Kế thừa và phát triển quan điểm, chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác CCHC qua các kỳ Đại hội và thực tiễn sau 20 năm đổi mới, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành T
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ THANH DŨNG
ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG THÁP LÃNH ĐẠO CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2020
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ THANH DŨNG
ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG THÁP LÃNH ĐẠO CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 9 22 90 15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ XUÂN TUẤT
TS NGUYỄN DANH LỢI
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn góc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Lê Thanh Dũng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7
1.1 Những công trình liên quan đến đề tài luận án 7
1.2 Kết quả của các công trình khoa học liên quan và những nội dung luận án tập trung nghiên cứu 26
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG THÁP VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2005 29
2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh về cải cách hành chính 29
2.2 Quá trình đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo triển khai thực hiện cải cách hành chính từ năm 1995 đến năm 2005 50
Chương 3 ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG THÁP LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015 88
3.1 Hoàn cảnh lịch sử và những yêu cầu mới về cải cách hành chính 88
3.2 Chủ trương và chỉ đạo thực hiện của đảng bộ tỉnh Đồng Tháp đẩy mạnh cải cách hành chính đáp ứng yêu cầu mới 103
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 136
4.1 Một số nhận xét 136
4.2 Một số kinh nghiệm 153
KẾT LUẬN 169
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 173
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 174
PHỤ LỤC
Trang 5KT - XH : Kinh tế - xã hội
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Cải cách hành chính (CCHC) là vấn đề mang tính toàn cầu, thu hút sự quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới Các quốc gia luôn xem CCHC là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển các mặt đời sống xã hội, CCHC cũng là một nội dung cốt yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng xác định CCHC là một khâu quan trọng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), Đảng đã đề ra quan điểm, chủ trương và ban hành một số Nghị quyết chuyên đề về (CCHC), đồng thời tập trung lãnh đạo và tổ chức thực hiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1995) đã ra Nghị quyết về
tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước, đã xác định mục tiêu của CCHC là
xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực
và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu qủa công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống
nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội [2] Từ mục
tiêu, Đảng đề ra chủ trương cải cách một bước nền hành chính nhà nước đồng bộ trên các nội dung cơ bản, đảm bảo xây dựng một nền hành chính đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Kế thừa và phát triển quan điểm, chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác CCHC qua các kỳ Đại hội và thực tiễn sau 20 năm đổi mới, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X (2007) tiếp tục ban
hành Nghị quyết về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lí của bộ máy nhà nước, nhằm tiếp tục xây dựng một nền hành chính dân
chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại, đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu
Trang 7quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước [6]
Quán triệt chủ trương của Đảng, Chính phủ đã tổ chức triển khai thực hiện chương trình CCHC theo từng giai đoạn, với việc bám sát mục tiêu của Đảng đề
ra nhằm tiến hành CCHC toàn diện, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Qua quá trình thực hiện CCHC từ năm
1995 đến năm 2015, nền hành chính nhà nước đã có sự chuyển biến tích cực và đạt nhiều thành tựu to lớn, góp phần ồn định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội (KT - XH) của đất nước Đề đạt được thành tựu đó, Thủ tướng Chính
phủ đã phê duyệt Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 theo Quyết định Số 136/2001/QĐ-TTG ngày 17-9-2001 và Chương trình tổng thể
CCHC nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính
phủ ban hành ngày 08-11-2011, thể hiện khâu đột phá, then chốt trong thực hiện
chủ trương đẩy mạnh CCHC của Đảng, để tạo tiền đề làm chuyển động toàn bộ tình hình KT - XH và đưa đất nước hội nhập sâu rộng trên các mặt của đời sống,
để tiến vào kỷ nguyên mới
Đường lối, chủ trương của Đảng về CCHC được các cấp ủy địa phương quan tâm, chỉ đạo, trong đó có Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp Chương trình hành động số 09 ngày 19-7-1995 của Ban Chấp hành Bảng bộ tỉnh khoá V đã cụ thể hóa chủ trương CCHC trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, xác định CCHC là nhiệm
vụ trọng tâm của việc xây dựng và tiến tới hoàn thiện nhà nước, do đó trong tổ chức thực hiện cần tập trung các biện pháp đồng bộ và tiến hành thận trọng từng bước Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lần thứ VI (1996) xác định cải cách thủ tục hành chính, tổ chức sắp xếp lại bộ máy hành chính các cấp, bố trí lại đội ngũ công chức hành chính và cán bộ trực tiếp quản lý doanh nghiệp là nội dung trọng tâm của quá trình đổi mới Đến Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp VII (2001) và các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh tiếp theo, tiếp tục xem CCHC là nội dung trọng tâm việc hoàn thiện nền hành chính nhà nước, phát huy dân chủ gắn liền với xây dựng và chỉnh đốn Đảng
Trang 8Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp thực hiện CCHC, đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển KT - XH của địa phương
Tổ chức bộ máy hành chính từ tỉnh xuống đến huyện và xã căn bản được cải thiện theo hướng tinh gọn, hiệu quả và hiện đại, các sở, ban ngành và cơ quan chuyên môn của tỉnh được sắp xếp, điều chỉnh tinh giản hơn trước, phát huy tác dụng, hiệu quả tốt hơn và việc quản lý sử dụng cán bộ công chức được đổi mới một bước từ khâu tuyển chọn, đánh giá, thi nâng ngạch, khen thưởng, kỷ luật đến đào tạo và bồi dưỡng Tuy nhiên, CCHC của tỉnh Đồng Tháp vẫn còn tồn tại hạn chế và bất cập, hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao, yêu cầu phục vụ nhân dân chưa đáp ứng được trong điều kiện, bối cảnh mới Quản lý bộ máy với sự phân công, phân cấp giữa các cấp, các ngành chưa thực sự rành mạch, thủ tục hành chính một số lĩnh vực vẫn còn rườm rà, phức tạp, trật tự và kỷ cương trong nền hành chính chưa nghiêm Công tác điều hành tổ chức bộ máy vẫn còn cồng kềnh, nhiều cấp, đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều điểm yếu về tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính cũng như phong cách làm việc trong quá trình CCHC của tỉnh
Việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo CCHC của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp nhằm làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo và những thành công trong việc vận dụng chủ trương của Đảng về CCHC, qua đó chỉ ra những hạn chế để góp phần tổng kết thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm có giá trị về lãnh đạo CCHC của Đảng
bộ trong những năm tiếp theo là một việc làm cần thiết
Xuất phát từ lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo cải cách hành chính từ năm 1995 đến năm 2015” làm luận án
tiến sĩ Lịch sử, ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo CCHC từ năm 1995 đến năm 2015, đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo CCHC của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay
Trang 92.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những nghiên cứu liên quan, chỉ ra những vấn đề đã được giải quyết, những nội dung luận án tập trung nghiên cứu
- Làm rõ các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp về CCHC
- Phân tích chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp về CCHC
Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu từ năm 1995 đến năm 2015
Luận án lấy mốc thời gian từ năm 1995 là năm Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp khoá V ban hành Chương trình hành động số 09/CTr/TU thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước, kết thúc năm 2015 là năm tổng kết giai đoạn I của Kế hoạch CCHC tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011 - 2020 và năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lần thứ IX
Về không gian: Luận án nghiên cứu CCHC trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Về nội dung: Luận án nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Đồng Tháp về CCHC từ năm 1995 đến năm 2015, trên các lĩnh vực cụ thể sau: thể chế hành chính; thủ tục hành chính; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; tổ chức bộ máy hành chính; tài chính công, hiện đại hoá nền hành chính và công tác thông tin, tuyên truyền CCHC
Trang 104 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền XHCN và những vấn đề liên quan tới hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước
4.2 Nguồn tư liệu
Tư liệu được sử dụng chủ yếu dựa vào các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước; Văn kiện của Đảng bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, Hội đồng nhân dân (HĐND); các sở, ban, ngành về công tác CCHC của tỉnh Đồng Tháp
Kế thừa kết quả nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan đến chủ
đề nghiên cứu
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp liên ngành khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, đồng đại, lịch đại, so sánh và thống kê
Phương pháp lịch sử được sử dụng thông qua khảo cứu tổng quan các nguồn tư liệu để phục dựng đầy đủ các sự kiện kiện lịch sử phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, đồng thời đặt quá trình phát triển đó trong mối quan hệ tác động qua lại với các nhân tố liên quan khác trong suốt quá trình vận động của chúng, từ đó có thể dựng lại bức tranh chân thực quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp về CCHC theo tiến trình lịch sử
Phương pháp lôgíc được dùng để làm rõ mối liên hệ giữa các quan điểm, chủ trương với quá trình chỉ đạo thực hiện, những kết quả đạt được Từ đó, khái quát những ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng
bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo CCHC từ năm 1995 đến năm 2015
Các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thông kế, so sánh, đồng đại và lịch đại nhằm làm sáng tỏ hơn những vấn đề mà luận án đặt ra
Trang 115 Những đóng góp mới của luận án
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Quá trình khảo cứu các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, có thể chia các công trình liên quan đến nền hành chính nhà nước, công tác CCHC nói chung và vấn đề CCHC ở tỉnh Đồng Tháp như sau:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Từ khi ra đời, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được lịch
sử cách mạng và xã hội thừa nhận như một tất yếu lịch sử Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo Đảng luôn luôn đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo đối với việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN
Vì vậy, đây là vấn đề luôn được các nhà lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước và các nhà khoa học tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và tìm tòi nghiên cứu để cho ra đời rất nhiều công trình khoa học, sách chuyên khảo phục vụ cho chuyên môn và
là nguồn tư liệu quý giá cho thế hệ sau:
Cuốn sách Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân [114] của Trần Hậu Thành
(2005), tác giả đã làm rõ thêm về cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và trên cơ sở khảo sát một số mô hình thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền trên thế giới, đề xuất một số phương hướng, nội dung cơ bản xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trong nội dung cuốn sách tác giả cũng phân tích về sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội, trong đó tác giả đã đề cập khá mới về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Chính phủ và đối với UBND cấc cấp, bên cạnh đó cuốn sách đề cập khá sâu sắc về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức và đánh giá khá toàn diện về cán bộ công chức là
Trang 13một mấu chốt để phục vụ cho xây dựng chính quyền thông suốt từ trung ương tới địa phương Có thể nói cuốn sách đã cung cấp được những chỉ dẫn về mặt lý luận về mặt lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và đánh giá được vai trò của đội ngũ cán bộ công chức, tuy cuốn sách không đề cập tới vấn đề cải cách hành chính, nhưng những chỉ dẫn về mặt chính quyền là một nguồn tư liệu tốt và đáng tin cậy
Tác giả Lê Duy Truy (2006) với cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với xây dựng
nhà nước và công tác cán bộ [93], là nguồn tư liệu được tổng hợp trên cơ sở những
quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền, về công tác cán bộ Trong đó, những bài viết, những quyết định của Người về quá trình lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn cho tới ngày hôm nay Vấn đề nổi bật được tác giả chọn lọc là vấn đề chính quyền địa phương, với việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành những sắc lệnh, những chỉ thị trong xây dựng một nền hành chính ở địa phương thông suốt với Trung ương Có thể thấy rằng cuốn sách đã là nguồn tư liệu có giá trị tư tưởng lý luận chỉ đạo sâu sắc của Hồ Chí Minh về công tác xây dựng nhà nước pháp quyền nói chung và quản lý nền hành chính địa phương nói riêng
Tác giả Nguyễn Văn Thảo (2006), Xây dựng nhà nước pháp quyền dưới
sự lãnh đạo của Đảng [91], cuốn sách là tập hợp đầy đủ và rõ nét về quá trình
lãnh đạo của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cuốn sách tập trung khai thác từ lịch sử xây dựng nhà nước pháp quyền từ năm 1945 tời 2005, trong đó chú trọng trình bày quan điểm của Đảng lãnh đạo trong công cuộc đổi mới Nhà nước pháp quyền, trọng tâm là lãnh đạo đổi mới bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp Về lãnh đạo CCHC thì tập trung đi sâu vào các vấn đề cải cách và xây dựng thể chế hành chính là hạt nhân của xây dựng nhà nước pháp quyền, tập trung phân tích vấn đề phân cấp, phân quyền, phi tập trung hóa nền hành chính nước ta, xác định phân cấp cho chính quyền địa phương trong điều kiện mới Cuốn sách đã có phân tích khá sâu về dịch vụ công và vai trò quản lý của nhà nước, khai thác những thành tựu của quá trình lãnh đạo công tác cải cách thủ tục hành chính, vấn đề đánh giá, đào tạo kỹ năng
Trang 14cho công chức hành chính, tổng kết và đề ra được một số giải pháp trong công tác CCHC
Phạm Ngọc Quang - Ngô Kim Ngân (2007) với cuốn sách Phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân do dân vì dân [83], đã trình bày rõ quá trình đổi mới nhận
thức của Đảng về vai trò lãnh đạo và ý thức lãnh đạo trong thời kỳ mới Trong
đó, đã nêu bật tính cấp thiết đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải được tiến hành khẩn trương, kiên quyết, không cứng nhắc, máy móc trong sự phân định giữa sự lãnh đạo của Đảng với sự quản lý của Nhà nước, song phải phân định rõ chức năng lãnh đạo chính trị, phương thức lãnh đạo chính trị của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước pháp quyền
Cuốn sách Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới [42] của
Bùi Kim Đỉnh (2009), tác giả đã làm rõ thêm quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội từ năm 1986 tới năm 2008, với những bước phát triển, những thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm Đồng thời cuốn sách đã hệ thống những thành quả nghiên cứu đã được công bố về những yếu tố tác động và quá trình hình thành đường lối đổi mới ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế, tự đổi mới, tự chỉnh đốn - nhìn từ góc độ lịch sử, đổi mới nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hôi ở Việt Nam và đổi mới hệ thống chính trị, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN Trong đó cuốn sách đã hệ thống lại quá trình lãnh đạo của Đảng về công tác CCHC của Chính phủ đã đạt được những thành tựu cũng như nêu lên được hạn chế yếu kém và rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác cải cách hành chính
Đoàn Minh Huấn (2010) với cuốn sách Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
xây dựng củng cố nhà nước (1986-1996)[65], tác giả đã hệ thống quá trình đổi
mới tư duy nhận thức của Đảng về Nhà nước, từ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta, từ nguyên lý tổ chức và hoạt động, cơ chế vận hành, xây dựng các cơ sở KT-XH của Nhà nước, cũng như quá trình tổ chức chỉ đạo thực
Trang 15tiễn với tính phong phú, sinh động của nó Đặc biệt, qua nghiên cứu lịch sử, cuốn sách bước đầu đã tổng kết những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm cần thiết cho hiện tại để góp phần phục vụ cho công tác cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách nền hành chính nói riêng
Nhà nước cách mạng Việt Nam (1945 – 2010) [77] của Nguyễn Trọng Phúc
(2010), cuốn sách được bổ sung trên cơ sở cuốn sách Nhà nước cách mạng kiểu mới Việt Nam (1945-2005) Nội dung trình bày về con đường dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thiết lập Nhà nước cách mạng kiểu mới ở Việt Nam và các thời kỳ xây dựng và phát triển Nhà nước gắn liền với tiến trình cách mạng của Đảng và dân tộc, một số chuyên đề của cuốn sách bước đầu góp phần làm rõ một số vấn đề về xây dựng và bảo vệ Nhà nước trong tiến trình cách mạng Cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung, lịch sử Nhà nước cách mạng và những vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay
Ngoài những công trình cụ thể nêu trên, còn rất nhiều công trình nghiên cứu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học về xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, như:
Đổi mới để tiến lên của Nguyễn Văn Linh (1988) [69]; Mấy vấn đề về nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Trường Chinh, (1991) [15]; Đỗ
Mười (1991) với cuốn sách Xây dựng nhà nước của nhân dân - thành tựu, kinh
nghiệm và đổi mới [70]; Trần Ngọc Đường (1999), Bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam [44]; Nguyễn Trọng Phúc và Hồ Xuân Quang (1998), Một số quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân từ 1986 đến nay [78]; Nguyễn Đặng Dung (2004), Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền [19]; Bùi Xuân Đức (2007), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay [41]; Phạm Thái Việt
(2008), Vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế của nhà nước dưới tác động của
toàn cầu hóa [171]; Tào Thị Quyên (2012), Cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam [85] Các công trình trên, đã làm nổi bật quá
Trang 16trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, những đổi mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, kết quả từ sự lãnh đạo của Đảng đã được tổng kết, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm và bài học lịch sử Trong một chừng mực nhất định, đã tổng kết quá trình hình thành và phát triển của nền hành chính nhà nước Việt Nam mà mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng, tuy không nghiên cứu riêng về nền hành chính nhưng những quan điểm cơ bản được trình bày trong các tác phẩm này có giá trị, trở thành định hướng để mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với từng cơ quan bộ máy nhà nước, mà ở đó nền hành chính bao giờ cũng chiếm
vị trí nổi bật Tuy không nghiên cứu trực diện về đổi mới lãnh đạo nền hành chính ở địa phương, nhưng các luận cứ khoa học về chủ trương của Đảng, chính sách nhà nước được vận dụng linh hoạt góp phần thành công cho công tác lãnh đạo nền hành chính địa phương
1.1.2 Các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nền hành chính, sự lãnh đạo của Đảng đối với nền hành chính nhà nước và cải cách hành chính
Nền hành chính nhà nước là bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu nhà nước,
là hệ thống bao gồm những yếu tố về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực
và các phương tiện vật chất, kỹ thuật cần thiết để đảm nhận chức năng thực thi quyền hành pháp Việc nghiên cứu lý luận, thực tiễn và tổng kết đánh giá kết quả lĩnh vực hành chính nhà nước, nhất là tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong công cuộc cải cách tổng thể nền hành chính của Việt Nam đã và đang thực hiện là một yêu cầu tất yếu của lịch sử Vì vậy, có rất nhiều công trình khoa học, sách, tạp chí của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu cho ra đời các tác phẩm để góp phần làm sáng tỏ thêm về vấn đề này
Tác giả Nguyễn Ngọc Hiến (2001) với cuốn sách Các giải pháp thúc đẩy
cải cách hành chính ở Việt Nam [59], đã tổng hợp và phân tích một cách khách
quan tiến trình CCHC của nước ta sau 20 năm đổi mới, từ đó nêu ra những thành tựu, những mặt hạn chế và thiếu sót và nguyên nhân cản trở đối với tiến trình nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy quá trình tiến
Trang 17hành CCHC Trong đo, cuốn sách đã dành một chương để bàn về đẩy mạnh CCHC ở địa phương và cơ sở, nêu lên những vấn đề bức xúc trong CCHC ở địa phương và đề ra các giải pháp đẩy mạnh CCHC ở địa phương và cơ sở hiện nay
Từ Điển (2001) với cuốn sách Cải cách hành chính và cải cách kinh tế
[43], nội dung cuốn sách đánh giá khá chân thực mối quan hệ giữa CCHC và cải cách kinh tế là một quá trình lâu dài với nhiều vấn đề mới và phức tạp, là sự tác động một cách biện chứng với nhau Tác giả cũng tập trung trình bày về vị trí, vai trò của CCHC và cải cách kinh tế trong giai đoạn hiện nay cũng như chiến lược và những vấn đề thực thi của CCHC trong những năm trước mắt Nhìn nhận vấn đề khách quan thông qua nội dung cuốn sách, chúng ta có thể có cách nhìn
cụ thể của công tác CCHC ở Đồng Tháp trong xu thế đổi mới kinh tế của Tỉnh
Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (2004), Cải cách hành
chính vấn đề cấp thiết để đổi mới bộ máy nhà nước [105], cuốn sách là tập hợp
những bài viết, ý kiến là lãnh đạo của các cơ quan Trung ương, những nhà nghiên cứu về đổi mới và cải cách về nền hành chính nhà nước Nội dung cuốn sách đã hệ thống quan điểm, lý luận và thực tiễn về công tác CCHC của Đảng và Nhà nước ta từ sau đổi mới đến nay, với việc tập trung nghiên cứu các chủ trương, đường lối của Đảng về CCHC; những phân tích về thực trạng, giải pháp
và những vấn đề về văn bản pháp luật liên quan đến quá trình tiến hành CCHC
Nguyễn Anh Tuấn (2004), Ứng dụng logíc hình thức trong quản lý hành
chính nhà nước [88], cuốn sách là công trình nghiên cứu liên ngành khoa học, sự
kết hợp giao thoa giữa các khoa học, các miền trí thức còn hạn chế và chỉ có thể được khai phá trên sự liên minh các cơ sở khoa học với nhau, cuốn sách chính là
sự biểu hiện của sự hợp tác giữa logic học, hành chính học, luật học trong việc nghiên cứu hỗ trợ CCHC Sự đề cập một cách khoa học để nâng cao hiệu quả hiệu lực của quản lý hành chính nhà nước đòi hỏi phải cải cách sâu rộng toàn bộ
hệ thống hành chính nói chung và từng khâu của tiến trình quản lý hành chính nói riêng Nghiên cứu những điều kiện đảm bảo cho một tư duy logic đúng đắn, khoa học chỉ đạo có hiệu quả hoạt động thực tiễn quản lý nhà nước không chỉ có
tư duy hình thức mà còn có cả tư duy biện chứng là một nhu cầu thiết thực
Trang 18Cuốn sách Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn [115] của Chu Văn Thành (2004), là tập hợp một số chuyên
luận, những bài nghiên cứu được công bố về vấn đề dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công trong quá trình nghiên cứu về quá trình lãnh đạo tiến hành cải cách nền hành chính nhà nước của Đảng và Chính phủ Việt Nam Cuốn sách đã đề cập một góc nhìn mới về khái niệm “hành chính công” cung như bàn về chức năng dịch vụ công của bộ máy quản lý hành chính nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công là một xu hướng của nền hành chính hiện đại, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước Bên cạnh đó, cuốn sách đã cung cấp những mãng lý luận và thực tiễn về dịch vụ công, một số vấn đề xã hội hóa dịch vụ công ở Việt Nam, qua đó cuốn sách cũng đã đề cập đến một số vấn đề thực tiễn và kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới trong việc cung ứng dịch vụ công
Học viện Hành chính quốc gia (2006) với cuốn sách Hành chính công
[53], đề cập đến những vấn đề cơ bản của khoa học hành chính công, nội dung bắt đầu từ những kiến thức cơ bản về hành chính công dưới góc độ khoa học và thực tiễn và tiếp nối bằng những nội dung cơ bản nhất như thuật ngữ, khái niệm cho đến chức năng hành chính, thể chế hành chính, tài chính công … và kết thúc ở nội dung CCHC - một nội dung thời sự hiện nay trong khoa học hành chính công ở nước ta Tiếp cận cuốn sách đã cung cấp một cách khá đầy đủ những quy luật vận hành khách quan trong hoạt động quản
lý của bộ máy hành chính nhà nước, trong đó nội dung CCHC được đề cập dưới góc độ tổng kết và đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp cho công tác CCHC nhà nước Việt Nam hiện nay
Đào Trọng Truyến (2006) với cuốn sách Cải cách hành chính và công cuộc
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [90], tác giả tổng hợp,
bàn luận về nhà nước pháp quyền, về nền hành chính trên cơ sở học thuyết Mác -
Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giá sâu sắc về nền hành chính từ thời kỳ phong kiến Việt Nam Có cách nhìn độc lập về nền hành chính nước ta, thẳng thắn đánh giá thực trạng của nó ở thời điểm, đồng thời đề xuất mô hình một nền hành
Trang 19chính tương lai Cuốn sách đã hệ thống hóa lý luận về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, về những mục tiêu và nội dung của CCHC quốc gia, nêu nổi bật quan điểm, nguyên tắc và phương hướng của CCHC, xem đây là trọng tâm của công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước Một phần quan trọng tác giả đề cập đến đó là vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước của các cấp chính quyền địa phương, hướng cơ bản của công cuộc CCHC nhà nước ở địa phương, xem trong mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương trong công tác CCHC
Nguyễn Hữu Tri, Nguyễn Lan Phương (2006) với cuốn sách Hành Chính
Công [92] tác giả đã tiếp cận một cách khoa học về hành chính công, trên cơ sở
hai tác giả đã đề cập đến các khái luận về hành chính nhà nước, công vụ, công chức, các quyết định hành chính và thủ tục hành chính và nhất là vấn đề cải cách nền hành chính nhà nước Cuốn sách đã nêu lên sự cần thiết khách quan của CCHC ở Việt Nam cũng như việc quán triệt quan điểm chỉ đạo cải cách nền hành chính nhà nước, qua đó cuốn sách cũng đã đề cập đến nội dung và giải pháp để đẩy mạnh CCHC ở Việt Nam hiện nay Đây là nguồn tư liệu có giá trị tổng quan, cung cấp vấn đề cơ sở lý luận về sự lãnh chỉ đạo công tác CCHC Việt Nam hiện nay
Viện nghiên cứu khoa học hành chính (2009) với cuốn sách Thuật ngữ
hành chính [172], là tập hợp những nghiên cứu về khái niệm thuật ngữ như:
“Chính quyền địa phương” là thuật ngữ được sử dụng khi nói đến một hệ thống
các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước trên một đơn vị hành chính nhằm quản lý mọi mặt của đười song xã hội trên địa bàn và làm nghĩa vụ chung với
cả nước [172, tr.40], qua đó, cuốn sách nêu ra các yếu tố của chính quyền địa phương ở Việt Nam được xem là một đơn vị hành chính lãnh thổ phải đủ 3 yếu tố: Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương bầu ra; Ủy ban nhân dân do HĐND bầu ra; có ngân sách địa phương Cuốn sách còn đề cập đến khái niệm
về thuật ngữ “Cải cách hành chính” (Administrative reform) là “quá trình cải
biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (như thể chế, cơ câu tổ chức, cơ cấu vận hành,
Trang 20chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại” [172, tr.23] Cuốn sách của các nhà khoa học được cho là thỏa đáng, nhằm mục đích cung cấp cho các nhà nghiên cứu cũng như nhà quản lý hành chính nhà nước những tài liệu cơ bản của khoa học hành chính, làm căn cứ bước đầu cho sự thống nhất quan điểm, quan niệm trong nghiên cứu lý luận khoa học hành chính cũng như trong quá trình xây dựng các văn bản quản lý nhà nước, phục vụ cho công cuộc CCHC ở Việt Nam hiện nay
Trần Đình Thắng (2011) với cuốn sách Đảng Cộng sản Việt Nam với
việc cải cách nền hành chính nhà nước [116], tác giả đã phân tích, luận giải
có căn cứ khoa học trên cả phương diện lý luận và thực tiễn để làm rõ yêu cầu tất yếu khách quan của Đảng lãnh đạo cải cách, xây dựng nền hành chính nhà nước trong công cuộc đổi mới Tác giả phân tích, khái quát và hệ thống hóa chuyên sâu các quan điểm, chủ trương và quá trình lãnh đạo thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách, xây dựng nền hành chính nhà nước trong sự nghiệp đổi mới đất nước; đánh giá khách quan, có cơ sở khoa học về kết quả lãnh đạo và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cải cách, xây dựng nền hành chính trong thời kỳ mới Qua đó, khẳng định
sự phát triển về tư duy lý luận và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn của Đảng đối với xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, hiện đại trong công cuộc đổi mới đât nước - nhiệm vụ trọng tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Cuốn sách đã cung cấp cơ bản về mặt lý luận và thực tiễn của Đảng lãnh đạo nền hành chính nhà nước từ năm 1986 đến năm 2010, đây
là nguồn tư liệu hết sức quan trọng để cung cấp cho luận án về mặt lý luận chung về đường lối, chủ trường và quá trình chỉ đạo của Đảng
Nguyễn Hữu Hải (2013) với cuốn sách Tìm hiểu hành chính công Hoa Kỳ
lý thuyết và thực tiễn [55], tác giả đã cung cấp cách nhìn tổng quan lịch sử phát
triển của khoa học hành chính công Hoa Kỳ qua các thời kỳ, với nhận thức rằng Hoa Kỳ vừa là cái nôi, vừa là mảnh đất giàu thực tiễn cho ngành khoa học về quản lý của chính phủ Với nội dung là các chủ đề về lý thuyết hành chính công,
Trang 21mối quan hệ giữa hành chính và chính trị, lý thuyết về tổ chức, quản lý nguồn nhân lực, quá trình ngân sách công, quản lý công…, thực thi và đánh giá chương trình, mối quan hệ liên chính quyền, đạo đức hành chính và quản lý công mới
Có thể thấy rằng cuốn sách đã mô tả phần lý thuyết khá sâu sắc về một nền hành chính công tiên tiến nhất thế giới hiện nay, nó có thể được vận dụng lý thuyết này vào trong thực tiễn công cuộc CCHC mà Đảng và Chính phủ Việt Nam đang tiến hành trong quá trình đổi mới đất nước, trở thành nguồn tư liệu cả về lý thuyết và thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách cũng như nhà nghiên cứu
về CCHC của chúng ta
Nguyễn Hữu Hải (2014) với cuốn sách Cơ sở lý luận và thực tiễn về hành
chính nhà nước [56], tác giả trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng, học thuyết về
hành chính đang được phổ biến rộng rãi ở trong và ngoài nước, tập trung và cung cấp những kiến thức cơ bản của khoa học hành chính nói chung và hành chính nhà nước nói riêng về các khái niệm cơ bản, đặc điểm, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hành chính nhà nước; các lý thuyết và mô hình hành chính nhà nước; các yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước và quyết định hành chính nhà nước; chức năng, hình thức và phương pháp hành chính nhà nước; kiểm soát bên ngoài và kiểm soát nội bộ đối với hành chính nhà nước; các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả nền hành chính và công tác CCHC nhà nước hiện hành, nhất là vận dụng cơ sở lý luận này vào công tác CCHC ở Việt Nam hiện nay
Nguyễn Hữu Hải (2016) với cuốn sách Cải cách hành chính nhà nước
lý luận và thực tiễn [57], tác giả đã trình bày một cách khái quát các vấn đề
quyền hành pháp và các cách tiếp cận về hành chính nhà nước, các mô hình hành chính nhà nước và xu hướng CCHC trên thế giới, nổi bật các vấn đề là CCHC nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ từ năm 1945 tới nay Trong đó nội dung về quá trình CCHC Việt Nam từ khi đổi mới đến nay được các tác giả phân tích, đánh giá một cách sâu sắc về lý luận và thực tiễn thực hiện trên các mặt như: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính
Trang 22công; hiện đại hóa nền hành chính…, luận giải của tác giả đã góp phần để các nhà hoạch định nhà nước nghiên cứu về chương trình cải cách tổng thể nền hành chính nhà nước mà Đang ta đã tiên hành
Đoàn Duy Khương (2016) với cuốn sách Cải cách hành chính công phục
vụ phát triển kinh tế cải thiện môi trường kinh doanh [67], tác giả không chỉ
phân tích quá trình CCHC ở một số quốc gia trong khu vực ASEAN và nhân định về xu hướng CCHC trong khu vực, mà còn đưa ra bức tranh về quá trình CCHC công tại Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh những thay đổi của CCHC gắn với cải thiện môi trường kinh doanh, sự ghi nhận của một số tổ chức quốc tế đối với quá trình CCHC ở Việt Nam, từ đó đúc rút một số kinh nghiệm
và khuyến nghị cho công tác CCHC Từ cuốn sách, đã cho ta cách nhìn khách quan về sự vận dụng giữa công tác CCHC gắn chặt với cải cách kinh tế
Cuốn sách Vấn đề minh bạch hóa hoạt động quản lý hành chính nhà
nước ở Việt Nam hiện nay [80] của Nguyễn Thị Phương (2016), tác giả đã
khai thác khá sâu sác khía cạnh minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước nói chung, quản lý nền hành chính nhà nước nói riêng là hoạt động nhằm bảo đảm tính dân chủ xã hội, thể hiện quyền của người dân trong việc tham gia quản lý hành chính nhà nước Điều này thể hiện ở chổ, việc minh bạch hóa hoạt động quản lý hành chính nhà nước sẽ giúp cho công tác hoạch định chính sách, phân bổ và quản lý đối với các nguồn lực xã hội đạt kết quả cao, tạo điều kiện cho người dân có quyền tiếp cận, giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị hành chính nhà nước Cuốn sách đã nêu bật được những chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ trong việc hiện thực hóa minh bạch trong nên hành chính trong chủ trương và hành động của mình thông qua các nghỉ quyết chuyên đề về đẩy mạnh CCHC, qua đó cũng đã chỉ
ra vấn đề thiếu minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước xuất phát từ những lý do như về mặt pháp lý, hay chia sẻ thông tin, phương thức thực hiện hiện, sự thông suốt trong chỉ đạo điều hành
Các nghiên cứu lĩnh vực hành chính, CCHC dưới góc độ chuyên khảo, luận
án, luận văn và các bài viết công bố trên tạp chí trong nước như:
Trang 23Lê Hữu Hiền (1997) với bài viết “Mấy vấn đề bất cập trong cải cách
hành chính ở cấp tỉnh hiện nay” [60], tác giả nêu lên công tác nêu lên cấp tỉnh
là cấp có nhiều văn bản, quyết định về mặt thủ tục hành chính ở tầm vĩ mô, nhằm định ra những chính sách, chiến lược phát triển KT - XH, an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh Nhưng hiện nay có một số thực trạng phổ biến, một số công việc thuộc thẩm quyền cấp sở, ngành giải quyết nhưng phải lại gủi xin ý kiến UBND tỉnh Từ đó việc giải quyết công việc giữa tổ chức và tổ chức, tổ chức với công dân còn bị ùn tắc gây phiền hà lớn cho tổ chức và công dân Qua
đó, tác giả đã chỉ ra những bất cập trong công tác CCHC ở cấp tỉnh hiện nay và
đề ra một số kiến nghị để tháo gỡ những vướng mắc đó
Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng của Nguyễn Minh Sơn (2009), Thành ủy
Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay [87], kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giải quyết cả về
lý luận và thực tiễn cho các vấn đề đặt ra, làm rõ quan niệm, nhiệm vụ, đặc điểm công tác CCHC của thành phố Vĩnh Yên và nội dung, phương thức lãnh đạo công tác CCHC của Thành ủy Đánh giá đúng thực trạng công tác CCHC và sự lãnh đạo công tác CCHC của Thành ủy Vĩnh Yên hiện nay, chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng và rút ra những kinh nghiệm bước đầu từ thực trạng đó Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Thành ủy đối với công tác CCHC nhà nước trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, giai đoạn hiện nay Thông qua kết quả nghiên cứu nay, sự tương đồng về một số nội dung sẽ góp phần trong việc đánh giá, so sánh về công tác CCHC của hai địa phương nhằm tạo được sự đánh gia khách quan cho đề tài luận án
Luận án tiến sĩ Xây dựng Đảng của Nguyễn Hữu Nhân (2012), Thành Ủy
thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay
[75], trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Thành ủy thành phố
Hồ Chí Minh lãnh đạo CCHC nhà nước trên địa bàn thành phố trong thời gian qua, làm rõ phương thức lãnh đạo của Thành ủy thành phố đối với công tác CCHC, luân án đề xuất những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Thành ủy đối với CCHC nhà nước đến năm 2020 Thông qua nội dung luận án, chúng ta có
Trang 24cách nhìn nhận so sánh, đối chiếu với công tác CCHC ở tỉnh Đồng Tháp để có thể rút ra được đánh giá khách quan
Luận án tiến sĩ Chỉ huy, quản lý kỷ thuật của Hoàng Minh Huệ (2014), Cải
cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở Bộ Công
an [63], kết quả nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đề xuất giải pháp đồng bộ, khả
thi về CCHC trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở Bộ Công an nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ ngành Công
an, trong đó tập trung vào các giải pháp để sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư
và tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân tham gia công tác nghiên cứu bằng nguồn ngân sách nhà nước Xây dựng các khái niệm công cụ của luận
án để thống nhất nhận thức về CCHC trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, đồng thời làm rõ các đặc điểm của quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ nói chung, các chủ trương của Đảng và Nhà nước về CCHC
Ngoài những công trình nghiên cứu được nêu cụ thể như trên, thì còn rất nhiều các công trình nghiên cứu có liên quan đến hành chính công, CCHC như:
Nguyễn Duy Gia (1996), Cải cách một bước bộ máy nhà nước ở nước ta hiện
nay [45]; Lê Sĩ Dược (2000), Cải cách bộ máy hành chính cấp Trung ương trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay [23]; Thang Văn Phúc (2001), CCHC nhà nước - thực trạng, nguyên nhân và giải pháp [79]; Trung tâm nghiên cứu khoa
học và tổ chức quán lý (2004), CCHC vấn đề cấp thiết để đổi mới bộ máy Nhà
nước [117] Là nhóm công trình chiếm số lượng nhiều nhất, phần nào phác họa
quá trình đổi mới và phát triển nền hành chính nhà nước trong quá trình hội nhập, tổ chức bộ máy, đội ngũ công chức trong xu thế của nền hành chính mới Những công trình này lại gián tiếp phản ánh sự vận động phát triển đường lối cải cách, vận hành nền hành chính nhà nước
Vì xuất phát từ gốc độ khoa học lịch sử, nên các công trình này chú trọng tổng kết sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, lãnh đạo cải cách nền hành chính là một bộ phận hợp thành Những công trình nghiên cứu, những bài viết đã
đi sâu nghiên cứu vấn đề CCHC nói chung và những cải cách của hệ thống chính trị, quyền lực nhà nước Có thể nói, nhóm công trình trên là luận cứ khoa học sâu
Trang 25sắc, góp phần hình thành cách nhìn khách quan, thế giới quan khoa học về nền hành chính nhà nước Tuy không thể là những dẫn chứng thực tế cụ thể cho đề tài, nhưng sẽ là điều kiện cần thiết để tác giả nghiên cứu, mở ra cánh cửa đón nhận những mảng lý luận và tìm tòi một cách sâu sắc để phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài này
1.1.3 Các công trình về tỉnh Đồng Tháp có liên quan đến đề tài luận án
Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện về CCHC ở tỉnh Đồng Tháp Tuy nhiên, có nhiều công trình, đề cập về điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương và đây cũng là nguồn tài liệu quý đối với đề tài luận án, với những công trình cụ thể như sau:
Huỳnh Xuân Hiệp (2011), Xây dựng hệ thống thông tin quản lý hành chính
phục vụ lãnh đạo cấp huyện, tỉnh Đồng Tháp [61] Đề tài phân tích đánh giá hiện
trạng và hệ thống lại các bộ chỉ tiêu và biểu mẫu của các đơn vị thí điểm Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật xây dựng mô hình hệ thống thông tin, giải pháp khai thác thông tin phục vụ điều hành quản lý hành chính Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin, xây dựng phần mềm và trang bị máy chủ và cài đặt phần mềm cho hệ thống quản lý Tổ chức tập huấn, triển khai và đánh giá đơn vị thí điểm quy trình
quản lý số liệu và quy chế vận hành và quản lý hệ thống ở cấp huyện Địa chí
tỉnh Đồng Tháp [9] của Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Đồng Tháp (2014), cuốn sách là
tập hợp hệ thống thông tin về một bức tranh tổng thể khái quát về mãnh đất Đồng Tháp, con người, lịch sử, địa lý và KT-XH của tỉnh cho tới năm 2013 Những thông tin, số liệu góp phần minh chứng cho công cuộc xây dựng chính quyền của tỉnh một cách khách quan về số liệu Tuy nhiên đây mới chỉ dừng lại
ở góc độ lịch sử địa chí và số liêu về KT-XH, nhưng không thể đề cập tới công tác CCHC ở tỉnh như thế nào, quy trình và cách thức tiến hành ra sao
Nguyễn Nam Hà (2013), Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam [54] Cuốn
sách đã làm rõ được tính chất quan trọng của HĐND, vừa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có vai trò quan trọng trong việc quyết định những vấn
đề trọng đại ở địa phương, giám sát các cơ quan nhà nước ở địa phương Đặt
Trang 26dưới sự lãnh đạo của Đảng, HĐND các cấp ngày càng phát huy vai trò của mình, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế yếu kém, chưa thật sự đáp ứng được
sự đòi hỏi của xã hội so với quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức HĐND và UBND, nhất là ở khâu giám sát Vì thế cuốn sách đã nghiên cứu sâu khía cạnh cần nâng cao chất lượng HĐND cấp tỉnh theo yêu cầu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, qua đó tác giả đã chỉ ra những quan điểm, giải pháp đảm bảo chất lượng hoạt động của HĐND cấp tỉnh như là đổi mới phương thức lãnh đạo cấp ủy đảng đối với HĐND cấp tỉnh trong điều kiện Đảng cầm quyền Có thể thấy, qua cuốn sách đã cung cấp cái nhìn tổng quan về vị trí, vai trò của HĐND các cấp, sự cần thiết trong việc quyết định và giám sát những quyết sách lớn của tỉnh, trong đó việc đổi mới xây dựng chính quyền địa phương đóng vai trò hết sức to lớn của HĐND
Trần Thị Thanh Nhàn (2014), Nâng cao ý thức chính trị cho cán bộ chủ
chốt cấp xã ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay [74], Luận văn thạc sĩ Quản lý công
làm rõ cơ sở lý luận của việc nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở nước ta hiện nay; Phân tích những yếu tố tác động đến việc nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Đồng Tháp; Phân tích, đánh giá thực trạng ý thức chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã ở tỉnh Đồng Tháp và những vấn đề đặt ra trong việc nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Đồng Tháp; Đề xuất những quan điểm cơ bản và các nhóm giải pháp chủ yếu nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cấp xã ở tỉnh Đồng Tháp trong thời mới
Cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (1975 - 2000) tập III (2018)
[7] của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp là một công trình khoa học công phu, ghi lại những trang sử hào hùng, vẻ vang của lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 1975 - 2000 gắn liền với lịch sử dân tộc và lịch sử toàn Đảng đương đại Sau khi đất nước thống nhất, Đảng bộ, quân và dân Đồng Tháp
đã kịp thời hàn gắn vết thương chiến tranh, bắt tay xây dựng và bảo vệ quê hương trên con đường lớn của Đảng và nhân dân tiến lên xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Qua cuốn sách sẽ tìm
Trang 27thấy những tư liệu, sự kiện, nhân vật cùng với những kinh nghiệm quý về vai trò lãnh đạo năng động, sáng tạo của chi bộ, Đảng bộ tỉnh, về mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân, về tình đoàn kết quốc tế trong sáng,… Đây là những “viên gạch” không thể thiếu để góp phần bồi dưỡng tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng, niềm tự hào về quê hương, xứ sở cho các thế hệ hôm nay và mai sau Đồng thời cuốn sách còn đúc rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh vững bước đi lên, cùng với cả nước hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH, trong đó công tác CCHC của Tỉnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng bộ ghi nhận trong cuốn sách này
Nguyễn Phước Dũng (2018), Tình hình, nhiệm vụ của tỉnh Đồng Tháp [21],
là cuốn sách gồm những nội dung cơ bản về lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp, nhiệm vụ cơ bản và những giải pháp chủ yếu phát triển các lĩnh vực của đời sống KT-XH tỉnh Đồng Tháp Trong đó, tác giả đã trình bày một chuyên đề chuyên sâu về CCHC tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011 - 2015 và nhiệm vụ CCHC giai đoạn 2016 - 2020, qua cuốn sách đã cung cấp có hệ thống một số vấn đề cơ bản tình hình KT-XH, đặc điểm địa lý tự nhiên và công tác CCHC của tỉnh Đồng Tháp trong những năm đầu của kế hoạch CCHC giai đoạn 2011 - 2020 của Tỉnh Những công trình nghiên cứu có hệ thống nêu trên sẽ là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo tốt cho luận án nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đặt ra Tuy nhiên, những công trình khoa học đó chưa luận bàn về CCHC ở tỉnh Đồng Tháp, nhất là về Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo CCHC trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2015 Chính vì vậy, cần phải khảo cứu và tìm tòi trên cơ sở các nguồn tư liệu này những nét tương đồng, những mãng lý luận
và thực tiễn để tác giả hoàn thiện hơn trong việc đưa ra được một kết quả khả quan nhất và trọn vẹn nhất cho nghiên cứu đề tài này
1.1.4 Các công trình của tác giả nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
Trong những cuốn sách, bài viết trong kỷ yếu hội thảo quốc tế và tạp chí, một
số tác giả nước ngoài nghiên cứu về vị trí, vai trò của các cấu trúc nền hành chính và CCHC ở một số nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Những
Trang 28công trình đã đưa ra những nhận định, đánh giá mang tính khoa học, khách quan đối với CCHC của Chính phủ nói chung và quá trình cải cách ở Việt Nam nói riêng Trong đó, đáng chú ý là:
Tập thể tác giả Dwight H.Perkins; David D.Dapice; Jonathan H.Haughton
(1994), Vietnam economic reforms in the direction of flying dragons (Việt Nam
cải cách kinh tế theo hướng rồng bay ) [182], cuốn sách đã đánh giá quá trình thúc
đẩy cải cách kinh tế ở Việt Nam, sự xuất hiện của thị trường trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế Tác giả đánh giá phương thức Việt Nam đi tiếp đến nơi kết thúc của quá trình cải cách sẽ quyết định, hoặc là nền kinh tế sẽ cất cánh và bắt đầu đuổi kịp các nước láng giềng Đông Á hoặc ngược lại, nền kinh tế sẽ vật lộn với cuộc khủng hoảng định kỳ, với nhịp độ tăng trưởng chậm, giống như Philippnin
và nhiều nền kinh tế khác Tiêu điểm trọng nội dung cuốn sách, tác giả đã nói đến Chính phủ nên đóng vai trò gì để có thể tiếp tục quá trình chuyển tiếp hiện đang thành công tới nền kinh tế định hướng thị trường Bên cạnh đó tác giá còn đánh giá đến vai trò của chính quyền địa phương đối với quá trình cải cách kinh tế, như trong một số trường hợp có sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng nhà nước, như ba đỉnh của một tam giác
hỗ trợ lẫn nhau và gây khó dễ cho những người ngoài cuộc Qua cuốn sách, có thể thấy được cách tiếp cận, đánh giá về quá trình chuyển biến trong cải cách kinh tế của Việt Nam, sự cần thiết khách quan và là yếu tố có tác động đến quá trình đó chính là vai trò của Chính phủ và chính quyền địa phương Đó cũng là cách tiếp cận để chính phủ có những điều tiết trong tiến trình giữa cải cách kinh tế và đồng thười với nó là cải cách nền hành chính nhà nước cho phù hợp
OECD đồng thời còn công bố các ấn phẩm về cải cách thể chế, chính sách đầu tư ở Việt Nam, về xúc tiến đến tự do thương mại và đầu tư của các nước công nghiệp APEC, như: ACAPR (Advisory Council for Administrative
Procedure Reform) (2009), Cải cách hành chính nhân dân ở Việt Nam - Thực
trạng và đề xuất [177]; APEC (2009), “Vietnam: Developments in Regulatory Reform”“Việt Nam: Những phát triển trong cải cách thể chế” [179] Trong hai
ấn phẩm này đã trình bày những cách thức, bước phát triển về cải cách thể chế ở
Trang 29Việt Nam Đồng thời nhìn nhận được bước tiến và sự thay đổi mạnh mẽ của quá trình cải cách kinh tế với cải cách nền hành chính nhà nước, góp phần đưa Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới, tróng đó sự đóng góp đáng kể của chúng
ta trong các tổ chức, diễn đàn của thế giới Cách đánh giá của ấn phẩm thông qua báo cáo và thực tiễn cách làm và tiếp cận của Việt Nam đối với các tổ chức trên toàn cầu
Bài viết của Michael Foster vời tiêu đề “Đề án 30, giải pháp kịp thời và nỗ
lực của cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính” [173], tác giả đã đánh giá ý nghĩa,
kết quả của Đề án 30, đồng thời chỉ ra những tồn tại cần khắc phục Theo tác giả, Việt Nam đã xác định rằng cần có một làn sóng cải cách mới với sự quan tâm thích đáng về các tác động của thủ túc hành chính (TTHC) đối với môi trường đầu tư, khả năng cạnh tranh kinh tế và tăng trưởng Đề án 30 của Chính phủ chính là một giải pháp kịp thời, thành công lâu dài của nó phần lớn sẽ phụ thuộc vào động lực hiện có và việc thực thi nghiêm chỉnh các cải cách của các
cơ quan nhà nước theo hướng dẫn của Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày
08-6-2010 của Chính phủ và sự nỗ lực của cơ quan kiểm soát TTHC Đó là những điều kiện góp phần để Chính phủ của Việt Nam cải cách và kiến tạo thành công
Jim Winkler trong bài viết “Năng lực và thẩm quyền thực sự cho cơ quan kiểm
soát thủ tục hành chính” [174], đã nhấn mạnh đến vai trò điều tiết của Chính phủ
trong cải cách và thực hiện TTHC, cụ thể là cơ quan kiểm soát TTHC phải đảm bảo rằng việc đánh giá tác động của các luật lệ được thể hiện không chỉ đối với các TTHC mà cả đối với các luật, pháp lệnh, nghị định Cơ quan này cần phải có trách nhiệm và khả năng để phối hợp thực hiện từ Trung ương đến địa phương Cách tiếp cận của tác giả đánh giá vai trò, vị trí và tầm quan trọng của TTHC, và đây là một trong những yếu tố và là yêu cầu xuyên suốt của công tác CCHC của Chính phủ Việt Nam đã và đang tiến hành thực hiện
Cuốn sách Online administration - A basic guide for E-government in
Austria “Hành chính trực tuyến - Hướng dẫn căn bản về chính phủ điện tử ở Áo” [175], Pirker với quan niệm chính phủ điện tử nói chung “nghĩa là đơn
giản hóa các quy trình, thủ tục công việc hàng ngày thông qua ứng dụng công
Trang 30nghệ thông tin và truyền thông vào các lĩnh vực quản trị thông tin, truyền thông
và thủ tục trong nội bộ và giữa các cơ quan nhà nước, cũng như giữa chính phủ
và công dân, doanh nghiệp”[175, tr.4] Cuốn sách đã trình bày các yếu tố cơ bản của chính phủ điện tử, lịch sử và tổ chức chính phủ điện tử ở Áo, nội dung
và vai trò của dịch vụ điện tử đối với công dân, doanh nghiệp, với các cơ quan công quyền, trong đó có “trang web HELP.gvoat cổng thông tin một cửa và ứng dụng mã số công dân, hệ thống định danh cá nhân thống nhất trên phạm vi toàn nước Áo” [175, tr.2] Cuốn sách cũng cho biết nước Áo đã ban hành Luật Chính phủ điện tử, và nhờ những thành tựu xây dựng chính phủ điện tử đã góp phần đưa Áo tiến đến vị trí dẫn đầu, từ xuất phát điểm là vị trí thứ 13 năm 2012 trong Cộng đồng Châu Âu về CCHC, đơn giản hóa và thực hiện TTHC Có thể khẳng định cuốn sách đã gợi mở những nhận thức mới, cách làm mới trong cải cách và thực hiện TTHC ở Việt Nam, trong đó có việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông, mà bước tiến vừa qua là việc xúc tiến nghiên cứu áp dụng mã định danh cá nhân công dân do các cơ quan Chính phủ tiến hành
OECD (2011), Administrative Simplication in Vietnam supporting the
competitiveness of the Vietnamese economy (Đơn giản hóa hành chính ở Việt Nam hỗ trợ sự thuận lợi của nền kinh tế Việt Nam) [176] OECD là một diễn
đàn dành cho Chính phủ của các nền kinh tế thị trường phát triển nhất cùng nhau bàn bạc, giải quyết các vấn đề kinh tế mà nền kinh tế nước họ đặt ra và kinh tế toàn cầu Hiện OECD có 34 thành viên là những nước phát triển, có thu nhập cao, trong đó Châu Âu có 25 thành viên, Châu Mỹ có 4 thành viên, Châu Á có 3 thành viên Nhật Bản, Hàn Quốc, Israel), Châu Đại Dương có 02 thành viên gồm Newzeland và Úc Với tiêu đề nêu trên, ấn phẩm trình bày mục đích, phạm vi, bối cảnh chính trị, kinh tế ra đời của Đề án 30, những đánh giá cụ thể, trong đó có đánh giá về quy trình một cửa và rộng hơn là tính hiệu quả của thể chế mới ở Việt Nam, những đổi mới trong việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo luật mới, những đánh giá và đề xuất các phương hướng
để phát triển cải cách thể chế tại Việt Nam trong tương lai, trong đó công khai, minh bạch, hiệu quả là những phương hướng ưu tiên
Trang 31Các công trình của các tổ chức, cá nhân nghiên cứu về CCHC, loại trừ những quan điểm trái ngược với quan điểm của Đảng ta, những công trình này
đã cho thấy cách nhìn của người nước ngoài đối với công cuộc đổi mới và phát triển ở Việc Nam, ở đó bất cứ lĩnh vực nào cũng liên quan đến nền hành chính nhà nước với tư cách là chủ thể tiến hành các hoạt động cải cách hoặc đối tượng chịu sự tác động, chi phối bởi các quyết định quản lý hành chính Tuy vây, dưới góc nhìn của các tác giả nước ngoài sẽ mang tính khách quan, khoa học và kinh nghiệm của họ có những đánh giá rất riêng Vì vậy, trên cơ
sở đó tác giả sẽ sàng lọc và nghiên cứu tổng quan hơn, góp phần làm sâu sắc cho vấn đề mình cần nghiên cứu trong mảng CCHC ở tỉnh Đồng Tháp
1.2 KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN VÀ NHỮNG NỘI DUNG LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Kết quả nghiên cứu các công trình có liên quan đến luận án
Về nội dung, khảo cứu các công trình đã xuất bản về CCHC đã giải quyết
những nội dung như sau:
Khảng định được vị trí, vai trò của nền hành chính và cải cách nền hành chính nhà nước, các công trình khoa học tiếp cận từ nhiều góc độ, phạm vi và lĩnh vực khác nhau nhưng đều khẳng định tầm quan trọng của CCHC là cơ sở quan trọng để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước
Khẳng định các yêu cầu khách quan trong tiến trình cách mạng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, trong đó có Việt Nam Đặc biệt, trong quá trình tiến hành đổi mới ở Việt Nam phải CCHC để thúc đầy phát triển kinh tế, mở rộng dân chủ, công khai, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về CCHC của Việt Nam và đánh giá những ưu điểm, hạn chế, đồng thời tổng kết rút kinh nghiêm, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, giải pháp để CCHC cho phù hợp với thực tiễn đặt ra Trong
đó, có những công trình của lịch sử Đảng đã đề cập tới vấn đề này, cùng với các công trình của tác giả nước ngoài cung cấp thêm một số cơ sở lí luận và kinh nghiệm của một số quốc gia về hành chính công và cải cách nền hành chính
Trang 32Tuy nhiên, còn những khoảng trống về sự vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng, quá trình chỉ đạo thực hiện về CCHC ở các Đảng bộ địa phương của Việt Nam chưa được nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu, trong đó có tỉnh Đồng Tháp
Về phương pháp, các công trình khoa học có phương pháp tiếp cận và
trình bày những vấn đề dưới mỗi lĩnh vực khác nhau thì cách thể hiện khác nhau Từ đó, cung cấp phương pháp nghiên cứu đối với luận án chuyên ngành Lịch sử Đảng cách tiếp cận, thể hiện vấn đề được phong phú, rõ ràng và thuận lơi hơn
Về tư liệu, các công trình trên đã cung cấp hệ thống tư liệu phong phú, đa
dạng nhiều góc độ khác nhau về CCHC, tạo nên bức tranh tổng thể, đa chiều về vấn đề này Qua đó, giúp cho việc nghiên cứu về CCHC được thuận lợi trên bình
diện cả nước cũng như khai thác để phục vụ cho việc thực hiện luận án
Đánh giá về những công trình trên có giá trị về lí luận và thực tiễn, ngoài việc kế thừa, những vấn đề còn khoảng trống chưa giải quyết, luận án cần tập trung nghiên cứu
1.2.2 Những nội dung luận án tập trung nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình trên, luận án định hướng và tập trung những nội dung nghiên cứu sau:
Luận án tiến hành khảo cứu những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp về CCHC từ năm 1995 đến năm 2015
Luận án hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách nền hành chính nhà nước và làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp vận dụng về CCHC từ năm 1995 đến năm 2015 được gắn kết trong không
gian chung của cả nước
Luận án phân tích quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp chỉ đạo thực hiện CCHC từ năm 1995 đến năm 2015, trong đó tập trung ở các vấn đề như: tổ chức chỉ đạo, điều hành; công tác thông tin, tuyên truyền; cải cách thể chế hành chính; cải cách TTHC; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; cải cách tài chính công và hiện đại hoá nền
hành chính
Trang 33Luận án nhận xét khái quát những ưu điểm và hạn chế, đồng thời đúc kết một số kinh nghiệm về thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo CCHC từ năm 1995 đến năm 2015, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện bộ máy hành chính, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp đối với CCHC trong thời gian tiếp theo
Tiểu kết chương 1
Qua khảo cứu các công trình khoa học đã được công bố dưới nhiều thể loại cho thấy CCHC là vấn đề quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu trên nhiều góc độ về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, cùng với những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nền hành chính, sự lãnh đạo của Đảng đối với nền hành chính nhà nước và CCHC nhà nước Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu về CCHC các địa phương đến nay vẫn còn hạn chế Vì vậy, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ các địa phương về CCHC sẽ cung cấp những cơ sở khoa học để Đảng Cộng sản Việt Nam tổng kết lý luận, đưa ra những chủ trương và giải pháp CCHC ngày càng hoàn thiện hơn
Các công trình nghiên cứu về CCHC đa số tập trung ở lĩnh vực hành chính công, một số công trình nghiên cứu về chủ trương, phương hướng và giải pháp nhằm cải cách nền hành chính nhà nước Chuyên ngành lịch sử Đảng tuy đã được quan tâm nhưng số lượng nghiên cứu chưa nhiều, các nghiên cứu về các Đảng bộ địa phương lãnh đạo CCHC thuộc chuyên ngành lịch sử Đảng đến nay mới chỉ là bước đầu, còn những khoảng trống nghiên cứu về Đảng lãnh đạo CCHC, mà cụ thể là Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo CCHC từ năm 1995 đến năm 2015 Song, những công trình nghiên cứu phần tổng quan là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh có được hướng tiếp cận đúng đắn về mặt tư liệu, phương pháp nghiên cứu để hoàn thành luận án của mình
Trang 34Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG THÁP VỀ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2005
2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý: Đồng Tháp có vị trí trải từ 100
07’14’’ đến 100 58’18’’ vĩ độ Bắc và từ 1050
11’38’’ đến 1050 56’42’’ kinh độ Đông; phía Bắc giáp Campuchia
và tỉnh Long An; phía Đông giáp tỉnh Tiền Giang và Long An; phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Cần Thơ; phía Tây giáp Tỉnh An Giang và Cần Thơ Một trong 13 tỉnh, thành phố thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nơi đầu nguồn sông Tiền chảy qua biên giới vào Việt Nam, địa giới của tỉnh được phân chia 2 phần rõ rệt là tiểu vùng Đồng Tháp Mười (phía Bắc sông Tiền gồm các huyện: Tân Hồng, Hồng Ngự, Thị xã Hồng Ngự, Thanh Bình, Tam Nông, Tháp Mười, Cao Lãnh và Thành phố Cao Lãnh) và vùng đệm giữa sông Tiền - sông Hậu (phía nam sông Tiền có các huyên Châu Thành, Lấp Vò, Lai Vung và Thành phố Sa Đéc), có diện tích tự nhiên là 3.376,95 km2, chiếm 8,17% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long Đến năm 2015 toàn tỉnh được chia thành 12 đơn vị hành chính, trong đó có 2 thành phố và 9 huyện; các đơn vị đến cấp cơ sở bao gồm 17 phường, 9 thị trấn và
119 xã [18, tr 21] Địa hình toàn tỉnh tương đối bằng phẳng, nhưng bị cắt xén nhiều bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Giao thông đi lại tương đối khó khăn giữa trung tâm hành chính tỉnh tới các trung tâm hành chính huyện và cơ
sở [ Phụ lục 1 ]
Về khí hậu: Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu chung của vùng đồng bằng
sông Cửu Long với các đặc điểm chung là nền nhiệt dồi dào, biên độ nhiệt ngày đêm và giữa các mùa nhỏ; các chỉ tiêu khí hậu (số giờ nắng, lượng mưa, gió, bốc hơi, ẩm độ không khí,…) thuộc loại trung bình ở đồng bằng sông Cửu Long Lượng mưa trung bình năm ở Đồng Tháp là 1.682-2.005mm Mùa mưa từ tháng
Trang 355 đến tháng 11, chiếm đến 90-92% lượng mưa năm và tập trung vào các tháng
9-10 (30-40%), trong mùa mưa thường có thời gian khô hạn (hạn Bà Chằn) vào khoảng cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 hàng năm Vị trí nằm ở thượng nguồn sông Mêkông nên vừa chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông, vừa chịu chế độ
“bán nhật triều” của Vịnh Thái Lan, nên hàng năm Đồng Tháp có từ 3 đến 4 tháng bị lũ lụt, theo chu kỳ khoảng 3 đến 5 năm lại có lũ lớn Trong mùa lũ, vùng đất bị ngập nước chiếm gần 2/3 toàn tỉnh, tạo ra sự chia cắt giữa các khu vực, các trung tâm hành chính, vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, đời sống sinh hoạt của người dân, đặc biệt trong vấn đề quản lý giữa chính quyền tỉnh với chính quyền cấp cơ sở bị trở ngại bởi giao thông và cở sở hạ tầng
Đặc điểm điều kiện tự nhiên tạo những điều kiện thuận lợi tương đối cho phát triển kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp toàn diện, du lịch sinh thái và có điều kiện giao thương kết nối với các tỉnh trong khu vực và quốc tế Vì thế, Đồng Tháp đã rất chú trọng xây dựng tinh thần hợp tác trong nông dân giữa địa phương, kết nối tri thức, chia sẽ thông tin với doanh nghiệp qua mô hình hội quán, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương, đổi mới sáng tạo trong xây dựng nông thôn mới Đó chính là những mặt tích cực góp phần tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền địa phương đến với mọi tầng lớp nhân dân được thuận lợi, trong công tác quản lý hành chính cũng được thông suốt hơn
Mặt khác, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, phần lớn nền đất chịu lực kém, địa giới bị chia cắt gây khó khăn trong phát triển hạ tầng giao thông, tốn kém trong việc đầu tư hệ thống thủy lợi và xây dựng các kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; phần lớn địa bàn chịu ảnh hưởng của nước ngập với chế độ ngày càng phức tạp, có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống hạ tầng giao thông, bảo vệ kết cấu hạ tầng, canh tác, dân cư và đời sống dân sinh Vì vậy, tạo cho Đồng Tháp không ít khó khăn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế mà còn tác động đến sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân, tác động đến các công tác điều hành, quản lý hành chính của chính quyền
địa phương
Trang 362.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Về kinh tế: Đồng Tháp nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng
trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long “Cần Thơ - An Giang - Cà Mau - Kiên Giang”, chịu sự tác động về hai phía của 2 trung tâm lớn là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ, phía Tấy có cửa khẩu thông thương với Campuchia Mặc dù mức độ giao lưu kinh tế và thu hút đầu tư vào lãnh vực công thương nghiệp của tỉnh Đồng Tháp còn hạn chế, nhưng nhờ vào đặc điểm tự nhiên và sự năng động trong cơ chế chính sách, nhất là trong khâu tạo cơ chế về TTHC, Đồng Tháp dần đã thu hút được nhiều nhà đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, ngoài thế mạnh sẵn có là cung ứng nguyên liệu nông nghiệp (lúa, cá, trái cây, hoa kiểng), là Tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản và phát triển dịch vụ, thương mại và trở thành cầu nối giao thương với một số tỉnh trong khu vực
Đồng Tháp có cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 20 năm,
từ năm 1995 đến năm 2015 luôn có xu hương tăng và biến đổi giữa Nông lâm Thủy sản - Công nghiệp - Dịch vụ, duy chỉ giai đoạn 1995 - 2000 là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vục và thiện tai liên tiếp, đặc biệt là trận lũ lịch sử năm 2000 đã để lại hậu quả nặng nề cho sự phát triển KT - XH Vì vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1996 - 2000 thấp hơn giai đoạn 1991 -1995, tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP) của Tỉnh chỉ đạt 5,02%, dẫn đến tăng trưởng kinh tế giai đoạn này đạt tốc độ bình quân 6,86%/năm, nên giá trị GDP năm 2000 chỉ bằng 1,39 lần so với năm 1995 và bằng 2,23 lần năm 1990 [37, tr.18] Cơ cấu chuyển dịch kinh tế không đạt chỉ tiêu đề ra, hiệu quả sản xuất thấp, thị trường tiêu thụ không ổn định, sản xuất công nghiệp lúng túng và thiếu định hướng phát triển Hoạt động dịch vụ mới chỉ phát triển theo chiều rộng, còn một số lĩnh vực chủ yếu như cung cấp thông tin thị trường, dịch vu khoa học và công nghệ phát triển chậm Bức tranh kinh tế của tỉnh Đồng Tháp đã có sự khởi sắc, bởi sự nỗ lực của Đảng bộ và chính quyền nhân dân trong tỉnh cùng phấn đấu vượt qua khó khăn và thách thức Trong giai đoạn 2001 - 2005 kinh tế tỉnh Đồng Tháp đã vượt qua thời
kỳ suy giảm về tốc độ tăng trưởng, liên tục phát triển với nhịp độ khá cao, tốc độ
Trang 37tăng trưởng bình quân đạt 9,93%/ năm, cao hơn 3,07% so với giai đoạn 1996 -
2000 [38, tr.22] Những năm cuối thập niên đầu của thế kỷ XXI, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã vượt qua khó khăn như thiên tai, ảnh hưởng
từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới cuối năm 2007, kinh tế của tỉnh phát triển khá toàn diện, đến năm 2015 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân ước đạt 9,5%/năm, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người ước đạt 13,4 triệu đồng; cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch tích cực, tỷ trọng Nông lâm Thủy sản - Công nghiệp - Dịch vụ thay đổi từ 64,1% - 11,3% - 24,5% năm 2001 sang 37,9% - 28,5% - 33,6% năm 2015 (theo giá 1994); chuyển đổi cơ cấu chủ yếu nhờ tăng trưởng của ngành công nghiệp - xây dựng ở mức bình quân 19,4%/năm [40, tr.33] Kết quả đó, chính là nhờ vào sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp, các cấp ủy và chính quyền nhân dân mạnh dạn đổi mới, sáng tạo, kiên trì thực hiện, đã tạo động lực thúc đẩy phát triển KT - XH của tỉnh [phụ lục 2]
Về dân số: Quy mô và tốc độ dân số Đồng Tháp tăng chậm, từ khoảng 1,47
triệu người năm 1995 lên 1,63 triệu người năm 2005 và tới 2015 là 1,68 triệu người, tỷ lệ tăng bình quân khoảng 0,5% trong giai đoạn từ 1995 đến 2015 Mật
độ dân số khoảng 495 người/km2, trong đó ở thành thị là 193,2 nghìn người và ở nông thôn là 1,285 triệu người vào năm 1995, tỷ lệ thay đổi đến năm 2015 là 299,2 nghìn người ở thành thị và 1,385 triệu người ở nông thôn chiếm 82,24% [18, tr.22], Như vậy, về mặt quy mô và phân bố dân số của Đồng Tháp ở mức trung bình của vùng đồng bằng sông Cưu Long, cơ bản đa số người dân hoạt động trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp ở nông thôn là chủ yếu Dân số tỉnh phân bố không đồng đều do đặc điểm địa hình lãnh thổ nằm trong vùng đất trũng, có nhiều kênh rạch chằng chịt, dân cư chủ yếu sống dọc hai bờ sông Tiền, sông Hậu, các kênh rạch và các tuyến lộ tạo thành tuyến dân cư, tập trung đông dân cư ở thành phố Sa Đéc và thành phố Cao Lãnh
Về thành phần dân tộc và tôn giáo: Về cơ cấu thành phần dân tộc hiện nay
ở Đồng Tháp khá đơn giản, chủ yếu là dân tộc Kinh, chiếm 99,3% dân số; dân
tộc Hoa sinh sống, chiếm 0,7% dân số, dân tộc khác và Khơ me chiếm không
Trang 38đáng kể, chủ yếu sống ở vùng ven khu vực biên giới Mỗi dân tộc có tập quán, tín ngưỡng khá riêng, đặc thù góp tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa Đồng Tháp Về tôn giáo, trong lịch sử phát triển đến nay Đồng Tháp có 17 tổ chức tôn giáo hợp pháp đang hoạt động, bao gồm: Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo,
5 hệ phái Cao Đài, Công giáo, 5 hệ phái Tin Lành, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Tứ Ân hiếu nghĩa Ngô Lợi, 2 hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật đường Nam Tông Minh sư đạo Tổng số tín đồ là 364.990, chiếm 21,88% dân số; có
997 chức sắc, 3.362 chức việc và 450 cơ sở thờ tự [72, tr.67] Các tôn giáo ở Đồng Tháp phần lớn đều chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống theo tôn chỉ, mục đích của đạo
Về chăm sóc y tế: Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân mở rộng, mạng
lưới khám chữa bệnh và hệ thống y tế được đầu tư nâng cấp, hoạt động có hiệu quả, chất lượng phục vụ người bệnh tăng Y tế cơ sở đã phủ kín tất cả các xã, phường trong toàn tỉnh và từng bước hoàn thiện mạng lưới nhân viên sức khỏe cộng đồng Hệ thống dược trong tỉnh đã từng bước hiện đại hóa, mạng lưới phân phối thuốc đáp ứng yêu cầu về các loại thuốc thiết yếu cho nhân dân trong tỉnh Đến năm 2015, trên toàn tỉnh có 15 bệnh viện, 8 phòng khám đa khoa khu vực, 1 viện điều dưỡng và 144 trạm y tế phường xã; có 6,1 bác sĩ và 24 giường bệnh/1 vạn dân, tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm còn 14,4%, có 95% trẻ
em dưới 01 tuổi được tiêm chủng miễn dịch đầy đủ; có 60% dân số tham gia bảo hiểm y tế [17, tr.38] Về cơ bản, chăm sóc y tế của tỉnh tuy còn một số mặt khó khăn, nhưng cơ bản đã đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế của nhân dân
Về giáo dục- đào tạo: Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có sự phát triển đáng
kể, thu hẹp dần khoảng cách giữa các địa bàn trong và ngoài tỉnh, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các ngành học, cấp học từng bước đáp ứng theo yêu cầu đổi mới giáo dục Công tác dạy nghề bước đầu được gắn kết với nhu cầu thực tế của địa phương, doanh nghiệp, hệ thống cơ sở dạy nghề cấp huyện, thị xã được bố trí hợp lý hơn, đã thực hiện sáp nhập cơ sở dạy nghề với
cơ sở giáo dục thường xuyên Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được đầu
Trang 39tư theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hóa; nhà công vụ giáo viên, ký túc xá sinh viên được đầu tư, góp phần phục vụ tốt công tác dạy và học Đến năm 2015, toàn Tỉnh có 138/683 trường học đạt chuẩn quốc gia, 02 trường Trung học phổ thông chuyên (Nguyễn Quang Diêu và Nguyễn Đình Chiểu), 02 khu Ký túc xá sinh viên, có 01 trường đại học, 03 trường cao đẳng, 04 trường trung cấp nghề, hàng năm có trên 23.000 sinh viên, học viên theo học; tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 55,5%, trong đó qua đào tạo nghề 40%; tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân của tỉnh ước đạt 185 sinh viên [17, tr.48] Mạng lưới các cơ sở đào tạo được nâng cấp, xây dựng theo quy hoạch, tạo thuận lợi cho công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh
Về việc làm: Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo được quan tâm thực
hiện, thông qua giải pháp lồng ghép các chương trình, dự án phát triển, gắn với chương trình quốc gia giải quyết việc làm, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới;
hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân đã tạo thêm điều kiện thuận lợi cho các đối tượng chính sách xã hội, hộ nghèo, đối tượng gia đình chính sách, người có công vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống Đến năm 2015, tạo việc làm cho 166.100 lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo 2,13%/năm, hỗ trợ 11.144 căn nhà cho hộ nghèo, xây dựng 4.155 căn nhà tình nghĩa, huy động Quỹ đền ơn đáp nghĩa 38,9 tỷ đồng, có 123.824 lượt đối tượng bảo trợ xã hội được trợ cấp tại cộng đồng, có trên 43.000 đối tượng đang hưởng trợ cấp thường xuyên [170, tr 34]
Như vậy, mặc dù trong điều kiện, tình hình KT - XH còn nhiều khó khăn và thách thức, nhưng với sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Đồng Tháp đã đạt được những kết quả đáng kể, hoàn thành cơ bản các mục tiêu, kế hoạch kinh tế đề
ra từ năm 1995 đến năm 2015 Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khả quan, hướng theo nguyên tắc hợp tác - liên kết - thị trường, nâng cao chất lượng, hiệu quả và tăng thu nhập cho nông dân, các mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ phát huy hiệu quả Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì phát triển, nâng cao chất lượng, hiệu quả, khôi phục dần tăng trưởng Hoạt động thương mại - dịch vụ, du lịch có nhiều chuyển biến tích cực, mở rộng thị phần trong và ngoài nước Lĩnh vực văn hóa - xã hội được thực hiện tốt; công tác an sinh xã hội, chăm lo cho các đối tượng chính
Trang 40sách, hộ nghèo được quan tâm thực hiện Hình ảnh địa phương được cải thiện đáng
kể, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) luôn duy trì ở tốp đầu so với cả nước Quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới, quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, góp phần thực hiện hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu kế hoạch, đảm bảo cho KT - XH ổn định và phát triển [ phụ lục 11]
Phân tích những đặc điểm chủ yếu về điều kiện tự nhiên và KT - XH cho thấy những lợi thế tạo ra cho sự phát triển của tỉnh Tuy nhiên, Đồng Tháp vẫn còn một số hạn chế và đứng trước những thách thức, kinh tế phát triển chậm và chưa vững chắc, nhiều nguồn lực quan trọng như nhân lực, giáo dục - đào tạo, vị trí địa lý, văn hóa và những yếu tố thuận lợi, thế mạnh của tỉnh chưa được khai thác và sử dụng hiệu quả; quản lý hành chính nhà nước các cấp còn nhiều bất cập,
bộ máy quản lý hành chính từ tỉnh xuống tới cơ sở, các sở, ban ngành trong tỉnh còn rườm rà, nặng về thủ tục và qua nhiều cấp; quản lý về kinh tế còn tồn tại sơ
hở, bất cập nhất là khâu thủ tục hành chính; Một số bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức, lối sống, quan liêu trong công tác đã làm ảnh hưởng đến uy tín của
tổ chức đảng, chính quyền trong công tác lãnh đạo điều hành
Điều kiện tự nhiên có sự biến đổi phức tạp, kinh tế còn tồn tại khó khăn, chủ yếu còn dựa vào nông nghiệp là chính Để phát triển KT - XH, nhiều năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đồng Tháp đã xác định và tập trung chỉ đạo thực hiện các chương trình lớn mang tính đột phá, các Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới và trọng tâm là định vị lại sản xuất theo thị trường; Đề án Phát triển du lịch; Đề án vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức hành chính của tỉnh Đồng Tháp Đặc biệt, lãnh đạo tỉnh nhận thấy để phát triển
KT - XH, thu hút đầu tư, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh cần phải đẩy mạnh CCHC, xây dựng chính quyền thân thiện với người dân, doanh nghiệp, xem công tác này vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời, có thể bù đắp cho những bất lợi của tỉnh về tài nguyên thiên nhiên
Từ đặc điểm tình hình, Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp đã quan tâm đẩy mạnh CCHC, cụ thể hóa và ban hành nhiều văn bản thuộc thẩm quyền nhằm tạo điều