Với đề tài nghiên cứu “Ngôn ngữ miêu tả nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám”, tôi rất mong có thể hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của Nguyên Hồng được
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trên bầu trời văn học Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX, Nguyên Hồng là một trong những nhà văn tiêu biểu Chỉ cần nhắc đến ông là
người đọc lại nhớ đến những trang văn ấm nóng tình người như Bỉ vỏ,
Những ngày thơ ấu, Miếng bánh… Đến nay những sáng tác đó vẫn mãi là
những áng văn chương quý báu trong kho tàng văn học nước nhà
Thật vậy, các trang văn của Nguyên Hồng không đao to búa lớn mà chỉ xuất phát từ chính những suy tư chiêm nghiệm về cuộc sống hay bằng cảm xúc chân thành của tác giả Đó là những áng văn có sức lay động trái tim con người, đưa đến cho mọi người những bài học về lẽ đời
Những sáng tác của Nguyên Hồng khá phong phú, đa dạng, bao trùm lên khá nhiều thể loại nhưng có lẽ truyện ngắn là thể loại sở trường của Nguyên Hồng Truyện ngắn của ông tuy dung dị nhưng lại vô cùng sâu sắc, hiện thực nhưng cũng không kém phần lãng mạn được viết bằng văn phong trong sáng, giàu ý nghĩa Với đề tài nghiên cứu “Ngôn ngữ miêu tả nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám”, tôi rất mong có thể hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của Nguyên Hồng được thể hiện qua chính ngôn ngữ miêu tả nhân vật tinh tế của nhà văn
Trang 3Mặc dù rất cố gắng nhưng tôi vẫn chưa thể nghiên cứu đạt đến sự toàn thiện Tôi rất mong có thể nhận được sự góp ý từ phía các bạn để khóa luận
có thể hoàn thiện hơn
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Th.S Tạ Thị Toàn đã tận tình hướng dẫn chúng tôi tìm hiểu đề tài Tôi xin gửi lời tri ân chân thành đến các bạn lớp 08SNV đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Trân trọng cảm ơn!
Sinh viên: Trần Thị Thu
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945, Nguyên Hồng nổi lên như một hiện tượng thật đặc biệt với một phong
cách riêng khá nổi bật Ngay từ những tác phẩm đầu tay như Bỉ vỏ hay
Những ngày thơ ấu, người đọc đã nhìn thấy ở ông cốt cách của một nhà văn
lớn Trong suốt đời sống và đời viết, Nguyên Hồng đã để lại cho văn học nước nhà một di sản văn học đồ sộ với những tác phẩm chan chứa tình yêu con người, yêu cuộc sống tha thiết Những sáng tác của Nguyên Hồng là những trang văn đẹp ca ngợi cuộc sống, ca ngợi phẩm chất của người lao động dù trong gian lao vất vả nhưng vẫn ánh lên nét lạc quan tin tưởng vào
ngày mai tươi sáng hơn Nguyên Hồng được mệnh danh là Gorki của Việt
Nam
Là nhà văn trưởng thành trong trường đời phức tạp của xã hội thị thành lúc bấy giờ, Nguyên Hồng hiểu rõ hơn ai hết về bản chất tốt đẹp của người dân lao động Do đó, trong sáng tác của mình, Nguyên Hồng không
mỉa mai, trào lộng như Nguyễn Công Hoan, không chì chiết và đau đớn như Nam Cao, hay sâu cay nặng nề như Ngô Tất Tố, mà sôi nổi, lạc quan, tràn
Trang 4đầy một lòng tin ở ngày mai tươi sáng vì nhìn thấy được những phẩm chất đẹp đẽ của những con người nghèo khổ hôm nay [6,158]
Giữa không khí ngột ngạt của xã hội lúc bấy giờ, khi mà có một số nhà văn còn đang có những biểu hiện hoang mang dao động, nhiều người trong đó còn thu mình vào vỏ ốc cá nhân như các nhà văn Tự lực văn đoàn thì Nguyên Hồng đã chọn cho mình một hướng đi đúng đắn ngay từ đầu
Trước sau Nguyên Hồng luôn khẳng định Tôi sẽ viết về những cảnh đời đau
khổ, về sự áp bức, về những nỗi trái ngược bất công Tôi sẽ đứng về những con người lầm than bị đọa đầy bị lăng nhục Tôi sẽ vạch trần ra những vết thương xã hội, những việc làm bạo ngược, lộng hành của xã hội Tôi sẽ gánh lấy mọi trách nhiệm, chống đối nào cũng như bào chữa, bảo vệ Qua
từng trang văn của Nguyên Hồng – những tiếng kêu nhỏ máu của con chim
đỗ quyên, người đọc nhận ra tấm lòng yêu thương con người của nhà văn
trải ra qua từng trang viết Quả không sai khi Nguyên Hồng được đánh giá là
nhà văn của những xóm chợ, những người cùng khổ
Dọc theo từng trang văn của Nguyên Hồng, người đọc nhận ra sự gắn
bó máu thịt của nhà văn và những người dân lao động Những nhân vật
trong sáng tác của ông từ những Bỉ vỏ, so chạy sống cuộc đời lưu manh,
trộm cắp; những chú bé làm xiếc nguy hiểm lần hồi sống qua ngày… đến
những nhân vật trí thức sống cuộc đời trống rỗng và thê thảm đều được viết
nên bằng chính con tim tràn đầy tình yêu thương và trân trọng của nhà văn, đều được nhà văn khắc họa chân thực trong tác phẩm Các nhân vật của Nguyên Hồng dù phải sống cuộc đời nghèo khổ, lưu manh nhưng những vẻ đẹp tâm hồn của họ vẫn luôn tỏa sáng
Là sinh viên học văn, tương lai sẽ là người dạy văn, chúng tôi rất mong muốn có thể hiểu thêm về Nguyên Hồng, nhất là ngôn ngữ độc đáo
mà nhà văn sử dụng để khắc họa nhân vật trong truyện ngắn của mình Hơn
Trang 5nữa trong thực tế vẫn chưa có có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
Ngôn ngữ miêu tả nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám nên ở đây chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu sâu hơn
vấn đề này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xung quanh Nguyên Hồng và các sáng tác của ông đã có khá nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình Đặc biệt khi bàn đến thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng, các tác giả như Bạch Văn Hợp, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ… hầu như đều có sự đánh giá khá thống nhất
Bạch Văn Hợp trong lời giới thiệu về tác phẩm của Nguyên Hồng
trước cách mạng tháng Tám (in trong Nguyên Hồng – Những tác phẩm tiêu
biểu trước 1945, Nxb Giáo dục) cho rằng thế giới nhân vật của ông là cái nhân loại dưới đáy của xã hội thành thị, chủ yếu là thành phố Hải Phòng
Tác giả còn nhấn mạnh giá trị độc đáo của chủ nghĩa nhân đạo của Nguyên
Hồng còn thể hiện ở đức tin bền vững vào những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân mình Điều đó đã đem đến cho các sáng tác của ông ngay từ trước Cách mạng một tinh thần lạc quan đặc biệt khỏe khoắn và vững chãi
[14,13]
Nguyễn Tuân đã có bài viết khá lý thú về Con người Nguyên Hồng (in trong Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 3, Nxb Văn học) Theo Nguyễn Tuân thì yếu tố tạo nên thành công cho văn chương Nguyên Hồng là nhiệt tâm về sự
sống Nhiệt tâm này đã thôi thúc nhà văn đánh vật với con chữ, kiên trì trong
quá trình sáng tác để cho ra đời những tác phẩm hay, đặc sắc
Trong bài viết Nguyên Hồng – và vẻ đẹp cất lên từ bùn đất (in trong
Chân dung các nhà văn Việt Nam hiện đại, tập một, Nxb Giáo dục), Nguyễn
Đăng Điệp cho rằng: cảm hứng xuyên suốt trong văn chương Nguyên Hồng
Trang 6là cảm hứng về những thân phận bất hạnh, cùng khổ [5,191] Trong đó vẻ đẹp cao khiết của tình mẫu tử, tinh thần chịu nạn và sự tóa sáng của l ương tri, phẩm giá là những nét độc đáo trong cảm qua nghệ thuật của Nguyên Hồng [5,194]
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Nguyên Hồng – con người và sự
nghiệp (in trong Nguyên Hồng về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục) trong
khi bàn đến phong cách sáng tác của Nguyên Hồng đã khẳng định Chất dân
nghèo, chất lao động đã thấm sâu vào văn chương, vào thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng… Nhưng vượt lên trên cảnh đời tăm tối, nhân vật nhân dân lao động của Nguyên Hồng bao giờ cũng đầy sức sống, vạm vỡ, khỏe khoắn, không phải chỉ ở thể chất mà từ trong bản chất tâm hồn tỏa ra và truyền tới người đọc [6,77]
Vương Trí Nhàn khi bàn về Nguyên Hồng trong bài viết Một cuộc đời
sáng tạo trong đau khổ (in trong Nguyên Hồng về tác gia và tác phẩm, Nxb
Giáo dục) nhận xét rằng : Sự thực thì cái mà những người như Nguyên Hồng
mang lại đối với văn chương đương thời, không chỉ là cái lạ trong đề tài và nhân vật Đúng ra phải nói nó là một cái gì khỏe mạnh đặt bên cái yếu mềm phù phiếm, cùng là cái hoang dại dữ dằn bạo liệt, bên cạnh cái mơ mộng, ngọt ngào [6,217]
Nhìn chung các bài viết trên đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng như cảm hứng sáng tác, các kiểu nhân vật, vài khía cạnh ngôn ngữ… Đây là những tư liệu quý giá để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngôn ngữ miêu tả nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trang 7 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là ngôn ngữ miêu tả nhân vật trong
18 truyện ngắn tiêu biểu in trong Nguyên Hồng – Những tác phẩm tiêu biểu
trước 1945 do Bạch Văn Hợp ( sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu) (2003) ,
Nxb Giáo dục
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp:
Phương pháp thống kê – phân loại
Phương pháp so sánh – đối chiếu
Phương pháp phân tích – tổng hợp
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung gồm có ba chương:
- Chương một: Cơ sở lí luận chung
- Chương hai: Khảo sát ngôn ngữ miêu tả nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám
- Chương ba: Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám
Trang 8PHẦN NỘI DUNG Chương một: Cơ sở lí luận chung 1.1 Ngôn ngữ văn học
Trong đời sống hàng ngày của con người, từ lâu ngôn ngữ đã trở thành một trong những công cụ giao tiếp vô cùng quan trọng Ngay từ thưở bình minh của lịch sử, trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, xuất phát từ nhu cầu tiếp xúc, trao đổi thông tin giữa loài người, ngôn ngữ đã xuất hiện như môt lẽ tự nhiên Trải qua một khoảng thời gian dài dọc theo tiến trình lịch sử, ngôn ngữ của loài người đã biến đổi, vươn dần đến sự toàn thiện để phục vụ một cách đắc lực cho quá trình giao tiếp của loài người Có thể nói chính từ trong lao động và cùng với lao động, con người
đã tạo được cho mình một thứ của cải vô cùng lâu đời và quý báu của con
người (Hồ Chí Minh), tạo nên mối dây liên kết chặt chẽ giữa con người bất
kể mọi rào cản
Theo cách hiểu hiện nay trong ngôn ngữ học, ngôn ngữ được hiểu là
hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau [20,688] Điều đặc biệt là hệ thống này lại vô cùng đa dạng Từ những
Trang 9sự gán ghép có vẻ như tình cờ, không có nguyên do tất yếu, giữa cái âm gãy gọn với đối tượng mà nó chỉ định, nói cách khác “tên gọi của một vật rõ ràng là không có liên quan gì đến bản chất của vật đó cả” (Mác) [8,251]
nhưng lại tạo ra cho con người vô số từ để biểu thị những khái niệm, tư tưởng, nhận thức một cách hiệu quả Tính chất võ đoán giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là đặc trưng cho mọi ngôn ngữ Nhờ có tính chất này mà con người khi tiếp xúc với ngôn ngữ (qua vỏ tiếng và văn tự) hoàn toàn có thể hiểu được ý nghĩa của từ một cách dễ dàng Hơn nữa, hầu như mỗi dân tộc, cộng đồng đều có cho riêng mình một hệ thống tín hiệu riêng biệt để giao tiếp, tạo cơ sở để phân biệt với dân tộc khác, cộng đồng khác Ngôn ngữ còn bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực của thực tế đời sống Điều này đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tất cả các ngôn ngữ trên thế giới
Ngôn ngữ vốn đa dạng, muôn màu muôn vẻ nên ngoài giao tiếp, con người còn sử dụng nó vào những lĩnh vực của đời sống, trong đó có văn học nghệ thuật Chính ở trong địa hạt này, ngôn ngữ có thể phát huy thế mạnh vốn có của nó Ngược lại, mỗi một tác phẩm văn học nghệ thuật đem đến cho ngôn ngữ những màu sắc tươi mới, khác biệt so với ngôn ngữ thông thường Chính con người ngay trong quá trình sáng tạo ngôn ngữ cũng không thể ngờ rằng bản thân đã sáng tạo nên chất liệu của một ngành nghệ thuật mà tầm ảnh hưởng có thể lan rộng sang khắp cộng đồng ở mọi thời kỳ Vậy ngôn ngữ văn học là gì? Ở đây, chúng tôi sẽ xét đến ngôn ngữ văn học theo quan điểm của các nhà lý luận học và phong cách học
1.1.1 Quan điểm của các nhà lý luận học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ văn học đươc hiểu là ngôn
ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng hơn, nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách chuẩn mực trong các văn bản nhà
Trang 10nước, trên báo chí, đài phát thanh, trong văn học và khoa học [11,215]
Theo đó, ngôn ngữ văn học được dùng theo nghĩa hẹp là chất liệu, công cụ sáng tác đặc trưng cho văn học nghệ thuật
Trong giáo trình Lý luận văn học, Hà Minh Đức khẳng định ngôn ngữ
đó chính là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học, bởi vì chính ngôn ngữ chứ không phải cái gì khác đã cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện của chủ đề và tư tưởng, tính cách và cốt truyện… [2,148] Hay nói một
cách khác, ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học (Gorki)
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý chủ biên) thì ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ mẫu mực đã được chuẩn hóa, phục
vụ cho tất cả các lĩnh vực giao tiếp giữa người với người, và giữ vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển tư duy, phát triển tâm lý, trí tuệ và toàn bộ các hoạt động tinh thần của con người… Ngôn ngữ văn học được xem như là một trong những hình thức tồn tại của ngôn ngữ, một trạng thái ngôn ngữ tiêu biểu với những đặc điểm khu biệt là: tính đa chức năng về mặt biểu đạt; đặc tính tinh luyện và chuẩn mực về cấu trúc; và nguồn gốc phương ngữ của ngôn ngữ văn học Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ thống nhất trên phương ngữ, được sản sinh ra từ các phương ngữ khu vực và trở thành ngôn ngữ toàn dân bằng sự đồng hóa các phương ngữ đó Ngôn ngữ văn học là công cụ thiết yếu của nền văn minh và nó phục vụ cho mọi nhu cầu của quốc gia và xã hội Nó luôn gắn liền với mọi hình thức giao tiếp ngôn ngữ trong những điều kiện khác nhau [26,172]
So với các loại hình nghệ thuật khác, ngôn ngữ chính là yếu tố tạo nên
sự khác biệt cho văn học Nếu như âm nhạc dựa vào âm thanh và nhịp điệu, hội họa dựa vào đường nét và màu sắc thì văn học chủ yếu dựa vào ngôn từ Ngôn từ nghệ thuật giúp con người vật chất hóa những ấn tượng, cảm xúc,
Trang 11suy tư về thế giới Đến đây ngôn từ có thể bộc lộ được hết giá trị biểu đạt vốn có của nó Bởi lẽ đường nét, hình khối, thanh âm và nhịp điệu là những chất liệu có tính giới hạn Trong khi đó, với những ưu thế vượt trội vốn có, ngôn ngữ có thay người nghệ sĩ nói lên cả những điều sâu kín, vượt xa ý muốn chủ quan của người sáng tác Có thể nói sức mạnh của ngôn ngữ là
ngoài các biểu tượng được kéo theo trực tiếp ra, còn kéo theo cả một loạt các biểu tượng khác đột khởi lên trong tâm trí ta một cách tự nhiên, không
hề cố ý [15,121] Chẳng hạn khi nhà thơ sử dụng từ đắt để sáng tác thơ ca thì
nhà thơ hoàn toàn có thể nói lên được tất cả Trong mỗi từ là cả một không
gian lồng lộng, mỗi từ ngữ là mênh mông như chính nhà thơ (Gôgôn) Đấy
là điều mà âm nhạc và hội họa không thể có được Hơn nữa, hội họa có thể
tả toàn bộ con người, thậm chí cả thế giới nội tại trong tinh thần con người, nhưng hội họa cũng chỉ hạn chế ở chỗ nắm lấy một khoảnh khắc của hiện tượng Âm nhạc chủ yếu diễn tả thế giới nội tại của tâm hồn, song những điều mà nó diễn tả không thể tách rời với âm thanh; âm thanh lại nói nhiều với tâm hồn, nhưng lại không thể nói một cái gì rõ ràng với trí tuệ Còn thơ
ca thì diễn tả bằng ngôn ngữ tự do của con người, mà ngôn ngữ thì vừa là bản nhạc, vừa là bức tranh, vừa là một quan niệm rõ rệt Cho nên thơ ca bao hàm mọi yếu tố của các nghệ thuật khác, nó tựa hồ như bao trùm tất cả mọi phương tiện cấp riêng cho mỗi nghệ thuật khác (Bêlinxki) [7,29]
Ngoài ra qua sự đa dạng của ngôn từ nghệ thuật, nó giúp bộc lộ cảm quan nghệ thuật và khả năng sáng tạo của nhà văn, nhà thơ Bởi lẽ các con chữ ban đầu chỉ là những ký hiệu đơn thuần Tự bản thân những ký hiệu đó chưa thể đem đến cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc Thế nhưng, qua tác phẩm, những con chữ đó bỗng vụt sáng vẻ đẹp lung linh, sống động hơn là bởi vì nó đã được lồng vào cảm xúc của người nghệ sĩ Như vậy so với ngôn
ngữ thông thường, ngôn ngữ văn học mang thêm ý nghĩa tươi nguyên lúc
Trang 12ban sơ, đánh thức, nhân lên cái phập phồng, rạo rực, sinh sôi, trăn trở mà
nó đã từng có, nhưng đến nay đã bị hao mòn, han rỉ, mai một đi [15,122]
Cần thấy rằng, ngôn ngữ văn học bắt nguồn từ ngôn ngữ nhân dân Ngôn ngữ nhân dân vốn đã vô cùng phong phú, đa dạng lại được bổ sung thêm vốn từ theo thời gian nên càng giàu có vô cùng Từ chính trong kho tàng ngôn ngữ muôn màu sắc đó, các nhà văn, nhà thơ đã tiến hành tinh lọc ngôn ngữ, nâng nó lên mức nghệ thuật mang giá trị thẩm mĩ cao Nhìn
chung, ngôn ngữ nhân dân là cội nguồn của ngôn ngữ văn học; được chọn
lọc, rèn giũa qua lao động nghệ thuật của nhà văn, đến lượt mình, nó lại góp phần nâng cao, làm phong phú ngôn ngữ nhân dân [11,215] Do đó,
mỗi nhà văn, nhà thơ vẫn luôn nhắc nhở mình phải chú ý học tập sự phong phú của ngôn ngữ nhân dân để làm giàu thêm vốn ngôn ngữ của bản thân
phục vụ cho quá trình sáng tác: Mỗi ngày gặp một người – họ là một mảnh
của thiên tài nhân loại Máu và mồ hôi của người đúc nên bao hình ảnh ngôn ngữ Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà đời rơi vãi Tất cả mỗi người dù lạ hay quen đều viết cho thơ anh một chữ Hãy nhặt những chữ của đời mà góp nên trang [7,28]
Ngoài ra, ngôn ngữ văn học cũng có sự tiếp thu từ ngôn ngữ các phong cách khác (phong cách khoa học, khẩu ngữ…) để làm giàu vốn từ của mình Tùy vào nội dung truyền đạt mà người nghệ sĩ ngôn từ vận dụng vốn ngôn ngữ liên ngành vào việc xây dựng tác phẩm
Trong sáng tác văn học, để có thể tạo nên một tác phẩm hay, có giá
trị, các nhà văn, nhà thơ thường phải chịu đựng sự dày vò của ngôn từ Yếu
tố ngôn từ quyết định sự thành công cho tác phẩm Thực tế cho thấy những sáng tác thành công trong việc sử dụng từ ngữ cho đến nay vẫn đứng vững
trong lòng bạn đọc với một vị trí không thể thay thế (như Truyện Kiều –
Trang 13Nguyễn Du, bản dịch Chinh phụ ngâm khúc – Đặng Trần Côn của Đoàn Thị Điểm)
Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ được người nghệ sĩ tinh lọc nên nó mang các đặc điểm như: tính chính xác, tính hàm súc, tính hình tượng, tính biểu cảm…
Trước tiên là tính chính xác Đây là tính chất vô cùng quan trọng mà
ngôn từ nghệ thuật cần có Bởi lẽ Văn muốn hay, trước hết phải đúng (Lê
Quý Đôn) Mỗi một tác phẩm văn học chính là một kho tri thức cung cấp cho người đọc những tri thức quý báu của nhân loại tự bao đời Thông qua việc tiếp cận với tác phẩm, bạn đọc có thể chiếm lĩnh thêm nhiều nguồn kiến thức liên ngành khác nhau để mở rộng vốn kiến thức của bản thân Hơn nữa, dùng từ chính xác sẽ giúp gia tăng giá trị biểu đạt cho tác phẩm Nhiều khi chỉ với một từ bình thường nhưng nếu được nhà văn, nhà thơ sử dụng đúng chỗ thì sẽ khiến cho câu văn, câu thơ mang một sắc thái riêng mà những từ khác không thể có được Ngược lại nếu dùng từ sai thì sẽ khiến tác phẩm mất đi ý vị vốn có Tiếng Việt của chúng ta vốn giàu và đẹp cả về thanh điệu lẫn cách biểu đạt Do đó, nhà văn, nhà thơ sẽ có vô vàn sự lựa chọn để tạo
điểm nhấn cho tác phẩm Chẳng hạn như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du,
các nhân vật như Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến đã bị tác giả lột trần bản chất chỉ thông qua một vài câu thơ ngắn với những “từ đắt” (như
cái vô học của Mà Giám Sinh: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”; cái gian manh của Sở Khanh: “Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”; cái tầm thường, ti tiện của Hồ Tôn Hiến: “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”) [6,149]
Bên cạnh tính chính xác, ngôn từ văn học phải đảm bảo tính hàm xúc Theo đó, một tác phẩm văn học được đánh giá là có giá trị khi mà tác phẩm
đó ý hết mà lời dừng, ấy là cái lời rất mực trong thiên hạ; song lời dừng mà
ý chưa hết được, lại càng hay tuyệt (Lê Quý Đôn) Hay nói cách khác, một
Trang 14tác phẩm nếu đạt đến cảnh giới ngôn tận nhi, ý bất tận thì càng có sức nặng
về nội dung truyền đạt Tính hàm xúc của ngôn ngữ văn học ngoài ra còn bắt
nguồn từ yêu cầu về mặt thông tin của công chúng bạn đọc Có thể nói trên
một diện tích ngôn ngữ hạn hẹp, tác phẩm văn học với tư cách là một văn bản thông tin, cần phải cung cấp cho người đọc những lượng thông tin cao – không có độ dư thừa – về con người và cuộc sống Do đó, nếu hiểu hàm xúc là súc tích, hàm chứa nhiều ý nghĩa thì tính hàm xúc là khả năng của ngôn ngữ văn học có thể miêu tả mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô động ít lời mà nói được nhiều ý, ý ở ngoài lời [6,149] Chẳng hạn như khi
bạn đọc thưởng thức một tác phẩm thơ ca Do khuôn khổ của một bài thơ có hạn nên ngôn ngữ thơ ca bắt buộc phải “nén chặt” ý để câu thơ mang được nhiều “lượng ý” nhất Thông qua ngôn ngữ của bài thơ đó, bạn đọc hoàn toàn có thể thả lòng mình theo những dòng ý nghĩa toát lên từ lớp ngôn ngữ thơ Nhìn lại kho tàng văn học của dân tộc ta, những câu ca dao, tục ngữ, phương ngôn… tuy dung lượng ngắn nhưng hoàn toàn có thể đạt đến độ “lời chật, ý rộng” đã trở thành những viên ngọc quý trong nền văn học nước ta
Mặt khác, yêu cầu cốt yếu đối với ngôn ngữ văn học chính là tính
hình tượng Có thể khẳng định điều cơ bản nhất là ngôn ngữ của tác phẩm
phải có tính hình tượng; đó là khả năng của ngôn ngữ văn học có thể tái hiện lại những hiện tượng của cuộc sống một cách cụ thể, sinh động bằng những từ ngữ gợi cảm, gợi hình, gợi thanh; nói cách khác, ngôn ngữ có tính hình tượng – người đọc [7,150] Tác phẩm văn học không phải nhằm truyền
đạt những vấn đề về đạo lý, tư tưởng mà tác phẩm chính là đứa con tinh thần của người sáng tác, mang theo những suy tư, chiêm nghiệm của nhà văn về thế giới Do đó, những vấn đề trong tác phẩm đều được giấu kín ở những lớp hình tượng giấu đằng sau ngôn từ đòi hỏi người đọc phải tự mình khám phá
và trải nghiệm Hình tượng tác phẩm văn học được xây dựng qua ngôn ngữ
Trang 15tuy không thể khiến cho người đọc trông thấy hoặc nghe thấy nhưng một khi
đã được người đọc tái hiện trong trí tưởng tượng thì sẽ có khả năng tác động rất lâu dài
Một đặc điểm khác của ngôn ngữ văn học chính là tính đa nghĩa Đại
văn hào Lép Tônxtôi đã khẳng định rằng: Mỗi từ ngữ nghệ thuật… được
phân biệt với từ ngữ không có tính chất nghệ thuật ở chỗ nó đã gợi nên được
vô số các ý tưởng, ý muốn và cách hiểu [15,121] Điều này lý giải vì sao đối
với một tác phẩm văn học có thể đưa đến nhiều cách đánh giá khác nhau từ
phía dư luận (như bài thơ Thề non nước của Tản Đà có đến ba tầng lớp nghĩa
xung quanh hai hình tượng sóng đôi “non” – “nước”… ) Tuy nhiên dù khen hay chê, đồng tình hay phản bác thì đối với những tác phẩm văn học, bạn đọc cũng hoàn toàn không thể dửng dưng Trải qua thời gian, những nét nghĩa được gợi nên từ ngôn ngữ tác phẩm ngày càng được soi rọi dưới những ánh sáng mới để trả về cho tác phẩm đó những giá trị vốn có Điều này tạo nên dấu ấn đặc trưng riêng cho văn học nghệ thuật
Đặc biệt ngôn từ văn học trong tác phẩm muốn lưu lại dấu ấn trong lòng người đọc nhất thiết phải có tính biểu cảm Một tác phẩm mà ngôn ngữ không thể tạo được những rung cảm mãnh liệt trong lòng bạn đọc thì đó sẽ
là một điều vô cùng thiếu sót bởi ý nghĩa của từ ngữ không phải chỉ ở ý nghĩa khách quan độc lập vốn có mà còn ở sắc thái cảm xúc mà nghệ sĩ trao cho nó Như vậy, qua ngôn từ tác phẩm, người đọc cũng có thể hiểu hơn về chính thế giới tâm hồn của nghệ sĩ
Nhìn chung, ngôn ngữ văn học là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên
sự thành công cho tác phẩm Mỗi một tác phẩm văn học tùy vào thể loại, đề tài… người nghệ sĩ sẽ lựa chọn hình thức ngôn ngữ phù hợp Muốn làm được điều đó mỗi nhà văn, nhà thơ cần phải trau giồi thêm vốn ngôn ngữ sao
Trang 16cho trong sáng, giàu sức biểu cảm để giữ sứ mệnh chèo lái con thuyền văn chương đến bao trái tim nhân loại
1.1.2 Quan điểm của các nhà phong cách học
Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ cơ bản nhưng ở những nhà văn, nhà thơ, cách thức lựa chọn sử dụng ngôn ngữ vẫn mang những nét khác biệt cơ bản Điều này do phong cách sáng tác của người nghệ sĩ quyết định Hay nói cách khác, ngôn ngữ văn học mang tính phong cách
Cần thấy rằng khái niệm phong cách vốn đã được hình thành từ rất lâu trong văn học Lúc đầu trong tiếng Hy Lạp và La Mã cổ đại, chữ stylos hay
stulus chỉ chính ngay dụng cụ người ta dùng để viết Dần dần phong cách
đựoc hiểu là nét bút, là cách hành văn của mỗi người Khái niệm này dần dần được sử dụng rộng rãi trong hầu như tất cả các lĩnh vực của đời sống con người
Nếu hiểu một cách từ nguyên thì phong cách là những lối, những
cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một người hay một loại người nào đó [20,782] Phong cách giúp tạo nên dấu ấn
riêng cho mỗi người nhằm khu biệt với cá nhân khác Ở đây, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu sử dụng khái niệm phong cách trong sáng tác nghệ thuật
Phong cách là tổng hòa những đặc điểm, cả về tư tưởng và nghệ thuật, nội dung và hình thức biểu hiện, quy định bản sắc sáng tạo độc đáo của một nghệ sĩ [13,15], những đặc điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng
và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sĩ hay trong các sáng tác nói chung thuộc cùng một thể loại [20,782] Phong cách hoàn toàn không
phải là phương pháp sáng tác mà nói đến phong cách là chúng ta phải nhấn mạnh đến bản sắc riêng của nhà văn này so với nhà văn khác
Trang 17Phong cách sáng tác là yếu tố vô cùng quan trọng tạo nên hơi thở độc đáo cho các tác phẩm nghệ thuật Giữa kho tàng văn học mênh mông của nhân loại, để có thể tồn tại và đứng vững, tác phẩm văn học phải có những nét sáng tạo riêng, phải thể hiện được bản lĩnh nghệ thuật của người sáng tác Muốn làm được điều này, điều tất yếu là nhà văn phải có phong cách Nhận thức được vấn đề quan trọng này, các nhà văn, nhà thơ vẫn luôn có ý thức tìm tòi, hình thành nên phong cách sáng tác cho riêng mình Nhà văn
Nga vĩ đại Tuốc-ghê-nhi-ép đã từng khẳng định: Vâng, điều quan trọng là
giọng nói riêng của mình, những nốt riêng đặc biệt của mình, những nốt không thể tìm thấy ở bất kỳ một người nào khác Phải chăng anh chưa bao giờ đọc hàng tập giấy viết dày kín và có cảm giác rằng anh cũng có thể viết không kém và đúng nguyên như thế cũng nên Hoặc là anh, hoặc bất kỳ một người nào khác, có thể làm thế, vì trong đấy không có cái gì là đặc sắc, riêng biệt Nhưng liền ngay đó, anh bắt gặp một mẩu truyện ngắn, một bức phác thảo, chỉ vài dòng thôi… và anh cảm thấy khác hẳn Anh không thể nói được như thế Có thể là hay hơn hoặc kém hơn, nhưng nhất định là phải khác, bởi vì muốn nói được như thế, muốn bắt được đúng cái nốt ấy thì phải
có một thanh quản tổ chức đúng như thế Cũng giống như chim ấy… Đó là nét riêng biệt chủ yếu của một tài năng độc đáo và đầy sức sống [13,16] Ở
nước ta, các nhà văn, nhà thơ trong quá trình sáng tác bằng tài năng nghệ thuật của mình đã hình thành cho bản thân những phong cách sáng tác đặc
trưng với những tác phẩm bất hủ Các nhà văn do đó phải lắng nghe cái gì
sâu xa nhất trong con người của mình, bồi dưỡng cho mình một bản lĩnh vững vàng, một phong cách độc đáo, vì nghệ thuật không phải là sản xuất hàng loạt như sản xuất công nghiệp Hãy suy nghĩ lời khuyên của Gorki:
“Bạn hãy giữ lấy cái gì là riêng của mình, hãy săn sóc làm sao cho nó phát triển tự do Lúc một người không có cái gì là riêng của mình thì phải thấy ở
Trang 18người đó chẳng có gì hết” (Phạm Văn Đồng) [13,16] Lịch sử văn học nước
ta đã chứng kiến sự nở rộ tài năng của rất nhiều những phong cách sáng tác khác nhau (như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nam Cao, Tố Hữu…)
Hơn nữa, cuộc sống vốn vô cùng đa dạng với muôn ngàn dáng vẻ đòi hỏi phải có những phong cách sáng tác khác nhau để có thể phát hiện và phản ánh hiện thực đời sống trong tất cả sự đa dạng của nó Vì thế, phong cách sáng tác của nhà văn sẽ giúp đáp ứng những yêu cầu sâu xa của đời sống cũng như bản chất của sáng tác nghệ thuật Mặt khác, nghệ thuật vốn là lĩnh vực của cái độc đáo Mỗi một tác phẩm văn học là kết quả của một quá trình nhận thức trên cơ sở tài năng nghệ thuật lẫn vốn sống phong phú mà nhà văn tích lũy Do đó, khi nhà văn thể hiện nó trong những sáng tác cụ thể thì tất yếu nó sẽ mang dấu ấn đặc trưng riêng cho nhà văn
Phong cách sáng tác của nhà văn thể hiện ở tất cả các yếu tố cấu thành tác phẩm văn học từ đề tài, chủ đề, nhân vật…, trong đó biểu hiện rõ nhất ở
ngôn từ nghệ thuật Có thể nói dấu hiệu của một tài năng văn học thể hiện
rõ ở cách viết, ở khả năng khám phá, khai thác những khía cạnh tiềm ẩn, tinh tế của ngôn ngữ, ở khả năng làm mới, lạ hóa, khôi phục lại tính chất trinh nguyên, vẻ đẹp ban đầu của ngôn ngữ, lời nói [17,129] Mỗi nhà văn
trong quá trình sáng tác thường có xu hướng đi chệch khỏi ngôn ngữ toàn dân để tạo nên những cách diễn đạt mới, sáng tạo nhưng sự sáng tạo đó không phải là dùng từ một cách tùy tiện mà đều có căn cứ từ chính những đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của hệ thống ngôn ngữ
Ngôn ngữ nghệ thuật mang màu sắc phong cách mang những đặc trưng cơ bản như tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hóa, tính cụ thể hóa Những đặc điểm này được thể hiện trên tất cả các phương diện từ vựng, ngữ pháp và cú pháp, ngữ âm của từ
Trang 19Về phương diện từ vựng, mỗi nhà văn trong quá trình sáng tác có thể
sử dụng rộng rãi các lớp từ cổ, từ địa phương, biệt ngữ, tiếng lóng, từ Hán Việt… nhằm những mục đích nghệ thuật riêng Bên cạnh đó, người nghệ sĩ ngôn từ có thể mở rộng nghĩa của từ, gia tăng cho nó những sắc thái biểu cảm thông qua biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ… Việc vận dụng những phương tiện tu từ và biện pháp tu từ sẽ giúp tạo nên tính hình tượng cho ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm
Về phương diện ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ còn hiện lên ở cách
nhà văn vận dụng chức năng ngữ pháp của từ và câu Trong tác phẩm, các
yếu tố ngôn ngữ trong một tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau giải thích cho nhau và hỗ trợ cho nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung [16,141] Điều này lý
giải vì sao mà trong một tác phẩm có những từ mà khi chúng ta tách nó ra khỏi văn bản thì sẽ giảm đi sắc thái biểu cảm, chỉ khi đặt từ trong văn cảnh
thì mới bộc lộ hết vẻ đẹp của nó Như trong bài thơ Tràng giang, Huy Cận
đã sử dụng nhuẫn nhuyễn hệ thống các từ láy như điệp điệp, song song, dợn dợn… tạo nên một sư cộng hưởng ngôn từ để qua đó bày tỏ nỗi sầu của cái tôi thi nhân trước không gian sông nước rộng lớn
Ngôn ngữ nghệ thuật có cơ sở từ vốn từ vựng chung nhưng cách thức lựa chọn vốn từ ngữ để sáng tác còn phụ thuộc vào sở trường riêng Chẳng
hạn như Hồ Xuân Hương rất thích sử dụng những từ tượng thanh, tượng
hình lắt léo, những cách nói lái, chơi chữ tài tình Ngôn ngữ của Tú Xương giản dị, hồn nhiên mà sắc cạnh vì biết khai thác nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa chính xác nhất của ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày Ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến kín đáo, nhẹ nhàng, thấm thía, bao giờ cũng chứa đựng cái hàm ý, cái tiền giả định của câu nói Ngôn ngữ của Tố Hữu giàu nhạc điệu say lòng người, hay dùng những hình ảnh tượng trưng rất hiện thực mà cũng
Trang 20tràn đầy chất lãng mạn [16,151] Nhờ vào cách sử dụng ngôn ngữ đặc biệt
mà mỗi nhà văn, nhà thơ tạo cho mình được một giọng nói riêng trong tác phẩm
Nhìn chung, ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn học bao giờ cũng thể hiện được cá tính sáng tác của nhà văn Nhờ vào những cách dùng từ độc đáo của người nghệ sĩ, ngôn ngữ văn học ngày càng trở nên phong phú, giàu sắc thái biểu cảm đã góp phần làm giàu kho từ vựng của ngôn ngữ nước nhà
1.2 Khái quát chung về Nguyên Hồng và truyện ngắn của Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
1.2.1 Nguyên Hồng – cuộc đời và những trang văn
1.2.1.1.Cuộc đời Nguyên Hồng
Nguyên Hồng tên khai sinh là Nguyễn Nguyên Hồng Tên khai sinh này đồng thời cũng chính là bút danh gắn liền với văn nghiệp và cuộc đời của nhà văn sau này Vào ngày 5/11/1918, tại phố Hàng Cau- thành phố Nam Định, cậu bé Nguyên Hồng cất tiếng khóc chào đời trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa đã nhiều đời Cha của Nguyên Hồng có một thời gian làm cai đề lao, sau đó vì thất nghiệp, cảnh nhà sa sút nên phải sống trong tâm trạng u uất của một kẻ bất đắc chí Sự phiền muộn của người cha đã để lại những dấu ấn khá đậm trong những năm tháng ấu thơ của Nguyên Hồng
Mẹ của Nguyên Hồng là một người cần cù, hiền hậu, giàu đức hy sinh và rất thương con Tình yêu thương của người mẹ đã góp phần sưởi ấm trái tim còn non nớt của cậu bé Nguyên Hồng, tạo nên ở nhà văn tình yêu thương đối với con người và cuộc đời Có thể nói, mẹ của Nguyên Hồng chính là người
đã có ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách Nguyên Hồng
Năm 12 tuổi, Nguyên Hồng đã phải mồ côi cha Hoàn cảnh gia đình càng lúc càng túng quẫn nên mẹ của Nguyên Hồng phải chấp nhận xa con đi
Trang 21vào Vinh ở vú cho một tên Tây Đoan và sau đó đi tiếp bước nữa Từ đó,
Nguyên Hồng bắt đầu sống tự lập để kiếm tiền ăn học bằng những nghề nhỏ
mọn nơi vườn hoa, cổng chợ, bến tàu, bến ô tô, bãi đá bóng… chung đụng với mọi hạng trẻ hư hỏng của các lớp cặn bã, tụi trẻ (…) bán báo, bán xôi chè, bánh kẹo, hoa quả, bán các đồ chơi lặt vặt, đi ở bế con hay nhặt bóng quần, hoặc ăn mày, ăn cắp từ con cá, lá rau (Những ngày thơ ấu) Trong
khoảng thời gian này, Nguyên Hồng phải sống chung với một người bà sùng đạo và một người cô nanh nọc Đời sống của cậu bé vốn đã rất vất vả lại phải chịu những áp lực tinh thần từ phía gia đình nên đã để lại những dư chấn khá đậm trong tâm trí của Nguyên Hồng
Năm 16 tuổi, Nguyên Hồng phải thôi học để cùng gia đình ra sinh sống ở xóm Cấm – Hải Phòng Tại đây, Nguyên Hồng trở thành một thầy giáo dạy tư lén lút cho con em các gia đình lao động nghèo đất Cảng Điều
này đã được Nguyên Hồng ghi lại trong truyện ngắn Lớp học lẩn lút với
những nỗi niềm riêng tư rất thực Cũng chính ở vùng đất này, Nguyên Hồng
đã có cơ hội gặp gỡ những người cùng khổ ở chốn thành thị như phu phen, thợ thuyền, du côn, ăn cắp, me tây, gái điếm… Hơn ai hết, Nguyên Hồng hiểu rất rõ những nỗi thống khổ của nhân dân lao động, những thủ đoạn áp bức, bóc lột dân nghèo của đế quốc thực dân Từ đây, Nguyên Hồng dứt khoát đứng về phía quần chúng nhân dân để thay họ đấu tranh giành quyền sống
Ngoài ra, Nguyên Hồng còn là một người sớm có tư tưởng tiến bộ Ông nhanh chóng chịu ảnh hưởng trực tiếp của cách mạng Chính trong những lần ra bến cảng đón anh em chính trị phạm từ Côn Đảo trở về, Nguyên Hồng đã nghe được những câu chuyện về những người cộng sản như Đề Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… Những tấm gương anh dũng ấy đã nhen nhóm trong nhà văn lòng yêu nước thương
Trang 22dân sục sôi Đặc biệt sau khi được gặp Thế Lữ - nhà thơ Mới nổi tiếng lúc bấy giờ (1935), Nguyên Hồng bắt đầu ấp ủ dự định viết văn để dùng chính những sáng tác của mình đấu tranh trực diện với kẻ thù giải phóng nước nhà
Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, Nguyên Hồng tham gia phong trào dân chủ Đông Dương ở Hải Phòng Ông bắt đầu viết bài cho các tờ báo cách
mạng như Thế giới, Người mới ở Hà Nội; Mới, Đông phương ở Sài Gòn
Thông qua hoạt động này, Nguyên Hồng vừa có thể thâm nhập sâu hơn vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng thời có thể củng cố, rèn luyện thêm kỹ năng viết văn Tuy nhiên, chính vì hoạt động cách mạng hăng say
mà Nguyên Hồng bị mật thám Pháp tại Hải Phòng theo dõi và bắt giam
Nguyên Hồng bị kết tội viết truyện cổ động, truyền bá văn học Mác xít và
tham dự những tổ chức phá cuộc trị an, bị bắt giam 6 tháng ở trại Bắc Mê
(Hà Giang) rồi lần lượt bị quản thúc tại Nam Định (Hải Phòng)
Năm 1942, Nguyên Hồng được trả tự do Từ đây, Nguyên Hồng hăng say hoạt động cách mạng Ông tham gia nhóm Văn hóa cứu quốc, tham gia
viết Đề cương văn hóa Việt Nam và làm công tác phổ biến rộng rãi bản đề
cương đến quần chúng nhân dân Với những đóng góp to lớn của mình trong phong trào đấu tranh giải phóng nước nhà, năm 1948, Nguyên Hồng được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng
Sau khi hòa bình lập lại, Nguyên Hồng trở thành Ủy viên ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban biên tập tạp chí văn nghệ, thư ký tòa soạn tuần báo văn, giám đốc trường bồi dưỡng lực lượng viết văn trẻ và chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Hải Phòng
Từ năm 1962, Nguyên Hồng cùng với gia đình trở về sinh sống tại Nhã Nam – Yên Thế Trong khoảng thời gian này, Nguyên Hồng vẫn tiếp tục sáng tác Vào ngày 02/5/1982, tại xã Quang Tiến, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, nhà văn Nguyên Hồng đã trút hơi thở cuối cùng trong khi vẫn
Trang 23còn đang dang dở cuốn tiểu thuyết lịch sử nói về cuộc khởi nghĩa của Hoàng
Hoa Thám: Núi rừng Yên Thế
Với những đóng góp to lớn của mình, năm 1996, Nguyên Hồng được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật Đó âu cũng là phần thưởng xứng đáng cho Nguyên Hồng – Gorki của Việt Nam
1.2.1.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng
Nguyên Hồng là tác giả đến với văn chương từ rất sớm Ngay từ năm
18 tuổi, Nguyên Hồng đã có tác phẩm đầu tay là tiểu thuyết Bỉ vỏ nói về đời
sống của bọn người lưu manh mạt hạng lúc bấy giờ Tiểu thuyết này mang theo trong mình tâm sự của nhà văn về chuyện đời và tình người Thông qua câu chuyện đầy nước mắt về con đường dẫn tới con đường trụy lạc của Tám
Bính, tác giả đã phân tích cả một chuỗi nguyên nhân xã hội ở nông thôn và
thành thị với một cơ cấu xã hội duy trì những phong tục vô nhân đạo với những tổ chức chính trị, những công cụ bạo lực bênh vực cho bọn có tiền đẩy Tám Bính vào cuộc sống nhơ bẩn và cực nhục mà không sao vượt ra nổi
(Nguyễn Đăng Mạnh) [6,15] Ngay khi tác phẩm ra đời, bạn đọc đều cảm thấy hoàn toàn bất ngờ trước tài năng của một cây bút trẻ lúc bấy giờ vẫn còn chưa tạo dựng được tên tuổi trong làng văn nước nhà Tác phẩm do đó
có tầm ý nghĩa phổ quát rộng lớn Với những giá trị to lớn của nó, Bỉ vỏ đã
được nhận giải thưởng Tự lực văn đoàn năm 1937 Có thể nói rằng, chỉ với
Bỉ vỏ thôi, Nguyên Hồng đã tạo dựng được chỗ đứng của mình trong lòng
bạn đọc Dư luận đương thời chờ đợi ở Nguyên Hồng những sáng tác đặc sắc khác Và Nguyên Hồng hoàn toàn đã không phụ lòng trông đợi của bạn
đọc Hồi ký Những ngày thơ ấu xuất bản ngay sau đó vào năm 1941 cũng là một tập hồi ký xuất sắc như thế Những ngày thơ ấu là tập hồi ký đã ghi lại
rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại (Thạch Lam) để mở ra trước
mắt người đọc về những góc khuất trong tâm hồn của nhà văn Nguyên Hồng
Trang 24với những nỗi đau trong những năm tháng ấu thơ Tập hồi ký được viết bằng ngôn ngữ trong sáng, chân thực đã thực sự làm lay động trái tim con người Qua hồi ký, chúng ta càng hiểu hơn về Cụ đốc Hồng kính yêu của văn học nước nhà
Sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng nhìn chung khá đa dạng Trên bốn mươi năm cầm bút, Nguyên Hồng đã để lại cho kho tàng văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ ở cả hai thời kỳ trước và sau cách mạng tháng Tám
Trước cách mạng tháng Tám, Nguyên Hồng được xem là nhà văn của những người cùng khổ Điều này bắt nguồn từ chính quan điểm nghệ thuật của nhà văn Theo đó, văn chương đối với Nguyên Hồng không phải chỉ với
mục đích thuần túy mà Nguyên Hồng viết văn nhằm nói ra tất cả những gì
chứa đựng, nung nấu, quằn quại, đau xót, bay bổng và bát ngát của tâm hồn, của suy nghĩ (…) Tôi sẽ viết về những cảnh đói khổ, về những sự áp bức, về những nỗi trái ngược bất công Tôi sẽ đứng về những con người lầm than bị đày đọa, bị lăng nhục Tôi sẽ vạch trần những vết thương xã hội, những việc làm bạo ngược, lộng hành của xã hội thời bấy giờ Tôi sẽ gánh lấy mọi trách nhiệm, chống đối cũng như bào chữa, bảo vệ Tôi sẽ chỉ có tiến bước, chỉ có đi thẳng Tôi sẽ chỉ biết có ánh sáng và chính tôi là ánh sáng [4,11] Xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyên Hồng luôn
trung thành với quan niệm này Có thể nói từ đầu đến cuối, Nguyên Hồng luôn là nhà văn của nhân dân lao động Việt Nam Những sáng tác tiêu biểu
của Nguyên Hồng giai đoạn này gồm: Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938); Bảy Hựu (truyện ngắn, 1941); Những ngày thơ ấu (hồi ký, 1941);Cuộc sống (1942);
Hơi thở tàn (1943); Hai dòng sữa (1943); Miếng bánh (1945)… Những tác
phẩm này chủ yếu đi vào đề tài phản ánh cuộc sống cùng quẫn không lối thoát của quần chúng nhân dân lao động nghèo cũng như những suy tư, trầm
Trang 25mặc của giới trí thức trước tình cảnh đất nước đang bị ngoại bang giày xéo, thấm nhuần chủ nghĩa nhân đạo cao cả
Sau cách mạng tháng Tám, Nguyên Hồng đã có những chuyển biến mới về tư tưởng và nhận thức Điều này đã in dấu ấn khá đậm nét trong
những sáng tác của Nguyên Hồng như Hơi thở tàn, Vực thẳm, Miếng bánh,
Ngọn lửa, Địa ngục và lò lửa, Cửa biển… Nhìn chung những sáng tác giai
đoạn này vẫn là sự tiếp nối các đề tài đã có từ trước đó nhưng có gia công thêm tính chất trí tuệ Nhà văn không những chỉ dựng lên bức tranh về những nỗi thống khổ của người dân mà nhà văn còn ý thức được nguồn gốc
gây nên nỗi khổ đó Đặc biệt với tiểu thuyết Cửa biển – bộ tiểu thuyết có dung lượng đồ sộ nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyên Hồng đã ghi
tên mình vào lịch sử văn học nước nhà với tư cách là một tiểu thuyết gia lớn của dân tộc
Sau thành công của Cửa biển, Nguyên Hồng bắt tay vào viết Núi rừng
Yên Thế nhưng chưa kịp hoàn thành thì nhà văn đã qua đời trong một cơn
đột quỵ
Nhìn chung, sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng khá đa dạng nhưng thành công nổi bật nhất của ông là ở mảng văn xuôi Những sáng tác của Nguyên Hồng là những trang văn đẹp, lấp lánh ánh sáng của sự sống, của tương lai Điều đó lý giải vì sao mà tên tuổi của Nguyên Hồng có thể đi vào cõi bất tử
1.2.2 Vài nét về truyện ngắn của Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám
Nguyên Hồng là một trong số ít những nhà văn có sức sáng tạo nghệ thuật khá bền bĩ Ông viết nhiều với một khối lượng sáng tác khá đồ sộ từ tiểu thuyết, hồi ký, truyện vừa, thơ…, nhưng chỉ riêng mảng truyện ngắn thôi cũng đủ sức đưa Nguyên Hồng lên địa vị những nhà văn lớn của văn
Trang 26học nước nhà với những tập truyện ngắn đặc sắc như Bảy Hựu, Hơi thở tàn,
Hai dòng sữa, Vực thẳm, Miếng bánh, Giọt máu…
Các truyện ngắn của Nguyên Hồng chủ yếu đi vào những đề tài của cuộc sống thường nhật, gắn liền với cuộc sống của người dân lao động Thế giới nhân vật trong các truyện ngắn của ông chủ yếu là những người lao động ở xóm chợ, những người đàn bà nghèo khổ luôn tất bật với cuộc sống mưu sinh, những em bé lang thang kiếm sống luôn ước mơ về một cuộc sống tươi sáng, những nhân vật trí thức luôn cảm thấy bất lực, không tìm thấy lối ra trong hoàn cảnh cùng quẫn của thực tại lúc bấy giờ
Trong các truyện ngắn của mình, Nguyên Hồng đã thể hiện được một
chủ nghĩa nhân đạo cao cả Có thể nói, Nguyên Hồng là cây bút, từ tác phẩm
đến con người đều là hiện thân sống của cần lao, của đói nghèo với cả những đau khổ và chất thơ của nó [6,98] Từ chính những đau khổ mà chính
bản thân Nguyên Hồng đã nếm trải, nhà văn có thể hiểu thấu những nỗi đau khổ mà người dân nghèo phải chịu đựng Điều đó thôi thúc nhà văn viết, viết
để giải tỏa tất cả những tâm sự ẩn kín trong con tim đa cảm mình Nhờ vào tình cảm chân thành, những truyện ngắn của Nguyên Hồng đã thực sự để lại những ấn tượng khó phai trong mắt người đọc
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong khi viết về thân phận của nhân loại cần lao, nhà văn vẫn luôn chú ý đến những điểm sáng trong nhân cách của
họ Đối với ông, nhân dân chính là nơi kết tụ những vẻ đẹp tâm hồn của dân
tộc ta từ bao đời Chẳng hạn như trong truyện ngắn Hàng cơm đêm, Vịnh là
cô gái bán hàng cơm đêm tuy luôn phải sống trong cảnh vất vả vì cuộc sống
nhưng bao giờ Vịnh cũng tin tưởng vào một sự phá bỏ rồi thay đổi hẳn lại
thì mới được thở một bầu không khí trong lành, một nguồn ánh sáng rực rỡ bên một cuộc đời mới, không đói rét, không đầu tắt mặt tối Sự lật đổ và làm mới lại ấy, Vịnh chưa cảm thấy… Nhưng có một cái gì gợi dậy tất cả năng
Trang 27lực, tất cả lửa lòng của Vịnh lên Hay như ở truyện ngắn Linh hồn, Hai mươi
hai là người vợ phải đi chịu tám tháng tù giam cho chồng trong lúc bụng mang dạ chửa Tại đây, dù nàng phải chịu đựng sự ức hiếp quá tàn bạo trong chốn ngục tù nhưng trong bản thân nàng bao giờ cũng có ý thức giữ gìn sự trong sạch cho linh hồn, luôn hết lòng yêu thương chồng con Có thể nói, các truyện ngắn của Nguyên Hồng đã thực sự gieo vào người đọc niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của con người
Nhìn chung, các truyện ngắn của Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám đã bắt rễ rất sâu vào các vấn đề của hiện thực đời sống Điều này
đã cho ta thấy khả năng quan sát cũng như cảm quan nghệ thuật tinh tế của nhà văn Thêm nữa, nghệ thuật viết truyện của Nguyên Hồng giai đoạn này
đã có những âm thanh và màu sắc riêng Ban đầu, các truyện ngắn của Nguyên Hồng còn mang màu sắc trữ tình lãng mạn và Cơ đốc giáo (như
truyện ngắn Bảy Hựu, Nhà sư nữ chùa Âm hồn…) nhưng sau đó, khi nhà văn
bắt đầu chịu ảnh hưởng của lý tưởng cách mạng, ngòi bút của Nguyên Hồng
rẽ sang hướng khác với cách viết sôi nổi mà đầy đam mê Các sáng tác của ông có sự đầu tư kỹ lưỡng hơn về nghệ thuật biểu hiện Nhà văn sử dụng đa dạng nhiều bút pháp, nhiều lối kết cấu và xây dựng nhân vật khác nhau Tất
cả đều xuất phát trên hệ quy chiếu là hiện thực đời sống
Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nhận xét về Nguyên Hồng rằng: Tôi là
một thằng thích phá đình, phá chùa, mà anh thì đúng là một người ưa chuyện tô tượng, đúc chuông Điều này cho thấy ý thức trách nhiệm của bản
thân Nguyên Hồng về nghiệp sáng tác lớn lao đến thế nào Điều này hiện lên rất rõ trong những sáng tác của Nguyên Hồng, mà đặc biệt là ở mảng truyện ngắn trước cách mạng tháng Tám Với những giá trị to lớn về nội dung và nghệ thuật, truyện ngắn của Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám sẽ
mãi là những di sản văn học đáng quý trong kho tàng văn học nước ta
Trang 28Chương hai: Khảo sát ngôn ngữ miêu tả nhân vật trong truyện ngắn
của Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám 2.1 Từ ngữ miêu tả nhân vật
2.1.1 Từ ngữ miêu tả ngoại hình nhân vật
Trong tác phẩm văn học, ngoại hình nhân vật là một trong những yếu tố mà nhà văn quan tâm hàng đầu khi xây dựng nhân vật Ngoại hình nhân vật là toàn bộ những yếu tố tạo nên dáng vẻ bề ngoài nhân vật nhằm phân biệt nhân vật này với những nhân vật khác như hình dáng, trang phục, tác phong… Mỗi nhân vật trong tác phẩm đều được nhà văn chú ý phác họa dưới những nét riêng thể hiện cá tính nhân vật
Khi đi vào khảo sát từ ngữ miêu tả ngoại hình nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám, chúng tôi nhận thấy Nguyên Hồng chủ yếu dừng lại ở những điểm nhấn trong ngoại hình như: khuôn mặt, đôi mắt, nước da, đôi môi, gương mặt, thân hình… Ở những đặc điểm này, hệ thống từ ngữ được nhà văn vận dụng có mức độ đậm nhạt khác nhau
Bảng khảo sát:
Trang 291 Khuôn mặt dịu dàng long lanh , xanh xao , xơ xác, đỏ
bừng, thẫn thờ
2 Đôi mắt lờ đờ, u ẩn, quầng đen, chua xót, long lanh ,
ướt át , mơ màng, lấp lánh, ngây thơ dại dột, quầng thâm, quắc lên sáng ngời, ngầu ngầu, vàng đục, quăm quắm, sáng, tợn
3 Nước da trắng mát, ngăm ngăm đen, đen nhẫy, trắng
hồng, hồng hào, nhăn nheo, bọc xương, đ en sạm như cẳng gà hun khói, bủng
4 Đôi môi mỏng, nhợt nhạt, tươi, mọng nở, rung rung
một nụ cười
5 Gương mặt xám ngắt, thẫn thờ, đê mê, đỏ bừng, đầy đặn,
phúc hậu, đầm đìa nước mắt, đen sạm, hốc hác, tròn, trắng mát tái hẳn đi, nhợt nhạt, thiểu não
7 Vầng trán nếp nhăn mỏng manh, lặng lẽ, dô
8 Mảng ngực lép kẹp như không vú, nở nang
12 Thân hình đen đủi, gầy còm, run bần bật, mảnh dẻ
nhưng chắc chắn, bứt rứt lạ lùng, còm cõi, gầy rạc, to chắc
14 Gò má ửng hồng, trũng, hơi cao, tóp
Trang 3015 Hàm răng móm mém
16 Tóc loang loáng, tóc húi kiểu móng lừa dựng
ngược, cứng, bạc lam nham, ngắn, xoăn, rối, xoắn tít, mọc trùm cả gáy
22 Giọng nói nhè nhẹ, thong thả, lanh lảnh
24 Trang phục Quần áo vải xanh thô, giày đen đế kếp
Áo nâu mỏng tứ thời nhớp nháp; áo nhiễu tây hồng, quần lụa trắng, tóc chải bồng, hoa tai, nhẫn ngọc lung linh