1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN VĂN THẠC SĨ) Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn

25 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA VĂN HỌC NGUYỄN THỊ HÀ DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT THẬP TAM BỘ CỦA MẠC NGÔN LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC NƯỚC N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC

NGUYỄN THỊ HÀ

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG

TIỂU THUYẾT THẬP TAM BỘ CỦA

MẠC NGÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HÀ

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT

THẬP TAM BỘ CỦA MẠC NGÔN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Mã số: 60 22 30

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ HUY TIÊU

Hà Nội-2011

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 11

5 Đóng góp của luận văn 12

6 Cấu trúc của luận văn 12

NỘI DUNG 14

Chương 1: Cở sở lý luận hình thành dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn 14

1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại với văn học thế giới 14

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại 14

1.1.2 Thuật ngữ hậu hiện đại 17

1.1.3 Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại … … 17

1.1.4 Những thủ pháp cơ bản của văn chương hậu hiện đại … ….25

1.2 Những dấu ấn cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Trung Quốc đương đại 29

Chương 2: Dấu ấn hậu hiện đại thể hiện qua hình tượng nghịch dị - mã kép trong tiểu thuyết Thập tam bộ 38

2.1 Giới thuyết về hình tượng nghịch dị - mã kép 38

Trang 4

2.1.1 Hình tượng nghịch dị 38

2.1.2 Vấn đề mã kép 41

2.2 Hình tượng nghịch dị - mã kép trong tiểu thuyết Thập tam bộ 44

2.2.1 Kiểu mã kép hoán đổi mặt nạ qua cặp hình tượng Phương Phú Quý - Trương Xích Cầu 44

2.2.2 Kiểu mã kép phục chế qua cặp hình tượng Lí Ngọc Thiền - Đồ Tiểu Anh 58

2.2.3 Kiểu đa mã kép người - vật qua hình tượng nghịch dị người kể chuyện không xác định ……… 65

Chương 3: Dấu ấn hậu hiện đại thể hiện qua ngôn ngữ cuồng hoan và vấn đề liên văn bản trong tiểu thuyết Thập tam bộ 76

3.1 Ngôn ngữ cuồng hoan: Phương phức giải thoát thực tại 76

3.1.1 Cuồng hoan – một trong những phương thức thực hiện tự do 77

3.1.2 Mạc Ngôn qua ngôn ngữ cuồng hoan giải phóng thể xác và giác quan……….80

3.1.3 Giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ cuồng hoan……… 86

3.2 Vấn đề liên văn bản 92

3.2.1 Liên văn bản trong nhan đề và đề từ 98

3.2.2 Liên văn bản trong sự giao thoa với các thể loại 105

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 PHỤ LỤC

Trang 5

1.3 Trong số 11 cuốn tiểu thuyết của Mạc Ngôn tính đến hiện nay, thì Thập Tam bộ là một cuốn tiểu

thuyết để lại ấn tượng sâu đậm nhất đối với chúng tôi Hơn nữa, qua tác phẩm, một phần đời sống đầy bi kịch của tầng lớp trí thức nói chung và nhà giáo nói riêng được nói tới qua nhân vật không xác định, cốt truyện không xác định, ngôn ngữ không xác định, không- thời gian không xác định Bởi tất cả là hư vô, là những ẩn

ức bị xáo trộn như chính sự phức hợp của đời sống phản ánh vào tư duy Tác phẩm là sự mơ hồ, đầy những hoài nghi bởi sau cùng ta không thể nhận ra ai là nhân vật ngồi trong chuồng sắt kể về câu chuyện đời chua chát của những thầy giáo vật lý?

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu chung về Mạc Ngôn tại Trung Quốc

Thông qua việc khảo sát, thống kê, phân loại, chúng tôi đã tổng hợp tình hình nghiên cứu về Mạc Ngôn chủ yếu tập trung vào bốn phương diện

Thứ nhất là nghiên cứu về cảm giác nghệ thuật của Mạc Ngôn

Thứ hai là nghiên cứu miêu tả thẩm xú của Mạc Ngôn Trong tiểu thuyết Mạc Ngôn tồn tại rất nhiều

những miêu tả về sự xấu xa, bẩn thỉu; vấn đề này của Mạc Ngôn bị giới phê bình đồng loạt đả kích mãnh liệt, đồng thời gây ra nhiều tranh luận trong nội bộ giới nghiên cứu

Thứ ba là nghiên cứu về các phương diện kế thừa và học tập của Mạc Ngôn Chủ yếu là ảnh hưởng

từ phương Tây

Thứ tư là nghiên cứu các tác phẩm của Mạc Ngôn từ lập trường “dân gian”, do Trần Tư Hòa (陈思和)

đề xuất khi tiến hành nghiên cứu tỉ mỉ về tự sự dân gian trong tác phẩm của Mạc Ngôn ở chuyên luận Tự sự

dân gian trong sáng tác tiểu thuyết những năm gần đây của Mạc Ngôn – một trong những luận bàn về Mạc Ngôn (莫言近年小说创作的民间叙述-莫言论之一)

2.2 Mạc Ngôn tại Việt Nam

Tổng hợp tình hình nghiên cứu Mạc Ngôn ở Việt Nam, chúng tôi rút ra những nhận xét sau:

Về chiều rộng, hầu hết các sáng tác của Mạc Ngôn được lấy làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu của

rất nhiều học giả ở cả trong nước và ngoài nước Tuy nhiên, ngoài các truyện vừa thì hầu hết đều tập trung

Trang 6

vào một số tiểu thuyết tiêu biểu như Gia tộc Cao Lương đỏ (红高粱家族), Phong nhũ phì đồn, ̣(丰乳肥臀),

Đàn hương hình (檀香刑), Tứ thập nhất pháo (四十一炮), Sinh tử bì lao (胜死疲劳), và gần đây là cuốn

tiểu thuyết gây xôn xao dư luận - Ếch (蛙) được phát hành vào năm 2009; thì đến nay vẫn chưa một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào Thập tam bộ (十三步) để giải mã tác phẩm này

Về chiều sâu, thì các bài nghiên cứu ở cả Trung Quốc và Việt Nam đều đi sâu vào nghiên cứu tác

phẩm Mạc Ngôn dưới ánh sáng của nghệ thuật tự sự với đầy đủ các màu sắc: người kể chuyện, điểm nhìn, kết cấu, không-thời gian, ngôn ngữ với hàng loạt các thủ pháp của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo để lật đổ thủ pháp tự sự truyền thống Bên cạnh đó các nhà lí luận, nghiên cứu còn dựa trên chủ nghĩa hình thức Nga và những ảnh hưởng của M Bakhtine đến văn học Trung Quốc để nghiên cứu “lập trường dân gian” trong tác phẩm của Mạc Ngôn; hay từ góc độ biểu tượng văn hóa để tìm ra những ẩn ý trong biểu tượng mà Mạc Ngôn

3.2 Nhận diện và mô tả những Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn,

trên cơ sở đó làm bước đệm nghiên cứu xa hơn, rộng hơn đến toàn bộ tiểu thuyết Mạc Ngôn được dịch tại Việt Nam sau này

3.3 Góp phần xác định một tiêu chí nghiên cứu theo hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển tư duy văn học thời kinh tế văn hóa hội nhập toàn cầu

4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn hướng tới tìm hiểu những cơ sở lí luận hình thành nên dấu hiệu hậu hiện đại trong tiểu

thuyết Mạc Ngôn, cụ thể là trong Thập tam bộ qua những phương diện, phương thức chủ yếu như Pastiche,

mã kép, tính nhục thể, liên văn bản…trong sự so sánh, đối chiếu trực tiếp với văn bản gốc 十三步 (Thập tam

bộ)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Vì quy mô của luận văn và điều kiện thời gian, tư liệu, chúng tôi xin phép giới hạn phạm vi nghiên

cứu ở tiểu thuyết Thập tam bộ do Nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành năm 2007, trong sự đối chiếu, so sánh

với văn bản gốc 十三步 do 青风艺术出版社 (nhà xuất bản Nghệ thuật Thanh Phong phát hành) năm 2003

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng những phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại, hệ thống

- Phương pháp so sánh (so sánh lịch sử và so sánh loại hình)

- Các thao tác phân tích – tổng hợp

5 Đóng góp của luận văn

- Tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có, trình bày dấu hiệu hậu hiện đại trong tiểu thuyết Trung

Quốc đương đại mà cụ thể trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn bằng phương pháp “qua giọt nước

thấy trời xanh”

- Nghiên cứu trực tiếp, có hệ thống những cơ sở lí luận hình thành dấu hiệu hậu hiện đại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

- Bước đầu phân loại, miêu tả các phương thức sáng tạo tiểu thuyết Mạc Ngôn theo tiêu chí văn học hậu hiện đại

6 Cấu trúc luận văn

- Chương 1: Cơ sở lí luận hình thành dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

- Chương 2: Dấu ấn hậu hiện đại thể hiện qua hình tượng nghịch dị - mã kép trong tiểu thuyết Thập tam bộ

- Chương 3: Dấu ấn hậu hiện đại thể hiện qua ngôn ngữ cuồng hoan và vấn đề liên văn bản trong tiểu thuyết

Thập tam bộ

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

Cơ sở lí luận hình thành dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn 1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại với văn học thế giới

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại

Chủ nghĩa hậu hiện đại là một trào lưu triết học – mỹ học văn nghệ thế kỷ XX, phản ánh sự khủng

hoảng của thế giới tư bản và hệ ý thức do nó tạo ra

Bối cảnh lịch sử năm mươi năm đầu thế kỉ XX:

Về chính trị, chiến tranh thế giới thứ II kết thúc

Về văn hóa, thành tựu của cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ hai đã thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa

1.1.2 Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại

Từ các ý kiến khác nhau, có thể phân ra ba nhóm quan niệm chính về hậu hiện đại trong nghệ thuật: (1) Chủ nghĩa hậu hiện đại như là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện đại, hay nói một cách khác nó là “cơn kịch phát của chủ nghĩa hiện đại” (2) Chủ nghĩa hậu hiện đại như là sự quay trở về với truyền thống để chống lại chủ nghĩa hiện đại (3) Chủ nghĩa hậu hiện đại như là một sự vượt khỏi chủ nghĩa hiện đại, một phong trào lai tạp mới và tương phản với chủ nghĩa hiện đại

Văn học hậu hiện đại ra đời là hệ quả tất yếu tương ứng với thời Hậu hiện đại

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Văn học hậu hiện đại là trào lưu văn học xuất hiện sau thế

chiến thứ hai tại xã hội phương Tây, đỉnh cao là vào những năm 70, 80 với hàng loạt các kĩ thuật sáng tác

và tư tưởng văn nghệ mới để phản ứng lại các quy chuẩn của văn học hiện đại, trong khi đó cũng phát triển thêm các kĩ thuật và giả định cơ bản của văn học hiện đại

Theo tác giả Lê Huy Bắc: Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học ra đời từ những năm 1950, là

khuynh hướng tiếp nối chủ nghĩa hiện đại, gắn với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin của

sự phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật vượt bậc, của thành tựu đô thị hóa…được thể hiện ở ba phương diện thơ, kịch, văn xuôi (chủ yếu là văn xuôi hư cấu) với các đặc điểm chính: huyền ảo, lắp ghép, mảnh vỡ, cực hạn, độ căng; hạn chế tối đa vai trò thống trị của người kể chuyện, không quan tâm đến cốt truyện, kịch và văn xuôi mang nhiều đặc điểm của thơ

Trang 9

1.1.3 Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại

1.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại với văn học đương đại Trung Quốc

1.2.1 Những tiền đề lịch sử văn hóa, chính trị, xã hội

Chính quá trình xâm nhập của nền kinh tế tư bản hàng hóa thị trường, văn hóa, văn học phương Tây

đã làm thay đổi tư duy, lối sống của người dân Trung Quốc

Chủ nghĩa hậu hiện đại bước chân vào Trung Quốc được đánh dấu từ giữa những năm 80 của thế kỷ

XX, từ khi Fredric Jameson – nhà lý luận kiệt xuất có ảnh hưởng lớn nhất hiện nay của Mỹ đến Đại học Bắc

Kinh giảng về Chủ nghĩa hậu hiện đại và lý luận văn hóa

1.2 Những dấu ấn cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Trung Quốc đương đại

Thứ nhất, xuất phát từ tư duy hậu hiện đại dẫn đến tri giác hậu hiện đại nhìn thế giới động, chưa hoàn kết

Thứ hai, các nhà tiểu thuyết quan niệm thế giới sắp xếp lại các giá trị, chống lại bảng giá trị truyền thống đã được xác lập từ trước, họ bắt đầu hoài nghi về thế giới, về giá trị và sự tồn tại

Thứ ba, lối tư duy hậu hiện đại mang cảm quan, dấu ấn cá nhân, khước từ lối tư duy duy cảm (truyền thống), hướng đến duy lí nhiều hơn

Trên cơ sở đó, chúng tôi xin được viện dẫn sáu đặc điểm mà PGS.TS Lê Huy Tiêu trong Chủ nghĩa

hậu hiện đại và tiểu thuyết đương đại Trung Quốc đã nêu và phân tích rất kĩ trong quá trình nhận diện dấu ấn

hậu hiện đại trong tiểu thuyết đương đại Trung Quốc:

 Lấy văn học làm trò chơi để tiêu giải ý nghĩa

 Từ kinh nghiệm cuộc sống chuyển thành thể nghiệm cá nhân

 Lịch sử biến thành dã sử, dân gian, đứt gãy

Trang 10

 Thủ tiêu sự phẩm bình phê phán của chủ thể sáng tác

 Phương thức “tự sự thòng lọng”

 Luôn thay đổi góc nhìn tự sự và đảo lộn trật tự thời gian để tạo nên “tự sự mê cung”

Chương 2 Dấu ấn hậu hiện đại thể hiện

qua hình tượng nghịch dị - mã kép trong tiểu thuyết Thập tam bộ

2.1 Giới thuyết về hình tượng nghịch dị - mã kép

2.1.1 Hình tượng nghịch dị

Nghịch dị (grotesque- có khi còn được dịch là kệch cỡm, kỳ quặc, quái đản, hoang đường) là một kiểu tổ

chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại), dựa vào huyễn tưởng, vào tính trào phúng, vào tính ngụ ngôn, ngụ ý, vào sự kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cái

bi và cái hài, cái giống thực và cái biếm họa Kiểu hình tượng nghệ thuật nghịch dị này đã có từ xa xưa, đặc trưng cho văn hóa dân gian, biểu hiện quan niệm duy vật tự phát của dân gian về tồn tại Trải qua các giai đoạn lịch sử, nghịch dị với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật đã có nhiều biến đổi, bổ sung, mỗi thời kì có một màu sắc riêng Đến thế kỉ XX, nghịch dị lại trở thành một hình thức tiêu biểu của nghệ thuật Xu thế của kiểu nghịch dị này là sự biến hóa đột ngột từ thế giới quen thuộc của ta thành thế giới xa lạ và thù nghịch

Hegel xác định hình tượng nghịch dị bao gồm ba đặc điểm: sự pha trộn các lĩnh vực tự nhiên khác nhau, tính phóng đại quá mức và sự gia tăng một số bộ phận thân thể Tuy nhiên Hegel hoàn toàn không biết đến vai trò tổ chức của tiếng cười trong hình tượng nghịch dị và xem xét cái nghịch dị ngoài mối quan hệ với cái hài

Theo F.T.Vischer, bản chất và động lực của cái nghịch dị, là cái hài, cái nực cười “Cái nghịch dị là cái hài dưới hình thức huyền diệu”, đó là “cái hài huyền thoại”

Định nghĩa về hình tượng nghịch dị thì có rất nhiều, tuy nhiên không phải định nghĩa nào cũng chính xác và hoàn toàn là chân lí đúng Ở đây chúng tôi xin dẫn ra một định nghĩa chính xác về hình tượng nghịch dị của L.E.Pinxki: Trong hình tượng nghịch dị, cuộc sống trải qua mọi bậc phát triển – từ những bậc thấp nhất, bất động và thô sơ đến những bậc cao nhất, uyển chuyển và giàu tinh thần nhất và qua chuỗi những hình thái thiên hình vạn trạng

ấy nói lên sự thống nhất của mình Nhích lại gần nhau cái xa cách, kết hợp cái loại trừ lẫn nhau, phá vỡ những quan niệm quen thuộc, hình tượng nghịch dị trong nghệ thuật tựa hồ như nghịch lý trong lôgic Mới thoạt nhìn, thì hình tượng nghịch dị chỉ hóm hỉnh và ngộ nghĩnh, nhưng nó chứa đựng nhiều tiềm năng”

Đặc điểm chủ đạo của hình tượng nghịch dị là bị hạ thấp, tức là chuyển vị tất cả những gì cao siêu, tinh thần, lí tưởng, trừu tượng sang bình diện vật chất – xác thịt, tức là mọi thứ đều bị kéo sát xuống đất, đều bị thân xác hóa

Trang 11

Thế giới nhân vật trong Thập tam bộ là thế giới nhân vật nghịch dị với kiểu lắp ghép tinh nghịch của thượng

đế trẻ thơ, “Râu ông nọ cắm cằm bà kia”, là sự kết hợp giữa cái bình thường và bất bình thường, giữa nhân hình và phi nhân hình, giữa hiện thực và ảo mộng, giữa người sống và người chết với ngoại hình cắt dán, ghép mảnh, và tính cách “đồng hiện”, “hoán đổi”, mà chúng tôi tạm gọi là kiểu nhân vật nghịch dị với “nghệ thuật phục chế”

2.1.2 Vấn đề mã kép

Mã kép là một trong những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại Mã kép là sự trộn lẫn giữa các phong cách bác học và đại chúng, cũ và mới, hiện đại và cổ điển…thể hiện sự “hoài nghi nhận thức”, bất tín nhận thức của người viết trong “vấn đề đối với con người đương đại” Nguyên tắc của việc tạo mã kép là nghệ sĩ phải bố trí để tính chất “kép” được thể hiện trong một sự vật hiện tượng ngay cùng một lúc

Văn chương hậu hiện đại sử dụng mã kép, một mặt làm tăng thêm tính biểu đạt cho hình tượng, mặt khác, quan trọng hơn là tạo nên cảm hứng mỉa mai cho lời văn Bản chất của việc sử dụng mã kép là để chế giễu những cái cũ, cái bảo thủ, không hợp thời, nhằm tăng hiệu quả “đối thoại” bên trong và ngoài văn bản, tạo khoảng trống cho trường liên tưởng của người đọc, để họ xâm nhập sâu hơn vào bản chất của sự kiện, hình tượng trong văn chương hậu hiện đại

“Mã kép” của hậu hiện đại chứa trong nó tính năng kép: vừa xác lập nghĩa và trường nghĩa của “mã”; đồng thời lại đưa ra cơ chế giải mã bằng cách “phi mã” thông qua việc chế giễu, mỉa mai những ý nghĩa vừa được thiết lập Các cơ chế sinh nghĩa của văn bản hậu hiện đại đều được dừng ở mức độ “gợi” hoặc tạo đường “link”, thậm chí là siêu kết nối (hyperlink) để người đọc tự xác lập các trường nghĩa hoặc mỉa mai các trường nghĩa của mã

Ở đây chúng tôi đề cập đến vấn đề mã kép gắn liền với bút pháp nghịch dị, bởi chúng tôi phát hiện thấy trong Thập tam bộ, Mạc Ngôn đã sử dụng những dấu hiệu chung của bút pháp nghịch dị như: Sự phóng

đại, phép ngoa dụ, sự thái quá, sự dư thừa,…kết hợp với bản chất trò chơi mang đầy tính ước lệ, mỉa mai giễu cợt của nghệ thuật ngôn từ vốn thuộc về mã ngôn ngữ văn học Mỗi nhân vật trong tác phẩm của Mạc

Ngôn là những mã kép có mối liên hệ vừa biệt lập, xa lạ với chính nó và với tất cả, đồng thời lại có mối liên

hệ ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau

2.2 Hình tượng nghịch dị - mã kép trong tiểu thuyết Thập tam bộ

2.2.1 Kiểu mã kép hoán đổi mặt nạ qua cặp hình tượng Phương Phú Quý - Trương Xích Cầu

Kiểu mã kép hoán đổi mặt nạ là những hình tượng nhân vật ghép mảnh (ngoại hình, nội tâm), hoán đổi nhân dạng và thân phận cho nhau

Môtip mặt nạ là một môtip rất phức hợp và đa nghĩa trong văn hóa dân gian Mặt nạ gắn liền với niềm vui của những sự đổi thay và hóa thân, nó liên quan đến sự chuyển dạng, biến hình, sự phá vỡ các giới tuyến tự nhiên, liên quan đến sự cười nhạo Mặt nạ hiện thân cho yếu tố chơi diễn của sự sống Những hiện tượng như giễu nhại, châm biếm, bĩu môi, nhăn mặt, nhún vai,…thực chất được phát sinh từ mặt nạ Ở mặt

nạ, biểu lộ rất rõ nét bản chất của hình tượng nghịch dị

Trang 12

Mặt nạ khiến các nhân vật có sự hoán đổi vị trí cho nhau: thật – giả, sống – chết, yêu – ghét, cao thượng – thấp hèn,…mọi giá trị do đó bị hoán đổi, tất cả bị mờ hóa ranh giới

Thập tam bộ là câu chuyện xoay quanh số phận của hai nhân vật chính – Phương Phú Quý và

Trương Xích Cầu

Quá trình hoán đổi mặt nạ giữa hai nhân vật này là một quá trình mang tính lưỡng trị Quá trình ấy

diễn ra rất từ từ, nó biến người chết thành người sống mang gương mặt khác, khác với bản thân, gia đình và

xã hội Đồng thời nó biến kẻ đang sống thành đời thừa, kẻ hành khất lang thang bơ vơ, không nơi nương tựa Chính quá trình trao “mặt nạ” cho nhau giữa hai nhân vật này một phần đã phục sinh sự sống cho người chết, đồng thời cũng tước đoạt đi mọi thứ làm hủy diệt kẻ sống

2.2.1.1 Mặt nạ Phương Phú Quý thật – Trương Xích Cầu giả

Phương Phú Quý trước khi phẫu thuật, đeo mặt nạ, là một Phương Phú Quý với đôi mắt nhỏ và dài, cái mí mắt quá dày che lấp đôi tròng mắt, sống mũi cao và bóng loáng

Phương Phú Quý sau ba ngày phẫu thuật, là một Trương Xích Cầu y khuôn với lớp da mặt rất mỏng, rất non, giống như một con ve mới lột xác Nó là một thứ mặt nạ cực kì mẫn cảm Là thứ mặt nạ mà anh vĩnh viễn phải có nhiệm vụ bảo vệ suốt đời, không bao giờ có thể giãy giụa khỏi nó

Quá trình đeo mặt này được Mạc Ngôn thể nghiệm trong rất nhiều cung bậc cảm xúc: hồi hộp, vui, buồn, phẫn nộ, chán chường…

Trong cuộc hành trình đánh mất và tìm lại diễn ra trong thời gian 15 ngày này, Phương Phú Quý thật

sự đã quá đau khổ về thể xác và tinh thần Anh mệt mỏi, tưởng rằng thay đổi hình dạng sẽ được sống hạnh phúc, sẽ có vợ và các con, nhưng anh đã đánh mất tất cả

Thực ra, khi quyết định cho Phương Phú Quý mượn hình dạng của mình, Trương Xích Cầu thực sự

đã rơi vào ngõ cụt Bước chân ra khỏi nhà, bỗng dưng anh thành kẻ lạc lõng, vô gia cư, không nơi nương tựa

Kết thúc là như thế này “Khi đi ngang qua một tấm kính lớn trong một cửa hàng, thật bất hạnh là anh

đã nhận ra dung mạo của mình” Từ thật, bây giờ thật sự anh đã biến thành giả, thành một kẻ khác Quá trình biến đổi để đeo mặt nạ của anh cũng diễn ra thật phức tạp và đau đớn

2.2.2 Kiểu mã kép phục chế qua cặp hình tượng Lí Ngọc Thiền - Đồ Tiểu Anh

Ngày đăng: 02/07/2022, 09:50

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w