1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích lý luận của Các Mác về tiền tệ và sự vận dụng vào nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam

23 6K 32

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 56,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng chúng ra sao trong những giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tếluôn là một vấn đề cần thường xuyên qu

Trang 1

DANHDANH SÁCH NHÓM 02 – LỚP K45 DK4

năm sinh

Điểm sếp loại

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU: ……… 3

NỘI DUNG : ……… 5

Phần I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUY LUẬT LƯỢNG - CHẤT 5 1 Tiền tệ là gì ……… 5

a Định nghĩa ……… 5

b Tính chất của tiền tệ ……… 5

c Chính sách về tiền tệ ……… 6

2 Công cụ lãi suất ……… 7

3 Công cụ tỷ giá ……… 10

4 Công cụ hạn mức tín dụng ……… 12

5 Công cụ dự trữ bắt buộc ……… 13

6 Nghiệp vụ mở thị trường ……… 14

Phần II MỘT SỐ MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG LÝ LUẬN TIỀN TỆ VÀO VIỆT NAM ……… 17

1 Mục tiêu ……… 17

2 Một số giải pháp ………

17 KẾT LUẬN ……… 22

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những biếnchuyển quan trọng Từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyểnsang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhànước Quản lý nhà nước về kinh tế, vì thế cũng có những thay đổi đáng kể Thông quacác chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các chích sách về tài chính, tiền tệ, Nhà nước đãquản lý nền kinh tế một cách linh hoạt và chặt chẽ hơn Việc gia nhập WTO cũng đã tạothêm nhiều cơ hội cho Việt Nam để tiếp tục tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trongnhững năm tới, những đợt phát hành trái phiếu công ty đã minh chứng về khả năng tài trợcho những nhu cầu đầu tư lớn đang ngày càng tăng của Việt Nam Bên cạnh đó cũng cầnthận trọng cảnh giác khi sử dụng đòn bẩy tài chính của các tổ chức, cá nhân khi tham giavào thị trường kinh tế đang phát triển còn non trẻ

Việc vận dụng các lý luận về tiền tệ vào nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ởViệt Nam còn nhiều trở ngại Đólà sự am hiểu về phương pháp điều hành các chính sáchtiền tệ còn nhiều hạn chế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam việc lựa chọn các công

cụ nào, sử dụng chúng ra sao trong những giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tếluôn là một vấn đề cần thường xuyên quan tâm theo dõi đối với các nhà hoạch định vàđiều hành chính sách tiền tệ quốc gia Vì thế, việc nghiên cứu và hiểu rõ những lý luậntiền tệ là một điều hết sức cần thiết để áp dụng vào việc ổn định nền kinh tế vĩ mô và pháttriển kinh tế

Bằng phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp với các phương pháp khác, đề tài

“Lý luận tiền tệ của Các Mác và sự vận dụng vào nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” đã hệ thống hoá, phân tích vấn đề mang tính khách quan về lý luận tiền tệ của

Các Mác và sự vận dụng của nó vào nền kinh tế Việt Nam thông qua các công cụ chínhsách tiền tề, đồng thời đi sâu tìm hiểu nêu lên một số hướng giải pháp khắc phục

Trang 4

Ngoài phần mục lục và tài liệu tham khảo, bài thảo luận được trình bày theo kết cấunhư sau:

Phần 1: Vận dụng những lý luận về tiền tệ vào nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Phần 2: Một số mục tiêu và giải pháp hoàn thiện việc áp dụng lý luận tiền tệ vào

Việt Nam

Với sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn đã giúp em có được hướng nghiên cứuphân tích sát thực đề tài và liên hệ thực tế Em xin chân thành cảm ơn cô giáo ….đã giúp

đỡ em hoàn thành đề án của mình

Trang 5

I VẬN DỤNG NHỮNG LÝ LUẬN VỀ TIỀN TỆ VÀO NỀN KINH TẾ THỊTRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Áp dụng những lý luận về tiền tệ để đảm bảo giá cả được ổn định, giữ giá đồng tiền,phát triển kinh tế một cách bền vững là một trong những mục tiêu quan trọng của việcquản lý nền kinh tế vĩ mô của nhà nước Trong các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nướcthì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trựctiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Nó cũng có những quan hệ chặt chẽ với các chínhsách kinh tế vĩ mô khác như: chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh tếđối ngoại

1 Tiền tệ là gì

a Định nghĩa

Tiền tệ ( theo chủ nghĩa Mac-Lenin) là một hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa đem trao đổi nó thể hiện cho lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa

b tính chất

- Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ, người

dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ không được coi làtiền nữa

- Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết, người ta

có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng

- Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao chongười bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh toán bằng một loạitiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại Tính chất này giúp cho tiền tệ khắcphục được sự bất tiện của phương thức hàng đổi hàng

Trang 6

- Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá trịcũng như mới có ích trong trao đổi Một vật mau hỏng không thể dùng để làm tiền

- Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mang theo,tiền tệ phải dễ vận chuyển

- Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm vì nếu

có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất trữ giátrị và không được chấp nhận trong lưu thông nữa

- Tính đồng nhất: tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhau khôngphân biệt người ta tạo ra nó vào thời gian nào

- Cung ứng và điều hoà khối lượng tiền tệ ngân hàng nhà nước tăng hay giảm khốilượng tiền tệ để duy trì tương quan giữa tổng cung và tổng cầu giữa tiền và hàng

c chính sách về tiền tệ.

- Chính sách tín dụng cho nền kinh tế: khi các ngân hàng thương mại và có các tổchức tín dụng thiếu khả năng thanh toán thì họ đến ngân hàng trung ương xin tái cấp vốn.Ngân hàng trung ương luôn đóng vai trò là một tổ chức cho vay cuối cùng để thúc đẩycác ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng huy động tối đa lượng tiền nhàn rỗi trongdân chúng để đầu tư phát triển kinh tế

- Chính sách quản lý ngoại hối: hướng vào việc ngăn chặn tích cực ngoại tệ trongcác doanh nghiệp và tầng lớp nhân dân Đề thực hiện việc ổn định giá cả của đồng tiềnquốc gia, ngân hàng nhà nước thực hiện các nhiệm vụ: quản lý ngoại hối, lập bảng theodõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, tổ chứcđiều tiết thị trường hối đoái, tổ chức điều tiết thị trường hối đoái, xây dựng và thống nhấtquản lý dự trữ ngoại hối quốc gia,…

- Chính sách tạm ứng cho ngân hàng nhà nước

Trang 7

+ Trường hợp ngân sách cân bằng: Chính phủ thu thuế vào ngân sách, ngân sách chi

ra cho bộ máy quản lý nhà nước và nền kinh tế lượng tiền vẫn nằm nguyên trong lưuthông

+ Trường hợp ngân sách thiếu hụt: lúc này chi lớn hơn thu, giải quyết bằng bốncách: vay của dân, vay của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng , vay của ngân hàngnhà nước, vay nợ nước ngoài

+Trường hợp ngân sách thặng dư: khối lượng tiền tệ trong thị trường được rút bớtcất đi

Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản chủ yếu nhất của Ngân hàng trung ương Cóthể nói chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt mọi hoạt động của Ngân hàng trungương Các hoạt động khác của Ngân hàng trung ương đều nhằm thực thi chính sách tiền

tệ đạt được các mục tiêu đó Trong những năm qua, những nội dung chính của chính sáchtiền tệ đã được ngân hàng nhà nước thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tiền

tệ sau:

2 Công cụ lãi suất

Khi sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương (thịtrường mở, chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, v.v….) đều có tác động đến lãi suất cho vaycủa các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế Trong đó, đặc biệt là lãi suất chiếtkhấu của Ngân hàng trung ương tác động mạnh đến lãi suất cho vay của các ngân hàngthương mại Song, khi các công cụ trên đây hoạt động chưa có hiệu quả, thì Ngân hàngtrung ương có thể trực tiếp quy định khung lãi suất hoặc trần lãi suất cho vay của cácngân hàng thương mại Để tránh rủi ro, bảo vệ quyền lợi các ngân hàng, Ngân hàng trungương thường quy định mức lãi suất “sàn” tối đa cho tiền gửi và lãi suất “trần” tối thiểucho tiền vay Nếu nhằm bảo đảm quyền lợi cho khách hàng của ngân hàng thương mại,thì Ngân hàng trung ương thường quy định ngược lại mức lãi suất tối thiểu cho tiền gửi

và mức tối đa cho tiền vay Ngân hàng trung ương muốn kiểm soát được lãi suất, bởi vìlãi suất có tác động mạnh đến tiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động vào tăng trưởng kinh

Trang 8

tế và giá cả Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ lãi suất dễ làm mất đi tính khách quan củalãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn, do vậy, nó phải đượchình thành từ chính quan hệ cung cầu - về vốn trong nền kinh tế.

Lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của các nước Ở Việt NamNgân hàng Trung ương đã rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất nhằm tác độngtích cực đến nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi, có thể thấy rõ tính linh hoạt củachính sách lãi suất qua các thời điểm:

- Ngày 28/05/2012 NHNN cũng giảm lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm xuống12%/năm, lãi suất cho vay thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 14%/năm xuống13%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11%/năm xuống 10%/năm (lãi suất huy động bìnhquân đầu năm 2012 nên đến 16%) Chính sách giảm lãi suất như vậy là phù hợp với thựctiễn của Việt Nam trong quá trình cấu trúc lại doanh nghiệp kích thích phát triển kinh tếsau đợt khủng hoảng kinh tế trầm trọng trong năm 2011 và bám sát với diễn biến của thịtrường tiền tệ quốc tế

Thực tế trên cho thấy các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng đã vào cuộcrất nhanh với cơ chế mới, theo sát diễn biến của thị trường, năng động trong kinh doanh

để huy động vốn và đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nhưng nếu giảm lãi suất quá nhanh

sẽ ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế Đối với các tổ chức tín dụngchi phí cao, lợi nhuận giảm thậm chí thua lỗ, điều này cũng ảnh hưởng đến niềm tin nhàđầu tư và người tiêu dùng, làm suy yếu dự trữ ngoại tệ

Ở Việt Nam thời gian qua Ngân hàng Trung ương cũng đã cố gắng sử dụng công cụlãi suất để điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với nền kinh tế đang trong quá trình phụchồi sau khủng hoảng Bên cạnh điều chỉnh lãi suất Ngân hàng nhà nước cũng quy đinhviệc ưu tiên cho vay đối với từng ngành và từng doanh nghiệp nhằm thanh lọc sát nhậpnhững doanh nghiệp kinh doanh yếu kém

Trong thực tế, mặc dù ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản nhưng nó ít tácđộng đến lãi suất thị trường bởi vì nhu cầu vay vốn là rất lớn khách hàng chấp nhận vayvốn với lãi suất cao, các tổ chức tín dụng đua nhau tăng lãi suất huy động vốn để cho vay,các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng tham gia cạnh tranh tích cực trên thị trường vốn,

Trang 9

lãi suất trái phiếu kho bạc được đẩy lên cao điều đó làm cho thị trường tiền tệ nóng lênNgân hàng Nhà nước Việt Nam khó kiểm soát được lãi suất thị trường.

Trước thực trạng như vậy, Ngân hàng Nhà nước đã phải thực hiện một số biện pháp quản lý phù hợp để làm hạ nhiệt lãi suất quá nóng trên thị trường tiền tệ:

- Trước hết là Từ ngày 11/6/2012, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳhạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 2%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳhạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là 9%/năm

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã làm việc với các ngân hàng thương mại cổ phầnchiếm 50% thị phần huy động vốn và cho vay, để bàn biện pháp giảm lãi suất trên thịtrường Qua cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại này đã cắtgiảm lãi suất huy động vốn kỹ hạn ngắn Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và phát triểnnông thôn Việt Nam còn quyết định giảm cả lãi suất điều hành vốn trong hệ thống củamình, đồng thời giảm mức lãi suất mà các chi nhánh đi vay các ngân hàng thương mạikhác

- Hiệp hội Ngân hàng cũng đã vào cuộc bằng việc tổ chức cuộc họp với các Ngânhàng thương mại cổ phần và Ngân hàng Nhà nước để bàn biện pháp hạ mặt bằng lãi suấttrong nền kinh tế, thống nhất phương pháp hoạt động của các ngân hàng nhằm đảm bảolợi ích chung trong toàn hệ thống, đến hiệu quả của nền kinh tế và lợi ích của từng tổchức tín dụng Cuộc họp đã thống nhất các ngân hàng thương mại lấy mức lãi suất huyđộng vốn kỳ hạn 6 tháng làm lãi suất cơ bản giữa các ngân hàng hội viên; đồng thờithường xuyên thông báo cho nhau việc thay đổi các mức lãi suất của mình thông quaHiệp hội Ngân hàng

Bên cạnh đó ngân hàng nhà nước còn tiến hành sát nhập nhừng ngân hàng ko cònkhả năng hoat động giúp tăng sức mạnh cho hệ thống ngân hàng và giảm “mầm bệnh”cho nền kinh tế, cụ thể là Ngày 15/6, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có vănbản số 3651/NHNN-TTGSNH chấp thuận nguyên tắc việc sáp nhập Ngân hàng TMCPNhà Hà Nội (Habubank) vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB).trong năm 2012

dự kiến sẽ có khoảng 5-8 ngân hàng sẽ sáp nhập

Trang 10

Các biện pháp kể trên đã thể hiện sự chủ động của Ngân hàng Nhà nước sử dụngđúng các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ và tôn trọng tính quy luật về lãi suất,phản ánh cung cầu vốn trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường, đồng thời thúc đẩy sựhợp tác giữa các thành viên của Hiệp hội ngân hàng trong khi vẫn tôn trọng tính tự chủtrong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Kết quả là lãi suất huy độngvốn kỳ hạn ngắn đã giảm xuống.

Đến cuối tháng 8 năm 2012 có một nghịch lý là trong khi lãi suất huy động vốngiảm xuống, nhưng nguồn vốn không đến được tay các doanh nghiệp do những khoảncho vay trong tín dụng đen va tình trạng sở hưu chéo ngân hàng và thực tế cho thấy, khidoanh nghiệp muốn vay vốn, ngân hàng sẽ dựa trên nhiều chỉ tiêu để đánh giá mức tínnhiệm của ngân hàng đối với doanh nghiệp mà đa số các doanh nghiệp sau khủng hoảngđều lâm vào tình trạng hàng tồn kho của doanh nghiệp quá lớn không tiêu thụ được, kếtquả kinh doanh thua lỗ, hoặc đang vay nhiều tổ chức tín dụng, có nợ xấu, dự án kinhdoanh thiếu khả thi và không có tài sản bảo đảm

Một thực tế đáng quan tâm nữa là lãi suất huy động vốn của ngân hàng thương mạinày tương đương hoặc cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại khác Bởi vậy,nếu các ngân hàng thương mại cứ tăng lãi suất trung và dài hạn lên, thì vốn từ ngân hàng

có lãi suất thấp hơn sẽ chạy sang ngân hàng có lãi suất cao hơn và nếu phát hành tráiphiếu Chính phủ và trái phiều Đô thị với lãi suất cao, thì chủ yếu hút vốn từ các ngânhàng thương mại đầu tư vào đó, ảnh hưởng đến việc cho vay vốn trung và dài hạn củangân hàng cho khách hàng và các dự án Thực trạng này cho thấy thị trường liên ngânhàng chưa phát triển, chưa có tác dụng điều hoà lãi suất trong nền kinh tế Từ đó đòi hỏingân hàng thương mại phải có các giải pháp để điều hành chính sách tiền tệ phù hợp

3 Công cụ tỷ giá

Từ năm 1992, tỷ giá của Việt Nam được điều hành theo quy luật cung cầu ngoại tệtrên thị trường có sự quản lý của Nhà nước thay cho chế độ tỷ giá cố định trước đó Đầunăm 1999, quản lý tỷ giá lại có thêm bước tiến nữa với việc công bố tỷ giá giao dịch bìnhquân ngày hôm trước làm căn cứ cho NHTM CP tự ấn định tỷ giá giao dịch cho mình Tỷgiá chính thức cũng đã được nới lỏng dần dần và đến nay giữ ổn định xê dịch trên dưới

Trang 11

20.800 VND/USD Gần đây tuy tỷ giá có tăng lên vượt mức 20.800 VND/USD, nhưngtheo NHNN đây là sự vận động bình thường của thị trường, chưa gây biến động cho nềnkinh tế và hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát Tỷ giá VND/USD ổn định tạo thuận lợicho cả xuất khẩu và cả nhập khẩu, nhất là vay nợ nước ngoài của Việt Nam Đồng thời,với chính sách điều hành tỷ giá biến động 2 chiều nên hầu như loại bỏ được yếu tố đầu

cơ, lại càng làm cho thị trường ngoại tệ ổn định, cầu ngoại tệ tăng chậm Có thể nói, cơchế quản lý tỷ giá đã góp một phần quan trọng trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô,tạo đà cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao trong những năm qua của Việt Nam

Nhằm ổn định cán cân thanh toán quốc tế, trong những năm qua Việt Nam theo đuổimục tiêu tăng cường củng cố dự trữ ngoại tệ đạt mức dự trữ an toàn NHTW chịu tráchnhiệm kiểm soát chặt chẽ động thái và trạng thái dự trữ ngoại hối quốc gia; thống nhấtmột đầu mối dự trữ ngoại hối tại NHTW và tại các NHTM CP Dự trữ ngoại hối quốc giangày càng ổn định, đủ khả năng điều tiết thị trường trong trường hợp tình hình thị trường

có biến động lớn nếu tính theo kim ngạch nhập khẩu bình quân mỗi tuần trong năm 2011thì dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện ở khoảng 20 tỷ USD; còn nếu tính bình quân tuầnnhập khẩu trong quý 1/2012 thì ở mức khoảng 18,5 tỷ USD, đạt trên 9 tuần nhập khẩu.Tuy nhiên con số này là rất nhỏ bé khi so sánh với các nước như Trung Quốc ( năm 2011Trung Quốc Dự trữ ngoại hối lên mức cao chưa từng có 3.040 tỷ USD)

Tuy đạt được những bước tiến quan trọng trong tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, song

về chính sách quản lý ngoại tệ vẫn còn nhiều điều cần xem xét Hiện nay cách tính quỹ

dự trữ ngoại hối chủ yếu được xác định theo tuần nhập khẩu Theo cách tính này, nguồnngoại hối dự trữ chỉ mới dừng lại ở việc sẵn sàng cung ứng ngoại tệ để cân bằng cán cânthương mại, trong khi đó cán cân vãng lai, cán cân vốn đang ngày càng tăng, tạo lên một

áp lực lớn về ngoại hối do mất cân bằng trong thời gian gần đây Do phải trả nợ nướcngoài, lợi nhuận của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhu cầu chuyển vốn

ra nước ngoài kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam đang có xu hướng tăng Đây lànhững nhu cầu ngoại tệ hợp lý mà Chính phủ phải thỏa mãn NHNN đã rất linh hoạttrong sử dụng công cụ này

Ngày đăng: 25/12/2015, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w