghĩa: “Truyện vừa là thể loại
văn xuôi tự sự cỡ trung bình”
ở thể loại này có các tác phẩm nổi tiếng nh: Con đầm pích của Puskin, AQ
chính truyện của Lỗ Tấn…Nguyễn Ngọc TCác tiểu thuyết của ta nh Đất nớc đứng lên, Bên kia
biên giới, Vùng mỏ… đều gần với truyện vừa hơn là tiểu thuyết xét về dung lợng.
Điều đó chứng tỏ ranh giới truyện vừa và tiểu thuyết là rất tơng đối Tuy nhiên,không nên hiểu dung lợng là độ dài ngắn của văn bản
Có lẽ không nên hiểu truyện vừa nh là sự thu hẹp phạm vi tái hiện đời sống
Nhiều truyện nh Ngòi con gái viên đại uý…Nguyễn Ngọc T, đã chứng tỏ phạm vi phản ánh hiệnthực rất rộng Dung lợng truyện vừa thể hiện ở bình diện trần thuật So với tiểuthuyết, trần thuật của truyện vừa thật cô đọng, hàm súc hơn, bám sát sự phát triểncủa cốt truyện và đặc điiểm nhân vật hơn Thế giới truyện vừa nói chung đợc táihiện trong một khoảng cách xa hơn tiểu thuyết Chính vì vậy, phơng diện đồ vật,tâm lý, ngôn ngữ…Nguyễn Ngọc T của đời sống không đợc tái hiện chi tiết tờng tận nh tiểu thuyết
Chính vì vậy mà ngời ta nhận thấy sự trần thuật của truyện vừa gần với anhhùng ca cổ đại ở cách trần thuật trầm tĩnh, ít xoáy sâu vào các tình thế bi thảmmang tính kịch gay gắt Đặc điểm đó của truyện vừa bộc lộ trong tác phẩm mangtính chất tiểu sử, tự truyện Chẳng hạn bộ ba Tự truyện của Goorki, các truyện anhhùng chiến sĩ của ta cũng thuộc loại này ở đây, yếu tố “thuật” nhiều hơn yếu tố
“tả” Các truyện vừa mang đậm tính kịch nh Nhật kí ngời điên của Gôgôn, hay phân
tích tâm lý nổi bật nh Ngời dịu dàng của Đôxtôiépxki, ngời ta thấy gần tiểu thuyếthơn và gọi là “tiểu thuyết cỡ nhỏ ”
Trang 14Câu văn truyện vừa thờng giản dị, gọn gàng, sáng rõ, ít trang sức làm cho tiến
độ trần thuật nói chung “nhanh” hơn tiểu thuyết Điều đó còn gắn với đối tợng táihiện của truyện vừa là các sự kiện, các cuộc đời thờng đặc sắc, khác thờng, hoặccác hiện tợng đời sống nổi bật Truyện vừa ít miêu tả quá trình vận động của tinhcách, quan hệ hơn tiểu thuyết
Những điều nói trên cho thấy truyện vừa có một phạm vi miêu tả đời sốngkhác với tiểu thuyết và điều đó quy định đặc trng thể loại của nó Với các đặc trng
đó, truyện vừa có vị trí đắc lực trong việc tái hiện các tấm gơng anh hùng, các sựkiện có ý nghĩa lớn của đời sống
1.2.4 Ngôn ngữ thể loại truyện
Lý luận văn học (Phơng Lựu chủ biên) giải thích: “Ngôn ngữ của truyện có
cấu trúc, thành phần khác hẳn lời của kịch và trữ tình Văn tự sự có thể là văn vầnhoặc văn xuôi nhng đặc điểm của nó thể hiện trớc hết ở thành phần lời văn Ngônngữ của truyện luôn hớng ngời đọc ra thế giới đối tợng, khác hẳn lời trữ tình hay lờithoại của kịch, hớng chú ý tới cảm xúc, ý định ngời nói Ngôn ngữ của truyện cũng
có chỗ khác với lời thoại trong kịch và lời của nhân vật trữ tình Lời nhân vật củatruyện là một thành phần, một yếu tố của truyện Nó xuất hiện gắn liền với sự miêutả Lời nhân vật có thể đợc miêu tả lại, đợc xé lẻ ra, để xen vào hoặc đợc hoá thânvào lời trần thuật Nhờ thế, lời nói nhân vật và lời trần thuật thoải mái, bao quát.Hêghen nói, trong truyện không có chỗ cho những thổ lộ trữ tình độc lập tự biểuhiện một cách trực tiếp, cũng không có chỗ cho những cuộc đối thoại trực tiếp củanhân vật mà không có sự tham gia điều tiết của lời trần thuật của tác giả Lời nhânvật của truyện có thể dung nạp những đoạn độc thoại nội tâm dài, những lời đối đáptrong ý nghĩ, trong tởng tợng Sự kết hợp lời trần thuật gián tiếp với lời nói nhân vậttạo khả năng vận dụng lời nửa trực tiếp và các hình thức lời đa giọng khác
Truyện cũng có thành phần trần thuật bao quát, đứng trên cả sự miêu tả cụthể về cảch vật và lời nói, hớng tới những bức tranh toàn cảnh về quan hệ, tìnhhuống, thời đại, hoặc về các quá trình của tính cách hay của quan hệ diễn ra trongnhững khoảng không gian hoặc thời gian hết sức rộng lớn Về mặt này, truyện cókhả năng bao quát vô song mà chỉ có nghệ thuật điện ảnh là có thể sánh đợc, khiống kính mang chức năng trần thuật miêu tả Các đặc điểm đó làm cho truyện trởthành thể loại văn học có khả năng phản ánh hiện thực sâu rộng nhất, có vị trí ngàycàng quan trọng đời sống tinh thần của ngời hiện đại”
Trang 15Từ điển thuật ngữ văn học, (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ
biên), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội 1999 cho rằng: “Truyện có thành phần trầnthuật bao quát đứng trên cả sự miêu tả cụ thể về cảnh vật và lời nói, hớng tới nhữngbức tranh toàn cảnh về quan hệ, tình huống, thời đại, hoặc về các quá trình của tínhcách hay của quan hệ diễn ra trong những cảnh không gian hoặc thời gian hết sứcrộng lớn Ngôn ngữ của truyện cũng nh ngôn ngữ tác phẩm kịch, là ngôn ngữ đadạng, ngôn ngữ của nhiều tính cách Song, sự khác biệt giữa ngôn ngữ của kịch vớingôn ngữ của truyện chính là ở chỗ, trong truyện, ngôn ngữ ngời kể chuyện giữ vaitrò quyết định đối với toàn bộ cấu trúc ngôn ngữ của tác phẩm”
Những đặc điểm nêu trên cho thấy khi tiếp cận thể loại truyện (dù là truyệnngắn hay truyện vừa) ngời nghiên cứu không thể không chú ý đến đặc điểm ngônngữ của nó
1.3 Nguyễn Ngọc T – Văn một hiện t ợng văn học đơng đại
1.3.1 Sơ lợc tiểu sử Nguyễn Ngọc T
Nguyễn Ngọc T là một nhà văn nữ rất trẻ, dung dị, nhng kiên cờng và bảnlĩnh Chị sống gần ba má, anh chị Từ thế hệ nội, ngoại, cả gia đình của NguyễnNgọc T đều là bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ Chị và anh của nhà văn sinh ratrong chiến khu trớc hoà bình, còn Nguyễn Ngọc T thì sinh ra ở Bạc Liêu (1976)
Ba truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Ngọc T viết về tình bạn ở đồng quê đã
đ-ợc cha đem gửi ở tạp chí Văn nghệ bán đảo Cà Mau Cả ba đều đđ-ợc đăng báo” Thế
là ngày xuống ao, ra liếp rẫy, tối về chị lại viết say sa
Hiện giờ chị là một viên chức nhà nớc, sinh hoạt tại Hội Văn học nghệ thuật
Cà Mau, đồng thời là một đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau
Năm 2006, Nguyễn Ngọc T đã đợc kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam
1.3.2 Khái quát về sáng tác của Nguyễn Ngọc T
Cho đến thời điểm 2006, Nguyễn Ngọc T cho ra mắt bạn đọc 8 cuốn sách:
Ngọn đèn không tắt (tập truyện – Văn Nxb Trẻ 2000); Ông ngoại (tập truyện thiếu nhi
– Văn Nxb Trẻ 2001); Biển ngời mênh mông (tập truyện - NXB Kim Đồng 2003); Giao
thừa (tập truyện – Văn Nxb Trẻ 2003); Nớc chảy mây trôi (tập truyện và ký – Văn Nxb
Văn nghệ TP HCM 2004); Truyện ngắn Nguyễn Ngọc T (tập truyện – Văn Nxb Văn hoá Sài Gòn 2005); Cánh đồng bất tận - những truyện hay và mới nhất (tập truyện – Văn Nxb Trẻ 2006); Sống chậm thời @ (in chung với Lê Thiếu Nhơn) Nxb Trẻ 2006.
Trang 16Một tác giả mới xuất hiện cha tới một thập niên mà có số lợng tác phẩm nh vậy, lại
là những tác phẩm tạo đợc dấu ấn sâu sắc trong d luận văn học cả nớc đã chứng tỏ
đó là một nhà văn tài năng Điều này cũng phần nào đợc phản ánh qua một số giảithởng văn học mà Nguyễn Ngọc T đã đợc trao: giải Nhất cuộc vận động sáng tác
văn học tuổi 20 lần 2 với tác phẩm Ngọn đèn không tắt năm 2000; giải B – Văn Hội nhà văn Việt Nam với tập truyện Ngọn đèn không tắt 2001; tặng thởng dành cho tác
giả trẻ - ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam – Văn tập
truyện Ngọn đèn không tắt năm 2000, giải Nhất của Hội nhà văn Việt Nam cho truyện Cánh đồng bất tận năm 2006.
Chơng 2
Từ ngữ trong tập Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T
2.1 Nhìn chung về việc nghiên cứu từ ngữ trong tác phẩm
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Đây là điều hiển nhiên, không cần bàn cãi.Tuy nhiên, “tiên đề” ấy vẫn còn rất rộng, cha có giá trị thao tác Muốn hiểu mộtcách sâu sắc, cặn kẽ bản chất thẩm mĩ của ngôn từ trong tác phẩm văn học cũng nhphong cách ngôn ngữ của nhà văn, nhất thiết phải gắn nó với thể loại, bởi mỗi thểloại đòi hỏi một thứ ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ của thể loại ấy Có thể áp dụng quanniệm này để xem xét mọi cấp độ ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, trớc hết là ở cấp
độ từ ngữ
Do những qui định của thể loại, từ ngữ trong văn bản tự sự có những đặc trngriêng, và những đặc trng này dễ thấy nhất khi ta đối sánh từ ngữ trong truyện với từngữ trong thơ
Từ ngữ trong thơ - xét từ góc độ ngôn ngữ học thuần túy - không phải là thứsản phẩm gì xa lạ Đó vẫn là những từ ngữ của đời sống, đợc lấy ra từ cái vốn từ ngữtoàn dân Những từ ngữ ấy đã có nghĩa xác định, và đó là tấm “giấy thông hành” đểchúng luân chuyển, tồn tại trong các ngữ cảnh khác nhau với những ngời sử dụngkhác nhau Nhà thơ không sản sinh ra từ mới trớc đó cha hề có, mà chỉ sử dụngchúng bằng năng lực sáng tạo của mình Có những trờng hợp nhà thơ không hềdùng một từ nào lạ, mà câu thơ, bài thơ vẫn bị xem là “hũ nút”, khó hiểu Cái khóhiểu không phải nằm ở nghĩa tự vị độc lập của mỗi từ, mà ở cấu trúc ngôn từ của
Trang 17văn bản - một kiểu cấu trúc tạo nên những mã, cất giấu những “mật ngữ”, thách
thức cái nhìn của “ngời trần mắt thịt” Xuất phát từ điều này mà nhiều ngời nhất trírằng: nghĩa của từ trong thơ là một thứ nghĩa đợc tạo sinh bởi quan hệ chứ khôngcòn là nghĩa tròn trặn nh trong từ điển
Trong sáng tạo văn học, cách thức tổ chức quyết định sự lựa chọn vật liệu Từngữ trong thơ thờng đợc lựa chọn dới nhiều áp lực: cảm hứng, cá tính sáng tạo, thểthơ, âm luật…Nguyễn Ngọc TThơ càng chặt chẽ về kết cấu, thi luật thì áp lực càng nặng nề Về líthuyết, mọi từ ngữ đều có thể có mặt trong thơ, nhng thực tế, từ ngữ thơ ca nặngtính “đặc tuyển” Khi ngời ta xem mỗi từ trong thơ đều là kết quả của việc đãi lọc từ
“hàng tấn quặng ngôn từ” chính là muốn nhấn mạnh tính chất ấy Một số lớp từ rất
ít có cơ may đợc đa vào thơ Ngay cả thơ hiện đại vẫn cha thoát khỏi tình trạng này.Cho nên, vốn từ cần cho nhà thơ không phong phú bằng vốn từ của nhà tiểu thuyết
Khác với thơ, văn xuôi tự sự có tham vọng tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lícon ngời trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó Ngôn ngữ tự sự là ngôn ngữ củacuộc sống đời thờng Nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậmchí cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ Không phải văn xuôi không cần trau chuốt,nhng sự trau chuốt từ ngữ của một cây bút văn xuôi rất khác với sự trau chuốt củamột nhà thơ Đối với ngời viết văn xuôi tự sự, áp lực rõ nhất là làm sao từ ngữ phảilột tả đợc đối tợng một cách chính xác nhất qua cái nhìn của anh ta
Trong văn xuôi, - Đào Thản viết - ngôn ngữ nghệ thuật có thể đạt tới một độchính xác lí tởng về mặt miêu tả Điều này trớc hết và chủ yếu đợc quyết định bởitài nghệ của nhà văn, song cũng phải kể đến sức mạnh và tiềm năng của phơng tiệnbiểu đạt Không bị ràng buộc, hạn chế bởi đặc trng phong cách, ngôn ngữ nghệthuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu tố phơng tiện, huy động mọi khảnăng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất cho mục đích thẩm mĩ củamình Văn xuôi hiện đại không “phân biệt đối xử” đối với các phơng tiện thể hiện
ở đây không có biện pháp nào đợc đánh giá là tốt hay xấu, trội hơn hay kém hiệulực hơn, mà chỉ có thể đợc a dùng, quen dùng hơn trong những thời kì, xu hớnghoặc tác giả nhất định”
ý kiến này của Đào Thản đã chỉ rõ đặc điểm từ ngữ trong văn xuôi tự sự hiện
đại Do cách tổ chức khá phóng túng, ngôn ngữ tự sự sẵn sàng dung chứa mọi lớp từngữ, mọi cách nói; không phân biệt sang hèn, thanh tục, cao thấp, miễn sao chúngthể hiện tốt nhất dụng ý nghệ thuật của ngời viết
Trang 18Do sự phong phú của nó, từ ngữ trong tác phẩm văn xuôi tự sự vẫy gọi nhiềucách tiếp cận Ngời nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật xem từ ngữ là một trongnhững yếu tố quan trọng tạo nên giọng điệu của một tác giả Nhà từ vựng học thống
kê vốn từ của nhà văn, đặt chúng trong tơng quan với vốn từ của toàn dân ở mộtnhát cắt đồng đại để đa ra nhận xét Nhà ngữ pháp học thì quan tâm đến vấn đề từloại, cách tạo từ trong tác phẩm và đối chiếu với đặc điểm từ loại, đặc điểm cấu tạo
từ trong ngôn ngữ chung Nhà ngữ dụng học quan sát từ ngữ trong tác phẩm của nhàvăn ở sự hành chức của nó, và cắt nghĩa sự hành chức ấy dới ánh sáng của lí thuyếthoặc tìm kiếm những ngữ liệu sống động nhằm củng cố thêm một số vấn đề líthuyết…Nguyễn Ngọc T
Với ngời nghiên cứu phong cách tác giả, mọi cấp độ của ngôn ngữ tác phẩm
dĩ nhiên đều phải nằm trong tầm bao quát, bởi phong cách nhà văn không chỉ biểuhiện qua một yếu tố, một cấp độ riêng lẻ nào Khảo sát từ ngữ để nhận ra những dấu
ấn riêng của một cây bút là khâu không thể bỏ qua trong việc khái quát những đặc
điểm phong cách của một nhà văn Vấn đề là ở chỗ: cái riêng ấy thể hiện qua nhữngbình diện nào của từ ngữ? Đây là câu hỏi không thể lảng tránh Đáng tiếc là trongnhiều công trình lí thuyết phong cách học cũng nh những công trình nghiên cứuphong cách của tác giả cụ thể, câu hỏi này cha đợc trả lời thỏa đáng
Qua thống kê, ngời ta có thể đa ra số liệu chính xác về vốn từ của một cây bút
Sự giàu nghèo trong vốn từ của các nhà văn là hoàn toàn khác nhau, tùy thuộc vàohọc vấn, trình độ văn hóa, sự am hiểu thực tế đời sống, khả năng tích lũy ngônngữ…Nguyễn Ngọc Tcủa từng ngời Từ vựng là vốn chung của một ngôn ngữ Cái gọi là vốn từ củamột nhà văn thực chất là ở chỗ: anh ta đã sử dụng đợc bao nhiêu từ đợc lấy ra từ cáivốn từ ngữ chung của toàn dân Sử dụng chứ không phải “độc chiếm”, bởi vì những
từ mà anh ta dùng, thực tế cũng đã “qua tay” vô số ngời và chúng sẽ còn tiếp tụcxuất hiện trong vô số ngữ cảnh khác nhau Cho nên, xét thuần túy về số lợng, vốn từcủa các nhà văn không giống nhau, dù vậy, đó vẫn cha phải là dấu hiệu của phong
cách Phong cách là vấn đề thuộc phạm trù chất Một nhà văn giàu có về từ ngữ, cha
chắc hiệu quả sử dụng đã có thể sánh đợc với một tác giả có vốn từ khiêm tốn hơn Thực tế đó đặt ra cho ngời nghiên cứu phong cách tác giả một hớng tiếp cậnriêng, đợc cụ thể hóa bằng một số thao tác Thứ nhất, phải xét sâu trong vốn từ ngữcủa đối tợng đợc tìm hiểu để thấy những lớp từ nào đợc a dùng, xuất hiện nhiềutrong tác phẩm nh những yếu tố nổi bật, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, có sự khácbiệt rõ rệt về chất so với những ngời cầm bút cùng thời Thứ hai, phải nắm đợc
Trang 19những trờng diễn ngôn và tơng ứng với chúng là những trờng từ vựng chiếm u thếtrong tác phẩm của nhà văn ấy Thứ ba, phải thấy đợc trong hệ thống từ ngữ của nhàvăn đợc khảo sát, có những đặc điểm gì nổi bật về cấu tạo, về từ loại Cuối cùng,cần đánh giá một cách thỏa đáng những sáng tạo độc đáo của nhà văn trong cáchdùng từ ngữ Những điều cơ bản trên đây sẽ đợc chúng tôi quán triệt khi tìm hiểu hệ
thống từ ngữ trong tác phẩm truyện của Nguyễn Ngọc T qua tập Cánh đồng bất tận.
2.2 Phơng ngữ Nam Bộ trong truyện Nguyễn Ngọc T
2.2.1 Ngôn ngữ dân tộc và phơng ngữ
Ngôn ngữ với t cách là “phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất giữa ngời vớingời” bao giờ cũng thống nhất đối với một xã hội cụ thể Khi xã hội có giai cấp, sựgiao tiếp không thể bó hẹp vào phạm vi một giai cấp mà trớc hết là sự giao tiếp giữacác giai cấp với nhau, cho nên, ngôn ngữ không có tính giai cấp mà phục vụ mọingời nh nhau Vì nó là công cụ giao tiếp với mọi thành viên trong xã hội dù là xãhội cổ xa nh bộ lạc, bộ tộc hay xã hội hiện đại nh dân tộc quốc gia, cho nên về thựcchất ngôn ngữ có tín toàn dân trong mọi giai đoạn phát triển của nó
Ngôn ngữ dân tộc thờng đợc hiểu là “ngôn ngữ chung của cả dân tộc - đó làmột phạm trù lịch sử – Văn xã hội, đợc thể hiện dới hai hình thức: nói và viết”
“Ngôn ngữ dân tộc là ngôn ngữ đợc sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàngngày, không bị hạn chế bởi phong cách và phạm vi sử dụng, ngôn ngữ đợc mọi ngời
trong mọi quốc gia biết chấp nhận và sử dụng” (Hoàng Trọng Canh, Nghiên cứu
đặc điểm từ địa phơng Nghệ Tĩnh, Hà Nội, 2001).
Lịch sử xã hội và ngôn ngữ đã xác nhận rằng sự phát triển của ngôn ngữ gắnliền với sự phát triển của xã hội loài ngời Vì thế khi nói tới ngôn ngữ dân tộc là nóitới những “phạm trù xã hội ngôn ngữ học lịch sử phát triển” Quá trình hình thànhdân tộc đa đến sự hình thành một ngôn dân tộc thống nhất Mỗi ngôn ngữ dân tộc
đề có một sự thống nhất nội bộ Tuy nhiên sự thống nhất của ngôn ngữ dân tộc không có nghĩa là sự đồng nhất – Văn của tất cả các biểu hiện ngôn ngữ trong thực tế.Tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc đợc thừa nhận nh là một bi thuộc tính bảnchất, đồng thời tình trạng tồn tại trong lòng nó - ngôn ngữ dân tộc - những phơngngữ địa lý là phơng ngữ xã hội là sự thực hiển nhiên mà chúng ta có thể quan sát đ-
-ợc trong tiếng việt Nhìn nhận một cách khái quát, nói tới quan hệ ngôn ngữ và
ph-ơng ngữ là nói tới "sự thống nhất trong cái đa dạng trên một căn bản thống nhất"(Hoàng Trọng Canh – Văn tài liệu đã dẫn)
Trang 20Ngôn ngữ cũng nh mọi hiện tợng đều không ngừng biến đổi - sự biến đổi này
có nhiều nguyên nhân
Đứng về phơng diện hoạt động giao tiếp mà nói, ngôn ngữ thay đổi trongtừng vùng dân c là sự thay đổi và tạo ra thói quen nói năng khác các vùng c sânkhác Tập hợp các thói quen khác nhau đó của một vùng dân c so với vùng dân ckhác là tập hợp tạo nên phơng thức của từng vùng Nh vậy nhìn vào sự biểu hiệncủa ngôn ngữ ttên từng khu vực địa lý ta có thể thấy sự khác nhau của các phơngthức rõ ràng không phải là do nguyên nhân địa lý, nguyên nhân sâu xa bên trong là
sự phát triển biến đổi ngôn ngữ Điều kiện địa lý chỉ là nhân tố khách quan bênngoài ngôn ngữ làm cho các khác biệt của ngôn ngữ đợc giữ và thể hiện ra Nếukhông có sự phân bố tách biệt nhau về địa lý thì không có phơng ngữ - nhng đó chỉ
là điều kiện để thay đổi ngôn ngữ đợc biểu hiện phổ biến trong vùng, nhân tố thờigian không cụ thể bằng nhân tố không gian Nhng chính do nhân tố thời gian mà có
sự phân hoá ngôn ngữ
Song sự khác nhau giữa các phơng thức dù lớn đến đâu cũng chỉ là sự khác biệtkhông đáng kể so với ngôn ngữ toàn dân, bởi các phơng ngữ trên căn bản giốngnhau về hệ thống cấu trúc, chúng vẫn dùng chung một mã ngôn ngữ thống nhất, mã(code) chung - hệ thống - cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, câu vị giữa phơng ngữ vàngôn ngữ toàn dân là giống nhau
Theo Hoàng Thị Châu: "Phơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sựbiểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể với những nét khác biệtcủa nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phơng ngữ khác " (Hoàng Thị Châu,
Tiếng Việt trên miền đất nớc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1989).
Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Vơng Toàn nhấn mạnh đến tính hệ thốngcủa phơng ngữ: "Phơng ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp
và ngữ âm tiêng biệt đợc sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn làngôn ngữ " là một hệ thống ký hiệu và quy tắc kết hợp vó nguồn gốc chung với hệthống khác đợc coi là n (cho toàn dân tộc) Các ngữ có ngời gọi là tiếng địa phơng,phơng ngữ) khác nhau trtớc hết là cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng [Hoàng Thị
Châu, Tiếng Việt trên miền đất nớc, NXB khoa học xã hội, Hà nội 1989).
Theo Nguyễn Nhã Bản, Nguyễn Hoài Nguyên, Hoàng Trọng Canh thì "Phơngngữ không phải là ngôn ngữ riêng, nó là biến dạng của ngôn ngữ văn hoá ở một địaphơng cụ thể mà có hai sự đối lập: Đối lập với ngôn ngữ văn hoá và với các ph ơngngữ khác về ngữ âm, từ vựng ngữ pháp" (trong đó đối lập - nét khác biệt rõ nhất làngữ âm)
Trang 21Nh vậy, tuy các tác giả phát biểu không giống nhau nhng chúng ta có thể rút ranhững điểm căn bản thống nhất về phơng ngữ.
Phơng ngữ là một hệ thống biểu thể của ngôn ngữ toàn dân trên một vùng địaphơng, có sự khác biệt ít nhiều về ngữ âm từ vững, ngữ pháp so với ngôn ngữ toàndân Hay nói cách khác, phơng ngữ là sự thể hiện của ngôn ngữ dân tộc trên mộtvùng địa lý dân c nào đó (nh một vài tĩnh) có sự khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân
2.2.2 Từ địa phơng Nam Bộ trong tập truyện Cánh đồng bất tận của
Trong văn học nghệ thuật, phơng ngữ đợc dùng với dụng ý tu từ học Khinhững từ đó biểu đạt tính chân thực của hình tợng, tâm lý, tính cách con ngời ở từngvùng, miền, tóm lại là có sắc thái vùng miền rõ nét Trong thơ ca dân gian, đặc biệt
là thơ ca hiện đại, nhiều nhà thơ đã sử dụng phơng ngữ có giá trị thẩm mĩ
Trong lĩnh vực truyện ngắn, nhiều nhà văn đã sử dụng phơng ngữ với dụng ý tu
từ để chuyển tải những nội dung nhất định Nhng cũng có một vài tác phẩm đã quálạm dụng, đã không làm rõ sắc thái địa phơng thậm chí gây cho ngời độc một cảmgiác khó chịu vì dùng những phơng ngữ không đúng chỗ chẳng hạn trong tiểu
thuyết Con trâu của Nguyễn Văn Bổng.
Bùi Việt Thắng trong Bài học văn chơng từ Cánh đồng bất tận (Tạp chí
Nghiên cứu Văn học số 7 tháng 7 năm 2006) đã có ý kiến về việc sử dụng phơng
ngữ trong truyện của Nguyễn Ngọc T nh sau: “là một nhà văn Nam Bộ, dĩ nhiênngôn ngữ văn chơng của Nguyễn Ngọc T phải mang một sắc thái vùng miền Theoquan sát, chúng tôi thấy có những nhà văn Nam Bộ nh Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam,
Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức…Nguyễn Ngọc T ngoài việc giữ cho ngòi bút có “chấtNam Bộ” họ vẫn cố gắng để “quốc gia hoá”ngôn ngữ văn chơng Nguyễn Ngọc Ttrong truyện ngắn có xu hớng lạm dụng từ ngữ địa phơng, cái mà các nhà ngôn ngữhọc gọi là phơng ngữ
Theo ông Bùi Việt Thắng, “Ngôn ngữ vừa là phơng tiện vừa là mục đích sángtác văn chơng Tôi nghĩ nếu Nguyễn Ngọc T mới chỉ coi nó là phơng tiện thì cũngcần phải có công sức nhiều hơn nữa để mài giũa, nâng cao làm cho tác phẩm củamình vợt qua đợc “lời ăn tiếng nói”, vợt qua đợc “vùng miền” Đi ra biển phải đóng
Trang 22tàu to, phải trang bị hiện đại hơn là đi trong kênh rạch Nguyễn Ngọc T đang đi từtrong kênh rạch ra biển lớn, thiết nghĩ, nhà văn phải có ý thức lao động nghệ thuậtnhiều hơn nữa để cho tác phẩm của mình trở thành “tài sản quốc gia”.
Ông Trần Thiện Khanh không đồng tình với Bùi Việt Thắng ở điểm này: “ÔngBùi Việt Thắng yêu cầu ngôn ngữ của một của một chất giọng Nam Bộ phải đợc
“quốc gia hoá ”, chứ không đợc sử dụng “dĩ ngữ quá đặc thù vùng miền” Hoá ra,Bùi Việt Thắng đã xoá nhòa cá tính sáng tạo của chủ thể thẩm mỹ, ông muốn mọitác phẩm phải giống nhau nh đúc khuôn, ngay cả về hệ từ vựng và ngữ pháp Đòihỏi của Bùi Việt Thắng có phần ảo tởng?
Cánh đồng bất tận có ngôn ngữ, giọng điệu, sắc thái, cấu trúc riêng của mình,
không thể cô lập Cánh đồng bất tận khỏi phơng ngữ Nam Bộ nh Bùi Việt Thắng cố
gắng làm, không nên đo thế giới của Nguyễn Ngọc T bằng kích thớc ngôn ngữ khá.Chế tạo một ngôn ngữ đặc biệt, hoặc đem cách diễn đạt của ai đó gắn cho NguyễnNgọc T, bắt buộc chị làm theo, là ý đồ không thể thực hiện đợc ý tởng về mộtngôn ngữ thống nhất và duy nhất đối với sáng tác văn chơng của Bùi Việt Thắng
nh một điều không tởng, trên thực tế xa rời sáng tác văn học nghiêm túc nhất vàtriệt tiêu bản sắc cá nhân, phủ nhận tố chất vùng vốn là nguồn bổ sung góp phần tạothành đờng nét cụ thể trên diện mạo một cá tính sáng tạo
Trên thực tế, ta thấy trong tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc T đã rất khéo léo
sử dụng những phơng ngữ Nam Bộ với dụng ý tu từ rõ rệt, làm nên dấu ấn mộtphong cách Ông Trần Hữu Dũng – Văn một giáo s kinh tế mê văn học nớc nhà và yêuvăn chơng của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc T đã nhận xét về việc sử dụng phơng ngữ
trong tập truyện Cánh đồng bất tận nh sau:
“Nguyễn Ngọc T ngòi bút trẻ ấy, rõ ràng đã đợc tạo một chỗ đứng khu biệt chomình Nhiều ngời cho rằng: cái độc của Nguyễn Ngọc T là sự chân chất mộc mạctuôn ra từ mỗi truyện cô viết Đúng, song trớc hết, cái đầu tiên làm ngời đọc choángváng (cái thích thú) là nồng độ phơng ngữ miền Nam trong truyện của NguyễnNgọc T Nếu bạn là ngời Nam và nhất là bạn là ngời xa quê hơng lâu năm, thì chỉnhững chữ mà Nguyễn Ngọc T dùng cũng đủ làm bạn sống lại những ngày thơ ấu
xa xôi ấy Từ vựng của Nguyễn Ngọc T không quý phái hay độc sáng (nh của MaiNinh chẳng hạn) nhng đối nghịch đó là một từ vựng dân dã, lấy thẳng từ cuộc sốngchung quanh”
Sự phong phú của phơng ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc T là tích tụ củamột thính giác tinh nhạy và trọn vẹn: nghe và nhớ”
Trang 23Dựa vào số lợng âm tiết ta có thể phân chia phơng ngữ trong tập truyện Cánh
đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T :
- Từ đơn tiết: nầy, nì, má, mùng, bây, ghen, ngó, coi, mày, ảnh …
- Từ đa tiết: mùa chớng, tự bây, ấm rân, cắc củn, ờ há, ờ hen, mất tiêu, …
- Dựa vào đặc điểm từ loại có thể phân chia làm 3 nhóm:
- Nhóm từ xng hô: má, ảnh, ba, nầy, …
- Nhóm từ tình thái: nghen, heng, heng, chớ, …
- Nhóm động từ, danh từ, tính từ chỉ sự vật hiện tợng tính chất: Thiệt, mét, vô,
ghe, té, chiên…
Tuy nhiên, cần thấy một điều rằng tỷ lệ phơng ngữ đợc nhà văn Nguyễn Ngọc
T sử dụng trong mỗi truyện là rất khác nhau.Có những truyện tác giả sử dụng rất ítphơng ngữ, nhng cũng có truyện lại có số lợng phơng ngữ rất lớn Có thể thấy đợc
điều đó qua bảng thống kê sau:
Bảng 1: Thống kê số lợng từ địa phơng trong một số truyện của Nguyễn Ngọc T
Nét đặc sắc của Nguyễn Ngọc T thể hiện trong tập truyện Cánh đồng bất tận
trớc hết ở số lợng từ địa phơng Nam Bộ đợc sử dụng Chính điều này đã góp phần tô
đậm màu sắc địa phơng (vùng miền) cho nhân vật, cho tác phẩm một cách hợp lý.Tuy nhiên, sự hấp dẫn của truyện Nguyễn Ngọc T không chỉ ở kho từ vựng miềnNam dồi dào của cô, mà còn ở chỗ sử dụng phơng ngữ tối đa và đúng vào nhng câuchuyện thật “miền Nam” Đó là miền Nam của tỉnh lẻ, của ruộng vờn và nhất là củasông của ma Đó là miền Nam đã thái bình nhng vẫn còn dấu chiến tranh - không ở
sự điêu tàn vì bom đạn mà ở nhng vết thơng trong đời ngời
- Trong cách lựa chọn tình tiết, cốt truyện, Nguyễn Ngọc T đã trung thành(một cách khó giải thích) với cách “tình tự ” Nam Bộ của quê hơng cô Chỉ những
Trang 24ngời sống và lớn lên ở một địa phơng, thật sự mến yêu họ hàng làng xóm của mình,mới thể hiện tình tự với quê hơng mình đợc nh thế Và bởi đâu cũng có cái đặc thùlại là cái phổ quát nhất Sự cá biệt của phơng ngữ, khi đợc sử dụng để diễn tả nhữngtình tự phổ quát của con ngời, có khả năng vạch ra cái chung của cái riêng
Nh vậy việc khảo sát, phân tích ở trên, chúng ta nhận thấy rằng Nguyễn Ngọc
T không những có vốn từ địa phơng phong phú, đa dạng, điều đáng khâm phục làNguyễn Ngọc T rất am hiểu vốn từ địa phơng (phơng ngữ Nam Bộ ), nơi chị sống vàsáng tác Trớc dó ta đã bắt gặp các nhà văn Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, NguyễnThi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng…Nguyễn Ngọc T cũng đều sử dụng phơng ngữ Nam Bộ trongsáng tác của mình và đạt hiệu quả nghệ thuật cao Nguyễn Ngọc T đã kế thừa mộtcách sáng tạo những thành tựu của những ngời đi trớc Chị đã đa vào tác phẩm cáihơi thở nóng hổi của cuộc sống đơng đại
2.3 Từ ngữ thuộc phong cách sinh hoạt trong truyện CĐBT
2.3.1 Khái niệm phong cách sinh hoạt
“Phong cách sinh hoạt hàng ngày là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớpphát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện vai trò của ngời giao tiếp trong sinh hoạthàng ngày Nói cụ thể hơn, đó là vai của ngời ông, ngời bà, vai của bố, mẹ tất cảnhững ai với t cách cá nhân trao đổi t tởng, tình cảm của mình với ngời khác”
Ngôn ngữ đợc sử dụng trong phong cách SHHN tồn tại cả ở hai dạng nói vàviết, mà dạng nói là chủ yếu Tồn tại dới dạng nói là những lời trò chuyện, tâm sự,thăm hỏi, trao đổi, nhận xét đánh giá phân tích triết lý Tồn tại dới dạng nói lànhững dòng th ngắn báo tin, chào hỏi, nhăng lu niệm tâm tình những đoạn nhật
ký
Ngôn ngữ trong phong cách SHHN trở thành nơi quy tụ những tinh hoa củatiếng nói dân tộc Chính ngôn ngữ trong phong cách hội thoại đa dạng, phong phú,nhiều tính chất tu từ là cái nguồn vô tận đã tạo nên một nền văn học đẹp đẽ Trongsáng tác văn học, những từ hội thoại đợc nhà văn sử dụng nh một công cụ loại hạinhất để miêu tả, tái tạo cuộc sống thực
2.3.2 Từ ngữ thuộc phong cách sinh hoạt trong Cánh đồng bất tận
Tập truyện CĐBT NNT sử dụng nhiều từ sinh hoạt Hàu hết từ thuộc loại này
đợc nhà văn sử dụng trong lời thoại nhân vật, ví dụ: truyện Hiu hiu gió bấc:
- Đứa nào hỗn hào, lời biếng, má nó biểu lại coi thằng hết kia
- Cái Hằng mê cờ tới mất vợ, không vợ?
- Mô gì nh Hằng hết mê cờ
Trang 25- Bộ hết ngời rồi sao, con.
- ăn rồi, ăn cơm với thằng Hết rồi
- Bữu nào anh hết cũng chổng mông thổi lửa
- Ngời đàn bà cho anh bú thép, để con khóc ngoe ngóe trên giờng, chớ ầu
ơ cây khô đâu dễ mọc chồi
- Trá đầu bạc một thằng con đầu xanh chạy cà tơng đuổi nhau vòng qua mấy
me già ngoài mé lộ
- Anh hết lỏng đợc vào hả má?
- ừ, tao chê chỗ nào bây giờ
- Thằng Hết đợc, hiền, giỏi giang chịu khó lại hiếu thảo Nhng nó nghèo quá,thân sở không một cục đất chọ chem, biết có lo cho bây sung sớng đợc không Bâyquen đợc tn tức mà"
- Xè nè! Chốt! Pháo nè! Bụp, chiếu hả, thằng ma cà bồng, tao chiếu cho mấy
đờng"
Việc sử dụng từ ngữ thuộc phong cách sinh hoạt là hết sức phổ biến trong tập
truyện Cánh đồng bất tận ói chung, việc sử dụng từ hội thoại làm cho giọng văn
truyện của Nguyễn Ngọc T thoải mái hơn, tự do phóng khoáng hơn, làm cho lời nói,sinh động cụ thể hơn, tạo sự gần gũi, thân mật ngời đọc nh đợc trực tiếp tiếp xúc vớinhân vật, nghe nhận vật nói nh nghe ngời bạn mình nói Những từ sinh hoạt đó th-
ờng xuất hiện nhiều trang tập truyện Cánh đồng bất tận đặc biệt là những truyện tản
mạn về tình cảm, vì vậy nó lại càng thân mật gần gũi hơn với những ai cùng lứatuổi, cùng những câu chuyện xảy ra ở lứa tuổi
Các giọng đời thờng nh vậy cũng tăng lên
Việc dùng từ ngữ thuộc phong cách sinh hoạt cũng góp phần tạo nên giọng
điệu riêng trong truyện Nguyễn Ngọc T
2.4 Đặc điểm cụm từ trong tập truyện Cánh đồng bất tận
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, NXB GD 2002, Đỗ Thị Kim Liên định
nghĩa: "Cụm từ: là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định những cha thành câu" Đây Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này chúng tôi chọn quan niệm nêu trên Theo sự lí giải của tác giả công trình này, cụm từ gồm 3 đặc
điểm:
Trang 26+ Về số lợng từ: lớn hơn có thể là 2 từ nhỏ hơn câu.
+ Về chức năng: giữa các từ có quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp.
+ Về chức năng: cụm từ tham gia cấu tạo câu, vì vậy chúng thờng đảm nhận một chức vụ ngữ pháp trong câu nh: trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ,
định ngữ…
Chúng tôi đã khoả sát: 345 cụm từ trong tổng số 3 truyện của Nguyễn Ngọc T
và đợc phân loại nh sau (xem bảng 2)
Bảng 2: Số cụm từ trong một số truyện của Nguyễn Ngọc T
Tên tác phẩm Tổng số cụm Cụm danh từ Cụm động từ
Hiu hiu gió bấc 124 36 88
Nhìn vào bảng 1, chúng ta thấy trong 3 truyện của Nguyễn Ngọc T, cụm động
có tần số xuất hiện nhiều gấp 3 lần cụm danh Chúng tới lấy kết quả ở bảng 1 làmcơ sở để phân loại sâu bản ở các phần sau nhằm tìm ra đặc điểm cụm từ trong tậptruyện CĐBT của Nguyễn Ngọc T
2.4.1 Đặc điểm cụm danh từ
- Mô hình của cụm danh từ:
Phần đầu Phần trung tâm Phần cuối
Từ chỉ
tổng thể
Từ chỉ ợng
l-Từ chỉxuất
Từ chỉ ởvị
Danh từ Định ngữ Đại từ chỉ
định
Khi khảo sát cụm danh từ trong tập truyện CĐBT, cụ thể là trong 3 truyện: Hiu
Hiu quả bấc, Nhà cổ, Nhớ sông, chúng tôi thấy cụm danh từ trong 3 truyện này
th-ờng thiếu phần phụ, đều chủ yếu là thành phân trung tâm Điều đó có nghĩa là cụmdanh từ mà Nguyễn Ngọc T sử dụng trong tập truyện của mình có đặc điểm chỉ đểnhằm nhấn mạnh phần trung tâm đối tợng mà Nguyễn Ngọc T muốn nói tới, chẳng
hạn: những hàng cây đựng đỉnh xanh, từng tất đất ở cái xóm mới, bao nhiêu thơng
nhớ, những bò rào râm bụt xanh, những tra nắng tốt, những tối trời ma, những ngời
đàn bà cho anh bú thép, một mùa gió bấc nữa, những buổi tối, hai đứa con gái ông, những đám chùm gọng, những rạng sóng, đám đàn bà con gái…
Trang 28Đặc biệt trong tập truyện Cánh đồng bất tận, của Nguyễn Ngọc T, cụm động từ
đợc sử dụng có những nét riêng Khảo sát cụm động từ trong tập truyện CĐBT nói
chung và trong 3 truyện: Hiu hiu gió bấc, Nhớ xa, Nhà cổ nói riêng, chứng tôi thấy
cụm động từ trong tập truyện CBĐT của Nguyễn Ngọc T có đặc điểm nh sau: hầu
nh không có phần phụ trớc mà chí có phần trung tâm và phần phụ sau, ở đâyNguyễn Ngọc T chỉ đi sâu vào thể hiện hoạt động, diễn biến của đối tợng, nhân vậtcủa mình mà thôi không chú ý vào việc sử dụng cụm từ sao cho đầy đủ thành phần
Ví dụ: kêu vọng qua bên đá, búng ngón tay nghê kêu bần bộp, nhờng qua nhờng lại
hoài, học hành lỡ dở, Vỗ tay cời, ôm cháu vô lòng, ngận nguùi thơng ngời, quyết giữ cho bằng đợc, có đợc chút vốn học hành nhỏ nhoi, chực rơi nớc mắt, vẹt mớ bánh kẹo …Nguyễn Ngọc T
Qua những bảng thấy kê trên ta thấy Nguyễn Ngọc T sử dụng chủ yếu là cụm
động từ và cụm danh từ, nhng số lợng cụm động từ đợc Nguyên Ngọc T sử dụngnhiều hơn cụm danh từ
Việc sử dụng cụm từ cũng góp phần thể hiện có tính sáng tạo của NguyễnNgọc T, đồng thời thể hiện đợc những suy nghĩ, xung đột trong thế giới nội tâm củanhân vật
2.4.2 Sử dụng cụm từ cố định (thành ngữ)
2.4.2.1 Khái niệm
Thành ngữ là nguồn liệu quý giá, và là đối tợng nghiên cứu của nhiều ngànhkhoa học: Forcore, sử học, dân tộc học, tâm lý học, phong tục học, ngôn ngữ học,văn học, văn hoá học, xã hội học
Dơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (in lần hai tại Hà Nội, 1951)
định nghĩa:"Thành ngữ chỉ là những lời nói sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gìhoặc tả là trạng thái gì cho có màu mè" Còn Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ cadao dân ca Việt Nam thì quan niệm: "Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một
bộ phận của câu mà ngời đã quen dùng, nhng tự nó không diễn đợc một ý trọn vẹn"Nhìn chung, các tác giả đã cho chúng ta một cách hiểu chung về thành ngữ, giúp tanhìn nhận lại khái niệm này trên cả 2 phơng diện nội dung và hình thức Tuy nhiên
để thuận tiên cho quá trình khoả sát thống kê, làm xáng tỏ vấn đề, chúng tôi xemthành ngữ là chất liệu văn vần dân gian Đó là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩahàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên Nó bền vững về mặt cấu tạo, bóngbẩy về nghĩa Với 1 hình thức ngắn gọn nhng giàu hình ảnh Thành ngữ đợc sử dụngrộng rãi, giàu giá trị biểu cảm Thành ngữ thờng có vấn và nhịp, vần và nhịp của
Trang 29thành ngữ, đã tạo nên âm điệu nhịp nhàng, giàu nhạc tính, tạo nên sự vững vàng, ổn
định trong cấu trúc
2.4.2.2 Thành ngữ trong tập truyện Cánh đồng bất tân
Thành ngữ có cấu trúc đơn giản, lại đợc diễn đạt bằng những từ ngữ, hình ảnhgần gũi với cuộc sống của con ngời nên nó thờng dễ nhớ, dễ hiểu, nó tránh đợc sựtối nghĩa Thành ngữ là sự cô đúc, sự rút gọn từ chính con ngời, từ chính cuộc đờinên đó còn là một cách triết lý về cuộc đời của ông cha ta
Đứng ở góc độ khách quan đến tối đa, Nguyễn Ngọc T luôn phản ánh mọi vấn
đề đúng nh nó Vì vậy, tác giả cần có một phơng tiện chuyển tải rành mạch đảm bảoyêu cầu khách quan đó Nguyễn Ngọc T rất tài tình khi để cho nhân vật sử dụng yếu
tố này vào lời thoại, tác phẩm Vì nó là sự chiêm nghiệm, sự đúc kết từ ngàn đời naynên nó tạo đợc niềm tin, tạo sự tin tởng cho ngời nghe, nó chính sự xác thực của lờinói, rằng không phải chỉ "tôi nói","anh nói" mà "cha ta đã nói"
Thành ngữ đợc vận dụng vào trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc T rấtlinh hoạt và có sự biến hoá Tuỳ vào tính cách và hoàn cảnh của từng nhân vật mà
nó đem đến những ý nghĩa, nội dung khác nhau:
+ Sự thể hiện sự tình
Ví dụ:
- Trăm năm ai chớ bỏ ai, chỉ thêu nên gấm sắt mài nên kim (Huệ lấy chồng).
- Cây khô đâu dễ mọc chồi (Hiu hiu gió bấc)
- Thân sơ thất sở (Hiu hiu gió bấc)
Mục đích của việc sử dụng thành ngữ trong trờng hợp này là để thuyết phụcvấn đề gì, một mục đích gì thì nhân vật sử dụng thành ngữ hay nói khác đi NguyễnNgọc T đã để cho nhân vật của mình sử dụng những thành ngữ nh một cách nói tự
nhiên trong giao tiếp Chẳng hạn, trong truyện Hiu hiu gió bấc, ngời mẹ của chị
Hoài để thuyết phục chị Hoài rời bỏ anh Hết đi lấy chồng, mẹ chị đã dùng thành
ngữ: thân sơ thất sở để khuyên chị Hoài.
Hoặc trờng hợp bố của anh Hết không chịu lấy vợ hai khi mà mẹ anh Hết chết,
để sống nh vậy nuôi anh hết thì ông đã dùng thành ngữ Cây khô đâu dễ mọc chồi để
nói với mọi ngời
+ Thể hiện tính cách nhân vật
Nguyễn Ngọc T đã sử dụng một số thành ngữ trong tập truyện CĐBT để thể
hiện tính cách, bản chất nhân vật Ví dụ: Truyện Dòng nhớ, để thể hiện tính cách
bản chất nhân vật cha của nhân vật tôi trong tác phẩm, Nguyễn Ngọc T đã sử dụng
Trang 30cách, bản chất hiền lành của nhân v ật Hết, Nguyễn Ngọc T đã sử dụng thành ngữ:
“Tên sao thi ngời vậy”, “Chịu thơng chịu khó”, hoặc một nhân vật khác trong truyệnNhà cổ là con ngời “ruột để ngoài da”
sự bóp méo qua lời nhân vật để nói đến vấn đề nhân sinh Hầu hết các truyện trongtập truyện CĐBT, nhà văn Nguyễn Ngọc T đã sử dụng thành ngữ xuất hiện củamình dụng ý nghệ thuật Việc sử dụng thành ngữ trong tác phẩm đã góp phần tăngtính minh xác cho lời nói, đồng thời đảm bảo tính khách quan trong câu chuyện.Trong quá trình khảo sát, thống kê chúng tôi nhận hầu hết các truyện trong tậptruyện CĐBP của Nguyễn Ngọc T đều sử dụng thành ngữ, sau đây là bảng thống kê
về một số chuyện tiêu biểu sử dụng khá nhiều thành ngữ
Bảng 3: Thành ngữ trong một số truyện của Nguyễn Ngọc T
Cải ơi Chui ra chui vào, Chết bờ chết bụi, Héo queo héo quắt,
Chỗ nầy ló mặt đằng kia, Nớc đổ trắng trời, Vò võ mộtmình
Thơng quá rau răm Dậm chân dậm cẳng, Bứt đầu gãi tóc
Hiu hiu gió bấc Cây khô đâu dễ mọc chồi, Chịu thơng chịu khó, Tên sao
thì ngời vậy, Nghĩa biết trọng mà tình cũng thâm, Hiệp sĩ
mù nghe kiếm gió
Huệ lấy chồng Trăm năm ai chớ bỏ ai, chỉ thêm nên gấm, sắt mài nên
kim, làng trên xóm dới
Nhà cổ Ruột để ngoài da, Bù rau bù nớc
Tổng : 5 tác phẩm 22 thành ngữ
- Hình thức cấu tạo
Thành ngữ trong tập truyện Cánh đồng bất tận đợc xây dựng khá linh hoạt.
Qua khảo sát chia ra thành hai nhóm sau:
Nhóm 1: Dùng nguyên câu
Chịu thơng chịu khó (Hiu hiu gió bấc).
Thân sơ thất sở (Hiu hiu gió bấc).
Ruột để ngoài da (Nhà cổ).
Trang 31Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh (Dòng nhớ).
Đứng núi nầy trông núi nọ (Dòng nhớ).
Nhóm 2: Dùng một bộ phận trong câu:
+ Có từ chêm xen:
Tên sao thì ngời vậy
(Hiu hiu gió bấc)
Nghĩa biết trọng mà tình cũng thâm
(Hiu hiu gió bấc)
Nguyễn Ngọc T đã đa những thành ngữ này vào trong câu văn của mình mộtcách tự nhiên, không gợng ép, Trong sáng tác, Nguyễn Ngọc T cũng chịu ảnh hởng
ít nhiều của văn học dân gian, trên cơ sở thành ngữ của văn học dân gian, giữnguyên hoặc biến hoá để thích nghi một cách tự nhiên vào lời văn của mình tạo nêntính chất phác của hình tợng nhân vật
Đa thành ngữ vào trong tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc T có những đónggóp tích cực vào sự phát triển của văn học đơng đại Điều đặc biệt là Nguyễn Ngọc
t đã vận dụng một cách tự nhiên, không gò gẫm, đơn giản mà khoáng đạt, đạm bạc
mà có ý vị
Chơng 3
Câu văn trong tập truyện Cánh đồng bất tận