TÓM TẮTLuận án nghiên cứu tác động của vốn xã hội tới hoạt động của các NHTMViệt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở lần đầu tiên tích hợp giữachất lượng và cấu trúc mạng l
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu này là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực hiện, cótính độc lập riêng, không sao chép của ai Tất cả nội dung trong đề tài chưa đượccông bố ở bất kỳ đâu
Tất cả những phần thông tin tham khảo đều được trích dẫn và ghi nguồn cụthể minh bạch trong danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 08 năm 2018
Tác giả luận án
VŨ CẨM NHUNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành với sự hướng dẫn, hỗ trợ, góp ý và động viênrất nhiều của thầy cô hướng dẫn, gia đình, quý thầy/cô, bạn bè đồng nghiệp trongsuốt thời gian qua Tác giả xin chân thành cảm ơn:
- Cô hướng dẫn, PGS TS Nguyễn Thị Nhung và thầy hướng dẫn, TS HuỳnhThanh Điền đã dành nhiều thời gian để định hướng, hướng dẫn tận tình vàgóp ý cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án
- Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy/cô trường Đại học Ngân hàngTp.HCM nói chung và khoa Kinh tế Quốc tế nói riêng, đã truyền đạt tri thức
và kinh nghiệm trong quá trình tôi học tập nghiên cứu tại trường
- Xin cảm ơn ban lãnh đạo các chi nhánh ngân hàng tại Tp.Hồ Chí Minh đã hỗtrợ tôi thu thập số liệu và chia sẻ các kinh nghiệm chuyên môn giúp tôi hoànthành luận án
- Xin cảm ơn đơn vị tôi đang công tác, bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi trongthời gian làm luận án
- Cuối cùng đó chính là gia đình, chỗ dựa vững chắc để tôi có thể thực hiệnluận án
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2018
Tác giả luận án
VŨ CẨM NHUNG
Trang 4TÓM TẮT
Luận án nghiên cứu tác động của vốn xã hội tới hoạt động của các NHTMViệt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở lần đầu tiên tích hợp giữachất lượng và cấu trúc mạng lưới bên ngoài, bên trong và của lãnh đạo ngân hàng.Bên cạnh đó, luận án cũng lần đầu tiên kiểm chứng mối quan hệ giữa vốn xã hội vàcác hoạt động của NHTM Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Luận án
đã đạt các kết quả nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, luận án đã xây dựng được thang đo đảm bảo giá trị nội dung và độtin cậy, bao gồm: thang đo vốn xã hội là thang đo đa hướng bậc ba với các thànhphần bậc hai là vốn xã hội của lãnh đạo, vốn xã hội bên ngoài, vốn xã hội bên trongngân hàng; Các hoạt động của ngân hàng là các thang đo đơn hướng, bao gồm hoạtđộng nguồn vốn, sử dụng vốn và cung ứng dịch vụ
Thứ hai, luận án cũng đã khẳng định những đóng góp tích cực của vốn xã hộiđối với các hoạt động của NHTM (bao gồm các tác động trực tiếp và gián tiếp củavốn xã hội trong ngân hàng đến các hoạt động của NHTM thông qua việc chấp nhậngiả thuyết với hệ số hồi quy chuẩn hóa được chấp nhận ở mức ý nghĩa 1%)
Thứ ba, luận án cũng chỉ ra những hiệu ứng tích cực và tiêu cực của vốn xãhội đối với ngành ngân hàng từ đó làm cơ sở cho việc gợi ý các chính sách hạn chếcác hiệu ứng tiêu cực của vốn xã hội cho ngành ngân hàng
Thứ tư, luận án có đóng góp quan trọng về mặt lý thuyết là bổ sung các đặctrưng và vai trò của vốn xã hội trong ngành ngân hàng mà các nghiên cứu trước đócòn bị khiếm khuyết
Với những kết quả đạt được từ mô hình thực nghiệm, về mặt học thuật, luận
án mang lại đóng góp mới trên cơ sở bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu thôngqua việc cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về tác động của vốn xã hội đến cáchoạt động của các NHTM Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Xéttrong bối
Trang 5cảnh Việt Nam nói riêng, luận án đã mang lại đóng góp mới về phương pháp tiếpcận và đóng góp những bằng chứng thực nghiệm khẳng định vai trò quan trọng củavốn xã hội đối với việc nâng cao kết quả hoạt động của NHTM.
Thứ năm, luận án có đóng góp quan trọng về hàm ý chính sách, giúp ngânhàng nhận diện và đo lường vốn xã hội đồng thời sử dụng vốn xã hội phục vụ chocác hoạt động của ngân hàng Đồng thời gợi ý chính sách vĩ mô hỗ trợ ngân hàngphát huy hiệu ứng tích cực và hạn chế hiệu ứng tiêu cực của vốn xã hội
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4
1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu 5
1.5 Bố cục của đề tài 6
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA VỐN XÃ HỘI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
2.1 TỔNG KẾT LÝ THUYẾT VỀ VỐN XÃ HỘI VÀ VỐN XÃ HỘI TRONG NGÂN HÀNG 8
2.1.1 Quan niệm vốn xã hội 8
2.1.2 Những nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung đề tài: 11
2.1.3 Vốn xã hội trong ngân hàng 17
2.1.3.1 Khái niệm vốn xã hội trong ngân hàng 17
2.1.3.2 Ý nghĩa của vốn xã hội đối với ngân hàng 19
2.1.3.3 Tính chất cơ bản của vốn xã hội trong hoạt động của các ngân hàng thương mại 21
2.1.4 Thành phần cơ bản của vốn xã hội trong ngân hàng 26
2.1.4.1 Vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 26
2.1.4.2 Vốn xã hội bên ngoài ngân hàng 30
2.1.4.3 Vốn xã hội bên trong ngân hàng 36
2.2 CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 41
2.2.1 Nghiệp vụ nguồn vốn 45
Trang 72.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn 48
2.2.3 Nghiệp vụ cung ứng dịch vụ 49
2.3 KHUNG PHÂN TÍCH CỦA NGHIÊN CỨU 50
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
3.1 Phương pháp nghiên cứu 53
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 53
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu 55
3.2 Phương pháp xây dựng và kiểm định thang đo 56
3.2.1 Phương pháp xây dựng thang đo 56
3.2.2 Phương pháp đánh giá sơ bộ thang đo 58
3.2.3 Phương pháp kiểm định thang đo cho nghiên cứu điển hình 59
3.3 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 59
3.3.1 Phương pháp phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu 59
3.3.2 Phương pháp kiểm định giả thuyết và mô hình nghiên cứu cho trường hợp điển hình 60
3.4 THIẾT KẾ MẪU NGHIÊN CỨU 61
3.4.1 Thiết kế mẫu cho xây dựng và đánh giá thang đo sơ bộ 61
3.4.2 Phương pháp thiết kế mẫu cho kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cho nghiên cứu điển hình 61
3.5 XÂY DỰNG THANG ĐO VỐN XÃ HỘI CỦA NGÂN HÀNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 62
3.5.1 Xây dựng thang đo vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 62
3.5.2 Xây dựng thang đo vốn xã hội bên ngoài ngân hàng 66
3.5.3 Xây dựng thang đo vốn xã hội bên trong ngân hàng 71
3.5.2 Xây dựng thang đo về các hoạt động của NHTM 74
3.5.3 Đánh giá sơ bộ thang đo 77
3.5.3.1 Hệ số tin cậy (Cronbach’s alpha) 78
3.5.3.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 78
Trang 83.6 GIẢ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI TỚI CÁC HOẠT ĐỘNG
CỦA NHTM 81
3.6.1 Đối với vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 81
3.6.2 Đối với xã hội bên ngoài 82
3.6.3 Đối với vốn xã hội bên trong 84
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 88
CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 89
4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 89
4.2 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO BẰNG HỆ SỐ TIN CẬY VÀ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ 91
4.3 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO BẰNG PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHẲNG ĐỊNH (CFA) 92
4.3.1 Kiểm định các thang đo bậc ba của khái niệm vốn xã hội 92
4.3.1.1 Kiểm định thang đo vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 92
4.3.1.2 Kiểm định thang đo vốn xã hội bên ngoài ngân hàng 94
4.3.1.3 Kiểm định thang đo vốn xã hội bên trong ngân hàng 96
4.3.2 Phân tích nhân tố khẳng định chung cho các thang đo vốn xã hội, các hoạt động của NHTM 99
4.4 KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY TỔNG HỢP VÀ PHƯƠNG SAI TRÍCH 101
4.5 MÔ TẢ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VÀ HIỆU CHỈNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU .102
4.5.1 Mô tả đặc trưng của vốn xã hội 102
4.5.2 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 103
4.6 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 103
4.6.1 Ước lượng mô hình nghiên cứu 103
4.6.2 Kiểm định các giả thuyết 105
4.7 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH 106
4.7.1 Vốn xã hội của ngân hàng tác động đến hoạt động nguồn vốn của NHTM 107
4.7.2 Vốn xã hội của ngân hàng tác động đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM .110
Trang 94.7.3 Vốn xã hội của ngân hàng tác động đến hoạt động cung ứng dịch vụ của
NHTM 112
4.7.4 Mối liên hệ giữa các hoạt động của NHTM 114
4.7.5 Hiệu ứng tích cực và tiêu cực của vốn xã hội đối với NHTM 117
4.7.5.1 Hiệu ứng tích cực của vốn xã hội đối với ngành ngân hàng 117
4.7.5.2 Hiệu ứng tiêu cực của vốn xã hội đối với ngành ngân hàng 120
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 124
CHƯƠNG 5 125
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 125
5.1 KẾT LUẬN 125
5.1.1 Kết quả xây dựng và kiểm định thang đo vốn xã hội của ngân hàng 125
5.1.2 Kết quả xây dựng và kiểm định thang đo các hoạt động của NHTM 126
5.1.3 Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình nghiên cứu 126
5.2 KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM THÔNG QUA SỬ DỤNG VỐN XÃ HỘI 128
5.2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của vốn xã hội trong chiến lược phát triển của NHTM 129
5.2.2 Thiết lập mục tiêu đo lường vốn xã hội trong ngân hàng 130
5.2.3 Phát triển vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 135
5.2.4 Phát triển vốn xã hội bên ngoài ngân hàng 136
5.2.5 Phát triển vốn xã hội bên trong ngân hàng 138
5.2.6 Gợi ý chính sách vĩ mô hỗ trợ ngân hàng phát triển vốn xã hội tạo hiệu ứng tích cực và hạn chế hiệu ứng tiêu cực trong môi trường hoạt động ngân hàng 140
5.2.6.1 Gợi ý chính sách vĩ mô hỗ trợ ngân hàng phát huy hiệu ứng tích cực của vốn xã hội 140
5.2.6.2 Gợi ý chính sách vĩ mô và vi mô hỗ trợ ngân hàng hạn chế hiệu ứng tiêu cực của vốn xã hội 141
5.3 NHỮNG ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA LUẬN ÁN 143
5.3.1 Đóng góp về mặt khoa học 143
Trang 105.3.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 144
5.4 HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 144
5.4.1 Hạn chế của luận án 144
5.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 145
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 147
KẾT LUẬN 147
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 173
Trang 11Cronbach’s alpha : Hệ số tin cậy Cronbach’s alpha
NHTW : Ngân hàng trung ương
NHTM : Ngân hàng thương mại
RMSEA : Xấp xỉ của sai số bình phương trung bình (Root mean square
error of approximation)SEM : Mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling)TCKT : Tổ chức kinh tế
TLI : Chỉ số Tucker & Lewis
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
: Giá trị Chi-bình phương (chi-square)
Trang 14CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo báo cáo của NHNN (2016), các NHTM Nhà nước vẫn đang thống trị cảthị phần huy động lẫn thị phần tín dụng, điều này được giải thích do nhiều nguyênnhân, trong đó có thể kể đến việc các NHTM Nhà nước nhiều khi nhận được vốn ưuđãi từ chính phủ để cho vay các khu vực kinh tế được trợ cấp hoặc theo một chươngtrình kích thích kinh tế nào đó Những nguồn vốn này thường có chi phí thấp Trongkhi đó, vốn ưu đãi tài trợ cho các khu vực kinh tế được trợ cấp chủ yếu được thựchiện dựa trên chức năng, quy mô, mạng lưới của ngân hàng, và theo quyết định cấpvốn của cơ quan quản lý nhà nước được phân công Do vậy, việc lựa chọn ngânhàng để cấp vốn tài trợ cho các khu vực kinh tế hoặc chương trình kích thích kinh tế,(ngoài việc các ngân hàng phải thể hiện được năng lực của mình) thì còn phụ thuộcrất nhiều vào các mối quan hệ cá nhân của lãnh đạo ngân hàng với cá nhân lãnh đạocủa cơ quan quản lý nhà nước
Ngoài ra, do NHTM Nhà nước có mạng lưới rộng khắp, và có uy tín vì có sựbảo trợ của Nhà nước Các nhà đầu tư an tâm giao dịch với NHTM Nhà nước bởiNHTM Nhà nước dễ dàng nhận được sự hỗ trợ trong những giai đoạn khó khăn từNhà nước, dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn với lãi suất thấp, dễ dàng tìm kiếm cácđối tác tín dụng lớn từ các Tổng công ty Nhà nước Kết quả này phù hợp với kếtquả nghiên cứu của Bonin và ctg (2005); Gursoy và Aydogan (2002); Najid vàRahman
(2011)
Bên cạnh đó, hoạt động của NHTM bị ảnh hưởng bởi cách NHNN điều hànhchính sách tiền tệ (báo cáo NHNN 2016) Mặc dù các chính sách được ban hànhnhiều nhưng việc tiếp cận vốn của các NHTM và thụ hưởng sự hỗ trợ từ chính sáchcòn chưa đồng đều Đối với các NHTM, nhất là NHTM Nhà nước thì trong việc tiếpcận vốn và tiếp cận thông tin, mối quan hệ giữa cá nhân của lãnh đạo ngân hàng vớicác cá nhân cơ quan quản lý nhà nước sẽ ảnh hưởng rất lớn Điều này cũng là phùhợp tại Việt Nam, khi mà các quan hệ cá nhân rất được chú trọng (Nguyễn VănThắng 2015)
Trang 15Do đó, các NHTM cần nhận thức đầy đủ về vai trò của mối quan hệ của lãnh đạo ngân hàng, để giúp ngân hàng hoạch định chính sách phục vụ cho các họat động kinh
doanh
Không chỉ là mối quan hệ của bản thân người lãnh đạo, mà tất cả mạng lướiquan hệ xã hội đều quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp nói chung vàNHTM nói riêng Trong quá trình hoạt động của mình, ngân hàng nào có khả năngliên kết với khách hàng, các đối tác, các dự án, chương trình tốt thì việc huy độngvốn, cho vay, đầu tư…cũng thuận lợi hơn
Ngoài mặt tích cực, thì các mối quan hệ cũng thể hiện mặt tiêu cực, trong giaiđoạn vừa qua, hiện tượng thâu tóm lẫn nhau giữa các ngân hàng, tranh thủ các mốiquan hệ với các quan chức để phục vụ cho lợi ích của nhóm cá nhân, gây lũng đoạnthị trường và tâm lý bất an cho các chủ thể tham gia thị trường (Nguyễn Đức Chiện2013) Các vụ án kinh tế trong thời gian qua liên quan đến các vị lãnh đạo ngànhngân hàng đã gây thất thoát hàng ngàn tỷ đồng cho nền kinh tế, một phần nguyênnhân xuất phát từ các mối quan hệ xã hội, bao gồm cả mối quan hệ của lãnh đạongân hàng Đồng thời, vẫn còn những hiện tượng như nội bộ thông đồng lấy quỹ,lập hồ sơ giả lấy tiền tiết kiệm, tiền vay…gây mất uy tín cho ngân hàng và ảnhhưởng đến sự phát triển của ngân hàng Đặc biệt việc gian lận trong cho vay ở cácnền kinh tế đang phát triển như Việt Nam xác suất xảy ra khá cao, gây ảnh hưởngđến kết quả ngân hàng một cách sâu sắc (Leonard Onyiriuba 2016) Sau khủnghoảng 2007-2009, niềm tin vào ngành dịch vụ tài chính bị giảm sút nghiêm trọng
vững của ngân hàng Niềm tin cũng là cốt lõi căn bản để xây dựng và phát triểnmạng lưới quan hệ (vốn xã hội) (Dasgupta
nghiên cứu vốn xã hội cho ngành ngân hàng trong bối cảnh mức độ tin cậy thấp nhưngành ngân hàng (một trong những ngành ít được tin cậy nhất với 49% so với côngnghệ, hoặc sản xuất điện tử với 70-73% trong xếp hạng thế giới (Edelman TrustBarometer 2013) là vấn đề cần thiết và nghiên cứu này cũng là tiềm năng để làmsáng
Trang 16tỏ vốn xã hội cho ngành dịch vụ tài chính và đóng góp cho ngữ cảnh hiện tại, khi niềm tin bị ảnh hưởng sau khủng hoảng (Maskell 2000).
Các mối quan hệ xã hội vừa thể hiện mặt tích cực và tiêu cực Đặc biệt thờigian qua tiêu cực trong ngành ngân hàng đang là vấn đề lớn của xã hội, do đó bảnthân ngân hàng và Chính phủ rất cần một khung lý thuyết để nhận thức rõ sự tácđộng của các mối quan hệ này tới các hoạt động của ngân hàng cũng như có nhữnggiải pháp để phát huy hiệu ứng tích cực và hạn chế hiệu ứng tiêu cực từ các mốiquan hệ xã hội này Từ đó giúp các NHTM sử dụng hiệu quả các mối quan hệ nàytrong hoạt động kinh doanh
Bên cạnh đó, đã có những nghiên cứu về mối liên hệ giữa vốn xã hội tronglĩnh vực ngân hàng như nghiên cứu của Xie Wenjing (2013), khám phá mối quan hệgiữa vốn xã hội và rủi ro ngân hàng; Crystal Holmes Zamanian and Lisa Åström(2014) phân tích về việc đầu tư vốn xã hội của ngân hàng; Heru Sulistyo và ctg(2015), kiểm định vai trò của vốn xã hội đối với lòng trung thành của các kháchhàng trong ngân hàng; Justin Yiqiang & ctg (2017), nghiên cứu về mối quan hệ giữavốn xã hội và sự ổn định của ngân hàng Các công trình nghiên cứu hầu hết mangtính định tính và chỉ mới giải quyết một số khía cạnh về mối quan hệ giữa vốn xãhội và ngân hàng, chưa có nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa vốn xã hội và cáchoạt động của ngân hàng Đó là khoảng trống cho tác giả nghiên cứu
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của vốn xã hội đến hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Tp.HCM” Theo đó, nếu đề tài này được thực hiện thành công sẽ là công cụ
giúp các NHTM khai thác và sử dụng hiệu quả mối quan hệ này trong hoạt độngkinh doanh Về khía cạnh học thuật, kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp và làm phongphú thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về khai thác và tận dụng vốn xã hội trong pháttriển các hoạt động của ngân hàng Trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, đề tài
kỳ vọng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị
Trang 171.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của vốn xã hội tới hoạt động của các NHTM Việt Namtrên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện nhằm góp phần đáp ứng yêucầu từ thực tiễn, với các mục tiêu nghiên cứu như sau:
Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá mức độ tác động của vốn xã hội đến hoạt động kinh doanh củaNHTM, nhằm khai thác vai trò tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của vốn xã hộiđối với hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất những gợi ý chính sách giúp các NHTM trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh đẩy mạnh hoạt động kinh doanh thông qua sử dụng vốn xãhội Đồng thời gợi ý chính sách giúp các nhà hoạch định chính sách vàChính phủ hỗ trợ các NHTM Việt Nam phát triển các hình thức liên kết
xã hội tích cực và hạn chế các hình thức liên kết xã hội tiêu cực
Để đạt được các mục tiêu đã nêu ở trên, đề tài phải trả lời các câu hỏi nghiêncứu sau:
- Vốn xã hội của ngân hàng và các hoạt động của NHTM Việt Nam đượcnhận diện và đo lường như thế nào?
- Mô hình nghiên cứu về vốn xã hội tác động tới hoạt động của các NHTMViệt Nam được xây dựng như thế nào?
- Những gợi ý chính sách nào giúp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh củaNHTM thông qua sử dụng vốn xã hội?
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Trang 18Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến hoạt độngcủa các NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đối tượng được khảo sát làlãnh đạo (giám đốc/phó giám đốc chi nhánh) các NHTM trên địa bàn thành phố HồChí
Minh
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu được giới hạn đối với các NHTM hoạt động trên địa bàn thànhphố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 6/2015 đến tháng 12/2016
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu và trả lời được những câu hỏi nghiêncứu do đề tài đặt ra, luận án kết hợp sử dụng hai phương pháp nghiên cứu: định tính
mô hình SEM với sự trợ giúp của phần mềm SPSS và Amos
1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học
Đã có những nghiên cứu nỗ lực đo lường vốn xã hội của doanh nghiệp nhưngkhông phải thuộc ngành ngân hàng nên vẫn chưa chỉ ra được vốn xã hội của ngânhàng có tác động tới các hoạt động của NHTM Do đó, nếu mục tiêu nghiên cứu của
đề tài hoàn thành dự kiến sẽ có những ý nghĩa như sau:
- Xây dựng được thang đo vốn xã hội của ngân hàng, đảm bảo giá trị nội dung
và độ tin cậy để có thể kế thừa cho các nghiên cứu tiếp theo có liên quan
- Xây dựng được thang đo các hoạt động của NHTM đảm bảo giá trị nộidung và độ tin cậy để khẳng định giá trị kế thừa cho các nghiên cứu có liên quan tạiViệt Nam
Trang 19- Chỉ ra những tác động của vốn xã hội tới các hoạt động của NHTM Từ đókhẳng định vốn xã hội là một trong những nguồn lực cần được bổ sung trong việcđẩy mạnh hoạt động kinh doanh của NHTM Đồng thời gợi mở cho những nghiêncứu tiếp theo về mối liên hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động trong quá trình kinhdoanh không chỉ trong ngành ngân hàng, và còn trong các ngành kinh tế khác.
Ý nghĩa thực tiễn
Tác giả luận án kỳ vọng sẽ có những đóng góp về mặt thực tiễn cho các NHTM
và các cơ quan quản lý nhà nước đối với ngành ngân hàng Việt Nam như sau:
- Giúp các NHTM nhận dạng được khuôn khổ tạo lập, duy trì và sử dụng vốn
xã hội trong NHTM Qua đó, NHTM xây dựng các chính sách phát triển và sử dụngvốn xã hội để đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh
- Thông qua việc xây dựng được thang đo các hoạt động của NHTM, từ đógiúp NHTM đánh giá được kết quả của các hoạt động này trong ngân hàng của họđược hoàn thiện hơn
- Chỉ ra được tác động tiêu cực và tích cực của các hình thức liên kết vốn xãhội của các NHTM Việt Nam Từ đó sớm có những chính sách phát huy các hìnhthức liên kết vốn xã hội tích cực, đồng thời hạn chế các hình thức liên kết vốn xã hộitiêu cực trong ngành ngân hàng
1.5 Bố cục của đề tài
Bố cục của đề tài được trình bày trong 5 chương gồm:
Chương 1: Giới thiệu Chương này sẽ tập trung giới thiệu tổng quan về vấn
đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đốitượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và bố cục củanghiên
cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích về mối liên hệ giữa vốn xã hội
và các hoạt động của NHTM Chương này trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết vềvốn xã hội trong ngân hàng và các hoạt động của ngân hàng thương mại đồng thờiđiểm qua các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 20Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày quy trình nghiêncứu, phương pháp nghiên cứu để xây dựng thang đo và mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Kiểm định mô hình nghiên cứu và thảo luận Chương này sẽ trìnhbày kết quả kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và thảo luận các kết quảnghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này trình bày tóm tắt các kếtquả nghiên cứu đã đạt được, đề xuất các gợi ý chính sách Đồng thời nêu nhữngđóng góp mới, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận án đã chỉ ra tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa nghiên cứu và bốcục của đề tài
Trang 21CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ MỐI LIÊN
HỆ GIỮA VỐN XÃ HỘI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
2.1 TỔNG KẾT LÝ THUYẾT VỀ VỐN XÃ HỘI VÀ VỐN XÃ HỘI TRONG NGÂN HÀNG
2.1.1 Quan niệm vốn xã hội
Quan niệm vốn xã hội được nhắc đến đầu tiên vào năm 1916, bởi LydaJudson Hanifan, một nhà giáo dục Mỹ Ông dùng khái niệm vốn xã hội để chỉ tìnhthân hữu, sự thông cảm lẫn nhau, cũng như tương tác giữa các cá nhân hay gia đình.Sau đó, vốn xã hội được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu như Jane Jacob (1961) phântích vốn xã hội trong mối tương quan của đời sống ở thành phố Theo Bourdieu P(1986), vốn xã hội là các nguồn lực tồn tại trong các mối liên hệ giữa các cá nhânhoặc tổ chức (gọi chung là chủ thể), thông qua đó mang lại lợi ích cho các chủ thểnhư thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực Tuy nhiên, chưa thể dựa trênquan điểm này để xây dựng tiêu chí đo lường vốn xã hội do các yếu tố chất lượng vàcấu trúc của mạng lưới quan hệ chưa được đề cập tới
Coleman (1988, 1990) cho rằng thông qua mối liên hệ giữa người và người,vốn xã hội được hình thành và phát triển Ông đồng nhất vốn xã hội với lòng tin,quy tắc hành xử và cho rằng đó là điều kiện tiên quyết để mỗi cá nhân có đượcvốn xã
Trang 22hội Điều này giúp cho mọi cá nhân trong mạng lưới sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ nhau,
vì không phải lúc nào cũng có hợp đồng ràng buộc trách nhiệm lẫn nhau Vốn xã hội
sẽ không tồn tại nếu tình trạng cơ hội, lợi dụng lẫn nhau xảy ra giống như “Lýthuyết trò chơi” đã phân tích: chỉ đạt được điểm cân bằng hợp tác khi mỗi ngườichơi tin tưởng vào sự hợp tác của bạn cùng chơi với mình Đồng thời, Colemancũng chỉ ra được ba khía cạnh biểu hiện chất lượng của vốn xã hội, bao gồm: sự kỳvọng, thông tin lẫn nhau và chuẩn mực tồn tại giữa các quan hệ xã hội Đây cũng làđiểm tiến bộ trong nghiên cứu của Coleman so với của Bourdieu
Tương tự quan điểm của Bourdieu và Coleman là Nahapiet & Ghosal(1998), các tác giả cho rằng vốn xã hội là nguồn lực tồn tại bên trong các mạng lướiquan hệ xã hội của tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là chủ thể), thông qua mạnglưới quan hệ xã hội này giúp các chủ thể trong xã hội dễ dàng huy động được cácnguồn lực hơn Đồng thời, Nahapiet & Ghosal (1998) cũng chỉ ra ba khía cạnh củavốn xã hội gồm (1) khía cạnh cấu trúc mạng lưới: chủ thể và tần suất kết nối giữacác chủ thể trong mạng lưới; (2) khía cạnh quan hệ: biểu hiện chất lượng của cácmối quan hệ như sự tín cẩn, kỳ vọng và chia sẻ lẫn nhau giữa các chủ thể trongmạng lưới; và (3) khía cạnh nhận thức: là những quy định, quy tắc…để giao tiếp vàhành xử với nhau trong mạng lưới quan hệ Tuy đã chỉ ra các khía cạnh của vốn xãhội nhưng cấu trúc mạng lưới xã hội vẫn chưa được làm rõ
Cohen và Prusak (2001) cho rằng vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp táctrên cơ sở sự tin tưởng, sự hiểu biết và chia sẻ giữa các chủ thể Ngân hàng thế giới(1999), trích trong A Krishna & E Shrader (1999), khi nhắc đến vốn xã hội trong
tổ chức cũng xác định vốn xã hội là những gì liên quan đến các cơ sở, các mối quan
hệ và những giá trị truyền thống
Theo Aslaninan (2011, trang 70), vốn xã hội là giá trị được tạo ra khi các cánhân tham gia cùng nhau trong một nhóm hoặc mạng, một mạng xã hội, nơi tàinguyên và các thông tin được đầu tư
Với những ý kiến đa dạng của các nhà nghiên cứu, có thể hình dung vốn xãhội là mạng lưới liên kết giữa con người (hội tụ và kết tinh các giá trị tinh thần trong
Trang 23mạng lưới xã hội), hình thành một thứ nguồn lực vô hình tạo ra sức mạnh cho pháttriển kinh tế xã hội.
So với các loại vốn thông dụng, hữu hình khác gắn với các hình thái vật chất
cụ thể như vốn lưu động, vốn cố định, vốn vật chất, vốn nhân lực…cho thấy rõ ràng
có những điểm tương đồng và khác biệt rõ nét giữa vốn xã hội và các loại vốn khác(Hans & Bolton 2003) Giống như các loại vốn khác, mục đích của vốn xã hội làthúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh (Coleman 1988) Nếu như vốn vật chất tồntại với hình thức vốn hoàn toàn hữu hình, vốn nhân lực ít hữu hình thì vốn xã hội làhình thức vốn ít hữu hình nhất (vô hình) Vốn xã hội là một nguồn tài nguyên vôhình, có giá trị, không giống như vốn tài chính, và không thể dễ dàng được trao đổi(Herreros
2004, trang 20) Cũng theo Herreros (2004), vốn xã hội không phải là tài sản duynhất của một thành viên trong mạng, nó là một tài nguyên được chia sẻ bởi tất cảcác thành viên trong và ngoài nhóm có một số hình thức kết nối với nhau Tương tự
là quan điểm của Lin (2001, trang 19)
Khi đo lường nguồn của cải thế kỷ 21, các chuyên gia cho rằng, vốn xã hội làmột trong những thành tố cơ bản của vốn vô hình (bao gồm vốn con người, lao độngthô, vốn xã hội và chất lượng của các thể chế) (Ngân hàng thế giới 2008 trang 31,trích trong Hoàng Bá Thịnh 2009)
Nếu như vốn vật chất được hình thành do sự thay đổi trong vật liệu để tạo ranhững công cụ lao động phục vụ cho sản xuất; vốn nhân lực được phát triển khi có
sự thay đổi tiến bộ trong con người đem lại những khả năng nhận thức và kỹ năngnghề nghiệp phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh; thì vốn xã hội đượctích lũy thông qua những thay đổi trong các mạng lưới mối quan hệ giữa con ngườivới nhau để phục vụ cho các hoạt động được trôi chảy, thuận lợi hơn
Vốn xã hội chủ yếu gắn với các yếu tố tinh thần như các mối quan hệ qua lạitrong xã hội, sự tin cậy lẫn nhau và hệ thống các giá trị, quy tắc và chuẩn mực ứng
xử được coi là thước đo đánh giá để khuyến khích hay chế tài trong các ứng xử xãhội (Lê Khắc Trí 2007)
Trang 24Nói tóm lại, có thể hiểu vốn xã hội là nguồn lực của cá nhân hoặc nhóm hoặc
tổ chức (gọi chung là chủ thể) được hình thành và phát triển trên cơ sở các mạnglưới quan hệ qua lại với sự tin cậy, tương hỗ lẫn nhau (các mạng lưới quan hệ cóchất lượng)
2.1.2 Những nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung đề tài:
Các nghiên cứu liên quan vốn xã hội
Đã có những nghiên cứu chứng minh vốn xã hội tác động có ý nghĩa đến hoạtđộng doanh nghiệp, chẳng hạn như tác động của vốn xã hội đến sự đổi mới trongdoanh nghiệp (Yuan K.Chou 2003; Alguezaui.S & Filieri.R 2010); tác động của vốn
xã hội trong việc tạo ra các liên doanh mới ( Ferri & ctg 2009); vốn xã hội ảnhhưởng đến hiệu suất kinh tế (Dess & Shaw 2001; Woolcock 2001; Dasgupta 2002,Soo Gwan Do 2009) Trong các nghiên cứu này cho thấy nếu vận dụng vốn xã hộihiệu quả thì hiệu suất doanh nghiệp sẽ được cải thiện
Bên cạnh đó, tầm quan trọng của vốn xã hội trong cải thiện kết quả tổ chức đãđược thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu, bao gồm hiệu suất của các doanh nghiệpnhỏ (Stam, Arzlanian & Elfring 2014); tổ chức đổi mới (Sanchez-Famoso, Maseda
& Iturralde 2014); cam kết và thực hiện (Ellinger 2013; Leana 2006), (Ellinger et al.2013)
Đối với ngành dịch vụ tài chính, vốn xã hội góp phần tạo ra lợi nhuận tàichính (Baron & Markman 2003; Knack & Keefer 1997 trích trong Crystal HolmesZamanian & Lisa Åström 2014), hoặc hỗ trợ phát triển tài chính (Guiso & cộng sự2004)
Có thể nói vốn xã hội đã dần khẳng định vai trò của mình đối với sự pháttriển của doanh nghiệp Tầm quan trọng của vốn xã hội đã được đề cập trong cácnghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới cũng như tại Việt Nam
Nghiên cứu ngoài nước:
Để phân tích vai trò của vốn xã hội trong lĩnh vực kinh tế vi mô, Grootaert(1999) trong một nghiên cứu “Vốn xã hội với sự thịnh vượng và đói nghèo của các
hộ gia đình ở Indonesia”, tác giả chỉ ra rằng tình trạng đói nghèo của các hộ gia đình
Trang 25có thể giảm đi thông qua vốn xã hội, cụ thể là nhờ tiếp cận dịch vụ tín dụng giúp tạo
ra thu nhập ổn định và lâu dài cho các hộ gia đình
Các tác giả Guiso, Sapienza & Zingales (2004) đã nghiên cứu tác dụng củavốn xã hội đối với phát triển tài chính ở Italia, thông qua nghiên cứu “Vai trò củavốn xã hội trong phát triển tài chính” Kết quả cho thấy, các hộ gia đình có xu hướngtiếp cận với tín dụng chính thức (thông qua các tổ chức tín dụng) nhiều hơn tín dụngphi chính thức ở những vùng có mức vốn xã hội cao
Hơn nữa, qua một loạt các nghiên cứu của mình, Woolcock và Narayan đãkhẳng định vai trò của vốn xã hội đối với phát triển kinh tế, cụ thể là việc huy độngcác nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “ Vốn xã hội và phát triển kinh tế:hướng tới một sự tổng hợp lý thuyết và khung chính sách” (Woolcock 1998); “Vốn
xã hội: hệ quả đối với lý thuyết phát triển, nghiên cứu và chính sách” (Woolcock &Narayan 2000), và “Vị trí của vốn xã hội trong việc lý giải những kết quả kinh tế và
xã hội” (Woolcock 2001)
Adler & Kwon (2002); Garriga & Melé (2004) đã lập luận các doanh nghiệp
có thể đảm bảo sự sống còn và tăng trưởng lâu dài thông qua tích luỹ vốn xã hội
Lin (1999), quan hệ xã hội có thể cung cấp thông tin hữu ích về các cơ hội vàlựa chọn trong thị trường không hoàn hảo Vốn xã hội cao giúp các nhà quản lý củacác ngân hàng thuận lợi trong việc ra quyết định và hiểu rõ hơn về các công ty
Tương tự là quan điểm của Houston et al (2010) cho rằng chia sẻ thông tin cóthể làm tăng lợi nhuận của ngân hàng và tăng trưởng cho nền kinh tế Vốn xã hội cóthể tăng số lượng và chất lượng của thông tin, giúp các ngân hàng phân tích hiệusuất của các công ty và giải quyết vấn đề bất đối xứng thông tin
Rodrik (2000), nghiên cứu về sự hợp tác xã hội và ổn định kinh tế đã kết luậnmức vốn xã hội cao có liên quan tới mức độ tương tác và hợp tác xã hội cao Hơnnữa mọi người ít ích kỉ hơn, tinh thần công khai hơn, và mức độ bất ổn kinh tế thấphơn bởi có sự tương tác lặp lại dẫn đến sự hợp tác bên trong ngân hàng và giữa cácngân hàng và đối tác sẽ hiệu quả hơn và lợi nhuận sẽ là cao hơn ở khu vực có vốn
xã hội cao, làm giảm xác suất mất khả năng thanh toán
Trang 26Nghiên cứu của Stephen J Appold và Thanh Quy Nguyen (2004) đã chỉ ravai trò của vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ ở Hà Nội Các tác giả cho biếtvốn xã hội có vai trò quan trọng giúp các doanh nghiệp vay vốn để khởi nghiệp.
Theo Levine (1997); Vega – Redondo (2006), trong xã hội có nguồn vốn xãhội cao, niềm tin vào thị trường và các tổ chức tài chính cũng như ngân hàng cao, sựbất đối xứng về thông tin giảm (tương tự là quan điểm của Ferrary 2003 trích trong
J Manuel Pastor & Emili Tortosa-Ausina 2008), chi phí thông tin, chi phí giám sát
và chi phí giao dịch giảm Những thông tin cần thiết có thể thu được thông qua vốn
xã hội từ mạng lưới bên ngoài và mạng lưới nội bộ
Boutilier (2009), nghiên cứu vốn xã hội và sự phát triển bền vững của tậpđoàn, đã lập luận rằng kích thước của các mối quan hệ tạo ra vốn xã hội “là nhữngcái tạo nên sự khác biệt nhất” cho tổ chức Xây dựng vốn xã hội giữa các bên manglại những tài sản chính sau: sự tin cậy, có đi có lại, một môi trường cởi mở để chia
sẻ thông tin và đoàn kết cũng như phương tiện xây dựng danh tiếng của một người(tương tự là quan điểm của Perrini 2006, trang 309; Russo & Perrini 2010, trang340; Russo & Tencati 2009, trang 340)
Nghiên cứu của Ferri và ctg (2009), đã xác định tác động của vốn xã hộitrong việc tạo ra liên doanh mới Bài viết cũng đánh giá cách đo lường vốn xã hộitrong quá trình kinh doanh từ các nghiên cứu trước và cho thấy thiếu sự đồng thuậnthực nghiệm trong đo lường vốn xã hội Tác giả cũng cho thấy các doanh nhân đãkhai thác các mạng lưới chính thức và phi chính thức của mình để tạo liên doanhmới Bài viết cũng khuyến cáo tầm quan trọng của việc hiểu và đo lường được vốn
xã hội trong quá trình kinh doanh
James, T T (2011), đã chỉ ra vốn xã hội cung cấp cho các công ty tiềm năng
để có thể tận dụng các mối quan hệ tổ chức của họ để tạo ra lợi thế bền vững và cơhội hiệu suất kinh doanh cao cho công ty
Theo Ariani (2012), vốn xã hội rất quan trọng trong công việc tập thể và hiệuquả phối hợp giữa các cá nhân, nó tạo điều kiện cho công việc tập thể được dễ dàng
Trang 27hơn vì các cá nhân hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau, sẵn sàng chia sẽ, hỗ trợ lẫn nhau
do đó hiệu quả công việc sẽ cao hơn
Yina Li & ctg (2014) đã đánh giá tác động của vốn xã hội đối với việc chia sẻthông tin và hiệu suất công ty Kết quả chỉ ra vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực và ýnghĩa đến việc chia sẻ thông tin và từ đó cải thiện hiệu suất công ty Hơn nữa, nộidung và chất lượng của thông tin được chia sẻ đều cải thiện hiệu quả của công ty
Elias Milana, Issa Maldaon (2015), tổng quan toàn diện về vốn xã hội trong
tổ chức đã nhấn mạnh vai trò thiết yếu của vốn xã hội trong các tổ chức, vốn xã hộiphản ánh mức độ của các mối quan hệ xã hội đóng góp vào việc đạt được mục tiêucủa tổ chức Tương tự là nghiên cứu của Michele Tantardini & Jean-Claude Garcia-Zamor (2014) đã chỉ ra vốn xã hội mang lại các tương tác tích cực giữa các thànhviên trong tổ chức và đem lại hiệu quả cho tổ chức
Shin Nam Lee (2016), đã nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn xã hội và hiệusuất công việc trong ngành công nghiệp dịch vụ tại Hàn Quốc Mẫu khảo sát 279nhân viên trong ngành dịch vụ, với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22.0 và Amos.Kết quả chỉ ra vốn xã hội (đáng chú ý nhất là mạng lưới quan hệ) có tác động ýnghĩa đáng kể đến hiệu suất công việc Hiệu suất công việc càng cao khi vốn xã hộicàng cao Tác giả cũng nhấn mạnh mạng lưới quan hệ của tổ chức có đóng gópquan trọng trong việc phát triển mở rộng ngành công nghiệp dịch vụ
Bài nghiên cứu của Hoai Trong Nguyen & Dien Thanh Huynh (2012), nghiêncứu tác động của vốn xã hội đến các hoạt động của doanh nghiệp bất động sản ViệtNam Nghiên cứu khảo sát 262 doanh nghiệp bất động sản Việt Nam, giai đoạn2010-
2011 Kết quả chỉ ra, vốn xã hội gồm ba thành phần cơ bản là vốn xã hội của lãnhđạo, vốn xã hội bên ngoài và vốn xã hội bên trong doanh nghiệp Vốn xã hội có tácđộng đến các hoạt động của doanh nghiệp bất động sản và các tác giả cũng đề xuấtcác gợi ý giải pháp để phát huy hiệu ứng tích cực và hạn chế hiệu ứng tiêu cực củavốn xã hội trong ngành bất động sản
Các công trình nghiên cứu hầu hết mang tính định tính và mới chỉ giải quyếtmột số khía cạnh về mối quan hệ giữa vốn xã hội và phát triển kinh tế
Trang 28Nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu của Trần Hữu Dũng (2003), “ Vốn xã hội và kinh tế” Tác giả đềcập đến các quan điểm lý thuyết của Pierre Bourdieu, James Coleman, RobertPutnam, Fracis Fukuyama, Hernando de Soto Ông cho rằng cần làm rõ hơn đặcđiểm của vốn xã hội trong mối quan hệ với các loại vốn khác Trong một bài viếtkhác “ Vốn xã hội và phát triển kinh tế” (Trần Hữu Dũng 2006) tác giả đã chỉ ramối quan hệ giữa vốn xã hội và phát triển kinh tế, vốn xã hội và chính sách kinh tế.Bằng cách điểm lại các luận điểm đã có, ông nhấn mạnh rằng vốn xã hội giúp tiếtkiệm phí giao dịch, nâng cao mức đầu tư
Bế Quỳnh Nga và cộng sự (2008) trong nghiên cứu “Vai trò của các mạnglưới xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính và đối phó với các rủi ro chocác hộ nông dân” Nghiên cứu thực hiện ở một số xã tại Gia Lâm, Hà Nội Kết quảchỉ ra vai trò của các mạng lưới xã hội (vốn xã hội) trong việc cung cấp các dịch vụtài chính giúp cải thiện cuộc sống cho các hộ gia đình ở nông thôn
Lê Ngọc Hùng (2008), trong một nghiên cứu về vốn xã hội, vốn con người vàmạng lưới xã hội tại Việt Nam đã chỉ ra vai trò của vốn xã hội và các mạng lướiquan hệ xã hội trong việc tìm kiếm và huy động các nguồn lực kinh tế, cung cấp cácthông tin, hỗ trợ cho kinh tế phát triển
Huỳnh Thanh Điền (2011) trong luận án phân tích đóng góp của vốn xã hộivào các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh, nghiên cứu đãxây dựng được thang đo vốn xã hội hoàn thiện hơn, đề cập đến ba khía cạnh củamạng lưới bên trong, bên ngoài và lãnh đạo doanh nghiệp Nghiên cứu đã nhận dạngđược các nhóm hoạt động của doanh nghiệp bất động sản là hoạt động đầu vào, sảnxuất và đầu ra Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những đóng góp trực tiếp, gián tiếpcủa vốn xã hội vào các nhóm hoạt động của doanh nghiệp là bằng chứng để khẳngđịnh vốn xã hội là một trong những nguồn lực cần được bổ sung trong công táchoạch định và thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bất động sản Kếtquả nghiên cứu này sẽ gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo về mối liên hệ giữavốn xã hội và các hoạt động trong quá trình kinh doanh không chỉ ở ngành bất độngsản mà còn đối
Trang 29với các ngành kinh tế khác Đây cũng là hướng gợi ý cho tác giả nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến lĩnh vực ngân hàng.
Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan vốn xã hội tác động một số khía cạnh trong hoạt động ngân hàng
Theo Karlan (2004), mức độ vốn xã hội cao hơn dẫn đến khả năng trả nợ caohơn và tiết kiệm cao hơn Tương tự như vậy, Ferri & Messori (2000), khi nghiêncứu vốn xã hội và các ngân hàng ở vùng Đông Bắc và trung tâm của Ý đã rút ra kếtluận, mức độ cao hơn của vốn xã hội có tỷ lệ thấp hơn của các khoản nợ xấu và nợnghi
ngờ
Xie Wenjing (2013), trong luận án khám phá mối quan hệ giữa vốn xã hội vàrủi ro ngân hàng Nghiên cứu vốn xã hội ở cấp cộng đồng, sử dụng phương phápluận của Knack và Keefer (1997) trích trong Crystal Holmes Zamanian and LisaÅström (2014), khảo sát mức vốn xã hội của quốc gia qua các chỉ số tin tưởng vàđịnh mức tương tác dân sự Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng rủi ro ngân hàngthấp hơn ở các quốc gia có vốn xã hội cao hơn, nghĩa là ở khu vực có vốn xã hộicao, các ngân hàng tránh xa được nguy cơ phá sản Kết quả cũng cho thấy tác độngcủa vốn xã hội mạnh mẽ hơn khi trình độ học vấn ở đất nước thấp hơn
Crystal Holmes Zamanian and Lisa Åström (2014) phân tích về việc đầu tưvốn xã hội của ngân hàng Tác giả chỉ ra sau khủng hoảng 2007-2009, các dịch vụtài chính bị mất niềm tin mạnh mẽ, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngân hàng.Nghiên cứu cũng chỉ ra lợi ích từ việc xây dựng và nuôi dưỡng các mạng lưới quan
hệ xã hội (hay nguồn vốn xã hội) là rất quan trọng đối với ngân hàng Sử dụngphương pháp nghiên cứu định tính, tác giả nghiên cứu việc đầu tư vào vốn xã hộicủa 8 ngân hàng Thụy Điển năm 2014 Kết quả cho thấy các ngân hàng chưa thamgia vào việc đầu tư vốn xã hội Các thành viên trong ngân hàng thiếu sự liên kết đểxây dựng tài sản vốn xã hội Nghiên cứu cũng chỉ ra các ngân hàng cần đầu tư sâusắc hơn vào các mối quan hệ và đưa ra kỹ thuật để giúp ngân hàng xây dựng mốiquan hệ với các đối tác Vốn xã hội nên được quan tâm đối với bất kỳ nhà cung cấpdịch vụ tài chính nào để
Trang 30có thể duy trì mối quan hệ với khách hàng, giảm chi phí và thu hút các đối tác kinhdoanh.
Trong nghiên cứu của Heru Sulistyo và ctg (2015), đã kiểm tra vai trò củavốn xã hội đối với lòng trung thành của các khách hàng ngân hàng Hồi giáo ở TrungJava Bằng kỹ thuật lấy mẫu có mục đích, số mẫu là 80 khách hàng của các ngânhàng Hồi giáo ở Trung Java Thông qua các cuộc phỏng vấn và bảng hỏi, kết quảcho thấy vốn xã hội có ảnh hưởng đáng kể và tích cực đến lòng trung thành củakhách hàng đối với ngân hàng Tương tự là kết quả nghiên cứu của Jones & Taylor(2012), các tác giả đã chỉ ra kích thước của vốn xã hội trong hình thức kết cấu, quan
hệ và nhận thức ảnh hưởng đáng kể đến hành vi và sự trung thành về mặt thái độ(lòng trung thành của khách hàng)
Justin Yiqiang & ctg (2017), trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn
xã hội và sự ổn định của ngân hàng, sử dụng các mẫu gồm ngân hàng tư và ngânhàng công, các tác giả đã chỉ ra các ngân hàng ở khu vực có vốn xã hội cao có ítthất bại hơn và gặp ít rắc rối về vấn đề tài chính hơn trong cuộc khủng hoảng 2007-
2010 so với các ngân hàng ở các khu vực vốn xã hội thấp
Các công trình nghiên cứu hầu hết mang tính định tính và mới giải quyết một
số khía cạnh về ảnh hưởng của vốn xã hội trong hoạt động ngân hàng
2.1.3 Vốn xã hội trong ngân hàng
2.1.3.1 Khái niệm vốn xã hội trong ngân hàng
Vốn xã hội được nghiên cứu ở các cấp độ: vi mô (cá nhân), trung mô (cácnhóm xã hội), vĩ mô (quốc gia, quốc tế) (Vũ Cao Đàm 2013) Cũng theo Lê KhắcTrí (2007), vốn xã hội được nghiên cứu ở các cấp: quốc gia, địa phương, ngành vàdoanh nghiệp Ngân hàng cũng là một trong những loại hình doanh nghiệp với đặcthù là kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng Cơ sở để hìnhthành nên vốn xã hội chủ yếu thông qua các mối quan hệ xã hội trên cơ sở tin cậylẫn nhau, các quy tắc và chuẩn mực ứng xử Với sự tương tác qua lại giữa các cánhân với các nhóm xã hội và với quốc gia, quốc tế sẽ làm cho vốn xã hội tăng lênhoặc giảm đi, hay nói cách khác nguồn vốn xã hội sẽ phát triển hoặc suy thoái
Trang 31Cụ thể hóa vào điều kiện của các NHTM, có thể nói vốn xã hội trong ngânhàng chính là tổng hợp các nguồn lực của cá nhân hoặc nhóm hoặc tổ chức (gọichung là chủ thể) được hình thành và phát triển trên cơ sở các mạng lưới quan hệqua lại với sự tin cậy, tương hỗ lẫn nhau theo những chuẩn mực xã hội mà chínhngân hàng xây dựng để làm cơ sở cho việc ứng xử, tương tác qua lại, với các cộngđồng khách hàng và với xã hội.
Đặc biệt hơn nữa, trong ngành ngân hàng khi các mối quan hệ giữa ngânhàng và khách hàng được phát triển bền vững thông qua các giao dịch lặp đi lặp lại
và kéo dài tạo thái độ tin tưởng và tích cực Sự tương tác hai chiều sẽ giúp tăngcường mối quan hệ xã hội, từ đó giúp tăng nguồn vốn xã hội, là đầu vào cho tươnglai, tăng lợi thế thông tin Điều này có lợi cho cả ngân hàng và khách hàng
Trong hoạt động của ngân hàng, sự tin tưởng là điều rất quan trọng và cầnthiết Theo Banfield (1958) trích trong Xie Wenjing (2013) và Fukuyama (1995),một xã hội có nguồn vốn xã hội thấp, trình độ phát triển của ngân hàng tương đốithấp, các giao dịch tài chính sẽ có xu hướng đi vào phân nhóm hẹp như gia đình,bạn bè Trong ngắn hạn, vốn xã hội là đầu vào quan trọng cho việc thực hiện cáchoạt động của ngân hàng, và sự tồn tại của vốn xã hội có tác động tích cực đến khảnăng thực thi pháp lý của các hợp đồng ngân hàng
Các tài liệu về mối quan hệ giữa ngân hàng và vốn xã hội đã chứng minhrằng, có sự tương tác lặp đi lặp lại và kéo dài giữa ngân hàng và khách hàng, tạođiều kiện theo dõi, kiểm tra và có thể khắc phục vấn đề bất đối xứng thông tin (Burt2000; Houston et al 2010) Ngân hàng không chỉ có lợi từ nguồn vốn xã hội đượctạo ra từ mối quan hệ sẵn có với khách hàng mà còn từ nguồn vốn xã hội đang tồntại trong xã hội Một cách trực tiếp nhất, tác động của vốn xã hội vào hoạt độngngân hàng nói chung là thông qua gia tăng sự tin tưởng của các cá nhân tham giatrong mối quan hệ với ngân hàng Thật vậy, đối với nền kinh tế có vốn xã hội cao,
cá nhân có sự tin tưởng lẫn nhau hoặc do thái độ đạo đức của chính khách hàngtrong giáo dục và tồn tại một cơ chế xã hội cùng nền pháp lý tốt dẫn đến con người
sẽ tin tưởng lẫn nhau,
Trang 32điều này không chỉ có lợi cho ngân hàng mà còn có lợi cho chính bản thân khách hàng và xã hội.
Từ những quan niệm nêu trên về vốn xã hội, có thể khái quát vốn xã hộitrong ngân hàng là tổng hợp các nguồn lực của cá nhân, nhóm, hoặc tổ chức tồn tạitrong các mối quan hệ liên kết, chia sẻ, tin cậy lẫn nhau theo những chuẩn mực xãhội đã được thừa nhận
2.1.3.2 Ý nghĩa của vốn xã hội đối với ngân hàng
Từ các nghiên cứu trước đó cũng như nghiên cứu của J.M Pastor & E.T.Ausina (2008) về mối quan hệ giữa vốn xã hội và ngân hàng, các tác giả đã chứngminh vốn xã hội có một ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng Cụ thể như sau:
- Vốn xã hội giúp giảm chi phí thông tin, chi phí giao dịch và chi phí giám sát
(Levine 1997, Vega – Redondo 2006) Chi phí thông tin và chi phí giao dịch thấphơn ở các nước có thị trường tài chính phát triển Những thông tin cần thiết có thểthu được thông qua vốn xã hội từ mạng lưới bên ngoài và mạng lưới nội bộ Trong
xã hội có nguồn vốn xã hội cao, niềm tin vào thị trường và các tổ chức tài chínhcũng như ngân hàng cao, sự bất đối xứng về thông tin giảm (Ferrary 2003 tríchtrong J Manuel Pastor & Emili Tortosa-Ausina 2008), chi phí thông tin, chi phígiám sát và chi phí giao dịch giảm Đây là những yếu tố cần thiết để hoạt độngngân hàng đạt kết quả cao Nếu trong xã hội bị phân đoạn và cô lập, không có quan
hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội, chi phí cho ngân hàng trong việc thu thậpthông tin về khách hàng sẽ cao, ngân hàng cũng không thể tận dụng mạng lưới quan
hệ của khách hàng hiện hữu để có được thông tin về khách hàng và nhóm cá nhânkhác Trường hợp quan hệ giữa các cá nhân là mạnh, nguồn lực cho ngân hàng cóthể nâng cao về khách hàng tiềm năng mà khách hàng của họ có quan hệ, từ đó giúpngân hàng giảm chi phí tìm kiếm thông tin…
- Vốn xã hội góp phần làm giảm chi phí tài chính, chi phí tín dụng
Các mối quan hệ không chỉ được thiết lập và bền vững bằng sự tin tưởng màcòn dựa trên cường độ của các mối quan hệ, sự lặp lại và tích lũy theo thời gian(J.M Pastor & E.T Ausina 2008; Lê Ngọc Hùng 2008; Hoàng Bá Thịnh 2009).Cũng theo
Trang 33Petersen & Rajan (1994, 1995), Elyasiani & Goldberg (2004), khi nghiên cứu mốiquan hệ giữa ngân hàng và người đi vay, kết quả cho thấy vốn xã hội còn ảnh hưởngđến cả chi phí tín dụng Khi vốn xã hội cao, niềm tin vào ngân hàng tăng, kháchhàng mạnh dạn đi vay, dẫn đến lượng cung tín dụng cao và làm giảm chi phí quản lýhoạt động cấp tín dụng.
- Vốn xã hội giúp giảm tổn thất cho vay
Vốn xã hội cao không những dẫn đến chi phí thông tin thấp mà còn thu nhậnđược thông tin chất lượng cao (nguồn thông tin có độ tin cậy cao), từ đó giúp ngânhàng đánh giá tốt hơn khả năng xảy ra rủi ro thanh toán Như vậy tổn thất cho vay
sẽ giảm xuống Cũng theo Ferrary (2003) trích trong J Manuel Pastor & EmiliTortosa- Ausina (2008), để giảm bớt rủi ro không chắc chắn, cần bổ sung phươngpháp khách quan hoặc những thông tin thu được qua các mối quan hệ dựa trên sự tintưởng Chất lượng đánh giá rủi ro và giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào chất lượngnguồn vốn xã hội đang tồn tại trong môi trường
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu phân tích sự tồn tại một liên kết thực nghiệmgiữa vốn xã hội và nợ xấu, nợ nghi ngờ, các khoản vay ngân hàng Theo Karlan(2004), mức độ vốn xã hội cao hơn dẫn đến khả năng trả nợ cao hơn và tiết kiệm caohơn Tương tự như vậy, Ferri & Messori (2000), khi nghiên cứu vốn xã hội và cácngân hàng ở vùng Đông Bắc và trung tâm của Ý đã rút ra kết luận, mức độ cao hơncủa vốn xã hội có tỷ lệ thấp hơn của các khoản nợ xấu và nợ nghi ngờ
- Vốn xã hội làm tăng nguồn cung tín dụng
Sự tồn tại của mạng lưới xã hội cho phép ngân hàng cấp tín dụng dễ dànghơn với chi phí thấp hơn do khả năng tiếp cận được khách hàng tiềm năng từ kháchhàng hiện hữu Petersen & Rajan (1994,1995); Ferri & Messori (2000); Elyasiani &Goldberg (2004), chứng minh rằng vốn xã hội càng cao thì nguồn cung cấp tín dụng
sẽ càng cao (do huy động vốn dễ dàng hơn)
- Vốn xã hội khuyến khích khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng
Trang 34Tất cả các ngân hàng bán lẻ tin rằng mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng là rấtquan trọng, các yếu tố khác không đổi, cá nhân sinh sống trong môi trường vốn xãhội thấp sẽ sử dụng sản phẩm của ngân hàng thấp hơn do bị ảnh hưởng bởi niềm tin(Guiso et al 2004) Tác giả chỉ ra có một liên kết tích cực, trọng yếu giữa vốn xã hộivới việc sử dụng séc, thẻ tín dụng, dịch vụ thẻ và có một liên kết tiêu cực, trọng yếugiữa vốn xã hội với việc sử dụng tiền mặt.
Tất cả những luận điểm của các tác giả cho thấy hoạt động của ngân hàng sẽhiệu quả hơn trong nền kinh tế có vốn xã hội cao
2.1.3.3 Tính chất cơ bản của vốn xã hội trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
xã hội giúp phổ biến và chuyển giao thông tin, kiến thức trong tổ chức, giảm cáchành vi cơ hội, tạo điều kiện cho tập thể quyết định (A Krishna & E Shrader 1999;Khadigeh Mozafari& Ibrahim Dadfar 2016) Tương tự như luận điểm trên, thôngqua các mạng lưới quan hệ xã hội giúp tăng hiệu quả hoạt động, giảm chi phí thôngtin, chi phí giao dịch (Levine 1997; Vega-Redondo 2006) và giảm sự bất đối xứngthông tin (Boot
2000; Ferrary 2003, trích trong J Manuel Pastor & Emili Tortosa-Ausina 2008;Houston et al 2010) Nhờ các mạng lưới xã hội giúp cung cấp thông tin chính xác,cần thiết và nhờ vậy góp phần làm giảm các chi phí giao dịch cho các bên tham giamạng lưới (Nguyễn Vũ Quỳnh Anh 2014) Như vậy trong mối quan hệ giữa ngânhàng với khách hàng, khi đã có sự tin tưởng lẫn nhau qua các giao dịch trong thực
tế, giúp giảm thiểu các chi phí giao dịch, chi phí tìm hiểu thông tin về khách hàng,đồng thời hạn chế được các rủi ro cho ngân hàng…Ngoài ra, trong một môitrường làm
Trang 35việc (ngân hàng) mà con người được giáo dục về các đức tính xã hội như thật thà,trung thực, đáng tin sẽ giảm thiểu được các trường hợp vi phạm đạo đức nghềnghiệp, và ngược lại sẽ làm tăng các trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp Điềunày được minh chứng qua các vụ án kinh tế trong ngành ngân hàng (như nội bộthông đồng lấy quỹ, lập hồ sơ giả lấy tiền tiết kiệm, tiền vay) trong thời gian qua đãgây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng Hơn nữa, các hiện tượng bèphái, lợi ích nhóm, tham ô, tham nhũng thời gian qua đã gây thất thoát hàng ngàn tỷđồng cho Nhà nước và xã hội, các vụ án này hầu hết liên quan đến ngân hàng (lãnhđạo ngân hàng), qua đó cho thấy đạo đức nghề nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng, vốn
xã hội bên cạnh những tích cực cần khuyến khích phát triển còn những tiêu cực cầntìm cách hạn chế khi vận dụng vào thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại
Một trong những biểu hiện tích cực ở mức độ cao của vốn xã hội trong ngânhàng là xuất hiện các tương tác xã hội thường xuyên hay nói cách khác vốn xã hộikhông chỉ tác động đến sự phát triển của ngân hàng mà ngược lại khi sự phát triểncủa ngân hàng ở trình độ cao hơn sẽ là cơ sở cho ngân hàng xây dựng các giá trị vàchuẩn mực ở trình độ cao hơn, từ đó tạo điều kiện để hình thành nguồn vốn xã hội ởtrình độ cao hơn
Ngoài hiệu ứng tích cực, vốn xã hội còn hiệu ứng tiêu cực khi hạn chế pháttriển ý tưởng mới, dẫn đến chủ nghĩa quán tính (Gargiulo & Bernassi 1999) Thực
tế, trong quy trình thẩm định tín dụng tại ngân hàng, khi công việc giao cho mộtnhóm thẩm định, đã làm việc lâu năm với nhau, đôi khi nhận định chủ quan ở mộtkhâu dẫn đến khâu khác cũng phụ thuộc kết quả thẩm định ở khâu trước, đưa đếnviệc quyết định cho vay hoặc không cho vay chưa chính xác, chứa đựng nhiều rủi
ro Theo Lê Ngọc Hùng (2008), vốn xã hội tạo sự ràng buộc bên trong nhóm, tạo ra
sự khép kín, hạn chế quan hệ với bên ngoài nhóm, từ đó có thể dẫn đến tính ỷ lạitập thể, thiếu năng động, sáng tạo, ngăn cản các sáng kiến Cũng theo Hoàng BáThịnh (2009), khi các liên kết bên trong một mạng lưới các quan hệ không được bổsung hay hạn chế sự liên kết với các mạng lưới xã hội khác, thì sẽ dẫn đến tính thiểncẩn và bảo thủ, có thể dẫn đến là vật cản cho sự phát triển của ngân hàng
Trang 36- Tính sinh lợi
Tính chất này thể hiện tầm quan trọng của vốn xã hội đối với sự phát triểncủa ngân hàng, có vốn xã hội sẽ đạt được hiệu quả, nếu thiếu vốn xã hội sẽ khôngđạt được hiệu quả mong muốn (Hoàng Bá Thịnh 2009) Thực tế, trong quá trình xâydựng giá trị cốt lõi, bản sắc văn hóa riêng của mình, các ngân hàng phải dựa trên sựđoàn kết, tin tưởng và sẵn sàng hỗ trợ nhau của các nhân viên và các phòng ban đểhoàn thành mục tiêu chung của tổ chức Như vậy, nguồn vốn xã hội ở mỗi ngânhàng sẽ khác nhau và mỗi ngân hàng có bản sắc riêng, nếu thiếu sự liên kết chặt chẽgiữa các cá nhân và các bộ phận chức năng, ngân hàng sẽ không thể tồn tại và pháttriển bền
vững
- Tính thay thế/ bổ sung cho các loại vốn khác
Vốn xã hội có thể thay thế/ bổ sung cho vốn tài chính, vốn con người (Hoàng
Bá Thịnh 2009) Tương tự như quan điểm của Coleman (1988) và Bourdieu (1986),vốn xã hội có thể chuyển hóa sang vốn kinh tế NHTM Nhà nước có mạng lưới rộngkhắp, và có uy tín vì có sự bảo trợ của Nhà nước Các nhà đầu tư an tâm giao dịchvới NHTM Nhà nước do NHTM Nhà nước dễ dàng nhận được sự hỡ trợ từ Nhànước trong những giai đoạn khó khăn, dễ dàng tiếp cận nguồn vốn với lãi suất thấp,
dễ dàng tìm kiếm các đối tác tín dụng lớn từ các Tổng công ty NN Kết quả này phùhợp với kết quả nghiên cứu của Bonin và ctg (2005); Gursoy và Aydogan (2002);Najid và Rahman (2011)
Việc tiếp cận nguồn vốn có chi phí rẻ giữa các NHTM có sự khác nhau, vàthường các NHTM Nhà nước sẽ thuận lợi hơn khi nhận được vốn ưu đãi từ chínhphủ để cho vay các khu vực kinh tế được trợ cấp hoặc theo một chương trình kíchthích kinh tế nào đó Những nguồn vốn này thường có chi phí thấp Trong khi đó,vốn ưu đãi tài trợ cho các khu vực kinh tế được trợ cấp chủ yếu được thực hiện dựatrên chức năng, quy mô, mạng lưới của ngân hàng, và theo quyết định cấp vốn của
cơ quan quản lý nhà nước được phân công Do vậy, việc lựa chọn ngân hàng để cấpvốn tài trợ cho các khu vực kinh tế hoặc chương trình kích thích kinh tế, (ngoàiviệc các ngân hàng phải thể hiện được năng lực của mình) thì còn phụ thuộc rấtnhiều vào các
Trang 37mối quan hệ cá nhân của lãnh đạo ngân hàng với cá nhân lãnh đạo của cơ quan quản
lý nhà nước (nhất thân, nhì quen)
Không chỉ là mối quan hệ của bản thân người lãnh đạo, mà tất cả mạng lướiquan hệ xã hội đều quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp nói chung vàNHTM nói riêng Trong quá trình hoạt động của mình, ngân hàng nào có khả năngliên kết với khách hàng, các đối tác, các dự án, chương trình tốt thì việc huy độngvốn, cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ…cũng thuận lợi hơn
Như vậy, ngoài nguồn lực tài chính thì các mối quan hệ xã hội sẽ là yếu tốquan trọng giúp ngân hàng hoàn thành các mục tiêu trong quá trình hoạt động kinhdoanh của mình
- Tính hợp trội
Vốn xã hội không tồn tại riêng lẻ trong từng cá nhân, mà tồn tại trong mốiquan hệ giữa các cá nhân con người với nhau Do đó, nếu vốn xã hội mang tính tíchcực, thì tác động tổng hợp của tập thể lên ngân hàng sẽ lớn hơn tác động riêng lẻ của
cá nhân lên ngân hàng; ngược lại, nếu vốn xã hội mang tính tiêu cực, thì tác độngtổng hợp của tập thể lên ngân hàng sẽ nhỏ hơn tác động riêng lẻ của cá nhân lênngân hàng (Lê Khắc Trí 2007) Trong thực tế, ta có thể thấy, không phải một tập thể
có các cá nhân giỏi là sẽ giành chiến thắng, hay hiệu qua cao nhất Ngân hàng cũngvậy, những cá nhân giỏi phải cùng hỗ trợ và phối hợp với nhau thì mới có thể manglại hiệu quả tối ưu cho ngân hàng Ngược lại, nếu họ ganh tị và ích kỷ cá nhân, luônhiếu thắng, không đoàn kết thì mục tiêu của tổ chức khó mà đạt được
- Tính bắc cầu
Boutilier (2009, trang 74) cho rằng vốn xã hội có tính bắc cầu, liên kết cácchủ thể kèm theo kỹ năng giao tiếp cần thiết cho mạng lưới xã hội Theo tác giả,thông qua mạng lưới vốn xã hội các bên có thể trao đổi thông tin, có sự ảnh hưởng
và tình đoàn kết (đồng quan điểm với Sandefur & Laumann 1998, trang 485-494).Tương tự, Granovetter (1974, 1995) sớm nhìn thấy những lợi ích tiềm năng mà vốn
xã hội mang lại, nó là cầu nối dẫn đến các lợi ích cho doanh nghiệp trong tiếp cậncác đối tác, các cơ hội kinh doanh Sau đó Burt (1992, 2005); Harper & Kelly(2003); Houghton et
Trang 38al.(2009) và Suzanne (2012) cũng có những nhận định tương tự về tính bắc cầu của vốn xã hội.
Đối với thực tế ngân hàng, thông qua mạng lưới vốn xã hội, các ngân hàng cóthể tiếp cận các đối tác, khách hàng tiềm năng qua đối tác, khách hàng hiện hữu Mởrộng cơ hội cho ngân hàng trong việc huy động vốn, cho vay và cung ứng dịch vụ.Mặt khác, ở khâu thẩm định khách hàng trước khi quyết định cho vay, các ngânhàng cần tìm hiểu kỹ các thông tin về khách hàng Như thông tin về tài sản đảm bảo,nhân viên tín dụng phải xuống khảo sát thực tế để đánh giá hiện trạng của tài sản,
có thể qua tiếp xúc các hộ dân xung quanh, chính quyền địa phương sở tại để nắmbắt chính xác thông tin của tài sản Theo Lin (1999), vốn xã hội cao giúp các ngânhàng phân tích tốt hơn và rõ hơn về các công ty mà họ cần thẩm định Như vậy, nhờmạng lưới quan hệ xã hội sẽ giúp ngân hàng có được những nguồn thông tin hữuích phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình
Hơn nữa, trong xu thế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, ngân hàng nào nắmbắt được nguồn thông tin chính xác và sớm nhất sẽ tạo lợi thế trong cạnh tranh.Ngân hàng có thể đi tắt đón đầu để cung ứng các sản phẩm dịch vụ tạo khác biệt vàlợi thế riêng cho mình, đặc biệt các dự án đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế cho ngânhàng Ngân hàng có mạng lưới quan hệ xã hội tốt, sẽ có ưu thế về số lượng và chấtlượng nguồn thông tin để phục vụ hữu ích cho sự phát triển bền vững của ngân hàngmình (Adler & Kwon 2002, trang 29; Houston et al 2010)
- Tính tích lũy theo thời gian
Được hình thành trên cơ sở niềm tin, sự tin cậy, vốn xã hội sẽ được duy trì vàphát triển bền vững nếu mật độ liên hệ, tương tác giữa các cá nhân, các phòng banđược duy trì thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn (Hoàng Bá Thịnh 2009).Cũng theo Trịnh Hòa Bình (2007), vốn xã hội là tài sản được tích lũy và phát triểntheo thời gian từ đó trở thành động lực, sức mạnh và chỗ dựa để cộng đồng xã hộitồn tại và phát triển Cụ thể hóa vào điều kiện của ngân hàng, những khách hàng, đốitác…lâu năm mà ngân hàng đã thiết lập các mối quan hệ và giao dịch thường xuyênthì sự tin tưởng và lòng trung thành sẽ lớn, khả năng hợp tác lâu dài sẽ cao hơn khi
Trang 39ngân hàng giao dịch với khách hàng, đối tác mới Ở mức độ cao hơn, khi các cánhân trong ngân hàng luôn tin tưởng, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, đoànkết vì mục tiêu chung, sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao uy tín cho ngânhàng, từ đó củng cố niềm tin cho đối tác, khách hàng hiện hữu và cả đối tác, kháchhàng tiềm năng khi họ lựa chọn tìm đến ngân hàng giao dịch trong tương lai.
2.1.4 Thành phần cơ bản của vốn xã hội trong ngân hàng
Cấu trúc mạng lưới của doanh nghiệp thường được đề cập ở ba khía cạnhgồm mạng lưới của lãnh đạo, mạng lưới bên ngoài và mạng lưới bên trong doanhnghiệp Vai trò của người lãnh đạo đối với sự thành công của một doanh nghiệp đãđược nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh như Wiklund & Shepherd (2003); ObeyDzomonda và các tác giả (2017); Anne Irungu & Robert Arasa (2017) Theo môhình “năm áp lực cạnh tranh của Porter (1985), các mạng lưới bên ngoài và bêntrong doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đảm bảo các hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp được liên tục và đạt hiệu quả Trong khi vốn xã hội được đề cập đếnnhư là chất lượng và cấu trúc của mạng lưới quan hệ xã hội Do đó, các nhà nghiêncứu khi đề cập đến vốn xã hội trong doanh nghiệp thường dựa trên các khía cạnhvốn xã hội của lãnh đạo, bên ngoài và bên trong doanh nghiệp Tương tự, việc xácđịnh vốn xã hội trong ngân hàng cũng được dựa trên các khía cạnh riêng lẻ trên
Như vậy, vốn xã hội của ngân hàng được đề cập đến như là mạng lưới vàchất lượng các mối quan hệ của lãnh đạo ngân hàng; mối quan hệ bên ngoài ngânhàng; mối quan hệ bên trong ngân hàng
2.1.4.1 Vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng
Đề cập vốn xã hội của lãnh đạo, có thể tổng kết một vài nghiên cứu tiêu biểunhư sau:
Bjorkman & Kock (1995): trong một nghiên cứu thảo luận vai trò của cácmối quan hệ xã hội khi thâm nhập vào mạng lưới kinh doanh nước ngoài Nghiêncứu này đã cho thấy vai trò của các mối quan hệ của lãnh đạo và cá nhân nhân viêntrong việc tiếp thị các dự án và các mặt hàng công nghiệp của các công ty phươngTây ở Trung Quốc Kết quả của nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của mốiquan hệ cá nhân
Trang 40được xem là điều kiện tiên quyết đối với việc tiếp cận hầu hết các thông tin và họ đang phân tích các yếu tố ảnh hưởng và thúc đẩy phát triển các mối quan hệ xã hội.
Tushman & O’Reilly III (1997): khi nghiên cứu về mạng lưới quan hệ củalãnh đạo, nhóm tác giả đã chỉ ra các chủ thể trong mạng lưới quan hệ của lãnh đạogồm dòng họ, bạn bè, đối tác kinh doanh, đồng nghiệp, cơ quan báo chí, quan chức/nhân viên thuộc các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan nghiên cứu, các câu lạc bộ,
cơ quan báo chí Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chưa đưa ra được thang đó để đánhgiá chất lượng các mối quan hệ này
Yli-Renko và các cộng sự (2001): sử dụng một mẫu gồm 180 doanh nghiệpcông nghệ cao có trụ sở tại Anh để phân tích mối quan hệ của vốn xã hội của lãnhđạo Nghiên cứu đã chỉ ra vốn xã hội của lãnh đạo dựa trên mối quan hệ của lãnhđạo với bạn bè, đơn vị tư vấn, chính quyền các cấp và cơ quan truyền thông
Bartol & Zhang (2007), đề cập đến mạng lưới quan hệ của lãnh đạo pháttriển nhờ chất lượng mối quan hệ của lãnh đạo trong công việc, trong mối quan hệbạn bè, sẽ hỗ trợ cho lãnh đạo trong việc tiếp cận nguồn vốn con người và các vốnkhác để thành công Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chưa chỉ rõ các mối quan hệ cụthể trong mạng lưới lãnh đạo như thế nào
Cialdini & các cộng sự (2001), trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng lãnhđạo là người đóng vai trò quyết định đối với kết quả hoạt động của một doanhnghiệp Thông qua tình hữu nghị, quyền lực, sự công nhận của xã hội, tinh thần hỗtrợ mà người lãnh đạo có tầm ảnh hưởng đến các chủ thể có liên quan
Acquaah (2007), trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra vốn xã hội phát triển từmạng lưới quan hệ của nhà lãnh đạo và các mối quan hệ xã hội với các nhà quản lýhàng đầu, các quan chức chính phủ sẽ giúp nâng cao hiệu suất của tổ chức Sau đónăm 2011, Acquaah tiếp tục nghiên cứu vai trò của vốn xã hội từ mạng lưới lãnhđạo, tác giả chỉ ra mối quan hệ xã hội với các quan chức chính phủ sẽ có lợi cho tổchức, đồng thời cũng nêu mặt tích cực, tiêu cực của mối quan hệ này
Paré & các cộng sự (2008), nghiên cứu trên một cuộc khảo sát thực địa tạicác thành phố Montreal, Toronto và Vancouver cũng đã chỉ ra mối quan hệ của lãnhđạo