Giới thiệu 1 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan và khoảng trống cho nghiên cứu 7 1 Các công trình nghiên cứu vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường 7 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 7
Vốn xã hội ngày càng được công nhận là yếu tố quan trọng, dẫn đến nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước áp dụng lý thuyết này vào các lĩnh vực như xã hội học, chính trị, lịch sử và kinh tế Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu, tác giả chia thành hai nhóm chính về ảnh hưởng của vốn xã hội đối với hoạt động sản xuất của hộ gia đình và đơn vị kinh doanh: (1) tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận thị trường và (2) tác động của vốn xã hội đến hiệu quả kinh tế của hộ gia đình.
1.2.1 Các công trình nghiên cứu vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường
1.2.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài, tính đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường đầu vào và đầu ra hộ gia đình Điển hình: Emmanuel & Charles (2012) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận kênh thị trường cà chua của nông dân ở quận Chinamora, Zimbabwe; Joseph & Stein (2014) về mối quan hệ giữa vốn xã hội, các cú sốc và đầu tư chăn nuôi tại Masaka, Uganda; và Hillary at al (2015) nghiên cứu vốn xã hội ảnh hưởng đến đến năng suất và tiếp cận thị trường giữa các nông dân nhỏ tại Pháp Nhìn chung các nghiên cứu đã sử dụng các dạng của phương trình hồi quy để đánh giá kết hợp vốn xã hội và các đặc điểm hộ gia đình tác động đến khả năng tiếp cận thị trường nói chung Các tác giả đã xây dựng, đo lường vốn xã hội dựa trên các nghiên cứu Coleman (1988, 1990), Putnam (1993, 2000), Narayan & Pritchett (1997),… Thực vậy, trong nghiên cứu của mình, Emmanuel & Charles (2012) đã đề cập đến vốn xã hội với yếu tố thành viên hợp tác xã và các hiệp hội mở rộng mà hộ gia đình hợp tác, tham gia có tác động đến khả năng tiếp cận chọn lựa chọn thị trường Tương tự, Joseph & Stein (2014) đã sử dụng số lượng thành viên trong gia đình tham gia vào các tổ chức tại địa phương, và thời lượng mà họ sinh hoạt tại các tổ chức này để đo lường vốn xã hội Kết quả điều tra cho thấy vốn xã hội góp phần làm tăng khả năng tiếp cận, chuyển giao, chia sẻ thông tin về thị trường và các cơ hội khác So với Emmanuel & Charles (2012) và Joseph & Stein (2014), Hillary at al (2015) đề xuất các yếu tố đo lường vốn xã hội tương đối chặt chẽ hơn: Sự đa dạng của các chủ thể trong mạng lưới, mật độ thành viên, chỉ số tham dự cuộc họp, chỉ số ra quyết định và chỉ số tin cậy Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số tin cậy và tham dự cuộc họp đã ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và khả năng tiếp cận thị trường của hộ gia đình nông dân Đến đây có thể thấy rằng các nghiên cứu đã nêu rõ cấu trúc và chất lượng của vốn xã hội Cấu trúc mạng lưới: Sự đa dạng của các chủ thể trong mạng lưới, số lượng thành viên; chất lượng mạng lưới: tần suất tham gia, chỉ số tin cậy, chỉ số ra quyết định Tuy nhiên các nghiên cứu này vẫn chưa phân biệt rõ cấu trúc mạng lưới xã hội của hộ gia đình.
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu tác động của vốn xã hội và thị trường tín dụng, đất đai, lao động,… như sau:
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận thị trường tín dụng, điển hình là nghiên cứu của Sadick et al (2013) về nông dân Ghana, với các yếu tố đo lường vốn xã hội như giờ kết nối mạng, chi phí hiếu khách, và thành viên hiệp hội doanh nghiệp Kết quả cho thấy các yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân So với nghiên cứu của Hillary et al (2015), phương pháp đo lường của Mohammed et al (2013) chưa đầy đủ, chỉ tập trung vào cấu trúc mạng xã hội mà không đề cập đến chất lượng Nghiên cứu của Togba (2009) và Heikkilọ et al (2016) cũng nhấn mạnh vai trò của niềm tin và lòng tin vào cộng đồng trong việc tiếp cận các loại hình tín dụng khác nhau, cho thấy vốn xã hội có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn nguồn tín dụng chính thức và phi chính thức Togba (2009) cho rằng thiếu niềm tin làm giảm khả năng chọn tổ chức tài chính, trong khi Heikkilọ et al (2016) khẳng định lòng tin giữa các cá nhân không phải là yếu tố quyết định trong việc tiếp cận tín dụng.
Năm 2012, Joseph & Stein và năm 2014, Hillary cùng các tác giả khác đã đưa ra yếu tố lòng tin cộng đồng để đo lường vốn xã hội Các nghiên cứu của Lawal và cộng sự (2009), Ajani & Tijani (2009), Balogun và cộng sự (2011), cùng Masud & Islam (2014) đã xem xét vai trò của vốn xã hội trong việc tiếp cận tín dụng vi mô của hộ gia đình nông dân tại Ekiti State, Nigeria và Sylhet, Bangladesh Những nghiên cứu này áp dụng các mô hình Tobit và Probit để đánh giá tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận tín dụng, với các tiêu chí đo lường bao gồm sự đa dạng của các chủ thể trong mạng lưới, mật độ thành viên, chỉ số ra quyết định, và mức độ tham gia của hộ gia đình trong các hiệp hội Wydick và cộng sự (2011) cũng đã xác định các thành phần của vốn xã hội như tính đồng nhất, tần suất kết nối mạng lưới, mức độ tin cậy, hành động tập thể và sự tôn trọng hợp đồng, trong đó mức độ tin cậy lẫn nhau được coi là yếu tố quan trọng Kết quả từ các nghiên cứu cho thấy các tiêu chí đo lường vốn xã hội đã đóng góp đáng kể vào khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình nông thôn.
Vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức nông nghiệp, như được chứng minh trong nghiên cứu của Barnabas và các cộng sự.
Nghiên cứu năm 2015 với 107 hộ nông dân chăn nuôi cho thấy rằng việc tham gia tích cực vào mạng lưới xã hội, bao gồm các nhóm tín ngưỡng như Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, và các tổ chức xã hội chính thức, giúp hộ nhận được sự hỗ trợ về kiến thức chăn nuôi từ cộng đồng Tương tự, Arlette et al (2016) đã chỉ ra vai trò của vốn xã hội trong việc thúc đẩy luồng kiến thức và đổi mới trong các cộng đồng nông dân nhỏ ở Caribê Mạng lưới xã hội của hộ nông dân, bao gồm đồng nghiệp, hàng xóm, bạn bè, thương lái và cán bộ khuyến nông, đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận thông tin kiến thức Nghiên cứu cũng cho thấy rằng mạng lưới xã hội góp phần tạo điều kiện trao đổi kiến thức, tăng khả năng tiếp cận thông tin và kết nối nông dân với các nguồn hỗ trợ.
1.2.1.2 Các nghiên cứu trong nước Đối với các nghiên cứu trong nước đã được tác giả sưu tầm, tổng hợp và chia làm 2 nhóm: vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường; mối quan hệ xã hội, mạng lưới xã hội và khả năng tiếp cận thị trường
Vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường tại Việt Nam còn khá mới mẻ Công trình của Nguyễn Trọng Hoài & Trần Quang Bảo (2014) đã khảo sát ảnh hưởng của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận tín dụng của 3.000 hộ gia đình nông thôn, kế thừa từ các nghiên cứu trước đó của Coleman, Putnam, Portes và Lin, với ba thành phần chính: mạng lưới xã hội chính thức, mạng lưới phi chính thức và niềm tin Kết quả cho thấy mạng lưới quan hệ xã hội chính thức có tác động ngược chiều đến khả năng tiếp cận tín dụng Nghiên cứu của Trần Văn Cường (2017) lại chỉ ra rằng vốn xã hội của nông dân thể hiện qua các mối quan hệ gia đình, dòng họ và sự tham gia vào tổ chức xã hội, cho thấy mối liên hệ tích cực giữa số lượng mối quan hệ xã hội và khả năng thu thập thông tin, tiếp cận thị trường Cả hai nghiên cứu đã phân chia cấu trúc vốn xã hội thành mạng lưới chính thức và phi chính thức, nhấn mạnh vai trò của các tổ chức và nhóm liên kết trong việc nâng cao khả năng tiếp cận thị trường cho nông dân.
Mạng lưới xã hội và khả năng tiếp cận thị trường
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa mạng lưới xã hội và khả năng tiếp cận thị trường của hộ gia đình, như nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi & Mai Văn Nam (2014) về 236 nông hộ trồng khóm ở Tiền Giang, hay La Nguyễn Thùy Dung & Mai Văn Nam (2015) về hộ sản xuất lúa ở An Giang Phan Xuân Lĩnh (2016) cũng đã nghiên cứu nguồn lực sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số Các tác giả nhấn mạnh rằng việc tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội địa phương như Hội Nông dân hay Tổ chức khuyến nông, cùng với mối quan hệ xã hội với cộng đồng, giúp hộ gia đình nhận được hỗ trợ trong sản xuất, bao gồm thông tin kỹ thuật, vay vốn và cải thiện khả năng tiếp cận thị trường.
Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa tại Hậu Giang và Sóc Trăng đã được thực hiện bởi hộ gia đình nông dân Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành Những ứng dụng này không chỉ nâng cao năng suất mà còn cải thiện chất lượng lúa, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp tại địa phương.
Nghiên cứu của Trịnh Thanh Nhân (2016) và năm 2014 đã chỉ ra rằng tổ chức đoàn thể xã hội, sự quan tâm của chính quyền địa phương, cán bộ khuyến nông, cùng với đại lý phân phối vật tư nông nghiệp đều ảnh hưởng đến việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất của hộ gia đình Hơn nữa, các tác giả Nguyễn Phượng Lê cũng đã làm rõ mối quan hệ giữa xã hội và thị trường tài chính của hộ gia đình nông dân.
Nguyễn Mậu Dũng (2011), Trần Ái Kết & Huỳnh Trung Thời (2013), Phan Đình Khôi
Nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh và Trương Thị Phương Thảo (2013, 2014) chỉ ra rằng việc tham gia vào các tổ chức xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên, cùng với mối quan hệ xã hội từ người thân làm việc tại các cơ quan nhà nước cấp xã, huyện, tỉnh, và các tổ chức tín dụng, có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận thị trường tín dụng Mặc dù không đề cập trực tiếp đến vốn xã hội, nghiên cứu đã chứng minh rằng cả mạng lưới xã hội chính thức và phi chính thức tại Việt Nam đóng góp đáng kể vào khả năng tiếp cận thị trường của các hộ gia đình.
1.2.2 Các công trình nghiên cứu vốn xã hội và hiệu quả kinh tế Đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế qua các tiêu chí khác nhau: Doanh thu, lợi nhuận, giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành, tăng giá bán, tỷ suất lợi nhuận,…Do vậy, tùy vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể mà các học giả đã đưa ra các tiêu chí đo lường hiệu quả kinh tế khác nhau
1.2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài Ở nước ngoài có rất nhiều nghiên cứu về vốn xã hội và hiệu quả kinh tế hộ gia đình, mà cụ thể là thu nhập, phúc lợi, lợi nhuận, doanh thu,… Trong số đó, bắt đầu từ nghiên cứu điển hình của Fafchamps & Minten (1998) về xã hội của thương lái đã sử dụng dữ liệu thu thập từ những thương lái nông sản tại Madagascar trong một dự án giữa IFPRI (Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế) và Bộ Nghiên cứu khoa học của quốc gia Uganda (FOFIFA) Nghiên cứu chứng minh rằng: mạng lưới xã hội có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của các thương lái nông sản Sau khi kiểm soát các nguồn lực vật chất đầu vào và nguồn lực con người cũng như đặc điểm của những thương lái, nghiên cứu chỉ ra rằng những thương lái có sự kết nối mạng lưới cộng đồng tốt hơn sẽ có doanh số cao hơn và giá trị gia tăng cao hơn những thương lái có mạng lưới xã hội ít sự kết nối hơn Các mối quan hệ với những thương lái khác; mối quan hệ với người cho vay tiềm năng; và mối quan hệ trong gia đình làm tối thiểu hóa chi phí giao dịch Đến lượt Axel at al (2006), tác động của cấu trúc vốn xã hội đối với thu nhập trong nông nghiệp ở Cộng hòa Séc, trong nghiên cứu này, vốn xã hội sẽ được dùng để phân tích khả năng hợp tác giữa các trang trại Dựa vào các kết quả khảo sát của 62 trang trại vào cuối mùa hè năm 2003 thuộc bốn quận/huyện khác nhau tại Cộng hòa Séc Nghiên cứu sử dụng hai yếu tố liên quan đến vốn xã hội (tiếp thị thông qua các tổ chức tiếp thị liên kết, thành viên của các tổ chức hỗ trợ) Bằng phương pháp phân tích hồi quy đa biến, nghiên cứu cho thấy rằng, vốn xã hội góp phần làm tăng khả năng hợp tác giữa các trang trại và thực sự là một yếu tố quan trọng đối với giảm chi phí đầu vào và tăng giá bán sản phẩm, cải thiện thu nhập của nông dân
Dựa trên nghiên cứu của Putnam (1993), Portes (1998) và Yusuf (2008), các tác giả đã xác định 6 thành phần để đo lường vốn xã hội, bao gồm mật độ thành viên, sự đa dạng của chủ thể trong mạng lưới, chỉ số tham dự cuộc họp, đóng góp tiền mặt, đóng góp lao động và chỉ số ra quyết định Qua phương pháp thống kê mô tả và kỹ thuật hồi quy, nghiên cứu chứng minh rằng sự tham gia tích cực của các thành viên trong gia đình vào tổ chức và hiệp hội tạo ra vốn xã hội, từ đó ảnh hưởng tích cực đến phúc lợi hộ gia đình và cải thiện đời sống Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ đưa ra một số tiêu chí đơn giản để đo lường tác động của vốn xã hội đến thu nhập hộ gia đình Các tác giả Lloyd & Baiyegunhi (2013) và Nuzhat & Mahpara cũng đồng quan điểm với Yusuf (2008) về vấn đề này.
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 20
Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích ảnh hưởng của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận thị trường và thu nhập của các hộ nuôi tôm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Từ những phân tích này, bài viết sẽ đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng vốn xã hội cho các hộ gia đình nuôi tôm trong khu vực ĐBSCL.
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vốn xã hội là rất quan trọng, đặc biệt trong việc xác định nguồn lực đầu vào và cách tiếp cận thị trường cho các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản Việc này giúp tối ưu hóa hiệu quả sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh của các hộ gia đình trong ngành nuôi trồng thủy sản.
Thứ hai, xác định mạng lưới cấu trúc và chất lượng vốn xã hội của hộ nuôi trồng thủy sản tại ĐBSCL;
Phân tích tác động của vốn xã hội và đặc điểm hộ gia đình đến khả năng tiếp cận thị trường đầu vào và đầu ra của hộ nuôi tôm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là rất quan trọng Việc hiểu rõ vai trò của vốn xã hội sẽ giúp cải thiện khả năng tiếp cận và tối ưu hóa quy trình nuôi tôm, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ gia đình trong khu vực này.
Thứ tư, phân tích tác động của vốn xã hội và các nguồn lực đầu vào đến thu nhập ròng của hộ nuôi tôm;
Vào thứ năm, các giải pháp mở rộng vốn xã hội được đề xuất nhằm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường đầu vào và đầu ra, đồng thời nâng cao thu nhập cho các hộ nuôi tôm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Dựa trên những mục tiêu nghiên cứu đã nêu, luận án sẽ xác định và làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Cơ sở lý luận và thực tiễn của vốn xã hội, nguồn lực đầu vào và cách tiếp cận thị trường của hộ nuôi trồng thủy sản được hệ thống hóa một cách rõ ràng, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành.
Cấu trúc mạng lưới xã hội của hộ nuôi trồng thủy sản bao gồm các chủ thể như nông dân, tổ chức hỗ trợ, và các doanh nghiệp liên quan Để đo lường chất lượng vốn xã hội của hộ nuôi trồng thủy sản, cần xem xét các yếu tố như mức độ kết nối, sự hợp tác giữa các thành viên, và khả năng chia sẻ thông tin trong cộng đồng.
Vốn xã hội và đặc điểm hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng tiếp cận thị trường đầu vào và đầu ra của hộ nuôi tôm Những yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng kết nối và hợp tác giữa các hộ nuôi, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ thông tin, nguồn lực và kinh nghiệm Hộ gia đình có vốn xã hội cao thường dễ dàng hơn trong việc xây dựng mạng lưới hỗ trợ, giúp tăng cường khả năng cạnh tranh và tối ưu hóa quy trình sản xuất Sự khác biệt trong đặc điểm hộ gia đình cũng có thể tác động đến quyết định đầu tư và tiếp cận công nghệ, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi tôm.
Thứ tư, vốn xã hội và các nguồn lực đầu vào tác động như thế nào đến thu nhập của hộ nuôi tôm?
Vào thứ năm, các giải pháp nhằm mở rộng vốn xã hội của hộ nuôi tôm sẽ được thảo luận, tập trung vào việc nâng cao khả năng tiếp cận thị trường cho các nguồn lực đầu vào và đầu ra Những biện pháp này không chỉ giúp tăng cường thu nhập cho hộ nuôi tôm mà còn góp phần phát triển bền vững ngành nuôi tôm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Cùng với cây lúa, con tôm là sản phẩm chủ lực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đóng góp lớn vào cải thiện đời sống người dân Trong nhiều năm qua, ĐBSCL đã trở thành khu vực có diện tích và sản lượng nuôi tôm lớn nhất cả nước, điều này thể hiện qua các báo cáo của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản (2015), Tổng Cục thống kê (2017) và VASEP (2017).
Nghiên cứu của Keyes (1983) chỉ ra rằng hành vi kinh tế diễn ra trong mối quan hệ với các hộ gia đình, nơi mà các chủ thể hành động thiết lập những mối quan hệ chủ yếu.
Nuôi tôm ở vùng ĐBSCL không chỉ là một hoạt động kinh tế mà còn gắn liền với văn hóa và xã hội của cộng đồng cư dân, đặc biệt là các quan hệ xã hội và vốn xã hội trong khu vực (Ngô Thị Phương Lan, 2011) Nghiên cứu này tập trung vào hành vi kinh tế và mối quan hệ xã hội của các hộ gia đình nuôi tôm, với đơn vị phân tích là những nông dân sống chung trong một hộ và tham gia vào hoạt động kinh tế chung Hiện nay, hình thức nuôi tôm chủ yếu ở ĐBSCL là hộ gia đình, do đó, đối tượng chính của nghiên cứu là các hộ nuôi tôm thâm canh thuần túy (Ngô Thị Phương Lan, 2011; Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2015).
Theo báo cáo của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2015) và Tổng cục Thống kê (2018), các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Kiên Giang đóng góp quan trọng vào ngành thủy sản của Việt Nam.
Cà Mau là tỉnh có diện tích và sản lượng tôm nuôi lớn nhất vùng, tập trung chủ yếu ở ven biển Nhiều xã ở đây cách xa trung tâm, dẫn đến hạn chế trong thông tin liên lạc, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân và mạng lưới cộng đồng Các hộ nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, đã hình thành mối quan hệ xã hội gắn bó qua nhiều năm, tạo thành mạng lưới xã hội rộng khắp Các cộng đồng ngư dân tại đây đã được chính quyền phê duyệt và quy hoạch phát triển trong tương lai Nghiên cứu về hoạt động hộ nuôi tôm tại Cà Mau sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội của vùng và có thể làm mô hình mẫu cho các tỉnh khác.
Nghiên cứu hoạt động hộ gia đình nuôi tôm tập trung vào hai nội dung chính: khả năng tiếp cận thị trường và thu nhập Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc nhận diện và cấu trúc đo lường nguồn vốn xã hội của hộ gia đình, đồng thời đánh giá hoạt động đầu vào qua các thị trường tín dụng, đất đai, lao động, con giống, thuốc, hóa chất, thức ăn và dịch vụ khuyến ngư, cũng như hoạt động đầu ra thông qua thị trường đầu ra và thu nhập của các hộ nuôi tôm tại ĐBSCL Nghiên cứu sẽ kế thừa các lý thuyết liên quan đến vốn xã hội, hộ gia đình, khả năng tiếp cận thị trường, lý thuyết các nguồn lực sinh kế, và các mối liên hệ giữa vốn xã hội với khả năng tiếp cận thị trường và thu nhập.
Phương pháp nghiên cứu 24
Luận án áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm hệ thống hóa lý thuyết, thống kê mô tả, so sánh – đối chiếu, nghiên cứu định tính qua chuyên gia, và nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy logistic và hồi quy đa biến Chi tiết về các phương pháp này sẽ được trình bày trong chương 3 của luận án.
Những điểm mới của luận án 24
So với những công trình nghiên cứu trước đây, luận án đã tổng hợp một khối lượng lớn tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu Cụ thể:
Luận án đã xác định các chủ thể trong mạng lưới xã hội chính thức như Tổ chức khuyến ngư và các tổ chức Hội – Đoàn, bên cạnh đó cũng nhận diện mạng lưới xã hội phi chính thức gồm Ban quản lý khu nuôi, cán bộ tín dụng, đại lý và thương lái các cấp, cũng như đồng nghiệp và bạn bè Sự tồn tại của các mạng lưới này và lòng tin giữa các thành viên ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tiếp cận thị trường và thu nhập của hộ gia đình nuôi tôm.
Luận án nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến hoạt động nuôi tôm của hộ gia đình, tập trung vào hai mục tiêu chính: (i) Kế thừa và phát triển phương pháp tiếp cận vốn xã hội, áp dụng để đo lường ảnh hưởng của nó đến hoạt động nuôi tôm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long; (ii) Xây dựng các mô hình kinh tế lượng, bao gồm mô hình hồi quy Logistic và hàm Cobb-Douglas, nhằm xác định tác động của các yếu tố vốn xã hội đến khả năng tiếp cận thị trường và thu nhập của hộ nuôi tôm.
Luận án đề xuất các giải pháp dựa trên lý thuyết vốn xã hội, kết quả nghiên cứu, và các chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm đáp ứng thực trạng hiện nay của hộ nuôi tôm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Luận án này nổi bật với những đặc điểm riêng biệt, không trùng lặp với các nghiên cứu trước, mặc dù vẫn kế thừa các kết quả từ các công trình đã có Nó còn bổ sung phương pháp phân tích và tiếp cận mới, giúp đánh giá tác động của vốn xã hội đối với hoạt động của hộ gia đình nuôi tôm ở ĐBSCL.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 25
Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về vốn xã hội, bao gồm khái niệm, đặc trưng, cấu trúc và chất lượng Nghiên cứu cũng tổng hợp lý thuyết về nguồn lực đầu vào trong nuôi trồng thủy sản, cùng với các lý thuyết về tiếp cận thị trường của hộ gia đình và đặc điểm hộ gia đình nông thôn Việt Nam hiện nay Đặc biệt, mô hình tiện ích ngẫu nhiên (RUM) McFadden được áp dụng để minh họa mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường, trong khi Hàm Cobb – Douglas được sử dụng để làm rõ mối quan hệ giữa vốn xã hội và thu nhập của hộ gia đình.
Luận án đã tổng hợp các lý thuyết về vốn xã hội trong và ngoài nước để phát triển lý thuyết và phương pháp đo lường vốn xã hội phù hợp với văn hóa và lối sống của người Việt Nam, đặc biệt là đối với các hộ gia đình nuôi tôm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Xác định các chủ thể trong mạng lưới xã hội của hộ nuôi tôm hiện nay giúp các hộ nhận diện điểm mạnh và yếu trong mối quan hệ xã hội Điều này không chỉ hỗ trợ các hộ nuôi tôm trong việc cải thiện kết nối mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý và chính quyền địa phương về vai trò của mạng lưới xã hội trong việc phát triển bền vững ngành nuôi tôm.
Luận án đã trình bày một cái nhìn toàn diện về vai trò của từng thành viên trong mạng lưới xã hội đối với khả năng tiếp cận của hộ nuôi tôm đến các thị trường tín dụng, đất đai, lao động, vật tư, dịch vụ khuyến ngư, cũng như thị trường đầu ra và thu nhập Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra thực trạng vốn xã hội, đặc biệt là mối liên hệ giữa các hộ nuôi tôm và mạng lưới cộng đồng hiện tại.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hình thức quan hệ xã hội trong hoạt động nuôi tôm có tác động tích cực, giúp các hộ và cơ quan chức năng quản lý lượng hóa nguồn lực từ vốn xã hội Điều này không chỉ xác định vai trò của vốn xã hội trong nuôi tôm mà còn hỗ trợ nhận diện và hoạch định phát triển nguồn vốn xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm tại ĐBSCL Bằng chứng thực nghiệm này sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương trong việc định hướng phát triển bền vững cho ngành tôm.
Luận án là tài liệu tham khảo quý giá cho nhà nghiên cứu, quản lý, giảng viên và học viên sau đại học trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt khi nghiên cứu về vốn xã hội của hộ nuôi tôm, đồng thời cũng là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết cấu của luận án 26
Luận án được cấu trúc thành năm chương, bao gồm phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục Nội dung chính của các chương sẽ được trình bày chi tiết trong bài viết.
Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về nghiên cứu, bao gồm tính cấp thiết của đề tài, tổng quan các nghiên cứu trước đó và những khoảng trống cần được khám phá Nó cũng nêu rõ vấn đề nghiên cứu, mục tiêu cụ thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được áp dụng, cùng với ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án.
Cơ sở lý luận và tác động của vốn xã hội đến hoạt động hộ nuôi tôm 29
Giới thiệu 29
Chương này nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu đầu tiên, làm sáng tỏ năm nội dung chính Đầu tiên, Mục 2.2 sẽ làm rõ khái niệm và đặc trưng vốn xã hội ở cấp độ cá nhân/hộ gia đình, là lý thuyết áp dụng xuyên suốt luận án Thứ hai, Mục 2.3 trình bày các lý thuyết liên quan đến hộ gia đình để xác định các đặc điểm chung của hộ gia đình nuôi trồng thủy sản hiện nay Thứ ba, Mục 2.4 nghiên cứu đặc điểm hoạt động của hộ gia đình nuôi trồng thủy sản, xác định lại phạm vi nghiên cứu Thứ tư, Mục 2.5 hệ thống hóa các nguồn lực đầu vào, dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm và phỏng vấn chuyên gia để tìm ra các yếu tố đặc thù của nguồn lực hộ gia đình nuôi tôm Thứ năm, Mục 2.6 trình bày lý thuyết tiếp cận thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp Thứ sáu, Mục 2.7 mô tả mối liên hệ giữa vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường Thứ bảy, Mục 2.8 trình bày mối liên hệ giữa vốn xã hội, các nguồn lực đầu vào và thu nhập của hộ gia đình Cuối cùng, Mục 2.9 tóm tắt khung phân tích của luận án và chương Các phương pháp nghiên cứu bao gồm hệ thống hóa lý thuyết và so sánh đối chiếu.
Lý thuyết vốn xã hội 29
2.2.1 Khái niệm vốn xã hội
Vốn xã hội là một loại vốn quan trọng bên cạnh vốn kinh tế, văn hóa và con người, thường được nhắc đến trong các nghiên cứu xã hội học, nhân học, khoa học chính trị và kinh tế học Thuật ngữ này lần đầu tiên được Lya Judson Hanifan đưa ra vào năm 1916 và đã xuất hiện trong các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhưng chưa được chú ý nhiều Đến năm 1986, Bourdieu đã phân tích vốn xã hội một cách hệ thống trong tác phẩm “Các hình thức của vốn”, từ đó khái niệm này trở thành một phần quan trọng trong nghiên cứu khoa học trên toàn cầu.
Từ năm 1980 đến 2000, nhà xã hội học Coleman và nhà chính trị học Putnam đã đóng góp quan trọng vào việc phát triển lý thuyết vốn xã hội thông qua các nghiên cứu thực nghiệm Các nghiên cứu của Coleman (1988, 1990, 1994) tập trung vào giáo dục, trong khi Putnam (1993) khám phá các khía cạnh khác của vốn xã hội.
Từ những năm 1995 đến 2000, hoạt động dân sự và thể chế đã tạo cảm hứng cho nhiều nghiên cứu sau này, dẫn đến sự quan tâm ngày càng tăng về khái niệm vốn xã hội từ các nhà hoạch định chính sách và giới khoa học toàn cầu Điều này cho thấy tầm quan trọng và ảnh hưởng sâu rộng của vốn xã hội đối với các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong kinh tế.
Theo Hanifan (1916), vốn xã hội được định nghĩa là tình thân hữu, sự thông cảm và tương tác giữa các cá nhân hoặc hộ gia đình trong xã hội Ông cho rằng việc tích lũy vốn xã hội thông qua các mối quan hệ với bạn bè, hàng xóm và đồng nghiệp sẽ giúp thỏa mãn nhu cầu xã hội và cải thiện cuộc sống của cộng đồng Mặc dù không nêu rõ, tác giả ngụ ý rằng vốn xã hội được tích lũy khi cá nhân và gia đình đầu tư vào mối liên hệ cho tương lai, tương tự như các loại vốn khác có thể tích lũy và sử dụng để tạo ra của cải trong tương lai (Adler & Kwon, 2002) Khái niệm này đã được nhiều nhà khoa học tiếp nối và phát triển với các định nghĩa khác nhau.
Bourdieu (1986) định nghĩa vốn xã hội là tập hợp các nguồn lực từ mạng lưới xã hội bền vững, bao gồm các mối quan hệ quen biết và thừa nhận lẫn nhau Ông nhấn mạnh hai yếu tố quan trọng: mạng lưới xã hội của cá nhân và chất lượng của các mối liên hệ này Coleman (1988) mở rộng khái niệm vốn xã hội, coi nó là nguồn lực tồn tại trong mạng lưới quan hệ có chất lượng, bao gồm sự tín nhiệm, chia sẻ và hỗ trợ giữa các thành viên Qua đó, Coleman làm nổi bật chất lượng của mạng lưới mà cá nhân hay gia đình tham gia.
Putnam (1993) định nghĩa vốn xã hội là các mối liên kết giữa cá nhân trong mạng lưới xã hội, dựa trên quy tắc qua lại, từ đó hình thành sự tin tưởng Những mối quan hệ này tạo ra sự tin cậy và chuẩn mực, thúc đẩy sự phối hợp và hợp tác để đạt lợi ích tương hỗ Ông nhấn mạnh rằng niềm tin là yếu tố trung tâm trong lý thuyết vốn xã hội Đến năm 2000, Putnam phân loại mạng lưới xã hội thành hai loại: mạng lưới chính thức và phi chính thức, cho rằng niềm tin, mạng lưới, và quy chuẩn tương hỗ là những thành phần quan trọng khi xem xét vốn xã hội trong cộng đồng.
Cũng giống như Bourdieu, Coleman, Putnam, các tác giả Baker (1990), Glenn
(1992), Ronald (1992), Fukuyama (1995, 1997, 2000), Brehn & Rahn (1997), Nahapiet
Các tác giả như Ghoshal (1998), Woolcock (1998) và World Bank (2001) đã đưa ra những khái niệm và định nghĩa khác nhau cho các chủ đề nghiên cứu, nhưng đều thống nhất về hai đặc điểm chính: (1) mạng lưới xã hội (hay cấu trúc vốn xã hội) và (2) chất lượng của mạng lưới xã hội Những đặc điểm này đã được các nhà nghiên cứu như Glenn (1992), Portes (1998), Lin (1999, 2001), Spellerberg (2001), Durlauf và cộng sự (2005), Blair và cộng sự (2008) tiếp thu và phát triển trong các nghiên cứu của họ.
Vốn xã hội của cá nhân trong nghiên cứu này được định nghĩa là "lợi ích phụ thuộc vào mức độ tin cậy, tương hỗ và chuẩn mực giữa cá nhân và mạng lưới cộng đồng." Các đặc trưng của mạng lưới xã hội được thể hiện qua hai khía cạnh chính: cấu trúc mạng lưới xã hội và chất lượng mạng lưới xã hội.
2.2.2 Đặc trƣng cơ bản của vốn xã hội
2.2.2.1 Cấu trúc của mạng lưới xã hội
Bourdieu (1980) cho rằng cấu trúc mạng lưới xã hội bao gồm ba khía cạnh chính: (1) cơ cấu tổ chức mạng lưới, xác định ai tham gia và vị trí của họ; (2) mối quan hệ giữa các chủ thể trong mạng lưới theo chiều ngang và chiều dọc; (3) các kênh tương tác giữa các thành viên Tương tự, Jonathan Fox (1996) phân loại vốn xã hội thành hai loại: (1) vốn xã hội chiều ngang, hình thành qua các mạng lưới địa phương trong khu vực hẹp như làng, xã; (2) vốn xã hội chiều dọc, phát triển từ các mạng lưới địa phương kết nối với các mạng lưới ở cấp tỉnh, quốc gia và quốc tế.
Nahapiet & Ghoshal (1998) nhấn mạnh rằng việc phân tích cấu trúc mạng lưới cần chỉ rõ các thành phần trong hệ thống phân cấp, tần suất kết nối và kết cấu mạng Keck et al (1999) định nghĩa mạng lưới là tổ chức thông tin liên lạc và trao đổi tự nguyện, bao gồm cả mạng chính thức và phi chính thức từ các tương tác trong gia đình, nơi làm việc đến cộng đồng Putnam (2000) bổ sung rằng cấu trúc mạng xã hội bao gồm cơ cấu, tần suất kết nối, nhận diện chủ thể và mối quan hệ ngang dọc, phân loại mạng thành chính thức và phi chính thức Stone (2001) tiếp tục phát triển quan điểm này, nhấn mạnh các đặc điểm như quy mô, không gian, độ mở, mật độ thành viên, tính đa dạng và chiều quan hệ trong mạng lưới.
Nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng cách tiếp cận này trong các công trình nghiên cứu sau, cho thấy sự hiểu biết sâu sắc về cấu trúc mạng lưới xã hội Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào việc đo lường mạng lưới xã hội thông qua hai phân loại chính: mạng lưới xã hội chính thức và mạng lưới xã hội phi chính thức.
Mạng lưới xã hội chính thức, theo Putnam (1995, 2000), bao gồm các tổ chức xã hội như tình nguyện, hiệp hội và các tổ chức hợp pháp như đảng phái chính trị và nhóm tôn giáo mà cá nhân tham gia Stone (2001) cũng nhấn mạnh rằng mạng lưới này liên quan đến nhiều khía cạnh của cuộc sống như xã hội dân sự và thể chế Tại Việt Nam, các tổ chức này đóng vai trò quan trọng trong sinh kế của người lao động, đặc biệt ở nông thôn, với các tổ chức xã hội như Hội nông dân và Trung tâm Khuyến nông, cùng các tổ chức chính trị xã hội như Đoàn thanh niên và Hội phụ nữ.
Mạng lưới xã hội phi chính thức, theo Baum & Ziersch (2003), bao gồm các cộng đồng như dòng tộc, bạn bè và láng giềng, hoạt động tự phát nhưng cần tuân thủ quy định và pháp luật Stone (2001) phân chia mạng lưới này thành hai loại: mạng lưới trong gia đình và ngoài gia đình Để gia tăng nguồn vốn xã hội, các thành viên trong gia đình thường kết nối với các hộ gia đình khác hoặc các nhóm tổ chức phi chính thức Tại các vùng nông thôn Việt Nam, mạng lưới xã hội phi chính thức rất đa dạng, bao gồm hợp tác xã, câu lạc bộ và các nhóm hội tự phát, nhưng các thành viên vẫn phải tuân theo quy định của nhóm.
2.2.2.2 Chất lượng của mạng lưới xã hội
Nhiều học giả cho rằng chất lượng của mạng lưới quan hệ xã hội, hay còn gọi là khía cạnh nhận thức, bao gồm các yếu tố như sự tín cẩn, hỗ trợ, kỳ vọng lẫn nhau cùng với các chuẩn mực và quy tắc hành xử.
Bảng 2.1 Tổng hợp các đặc trƣng của vốn xã hội từ lƣợc khảo lý thuyết
Tác giả và năm Cấu trúc mạng lưới Chất lượng mạng lưới
Tham gia vào tổ chức xã hội
Hỗ trợ/hợp tác/chia sẻ,…
Landry at al (2000); Brookes at al (2006); Yang at al (2011); Lee at al (2001)
Scupola at al (2009); Tushman at al (1997)
Theo Coleman (1988), niềm tin hình thành từ sự tương tác lặp đi lặp lại giữa các cá nhân thông qua uy tín Ông nhấn mạnh rằng niềm tin đóng vai trò quan trọng trong vốn xã hội, là nguồn lực mà cá nhân sử dụng để xây dựng mối quan hệ và hỗ trợ lẫn nhau Điều này giúp các thành viên hành động hiệu quả cùng nhau để đạt được mục tiêu chung.
Lý thuyết hộ gia đình 39
2.3.1 Khái niệm hộ Đã từ lâu hộ nông dân ra đời và tồn tại ở hầu hết các nước có nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới Họ đã tồn tại và phát triển theo nhiều phương thức khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử của các quốc gia Do đó, đến thời điểm hiện tại đã có nhiều quan niệm về hộ nông dân khác nhau:
Theo nghiên cứu của Ellis (1993), hộ gia đình nông dân là những hộ làm nông nghiệp, tự kiếm sống trên đất của mình, chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình để sản xuất Họ thường hoạt động trong một hệ thống kinh tế lớn hơn nhưng chủ yếu tham gia vào thị trường địa phương và thường gặp phải những hạn chế trong hoạt động kinh tế (Ellis, 1988) Trong khi đó, theo nhà nông học Nga Traianốp, khái niệm này cũng được mở rộng để phản ánh các đặc điểm và thách thức riêng của hộ gia đình nông dân.
Hộ nông dân được coi là đơn vị sản xuất ổn định và là nền tảng quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, như đã được áp dụng trong chính sách nông nghiệp của nhiều quốc gia, bao gồm cả các nước phát triển (Vương Quốc Duy & Đặng Hoàng Trung, 2015) Tại Việt Nam, khái niệm hộ nông dân đã được nhiều tác giả nghiên cứu Lê Đình Thắng (1993) cho rằng nông hộ là tế bào kinh tế xã hội và là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn Đào Thế Tuấn (1997) định nghĩa hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản và các hoạt động phi nông nghiệp Trần Quốc Khánh (2005) nhấn mạnh rằng hộ nông dân là nhóm người có cùng huyết thống sống chung, chia sẻ nguồn thu nhập và tiến hành sản xuất nông nghiệp chủ yếu để phục vụ nhu cầu gia đình.
Hộ nông dân là những gia đình sống tại nông thôn, chủ yếu kiếm sống từ nghề nông Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, họ còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ Hộ nông dân không chỉ là một đơn vị sản xuất mà còn là một đơn vị tiêu dùng quan trọng trong nền kinh tế địa phương.
2.3.2 Đặc điểm của hộ gia đình
Các nghiên cứu của Ellis (1993), Đào Thế Huân (1997) và Trần Quốc Khánh (2005) chỉ ra rằng một số đặc điểm quan trọng từ khía cạnh hộ gia đình bao gồm cấu trúc tuổi của các thành viên, trình độ giáo dục, giới tính của chủ hộ và mức độ tham gia vào lực lượng lao động.
Quy mô và cấu trúc hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong khả năng sản xuất và tăng thu nhập của các hộ Có sự khác biệt rõ rệt giữa quy mô và cấu trúc hộ gia đình ở các vùng miền, đặc biệt là giữa khu vực thành thị và nông thôn.
Tỷ lệ phụ thuộc phản ánh số lượng thành viên không trong độ tuổi lao động so với những người trong độ tuổi lao động trong hộ gia đình, cho thấy gánh nặng kinh tế đối với lao động chính Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng cấu trúc giới tính trong hộ gia đình ảnh hưởng đến thu nhập, với hộ gia đình do nữ chủ hộ thường có thu nhập thấp hơn so với hộ do nam chủ hộ Tại các vùng nông thôn Việt Nam, hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động giản đơn và chân tay, khiến nam giới trở thành lực lượng lao động chính trong gia đình.
Các đặc điểm kinh tế - xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với mức sống và thu nhập của hộ gia đình, trong đó văn hóa, y tế và giáo dục là những chỉ tiêu quan trọng Trình độ giáo dục của các thành viên, được đo bằng số năm đi học và tỷ lệ biết chữ, có ảnh hưởng lớn đến tiêu chuẩn sống, đặc biệt ở khu vực nông thôn Tỷ lệ trẻ em bỏ học theo độ tuổi cũng là một yếu tố cần chú ý Trình độ học vấn của chủ hộ đóng vai trò quyết định trong chiến lược sinh kế và kết quả sản xuất của gia đình Số lượng thành viên trong độ tuổi lao động cao giúp gia đình tiếp cận tốt hơn với thị trường, áp dụng khoa học công nghệ, từ đó có khả năng tăng thu nhập.
Các đặc điểm của hộ gia đình, bao gồm quy mô, tỷ lệ người phụ thuộc, giới tính của chủ hộ, tài sản sở hữu, tỷ lệ việc làm của thành viên trưởng thành, và trình độ học vấn, đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của hộ gia đình Quy mô hộ gia đình và tỷ lệ người phụ thuộc tác động đến khả năng tạo thu nhập, trong khi giới tính của chủ hộ có thể ảnh hưởng đến quyết định sản xuất Tài sản như đất đai, nhà cửa và phương tiện sản xuất là yếu tố quan trọng, cùng với tỷ lệ việc làm của các thành viên trưởng thành, bao gồm loại hình công việc và nguồn thu nhập chính Cuối cùng, trình độ học vấn của hộ gia đình, thể hiện qua số năm đi học và tỷ lệ biết chữ, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất sản xuất.
2.3.3 Các yếu tố thuộc về đặc điểm hộ Đã có rất nhiều học giả đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau về đặc điểm của hộ gia đình Cụ thể: 1) Đặc điểm của cấp độ vùng; 2) Những đặc tính từ cấp độ cộng đồng;
3) Những đặc điểm của hộ gia đình; và 4) Đặc điểm cá nhân Tùy theo chủ đề nghiên cứu, số liệu nghiên cứu,… mà các học giả sử dụng các bộ tiêu chí đo lường hoạt động sản xuất của hộ gia đình Luận án sẽ kế thừa bộ tiêu chí của World Bank (2005) và Haughton at al (2009) và tổng hợp bổ sung từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đó để phân loại đặc điểm của hộ gia đình nông thôn
Bảng 2.3 trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của hộ gia đình, được phân loại theo đặc điểm của cấp độ vùng Các yếu tố này bao gồm những đặc điểm cụ thể của từng vùng, tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất của các hộ gia đình.
Sự thiếu hụt hạ tầng cơ sở đã tạo ra sự cách biệt về địa lý và xã hội, dẫn đến hạn chế trong việc tiếp cận nguồn lực, thị trường và các dịch vụ xã hội.
- Các nguồn lực cơ bản như đất đai và chất lượng đất đai, nguồn nước, vị trí địa lý,…
- Điều kiện tự nhiên (thời tiết, khí hậu, địa lý, dịch bệnh…)
- Quản lý chính quyền các cấp
- Bất bình đẳng xã hội
Những đặc tính từ cấp độ cộng đồng
- Hạ tầng cơ sở tại địa phương (điện, nước, đường giao thông, Internet, hệ thống thông tin liên lạc…)
- Nguồn lực sẵn có và phân bổ đất đai
- Khả năng tiếp cận các hàng hóa và dịch vụ công (y tế, văn hóa, giáo dục,…)
- Khả năng tiếp cận hàng hóa, dịch vụ tư nhân
- Hệ thống chính quyền, các đặc trưng của các tổ chức chính trị
Những đặc điểm của hộ gia đình (Household characteristics)
- Quy mô hộ gia đình (số lượng người, giới tính,…)
- Tỷ lệ người sống phụ thuộc (Tỷ lệ người trưởng thành không có hoạt động tạo thu nhập, người ngoài độ tuổi lao động,…)
- Giới tính của chủ hộ
- Cấu trúc tuổi của các thành viên hộ gia đình
- Tài sản của hộ gia đình: đất đai, tiền tiết kiệm, phương tiện sản xuất, nhà cửa,…
Các thành viên trưởng thành trong hộ gia đình có việc làm, bao gồm cả làm việc trong khu vực nhà nước và tư nhân, tự làm hoặc làm thuê, đều đóng góp vào nguồn thu nhập chính của gia đình.
- Trình độ học vấn trung bình của hộ Đặc điểm cá nhân
- Giáo dục (số năm đi học, bằng cấp cao nhất, thường xuyên tham gia các lớp nghề,…)
- Việc làm (tình trạng việc làm, loại công việc, tính chất công việc,…)
- Dân tộc (có hay không có thuộc nhóm các dân tộc thiểu số), …
Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu: World Bank (2005), Haughton at al (2009) (trích bởi
Phạm Hồng Mạnh (2012, tr.54-55)), Phan Đình Khôi (2013), Salman & Ekong (2015), Chu Thị Kim Loan & Nguyễn Văn Hướng (2015), Võ Thành Khởi (2015),
Nguyễn Minh Thuận & cộng sự (2018).
Hoạt động của hộ gia đình nuôi trồng thủy sản 43
Theo Porter (1985, 1990), hoạt động sản xuất của hộ gia đình, tổ chức hay doanh nghiệp hiện nay diễn ra qua ba giai đoạn chính: hoạt động đầu vào, hoạt động sản xuất và hoạt động đầu ra Ba giai đoạn này có mối liên hệ chặt chẽ và tạo thành một chuỗi không thể thiếu trong quá trình sản xuất Tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, các tác giả có thể đánh giá hoạt động sản xuất theo nhiều tiêu chí khác nhau Trong nghiên cứu này, hoạt động nuôi tôm của hộ gia đình được coi là một hoạt động sản xuất thông thường, và cũng như các tổ chức hay doanh nghiệp, nó được chia thành ba giai đoạn: (1) hoạt động đầu vào; (2) hoạt động sản xuất; và (3) hoạt động đầu ra.
Để khởi đầu vụ mùa mới, các hộ gia đình chủ động tìm kiếm và tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào cần thiết cho sản xuất, bao gồm con giống, thức ăn, thuốc hóa chất, lao động và đất đai Quá trình này không chỉ liên quan đến việc thu thập thông tin mà còn đến việc tiếp cận thị trường Giá cả và chất lượng của nguyên liệu đầu vào là những yếu tố quan trọng mà các hộ gia đình cần chú ý, vì chúng quyết định thành công hay thất bại của vụ nuôi.
Hoạt động sản xuất trong nuôi trồng thủy sản bao gồm chuỗi các hoạt động từ kỹ thuật nuôi đến kiến thức kinh tế, nhằm đạt sản lượng tối ưu cho hộ gia đình Quá trình này bắt đầu từ khi sản phẩm hình thành cho đến khi hoàn chỉnh theo yêu cầu thị trường Để nâng cao chất lượng sản phẩm, hộ gia đình cần liên tục học hỏi và tương tác với các mạng lưới cung cấp đầu vào như đại lý thức ăn và con giống Sau khi hoàn tất giai đoạn sản xuất, hộ gia đình cần tìm kiếm thị trường đầu ra, chủ yếu thông qua việc thu thập thông tin về giá thu mua từ thương lái để đưa ra quyết định bán hợp lý Thời điểm bán hàng có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận, do đó việc tìm kiếm đối tác như thương lái và các công ty chế biến là rất quan trọng Đa dạng hóa thông tin và đối tác sẽ giúp hộ gia đình dễ dàng tiếp cận thị trường, từ đó tăng doanh thu và thu nhập Nghiên cứu này tập trung vào khả năng tiếp cận thị trường cho cả đầu vào và đầu ra, với mục tiêu cuối cùng là thu nhập ròng cho hộ gia đình nuôi trồng thủy sản.
Lý thuyết nguồn lực đầu vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản 45
Nguồn lực, bao gồm vốn, lao động, tri thức, khả năng tổ chức và điều kiện tự nhiên, là tiềm năng cần thiết cho sản xuất Trong kinh doanh, nguồn lực được xem là đầu vào, là điều kiện vật chất cho quá trình sản xuất Khi người sản xuất chủ động về nguồn lực, họ có thể cải thiện hiệu quả sản xuất Theo tác giả Begg et al (2009), hàm sản xuất thể hiện mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra, cho thấy rằng các yếu tố nguồn lực đầu vào quyết định sản lượng và thúc đẩy sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế ngành.
Hình 2.2 Khung phân tích sinh kế bền vững (Sustainable Livelihood Framework)
Nguồn: Tài liệu hướng dẫn Phân tích sinh kế bền vững của DFID (2001)
Có nhiều định nghĩa về nguồn lực từ các tác giả như Ellis (2000), DFID (2001) và Neefjes (2003), nhưng nhìn chung, nguồn lực được phân thành năm loại: nguồn lực con người, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội Những nguồn lực này đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sinh kế và nâng cao đời sống phúc lợi cũng như thu nhập của người sản xuất.
Vốn tài chính, được hiểu là tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động trong sản xuất, là nguồn lực hạn chế (Vũ Đình Thắng & Nguyễn Viết Trung, 2006) Theo Vương Quốc Duy & Đặng Hoàng Trung (2015), vốn là của cải sinh ra của cải, là tài sản dùng trong sản xuất kinh doanh để mang lại lợi nhuận Begg et al (2007) định nghĩa nguồn vốn tài chính của hộ gia đình là khả năng tài chính dùng cho sản xuất và tiêu dùng Lê Khương Ninh (2010) phân loại vốn tài chính thành ba hình thức: (1) Vốn tự có, bao gồm tiền mặt, trang sức, gia súc; (2) Tiền trợ cấp từ Nhà nước và tổ chức; (3) Vốn vay từ ngân hàng hay người thân Lê Xuân Sinh (2005) mở rộng định nghĩa vốn tài chính, bao gồm tiền mặt, số dư tài khoản, cũng như đầu tư vào con giống, thức ăn, thiết bị và đất đai Vốn tài chính được chia thành hai loại cơ bản: vốn cố định và vốn lưu động (Chu Thị Kim Loan & Nguyễn Văn Hướng, 2015).
Vốn cố định trong nuôi trồng thủy sản là khoản tiền tạm ứng để mua sắm tư liệu lao động như máy móc, nhà xưởng, và thiết bị cơ khí Giá trị của các tài sản này sẽ dần chuyển dịch vào sản phẩm mới và hoàn thành trong vòng tuần hoàn khi hết thời hạn sử dụng.
Vốn lưu động trong nuôi trồng thủy sản, theo Vũ Đình Thắng (2006), là khoản tiền ứng trước để mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho sản xuất Nó được xem là yếu tố chuyển giao toàn bộ giá trị vào sản phẩm mới ngay lập tức Vốn lưu động của hộ gia đình hoặc đơn vị nuôi trồng thủy sản bao gồm ba bộ phận chính: (1) Vốn lưu động ứng trước cho sản xuất, bao gồm giá trị nguyên vật liệu và nhiên liệu dự trữ; (2) Vốn lưu động trong quá trình sản xuất, bao gồm giá trị sản phẩm dở dang và chi phí chờ phân bổ; và (3) Vốn lưu động trong lưu thông, bao gồm giá trị hàng hóa thủy sản, vốn trong thanh toán và vốn bằng tiền.
2.5.2 Nguồn vốn tự nhiên Đối với hộ gia đình nuôi trồng thủy sản, vốn tự nhiên có thể hiểu là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước… mà họ có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế Costanza at al (1997): vốn tự nhiên ở đây bao gồm động vật, thực vật hoặc cũng có thể là nước, khoáng sản hoặc hệ sinh thái mà từ đó con người đã khai thác và tạo ra các giá trị lợi ích Còn theo Vũ Đình Thắng
Nguồn vốn tự nhiên, theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu, bao gồm tất cả các nguồn lợi tự nhiên mà con người sử dụng để kiếm sống, từ khí hậu, nhiệt độ, không khí đến sự đa dạng sinh học và các tài nguyên như đất đai, nước, cây trồng, vật nuôi Đặc biệt trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, nguồn lực tự nhiên được hiểu là thủy vực, bao gồm diện tích mặt nước và động thực vật thủy sinh, là tư liệu sản xuất không thể thay thế Thủy vực có những đặc điểm riêng như giới hạn không gian nhưng sức sản xuất vô hạn, vị trí cố định với mức nước biến đổi theo mùa, và nếu được sử dụng hợp lý, chất lượng nước có thể duy trì lâu dài Thủy vực được phân thành hai loại: thủy vực tự nhiên và thủy vực nhân tạo, và tùy vào điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý, thủy vực còn được chia thành các nhóm như nước ngọt, nước lợ, và nước mặn Người sản xuất có thể lựa chọn giữa hai phương thức chính là nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản dựa trên hoàn cảnh và điều kiện của từng vùng.
Nguồn vốn vật chất đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất của hộ gia đình, bao gồm tài sản công như điện, đường giao thông, công trình thủy lợi, và tài sản cá nhân như công cụ sản xuất (Bùi Văn Tuấn, 2015) Khả năng đầu tư từ nhà nước và hộ gia đình ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường, đặc biệt khi hộ gia đình sở hữu phương tiện sản xuất hiện đại (Bhagat & Dhar, 2012) Trong lĩnh vực thủy sản, Vũ Đình Thắng (2005) phân loại nguồn lực vật chất thành hai nhóm: nguồn từ đầu tư công, bao gồm các công trình công cộng và nguồn từ đầu tư tư nhân, là tài sản mà hộ gia đình và doanh nghiệp tự đầu tư để phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Nguồn nhân lực, hay vốn lao động, đóng vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất, ảnh hưởng lớn đến quyết định trong quá trình sản xuất (Porter, 1985) Theo World Bank (2000), nguồn nhân lực bao gồm kiến thức, năng lực và trí lực của con người nhằm cải thiện cuộc sống và xã hội Hồ Văn Vĩnh (2009) nhấn mạnh rằng mọi hoạt động sản xuất đều phụ thuộc vào lao động của con người, đặc biệt là lao động có trình độ kỹ thuật và kỹ năng Vũ Đình Thắng & cộng sự (2005) cho rằng nguồn lao động trong nuôi trồng thủy sản gắn liền với nông thôn và nông nghiệp, bao gồm cả những người ngoài độ tuổi lao động nhưng đủ sức khỏe Hiện nay, lao động thủy sản tại Việt Nam chia thành hai dạng: lao động chuyên nghiệp, có thu nhập chủ yếu từ khai thác và chế biến thủy sản, và lao động bán chuyên nghiệp, tham gia vào thủy sản trong thời gian nhàn nông Lao động trong ngành thủy sản thường mang tính thời vụ, yêu cầu khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực, như lao động đánh bắt xa bờ cần sức khỏe và tuổi trẻ, trong khi nghề nuôi trồng thủy sản mở rộng đối tượng lao động hơn, bao gồm phụ nữ, người già và thanh niên, miễn là có kinh nghiệm hoặc sức khỏe.
Ngày nay, khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp Việc áp dụng công nghệ vào sản xuất không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế cho hộ gia đình mà còn cho các tổ chức kinh doanh Tại Việt Nam, bên cạnh các tổ chức Hội khuyến nông/ngư, chính quyền địa phương và các công ty, đại lý cũng tích cực tham gia vào việc chuyển giao công nghệ cho nông dân.
Tổ chức khuyến nông đóng vai trò cầu nối giữa công nghệ mới và nông dân (Theo Feder & Slade, 1993; Van den Ban, 1996) Theo Nguyễn Văn Long (2005), khuyến nông/ngư rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Hoạt động khuyến nông/ngư bao gồm tuyên truyền, vận động phát triển vụ nuôi, tập huấn và chuyển giao kỹ thuật thông qua mô hình trình diễn Hệ thống này quyết định việc nâng cao kiến thức nông nghiệp cho hộ gia đình nông dân, giúp ứng dụng công nghệ mới nhanh chóng và phổ biến.
Lý thuyết về tiếp cận thị trường 51
Kỹ thuật mới trong chăn nuôi và nuôi trồng ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất của nông dân Để nâng cao hiệu quả sản xuất, nông dân cần thường xuyên tiếp xúc với cán bộ khuyến nông thông qua các hội thảo và hội thảo đầu bờ Tham gia vào các mô hình trình diễn tiêu biểu cũng là một cách hiệu quả Ngoài ra, việc đọc sách, báo và hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp giúp nông dân cập nhật kiến thức Nông dân nên tham gia các câu lạc bộ địa phương hoặc tổ nông dân liên kết sản xuất để tăng cường hợp tác Cuối cùng, theo dõi các chương trình quảng bá kỹ thuật qua truyền hình, đài phát thanh và Internet cũng rất quan trọng để nắm bắt thông tin mới.
Ngày nay, hoạt động khuyến nông và khuyến ngư ở vùng nông thôn chủ yếu tập trung vào việc tập huấn kiến thức nông nghiệp, bao gồm cả kiến thức kinh tế và kỹ thuật nuôi trồng (Đinh Phi Hổ, 2012) Theo Hsieh (1963), kiến thức nông nghiệp của nông dân phụ thuộc vào mức độ tham gia vào các hoạt động cộng đồng Để sản xuất hiệu quả, nông dân cần có đất đai, vốn để mua sắm yếu tố đầu vào như giống, thức ăn, thuốc – hóa chất, và lao động Tuy nhiên, việc phối hợp các nguồn lực này chỉ mang lại hiệu quả cao khi nông dân sở hữu đủ kiến thức cần thiết.
2.6 Lý thuyết tiếp cận thị trường
2.6.1 Khái niệm về thị trường và tiếp cận thị trường
Khái niệm về thị trường
Thị trường là khái niệm gắn liền với sự phát triển của hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế Theo Mankiw (2000), thị trường được định nghĩa là nhóm người mua và người bán một hàng hóa hay dịch vụ cụ thể, trong đó người mua quyết định cầu và người bán quyết định cung Begg et al (2007) mở rộng khái niệm này, cho rằng thị trường là quá trình cân bằng các quyết định tiêu dùng, sản xuất và lao động thông qua điều chỉnh giá cả Phí Mạnh Hồng (2008) cũng nhấn mạnh thị trường là tập hợp các điều kiện và thỏa thuận cho phép người mua và người bán thực hiện trao đổi hàng hóa theo nhiều hình thức khác nhau.
Khái niệm về tiếp cận thị trường
Thị trường là một khái niệm rộng, được định nghĩa qua nhiều khía cạnh khác nhau Theo FAO (1989), thị trường là quá trình khám phá và tiếp cận nhu cầu của người tiêu dùng, giúp người bán và người mua dễ dàng tìm thấy hàng hóa và dịch vụ mong muốn Kleihet et al (1999) nhấn mạnh rằng tiếp cận thị trường nông sản là việc nông dân thu thập thông tin về tài chính, vật chất và dịch vụ để tối đa hóa lợi nhuận từ sản phẩm Bly (2006) cho rằng tiếp cận thị trường là quá trình tìm kiếm và đánh giá nhu cầu thị trường để lập kế hoạch sản xuất và xâm nhập thị trường hiệu quả Vũ Đình Thắng & cộng sự (2006) mô tả thị trường nông nghiệp như một tập hợp thỏa thuận giữa các chủ thể kinh tế để mua bán nông sản, trong khi Trương Chí Hiếu & cộng sự (2013) nhấn mạnh khả năng tiếp cận nguồn lực đầu vào và đầu ra, bao gồm tài chính, con giống và mối quan hệ với thương lái để đạt được thỏa thuận hợp lý.
Theo tác giả, để tiếp cận thị trường trong hoạt động nuôi trồng thủy sản hộ gia đình, cần thực hiện các bước như: nghiên cứu kỹ lưỡng về cung cầu thị trường, tìm kiếm và đàm phán với các đối tác, cũng như ra quyết định thỏa thuận mua bán nhằm đảm bảo chất lượng tối ưu cho sản phẩm đầu vào và đầu ra.
2.6.2 Phân loại thị trường nông nghiệp
Các tác giả như Samuelson & Nordhaus (1990), Mankiw (2000), và Pindyck & Rubinfeld (2001) đã phân loại thị trường thành ba nhóm chính Thứ nhất, dựa vào loại hàng hóa và dịch vụ, thị trường được chia thành thị trường hàng hóa tiêu dùng và thị trường các yếu tố sản xuất Thứ hai, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, các giao dịch thương mại giữa các quốc gia và vùng miền đã hình thành không gian thị trường kinh tế, bao gồm thị trường quốc tế (thế giới, khu vực, quốc gia) và thị trường quốc nội (vùng/miền, địa phương) Cuối cùng, theo cấu trúc thị trường, có bốn loại thị trường: thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm.
Cùng quan điểm trên các quan điểm cũng như các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam của Phí Mạnh Hồng (2008), Vũ Đình Thắng (2006), Nguyễn Văn Hiếu
Thị trường nông nghiệp tại Việt Nam, bao gồm cả nuôi trồng thủy sản, hiện được phân chia thành năm nhóm cụ thể: thị trường vốn tín dụng, thị trường đất đai, thị trường lao động, thị trường vật tư và dịch vụ khuyến nông, cùng với thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thị trường tài chính Việt Nam hiện nay được phân thành ba kênh chính: thị trường chính thức, thị trường bán chính thức và thị trường phi chính thức.
Từ năm 2010, thị trường tín dụng chính thức đã thu hút sự quan tâm hàng đầu từ hộ gia đình Hiện nay, nguồn vốn phi chính thức cũng trở nên đa dạng hơn, bao gồm các khoản vay từ người thân, bạn bè và hàng xóm, cùng với các hình thức tín dụng xoay vòng.
“Hụi” là một hình thức tín dụng phi chính thức, trong đó khoản vay được cung cấp bởi các thương nhân địa phương hoặc nhà cung cấp nguyên liệu cho sản xuất nông nghiệp Hình thức tín dụng này ngày càng trở nên quan trọng trong hệ thống tín dụng phi chính thức.
Thị trường vốn đất đai tại Việt Nam được chia thành hai loại chính: Thị trường cấp I, nơi giao dịch giữa Nhà nước và người sử dụng đất, và Thị trường cấp II, nơi giao dịch giữa những người sử dụng đất nông nghiệp với nhau Theo Phí Mạnh Hồng (2008), thị trường đất đai bao gồm thị trường dịch vụ đất đai, diễn ra trong phạm vi thuê hoặc cho thuê đất cho mục đích hợp pháp trong một khoảng thời gian nhất định, và thị trường tài sản đất đai, nơi mua bán tài sản đất hợp pháp, với việc chuyển giao hoàn toàn quyền sở hữu từ người bán sang người mua.
Thị trường lao động là nơi diễn ra các thỏa thuận mua bán dịch vụ lao động giữa người sử dụng và người lao động, với đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào từng ngành nghề Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 1991), thị trường này phản ánh mức độ công việc và tiền công Hiện nay, thị trường lao động nông thôn đang phát triển mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, nơi không chỉ cần lao động giản đơn mà còn yêu cầu lao động có trình độ khoa học kỹ thuật Các hộ gia đình, hợp tác xã, và trang trại nuôi thủy sản là bên cầu lao động, trong khi bên cung lao động bao gồm các hộ gia đình và các viện, trường học, với các hình thức trao đổi chủ yếu là thuê/mướn hoặc vần công.
Thị trường vật tư đầu vào trong nuôi trồng và đánh bắt thủy sản là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả sản xuất Nó bao gồm các cá nhân, đại lý, doanh nghiệp mua bán nguyên liệu như thức ăn, thuốc hóa chất, và con giống, cùng với dịch vụ như thủy lợi và làm đất Hiện nay, thị trường này ngày càng đa dạng với sự xuất hiện của các dịch vụ khuyến nông, khuyến ngư, giúp cải thiện hoạt động sản xuất Thị trường vật tư được chia thành hai lĩnh vực chính: vật tư nuôi trồng thủy sản (thuốc, hóa chất, con giống) và vật tư đánh bắt thủy sản (tàu cá, lưới, xăng, dầu) Các tổ chức và cá nhân cung cấp vật tư hiện nay rất phong phú, với nhiều hình thức thanh toán như tiền mặt, “gối đầu”, và thanh toán theo tỷ lệ thời gian.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm hiện nay rất đa dạng, nhưng chủ yếu được hiểu là nơi mà cá nhân hoặc hộ gia đình thực hiện việc mua bán hoặc trao đổi để có được hàng hóa và dịch vụ tốt nhất.
Thị trường sản phẩm nuôi trồng và đánh bắt thủy sản hiện nay chủ yếu bao gồm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Các sản phẩm từ hộ gia đình và đơn vị sản xuất thường được mua bán qua thương lái và công ty chế biến, với hình thức thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt.
Mối liên hệ vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường 59
Mục 2.7 của luận án sử dụng khung phân tích và mô hình tiện ích ngẫu nhiên (RUM) McFadden theo Isaac & Shem (2012) để nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả năng tiếp cận thị trường Tiện ích của cá nhân được xác định thông qua các lựa chọn thay thế khác nhau, được diễn đạt bằng phương trình toán học.
Uij = Uj xij,zij (1) Trong đó:
U ij là tiện ích của cá nhân i khi lựa chọn j như một sự thay thế Các đặc điểm quan sát của cá nhân i và j được biểu thị qua xij, trong khi z ij đại diện cho các đặc điểm không quan sát được của cả hai cá nhân.
Cách tiếp cận này tích hợp cả các yếu tố quan sát được và không quan sát được của cá nhân, cũng như các lựa chọn thay thế mà họ đưa ra.
Isaac & Shem (2012) đã biến đổi mô hình tiện ích ngẫu nhiên dưới dạng như sau:
Uij xij,zij = Vj xij; β + ε ij ε ij = U ij x ij ,z ij - V j x ij ; β
Vj xij; β là phần tiện ích có thể quan sát hoặc xác định được, trong khi εij đại diện cho tiện ích không xác định Hệ số ước tính của các biến giải thích được biểu diễn bởi β.
Giả sử rằng cá nhân phải đối mặt với hai lựa chọn, A và B và các lựa chọn được thực hiện ngẫu nhiên, A được chọn nếu;
VA xiA; β + ε iA > VB xiB; β + ε iB
VA xiA; β - V B xiB; β - ε iB - εiA
Cho g xi, β = VA xiA; β - VB xiB; β η = εiB - εiA
[UiB xiB,ziB – VB xiA; β] – [UiA xiA,ziA – VA xiA; β]
Biến tiềm ẩn g x i, β - η i đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cá nhân lựa chọn một phương án cụ thể Các biến xij và zij được định nghĩa như trên, trong khi β biểu thị cho các hệ số ước tính của các biến giải thích.
Tiện ích VA xiA; β + εiA xuất phát từ sự lựa chọn thay thế A, trong đó VB xiA; β đại diện cho phần tiện ích có thể quan sát được, còn εiA là phần tiện ích không xác định.
VB xiB; β + εiB là tiện ích từ sự lựa chọn thay thế của B, trong đó VB xiB; β là phần có thể quan sát được và εiB là phần không xác định G xi,β thể hiện sự khác biệt quan sát được trong tiện ích giữa lựa chọn A và B, trong khi η (Eta) phản ánh sự khác biệt không thể quan sát do thiếu sót các biến khác.
Biến tiềm ẩn kết hợp cả yếu tố quan sát được và sự khác biệt không quan sát được về tiện ích, cho thấy rằng lựa chọn của cá nhân bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt tiện ích từ các lựa chọn khác nhau Cụ thể, cá nhân i sẽ chọn A nếu tiện ích của A lớn hơn tiện ích của B Ngoài ra, các lỗi phát sinh từ các biến không được xem xét, lỗi đo lường và lỗi trong việc xác định chức năng cũng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn.
Mô hình thực nghiệm cho thấy rằng các mô hình hồi quy Logistic và Probit đã được áp dụng bởi Isaac & Shem (2012), Emmanuel & Charles (2012), Mawejje và cộng sự (2014) để xác định xác suất tiếp cận thị trường dựa trên các đặc điểm như hộ gia đình, nhân khẩu học và yếu tố kinh tế xã hội Nghiên cứu này đề xuất một mô hình tổng quát nhằm phân tích tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận thị trường trong luận án tiếp theo.
Trong đó: C là khả năng mà hộ tiếp cận được
M là các biến thuộc về đặc điểm hộ gia đình
SC là biến thuộc về vốn xã hội.
Mối liên hệ vốn xã hội và thu nhập 61
2.8.1 Hàm sản xuất Cobb- Douglas
Nhiều nghiên cứu đã trình bày hàm sản xuất Cobb-Douglas dưới các công thức toán học khác nhau; tuy nhiên, dạng hàm tổng quát mà luận án này chọn được diễn đạt như sau:
(3) Với: Y là lượng sản phẩm đầu ra (Y ≥ 0);
Trong mô hình này, Xi (với i = l - n) đại diện cho lượng đầu vào thứ i, trong đó n là tổng số yếu tố đầu vào Hệ số αi (với i = 1 - n, 0 < αi < 1 cho mọi i) thể hiện mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập Xi đến Y, tức là hệ số co giãn của Y theo các biến độc lập Xi.
Biến giả thứ j được định nghĩa bởi công thức Dj (j = l - m) ≥ 0, trong đó βj (j = l – m, 0 < βj < 1 với mọi j) là hệ số ảnh hưởng của các biến giả Dj Bắt nguồn từ biểu thức (3), hàm sản xuất Cobb – Douglas có dạng phi tuyến Khi áp dụng logarit tự nhiên cho cả hai vế, ta thu được phương trình tương ứng.
Phương trình (4) có dạng hàm tuyến tính: Y = β0 + βiXi + ui, cho thấy đây là một dạng hàm đơn giản có thể được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất OLS (Ordinary Least Squares).
Mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng để phản ánh quy luật năng suất cận biên giảm dần trong sản xuất Đồng thời, mô hình này cũng cho thấy mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đầu vào đến năng suất, thể hiện qua độ co giãn của các yếu tố đầu vào.
Sản phẩm cận biên (MP) của yếu tố đầu vào Xi thể hiện sự thay đổi năng suất đầu ra khi tăng thêm một đơn vị yếu tố đầu vào Xi, trong khi các yếu tố đầu vào khác vẫn giữ nguyên.
Để xác định sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào Xj trong hàm sản xuất Cobb-Douglas, trước tiên cần tính mức trung bình của các yếu tố đầu vào Xi (i = 1 - n) Sau đó, khi tăng Xj (với j khác i) lên một đơn vị trong điều kiện giữ cố định các yếu tố X khác tại mức trung bình, ta sẽ xác định được lượng sản phẩm đầu ra tương ứng Lượng sản phẩm đầu ra này được coi là sản phẩm cận biên của Xj.
Khi xem xét ảnh hưởng cận biên của X1 đến năng suất Y cần phải xác định
Năng suất trung bình ( ̅ ) được xác định trong điều kiện các yếu tố đầu vào được giữ cố định ở mức trung bình, trong khi sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào Xi (i= l- n) tại ( ̅ ) được thể hiện qua phương trình (3).
Sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào X1 được xác định:
Vậy sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào X1 tại mức giá trị trung bình là:
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ gia đình hoặc đơn vị sản xuất, cần so sánh giá trị sản phẩm cận biên (MPVXi) với giá đơn vị của yếu tố đầu vào (Pxi) Ba trường hợp có thể xảy ra trong mối quan hệ này.
Khi MPV xi > P xi, hộ gia đình có thể tăng cường đầu tư thêm 1 đơn vị yếu tố đầu vào mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế Điều này cho thấy rằng việc đầu tư thêm 1 đơn vị đầu vào X i vẫn có lợi, vì giá trị sản phẩm cận biên thu được cao hơn chi phí của đơn vị đầu vào trong khi giữ nguyên các yếu tố đầu vào khác.
Khi MPVxi < Pxi, hộ gia đình sẽ không đạt được hiệu quả kinh tế khi tăng thêm 1 đơn vị yếu tố đầu vào Điều này dẫn đến thua lỗ, vì giá trị sản phẩm cận biên thu được thấp hơn chi phí của đơn vị đầu vào, trong khi các yếu tố đầu vào khác không thay đổi.
Khi MPV xi = Pxi, hộ gia đình sản xuất sẽ đạt hiệu quả kinh tế tối ưu Dựa vào kết quả ước lượng hàm Cobb - Douglas và mức chênh lệch giữa MPVxi và Pxi, hộ gia đình có thể đưa ra quyết định chính xác để nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc đầu tư các yếu tố nguồn lực đầu vào, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
2.8.2 Lý thuyết chi phí giao dịch
Lý thuyết chi phí giao dịch, nổi bật trong các lý thuyết về lực phối hợp theo chiều dọc, xuất phát từ thực tế rằng giao dịch không diễn ra trong môi trường hoàn hảo, dẫn đến việc mọi giao dịch đều phát sinh chi phí (Coase, 1937) Chi phí giao dịch (transaction cost) được định nghĩa là chi phí phát sinh khi sử dụng hệ thống thị trường để mua bán các yếu tố đầu vào và sản phẩm cuối cùng (Nguyễn Văn Ngọc, 2006) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chi phí giao dịch là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận ròng của đơn vị sản xuất hoặc nhà đầu tư.
Theo Wallis và North (1986), chi phí giao dịch trên thị trường, bao gồm các khoản chi cho việc tiếp cận đầu vào, sản xuất và đầu ra như thủ tục vay, bảo hiểm, tìm kiếm thông tin và chi phí liên quan đến luật sư, kế toán, đang gia tăng đáng kể Những chi phí này là một phần quan trọng trong tổng chi phí sản xuất, cần được làm rõ trong mối quan hệ sản xuất truyền thống Tổng chi phí sản xuất bao gồm các yếu tố nguồn lực đầu vào như lao động, đất đai và vốn, đồng thời liên quan đến việc biến đổi các thuộc tính vật chất của hàng hóa như quy mô, trọng lượng, số lượng và chất lượng thành phẩm.
Williamson (1988) cho rằng kinh tế học chi phí giao dịch tập trung vào việc phân tích các giao dịch của tổ chức và cá nhân khi hàng hóa, dịch vụ được chuyển từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng, thông qua các giao tiếp có đặc điểm tách biệt về công nghệ.