1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật trong cao lương đỏ của mạc ngôn

78 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 759,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Phạm Tú Châu trong bài viết Tiểu thuyết tiên phong Trung Quốc: ra đời nở rộ và trầm lắng khẳng định: Mạc Ngôn cùng với các nhà văn Dư Hoa, Cách Phí, Mã Nguyên…là những nhà văn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi nó chính là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng và cũng là mục đích mà văn học hướng tới Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định nào đó

Như bông hoa đầu mùa nở rộ, Mạc Ngôn đang trở thành một “hiện tượng” trên văn đàn Trung Quốc và thế giới Tác phẩm của ông đã được dịch

ra nhiều thứ tiếng và trở thành một món ăn “lạ” đầy hấp dẫn độc giả

Cao lương đỏ - tác phẩm mở đầu cho danh tiếng của Mạc Ngôn, phản

ánh cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của nhân dân Trung Quốc đầu thế kỷ XX Dưới ngòi bút say mê đầy nhiệt huyết, Mạc Ngôn đã thổi một làn gió mới vào từng trang viết, mang đến cho người đọc những cảm nhận mới lạ,

độc đáo Việc tìm hiểu nhân vật trong Cao lương đỏ sẽ giúp chúng ta khám

phá ra cái hay cái đẹp của tác phẩm này Chính vì vậy chúng tôi mạnh dạn lựa

chọn đề tài Nhân vật trong Cao lương đỏ của Mạc Ngôn

Tác giả Phạm Tú Châu trong bài viết Tiểu thuyết tiên phong Trung

Quốc: ra đời nở rộ và trầm lắng khẳng định: Mạc Ngôn cùng với các nhà văn

Dư Hoa, Cách Phí, Mã Nguyên…là những nhà văn tiên phong trong văn học đương đại Trung Quốc “Có ý thức sáng tạo cái mới rõ rệt và bước đầu đã hình thành phong cách tự sự riêng của mình” [3, tr.42]

Trang 3

Trên báo văn nghệ số 5, tháng 12, năm 2003 có đăng bài của tác giả Hồ

Sĩ Hiệp với bài viết Tiểu thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam Bài viết tổng

kết quá trình sáng tác của nhà văn từ những sáng tác đầu tiên tới nay Qua từng nhận định, tác giả bài viết khẳng định Mạc Ngôn được giới phê bình văn học đánh giá cao và không phải ngẫu nhiên mà Hội nhà văn Thượng Hải đã bình chọn Mạc Ngôn có mặt trong 10 tác giả ưu tú xuất sắc nhất thập kỷ 90 thế kỷ XX

PGS.TS Lê Huy Tiêu có chùm bài viết về văn học Trung Quốc đương đại và nhà văn Mạc Ngôn đăng trên tạp chí văn học nước ngoài Ngoài ra còn

có các bài: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, Sự đổi mới

thi pháp tiểu thuyết đương đại Trung Quốc Những bài viết này đã khái quát

những đặc điểm trong nghệ thuật tiểu thuyết của Mạc Ngôn như: hình ảnh, đề tài rất rộng, giọng điệu, ngôn ngữ, nghệ thuật tự sự…

Bài viết Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, Lê Huy

Tiêu nhận định tiểu thuyết của Mạc Ngôn là tiểu thuyết cảm giác mới: “Tiểu thuyết cảm giác mới đối lập với tiểu thuyết hiện thực truyền thống, nó không đơn thuần là miêu tả hiện thực bề ngoài, mà nhấn mạnh cảm thụ trực giác, đưa cảm giác trực quan vào trong khách thể đặng sáng tạo ra một hiện thực mới mẻ” [20, tr.387] Tác giả còn chỉ ra Mạc Ngôn đã sử dụng bút pháp tả thực kết hợp với bút pháp tượng trưng, biến hình, huyền ảo khoa trương “

“Lạ hóa” là hình thức tự sự (trữ tình) độc đáo, mục đích là tạo nên cảm giác mới lạ đối với những sự vật bình thường trong cuộc sống hàng ngày” [20, tr.397]

Lê Huy Tiêu (dịch, 2007), Cao lương đỏ, Nxb Lao động Tác giả nhận định: “Cao lương đỏ của Mạc Ngôn lấy đề tài từ lịch sử hiện đại Trung Quốc

Nó đã được giải thưởng Mao Thuẫn và đã được đạo diễn điện ảnh tài danh Trương Nghệ Mưu đưa lên màn ảnh và đoạt giải thưởng “Con gấu vàng” ở

Trang 4

liên hoan phim Tây Béclin và “Quả pha lê vàng” tại liên hoan phim Cáclôvi Vari” [9, tr.5]

Trong cuốn Mạc Ngôn và những lời tự bạch, nhà xuất bản Văn học

(Nguyễn Thị Thại dịch), Lâm Kiến Phát và Vương Nghiêm đã tập hợp những bài nói chuyện của Mạc Ngôn tại diễn đàn các nhà văn Trong đó có ba bài

đáng chú ý hơn cả, liên quan đến khóa luận là: Vì sao tôi lại viết Gia tộc Cao

lương đỏ; Ba cuốn sách xuất bản ở Mỹ của tôi; Đi tìm quê hương của Cao lương đỏ Mạc Ngôn đã đưa ra những lời tự bạch về số phận tác phẩm Cao lương đỏ và bối cảnh nơi nhà văn chọn để thể hiện trong tác phẩm của mình

là vùng quê Cao Bắc Đông Mật

Trong bài viết Năm mươi năm văn học của nước Trung Quốc mới, tác

giả Trương Quýnh đã nhận xét, đánh giá về những đổi mới của văn học Trung Quốc Tác giả đưa ra những nhận xét về xu hướng văn học Trung Quốc đương đại, đó là chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại cùng một số tác giả tiêu biểu Tác giả đã đề cập đến "Tiểu thuyết tiên phong", ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, như tác phẩm của Mạc Ngôn, Tô Đồng, Dư Hoa

Nguyễn Thị Tịnh Thy (2006), Kết cấu đa điểm nhìn, đa giọng điệu trong

Cao lương đỏ của Mạc Ngôn, Thông báo khoa học ĐHSP Huế, số 2 Tác giả

đã nhận định: "Điểm nhìn nghệ thuật trong Cao lương đỏ không phải là cái

nhìn đơn nhất, bất biến xuyên suốt tác phẩm mà còn là sự phối hợp của nhiều điểm nhìn đan xen và tương tác lẫn nhau" [16, tr.54]

Nguyễn Thị Tịnh Thy (2007), Kết cấu gián ghép điện ảnh trong Cao

lương đỏ của Mạc Ngôn, Tạp chí nghiên cứu văn học, tháng 3- 2007 Tác giả

đã đi sâu vào nghiên cứu thủ pháp gián cách ở hai phương diện: biến cố, sự

kiện và không gian, thời gian “Cao lương đỏ là tác phẩm thuộc dòng văn học

"phản tư", nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, nhìn lại cha ông và nhìn lại chính mình Mạc Ngôn viết câu chuyện này "để viếng các anh hồn và oan hồn

Trang 5

ở ruộng cao lương mênh mông quê hương” [17, tr.102]

Đề tài khóa luận "Chiến tranh trong Cao lương đỏ của Mạc Ngôn" của

Nguyễn Thị Thắm Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu trên hai phương diện nội

dung và nghệ thuật Về nội dung: hiện thực chiến tranh trong Cao lương đỏ;

về phương diện nghệ thuật: đặc điểm về điểm nhìn, kết cấu, giọng điệu và thủ

pháp phóng đại cái chết trong tác phẩm Cao lương đỏ

Những công trình và bài viết nêu trên bước đầu đã có một số đánh giá,

nhận định về tác phẩm Cao lương đỏ và tác giả Mạc Ngôn Các bài nghiên

cứu đều chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu chung về Mạc Ngôn và tác phẩm của ông

ở phương diện nội dung và nghệ thuật Chúng tôi chưa thấy có công trình nào

đi sâu vào nghiên cứu phương diện Nhân vật trong Cao lương đỏ của Mạc

Ngôn

Với tinh thần học hỏi không ngừng, kế thừa và tiếp thu những thành tựu

nghiên cứu của những người đi trước để đi sâu tìm hiểu Nhân vật trong Cao

lương đỏ của Mạc Ngôn, một đề tài mới mẻ và có ý nghĩa trong việc khám

phá tác phẩm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: nhân vật trong Cao lương đỏ của Mạc Ngôn

- Phạm vi nghiên cứu: tác phẩm Cao lương đỏ của Mạc Ngôn do Lê

Huy Tiêu dịch, được Nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 2007

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Phương pháp này nhằm làm nổi bật nét tương đồng và sự khác nhau giữa các nhân vật trong tác phẩm, so sánh, đối chiếu các nhân vật với nhau từ đó làm nổi bật tính cách của từng nhân vật

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các đặc điểm và tính cách, ngoại hình của các nhân vật, từ đó làm nổi bật hình tượng nhân vật

trong tác phẩm Cao lương đỏ của Mạc Ngôn

Trang 6

- Phương pháp hệ thống: Làm rõ các nhân vật trong hệ thống các mối

quan hệ khác nhằm đảm bảo tính thống nhất

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Mạc Ngôn và vị trí của Cao lương đỏ trong hành trình sáng

tạo nghệ thuật của nhà văn

Chương 2: Thế giới nhân vật trong Cao lương đỏ

Chương 3: Nghệ thuật khắc họa nhân vật trong Cao lương đỏ

Trang 7

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: MẠC NGÔN VÀ VỊ TRÍ CỦA CAO LƯƠNG ĐỎ

TRONG HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN

1.1 Vài nét về văn học Trung Quốc đương đại

Văn học Trung Quốc đương đại có lịch sử gần 60 năm (từ năm 1949) Trong gần 60 năm đó văn học đương đại trải qua nhiều thời kỳ biến động và phức tạp: thời kỳ 17 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1949 - 1966), thời kỳ cách mạng văn hóa (1966 - 1976), thời kỳ mới (1976 - 1986) và thời kỳ cái cách, mở cửa (từ 1986 đến nay) Trải qua biết bao biến cố thăng trầm, sau bao nhiêu năm bị gò bó, hạn hẹp, ngày nay văn học đương đại Trung Quốc đã vươn mình “đi ra thế giới” làm cho người đọc năm châu bốn biển vô cùng ngưỡng mộ và kinh ngạc về một nền văn học đổi mới, đầy sức sống tiềm tàng Một thời “bách gia tranh minh” và “bách gia tề phóng” văn học đương đại Trung Quốc đạt được những thành tựu rực rỡ với những tác giả và tác phẩm nổi tiếng làm rạng rỡ nền văn học Bóng đen của “cách mạng văn hóa” được xua tan đi, mở ra một thời kỳ văn học mới đầy niềm lạc quan, hồ hởi, đầy dân chủ và sáng tạo Đội ngũ nhà văn trưởng thành nhanh chóng, các nhà văn lão thành như Ba Kim, Băng Tâm, Sa Thịnh v.v vẫn chưa ngừng sáng tác; nhà văn trung niên trưởng thành sau giải phóng như Vương Mông, Lưu Thiện Đường, Đặng Hữu Mai, v.v vẫn đang sung sức; nhà văn trẻ trưởng thành sau đại cách mạng văn hóa như Vương An Ức, Hàn Thiếu Công, Giả Bình Ao, Trương Kháng Kháng, Thẩm Dung, Mạc Ngôn v.v đang là chủ lực của văn học đương đại Những “vùng cấm” và “văn nghệ tuyến đen” được xóa bỏ, khẩu hiệu “văn nghệ phục vụ chính trị” được thay bằng phương châm “văn nghệ phục vụ nhân dân” Những mảnh đất mà văn học đương đại chưa thể dùng đến đã được khai hoang cày xới Những nẻo đường mà văn học đương

Trang 8

đại từng thử nghiệm khai phá nhưng lập tức bị sự phê bình tả khuynh bóp chết nay đã được khai thông

Một quy luật tất yếu của văn học đó là thời đại mới sản sinh nhà văn mới

và tác phẩm mới Bước vào thời kỳ cải cách mở cửa, văn học đương đại Trung Quốc đón nhận những luồng gió mới với tâm thế hồ hởi Các nhà văn đương đại Trung Quốc rất tự do trong việc chọn lựa đề tài, thể tài và phương pháp sáng tác Họ học hỏi và tiếp thu những cái mới của nước ngoài đã góp phần làm đa dạng nền văn học nước nhà Với những thể tài đa dạng và phong phú, xuất hiện nhiều tầng vỉa văn học như văn học thuần túy, văn học thông tục, văn học điện ảnh v.v Về thơ, thơ từ cổ điển tồn tại bên cạnh thơ mới Thơ mới có thơ “mông lung”, thơ “tiên phong”…có thơ trữ tình chính trị, thơ trữ tình sinh hoạt, thơ tự sự, trường ca, thơ văn xuôi…về tiểu thuyết, không những có truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn mà còn còn có truyện cực ngắn

100 chữ, truyện một phút, tiểu thuyết triết lý, tiểu thuyết duy lý…về kịch, có kịch nhiều màn, kịch một màn, kịch không phân màn, kịch tả ý, kịch tả thực…

Văn học đương đại Trung Quốc như rừng hoa với muôn màu sắc khác nhau từ đề tài và chủ đề, hình thức và phong cách nghệ thuật đa dạng Thời kỳ

“cách mạng văn hóa” chấm dứt có “văn học vết thương”, đầu thập kỷ 80 có

“văn học phản tư”, “văn học cải cách”, “văn học tìm nguồn”… Các nhà văn thế hệ mới Trung Quốc mang đến cho văn học một diện mạo mới và phong cách mới Thế hệ nhà văn mới ít chú ý đến đề tài lịch sử, truyền thống và cách mạng như các thế hệ nhà văn đi trước Đề tài nổi bật trong các tác phẩm của

họ là cuộc sống đương đại hôm nay với những cảm quan và nhận thức mới tân tiến hơn

Làm nên diện mạo văn học Trung Quốc đương đại là thế hệ nhà văn thứ năm Thế hệ thứ nhất là những nhà văn trong giai đoạn 1919 - 1927 với

Trang 9

những tên tuổi Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Tào Ngu v.v Thế hệ thứ hai là lớp nhà văn giai đoạn 1927 - 1937 đứng đầu là Mao Thuẫn, Chu Lập Ba, Hồng Phong v.v Tới thế hệ thứ ba là lớp nhà văn giai đoạn 1937 - 1949 tiêu biểu là Đinh Linh, Triệu Thụ Lý, Liễu Thanh.Thời kì thứ tư 1949 - 1966 là các nhà văn Dương Mạt, Vương Mông, Cao Hành Kiện

Lớp nhà văn thuộc thế hệ thứ năm xuất hiện sau đại cách mạng văn hóa Những nhà văn này phải chịu nhiều đau khổ trong những năm "đại động loạn"

bị "bè lũ bốn tên" bức hại tàn khốc Khác với những nhà văn thế hệ trước, lớp nhà văn này ưu thời mẫn thế hơn, họ dám nghĩ dám làm, với nhiệt huyết khí thế xung trận, họ vạch trần tội lỗi của "bè lũ bốn tên", vạch trần những tàn dư xấu xa trong xã hội Thế hệ nhà văn này với lực lượng vô cùng hùng hậu: Lưu Tâm Vũ, Lưu Chấn Vân, Mã Nguyên, Tô Đồng, Lưu Hằng, Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Trương Khiết, Thẩm Dung, Phùng Kí Tài Lớp nhà văn này đã tạo

ra dòng "văn học vết thương", tố cáo tính vô nhân đạo của cuộc đại cách mạng văn hóa; dòng "văn học cải cách" phản ánh tình hình cải cách mở cửa với niềm vui mừng hồ hở; dòng "văn học phản tư" đi sâu vào chiêm nghiệm hồi tưởng lịch sử, những ngày đã qua và để rút ra bài học cho tương lai Đề tài lịch sử và tình yêu dung tục xuất hiện nhiều Nhiều tác phẩm văn học thời kì này được chuyển thể thành phim và được giải cao ở các liên hoan phim quốc

tế như: Thị trấn phù dung, Cúc Đậu, Cao lương đỏ, Đèn lồng đỏ treo cao

Văn học đương đại không chỉ phong phú về đề tài mà còn phong phú về bút pháp và khuynh hướng sáng tác

Văn học đương đại Trung Quốc trong hai thập kỷ qua đã phát triển rất sôi động, mặc dù còn có ghềnh thác, sóng gió nhưng văn học đương đại Trung Quốc vẫn bội thu, có thành tựu to lớn

Trang 10

1.2 Mạc Ngôn - “Nhà văn chân đất” đoạt giải Nobel

Mạc Ngôn sinh ngày 17/02/1955 tại huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Mạc Ngôn là bút danh Tên thật của nhà văn là Quản Mạc Nghiệp, ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo

Từ thưở nhỏ, Mạc Ngôn đã tỏ ra là một đứa trẻ thông minh hiếu động, ham học hỏi và đặc biệt là rất thích đọc sách Đông Bắc Cao Mật là vùng quê lạc hậu và hẻo lánh nên sách là một thứ xa xỉ vô cùng hiếm hoi Để thỏa lòng say mê, ông phải làm rất nhiều việc, khi có được sách rồi ông rất đọc một cách say sưa và thường xuyên, cùng khóc cùng cười với những nhân vật Tuổi thơ của ông gắn liền với “đói khát và cô đơn luôn là người bạn đồng hành” Khi các bạn đồng trang lứa được học hành tử tế thì ông phải làm bạn với con trâu ngoài đồng Con trâu quen thuộc và gần gũi với Mạc Ngôn tới mức ông hiểu về nó còn hơn cả người Cả một chuỗi ngày dài trong tuổi

ấu thơ của nhà văn gắn liền với cơ cực nghèo đói Khi đã vào nghiệp văn chương, đời sống đã có phần được cải thiện, nhà văn vẫn thường hình dung lại hình ảnh của mình và các bạn cùng trang lứa trong những tháng năm cơ cực ấy: “Lúc ấy, những đứa trẻ lên năm, lên sáu hầu như trần truồng suốt ba mùa xuân, hạ, thu, chỉ khi tới mùa đông giá rét mới khoác lên mình một bộ quần áo Nhưng bộ quần áo cũng rách tới mức mà trẻ em Trung Quốc bây giờ không thể nào tưởng tượng nổi” [8, tr.97] Hay “Lúc đó, thân hình chúng tôi gầy như một que củi, nhưng cái bụng thì chẳng khác gì vại nước Lớp da bụng của chúng tôi dường như trong suốt, có thể nhìn thấy cái dạ dày lép kẹp đang cuộn lên, cái cổ dài loằng ngoằng dường như không mang nổi cái đầu to nặng” [8, tr.98] Chính những năm tháng đói rét cô đơn ấy đã giúp cho Mạc Ngôn trở thành một nhà văn có được sự thể nghiệm sâu sắc với sinh mệnh Xuất thân từ nông dân, coi “đói khát và cô đơn là tài sản sáng tác của mình”, Mạc Ngôn xuất hiện trước độc giả với hình ảnh một con người bình

Trang 11

dị, mộc mạc và có ý thức trách nhiệm khi sáng tác “Là một người xuất thân

từ tầng lớp hèn kém cho nên tác phẩm của tôi chứa đầy quan niệm của thế tục” [8, tr.105] Từng hiện thực bước vào trang văn của ông trần trụi nghẹn ngào đến xót xa Đọc những tác phẩm của ông người đọc dễ dàng nhận thấy hơi hướng nồng nặc của đất quê và mối tình sâu đậm không bao giờ tan chảy giữa ông với quê hương Cao Mật

Mạc Ngôn quan niệm viết văn tương tự bao công việc khác, nhà văn không phải là “kỹ sư tâm hồn” bởi nhà văn thực ra chẳng những không cao minh hơn độc giả mà anh ta còn không hơn nhân vật trong tác phẩm của mình Trong suy nghĩ của Mạc Ngôn, viết văn không phải là “sáng tác cho người dân” vì như vậy nhà văn đang giống như ông thầy dạy bảo độc giả; ông luôn xem mình là loại “sáng tác với tư cách người dân” không hề trịch thượng Quan niệm này ở phương Tây không có gì lạ lẫm nhưng đặt trong dòng chảy văn học Trung Quốc thì quả là táo bạo vì ai cũng biết dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, văn học Trung Quốc luôn muốn cố gắng phơi bày, đả kích, giáo hóa…; luôn dùng văn chương như là một thứ công cụ để

"tải đạo” hoặc “minh đạo” Không chỉ là nhà văn tài năng, Mạc Ngôn còn được xem là một nhà nhân văn lớn của Trung Quốc đương đại

Mạc Ngôn bắt tay vào sáng tác văn học không phải là sớm (sáng tác văn học những năm 1980, 1981), sự nghiệp văn học của ông tính đến nay đã khá

đồ sộ: trên 240 sáng tác gồm 10 truyện dài (tiểu thuyết), 20 truyện vừa, trên

60 truyện ngắn, 5 tuyển tập những bài bút ký, phóng sự, tạp văn, ngoài ra còn rất nhiều vở kịch cho sân khấu Mạc Ngôn đã có những đóng góp có giá trị cho nền văn học đương đại Trung Quốc

Thành công đầu tiên và cũng là lớn nhất của ông phải kể đến là ở thể loại tiểu thuyết Hàng loạt tiểu thuyết của ông ngay khi mới ra đời đã gây tiếng

vang lớn như: Gia tộc Hồng Cao lương, Cây tỏi nổi giận, Báu vật của đời,

Trang 12

Đàn hương hình, Sống đọa thác đày Trong các nhà văn đương đại Trung

Quốc hiện nay, Mạc Ngôn không phải là nhà văn nổi tiếng nhất Tên tuổi của ông không bằng Vương Mông và Giả Bình Ao nhưng ông là nhà văn có

“vùng đất”, “có tiếng nói” và “cách viết riêng” Nhà văn luôn tự làm mới mình, mỗi tác phẩm được viết theo một bút pháp riêng nên luôn tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ độc giả

Không chỉ thành công ở thể loại tiểu thuyết, Mạc Ngôn còn được biết

đến với những truyện ngắn xuất sắc: Đêm xuân mưa giăng giăng, Người lính

xấu, Châu chấu đỏ, Chương 12 hoan lạc, Bùng nổ, Cá đêm…và các tập

truyện vừa: Củ cải đỏ trong suốt, Hài hước và hóm hỉnh, Mô hình và nguyên

dạng

Ngoài hai thể loại tiêu biểu là tiểu thuyết và truyện ngắn, Mạc Ngôn còn

sáng tác tùy bút, tạp văn với các tác phẩm như: Bức tường biết hát – tập văn xuôi, tùy bút đầu tiên, Mạc Ngôn – những lời tự bạch, Mạc Ngôn – chuyện

văn chuyện đời

Cái nghèo ấy giúp Mạc Ngôn viết nên những trang văn hiện thực đầy khổ đau, bất hạnh Văn Mạc Ngôn thật lắm, đau đời lắm Những tác phẩm văn chương của ông có sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực huyền ảo với các câu chuyện dân gian, lịch sử và cuộc sống hiện đại của Trung Quốc Chỉ cần đọc nửa trang viết của Mạc Ngôn, bạn sẽ có thể nhận ra được văn phong của ông Phong cách của Mạc Ngôn là một đài phun nước của từ ngữ và những câu chuyện kể Chuyện lồng trong chuyện, câu chuyện này mở câu chuyện khác

và cứ thế, Mạc Ngôn là một nhà văn hấp dẫn Tác phẩm của ông nói lên đời sống nhân dân, văn hóa độc đáo của Trung Quốc và nếp sống của dân tộc Chúng cũng được kể từ điểm nhìn của một con người bình thường, không phân biệt quốc gia hay chủng tộc

Trong mỗi tác phẩm của nhà văn Mạc Ngôn đều có hình ảnh của quê

Trang 13

hương – nơi ông sinh ra và lớn lên bởi theo quan điểm của ông, bởi rất nhiều yếu tố nghệ thuật dân gian từ quê hương ông như nghệ thuật cắt giấy, chạm trổ, nghệ thuật vẽ truyền thống trong năm mới đã ảnh hưởng đến tác phẩm của ông Một nhà văn khi đã thành danh phải biết chắt lọc những tinh hoa văn hóa của dân tộc, quê hương vào tác phẩm của mình Là người có thứ văn chương hiện thực huyền ảo pha trộn những câu chuyện dân gian, lịch sử và đương đại Nhà văn Mạc Ngôn biết biến không gian địa lý của mình thành không gian văn học

Nhà thơ Lưu Vũ Tích trong bài Lậu thất minh có hai câu đáng được gọi

là “danh cú” như sau:

“Sơn tuy bất cao hữu tiên tắc danh, Thủy tuy bất thâm hữu long tắc linh”

Nghĩa là:

"Núi tuy không cao nhưng nổi danh vì có tiên đến ở Sông tuy không sâu nhưng hiển linh vì có rồng cư ngụ" Quả vậy, hơn một ngàn năm trước, ngôi chùa Hàn Sơn nhỏ bé nằm ở nơi thâm sơn cùng cốc phía thượng nguồn ngoài thành Cô Tô bỗng chốc trở thành

một địa danh nổi tiếng nhờ bài thơ xuất thần Phong Kiều dạ bạc của Trương

Kế Hơn một ngàn năm sau, mảnh đất Cao Mật nghèo khó, khắc nghiệt và hẻo lánh của tỉnh Sơn Đông lại được cả thế giới biết đến nhờ vào các tác phẩm văn chương của người con Mạc Ngôn Mạc Ngôn nói rằng mọi thứ ông có đều “được moi từ chiếc bao tải rách của làng Đông Bắc Cao Mật” nhưng cũng

có thể khẳng định ngược lại, mọi thứ có được ông đều dồn vào chiếc bao tải của làng Đông Bắc Cao Mật Trong hầu hết các tác phẩm, nhà văn này đã đưa tất cả những gì mình từng biết, từng thấy, từng tưởng tượng ra đặt vào vùng đất Cao Mật, biến nó thành “nơi đẹp đẽ nhất, xấu xa nhất, siêu thoát nhất, thế tục nhất”; thành miền đất thánh trong sáng tác của mình Ở đó có ánh trăng

Trang 14

đẹp nhất, có rượu cao lương ngon nhất, có làn điệu Miêu Xoang bi thiết nhất,

có nạn châu chấu đỏ khủng khiếp nhất, có những chiến thắng ngoại xâm bi hùng nhất, có những cuộc đấu tố oan khuất nhất của cải cách ruộng đất và cách mạng văn hóa, có những đổi thay lớn nhất và cũng trái khoáy nhất từ kinh tế thị trường và cải cách mở cửa Đó còn là nơi sinh ra những con người

“trong trắng nhất, nhơ bẩn nhất, anh hùng hảo hán nhất, đểu giả mất dạy nhất, giỏi uống rượu nhất, biết yêu đương nhiều nhất ở trên trái đất này” Cao Mật

là một, là duy nhất nhưng cũng là tất cả Nó vừa là của riêng Mạc Ngôn nhưng cũng là của Trung Quốc bởi vì mảnh đất và con người nơi đây đều tiêu biểu cho hồn phách, khí cốt Trung Hoa Cao Mật của Mạc Ngôn trở nên sâu sắc hơn bởi ông không chỉ đã cố gắng “làm cho nó trở thành hình ảnh thu nhỏ của Trung Quốc” mà còn “khiến cho nỗi đau khổ và niềm vui sướng ở đây trở thành nỗi đau khổ và niềm vui sướng của toàn thể nhân loại” [8, tr.94]

Mạc Ngôn từng nói rằng, làng Đông Bắc Cao Mật của ông chỉ bé bằng con tem trên bản đồ Trung Quốc, vậy mà bằng tâm huyết và tài năng của mình, qua góc nhìn lịch sử và văn hóa, ông đã biến nó thành một biểu trưng của đất nước Tuy nhiên, Cao Mật không chỉ là Trung Quốc, Cao Mật còn là nhân loại bởi trong không gian độc đáo này còn chất chứa những triết lý sinh tồn với nhiều bi kịch phận người: những con người thiểu năng, những người đàn ông bất lực, những người đàn bà không sinh nở, muốn làm một con người chân chính thì phải phản luân lí, trở thành anh hùng nhiều lúc không phải vì

cứu được nhiều người mà vì giết được nhiều người (Báu vật của đời, Đàn

hương hình, Rừng xanh lá đỏ, Ếch) đó là bi kịch của mối quan hệ giữa con

người với định mệnh, giữa cá nhân và lịch sử Con người đang ở đâu trong dòng chảy miên viễn của lịch sử? Họ là tinh hoa của tạo hóa hay là trò chơi của tạo hóa? Họ là chủ nhân hay là nạn nhân của lịch sử? Họ phải xác lập bản thể, bản ngã của mình như thế nào đây? “Thế nào là chính đạo? Thế nào là

Trang 15

lương thiện? Thế nào là tà ác?” Những câu hỏi không dễ trả lời này vẫn luôn

là nỗi ám ảnh phiền muộn đối với con người từ muôn xưa cho đến muôn sau

Để đưa Cao Mật bước ra thế giới, Mạc Ngôn đã sử dụng các sách lược tự

sự linh hoạt, độc đáo và đầy ấn tượng, mà các sách lược ấy đều xuất phát từ bút pháp hậu hiện đại kiểu Trung Quốc, từ đó xác lập nên một phong cách “tự

đó, Cao Mật là hình ảnh do ông tưởng tượng ra trên cơ sở những trải nghiệm thực tế của tuổi thơ, ông biến nó thành một Trung Quốc thu nhỏ, rồi đồng hoá niềm vui nỗi buồn của người dân Cao Mật với niềm vui nỗi buồn, những vấn

đề thường thấy của nhân loại Từ đó, ông thu hút được sự quan tâm của người đọc trên toàn thế giới Ông dùng quá khứ để viết văn nhưng không “ăn mày dĩ vãng”, thay vào đó ông nâng tầm những những ký ức đó lên trở thành những vấn đề nhân sinh quan của nhân loại và không ngừng tự làm mới câu chuyện của mình, dù trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm nhưng Cao Mật và người dân nơi đây vẫn luôn gây bất ngờ

Văn học, trước hết là viết về số phận con người, nhất là số phận những con người yếu thế, dễ bị tổn thương Mạc Ngôn là nhà văn của nông dân, viết

về nông dân, phản ánh cuộc đấu tranh dữ dội, ác liệt ở quê ông để giành quyền sống, mặc dù đôi khi giành được đôi chút thắng lợi nhưng họ đã mất

Trang 16

gần hết cuộc đời của mình Ở Mạc Ngôn - chúng ta nhìn thấy dũng khí của một cây viết vừa mãnh liệt vừa tưng tửng, vừa cay đắng vừa hài hước, vừa đả kích vừa xót xa Người đọc thấy những hiện trạng xã hội tan nát, bê bối, bi thảm của thời cuộc, của xã hội Trung Quốc phơi bày trong văn chương của Mạc Ngôn, nhưng đằng sau mỗi con chữ hiện thực tả chân ấy là cả một nỗi xót xa, cay đắng Mạc Ngôn có một xác quyết rất rõ ràng cho sứ mệnh cầm bút của mình Đó là đứng về phía những người nghèo, những người khổ, những người chân đất, những người phụ nữ Ông khẳng định một sự lựa chọn, một thái độ sống rõ ràng

Nghiện viết như người ta nghiện rượu, càng viết lại càng say, với tất cả tâm huyết và bút lực tài hoa của mình Mạc Ngôn thật xứng đáng khi được trao giải thưởng Nobel về văn học Qua 111 năm trong lịch sử của Giải Nobel, thì Giải Nobel văn chương 2012 được trao cho Mạc Ngôn là Giải Nobel “đầu tiên” được trao cho một công dân Trung Quốc

Mạc Ngôn thuộc về thế hệ nhà văn hậu cách mạng văn hóa đang bắt đầu nhìn về xã hội Trung Quốc, đặc biệt là vùng nông thôn, bằng con mắt mới mẻ bên ngoài định hướng chính trị Suốt thời gian rất dài, văn chương chủ nghĩa hiện thực ở Trung Quốc đã nằm trong trào lưu hiện thực xã hội chủ nghĩa, vì thế nó phải chứa những thông điệp chính trị và ý thức hệ Tuy nhiên, tác phẩm của họ Mạc toàn những nhân vật đời thường, phản ánh chân dung nông thôn Trung Quốc như “một nơi huyền hoặc với những điều kỳ thú xảy đến, những thứ mà có vẻ nằm ngoài thần thoại và chuyện cổ tích”

Nhà phê bình Paul Mason viết trên tờ The Guardian: “Mạc không chỉ là nhà văn hiện thực huyền ảo trong văn chương Trung Quốc đương đại, mà lối viết chênh vênh giữa hiện thực và siêu thực mới là khéo léo nhất, đau đớn nhất Ông giống với Pynchon hơn là Marquez, và khi kết thúc tác phẩm, ông không giống với bất cứ tác giả vĩ đại nào còn sống” [23]

Trang 17

Với ông Chen Xiaoming, giáo sư ngành ngôn ngữ và văn chương Trung Quốc ở đại học Bắc Kinh, họ Mạc “sáng chói trong việc kết hợp những trải nghiệm phổ quát nhân loại với những đặc trưng riêng của cuộc sống người Trung Quốc Tác phẩm của ông nói về quốc gia và về lịch sử, nhưng ông không có quan điểm chính trị cá nhân Chính trị của ông là mối bận tâm về lẽ công bằng” [23]

Dù không tự nhận là “người phát ngôn của nhân dân”, nhưng người dân Trung Quốc tự hào về Mạc Ngôn - công dân Trung Quốc đầu tiên giành giải Nobel Văn học - nhà văn đã đưa những con người bình dị đi vào trang văn bất

hủ và quan trọng hơn là cùng nhìn cuộc sống qua góc nhìn của người dân

1.3 Cao lương đỏ - Tác phẩm mở đầu cho danh tiếng của Mạc Ngôn

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, nền văn học Trung Quốc có một diện mạo với những bước đột phá, cách tân về thi pháp Mạc Ngôn được coi là một trong những đại diện tiêu biểu của nền văn học Trung Quốc đương đại Bằng cách viết về quá khứ, chọn phong cách hiện thực huyền ảo tinh tế và khéo léo, nhà văn Mạc Ngôn đã "làm mờ và phá đi trung tâm của chủ đề phân tích và phán xét văn hóa của các tác phẩm Tìm về cội nguồn, tiến tới làm cho lịch sử trở thành đối tượng của thẩm mĩ và lĩnh vực tưởng tượng siêu nghiệm" [8, tr.197]

Truyện vừa Cao lương đỏ ra mắt công chúng năm 1986 được xem là kiệt

tác của Mạc Ngôn Ngay khi ra đời đã làm chấn động văn đàn Trung Quốc đương đại và mở ra một tiền đề sáng lạn cho nhà văn Vừa ra mắt bạn đọc, tác phẩm đã gây một tiếng vang lớn, lượng tiêu thụ khổng lồ của nó được xem là một hiện tượng Tác giả Cao lương đỏ cho rằng: “vì nó đã thể hiện được trạng thái tâm lý chung của người Trung Quốc lúc đó, sau một thời gian dài tự do

cá nhân bị đè nén Cao lương đỏ phát huy tinh thần giải phóng cá tính, đó là

Trang 18

dám nói, dám nghĩ, dám làm” [8, tr.54]

Lấy bối cảnh những năm 1920-1930 tại vùng quê Cao Mật của ông ở miền Nam Trung Quốc Người kể chuyện xưng tôi đã bắt đầu câu chuyện bằng sự kiện “bố tôi” gia nhập đoàn quân của Tư lệnh Từ Chiếm Ngao lúc mới mười bốn tuổi Từ Chiếm Ngao vốn là một anh hùng thổ phỉ, sau trở thành Tư lệnh lãnh đạo người dân nơi đây chống lại phát xít Nhật Thời trẻ,

Từ Chiếm Ngao đã giành được tình yêu của Phượng Liên, một cô gái nghèo

bị cha mẹ ép gả cho Đơn Biển Lang Họ có với nhau một người con trai chính

là “bố tôi”, nhưng “bố tôi” lại không biết tư lệnh Từ Chiếm Ngao là cha mình, vẫn gọi ông là “bố nuôi” Đến khi “bà tôi” sắp chết, sự thật mới được tiết lộ Câu chuyện gia tộc đã được tái hiện vừa chi tiết, vừa phóng đại; vừa thiêng liêng trang trọng, vừa hài hước thô tục

Kết cấu chuyện đảo ngược lại dòng thời gian khách quan, không gian thường xuyên xáo trộn, thay đổi liên tục nhưng vẫn rõ ràng, mạch lạc bởi hành động của nhân vật được miêu tả kết hợp với tâm lí tinh tế Cốt truyện Cao lương đỏ đúng theo phong cách của Mạc Ngôn không có những tình tiết

ly kì nhưng hấp dẫn người đọc từ đầu đến cuối Nhân vật của ông ngang tàng, khí phách, phóng túng và yêu tự do Họ dám phá bỏ mọi ràng buộc của lễ giáo để giải phóng cá tính “Luôn đi giữa đỏ và trắng” như Mạc Ngôn nói, “bà nội tôi”, Tư lệnh Từ vừa đáng yêu vừa đáng trách, vừa thánh thiện vừa phàm tục Cuộc kháng chiến chống Nhật đã lột xác đưa họ trở thành anh hùng dân tộc Từng trang sách bước ra từ đời thật, thông qua sự lưu chuyển của dòng ý thức, cái nhìn đầy biến ảo của nhà văn mà từng câu từng chữ tái hiện lại một giai đoạn lịch sử

Các nhân vật trong Cao lương đỏ cá tính, khí phách, sống ngang tàng và

cũng đầy niềm lạc quan như những ngọn cao lương thẳng tắp vút lên trên bầu trời của Cao Mật - một nét điển hình của người dân vùng Cao Mật mà chúng

Trang 19

ta sẽ gặp lại trong rất nhiều tác phẩm của Mạc Ngôn, ông đã lấy những hình mẫu chính từ mảnh đất mà ông được sinh ra và lớn lên để nhào nặn thành các tác phẩm bất hủ

Các nhà văn lão thành đã từng trải qua chiến tranh, có rất nhiều đề tài nhưng họ không còn nhiều tâm sức để sáng tác, vì tuổi thanh niên đẹp đẽ nhất của họ đã bị lỡ bởi cách mạng văn hóa, còn các nhà văn trẻ tinh lực dồi dào thì lại không có được những trải nghiệm, vậy họ phải làm gì để phản ánh chiến tranh và lịch sử một cách tốt nhất? Trả lời cho câu hỏi trăn trở ấy, Mạc Ngôn đã nói lên quan điểm sáng tác của mình: "chúng tôi có thể bù đắp khiếm khuyết đó bằng một phương thức khác Chưa nghe tiếng súng đạn nhưng tôi

đã từng nghe tiếng pháo nổ; chưa nhìn thấy cảnh giết người nhưng tôi đã nhìn thấy cảnh giết lợn thậm chí đã chính tay giết gà; chưa từng đánh nhau chém nhau với quỷ nhưng tôi đã được xem qua phim ảnh Vì sáng tác của nhà văn không phải là công việc phục chế lịch sử, đó thuộc về nhiệm vụ của các sử gia Các nhà văn viết về chiến tranh - một hiện tượng ngu muội nhất trong tiến trình của lịch sử nhân loại, điều họ muốn lột tả chính là bóp méo linh hồn con người của chiến tranh hoặc là sự biến dạng của nhân tính trong chiến tranh Từ ý nghĩa đó mà xét thì cho dù người chưa trải qua chiến tranh cũng

có thể viết về chiến tranh" [8, tr.47] Để chứng minh quan điểm của mình là đúng, nhà văn lập tức viết, viết một bộ tiểu thuyết về chiến tranh Đầu tiên tác giả nghĩ tới quê hương mình Lúc còn nhỏ thời tiết không như bây giờ, trời hay mưa, nước ngập mênh mang, nên chỉ trồng được cao lương Mỗi khi thu

về ra khỏi làng đã thấy ngay những cánh đồng cao lương bát ngát Nhà văn quyết định lấy cánh đồng cao lương làm sân khấu để diễn câu chuyện về cuộc kháng chiến chống Nhật, câu chuyện về tình yêu

Cao lương đỏ có nguồn gốc từ một câu chuyện có thật xảy ra ở làng bên

cạnh làng tác giả Lúc đó bọn quỷ Nhật đang chuẩn bị trả thù những người

Trang 20

dân của một làng dám tấn công vào bọn chúng Trên đường chúng kéo đến, chỉ vì một người nào đó chỉ nhầm phương hướng mà hơn một trăm người dân của làng đó đã bị thảm sát

Một nhà văn giỏi phải có tính sáng tạo, một truyện vừa hay đương nhiên

cũng phải có tính sáng tạo Cao lương đỏ gây chấn động dư luận bởi vì nó đã

có chút sáng tạo riêng Điều mà tác giả tâm đắc nhất với tác phẩm này là ở góc nhìn miêu tả trong truyện Các tiểu thuyết trước đây thường có đại từ

nhân xưng ngôi thứ nhất, thứ hai, thứ ba, còn Cao lương đỏ vừa vào đầu đã là

"bà tôi", "ông tôi" vừa là góc nhìn của ngôi nhân xưng thứ nhất lại vừa là góc nhìn chung Chính điều này đã tạo ra những góc nhìn đa chiều, những cảm nhận mới lạ và phong phú, hấp dẫn người đọc

Điểm thu hút ở Cao lương đỏ chính là về đề tài mà tác giả nói tới trong

tác phẩm Viết về lịch sử, viết về chiến tranh lại gây nên những chấn động mạnh mẽ Bởi nó thể hiện được trạng thái tâm lí người dân Trung Quốc lúc

đó, sau một thời gian dài tự do cá nhân bị đè nén, Cao lương đỏ đã đề xướng,

phát huy tinh thần giải phóng cá tính, đó là dám nói, dám nghĩ, dám làm Mạc

Ngôn đem đến cho văn học đương đại Trung Quốc một tiếng nói mới: "Cao

lương đỏ ca ngợi tinh thần phát huy cá tính và cũng mang đến một cách viết

khác cho tiểu thuyết về chiến tranh" [8, tr.43] Với quan niệm: " sáng tác của nhà văn không phải là công việc phục chế lịch sử, đó thuộc về nhiệm vụ của

các sử gia" [8, tr.47], viết Cao lương đỏ, Mạc Ngôn không chú trọng miêu tả

quá trình chiến tranh, không nhằm lột tả: "sự bóp méo linh hồn con người của chiến tranh hoặc là sự biến dạng của nhân tính trong chiến tranh" mà nhìn chiến tranh như "phòng thí nghiệm linh hồn của nhân loại" Ở đây, người đọc

dễ dàng nhận thấy một sự kết hợp hài hòa giữa đề tài chiến tranh và đề tài tình yêu, gửi gắm trong đó là biết bao khát vọng sống tự do và ý chí kiên định

quyết đạt được cuộc sống tự do của nhân dân Trung Hoa Cao lương đỏ như

Trang 21

một bản nhạc tuyệt vời ngợi ca tình yêu, sự tự do phóng khoáng của con người Tác phẩm được kể bằng cái nhìn chủ quan của nhà văn, vừa khốc liệt, lại vừa bay bổng, cuốn hút độc giả hết trang này qua trang khác - một kiểu kể chuyện rất điển hình của Mạc Ngôn đó là sự hòa trộn giữa hiện thực và yếu tố

kỳ ảo, phi thường Ngay cả cái chết trong câu chuyện cũng thật lạ kỳ, thật phi

thường, nhẹ bỗng Cao lương đỏ là một tác phẩm lạ và rất đáng để độc giả

thưởng thức

Với những "sáng tạo riêng" cả về phương diện nội dung lẫn nghệ thuật,

Cao lương đỏ là tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Mạc Ngôn và gây

được tiếng vang rộng rãi cho tên tuổi nhà văn Cao lương đỏ đã đưa tên tuổi

của Mạc Ngôn lên hàng những nhà văn lớn của Trung Quốc, khởi đầu một sự nghiệp văn học danh giá với giải Mao Thuẫn năm 1987, giải thưởng văn học Quốc tế của Italia năm 2005 Sau khi được đạo diễn lừng danh Trương Nghệ

Mưu đưa lên màn ảnh, bộ phim Cao lương đỏ lại chiếm ngôi quán quân của

liên hoan phim Cannes năm 1994 với giải Cành cọ vàng, đến mùa xuân năm

1988 lại tiếp tục dành giải thưởng Con gấu vàng - giải cao nhất của liên hoan phim quốc tế tại Tây Béclin lần thứ 28 và giải thưởng Quả pha lê vàng tại liên hoan phim Cáclôvi Vari Các báo chí hết lời ca ngợi đạo diễn, trên tờ Nhật

báo "Xtôcatơ" của Cộng hòa liên bang Đức: "Bộ phim Cao lương đỏ của đạo

diễn Trương Nghệ Mưu là một bộ phim có trình độ cao Không những đề tài

mà cả về mặt biểu hiện nghệ thuật cũng mới mẻ, ngôn ngữ hình ảnh vừa đẹp vừa có tính hành động, làm cho người xem rất mê Về mặt làm phim, Trung Quốc đã đạt trình độ thế giới" Với Trương Nghệ Mưu có được thành công

vang dội như vậy phần nhiều là nhờ vào Cao lương đỏ của Mạc Ngôn

Trương Nghệ Mưu đã đánh giá rất cao tác phẩm này: "Đến bây giờ có rất

nhiều người cho rằng Cao lương đỏ là tác phẩm hay nhất của tôi, điều này có

lẽ thuộc về tiểu thuyết Tuy tôi có sửa nhiều tình tiết câu chuyện nhưng tinh

Trang 22

thần và cái cảm giác của sức sống được giải phóng ở trong phim là hoàn toàn

do tiểu thuyết mang lại Nói ra thì rất kì lạ nhưng từ khi quay xong Cao lương

đỏ đến nay, phim của tôi không bao giờ thể hiện được cái sức sống rõ ràng

mãnh liệt như vậy nữa Tôi muốn lặp lại cũng không thể được" [8, tr.264] Bản thân nhà văn Mạc Ngôn cũng tâm sự rằng: "Đây là tác phẩm gây tiếng vang lớn nhất của tôi, ngay cả trước khi được quay thành phim nó đã rất nổi

tiếng, đến khi bộ phim được giải thưởng thì tiếng vang càng lớn Cao lương

đỏ rất nổi tiếng như vậy, đương nhiên nó phải là một tác phẩm hay" [8,

tr.302]

Từ lúc ra mắt độc giả Trung Quốc đến nay, Cao lương đỏ đã được dịch

ra nhiều thứ tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nhật, tiếng Hàn Quốcvà tiếng Việt Những thành công ấy là minh chứng rõ ràng nhất cho những giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo mà Mạc Ngôn thể hiện trong tác

phẩm Và có thể khẳng định chắc chắn rằng Cao lương đỏ có một chỗ đứng

rất vững chắc trong nền văn học đương đại Trung Quốc và toàn bộ văn nghiệp Mạc Ngôn Cho đến nay nhắc đến Mạc Ngôn người ta vẫn dùng cụm từ: "tác

giả Gia tộc Cao lương đỏ" Mạc Ngôn cũng cảm thấy tự hào khi nói rằng: "ở

Trung Quốc những người yêu văn học nhắc đến tên tôi lập tức sẽ nói: Ôi! Cao lương đỏ" [8, tr.112]

Với Cao lương đỏ thành công của Mạc Ngôn là lựa chọn và có cách khai

thác đề tài rất riêng, xây dựng nên trong tác phẩm một thế giới hình tượng nghệ thuật sống động và đem đến cho văn học một cách nhìn mới về con

người Cao lương đỏ thật xứng đáng là một trong những tác phẩm mang về

giải Nobel danh giá cho nhà văn chân đất này

Trang 23

CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG CAO LƯƠNG ĐỎ

Ở Cao lương đỏ, Mạc Ngôn đã xây dựng một thế giới nhân vật đa dạng,

sống động, gửi gắm vào đó những suy nghĩ mới mẻ về con người và cuộc đời Gây ấn tượng nhất là hình ảnh những con người trên quê hương Đông Bắc Cao Mật mang trong mình những nét tính cách vừa anh hùng vừa thổ phỉ, ngang tàng khí phách và đặc biệt là phóng túng, yêu tự do

2.1 Con người trên quê hương Đông Bắc Cao Mật

2.1.1 Nhân vật vừa anh hùng vừa thổ phỉ

Trong thế giới nhân vật đông đảo và đa dạng của Cao lương đỏ, Mạc

Ngôn thể hiện tập trung nhiều nhất là những con người của quê hương Đông Bắc Cao Mật Họ là "ông tôi" (Từ Chiếm Ngao), "bà tôi" (Đái Phượng Liên),

"bố tôi", "ông La Hán", phó chỉ huy Nhiệm, chi đội trưởng Lãnh, Từ Đại Nha, Vương Văn Nghĩa, những người có xuất thân thổ phỉ trong đội du kích của

Tư lệnh Từ "Quê Đông Bắc vùng Cao Mật, thổ phỉ đông như rươi, bọn chúng

đi lại bất thường như con cá trong ruộng cao lương, kết bè kéo đảng, bắt lừa cướp của, làm tất cả mọi chuyện từ dở đến hay " [9, tr.88] ấy vậy mà khi gót quân xâm lược giày xéo quê hương, họ tụ lại dựng cờ khởi nghĩa kháng chiến chống Nhật cứu nước

Hoàn cảnh sống của họ không giống nhau: có những người mang trong mình dị tật bẩm sinh, bị câm, bị điếc, bị què; có người vì hoàn cảnh mà chấp nhận làm thổ phỉ Nhưng trong họ đều chảy chung dòng máu anh hùng của quê hương Cao Mật Khi gót giày của quân xâm lược giày xéo mảnh đất quê hương, thảm sát đồng bào, họ sẵn sàng đứng lên cầm vũ khí chiến đấu "Họ giết người cướp của, nhưng lại tận trung báo quốc Họ diễn từng màn vũ kịch anh hùng bi tráng khiến lũ con cháu còn sống chúng tôi cảm thấy không sao theo kịp" [9, tr.15]

Trang 24

"Lưu thổi kèn là bạn cũ của Tư lệnh Từ, lúc bấy giờ Tư lệnh Từ là phu khiêng đòn, Lưu là thợ thổi kèn đánh trống Anh ta hai tay nắm cái kèn như nắm súng vậy" [9, tr.51]

"Vương Văn Nghĩa sinh ra vốn không phải là để làm lính, anh ta đần độn chậm chạp, không biết phân biệt đâu là bên phải đâu là bên trái Vương Văn Nghĩa sau khi làm lính, không có vũ khí, bà tôi đưa khẩu súng bắn chim cho a ta" [9, tr.112] Tham gia đội du kích giết giặc vì lý do: "tàu bay Nhật đã giết chết ba đứa con nhà em"

Nổi bật và đóng vai trò trung tâm trong tác phẩm, góp phần thể hiện tư tưởng của nhà văn là "ông tôi" - nhân vật mang tên Từ Chiếm Ngao, người anh hùng xuất thân thổ phỉ, trong thời kì chống Nhật Qua lời kể của nhân vật

"tôi" về "bố tôi", người đọc ít nhiều được biết đến Tư lệnh Từ Chiếm Ngao với nguồn gốc "một tên thổ phỉ" nhưng lại có công lớn trong việc đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương Đông Bắc cao Mật: "Mồng chín tháng 8, năm

1939, bố tôi, nòi giống của một tên thổ phỉ, hơn mười bốn tuổi Ông theo đội

du kích của Tư lệnh Từ Chiếm Ngao - người sau này trở thành anh hùng lừng danh thiên hạ - đi tới đường Giao Bình để phục kích đoàn xe quân Nhật" [9, tr.13]

Cũng qua lời người kể chuyện, quá khứ thời trai trẻ gắn liền với câu chuyện tình yêu lãng mạn của Tư lệnh Từ Chiếm Ngao được thể hiện rõ nét Năm hai mươi tuổi, Chiếm Ngao là người giỏi giang nhất trong đám phu nhà

họ Đơn Ông cũng như các chàng cùng lứa đều mang trong mình tính cách "rõ ràng như cây cao lương của người Đông Bắc, vùng Cao Mật" [9, tr.82] mà những thế hệ sau không bao giờ sánh được Trong một lần khiêng kiệu cho cô dâu nhà họ Đơn, Từ Chiếm Ngao đã gặp Cửu Nhi - một cô gái mười sáu tuổi

bị ép gả cho Biền Lang - một người giàu có nhưng bị mắc bệnh hủi Ban đầu theo thói quen, Chiếm Ngao cũng cố ý lắc kiệu trêu ghẹo để cô dâu buộc phải

Trang 25

mở miệng Nhưng sau đó, nghe thấy tiếng khóc nức nở nghẹn ngào của người con gái bất hạnh ngồi trong kiệu, chàng thanh niên có một dự cảm không bình thường: "nó như một ngọn lửa rực cháy chiếu sáng con đường tương lai của ông" [9, tr.86] Tiếng khóc của Cửu Nhi đã gợi lên tình thương sớm tiềm ẩn trong lòng chàng phu kiệu Khi vô tình thấy đôi bàn chân bé nhỏ của Cửu Nhi lòi ra bên ngoài, cái chân nhỏ nhắn xinh xắn mịn màng, bất chợt khiến phu kiệu hồn xiêu phách lạc Từ Chiếm Ngao đã có một cử chỉ thật dịu dàng khiến người ngồi trong kiệu phải xúc động: "cúi xuống, khẽ khàng, nhẹ nhàng, nắm lấy bàn chân như cầm con chim nhỏ chưa đủ lông cánh, nhè nhẹ đẩy vào trong kiệu" [9, tr.86] Nhân duyên xa ngàn dặm một sợi chỉ se lại là xong, tình duyên của con người là trời đất tác thành nên Đấy là chân lý không thể nào tự chọn được Trong Chiếm Ngao trỗi dậy linh cảm vĩ đại về một cuộc sống mới: "Từ đó, cuộc sống của ông thay đổi hoàn toàn, và cũng hoàn toàn thay đổi cuộc sống của bà tôi" [9, tr.87]

Trên đường đưa Cửu Nhi về nhà chồng, bất ngờ đoàn phu kiệu bị tên cướp nhét bánh chặn đường trấn lột và có ý bắt cóc cô dâu Một tay thổ phỉ cao to, lưng mang bao vải đỏ cồm cộm những tiền là tiền, hét lớn "mãi lộ" Đám kiệu vâng lời có bao nhiêu dốc hết để tìm cách thoát nạn Nhưng tên cướp vén màn vải gọi cô dâu bước ra và hạ lệnh: "xuống kiệu, đi theo tao đi vào trong ruộng cao lương" [9, tr.90] Cửu Nhi thản nhiên, cương nghị nhìn

Từ Chiếm Ngao bằng cặp mắt khảng khái, khích lệ Hiểu ý người đẹp, họ Từ bất thần xông phi đá lăn tay thổ phỉ, đoàn người xô tới đánh hắn tới chết Và tình cảm của hai người nảy nở sau biến cố đó Ba ngày sau khi Cửu Nhi về nhà chồng, với sự thôi thúc mãnh liệt của trái tim đang yêu, Từ Chiếm Ngao

đã cướp lại cô dâu và hai người đã ân ái với nhau trong ruộng cao lương Hành động vụng về có phần thô lỗ nhưng đã thể hiện tình yêu chân thành mà Chiếm Ngao dành cho Cửu Nhi Để giải thoát cho Cửu Nhi khỏi số kiếp bất

Trang 26

hạnh, Chiếm Ngao đã bí mật giết bố con Đơn Biền Lang và trở thành một tên thổ phỉ chuyên giết người cướp của với cách nói năng cục cằn

Khi kẻ thù giày xéo lên cánh đồng cao lương, ông lại đứng lên lãnh đạo nhân dân chống lại chúng, trở thành Tư lệnh Từ dũng cảm kiên cường Ý chí đấu tranh cho sự tự do, sinh tồn của dân tộc khiến ông trở thành thủ lĩnh tự phát, đứng lên lãnh đạo nhân dân kháng Nhật "ông tôi" xuất thân thổ phỉ nhưng giàu lòng yêu nước Không xuất thân trong gia đình dòng dõi nhà tướng, tướng mạo không phi phàm, không phải là người có mưu cơ lớn, nhưng Từ Chiếm Ngao - một tên thổ phỉ trở thành người anh hùng xuất thân thổ phỉ, làm nên những trang sử hào hùng, vẻ vang cho quê hương Đông Bắc Cao Mật: "Ai là thổ phỉ? Ai không là thổ phỉ? Ai đánh được quân Nhật tức là đại anh hùng Trung Quốc" [9, tr.55 - 56]

Ở Từ Chiếm Ngao là sự thô lỗ của một tên thổ phỉ chuyên trộm cướp, giết người Dấu ấn thổ phỉ in đậm trong con người "ông tôi" qua cách nói năng cục cằn, thô lỗ Trước con trai ông không ngại ngần quát Phương Lục:

"Đ.mẹ anh" quát Vương Văn Nghĩa "Đồ chó đẻ! Mất đầu mà còn nói được" [9, tr.25]

Khi nói bị phó chỉ huy Nhiệm buộc Tư lệnh Từ phải xử phạt Từ Đại Nha chú ruột của mình, Từ Chiếm Ngao cảm thấy rất tức giận: "Tư lệnh Từ cầm súng, nhìn theo lưng phó chỉ huy Nhiệm, nghiên răng nói: - Cút mẹ mày đi, một thằng học trò ranh ma dám chỉ huy cả lão! Lão đây đã làm thổ phỉ mười năm, chưa một đứa nào dám làm phách như thế bao giờ" [9, tr.104] Qua đây, chúng ta thấy đây hoàn toàn là cuộc đấu tranh tự phát, lãnh tụ của cuộc cách mạng này chỉ có khí phách ngang tàng, không sợ chết của một tên thổ phỉ Do không có đầu óc chiến lược của một vị lãnh tụ nên khi quân Nhật kéo đến Tư lệnh Từ đã rất vui sướng: "Tư lệnh Từ sung sướng gào lên; - Thế là các chú mày đến ! Hỡi các anh em, chuẩn bị cho tốt vào, tôi hô bắn là bắn Bên bờ tây

Trang 27

đường, anh câm phủi đất, nhẩy cẫng lên Mấy chục đội viên đều đứng dậy, cầm lấy súng bò lên ụ đất trên đê" [9, tr.115] Tác giả đã khắc họa đậm nét cá tính thổ phỉ trong con người Từ Chiếm Ngao từ hành động cho tới lời nói Tên thổ phỉ to gan ôm cả thiên hạ, Từ Chiếm Ngao đã tập hợp, dẫn dắt đoàn quân du kích chiến đấu anh hùng với đội quân của Nhật Khi ra trận, tả hữu xung đột, đối mặt với quân giặc không một chút sợ sệt, nề hà mà luôn là người tiên phong đi đầu, làm gương cho các anh em trong đội du kích noi theo

Xây dựng nên nhân vật "ông tôi" người anh hùng xuất thân thổ phỉ có thể nói là một nét mới một nét sáng tạo độc đáo của Mạc Ngôn Nếu tiểu thuyết lịch sử trước kia ca ngợi những vị anh hùng hảo hán, những con người xuất thân phi phàm, tướng mạo phi phàm, nhân cách và phẩm chất anh hùng

như trong Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử thì đến Cao lương đỏ ta thấy điều

ngược lại Những tên cướp, những thổ phỉ lại trở thành anh hùng cứu quốc

“Ông tôi” không mang vóc tầm phi thường với xuất thân đẹp đẽ, đáng tự hào nhưng lại trở thành anh hùng viết nên trang sử chói lọi trên quê hương Đông Bắc Cao Mật

2.1.2 Nhân vật ngang tàng, khí phách

Cuộc kháng chiến chống Nhật là môi trường thuận lợi để các nhân vật phát huy, bộc lộ những nét đẹp trong con người Trong hoàn cảnh chiến tranh, những con người thuộc gia tộc và nhân dân quê hương Cao Mật hiện lên cụ thể, sinh động qua từng trang sách với nét cá tính ngang tàng, khí phách

"Ông tôi" xuất thân là tên thổ phỉ nhưng sẵn sàng đứng lên chống Nhật Đội quân của Tư lệnh Chiếm Ngao là một đội quân với ý thức tự phát, trang

bị vũ khí thô sơ, tụ họp dưới cờ hiệu của Chiếm Ngao thành đội du kích chỉ

có bốn mươi người, bao gồm trong đó cả người què, người điếc, người câm

Vũ khí chiến đấu thì đủ loại: những súng ngắn, súng dài, súng bắn chim và cả

Trang 28

những chiếc búa răng sắt hình chữ nhật vốn là những dụng cụ sản xuất thường nhật Vậy nhưng khi bước vào trận đánh, họ dũng cảm làm chủ thế trận và tiêu diệt được nhiều kẻ thù được trang bị vũ khí hiện đại

Từng tung hoành ngang dọc hơn mười năm, là Vua của vùng Cao Mật,

Tư lệnh Từ Chiếm Ngao dẫn đoàn quân du kích luồn qua ruộng cao lương đi

về phía đông nam, đi đến con đường cái Giao Bình để phục kích quân Nhật Bỗng xảy ra một biến cố, một người câm to lớn vác chiếc bừa đi trước mở đường vấp ngã, súng trên lưng bị cướp cò Vương Văn Nghĩa bị đạn bắn sượt qua tai kêu thét lên: "Tư lệnh ơi, tôi mất đầu rồi! Tư lệnh ơi, tôi mất đầu rồi!" [9, tr.25] Bình tĩnh xử lý tình huống, Tư lệnh Từ trấn an tinh thần Vương Văn Nghĩa với lời lẽ có phần cục cằn xong đầy sự quan tâm: "bị thương ở chỗ nào? hãy băng tạm, đừng có kêu, cứ đi đi, ra ngoài đường sẽ băng lại" [9, tr.27] Tới địa điểm phục kích, Từ Chiếm Ngao sắp đặt vị trí, phân công công việc cụ thể cho mỗi người Tất cả đội quân xuống nấp dưới đê, anh câm đặt bừa cản giặc, rồi dẫn nửa số người và súng đến ruộng cao lương phía tay mai phục, anh em nhà họ Phương đặt cỗ cối súng trên bờ sông "Đã nói thì nói cho hết, đến lúc ấy ai mà tỏ ra sợ sệt thì coi chừng! Chúng ta phải đánh thế nào để cho chi đội Lãnh biết tay Cái lũ chó chết ấy, chỉ lấy cờ hiệu ra dọa người Lão đây không sợ đâu Chúng muốn thay đổi lão? Lão lại muốn thay đổi chúng nó" [9, tr.52] Lời nói dứt khoát mạnh mẽ của một vị thủ lĩnh, tỏ rõ khí phách ngang tàng, củng cố tinh thần quân lính Chiếm Ngao luôn tỏ ra bình tĩnh và quyết đoán: "Hỡi các anh em, đánh đi" [9, tr.137], nắm vững tâm lý kẻ thù: "bọn giặc sợ kèn lắm anh có biết không?" [9, tr.51] Trong mắt "ông tôi" quân Nhật là "lũ chó khốn nạn", "bọn chó đẻ" Với ông, "súng trước tiên dùng

để đánh quân Nhật đã" [9, tr.61], "ai đánh được quân Nhật chính tức là đại anh hùng Trung Quốc" [9, tr.56]

Việc xử tội Từ Đại Nha đã đặt Từ Chiếm Ngao vào một tình thế khó xử

Trang 29

Với Chiếm Ngao, Đại Nha vừa là chú ruột vừa là người ông phải chịu ơn, cũng vừa có thể xem như cha, vì bố Chiếm Ngao mất sớm Đại Nha hiếp dâm Linh Tử, nếu xét xử công minh thì mang tội bất hiếu Tha cho chú thì lại mất một tướng giỏi cho đội quân du kích của ông là phó chỉ huy Nhiệm Ông muốn chọn cách giải quyết khéo léo, hợp lý nhất, thuận tình đôi bên: "Đánh tám mươi roi, bắt phải lấy Linh Tử Tôi cũng đành lòng gọi là thím trẻ vậy" [9, tr.103] nhưng một tay hảo hán thuần chủng như phó chỉ huy Nhiệm lại không chấp nhận Trước những lời lẽ phân tích hợp lý có phần khiêu khích của "bà tôi": "tưởng rằng anh là anh hùng hảo hán, té ra chỉ là đồ hèn" [9, tr.104] Cuối cùng, Từ Chiếm Ngao cũng đi đến quyết định xử bắn Từ Đại Nha Là một người giàu tình cảm song Từ Chiếm Ngao đã gạt đi tình cảm riêng tư đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu, lo lắng cho vận mệnh của quê hương đất nước

"Bà tôi" - một phụ nữ đa tình, phóng khoáng cũng trở thành một người anh hùng đi đầu trong phong trào chống giặc ngoại xâm Tính cách mạnh mẽ đầy bản lĩnh được thể hiện qua những chi tiết: khi lính Nhật kéo đến nhà bắt hai con la, "bà tôi" không hề tỏ ra run sợ mà dùng lời lẽ nhún nhường: "Thưa ngài, chúng tôi là dân lành" [9, tr.34]; khi tên một lính sán lại gần "bà tôi", bà giả vờ điên: "Bà giơ hai bàn tay chụp lên đầu đầy máu của ông La Hán, rồi bôi ngay lên hai má, đoạn xõa tóc, há mồm, nhảy lên điên loạn Trông bà ba phần giống người, bảy phần giống quỷ" [9, tr.35] Cá tính ngang tàng của "bà tôi" còn được tác giả khắc họa qua lời nói khảng khái: "có giỏi thì đi mà đánh bọn Nhật ấy" [9, tr.55] Bà dám đứng lên thách thức bọn đàn ông, giúp họ đoàn kết cùng nhau đấu tranh chống giặc ngoại xâm: "bà ấn lên khẩu súng của chi đội trưởng Lãnh, hỏi:- Đánh hay không đánh?" [9, tr.56]

Khi bị Tư lệnh Từ buông lời coi thường, "bà tôi" không chỉ ngang tàng trong lời nói mà còn trong cả hành động dứt khoát, đầy thách thức: "bà bèn xé

Trang 30

áo ngực ra, lộ ra bộ ngực trắng tròn, nói:

- Bắn đi!" [9, tr.104]

Khi gót quân xâm lược giày xéo quê hương Cao Mật, "bà tôi" cùng những người phụ nữ trong thôn cũng tham gia chống Nhật "Bà tôi" cùng vợ Vương Văn Nghĩa người gánh bánh tráng, người gánh bánh canh đậu xanh ra tiếp tế cho đoàn quân phục kích của Tư lệnh Từ Chiếm Ngao Sau khi lấy chồng, bà vẫn được ăn trắng mặt trơn, gánh bánh nặng đã hằn trên vai bà một vết tím bầm: "Vết tím này là dấu hiệu vinh quang anh dững chống Nhật của

bà tôi" [9, tr.118] Trong làn mưa đạn của giặc, bà ngã xuống, đòn gánh rơi đè lên người Bà nằm đó tắm gội trong sự ấm áp, thanh cao của ruộng cao lương,

bà cảm thấy mình nhẹ như con chim én, trượt nhẹ nhành thoải mái trên những bông cao lương Bà trúng đạn đang từng phút dần xa cõi đời được kéo giãn ra

để trộn lẫn với hồi ức xa xăm về kỉ niệm mười sáu năm về trước và không khí hối hả, căng thẳng của trận đánh một mất một còn Không gian như chùng xuống níu lại tựa như chính tâm trạng "bà tôi" lúc này: một con người yêu vô cùng thế gian này nhưng đang dần dần phải vĩnh biệt nó Bà đối thoại với thần chết, với trời, với với chim bồ câu, với con trai và người tình như một cách tự thức tỉnh trước cơn ngủ mê đang ập đến có thể kéo bà chìm vào hư vô bất cứ lúc nào Bà cố giữ hiện tại mong manh và ngắn ngủi của mình bằng mọi cách,

kể cả cách điểm lại lịch sử ba mươi năm của đời mình Trong dòng hồi ức miên man của bà, lịch sử ấy như những bức hình trong chiếc đèn kéo quân quay chậm lại với "bao nhiêu khuôn mặt căm thù, cảm kích, hung hãn, đôn hậu cùng hiện ra và biến đi”: Đơn Đình Tú, Đơn Biển Lang, ông ngoại, cụ ngoại, ông La Hán, Từ Chiếm Ngao Gắn với mỗi khuôn mặt là chuỗi kỉ niệm khổ đau hoặc hạnh phúc ùa về Bà nhấm nháp kỷ niệm một cách khoan thai, chậm rãi như đang kiểm tra hành lý trước khi bước vào một cuộc hành trình dài Ba mươi năm cuộc đời một người phụ nữ vốn có nhiều chuyện

Trang 31

"trăng gió", là người "đi đầu trong việc giải phóng cá tính, là điển hình của người phụ nữ sống tự lập", là "anh hùng dân tộc đi đầu trong cuộc kháng chiến chống Nhật" [9, tr.27] được chính bà kiểm duyệt tỉ mỉ và kể lại chậm rãi trong phút lâm chung "Bà cảm thấy mình nhẹ như con chim én"; "Bà cảm thấy hai bàn tay nhỏ như móng thú của bố tôi đang vuốt ve bà" [9, tr.132];

"Bà cảm thấy trời giao kết với đất, với người, với cao lương, tất cả được úp trong cái lồng bàn vĩ đại" [9, tr.134 - 135] Bao nhiêu suy nghĩ lo lắng, giành giật để vượt qua cái chết, nhưng cuối cùng bà tìm đến, đón nhận cái chết trong

sự tự do, khoái lạc mà không hề sợ hãi, ân hận Dưới ngòi bút của Mạc Ngôn cái chết không hoàn toàn mang đến sự khổ đau, không phải là kết thúc sinh mệnh mà là đi vào thiên quốc thần thánh một cách nhẹ nhàng, thoải mái và tự do: "Bà đang bay lên, bà nhìn thấy một chùm ánh sáng ngũ sắc từ thiên quốc chiếu đến, bà nghe thấy tiếng nhạc trang nghiêm của những kèn lớn, kèn nhỏ thổi từ thiên quốc" [9, tr.132]

Xuất hiện trong tác phẩm và có thể xem như một thành phần của gia tộc

dù không có quan hệ huyết thống gì với "tôi" là nhân vật Lưu La Hán Cuộc đời, số phận được khắc họa rõ nét qua hồi tưởng của "bố tôi" Ông La Hán là người làm công cho nhà họ Đơn, trông coi việc nấu rượu cho gia chủ từ lúc bé tới khi bị giặc giết chết, là một lão bộc trung thành và tận tụy Chảy trong mình là dòng máu người dân Cao Mật, cũng sục sôi lòng yêu nước và tinh thần phản kháng quyết liệt với kẻ thù Bị quân Nhật đưa ra công trường khuân

đá làm đường, ông luôn nuôi trong mình ý định bỏ trốn bởi không muốn làm

"đồ chó lang, tư thông với người nước ngoài" [9, tr.48] Ông căm ghét lũ giặc Nhật gọi chúng là: "Quân cường bạo, đồ chó đẻ" [9, tr.39] Trốn khỏi công trường và giết chết một con la, ông bị giặc bắt và hành hạ dã man Chúng dành cho ông những hình phạt tàn bạo và ghê rợn nhất: chúng cắt tai, cắt bộ phận sinh dục và dùng dao lần lượt lột da ông nhưng ông vẫn chịu đựng cho

Trang 32

đến chết, không hề tỏ ra sợ sệt Ông gào thét dữ dội, tấm thân gầy giơ xương giãy giụa rất mạnh trên cột buộc ngựa Ông phùng má phun máu vào mặt Tôn Ngũ: "Cắt, tiên sư mày, cắt đi!" [9, tr.73] Da mặt bị lột hết cái mồm không thành hình cái mồm của ông La Hán vẫn phát ra những tiếng ồ ồ; từng giọt máu đỏ tươi vẫn từ trên đầu rỏ xuống Đối diện với kẻ thù tàn bạo, bị tra tấn

dã man, ông La Hán vẫn kiên cường chịu đựng, không một lời van xin, luôn miệng chửi bới kẻ thù Và cũng như Chiếm Ngao, Phượng Liên ông đã góp phần làm nên trang sử vẻ vang cho dân tộc, cho quê hương Đông Bắc Cao Mật: "Ông như là một người trung thực điểm xuyết cho lịch sử gia đình chúng tôi và quả là không nghi ngờ gì về ông làm vẻ vang cho lịch sử của gia đình chúng tôi" [9, tr.31]

Từ Đại Nha, chú ruột Tư lệnh Từ "hơn bốn mươi tuổi, uống rượu như uống nước, tham tài hiếu sắc" [9, tr.101], là trưởng phòng quân nhu của đội

du kích Khi phạm tội hiếp dâm Linh Tử và bị xử bắn chết, vẫn tỏ ra khí khái anh hùng: "Từ Đại Nha quay lại, mắt trợn trừng, hét lớn:

- Bắn đi! Hỡi người anh em, chẳng lẽ tao phải tự bắn tao à?" [9, tr.108] Con người lúc trước khi chết sẽ run sợ biết chừng nào, nhưng Từ Đại Nha là hạt giống của quê hương Đông Bắc Cao Mật, phạm tội lớn, chết cũng chưa hết tội, thế mà trước khi chết lại tỏ ra khí khái anh hùng

Phó chỉ huy Nhiệm là hình ảnh tiêu biểu cho chiến sĩ cộng sản Một con người có đầy đủ cốt cách cũng như tác phong cộng sản: "Phó chỉ huy Nhiệm

là sĩ quan huấn luyện, anh ta thắt dây da bò rộng bản, khẩu súng ngắn brô - ninh đeo lủng lẳng trên thắt lưng da Phó chỉ huy Nhiệm ưỡn ngực thót bụng,

đi đến trước hàng quân, hô nghiêm, hai gót chân dập đánh bốp một cái Phó chỉ huy Nhiệm nói: - Khi đứng nghiêm, hai chân phải thẳng, bụng thót, ngực ưỡn về phía trước, mắt mở tròn như con báo ăn thịt người" [9, tr.99] Anh là người dám nghĩ, dám làm, dám tố cáo hành động vô liêm xỉ và mất hết tính

Trang 33

người của Từ Đại Nha Anh còn thách thức với Tư lệnh Từ và khi bị Từ Chiêm Ngao uy hiếp dọa dẫm, anh không hề tỏ ra sợ sệt mà ngẩng cao đầu hiên ngang bước đi: "Bố tôi thấy khẩu súng lục trong tay Tư lệnh Từ rung lên

Bố hầu như không nghe thấy tiếng viên đạn nổ, nó nổ bé quá và ở xa nữa Nhưng bố nhìn thấy viên đạn bay liệng trên không trung, rồi lướt qua tóc đen ánh của phó chỉ huy Nhiệm Phó chỉ huy Nhiệm không quay lại, ông vẫn bước đều đều, nhịp nhàng tiếp tục đi về phía trước Từ phía phó chỉ huy Nhiệm bố nghe thấy tiếng hút sáo mồm, làn điệu rất quen thuộc: "Cao lương

đỏ, cao lương đỏ"" [9, tr.110] Một khí phách ngang tàng, hành động của người cộng sản kiên trung

Vương Văn Nghĩa vì nỗi đau mất con và lòng căm thù giặc mà tham gia vào đội quân du kích nhưng lại nhát gan, sợ sệt Súng bắn vào tai lại tưởng mình bị mất đầu kêu thét lên: "Tư lệnh ơi, tôi mất đầu rồi! Tư lệnh ơi, tôi mất đầu rồi" [9, tr.25], không những thế còn đần độn, chậm chạp, không phân biệt được đâu là bên trái bên phải Ấy vậy mà khi ra chiến trường cũng gan dạ, lì lợm, kiên cường Chứng kiến cái chết của vợ mình, anh như người mất hồn, lắc lư đi trên đê, anh đứng trên đê, tay cầm cây súng bắn chim, mắt trừng miệng há, vô cùng đau khổ, gọi to: “Mẹ thằng cu ơi!” [9, tr.121] Dứt lời, mấy chục viên đạn xuyên vào bụng anh làm thủng một mảng lớn "Tim anh vẫn còn đang đập, đầu anh vẫn còn nguyên vẹn Một cảm giác trống rỗng lạ thường đã dội vào trong tim anh" [9, tr.122]

Phương Thất, Phương Lục ra trận vẫn còn mê ngủ: "Phương Lục, nửa tỉnh, nửa mê ngồi dậy, ngáp một cái rõ dài, hai giọt nước mắt chảy ra: bọn giặc Nhật đến rồi hả?" [9, tr.62] Khi lao vào chiến đấu, họ ngang tàng, không

hề run sợ: "Khẩu súng cối của anh em nhà họ Phương cũng gầm lên, phun ra một lưỡi lửa to rộng quét lên mặt sông, trông đến là sợ, những viên bi thép, những quả trứng thép lao tất cả vào những chiếc bao trắng ở chiếc xe thứ hai"

Trang 34

[9, tr.137] Trong lúc đang châm dây dẫn hỏa, Phương Lục bị trúng đạn "một mẩu ruột xanh, từ từ lòi ra ngoài" [9, tr.139] chỉ kịp kêu lên hai tiếng "mẹ ơi" [9, tr.139], ôm bụng lăn vào trong ruộng cao lương Chứng sự ra đi của người anh em, Phương Thất lấy bùi nhùi lửa run lập cập đi vào dây dẫn hỏa xong không làm sao cháy được Khẩu súng cối sau phút im lặng, bỗng nổ đùng một tiếng Quân giặc hỗn loạn nằm rạp trên mặt đê, dựng súng bắn mạnh về phía đối phướng Mặt Phương Thất bị trúng đạn, sống mũi bị dập nát

Anh câm làm một việc rất dũng cảm: "lao vút lên trên đê, bố và bà bị lôi xuống chân đê" [9, tr.120] Chiến đấu với giặc ngoan cường, không hề nao núng: "anh câm tung mình bay lên xe dùng sống mã tấu quật mạnh mã tấu thuận đà lia một cái, đầu một thằng giặc còn nguyên cả mũ sắt, bay trong không trung vẫn còn hú gào, rơi xuống đất miệng vẫn còn nói vài câu" [9, tr.138] Mã tấu anh câm dùng thật lẹ, chém nốt đầu tên kia, máu ồng ộc phun

ra ngoài Lũ giặc vãi ra biết bao nhiêu là đạn, anh câm ngồi bệt đít xuống mũi

xe, trên ngực có mấy tia máu phun ra Mang trong mình dị tật bẩm sinh, nhưng khi đã lao vào cuộc chiến, đối mặt với kẻ thù tàn bạo, cận kề với cái chết, anh đã chiến đấu một cách ngoan cường đầy khí phách

Chú bé Đậu Quan hơn mười bốn tuổi cũng gia nhập vào đoàn quân du kích trong vai trò là người liên lạc, bắn súng cũng cừ Dưới ngòi bút miêu tả của Mạc Ngôn "bố tôi" không được như thế hệ ông bà nhưng cũng tràn đầy nhiệt tình yêu nước Mười bốn tuổi "bố tôi" - "nòi giống của một tên thổ phỉ, kết quả dưỡng dục của tinh hoa trời đất, là kết tinh của đau khổ và cuồng loạn" gia nhập đội du kích của Từ Chiếm Ngao viết thêm những trang sử hào hùng của quê hương dân tộc "Bố tôi" được kế thừa từ "ông tôi" cái cá tính ngang tàng, tính cách can đảm và căm thù giặc sâu sắc "bố tôi" đau đớn khi chứng kiến những thảm kịch diễn ra trên quê hương Đông Bắc Cao Mật Ngày "bà tôi" giao "bố tôi" cho "ông tôi" Tư lệnh Từ hỏi "bố tôi" có gan

Trang 35

không, "bố" đã nhìn "ông tôi" một cách khinh thường "giữa đôi môi lộ ra hàm răng rắn chắc như đất vàng, không nói một câu" [9, tr.57] Để thử lòng gan dạ của "bố", Tư lệnh Từ cầm cốc rượu đặt lên đầu "bố" rồi nhắm bắn "một tiếng

nổ đanh trên đầu bố, cốc rượu vỡ tan" [9, tr.57], bố không nói gì, "ông tôi" khen "thằng nhỏ khá lắm" Ông giao cho "bố tôi" làm liên lạc trong đội du kích Khi có người trong đội quân trêu chọc "bố tôi", "bố" đã cả gan chĩa cả súng vào kẻ châm chọc mình rồi lao vào vừa đá vừa cắn Nhỏ tuổi nhưng Đậu Quan đã tỏ rõ khí phách đã ngang tàng không sợ gì hết In đậm trong tâm trí

"bố tôi" là cái chết của ông La Hán và những người dân trong làng Ra trận chiến đấu gan dạ, dũng cảm xông pha trong bom đạn khói lửa Chiến công đầu tiên mà "bố tôi" ghi được là bắn chết một tên tướng giặc: "Bố giơ khẩu súng brô - ninh ra, tay ông run quá, cái mông đít gầy gò của tên giặc già cứ nhảy nhảy trước họng súng của bố Bố nghiến răng nheo mắt bắn đoàng một phát tên giặc già rơi xuống nước" [9, tr.143] "Thế rồi bố trở thành tấm bia

đá xanh không khắc ghi tên tuổi đứng sừng sững ở cánh đồng cao lương rực

đỏ của quê hương" [9, tr.14] Tuy không được tác giả tập trung khắc họa nhiều nhưng "bố tôi" vẫn hiện lên với nhưng nét tính cách tiểu biểu: ngang tàng, khí phách điểm xuyết cho lịch sử vẻ vang của dân tộc

Mỗi nhân vật được tác giả khắc họa với những nét tính cách khác biệt song đều hiện lên chung một cá tính ngang tàng, khí phách Dòng máu yêu nước sục sôi chảy trong huyết quản, ý chí khát vọng tự do thúc giục họ đứng lên chống giặc cứu quê hương Mỗi con người mỗi số phận, họ đều là những con người bình thường, khác nhau về hoàn cảnh sống, điểm gặp gỡ của họ là tinh thần yêu chuộng tự do, dũng cảm, kiên cường Lúc bình thường họ sống cuồng nhiệt, buông thả nhưng cuộc chiến tranh đến gợi dậy ở họ khát vọng tự

do và lột xác thành anh hùng

Trang 36

2.1.3 Nhân vật phóng túng, yêu tự do

Câu chuyện tình yêu lãng mạn dám vượt qua lễ giáo phong kiến của Từ

Chiếm Ngao và Phượng Liên đã thể hiện một cách rõ nét cá tính mạnh mẽ, phóng túng, yêu tự do của hai con người này Thời còn trẻ, "bà tôi" mười sáu tuổi, trẻ trung xinh đẹp đã cự tuyệt người chồng bị bệnh hủi để đến với "ông tôi" trong ruộng cao lương đỏ; "ông tôi" - một thanh niên hai mươi tuổi, có tính cách rõ ràng như cao lương vùng Đông Bắc Cao Mật đã bí mật giết chết

bố con nhà họ Đơn, giải thoát cho người con gái mình yêu khỏi cuộc đời bất hạnh Những con người dám nghĩ, dám làm, dám đấu tranh vượt qua lễ giáo

để tìm đến với sự giải phóng cá tính, tự do trong tình yêu

"Ông tôi" là người mạnh mẽ, yêu tự do Thời trai trẻ làm phu kiệu với câu chuyện tình yêu lãng mạn, chân thành Khát vọng tự do trong tình yêu thôi thúc ông chủ động liều lĩnh tìm đến với Cửu Nhi trong ruộng cao lương Không muốn người con gái ông yêu thương sống trong cảnh đau khổ, ông đã

bí mật giết chết cha con nhà họ Đơn rồi dấn thân vào con đường thổ phỉ Mười bốn năm sau, lãnh đạo đội du kích trong vai trò là Tư lệnh để đánh lại quân Nhật Với cá tính phóng túng, yêu tự do dám sống đúng với mình, khát khao tự tin làm chủ cuộc đời mình, "ông tôi" đã làm nên những bản anh hùng

ca chói lọi Sự vươn tới tự do trong tình yêu nhất quán với thái độ quyết dành

tự do chống Nhật và nó đều góp phần khẳng định bản lĩnh, cá tính yêu tự do của nhân vật

Được khắc họa thành công trong Cao lương đỏ là "bà tôi", hình ảnh tiêu

biểu cho người phụ nữ dám vượt qua lễ giáo để tìm đến với tình yêu cũng là anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Nhật Năm mười sáu tuổi "bà tôi" (còn gọi là Cửu Nhi) cao một mét sáu, nặng sáu mươi kí lô, nở nang đầy đặn

và là một trong những thiếu nữ tóc dài, chân nhỏ xinh đẹp của vùng quê Đông Bắc Như bao người con gái mới lớn khác, "bà tôi" cũng có những mơ mộng,

Trang 37

những khát khao cháy bỏng yêu đương và hạnh phúc Mặc dù cũng nghĩ đến những ngày sống sung sướng phong lưu nhưng niềm mong ước hơn cả của bà

là lấy được "người chồng có học, biết điều, mặt mày thanh tú" [9, tr.79] Nghe nói công tử họ Đơn là người học rộng biết nhiều, trắng trẻo, đẹp trai bà thầm mong đến ngày cưới Đang ở độ tuổi thanh xuân rạo rực, bà cảm thấy buồn và

cô đơn da diết, bà ao ước "được nằm trong lòng người đàn ông ấm áp để cho tiêu tan nỗi buồn và cô quạnh" [9, tr.79] Niềm mong mỏi hạnh phúc ấy đã theo bà suốt cuộc đời và là cơ sở nảy sinh nhiều quyết định táo bạo về sau Cũng đã tới ngày lên kiệu hoa, bà bồn chồn nôn nao khó tả: "người bà đầy mồ hôi, tim đập như gõ trống trong đầu bà hiện ra một cảm giác lúc thì lạnh lùng trơn nhẵn như đá sỏi, lúc thì nôn nóng cồn cào như xả ớt" [9, tr.78] Qua đám phu kiệu, bà biết được một sự thật đau đớn: chồng bà là người mắc bệnh hủi Bất hạnh cho số phận của bà cũng như số phận của bao người con gái sống trong cảnh "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" Biết mình bị bố mẹ gả bán, bà thấy tiền đồ đen tối, suốt đời không thoát được bể khổ, bà khóc rống lên: "Ôi bố, ôi mẹ, bố tham tiền, mẹ nhẫn tâm, bố mẹ hủy diệt đời con" [9, tr.85] Đêm đầu tiên về nhà chồng đối diện với người đàn ông "mặt mũi co rúm, ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu dưới giường Người đàn ông đầu bẹt và dài, mi mắt dưới đỏ loét" [9, tr.125] bà đã tỏ thái độ phản kháng "bà kêu to một tiếng, rút con dao nhọn từ trong bụng ra, đứng trên giường, nhìn chằm chằm người đàn ông kia một cách dữ tợn" [9, tr.126] Đêm ấy, bà không lúc nào rời con dao cầm trong tay, và người đàn ông đầu bẹt kia cũng không lúc nào rời khỏi chiếc ghế đẩu Sáng sớm ngày thứ hai, bà định bỏ chạy nhưng bị giữ lại Bố chồng dùng lời lẽ ngon ngọt để xoa dịu bà: "con ơi, con đã được

gả chồng, bây giờ con như con gái ta vậy", rồi còn dùng vật chất để lấy lòng bà: "Cơ ngơi nhà ta lớn, Biển Lang thật thà, con về đây, thì cơ nghiệp này sẽ thuộc về con cai quản" [9, tr.126] Nhưng bà đã dứt khoát từ chối Cưới ba

Trang 38

ngày, con gái trở lại chào bố mẹ đẻ là phong tục của quê hương Đông Bắc Cao Mật Khi được đón về nhà, bà nhất quyết không quay lại đó nữa: "Bố ơi con không trở về nhà đó nữa đâu Thà chết con cũng không đến nhà nó nữa " [9, tr.127] Với người cha tham tiền, bà cảm thấy ghê tởm và căm giận

Nét tính cách nổi bật ở "bà tôi" là cá tính mạnh mẽ và khát vọng tự do, dám nghĩ, dám làm Chứng kiến hành động dũng cảm của Từ Chiếm Ngao ở đầm Con Cóc lòng bà xao động Ở nhà họ Đơn nếm trải những phũ phàng cay đắng của cuộc đời, gặp lại Chiếm Ngao "trái tim bà rung động, một tình yêu tiềm ẩn mười sáu năm trời bỗng nhiên trỗi dậy" [9, tr.130] Niềm hạnh phúc bất chợt đến khiến bà không hề đắn đo, yêu mến nhau trong ruộng cao lương đang sinh sôi nảy nở "Hai trái tim bất kham, coi thường cả luật lệ còn kết dính hơn cả hai xác thịt khoái lạc của họ" [9, tr.130 - 131] Hình ảnh hai người yêu mến nhau trong ruộng cao lương đang sinh sôi nảy nở như là một biểu hiện cho khát vọng tự do, và tình yêu đang nảy nở trong lòng nhân vật, nguồn gốc cho mọi quyết định táo bạo và liều lĩnh Với bà đó là điều nên làm, đáng làm đến lúc chết bà cũng không hề hối hận: "tôi chỉ làm theo cách nghĩ của tôi, tôi yêu hạnh phúc, tôi yêu sức mạnh, tôi yêu cái đẹp, thân tôi là của tôi, tôi phải làm chủ cuộc đời tôi, tôi không sợ tội lỗi, không sợ trừng phạt, tôi không sợ bị đẩy xuống địa ngục mười sáu tầng của người" [9, tr.133] Bà đã làm được cái điều bà muốn, bà không sợ cái gì cả Cũng như Từ Chiếm Ngao

bà dám dấn thân cho tình yêu, dám xóa bỏ mọi lễ giáo của phong tục để sống với cái tôi riêng của mình Ngày gót giày quân Nhật giẫm nát ruộng cao lương, "bà tôi" cũng anh hùng đứng lên chống Nhật

Cũng như "ông tôi", cuộc đời "bà tôi" được nhà văn tái hiện qua hai chặng đời: lúc còn thanh xuân và khi đã là một người thiếu phụ, tham gia chống Nhật Cuộc đời "bà tôi" là cuộc đời của một phụ nữ phóng túng, mạnh

mẽ, yêu tự do, dám sống hết mình và anh dũng chống Nhật "Bà tôi" phóng

Trang 39

túng đa tình nên đã có quan hệ lòng thòng với ông La Hán - người mà bà có thể xem như cha chú Không chấp nhận số phận bất hạnh, bà biết đứng lên làm chủ cuộc đời mình Bà là hình ảnh của người phụ nữ đầy cá tính và bản lĩnh của làng quê Cao Mật Bà không những là anh hùng kháng Nhật, mà cũng là người đi đầu trong việc giải phóng cá tính, là điển hình của người phụ

nữ sống tự lập

Khát vọng cháy bỏng có được tự do trong tình yêu của những con người coi thường lễ giáo, dám phá bỏ ràng buộc để đến với nhau Khát vọng đấu tranh vì tự do, sinh tồn của dân tộc của quê hương thúc giục họ đã anh dũng đứng lên chống giặc Nhật tàn ác Họ chiến đấu ngoan cường, dũng cảm xả thân vì độc lập tự do của quê hương Cao Mật thân yêu Họ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, máu của họ hòa vào dòng sông Mặc Thủy, trộn lẫn với màu đất đỏ phì nhiêu "Ông tôi", "bà tôi", cụ La Hán, phó chỉ huy Nhiệm, Từ Đại Nha, vợ chồng Vương Văn Nghĩa, anh em Phương Lục, Phương Thất những con người của vùng Đông Bắc Cao Mật phóng túng, yêu tự do Họ đã viết nên bản anh hùng ca bất diệt

Có thể nói xây dựng nên hình ảnh con người quê hương Đông Bắc Cao

Mật là thành công của Mạc Ngôn Mỗi nhân vật dưới ngòi bút của nhà văn hiện lên một cách chân thực sống động, cụ thể với những nét tính cách mạnh

mẽ, khảng khái, tinh thần phản kháng cái ác cái xấu, bản lĩnh khí phách anh hùng Họ là hóa thân của sinh mệnh tự do, nhân sinh tự tại Đặc biệt nhất là nhân vật "ông tôi", "bà tôi" ngang tàng, khí phách như những ngọn cao lương thẳng tắp vút lên bầu trời Cao Mật Chính những người như họ dám giải phóng cá tính, đã tự tin làm chủ bản thân mình và góp phần tô điểm cho lịch

sử quê hương thêm rực rỡ

2.2 Hình tượng cây cao lương

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w