TÓM TẮT Luận án nghiên cứu tác động của vốn xã hội tới hoạt động của các NHTM Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở lần đầu tiên tích hợp giữa chất lượng và cấu trúc mạn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu này là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực hiện, có tính độc lập riêng, không sao chép của ai Tất cả nội dung trong đề tài chưa được công
bố ở bất kỳ đâu
Tất cả những phần thông tin tham khảo đều được trích dẫn và ghi nguồn cụ thể minh bạch trong danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 08 năm 2018
Tác giả luận án
VŨ CẨM NHUNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành với sự hướng dẫn, hỗ trợ, góp ý và động viên rất nhiều của thầy cô hướng dẫn, gia đình, quý thầy/cô, bạn bè đồng nghiệp trong suốt thời gian qua Tác giả xin chân thành cảm ơn:
- Cô hướng dẫn, PGS TS Nguyễn Thị Nhung và thầy hướng dẫn, TS Huỳnh Thanh Điền đã dành nhiều thời gian để định hướng, hướng dẫn tận tình và góp
ý cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án
- Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy/cô trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM nói chung và khoa Kinh tế Quốc tế nói riêng, đã truyền đạt tri thức
và kinh nghiệm trong quá trình tôi học tập nghiên cứu tại trường
- Xin cảm ơn ban lãnh đạo các chi nhánh ngân hàng tại Tp.Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tôi thu thập số liệu và chia sẻ các kinh nghiệm chuyên môn giúp tôi hoàn thành luận án
- Xin cảm ơn đơn vị tôi đang công tác, bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi trong thời gian làm luận án
- Cuối cùng đó chính là gia đình, chỗ dựa vững chắc để tôi có thể thực hiện luận
Trang 4TÓM TẮT
Luận án nghiên cứu tác động của vốn xã hội tới hoạt động của các NHTM Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở lần đầu tiên tích hợp giữa chất lượng và cấu trúc mạng lưới bên ngoài, bên trong và của lãnh đạo ngân hàng Bên cạnh đó, luận án cũng lần đầu tiên kiểm chứng mối quan hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động của NHTM Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Luận án đã đạt các kết quả nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, luận án đã xây dựng được thang đo đảm bảo giá trị nội dung và độ tin cậy, bao gồm: thang đo vốn xã hội là thang đo đa hướng bậc ba với các thành phần bậc hai là vốn xã hội của lãnh đạo, vốn xã hội bên ngoài, vốn xã hội bên trong ngân hàng; Các hoạt động của ngân hàng là các thang đo đơn hướng, bao gồm hoạt động nguồn vốn, sử dụng vốn và cung ứng dịch vụ
Thứ hai, luận án cũng đã khẳng định những đóng góp tích cực của vốn xã hội đối với các hoạt động của NHTM (bao gồm các tác động trực tiếp và gián tiếp của vốn xã hội trong ngân hàng đến các hoạt động của NHTM thông qua việc chấp nhận giả thuyết với hệ số hồi quy chuẩn hóa được chấp nhận ở mức ý nghĩa 1%)
Thứ ba, luận án cũng chỉ ra những hiệu ứng tích cực và tiêu cực của vốn xã hội đối với ngành ngân hàng từ đó làm cơ sở cho việc gợi ý các chính sách hạn chế các hiệu ứng tiêu cực của vốn xã hội cho ngành ngân hàng
Thứ tư, luận án có đóng góp quan trọng về mặt lý thuyết là bổ sung các đặc trưng và vai trò của vốn xã hội trong ngành ngân hàng mà các nghiên cứu trước đó còn bị khiếm khuyết
Với những kết quả đạt được từ mô hình thực nghiệm, về mặt học thuật, luận
án mang lại đóng góp mới trên cơ sở bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu thông qua việc cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về tác động của vốn xã hội đến các hoạt động của các NHTM Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Xét trong bối
Trang 5cảnh Việt Nam nói riêng, luận án đã mang lại đóng góp mới về phương pháp tiếp cận
và đóng góp những bằng chứng thực nghiệm khẳng định vai trò quan trọng của vốn
xã hội đối với việc nâng cao kết quả hoạt động của NHTM
Thứ năm, luận án có đóng góp quan trọng về hàm ý chính sách, giúp ngân hàng nhận diện và đo lường vốn xã hội đồng thời sử dụng vốn xã hội phục vụ cho các hoạt động của ngân hàng Đồng thời gợi ý chính sách vĩ mô hỗ trợ ngân hàng phát huy hiệu ứng tích cực và hạn chế hiệu ứng tiêu cực của vốn xã hội
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4
1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu 5
1.5 Bố cục của đề tài 6
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA VỐN XÃ HỘI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
2.1 TỔNG KẾT LÝ THUYẾT VỀ VỐN XÃ HỘI VÀ VỐN XÃ HỘI TRONG NGÂN HÀNG 8
2.1.1 Quan niệm vốn xã hội 8
2.1.2 Những nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung đề tài: 11
2.1.3 Vốn xã hội trong ngân hàng 17
2.1.3.1 Khái niệm vốn xã hội trong ngân hàng 17
2.1.3.2 Ý nghĩa của vốn xã hội đối với ngân hàng 19
2.1.3.3 Tính chất cơ bản của vốn xã hội trong hoạt động của các ngân hàng thương mại 21
2.1.4 Thành phần cơ bản của vốn xã hội trong ngân hàng 26
2.1.4.1 Vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 26
2.1.4.2 Vốn xã hội bên ngoài ngân hàng 30
2.1.4.3 Vốn xã hội bên trong ngân hàng 36
2.2 CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 41
2.2.1 Nghiệp vụ nguồn vốn 45
Trang 72.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn 48
2.2.3 Nghiệp vụ cung ứng dịch vụ 49
2.3 KHUNG PHÂN TÍCH CỦA NGHIÊN CỨU 50
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
3.1 Phương pháp nghiên cứu 53
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 53
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu 55
3.2 Phương pháp xây dựng và kiểm định thang đo 56
3.2.1 Phương pháp xây dựng thang đo 56
3.2.2 Phương pháp đánh giá sơ bộ thang đo 58
3.2.3 Phương pháp kiểm định thang đo cho nghiên cứu điển hình 59
3.3 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 59
3.3.1 Phương pháp phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu 59
3.3.2 Phương pháp kiểm định giả thuyết và mô hình nghiên cứu cho trường hợp điển hình 60
3.4 THIẾT KẾ MẪU NGHIÊN CỨU 61
3.4.1 Thiết kế mẫu cho xây dựng và đánh giá thang đo sơ bộ 61
3.4.2 Phương pháp thiết kế mẫu cho kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cho nghiên cứu điển hình 61
3.5 XÂY DỰNG THANG ĐO VỐN XÃ HỘI CỦA NGÂN HÀNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 62
3.5.1 Xây dựng thang đo vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 62
3.5.2 Xây dựng thang đo vốn xã hội bên ngoài ngân hàng 66
3.5.3 Xây dựng thang đo vốn xã hội bên trong ngân hàng 71
3.5.2 Xây dựng thang đo về các hoạt động của NHTM 74
3.5.3 Đánh giá sơ bộ thang đo 77
3.5.3.1 Hệ số tin cậy (Cronbach’s alpha) 78
3.5.3.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 78
Trang 83.6 GIẢ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI TỚI CÁC HOẠT ĐỘNG
CỦA NHTM 81
3.6.1 Đối với vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 81
3.6.2 Đối với xã hội bên ngoài 82
3.6.3 Đối với vốn xã hội bên trong 84
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 88
CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 89
4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 89
4.2 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO BẰNG HỆ SỐ TIN CẬY VÀ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ 91
4.3 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO BẰNG PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHẲNG ĐỊNH (CFA) 92
4.3.1 Kiểm định các thang đo bậc ba của khái niệm vốn xã hội 92
4.3.1.1 Kiểm định thang đo vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 92
4.3.1.2 Kiểm định thang đo vốn xã hội bên ngoài ngân hàng 94
4.3.1.3 Kiểm định thang đo vốn xã hội bên trong ngân hàng 96
4.3.2 Phân tích nhân tố khẳng định chung cho các thang đo vốn xã hội, các hoạt động của NHTM 99
4.4 KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY TỔNG HỢP VÀ PHƯƠNG SAI TRÍCH 101
4.5 MÔ TẢ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VÀ HIỆU CHỈNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 102
4.5.1 Mô tả đặc trưng của vốn xã hội 102
4.5.2 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 103
4.6 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 103
4.6.1 Ước lượng mô hình nghiên cứu 103
4.6.2 Kiểm định các giả thuyết 105
4.7 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH 106
4.7.1 Vốn xã hội của ngân hàng tác động đến hoạt động nguồn vốn của NHTM 107
4.7.2 Vốn xã hội của ngân hàng tác động đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM 110
Trang 94.7.3 Vốn xã hội của ngân hàng tác động đến hoạt động cung ứng dịch vụ của
NHTM 112
4.7.4 Mối liên hệ giữa các hoạt động của NHTM 114
4.7.5 Hiệu ứng tích cực và tiêu cực của vốn xã hội đối với NHTM 117
4.7.5.1 Hiệu ứng tích cực của vốn xã hội đối với ngành ngân hàng 117
4.7.5.2 Hiệu ứng tiêu cực của vốn xã hội đối với ngành ngân hàng 120
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 124
CHƯƠNG 5 125
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 125
5.1 KẾT LUẬN 125
5.1.1 Kết quả xây dựng và kiểm định thang đo vốn xã hội của ngân hàng 125
5.1.2 Kết quả xây dựng và kiểm định thang đo các hoạt động của NHTM 126
5.1.3 Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình nghiên cứu 126
5.2 KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM THÔNG QUA SỬ DỤNG VỐN XÃ HỘI 128
5.2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của vốn xã hội trong chiến lược phát triển của NHTM 129
5.2.2 Thiết lập mục tiêu đo lường vốn xã hội trong ngân hàng 130
5.2.3 Phát triển vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 135
5.2.4 Phát triển vốn xã hội bên ngoài ngân hàng 136
5.2.5 Phát triển vốn xã hội bên trong ngân hàng 138
5.2.6 Gợi ý chính sách vĩ mô hỗ trợ ngân hàng phát triển vốn xã hội tạo hiệu ứng tích cực và hạn chế hiệu ứng tiêu cực trong môi trường hoạt động ngân hàng 140
5.2.6.1 Gợi ý chính sách vĩ mô hỗ trợ ngân hàng phát huy hiệu ứng tích cực của vốn xã hội 140
5.2.6.2 Gợi ý chính sách vĩ mô và vi mô hỗ trợ ngân hàng hạn chế hiệu ứng tiêu cực của vốn xã hội 141
5.3 NHỮNG ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA LUẬN ÁN 143
5.3.1 Đóng góp về mặt khoa học 143
Trang 105.3.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 144
5.4 HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 144
5.4.1 Hạn chế của luận án 144
5.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 145
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 147
KẾT LUẬN 147
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 173
Trang 11CMIN/df : Giá trị Chi – bình phương chia cho bậc tự do ( )
Cronbach’s alpha : Hệ số tin cậy Cronbach’s alpha
NHTW : Ngân hàng trung ương
NHTM : Ngân hàng thương mại
RMSEA : Xấp xỉ của sai số bình phương trung bình (Root mean square
error of approximation) SEM : Mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling) TCKT : Tổ chức kinh tế
TLI : Chỉ số Tucker & Lewis
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
: Giá trị Chi-bình phương (chi-square)
Trang 12DANH MỤC BẢNG
2 Bảng 3.2 Các mạng lưới quan hệ của lãnh đạo ngân hàng 64
3 Bảng 3.3 Thang đo vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng 65
4 Bảng 3.4 Các mạng lưới quan hệ bên ngoài ngân hàng 68
5 Bảng 3.5 Thang đo vốn xã hội bên ngoài ngân hàng 69
6 Bảng 3.6 Các mạng lưới quan hệ bên trong ngân hàng 72
7 Bảng 3.7 Thang đo vốn xã hội bên trong ngân hàng 73
8 Bảng 3.8 Thang đo các hoạt động của NHTM 77
9 Bảng 4.1 Mẫu điều tra của đề tài so với tổng thể 92
10 Bảng 4.2 Hệ số tương quan giữa các khái niệm của vốn xã
11 Bảng 4.3 Hệ số tương quan giữa các khái niệm của vốn xã
12 Bảng 4.4 Hệ số tương quan giữa các khái niệm bậc hai
Trang 13DANH MỤC HÌNH
1 Hình 2.1 Khung phân tích mối liên hệ giữa vốn xã hội
2 Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài 55
3 Hình 3.2 Thành phần vốn xã hội của lãnh đạo ngân
4 Hình 3.3 Thành phần vốn xã hội bên ngoài ngân hàng
5 Hình 3.4 Thành phần vốn xã hội bên trong ngân hàng
6 Hình 3.5 Thang do vốn xã hội của ngân hàng sau khi
7 Hình 3.6 Mô hình lý thuyết tác động của vốn xã hội tới
hoạt động của các NHTM Việt Nam 89
8 Hình 4.1 Kết quả CFA (đã chuẩn hóa) thang đo vốn xã
9 Hình 4.2 Kết quả CFA (đã chuẩn hóa) của thang đo
10 Hình 4.3 Kết quả CFA (đã chuẩn hóa) của thang đo
11 Hình 4.4 Kết quả CFA (đã chuẩn hóa) của thang đo
12 Hình 4.5 Kết quả CFA (đã chuẩn hóa) giữa các khái
13 Hình 4.6 Kết quả SEM mô hình nghiên cứu (đã chuẩn
Trang 14CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo báo cáo của NHNN (2016), các NHTM Nhà nước vẫn đang thống trị cả thị phần huy động lẫn thị phần tín dụng, điều này được giải thích do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể kể đến việc các NHTM Nhà nước nhiều khi nhận được vốn ưu đãi từ chính phủ để cho vay các khu vực kinh tế được trợ cấp hoặc theo một chương trình kích thích kinh tế nào đó Những nguồn vốn này thường có chi phí thấp Trong khi đó, vốn ưu đãi tài trợ cho các khu vực kinh tế được trợ cấp chủ yếu được thực hiện dựa trên chức năng, quy mô, mạng lưới của ngân hàng, và theo quyết định cấp vốn của cơ quan quản lý nhà nước được phân công Do vậy, việc lựa chọn ngân hàng
để cấp vốn tài trợ cho các khu vực kinh tế hoặc chương trình kích thích kinh tế, (ngoài việc các ngân hàng phải thể hiện được năng lực của mình) thì còn phụ thuộc rất nhiều vào các mối quan hệ cá nhân của lãnh đạo ngân hàng với cá nhân lãnh đạo của cơ quan quản lý nhà nước
Ngoài ra, do NHTM Nhà nước có mạng lưới rộng khắp, và có uy tín vì có sự bảo trợ của Nhà nước Các nhà đầu tư an tâm giao dịch với NHTM Nhà nước bởi NHTM Nhà nước dễ dàng nhận được sự hỗ trợ trong những giai đoạn khó khăn từ Nhà nước, dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn với lãi suất thấp, dễ dàng tìm kiếm các đối tác tín dụng lớn từ các Tổng công ty Nhà nước Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bonin và ctg (2005); Gursoy và Aydogan (2002); Najid và Rahman (2011)
Bên cạnh đó, hoạt động của NHTM bị ảnh hưởng bởi cách NHNN điều hành chính sách tiền tệ (báo cáo NHNN 2016) Mặc dù các chính sách được ban hành nhiều nhưng việc tiếp cận vốn của các NHTM và thụ hưởng sự hỗ trợ từ chính sách còn chưa đồng đều Đối với các NHTM, nhất là NHTM Nhà nước thì trong việc tiếp cận vốn và tiếp cận thông tin, mối quan hệ giữa cá nhân của lãnh đạo ngân hàng với các
cá nhân cơ quan quản lý nhà nước sẽ ảnh hưởng rất lớn Điều này cũng là phù hợp tại Việt Nam, khi mà các quan hệ cá nhân rất được chú trọng (Nguyễn Văn Thắng 2015)
Trang 15Do đó, các NHTM cần nhận thức đầy đủ về vai trò của mối quan hệ của lãnh đạo ngân hàng, để giúp ngân hàng hoạch định chính sách phục vụ cho các họat động kinh doanh
Không chỉ là mối quan hệ của bản thân người lãnh đạo, mà tất cả mạng lưới quan hệ xã hội đều quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng Trong quá trình hoạt động của mình, ngân hàng nào có khả năng liên kết với khách hàng, các đối tác, các dự án, chương trình tốt thì việc huy động vốn, cho vay, đầu tư…cũng thuận lợi hơn
Ngoài mặt tích cực, thì các mối quan hệ cũng thể hiện mặt tiêu cực, trong giai đoạn vừa qua, hiện tượng thâu tóm lẫn nhau giữa các ngân hàng, tranh thủ các mối quan hệ với các quan chức để phục vụ cho lợi ích của nhóm cá nhân, gây lũng đoạn thị trường và tâm lý bất an cho các chủ thể tham gia thị trường (Nguyễn Đức Chiện 2013) Các vụ án kinh tế trong thời gian qua liên quan đến các vị lãnh đạo ngành ngân hàng đã gây thất thoát hàng ngàn tỷ đồng cho nền kinh tế, một phần nguyên nhân xuất phát từ các mối quan hệ xã hội, bao gồm cả mối quan hệ của lãnh đạo ngân hàng Đồng thời, vẫn còn những hiện tượng như nội bộ thông đồng lấy quỹ, lập hồ sơ giả lấy tiền tiết kiệm, tiền vay…gây mất uy tín cho ngân hàng và ảnh hưởng đến sự phát triển của ngân hàng Đặc biệt việc gian lận trong cho vay ở các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam xác suất xảy ra khá cao, gây ảnh hưởng đến kết quả ngân hàng một cách sâu sắc (Leonard Onyiriuba 2016) Sau khủng hoảng 2007-2009, niềm tin vào ngành dịch vụ tài chính bị giảm sút nghiêm trọng (Benamati et al 2010) mà niềm
tin là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của ngân hàng Niềm tin cũng
là cốt lõi căn bản để xây dựng và phát triển mạng lưới quan hệ (vốn xã hội) (Dasgupta 2002; Koniordos 2005 trích trong Crystal Holmes Zamanian & Lisa Åström 2014).Việc nghiên cứu vốn xã hội cho ngành ngân hàng trong bối cảnh mức độ tin cậy thấp như ngành ngân hàng (một trong những ngành ít được tin cậy nhất với 49% so với công nghệ, hoặc sản xuất điện tử với 70-73% trong xếp hạng thế giới (Edelman Trust Barometer 2013) là vấn đề cần thiết và nghiên cứu này cũng là tiềm năng để làm sáng
Trang 16tỏ vốn xã hội cho ngành dịch vụ tài chính và đóng góp cho ngữ cảnh hiện tại, khi niềm tin bị ảnh hưởng sau khủng hoảng (Maskell 2000)
Các mối quan hệ xã hội vừa thể hiện mặt tích cực và tiêu cực Đặc biệt thời gian qua tiêu cực trong ngành ngân hàng đang là vấn đề lớn của xã hội, do đó bản thân ngân hàng và Chính phủ rất cần một khung lý thuyết để nhận thức rõ sự tác động của các mối quan hệ này tới các hoạt động của ngân hàng cũng như có những giải pháp để phát huy hiệu ứng tích cực và hạn chế hiệu ứng tiêu cực từ các mối quan hệ
xã hội này Từ đó giúp các NHTM sử dụng hiệu quả các mối quan hệ này trong hoạt động kinh doanh
Bên cạnh đó, đã có những nghiên cứu về mối liên hệ giữa vốn xã hội trong lĩnh vực ngân hàng như nghiên cứu của Xie Wenjing (2013), khám phá mối quan hệ giữa vốn xã hội và rủi ro ngân hàng; Crystal Holmes Zamanian and Lisa Åström (2014) phân tích về việc đầu tư vốn xã hội của ngân hàng; Heru Sulistyo và ctg (2015), kiểm định vai trò của vốn xã hội đối với lòng trung thành của các khách hàng trong ngân hàng; Justin Yiqiang & ctg (2017), nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn
xã hội và sự ổn định của ngân hàng Các công trình nghiên cứu hầu hết mang tính định tính và chỉ mới giải quyết một số khía cạnh về mối quan hệ giữa vốn xã hội và ngân hàng, chưa có nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động của ngân hàng Đó là khoảng trống cho tác giả nghiên cứu
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của vốn xã hội đến hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Tp.HCM” Theo đó, nếu đề tài này được thực hiện thành công sẽ là công cụ
giúp các NHTM khai thác và sử dụng hiệu quả mối quan hệ này trong hoạt động kinh doanh Về khía cạnh học thuật, kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp và làm phong phú thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về khai thác và tận dụng vốn xã hội trong phát triển các hoạt động của ngân hàng Trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, đề tài kỳ vọng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị
Trang 171.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của vốn xã hội tới hoạt động của các NHTM Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu
từ thực tiễn, với các mục tiêu nghiên cứu như sau:
Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá mức độ tác động của vốn xã hội đến hoạt động kinh doanh của NHTM, nhằm khai thác vai trò tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của vốn xã hội đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất những gợi ý chính sách giúp các NHTM trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh đẩy mạnh hoạt động kinh doanh thông qua sử dụng vốn xã hội Đồng thời gợi ý chính sách giúp các nhà hoạch định chính sách và Chính phủ hỗ trợ các NHTM Việt Nam phát triển các hình thức liên kết xã hội tích cực và hạn chế các hình thức liên kết xã hội tiêu cực
Để đạt được các mục tiêu đã nêu ở trên, đề tài phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Vốn xã hội của ngân hàng và các hoạt động của NHTM Việt Nam được nhận diện và đo lường như thế nào?
- Mô hình nghiên cứu về vốn xã hội tác động tới hoạt động của các NHTM Việt Nam được xây dựng như thế nào?
- Những gợi ý chính sách nào giúp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua sử dụng vốn xã hội?
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Trang 18Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến hoạt động của các NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đối tượng được khảo sát là lãnh đạo (giám đốc/phó giám đốc chi nhánh) các NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu được giới hạn đối với các NHTM hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 6/2015 đến tháng 12/2016
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu và trả lời được những câu hỏi nghiên cứu do đề tài đặt ra, luận án kết hợp sử dụng hai phương pháp nghiên cứu: định tính
đề tài hoàn thành dự kiến sẽ có những ý nghĩa như sau:
- Xây dựng được thang đo vốn xã hội của ngân hàng, đảm bảo giá trị nội dung
và độ tin cậy để có thể kế thừa cho các nghiên cứu tiếp theo có liên quan
- Xây dựng được thang đo các hoạt động của NHTM đảm bảo giá trị nội dung
và độ tin cậy để khẳng định giá trị kế thừa cho các nghiên cứu có liên quan tại Việt Nam
Trang 19- Chỉ ra những tác động của vốn xã hội tới các hoạt động của NHTM Từ đó khẳng định vốn xã hội là một trong những nguồn lực cần được bổ sung trong việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của NHTM Đồng thời gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo về mối liên hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động trong quá trình kinh doanh không chỉ trong ngành ngân hàng, và còn trong các ngành kinh tế khác
Ý nghĩa thực tiễn
Tác giả luận án kỳ vọng sẽ có những đóng góp về mặt thực tiễn cho các NHTM
và các cơ quan quản lý nhà nước đối với ngành ngân hàng Việt Nam như sau:
- Giúp các NHTM nhận dạng được khuôn khổ tạo lập, duy trì và sử dụng vốn
xã hội trong NHTM Qua đó, NHTM xây dựng các chính sách phát triển và sử dụng vốn xã hội để đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh
- Thông qua việc xây dựng được thang đo các hoạt động của NHTM, từ đó giúp NHTM đánh giá được kết quả của các hoạt động này trong ngân hàng của họ được hoàn thiện hơn
- Chỉ ra được tác động tiêu cực và tích cực của các hình thức liên kết vốn xã hội của các NHTM Việt Nam Từ đó sớm có những chính sách phát huy các hình thức liên kết vốn xã hội tích cực, đồng thời hạn chế các hình thức liên kết vốn xã hội tiêu cực trong ngành ngân hàng
1.5 Bố cục của đề tài
Bố cục của đề tài được trình bày trong 5 chương gồm:
Chương 1: Giới thiệu Chương này sẽ tập trung giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và bố cục của nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích về mối liên hệ giữa vốn xã hội
và các hoạt động của NHTM Chương này trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về vốn
xã hội trong ngân hàng và các hoạt động của ngân hàng thương mại đồng thời điểm qua các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 20Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu để xây dựng thang đo và mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kiểm định mô hình nghiên cứu và thảo luận Chương này sẽ trình bày kết quả kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và thảo luận các kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được, đề xuất các gợi ý chính sách Đồng thời nêu những đóng góp mới, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận án đã chỉ ra tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của đề tài
Trang 21CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ MỐI LIÊN
HỆ GIỮA VỐN XÃ HỘI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
Nội dung chương 2 sẽ hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về vốn xã hội và các hoạt động của ngân hàng thương mại từ đó xây dựng khung phân tích của nghiên cứu Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu của luận án, chương 2 sẽ lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước về vốn xã hội để xác định vốn xã hội trong ngân hàng và các thành phần của vốn xã hội trong ngân hàng Tiếp theo là các nghiên cứu về các hoạt động của ngân hàng để chỉ ra các nhóm hoạt động của ngân hàng Cuối cùng, trên cơ sở kết hợp hai khía cạnh trên để xây dựng khung phân tích về mối liên hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động của NHTM
2.1 TỔNG KẾT LÝ THUYẾT VỀ VỐN XÃ HỘI VÀ VỐN XÃ HỘI TRONG NGÂN HÀNG
2.1.1 Quan niệm vốn xã hội
Quan niệm vốn xã hội được nhắc đến đầu tiên vào năm 1916, bởi Lyda Judson Hanifan, một nhà giáo dục Mỹ Ông dùng khái niệm vốn xã hội để chỉ tình thân hữu,
sự thông cảm lẫn nhau, cũng như tương tác giữa các cá nhân hay gia đình Sau đó, vốn xã hội được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu như Jane Jacob (1961) phân tích vốn
xã hội trong mối tương quan của đời sống ở thành phố Theo Bourdieu P (1986), vốn
xã hội là các nguồn lực tồn tại trong các mối liên hệ giữa các cá nhân hoặc tổ chức (gọi chung là chủ thể), thông qua đó mang lại lợi ích cho các chủ thể như thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực Tuy nhiên, chưa thể dựa trên quan điểm này để xây dựng tiêu chí đo lường vốn xã hội do các yếu tố chất lượng và cấu trúc của mạng lưới quan hệ chưa được đề cập tới
Coleman (1988, 1990) cho rằng thông qua mối liên hệ giữa người và người, vốn xã hội được hình thành và phát triển Ông đồng nhất vốn xã hội với lòng tin, quy tắc hành xử và cho rằng đó là điều kiện tiên quyết để mỗi cá nhân có được vốn xã
Trang 22hội Điều này giúp cho mọi cá nhân trong mạng lưới sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ nhau,
vì không phải lúc nào cũng có hợp đồng ràng buộc trách nhiệm lẫn nhau Vốn xã hội
sẽ không tồn tại nếu tình trạng cơ hội, lợi dụng lẫn nhau xảy ra giống như “Lý thuyết trò chơi” đã phân tích: chỉ đạt được điểm cân bằng hợp tác khi mỗi người chơi tin tưởng vào sự hợp tác của bạn cùng chơi với mình Đồng thời, Coleman cũng chỉ ra được ba khía cạnh biểu hiện chất lượng của vốn xã hội, bao gồm: sự kỳ vọng, thông tin lẫn nhau và chuẩn mực tồn tại giữa các quan hệ xã hội Đây cũng là điểm tiến bộ trong nghiên cứu của Coleman so với của Bourdieu
Tương tự quan điểm của Bourdieu và Coleman là Nahapiet & Ghosal (1998), các tác giả cho rằng vốn xã hội là nguồn lực tồn tại bên trong các mạng lưới quan hệ
xã hội của tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là chủ thể), thông qua mạng lưới quan hệ
xã hội này giúp các chủ thể trong xã hội dễ dàng huy động được các nguồn lực hơn Đồng thời, Nahapiet & Ghosal (1998) cũng chỉ ra ba khía cạnh của vốn xã hội gồm (1) khía cạnh cấu trúc mạng lưới: chủ thể và tần suất kết nối giữa các chủ thể trong mạng lưới; (2) khía cạnh quan hệ: biểu hiện chất lượng của các mối quan hệ như sự tín cẩn, kỳ vọng và chia sẻ lẫn nhau giữa các chủ thể trong mạng lưới; và (3) khía cạnh nhận thức: là những quy định, quy tắc…để giao tiếp và hành xử với nhau trong mạng lưới quan hệ Tuy đã chỉ ra các khía cạnh của vốn xã hội nhưng cấu trúc mạng lưới xã hội vẫn chưa được làm rõ
Cohen và Prusak (2001) cho rằng vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác trên
cơ sở sự tin tưởng, sự hiểu biết và chia sẻ giữa các chủ thể Ngân hàng thế giới (1999), trích trong A Krishna & E Shrader (1999), khi nhắc đến vốn xã hội trong tổ chức cũng xác định vốn xã hội là những gì liên quan đến các cơ sở, các mối quan hệ và những giá trị truyền thống
Theo Aslaninan (2011, trang 70), vốn xã hội là giá trị được tạo ra khi các cá nhân tham gia cùng nhau trong một nhóm hoặc mạng, một mạng xã hội, nơi tài nguyên và các thông tin được đầu tư
Với những ý kiến đa dạng của các nhà nghiên cứu, có thể hình dung vốn xã hội là mạng lưới liên kết giữa con người (hội tụ và kết tinh các giá trị tinh thần trong
Trang 23mạng lưới xã hội), hình thành một thứ nguồn lực vô hình tạo ra sức mạnh cho phát triển kinh tế xã hội
So với các loại vốn thông dụng, hữu hình khác gắn với các hình thái vật chất
cụ thể như vốn lưu động, vốn cố định, vốn vật chất, vốn nhân lực…cho thấy rõ ràng
có những điểm tương đồng và khác biệt rõ nét giữa vốn xã hội và các loại vốn khác (Hans & Bolton 2003) Giống như các loại vốn khác, mục đích của vốn xã hội là thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh (Coleman 1988) Nếu như vốn vật chất tồn tại với hình thức vốn hoàn toàn hữu hình, vốn nhân lực ít hữu hình thì vốn xã hội là hình thức vốn ít hữu hình nhất (vô hình) Vốn xã hội là một nguồn tài nguyên vô hình, có giá trị, không giống như vốn tài chính, và không thể dễ dàng được trao đổi (Herreros
2004, trang 20) Cũng theo Herreros (2004), vốn xã hội không phải là tài sản duy nhất của một thành viên trong mạng, nó là một tài nguyên được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong và ngoài nhóm có một số hình thức kết nối với nhau Tương tự là quan điểm của Lin (2001, trang 19)
Khi đo lường nguồn của cải thế kỷ 21, các chuyên gia cho rằng, vốn xã hội là một trong những thành tố cơ bản của vốn vô hình (bao gồm vốn con người, lao động thô, vốn xã hội và chất lượng của các thể chế) (Ngân hàng thế giới 2008 trang 31, trích trong Hoàng Bá Thịnh 2009)
Nếu như vốn vật chất được hình thành do sự thay đổi trong vật liệu để tạo ra những công cụ lao động phục vụ cho sản xuất; vốn nhân lực được phát triển khi có
sự thay đổi tiến bộ trong con người đem lại những khả năng nhận thức và kỹ năng nghề nghiệp phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh; thì vốn xã hội được tích lũy thông qua những thay đổi trong các mạng lưới mối quan hệ giữa con người với nhau để phục vụ cho các hoạt động được trôi chảy, thuận lợi hơn
Vốn xã hội chủ yếu gắn với các yếu tố tinh thần như các mối quan hệ qua lại trong xã hội, sự tin cậy lẫn nhau và hệ thống các giá trị, quy tắc và chuẩn mực ứng
xử được coi là thước đo đánh giá để khuyến khích hay chế tài trong các ứng xử xã hội (Lê Khắc Trí 2007)
Trang 24Nói tóm lại, có thể hiểu vốn xã hội là nguồn lực của cá nhân hoặc nhóm hoặc
tổ chức (gọi chung là chủ thể) được hình thành và phát triển trên cơ sở các mạng lưới quan hệ qua lại với sự tin cậy, tương hỗ lẫn nhau (các mạng lưới quan hệ có chất lượng)
2.1.2 Những nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung đề tài:
Các nghiên cứu liên quan vốn xã hội
Đã có những nghiên cứu chứng minh vốn xã hội tác động có ý nghĩa đến hoạt động doanh nghiệp, chẳng hạn như tác động của vốn xã hội đến sự đổi mới trong doanh nghiệp (Yuan K.Chou 2003; Alguezaui.S & Filieri.R 2010); tác động của vốn
xã hội trong việc tạo ra các liên doanh mới ( Ferri & ctg 2009); vốn xã hội ảnh hưởng đến hiệu suất kinh tế (Dess & Shaw 2001; Woolcock 2001; Dasgupta 2002, Soo Gwan Do 2009) Trong các nghiên cứu này cho thấy nếu vận dụng vốn xã hội hiệu quả thì hiệu suất doanh nghiệp sẽ được cải thiện
Bên cạnh đó, tầm quan trọng của vốn xã hội trong cải thiện kết quả tổ chức đã được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu, bao gồm hiệu suất của các doanh nghiệp nhỏ (Stam, Arzlanian & Elfring 2014); tổ chức đổi mới (Sanchez-Famoso, Maseda
& Iturralde 2014); cam kết và thực hiện (Ellinger 2013; Leana 2006), (Ellinger et al.2013)
Đối với ngành dịch vụ tài chính, vốn xã hội góp phần tạo ra lợi nhuận tài chính (Baron & Markman 2003; Knack & Keefer 1997 trích trong Crystal Holmes Zamanian & Lisa Åström 2014), hoặc hỗ trợ phát triển tài chính (Guiso & cộng sự 2004)
Có thể nói vốn xã hội đã dần khẳng định vai trò của mình đối với sự phát triển của doanh nghiệp Tầm quan trọng của vốn xã hội đã được đề cập trong các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới cũng như tại Việt Nam
Nghiên cứu ngoài nước:
Để phân tích vai trò của vốn xã hội trong lĩnh vực kinh tế vi mô, Grootaert (1999) trong một nghiên cứu “Vốn xã hội với sự thịnh vượng và đói nghèo của các
hộ gia đình ở Indonesia”, tác giả chỉ ra rằng tình trạng đói nghèo của các hộ gia đình
Trang 25có thể giảm đi thông qua vốn xã hội, cụ thể là nhờ tiếp cận dịch vụ tín dụng giúp tạo
ra thu nhập ổn định và lâu dài cho các hộ gia đình
Các tác giả Guiso, Sapienza & Zingales (2004) đã nghiên cứu tác dụng của vốn xã hội đối với phát triển tài chính ở Italia, thông qua nghiên cứu “Vai trò của vốn
xã hội trong phát triển tài chính” Kết quả cho thấy, các hộ gia đình có xu hướng tiếp cận với tín dụng chính thức (thông qua các tổ chức tín dụng) nhiều hơn tín dụng phi chính thức ở những vùng có mức vốn xã hội cao
Hơn nữa, qua một loạt các nghiên cứu của mình, Woolcock và Narayan đã khẳng định vai trò của vốn xã hội đối với phát triển kinh tế, cụ thể là việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “ Vốn xã hội và phát triển kinh tế: hướng tới một sự tổng hợp lý thuyết và khung chính sách” (Woolcock 1998); “Vốn
xã hội: hệ quả đối với lý thuyết phát triển, nghiên cứu và chính sách” (Woolcock & Narayan 2000), và “Vị trí của vốn xã hội trong việc lý giải những kết quả kinh tế và
xã hội” (Woolcock 2001)
Adler & Kwon (2002); Garriga & Melé (2004) đã lập luận các doanh nghiệp
có thể đảm bảo sự sống còn và tăng trưởng lâu dài thông qua tích luỹ vốn xã hội
Lin (1999), quan hệ xã hội có thể cung cấp thông tin hữu ích về các cơ hội và lựa chọn trong thị trường không hoàn hảo Vốn xã hội cao giúp các nhà quản lý của các ngân hàng thuận lợi trong việc ra quyết định và hiểu rõ hơn về các công ty
Tương tự là quan điểm của Houston et al (2010) cho rằng chia sẻ thông tin có thể làm tăng lợi nhuận của ngân hàng và tăng trưởng cho nền kinh tế Vốn xã hội có thể tăng số lượng và chất lượng của thông tin, giúp các ngân hàng phân tích hiệu suất của các công ty và giải quyết vấn đề bất đối xứng thông tin
Rodrik (2000), nghiên cứu về sự hợp tác xã hội và ổn định kinh tế đã kết luận mức vốn xã hội cao có liên quan tới mức độ tương tác và hợp tác xã hội cao Hơn nữa mọi người ít ích kỉ hơn, tinh thần công khai hơn, và mức độ bất ổn kinh tế thấp hơn bởi có sự tương tác lặp lại dẫn đến sự hợp tác bên trong ngân hàng và giữa các ngân hàng và đối tác sẽ hiệu quả hơn và lợi nhuận sẽ là cao hơn ở khu vực có vốn xã hội cao, làm giảm xác suất mất khả năng thanh toán
Trang 26Nghiên cứu của Stephen J Appold và Thanh Quy Nguyen (2004) đã chỉ ra vai trò của vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ ở Hà Nội Các tác giả cho biết vốn xã hội có vai trò quan trọng giúp các doanh nghiệp vay vốn để khởi nghiệp
Theo Levine (1997); Vega – Redondo (2006), trong xã hội có nguồn vốn xã hội cao, niềm tin vào thị trường và các tổ chức tài chính cũng như ngân hàng cao, sự bất đối xứng về thông tin giảm (tương tự là quan điểm của Ferrary 2003 trích trong
J Manuel Pastor & Emili Tortosa-Ausina 2008), chi phí thông tin, chi phí giám sát
và chi phí giao dịch giảm Những thông tin cần thiết có thể thu được thông qua vốn
xã hội từ mạng lưới bên ngoài và mạng lưới nội bộ
Boutilier (2009), nghiên cứu vốn xã hội và sự phát triển bền vững của tập đoàn,
đã lập luận rằng kích thước của các mối quan hệ tạo ra vốn xã hội “là những cái tạo nên sự khác biệt nhất” cho tổ chức Xây dựng vốn xã hội giữa các bên mang lại những tài sản chính sau: sự tin cậy, có đi có lại, một môi trường cởi mở để chia sẻ thông tin
và đoàn kết cũng như phương tiện xây dựng danh tiếng của một người (tương tự là quan điểm của Perrini 2006, trang 309; Russo & Perrini 2010, trang 340; Russo & Tencati 2009, trang 340)
Nghiên cứu của Ferri và ctg (2009), đã xác định tác động của vốn xã hội trong việc tạo ra liên doanh mới Bài viết cũng đánh giá cách đo lường vốn xã hội trong quá trình kinh doanh từ các nghiên cứu trước và cho thấy thiếu sự đồng thuận thực nghiệm trong đo lường vốn xã hội Tác giả cũng cho thấy các doanh nhân đã khai thác các mạng lưới chính thức và phi chính thức của mình để tạo liên doanh mới Bài viết cũng khuyến cáo tầm quan trọng của việc hiểu và đo lường được vốn xã hội trong quá trình kinh doanh
James, T T (2011), đã chỉ ra vốn xã hội cung cấp cho các công ty tiềm năng
để có thể tận dụng các mối quan hệ tổ chức của họ để tạo ra lợi thế bền vững và cơ hội hiệu suất kinh doanh cao cho công ty
Theo Ariani (2012), vốn xã hội rất quan trọng trong công việc tập thể và hiệu quả phối hợp giữa các cá nhân, nó tạo điều kiện cho công việc tập thể được dễ dàng
Trang 27hơn vì các cá nhân hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau, sẵn sàng chia sẽ, hỗ trợ lẫn nhau
do đó hiệu quả công việc sẽ cao hơn
Yina Li & ctg (2014) đã đánh giá tác động của vốn xã hội đối với việc chia sẻ thông tin và hiệu suất công ty Kết quả chỉ ra vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực và ý nghĩa đến việc chia sẻ thông tin và từ đó cải thiện hiệu suất công ty Hơn nữa, nội dung và chất lượng của thông tin được chia sẻ đều cải thiện hiệu quả của công ty
Elias Milana, Issa Maldaon (2015), tổng quan toàn diện về vốn xã hội trong tổ chức đã nhấn mạnh vai trò thiết yếu của vốn xã hội trong các tổ chức, vốn xã hội phản ánh mức độ của các mối quan hệ xã hội đóng góp vào việc đạt được mục tiêu của tổ chức Tương tự là nghiên cứu của Michele Tantardini & Jean-Claude Garcia-Zamor (2014) đã chỉ ra vốn xã hội mang lại các tương tác tích cực giữa các thành viên trong tổ chức và đem lại hiệu quả cho tổ chức
Shin Nam Lee (2016), đã nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn xã hội và hiệu suất công việc trong ngành công nghiệp dịch vụ tại Hàn Quốc Mẫu khảo sát 279 nhân viên trong ngành dịch vụ, với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22.0 và Amos Kết quả chỉ ra vốn xã hội (đáng chú ý nhất là mạng lưới quan hệ) có tác động ý nghĩa đáng kể đến hiệu suất công việc Hiệu suất công việc càng cao khi vốn xã hội càng cao Tác giả cũng nhấn mạnh mạng lưới quan hệ của tổ chức có đóng góp quan trọng trong việc phát triển mở rộng ngành công nghiệp dịch vụ
Bài nghiên cứu của Hoai Trong Nguyen & Dien Thanh Huynh (2012), nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến các hoạt động của doanh nghiệp bất động sản Việt Nam Nghiên cứu khảo sát 262 doanh nghiệp bất động sản Việt Nam, giai đoạn 2010-
2011 Kết quả chỉ ra, vốn xã hội gồm ba thành phần cơ bản là vốn xã hội của lãnh đạo, vốn xã hội bên ngoài và vốn xã hội bên trong doanh nghiệp Vốn xã hội có tác động đến các hoạt động của doanh nghiệp bất động sản và các tác giả cũng đề xuất các gợi ý giải pháp để phát huy hiệu ứng tích cực và hạn chế hiệu ứng tiêu cực của vốn xã hội trong ngành bất động sản
Các công trình nghiên cứu hầu hết mang tính định tính và mới chỉ giải quyết một số khía cạnh về mối quan hệ giữa vốn xã hội và phát triển kinh tế
Trang 28Nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu của Trần Hữu Dũng (2003), “ Vốn xã hội và kinh tế” Tác giả đề cập đến các quan điểm lý thuyết của Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam, Fracis Fukuyama, Hernando de Soto Ông cho rằng cần làm rõ hơn đặc điểm của vốn xã hội trong mối quan hệ với các loại vốn khác Trong một bài viết khác “ Vốn xã hội và phát triển kinh tế” (Trần Hữu Dũng 2006) tác giả đã chỉ ra mối quan
hệ giữa vốn xã hội và phát triển kinh tế, vốn xã hội và chính sách kinh tế Bằng cách điểm lại các luận điểm đã có, ông nhấn mạnh rằng vốn xã hội giúp tiết kiệm phí giao dịch, nâng cao mức đầu tư
Bế Quỳnh Nga và cộng sự (2008) trong nghiên cứu “Vai trò của các mạng lưới
xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính và đối phó với các rủi ro cho các hộ nông dân” Nghiên cứu thực hiện ở một số xã tại Gia Lâm, Hà Nội Kết quả chỉ ra vai trò của các mạng lưới xã hội (vốn xã hội) trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính giúp cải thiện cuộc sống cho các hộ gia đình ở nông thôn
Lê Ngọc Hùng (2008), trong một nghiên cứu về vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội tại Việt Nam đã chỉ ra vai trò của vốn xã hội và các mạng lưới quan
hệ xã hội trong việc tìm kiếm và huy động các nguồn lực kinh tế, cung cấp các thông tin, hỗ trợ cho kinh tế phát triển
Huỳnh Thanh Điền (2011) trong luận án phân tích đóng góp của vốn xã hội vào các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh, nghiên cứu đã xây dựng được thang đo vốn xã hội hoàn thiện hơn, đề cập đến ba khía cạnh của mạng lưới bên trong, bên ngoài và lãnh đạo doanh nghiệp Nghiên cứu đã nhận dạng được các nhóm hoạt động của doanh nghiệp bất động sản là hoạt động đầu vào, sản xuất
và đầu ra Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những đóng góp trực tiếp, gián tiếp của vốn xã hội vào các nhóm hoạt động của doanh nghiệp là bằng chứng để khẳng định vốn xã hội là một trong những nguồn lực cần được bổ sung trong công tác hoạch định
và thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bất động sản Kết quả nghiên cứu này sẽ gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo về mối liên hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động trong quá trình kinh doanh không chỉ ở ngành bất động sản mà còn đối
Trang 29với các ngành kinh tế khác Đây cũng là hướng gợi ý cho tác giả nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến lĩnh vực ngân hàng
Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan vốn xã hội tác động một số khía cạnh trong hoạt động ngân hàng
Theo Karlan (2004), mức độ vốn xã hội cao hơn dẫn đến khả năng trả nợ cao hơn và tiết kiệm cao hơn Tương tự như vậy, Ferri & Messori (2000), khi nghiên cứu vốn xã hội và các ngân hàng ở vùng Đông Bắc và trung tâm của Ý đã rút ra kết luận, mức độ cao hơn của vốn xã hội có tỷ lệ thấp hơn của các khoản nợ xấu và nợ nghi ngờ
Xie Wenjing (2013), trong luận án khám phá mối quan hệ giữa vốn xã hội và rủi ro ngân hàng Nghiên cứu vốn xã hội ở cấp cộng đồng, sử dụng phương pháp luận của Knack và Keefer (1997) trích trong Crystal Holmes Zamanian and Lisa Åström (2014), khảo sát mức vốn xã hội của quốc gia qua các chỉ số tin tưởng và định mức tương tác dân sự Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng rủi ro ngân hàng thấp hơn ở các quốc gia có vốn xã hội cao hơn, nghĩa là ở khu vực có vốn xã hội cao, các ngân hàng tránh xa được nguy cơ phá sản Kết quả cũng cho thấy tác động của vốn xã hội mạnh
mẽ hơn khi trình độ học vấn ở đất nước thấp hơn
Crystal Holmes Zamanian and Lisa Åström (2014) phân tích về việc đầu tư vốn xã hội của ngân hàng Tác giả chỉ ra sau khủng hoảng 2007-2009, các dịch vụ tài chính bị mất niềm tin mạnh mẽ, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngân hàng Nghiên cứu cũng chỉ ra lợi ích từ việc xây dựng và nuôi dưỡng các mạng lưới quan hệ xã hội (hay nguồn vốn xã hội) là rất quan trọng đối với ngân hàng Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả nghiên cứu việc đầu tư vào vốn xã hội của 8 ngân hàng Thụy Điển năm 2014 Kết quả cho thấy các ngân hàng chưa tham gia vào việc đầu tư vốn xã hội Các thành viên trong ngân hàng thiếu sự liên kết để xây dựng tài sản vốn
xã hội Nghiên cứu cũng chỉ ra các ngân hàng cần đầu tư sâu sắc hơn vào các mối quan hệ và đưa ra kỹ thuật để giúp ngân hàng xây dựng mối quan hệ với các đối tác Vốn xã hội nên được quan tâm đối với bất kỳ nhà cung cấp dịch vụ tài chính nào để
Trang 30có thể duy trì mối quan hệ với khách hàng, giảm chi phí và thu hút các đối tác kinh doanh
Trong nghiên cứu của Heru Sulistyo và ctg (2015), đã kiểm tra vai trò của vốn
xã hội đối với lòng trung thành của các khách hàng ngân hàng Hồi giáo ở Trung Java Bằng kỹ thuật lấy mẫu có mục đích, số mẫu là 80 khách hàng của các ngân hàng Hồi giáo ở Trung Java Thông qua các cuộc phỏng vấn và bảng hỏi, kết quả cho thấy vốn
xã hội có ảnh hưởng đáng kể và tích cực đến lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng Tương tự là kết quả nghiên cứu của Jones & Taylor (2012), các tác giả đã chỉ ra kích thước của vốn xã hội trong hình thức kết cấu, quan hệ và nhận thức ảnh hưởng đáng kể đến hành vi và sự trung thành về mặt thái độ (lòng trung thành của khách hàng)
Justin Yiqiang & ctg (2017), trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn
xã hội và sự ổn định của ngân hàng, sử dụng các mẫu gồm ngân hàng tư và ngân hàng công, các tác giả đã chỉ ra các ngân hàng ở khu vực có vốn xã hội cao có ít thất bại hơn và gặp ít rắc rối về vấn đề tài chính hơn trong cuộc khủng hoảng 2007-2010 so với các ngân hàng ở các khu vực vốn xã hội thấp
Các công trình nghiên cứu hầu hết mang tính định tính và mới giải quyết một
số khía cạnh về ảnh hưởng của vốn xã hội trong hoạt động ngân hàng
2.1.3 Vốn xã hội trong ngân hàng
2.1.3.1 Khái niệm vốn xã hội trong ngân hàng
Vốn xã hội được nghiên cứu ở các cấp độ: vi mô (cá nhân), trung mô (các nhóm xã hội), vĩ mô (quốc gia, quốc tế) (Vũ Cao Đàm 2013) Cũng theo Lê Khắc Trí (2007), vốn xã hội được nghiên cứu ở các cấp: quốc gia, địa phương, ngành và doanh nghiệp Ngân hàng cũng là một trong những loại hình doanh nghiệp với đặc thù là kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng Cơ sở để hình thành nên vốn xã hội chủ yếu thông qua các mối quan hệ xã hội trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, các quy tắc và chuẩn mực ứng xử Với sự tương tác qua lại giữa các cá nhân với các nhóm xã hội và với quốc gia, quốc tế sẽ làm cho vốn xã hội tăng lên hoặc giảm đi, hay nói cách khác nguồn vốn xã hội sẽ phát triển hoặc suy thoái
Trang 31Cụ thể hóa vào điều kiện của các NHTM, có thể nói vốn xã hội trong ngân hàng chính là tổng hợp các nguồn lực của cá nhân hoặc nhóm hoặc tổ chức (gọi chung
là chủ thể) được hình thành và phát triển trên cơ sở các mạng lưới quan hệ qua lại với
sự tin cậy, tương hỗ lẫn nhau theo những chuẩn mực xã hội mà chính ngân hàng xây dựng để làm cơ sở cho việc ứng xử, tương tác qua lại, với các cộng đồng khách hàng
và với xã hội
Đặc biệt hơn nữa, trong ngành ngân hàng khi các mối quan hệ giữa ngân hàng
và khách hàng được phát triển bền vững thông qua các giao dịch lặp đi lặp lại và kéo dài tạo thái độ tin tưởng và tích cực Sự tương tác hai chiều sẽ giúp tăng cường mối quan hệ xã hội, từ đó giúp tăng nguồn vốn xã hội, là đầu vào cho tương lai, tăng lợi thế thông tin Điều này có lợi cho cả ngân hàng và khách hàng
Trong hoạt động của ngân hàng, sự tin tưởng là điều rất quan trọng và cần thiết Theo Banfield (1958) trích trong Xie Wenjing (2013) và Fukuyama (1995), một
xã hội có nguồn vốn xã hội thấp, trình độ phát triển của ngân hàng tương đối thấp, các giao dịch tài chính sẽ có xu hướng đi vào phân nhóm hẹp như gia đình, bạn bè Trong ngắn hạn, vốn xã hội là đầu vào quan trọng cho việc thực hiện các hoạt động của ngân hàng, và sự tồn tại của vốn xã hội có tác động tích cực đến khả năng thực thi pháp lý của các hợp đồng ngân hàng
Các tài liệu về mối quan hệ giữa ngân hàng và vốn xã hội đã chứng minh rằng,
có sự tương tác lặp đi lặp lại và kéo dài giữa ngân hàng và khách hàng, tạo điều kiện theo dõi, kiểm tra và có thể khắc phục vấn đề bất đối xứng thông tin (Burt 2000; Houston et al 2010) Ngân hàng không chỉ có lợi từ nguồn vốn xã hội được tạo ra từ mối quan hệ sẵn có với khách hàng mà còn từ nguồn vốn xã hội đang tồn tại trong xã hội Một cách trực tiếp nhất, tác động của vốn xã hội vào hoạt động ngân hàng nói chung là thông qua gia tăng sự tin tưởng của các cá nhân tham gia trong mối quan hệ với ngân hàng Thật vậy, đối với nền kinh tế có vốn xã hội cao, cá nhân có sự tin tưởng lẫn nhau hoặc do thái độ đạo đức của chính khách hàng trong giáo dục và tồn tại một cơ chế xã hội cùng nền pháp lý tốt dẫn đến con người sẽ tin tưởng lẫn nhau,
Trang 32điều này không chỉ có lợi cho ngân hàng mà còn có lợi cho chính bản thân khách hàng và xã hội
Từ những quan niệm nêu trên về vốn xã hội, có thể khái quát vốn xã hội trong ngân hàng là tổng hợp các nguồn lực của cá nhân, nhóm, hoặc tổ chức tồn tại trong các mối quan hệ liên kết, chia sẻ, tin cậy lẫn nhau theo những chuẩn mực xã hội đã được thừa nhận
2.1.3.2 Ý nghĩa của vốn xã hội đối với ngân hàng
Từ các nghiên cứu trước đó cũng như nghiên cứu của J.M Pastor & E.T Ausina (2008) về mối quan hệ giữa vốn xã hội và ngân hàng, các tác giả đã chứng minh vốn xã hội có một ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng Cụ thể như sau:
- Vốn xã hội giúp giảm chi phí thông tin, chi phí giao dịch và chi phí giám sát
(Levine 1997, Vega – Redondo 2006) Chi phí thông tin và chi phí giao dịch thấp hơn
ở các nước có thị trường tài chính phát triển Những thông tin cần thiết có thể thu được thông qua vốn xã hội từ mạng lưới bên ngoài và mạng lưới nội bộ Trong xã hội
có nguồn vốn xã hội cao, niềm tin vào thị trường và các tổ chức tài chính cũng như ngân hàng cao, sự bất đối xứng về thông tin giảm (Ferrary 2003 trích trong J Manuel Pastor & Emili Tortosa-Ausina 2008), chi phí thông tin, chi phí giám sát và chi phí giao dịch giảm Đây là những yếu tố cần thiết để hoạt động ngân hàng đạt kết quả cao.Nếu trong xã hội bị phân đoạn và cô lập, không có quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội, chi phí cho ngân hàng trong việc thu thập thông tin về khách hàng sẽ cao, ngân hàng cũng không thể tận dụng mạng lưới quan hệ của khách hàng hiện hữu
để có được thông tin về khách hàng và nhóm cá nhân khác Trường hợp quan hệ giữa các cá nhân là mạnh, nguồn lực cho ngân hàng có thể nâng cao về khách hàng tiềm năng mà khách hàng của họ có quan hệ, từ đó giúp ngân hàng giảm chi phí tìm kiếm
thông tin…
- Vốn xã hội góp phần làm giảm chi phí tài chính, chi phí tín dụng
Các mối quan hệ không chỉ được thiết lập và bền vững bằng sự tin tưởng mà còn dựa trên cường độ của các mối quan hệ, sự lặp lại và tích lũy theo thời gian (J.M Pastor & E.T Ausina 2008; Lê Ngọc Hùng 2008; Hoàng Bá Thịnh 2009) Cũng theo
Trang 33Petersen & Rajan (1994, 1995), Elyasiani & Goldberg (2004), khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngân hàng và người đi vay, kết quả cho thấy vốn xã hội còn ảnh hưởng đến cả chi phí tín dụng Khi vốn xã hội cao, niềm tin vào ngân hàng tăng, khách hàng mạnh dạn đi vay, dẫn đến lượng cung tín dụng cao và làm giảm chi phí quản lý hoạt động cấp tín dụng
- Vốn xã hội giúp giảm tổn thất cho vay
Vốn xã hội cao không những dẫn đến chi phí thông tin thấp mà còn thu nhận được thông tin chất lượng cao (nguồn thông tin có độ tin cậy cao), từ đó giúp ngân hàng đánh giá tốt hơn khả năng xảy ra rủi ro thanh toán Như vậy tổn thất cho vay sẽ giảm xuống Cũng theo Ferrary (2003) trích trong J Manuel Pastor & Emili Tortosa-Ausina (2008), để giảm bớt rủi ro không chắc chắn, cần bổ sung phương pháp khách quan hoặc những thông tin thu được qua các mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng Chất lượng đánh giá rủi ro và giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào chất lượng nguồn vốn xã hội đang tồn tại trong môi trường
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu phân tích sự tồn tại một liên kết thực nghiệm giữa vốn xã hội và nợ xấu, nợ nghi ngờ, các khoản vay ngân hàng Theo Karlan (2004), mức độ vốn xã hội cao hơn dẫn đến khả năng trả nợ cao hơn và tiết kiệm cao hơn Tương tự như vậy, Ferri & Messori (2000), khi nghiên cứu vốn xã hội và các ngân hàng ở vùng Đông Bắc và trung tâm của Ý đã rút ra kết luận, mức độ cao hơn của vốn xã hội có tỷ lệ thấp hơn của các khoản nợ xấu và nợ nghi ngờ
- Vốn xã hội làm tăng nguồn cung tín dụng
Sự tồn tại của mạng lưới xã hội cho phép ngân hàng cấp tín dụng dễ dàng hơn với chi phí thấp hơn do khả năng tiếp cận được khách hàng tiềm năng từ khách hàng hiện hữu Petersen & Rajan (1994,1995); Ferri & Messori (2000); Elyasiani & Goldberg (2004), chứng minh rằng vốn xã hội càng cao thì nguồn cung cấp tín dụng
sẽ càng cao (do huy động vốn dễ dàng hơn)
- Vốn xã hội khuyến khích khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Trang 34Tất cả các ngân hàng bán lẻ tin rằng mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng là rất quan trọng, các yếu tố khác không đổi, cá nhân sinh sống trong môi trường vốn xã hội thấp sẽ sử dụng sản phẩm của ngân hàng thấp hơn do bị ảnh hưởng bởi niềm tin (Guiso et al 2004) Tác giả chỉ ra có một liên kết tích cực, trọng yếu giữa vốn xã hội với việc sử dụng séc, thẻ tín dụng, dịch vụ thẻ và có một liên kết tiêu cực, trọng yếu giữa vốn xã hội với việc sử dụng tiền mặt
Tất cả những luận điểm của các tác giả cho thấy hoạt động của ngân hàng sẽ hiệu quả hơn trong nền kinh tế có vốn xã hội cao
2.1.3.3 Tính chất cơ bản của vốn xã hội trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
Trang 35việc (ngân hàng) mà con người được giáo dục về các đức tính xã hội như thật thà, trung thực, đáng tin sẽ giảm thiểu được các trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp,
và ngược lại sẽ làm tăng các trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp Điều này được minh chứng qua các vụ án kinh tế trong ngành ngân hàng (như nội bộ thông đồng lấy quỹ, lập hồ sơ giả lấy tiền tiết kiệm, tiền vay) trong thời gian qua đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng Hơn nữa, các hiện tượng bè phái, lợi ích nhóm, tham ô, tham nhũng thời gian qua đã gây thất thoát hàng ngàn tỷ đồng cho Nhà nước và xã hội, các vụ án này hầu hết liên quan đến ngân hàng (lãnh đạo ngân hàng), qua đó cho thấy đạo đức nghề nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng, vốn xã hội bên cạnh những tích cực cần khuyến khích phát triển còn những tiêu cực cần tìm cách hạn chế khi vận dụng vào thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại
Một trong những biểu hiện tích cực ở mức độ cao của vốn xã hội trong ngân hàng là xuất hiện các tương tác xã hội thường xuyên hay nói cách khác vốn xã hội không chỉ tác động đến sự phát triển của ngân hàng mà ngược lại khi sự phát triển của ngân hàng ở trình độ cao hơn sẽ là cơ sở cho ngân hàng xây dựng các giá trị và chuẩn mực ở trình độ cao hơn, từ đó tạo điều kiện để hình thành nguồn vốn xã hội ở trình độ cao hơn
Ngoài hiệu ứng tích cực, vốn xã hội còn hiệu ứng tiêu cực khi hạn chế phát triển ý tưởng mới, dẫn đến chủ nghĩa quán tính (Gargiulo & Bernassi 1999) Thực tế, trong quy trình thẩm định tín dụng tại ngân hàng, khi công việc giao cho một nhóm thẩm định, đã làm việc lâu năm với nhau, đôi khi nhận định chủ quan ở một khâu dẫn đến khâu khác cũng phụ thuộc kết quả thẩm định ở khâu trước, đưa đến việc quyết định cho vay hoặc không cho vay chưa chính xác, chứa đựng nhiều rủi ro Theo Lê Ngọc Hùng (2008), vốn xã hội tạo sự ràng buộc bên trong nhóm, tạo ra sự khép kín, hạn chế quan hệ với bên ngoài nhóm, từ đó có thể dẫn đến tính ỷ lại tập thể, thiếu năng động, sáng tạo, ngăn cản các sáng kiến Cũng theo Hoàng Bá Thịnh (2009), khi các liên kết bên trong một mạng lưới các quan hệ không được bổ sung hay hạn chế
sự liên kết với các mạng lưới xã hội khác, thì sẽ dẫn đến tính thiển cẩn và bảo thủ, có thể dẫn đến là vật cản cho sự phát triển của ngân hàng
Trang 36- Tính sinh lợi
Tính chất này thể hiện tầm quan trọng của vốn xã hội đối với sự phát triển của ngân hàng, có vốn xã hội sẽ đạt được hiệu quả, nếu thiếu vốn xã hội sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn (Hoàng Bá Thịnh 2009) Thực tế, trong quá trình xây dựng giá trị cốt lõi, bản sắc văn hóa riêng của mình, các ngân hàng phải dựa trên sự đoàn kết, tin tưởng và sẵn sàng hỗ trợ nhau của các nhân viên và các phòng ban để hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức Như vậy, nguồn vốn xã hội ở mỗi ngân hàng sẽ khác nhau và mỗi ngân hàng có bản sắc riêng, nếu thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các
cá nhân và các bộ phận chức năng, ngân hàng sẽ không thể tồn tại và phát triển bền vững
- Tính thay thế/ bổ sung cho các loại vốn khác
Vốn xã hội có thể thay thế/ bổ sung cho vốn tài chính, vốn con người (Hoàng
Bá Thịnh 2009) Tương tự như quan điểm của Coleman (1988) và Bourdieu (1986), vốn xã hội có thể chuyển hóa sang vốn kinh tế NHTM Nhà nước có mạng lưới rộng khắp, và có uy tín vì có sự bảo trợ của Nhà nước Các nhà đầu tư an tâm giao dịch với NHTM Nhà nước do NHTM Nhà nước dễ dàng nhận được sự hỡ trợ từ Nhà nước trong những giai đoạn khó khăn, dễ dàng tiếp cận nguồn vốn với lãi suất thấp, dễ dàng tìm kiếm các đối tác tín dụng lớn từ các Tổng công ty NN Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bonin và ctg (2005); Gursoy và Aydogan (2002); Najid
Trang 37mối quan hệ cá nhân của lãnh đạo ngân hàng với cá nhân lãnh đạo của cơ quan quản
lý nhà nước (nhất thân, nhì quen)
Không chỉ là mối quan hệ của bản thân người lãnh đạo, mà tất cả mạng lưới quan hệ xã hội đều quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng Trong quá trình hoạt động của mình, ngân hàng nào có khả năng liên kết với khách hàng, các đối tác, các dự án, chương trình tốt thì việc huy động vốn, cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ…cũng thuận lợi hơn
Như vậy, ngoài nguồn lực tài chính thì các mối quan hệ xã hội sẽ là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng hoàn thành các mục tiêu trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình
- Tính hợp trội
Vốn xã hội không tồn tại riêng lẻ trong từng cá nhân, mà tồn tại trong mối quan hệ giữa các cá nhân con người với nhau Do đó, nếu vốn xã hội mang tính tích cực, thì tác động tổng hợp của tập thể lên ngân hàng sẽ lớn hơn tác động riêng lẻ của
cá nhân lên ngân hàng; ngược lại, nếu vốn xã hội mang tính tiêu cực, thì tác động tổng hợp của tập thể lên ngân hàng sẽ nhỏ hơn tác động riêng lẻ của cá nhân lên ngân hàng (Lê Khắc Trí 2007) Trong thực tế, ta có thể thấy, không phải một tập thể có các
cá nhân giỏi là sẽ giành chiến thắng, hay hiệu qua cao nhất Ngân hàng cũng vậy, những cá nhân giỏi phải cùng hỗ trợ và phối hợp với nhau thì mới có thể mang lại hiệu quả tối ưu cho ngân hàng Ngược lại, nếu họ ganh tị và ích kỷ cá nhân, luôn hiếu thắng, không đoàn kết thì mục tiêu của tổ chức khó mà đạt được
- Tính bắc cầu
Boutilier (2009, trang 74) cho rằng vốn xã hội có tính bắc cầu, liên kết các chủ thể kèm theo kỹ năng giao tiếp cần thiết cho mạng lưới xã hội Theo tác giả, thông qua mạng lưới vốn xã hội các bên có thể trao đổi thông tin, có sự ảnh hưởng và tình đoàn kết (đồng quan điểm với Sandefur & Laumann 1998, trang 485-494) Tương tự, Granovetter (1974, 1995) sớm nhìn thấy những lợi ích tiềm năng mà vốn xã hội mang lại, nó là cầu nối dẫn đến các lợi ích cho doanh nghiệp trong tiếp cận các đối tác, các
cơ hội kinh doanh Sau đó Burt (1992, 2005); Harper & Kelly (2003); Houghton et
Trang 38al.(2009) và Suzanne (2012) cũng có những nhận định tương tự về tính bắc cầu của vốn xã hội
Đối với thực tế ngân hàng, thông qua mạng lưới vốn xã hội, các ngân hàng có thể tiếp cận các đối tác, khách hàng tiềm năng qua đối tác, khách hàng hiện hữu Mở rộng cơ hội cho ngân hàng trong việc huy động vốn, cho vay và cung ứng dịch vụ Mặt khác, ở khâu thẩm định khách hàng trước khi quyết định cho vay, các ngân hàng cần tìm hiểu kỹ các thông tin về khách hàng Như thông tin về tài sản đảm bảo, nhân viên tín dụng phải xuống khảo sát thực tế để đánh giá hiện trạng của tài sản, có thể qua tiếp xúc các hộ dân xung quanh, chính quyền địa phương sở tại để nắm bắt chính xác thông tin của tài sản Theo Lin (1999), vốn xã hội cao giúp các ngân hàng phân tích tốt hơn và rõ hơn về các công ty mà họ cần thẩm định Như vậy, nhờ mạng lưới quan hệ xã hội sẽ giúp ngân hàng có được những nguồn thông tin hữu ích phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình
Hơn nữa, trong xu thế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, ngân hàng nào nắm bắt được nguồn thông tin chính xác và sớm nhất sẽ tạo lợi thế trong cạnh tranh Ngân hàng có thể đi tắt đón đầu để cung ứng các sản phẩm dịch vụ tạo khác biệt và lợi thế riêng cho mình, đặc biệt các dự án đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế cho ngân hàng Ngân hàng có mạng lưới quan hệ xã hội tốt, sẽ có ưu thế về số lượng và chất lượng nguồn thông tin để phục vụ hữu ích cho sự phát triển bền vững của ngân hàng mình (Adler & Kwon 2002, trang 29; Houston et al 2010)
- Tính tích lũy theo thời gian
Được hình thành trên cơ sở niềm tin, sự tin cậy, vốn xã hội sẽ được duy trì và phát triển bền vững nếu mật độ liên hệ, tương tác giữa các cá nhân, các phòng ban được duy trì thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn (Hoàng Bá Thịnh 2009) Cũng theo Trịnh Hòa Bình (2007), vốn xã hội là tài sản được tích lũy và phát triển theo thời gian từ đó trở thành động lực, sức mạnh và chỗ dựa để cộng đồng xã hội tồn tại và phát triển Cụ thể hóa vào điều kiện của ngân hàng, những khách hàng, đối tác…lâu năm mà ngân hàng đã thiết lập các mối quan hệ và giao dịch thường xuyên thì sự tin tưởng và lòng trung thành sẽ lớn, khả năng hợp tác lâu dài sẽ cao hơn khi
Trang 39ngân hàng giao dịch với khách hàng, đối tác mới Ở mức độ cao hơn, khi các cá nhân trong ngân hàng luôn tin tưởng, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, đoàn kết vì mục tiêu chung, sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao uy tín cho ngân hàng, từ
đó củng cố niềm tin cho đối tác, khách hàng hiện hữu và cả đối tác, khách hàng tiềm năng khi họ lựa chọn tìm đến ngân hàng giao dịch trong tương lai
2.1.4 Thành phần cơ bản của vốn xã hội trong ngân hàng
Cấu trúc mạng lưới của doanh nghiệp thường được đề cập ở ba khía cạnh gồm mạng lưới của lãnh đạo, mạng lưới bên ngoài và mạng lưới bên trong doanh nghiệp Vai trò của người lãnh đạo đối với sự thành công của một doanh nghiệp đã được nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh như Wiklund & Shepherd (2003); Obey Dzomonda
và các tác giả (2017); Anne Irungu & Robert Arasa (2017) Theo mô hình “năm áp lực cạnh tranh của Porter (1985), các mạng lưới bên ngoài và bên trong doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đảm bảo các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục và đạt hiệu quả Trong khi vốn xã hội được đề cập đến như là chất lượng và cấu trúc của mạng lưới quan hệ xã hội Do đó, các nhà nghiên cứu khi đề cập đến vốn
xã hội trong doanh nghiệp thường dựa trên các khía cạnh vốn xã hội của lãnh đạo, bên ngoài và bên trong doanh nghiệp Tương tự, việc xác định vốn xã hội trong ngân hàng cũng được dựa trên các khía cạnh riêng lẻ trên
Như vậy, vốn xã hội của ngân hàng được đề cập đến như là mạng lưới và chất lượng các mối quan hệ của lãnh đạo ngân hàng; mối quan hệ bên ngoài ngân hàng; mối quan hệ bên trong ngân hàng
2.1.4.1 Vốn xã hội của lãnh đạo ngân hàng
Đề cập vốn xã hội của lãnh đạo, có thể tổng kết một vài nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Bjorkman & Kock (1995): trong một nghiên cứu thảo luận vai trò của các mối quan hệ xã hội khi thâm nhập vào mạng lưới kinh doanh nước ngoài Nghiên cứu này
đã cho thấy vai trò của các mối quan hệ của lãnh đạo và cá nhân nhân viên trong việc tiếp thị các dự án và các mặt hàng công nghiệp của các công ty phương Tây ở Trung Quốc Kết quả của nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ cá nhân
Trang 40được xem là điều kiện tiên quyết đối với việc tiếp cận hầu hết các thông tin và họ đang phân tích các yếu tố ảnh hưởng và thúc đẩy phát triển các mối quan hệ xã hội
Tushman & O’Reilly III (1997): khi nghiên cứu về mạng lưới quan hệ của lãnh đạo, nhóm tác giả đã chỉ ra các chủ thể trong mạng lưới quan hệ của lãnh đạo gồm dòng họ, bạn bè, đối tác kinh doanh, đồng nghiệp, cơ quan báo chí, quan chức/ nhân viên thuộc các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan nghiên cứu, các câu lạc bộ, cơ quan báo chí Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chưa đưa ra được thang đó để đánh giá chất lượng các mối quan hệ này
Yli-Renko và các cộng sự (2001): sử dụng một mẫu gồm 180 doanh nghiệp công nghệ cao có trụ sở tại Anh để phân tích mối quan hệ của vốn xã hội của lãnh đạo Nghiên cứu đã chỉ ra vốn xã hội của lãnh đạo dựa trên mối quan hệ của lãnh đạo với bạn bè, đơn vị tư vấn, chính quyền các cấp và cơ quan truyền thông
Bartol & Zhang (2007), đề cập đến mạng lưới quan hệ của lãnh đạo phát triển nhờ chất lượng mối quan hệ của lãnh đạo trong công việc, trong mối quan hệ bạn bè,
sẽ hỗ trợ cho lãnh đạo trong việc tiếp cận nguồn vốn con người và các vốn khác để thành công Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chưa chỉ rõ các mối quan hệ cụ thể trong mạng lưới lãnh đạo như thế nào
Cialdini & các cộng sự (2001), trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng lãnh đạo là người đóng vai trò quyết định đối với kết quả hoạt động của một doanh nghiệp Thông qua tình hữu nghị, quyền lực, sự công nhận của xã hội, tinh thần hỗ trợ mà người lãnh đạo có tầm ảnh hưởng đến các chủ thể có liên quan
Acquaah (2007), trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra vốn xã hội phát triển từ mạng lưới quan hệ của nhà lãnh đạo và các mối quan hệ xã hội với các nhà quản lý hàng đầu, các quan chức chính phủ sẽ giúp nâng cao hiệu suất của tổ chức Sau đó năm 2011, Acquaah tiếp tục nghiên cứu vai trò của vốn xã hội từ mạng lưới lãnh đạo, tác giả chỉ ra mối quan hệ xã hội với các quan chức chính phủ sẽ có lợi cho tổ chức, đồng thời cũng nêu mặt tích cực, tiêu cực của mối quan hệ này
Paré & các cộng sự (2008), nghiên cứu trên một cuộc khảo sát thực địa tại các thành phố Montreal, Toronto và Vancouver cũng đã chỉ ra mối quan hệ của lãnh đạo