1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông ở đà nẵng đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới

63 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bồi Dưỡng Năng Lực Dạy Học Cho Giáo Viên Giáo Dục Công Dân Trung Học Phổ Thông Ở Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
Tác giả Hồ Thị Pha
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Thị Hương
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (8)
    • 1. Tính cấp thiết của đề tài (8)
    • 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu (9)
    • 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (0)
    • 4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu (10)
    • 5. Bố cục của đề tài (10)
    • 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu (10)
  • B. NỘI DUNG (14)
  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC (14)
    • 1.1. Một số khái niệm liên quan (14)
      • 1.1.1. Bồi dưỡng (0)
      • 1.1.2. Năng lực dạy học (15)
    • 1.2. Vai trò của đội ngũ giáo viên dạy môn GDCD ở THPT đối với sự phát triển nguồn nhân lực (19)
    • 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên dạy môn (21)
      • 1.3.1. Nhận thức của giáo viên, nhà quản lí, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và xã hội (21)
      • 1.3.2. Đặc điểm của đội ngũ giáo viên GDCD THPT (22)
      • 1.3.3. Cơ sở vật chất (23)
      • 1.3.4. Nội dung bồi dưỡng giáo viên THPT (0)
      • 1.3.5. Kinh phí bồi dưỡng (26)
    • 1.4. Đặc điểm của môn Giáo dục công dân trong chương trình giáo dục phổ thông mới (27)
    • 1.5. Một số nội dung kiến thức và năng lực cơ bản cần được bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên dạy môn Giáo dục công dân đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới (0)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TẠI CÁC TRƯỜNG THPT Ở ĐÀ NẴNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT (35)
    • 2.1.1. Đặc điểm của giáo viên dạy môn GDCD THPT ở Đà Nẵng hiện nay (35)
    • 2.1.2. Đánh giá thực trạng năng lực dạy học của giáo viên GDCD ở THPT Đà Nẵng hiện nay (38)
      • 2.1.2.1. Nhận thức của giáo viên về vai trò môn GDCD ở trường phổ thông (38)
      • 2.1.2.2. Năng lực dạy học (39)
      • 2.1.2.3. Điều kiện vật chất (48)
    • 2.1.3 Đánh giá chung (49)
      • 2.1.3.1. Kết quả đạt được (49)
      • 2.1.3.2. Tồn tại, hạn chế (50)
      • 2.1.3.3. Nguyên nhân (51)
    • 2.2. Một số giải pháp chủ yếu góp phần bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV GDCD (0)
      • 2.2.1. Chủ trương, chính sách về công tác bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên GDCD THPT (52)
      • 2.2.2. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu (54)
        • 2.2.2.1. Tăng cường nâng cao nhận thức cho giáo viên và cán bộ quản lý về vị trí, vai trò của môn GDCD trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông (54)
        • 2.2.2.2. Đa dạng hóa các loại hình bồi dưỡng (54)
        • 2.2.2.3. Bồi dưỡng giáo viên GDCD THPT về việc ứng dụng CNTT vào dạy học, phần mềm trộn đề vào kiểm tra, đánh giá (0)
        • 2.2.2.4. Đảm bảo các điều kiện cần thiết cho công tác bồi dưỡng năng lực dạy học và thống nhất quy trình soạn giáo án, xây dựng kế hoạch dạy học cho giáo viên đạt kết quả (0)
        • 2.2.2.5. Đổi mới kết quả đánh giá bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ đối với giáo viên (0)
    • C. KẾT LUẬN (60)
    • D. TÀI LIỆU THAM KHẢO (61)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ ------ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở ĐÀ NẴNG ĐÁP Ứ

NỘI DUNG

Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông là một yếu tố quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở Việt Nam Việc nâng cao năng lực giáo viên không chỉ giúp cải thiện chất lượng giảng dạy mà còn đảm bảo các mục tiêu giáo dục được thực hiện hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông mới yêu cầu giáo viên phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, kỹ năng sư phạm linh hoạt và khả năng áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để phát triển toàn diện cho học sinh.

1.1 Một số khái niệm liên quan

Bồi dưỡng là quá trình trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức cũng như kỹ năng làm việc, nhằm tăng cường năng lực và phẩm chất cho cá nhân.

Theo Nghị định số 18/1010/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/5/2010, bồi dưỡng công chức là hoạt động quan trọng nhằm trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Để phát triển nhân cách đáp ứng yêu cầu, cần có quá trình hình thành và phát triển liên tục, đồng thời việc này không thể tách rời khỏi việc trang bị tri thức và nâng cao năng lực thực tiễn.

Tổ chức UNESCO định nghĩa bồi dưỡng là quá trình cập nhật và bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất của người lao động trong lĩnh vực chuyên môn đã có Quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu cải thiện kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Bồi dưỡng, theo nghĩa rộng, là quá trình giáo dục và đào tạo nhằm hình thành nhân cách theo mục đích đã chọn Theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là việc cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu so với bậc học, cấp học, và sự phát triển của xã hội Mục tiêu của bồi dưỡng là nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn thông qua các hình thức học tập, đào tạo, hội thảo và sinh hoạt chuyên đề Quá trình này cần có mục tiêu, nội dung, chương trình và phương thức thực hiện cụ thể cho từng đối tượng.

Bồi dưỡng là hoạt động nhằm củng cố và nâng cao năng lực, tri thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất nghề nghiệp của cá nhân, giúp họ thích ứng tốt hơn với môi trường xã hội.

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC

Một số khái niệm liên quan

Bồi dưỡng là hoạt động nhằm trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức cũng như kỹ năng làm việc, từ đó tăng cường năng lực và phẩm chất của cá nhân.

Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/5/2010, bồi dưỡng công chức là quá trình trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Để phát triển nhân cách đáp ứng yêu cầu, cần có sự hình thành và phát triển liên tục, đồng thời việc này phải gắn liền với việc trang bị tri thức và nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn.

Bồi dưỡng là quá trình cập nhật và bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất của người lao động trong lĩnh vực chuyên môn đã có trình độ nhất định Quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kỹ năng để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Bồi dưỡng, theo nghĩa rộng, là quá trình giáo dục và đào tạo nhằm hình thành nhân cách theo mục đích đã định Trong nghĩa hẹp, bồi dưỡng được hiểu là cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội phát triển Quá trình này không chỉ nâng cao phẩm chất đạo đức mà còn cải thiện năng lực chuyên môn thông qua các hình thức học tập, đào tạo, hội thảo và sinh hoạt chuyên đề Bồi dưỡng cần có mục tiêu, nội dung, chương trình và phương thức thực hiện cụ thể cho từng đối tượng.

Bồi dưỡng là quá trình củng cố và nâng cao năng lực, tri thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất nghề nghiệp của cá nhân, từ đó giúp họ thích ứng tốt hơn với môi trường xã hội.

Bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn của người lao động, giúp họ củng cố và mở rộng hệ thống tri thức, kỹ năng cần thiết để nâng cao hiệu quả công việc Đối tượng bồi dưỡng là những cá nhân đã phát triển nhân cách và có trình độ chuyên môn nhất định, nhưng cần bổ sung kiến thức về chính trị, tư tưởng, chuyên môn, ngoại ngữ và tin học để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang thay đổi Việc này không chỉ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, hệ thống giáo dục quốc dân cần có sự chuyển biến mạnh mẽ về chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá Để đáp ứng yêu cầu này, các trường cần chú trọng bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ quản lý cùng giáo viên, nhằm thích ứng với những thay đổi trong tương lai.

Đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định sự thành công trong quá trình dạy – học Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, giáo viên cần được thường xuyên bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ Việc này không chỉ giúp nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp mà còn làm phong phú thêm tri thức và kinh nghiệm cá nhân Do đó, việc bồi dưỡng liên tục là cần thiết để hoàn thiện quá trình đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.

Năng lực được định nghĩa là khả năng và điều kiện tự nhiên hoặc chủ quan cần thiết để thực hiện một hoạt động cụ thể Nó bao gồm các phẩm chất tâm lý và sinh lý giúp con người hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao Theo wikitionary, năng lực còn được hiểu là khả năng làm việc hiệu quả nhờ vào phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn Đặc biệt, năng lực dạy học là khả năng của giáo viên trong việc giảng dạy hiệu quả.

9 hợp với những yêu cầu đặc trưng của hoạt động dạy học nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả trong lĩnh vực giảng dạy [36]

Năng lực được định nghĩa là tổng hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân phù hợp với yêu cầu của một hoạt động cụ thể, nhằm đảm bảo hiệu quả cao trong công việc Năng lực không chỉ dựa vào tư chất tự nhiên mà còn được hình thành qua học tập, rèn luyện và bồi dưỡng Nó phản ánh thuộc tính của nhân cách và cho thấy khả năng của cá nhân trong từng ngành nghề cụ thể, giúp đạt được kết quả mong muốn.

Năng lực dạy học là khả năng thực hiện các hoạt động giảng dạy bằng cách kết hợp kiến thức, kỹ năng và giá trị cá nhân để ứng phó hiệu quả với các tình huống dạy học khác nhau Năng lực này được thể hiện qua cách giải quyết các vấn đề trong quá trình giảng dạy và ứng xử phù hợp trong bối cảnh thực tế, đồng thời được đánh giá qua kết quả của quá trình dạy học.

Theo chuẩn đào tạo giáo viên của một số quốc gia, như Postdam (Đức), mô hình năng lực giáo viên bao gồm năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực đánh giá và năng lực đổi mới, trong đó năng lực dạy học được coi là quan trọng nhất Để tổ chức và dẫn dắt học sinh tiếp thu kiến thức mới, giáo viên cần có năng lực giảng dạy, trở thành chuyên gia trong lĩnh vực này Tại Việt Nam, chuẩn giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông đã xác định rõ tám tiêu chí về năng lực dạy học Theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông, năng lực dạy học là một tiêu chuẩn quan trọng, là sự tổng hợp của nhiều năng lực và là thành tố thiết yếu trong năng lực sư phạm Quy định chuẩn nghề nghiệp xác định năng lực dạy học là một trong sáu tiêu chuẩn nghề nghiệp của giáo viên, được quy định tại điều 6 với tám tiêu chí cụ thể.

Kế hoạch dạy học cần được xây dựng theo hướng tích hợp giữa dạy học và giáo dục, với mục tiêu rõ ràng và nội dung phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm học sinh và môi trường giáo dục Việc phối hợp giữa hoạt động học và dạy sẽ giúp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.

Để đảm bảo kiến thức môn học, cần làm chủ nội dung giảng dạy một cách chính xác và có hệ thống Việc vận dụng hợp lý các kiến thức liên môn theo yêu cầu hiện đại và thực tiễn là rất quan trọng.

Để đảm bảo chất lượng giáo dục, chương trình môn học cần được thực hiện đúng theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ đã được quy định.

Vai trò của đội ngũ giáo viên dạy môn GDCD ở THPT đối với sự phát triển nguồn nhân lực

Giáo viên là lực lượng lao động tinh hoa, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước và cộng đồng Họ không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn là người hướng dẫn, cố vấn và là hình mẫu cho học sinh.

Môn Giáo dục Công dân (GDCD) đóng vai trò quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, giúp học sinh phát triển ý thức và hành vi công dân, cũng như nhân cách con người Môn học này không chỉ trang bị kiến thức mà còn truyền tải các giá trị và chuẩn mực xã hội, giúp học sinh trở thành những công dân toàn diện, biết sống và tôn trọng người khác, góp phần vào sự phát triển của cộng đồng Năng lực của giáo viên là một yếu tố quyết định trong việc nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD.

Giáo viên môn GDCD đóng vai trò quan trọng trong tổ chức hoạt động giáo dục, trải nghiệm và hướng nghiệp cho học sinh Để thực hiện nhiệm vụ này, giáo viên cần có đầy đủ năng lực dạy học, giúp học sinh hiểu và áp dụng kiến thức vào thực tiễn Ngoài kiến thức chuyên môn, giáo viên GDCD cũng cần nắm vững các vấn đề kinh tế xã hội, tâm lý học lứa tuổi và có kinh nghiệm sống phong phú Do đó, việc bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên GDCD là cần thiết để nâng cao chuyên môn, rèn luyện phẩm chất đạo đức và kỹ năng dạy học.

13 hoàn thành tốt vai trò của mình trong xây dựng và phát triển nhân cách tốt đẹp cho học sinh phổ thông ở Việt Nam hiện nay

Giáo viên dạy môn GDCD không chỉ có vai trò như các giáo viên dạy các môn học khác mà còn đặc biệt trong việc hình thành nhân cách cho học sinh Họ được xếp ngang hàng với các giáo viên khoa học khác trong hệ thống giáo dục, với nhiệm vụ cung cấp tri thức, giáo dục tư tưởng và rèn luyện kỹ năng cho học sinh Tuy nhiên, giáo viên GDCD còn đảm nhiệm những vai trò riêng biệt, thể hiện sự khác biệt trong cách giáo dục và phát triển nhân cách cho người học.

Giáo viên môn GDCD ở trường THPT đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức cần thiết cho học sinh, giúp họ trở thành công dân có trách nhiệm trong xã hội hiện đại Họ cung cấp những kiến thức thiết thực từ cuộc sống hàng ngày đến các vấn đề lớn hơn của quốc gia và nhân loại Thông qua việc giảng dạy các khái niệm từ triết học, lô-gic học đến lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giáo viên GDCD giúp học sinh phát triển thế giới quan và nhân sinh quan, từ đó hình thành chuẩn mực công dân đúng đắn Sự khác biệt này khiến giáo viên GDCD có vai trò đặc biệt so với các giáo viên dạy môn học khác trong trường THPT.

Giáo viên môn GDCD đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị cho học sinh tri thức chính trị, giúp họ hiểu rõ các vấn đề tư tưởng của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam Môn học này từ lớp 10 đến lớp 12 tập trung vào việc xây dựng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cộng sản, đồng thời phát triển phương pháp luận khoa học đúng đắn Qua đó, học sinh hình thành niềm tin triết học vững chắc, từ đó có định hướng đúng đắn trong các hoạt động thực tiễn và giải quyết các mối quan hệ với cộng đồng Giáo viên GDCD cũng trực tiếp đề cập đến các vấn đề chính sách và đường lối của Đảng, góp phần củng cố định hướng xã hội chủ nghĩa cho học sinh.

Giáo dục công dân (GDCD) đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước và thế giới Điều này không chỉ mang lại cơ hội lớn mà còn đặt lên vai giáo viên trách nhiệm nặng nề trong việc hình thành nhận thức và phát triển tư duy cho học sinh.

Giáo viên môn GDCD cần kết hợp chặt chẽ giữa việc dạy học trực tiếp và thực tiễn đời sống, nhằm rèn luyện và tu dưỡng cho học sinh Mục tiêu của dạy và học GDCD là giúp học sinh trở thành công dân có trách nhiệm của Việt Nam Qua đó, học sinh sẽ được rèn luyện thói quen, ý thức, hành vi và đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội, đồng thời phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề trong thực tiễn.

Giáo viên môn GDCD đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu của học sinh như yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm Những phẩm chất này không chỉ gắn liền với quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam mà còn giúp học sinh phát triển năng lực đáp ứng nhu cầu của cá nhân và cộng đồng trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới Đặc biệt, việc xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là những yêu cầu thiết yếu Các vai trò của giáo viên GDCD phải được kết hợp chặt chẽ, quy định nội dung và phương pháp dạy học, đảm bảo mỗi bài học cung cấp tri thức khoa học chính xác và kích thích tư duy của học sinh, góp phần xây dựng nguồn nhân lực vừa "hồng" vừa "chuyên".

Các nhân tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên dạy môn

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, việc nâng cao năng lực giảng dạy cho giáo viên môn Giáo dục công dân (GDCD) cần chú ý đến một số yếu tố quan trọng.

1.3.1 Nhận thức của giáo viên, nhà quản lí, cơ sở đào tạo, bồi dƣỡng và xã hội

Giáo viên GDCD THPT nhận thức rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đào tạo nguồn nhân lực mới thông qua việc nâng cao hiệu quả học tập Họ không ngừng tự học và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cũng như nghiệp vụ sư phạm Tham gia các lớp bồi dưỡng năng lực dạy học do trường và Sở giáo dục tổ chức là điều cần thiết Những giáo viên không thường xuyên cập nhật và bồi dưỡng năng lực dạy học sẽ khó đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới và không thể giảng dạy hiệu quả.

Nhà quản lí đóng vai trò quan trọng trong công tác bồi dưỡng năng lực chuyên môn và dạy học cho giáo viên Việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác này sẽ góp phần cải thiện chất lượng dạy học và giáo dục trong trường Nếu nhà quản lí không chú trọng đổi mới công tác bồi dưỡng và phát triển năng lực dạy học cho giáo viên, chất lượng dạy học sẽ không đạt yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới.

Các cơ sở đào tạo cần nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên GDCD để đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới Họ phải liên tục điều chỉnh chương trình đào tạo, xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng đa dạng và nâng cao cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng Các trường học cần thường xuyên cập nhật tài liệu và hướng dẫn học tập phù hợp với hoàn cảnh dạy học và đặc điểm học sinh, đảm bảo chuẩn kiến thức và kỹ năng, đồng thời phù hợp với năng lực của giáo viên và điều kiện địa phương Nếu không thực hiện tốt công việc này, hiệu quả bồi dưỡng sẽ thấp, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục trong thời đại mới.

Xã hội ngày càng nhận thức đúng đắn về việc bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hiệu quả trong giáo dục Sự công nhận này góp phần nâng cao cơ sở vật chất và trang thiết bị cho giáo dục Tuy nhiên, nếu xã hội vẫn coi Giáo dục Công dân là môn học phụ, điều này sẽ gây áp lực lớn lên hệ thống giáo dục, làm giảm hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực và không đề cao vai trò của giáo viên Giáo dục Công dân ở bậc THPT.

1.3.2 Đặc điểm của đội ngũ giáo viên GDCD THPT Đội ngũ giáo viên trường THPT là người chịu trách nhiệm trước Ban Giám Hiệu và Hội đồng giáo dục về kết quả giảng dạy học sinh theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo dục của ngành GD&ĐT Vì thế, người giáo viên có trách nhiệm chính đối với chất lượng học sinh, có vai trò đóng góp quan trọng đến kết quả phấn đấu của nhà

Đội ngũ giáo viên THPT, bao gồm cả giáo viên công lập và ngoài công lập, có vai trò quan trọng trong hoạt động dạy – học, đặc biệt là trong môn GDCD Hầu hết giáo viên đều được đào tạo chính quy và đạt tiêu chuẩn gần 100% theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tuy nhiên, vẫn tồn tại hiện tượng giáo viên dạy chéo môn ở một số địa phương Giáo viên nam thường nhanh nhẹn và tích cực hơn trong việc sử dụng công nghệ thông tin, trong khi đa số giáo viên GDCD là giáo viên trẻ, mặc dù nhiệt tình và đam mê đổi mới phương pháp giảng dạy, nhưng họ vẫn gặp phải một số hạn chế về kinh nghiệm và năng lực chuyên môn, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.

Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ giữa các đồng nghiệp, học sinh, phụ huynh và cộng đồng để thực hiện xã hội hóa giáo dục Trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông, đội ngũ giáo viên GDCD THPT cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt huyết và sự sáng tạo để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao năng lực giảng dạy trong nhà trường.

Giáo viên Giáo dục Công dân (GV GDCD) có năng lực chuyên môn vững, phẩm chất đạo đức tốt và kinh nghiệm dạy học sẽ tích cực tự trau dồi và rèn luyện bản thân Điều này giúp họ hoàn thành xuất sắc vai trò của mình và đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục Đặc điểm, hoàn cảnh và chuyên môn của GV GDCD sẽ ảnh hưởng lớn đến công tác bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên bộ môn trong giai đoạn hiện nay.

Cơ sở vật chất và kỹ thuật xã hội mà nhà trường sử dụng cho mục tiêu đào tạo bao gồm các trang thiết bị, công cụ từ nhà máy, xí nghiệp, nhà văn hóa, nhà truyền thống, câu lạc bộ, cũng như sân bãi thể dục thể thao của địa phương.

17 trực tiếp quản lý và sử dụng, nhưng có thể mượn hoặc thuê để phục vụ cho mục tiêu giáo dục

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của nhà trường bao gồm các công trình, nhà cửa, sân chơi, thư viện và thiết bị giáo dục, được chia thành ba bộ phận chính: trường sở, thiết bị giáo dục và thư viện, tất cả đều do nhà trường quản lý và sử dụng Hệ thống này đa dạng về chủng loại và bao gồm nhiều trang thiết bị phức tạp như máy tính, máy projector và hệ thống mạng internet Sự đa dạng và phong phú của cơ sở vật chất - kỹ thuật mang lại nhiều thách thức trong quá trình quản lý và sử dụng.

Đào tạo con người mới là yêu cầu thiết yếu để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để đạt được điều này, cần có cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng Tuy nhiên, hiệu quả của cơ sở vật chất - kỹ thuật phụ thuộc vào trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên Do đó, cơ sở vật chất - kỹ thuật không thể thay thế cho các phương tiện dạy học truyền thống và đặc biệt là vai trò của giáo viên trong lớp học.

Cơ sở vật chất và kỹ thuật của trường học đóng vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục Đây là điều kiện thiết yếu cho quá trình sư phạm, giúp tác động đến tâm hồn học sinh và là phương tiện truyền thụ tri thức, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục.

Việc đầu tư vào hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các trường học là cần thiết và cấp bách Dù công nghệ giáo dục có hiện đại đến đâu, vai trò của giáo viên vẫn không thể thay thế Giáo viên là người quyết định hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng dạy học Thực tế cho thấy, ở những nơi mà cán bộ quản lý có nhận thức đầy đủ, sẽ có những quyết định đúng đắn và rõ ràng trong chuyên môn, đồng thời biết phát huy tính chủ động của đội ngũ giáo viên.

Việc trang bị đầy đủ cơ sở vật chất – kỹ thuật tại các trường học và cơ sở đào tạo là yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng dạy học và bồi dưỡng năng lực giảng dạy Sự thành công trong quản lý và sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật sẽ góp phần tích cực vào việc cải thiện hiệu quả giáo dục hiện nay.

1.3.4 Nội dung bồi dƣỡng giáo viên THPT

Đặc điểm của môn Giáo dục công dân trong chương trình giáo dục phổ thông mới

Trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Giáo dục công dân (GDCD) được chia thành ba cấp: Đạo đức cho tiểu học, Giáo dục công dân cho trung học cơ sở (THCS) và Giáo dục kinh tế và pháp luật cho trung học phổ thông (THPT) Môn GDCD giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực chung thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật và kinh tế Học sinh sẽ được trang bị tình cảm, niềm tin, nhận thức và cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định pháp luật, cùng với kỹ năng sống và bản lĩnh cần thiết để thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tổ quốc Việt Nam và hội nhập quốc tế

Môn Giáo dục Công dân (GDCD) chủ yếu tập trung vào giáo dục đạo đức, giá trị sống, kỹ năng sống, pháp luật và kinh tế Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, Đạo đức và GDCD là môn học bắt buộc, giúp học sinh hình thành thói quen và ý thức tự điều chỉnh theo chuẩn mực đạo đức và quy định pháp luật Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, môn Giáo dục kinh tế và pháp luật được chọn theo nguyện vọng của học sinh, cung cấp kiến thức cơ bản và ứng dụng về kinh tế, pháp luật, gắn liền với giáo dục đạo đức và giá trị sống, giúp học sinh nhận thức đúng về quyền và nghĩa vụ công dân trong các quan hệ kinh tế và pháp luật.

Trong mỗi năm học, học sinh có định hướng theo các ngành như Giáo dục chính trị, Giáo dục công dân, Kinh tế, Hành chính và Pháp luật sẽ được học một số chuyên đề phù hợp với sự quan tâm và hứng thú của mình đối với môn học.

21 đề này được thiết kế để nâng cao kiến thức về kinh tế và pháp luật, đồng thời phát triển kỹ năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, phù hợp với sở thích, nhu cầu và định hướng nghề nghiệp của học sinh.

Chương trình Giáo dục công dân ở THPT mới đã có sự đột phá rõ rệt về quan điểm xây dựng, mục tiêu, yêu cầu về phẩm chất và năng lực, cũng như nội dung chương trình Những cải tiến này đã khắc phục hạn chế của chương trình cũ, bao gồm nội dung lạc hậu và bố cục chưa hợp lý, đồng thời cập nhật tri thức mới để phát triển năng lực học sinh trong dạy và học.

Chương trình "Giáo dục công dân" tập trung vào việc trang bị cho học sinh tri thức về thế giới quan, phương pháp luận triết học và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời rèn luyện phẩm chất đạo đức và trách nhiệm công dân Ngược lại, "Giáo dục kinh tế và pháp luật" chú trọng vào định hướng nghề nghiệp, cung cấp kiến thức cần thiết về kinh tế và pháp luật, giúp học sinh chuẩn bị cho sự lựa chọn nghề nghiệp tương lai Sự khác biệt trong tên gọi phản ánh mục tiêu giáo dục khác nhau của từng chương trình.

Môn Giáo dục công dân và Giáo dục kinh tế và pháp luật đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam Theo chương trình giáo dục cũ, tất cả các môn học, bao gồm Giáo dục công dân, đều là bắt buộc, giúp đảm bảo tính đồng nhất trong giáo dục trên toàn quốc Trong chương trình mới, ngoài năm môn học bắt buộc, các môn còn lại trở thành môn tự chọn bắt buộc, trong đó có Giáo dục kinh tế và pháp luật thuộc nhóm Khoa học xã hội Sự thay đổi này không làm giảm vị trí của môn học mà còn tạo cơ hội cho giáo viên và học sinh, đặc biệt khi nhiều trường Đại học đã sử dụng điểm thi môn GDCD để xét tuyển đầu vào Điều này khuyến khích học sinh và giáo viên nỗ lực hơn trong việc giảng dạy và học tập môn GDCD, đáp ứng nhu cầu định hướng nghề nghiệp tương lai.

Thứ ba, cách tiếp cận xây dựng chương trình: Chương trình GDCD hiện hành ở

Chương trình giáo dục trung học phổ thông (THPT) tại Việt Nam có cách tiếp cận độc đáo, nhấn mạnh tầm quan trọng của thế giới quan và nhân sinh quan trong việc đánh giá sự vật Ngay từ học kỳ đầu tiên của lớp 10, học sinh được giới thiệu các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, giúp hình thành tư duy khoa học và phương pháp luận biện chứng Trong các học kỳ tiếp theo, học sinh sẽ tìm hiểu về thể chế chính trị và các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước liên quan đến dân số, việc làm, tài nguyên thiên nhiên, giáo dục và khoa học Cách tiếp cận này nhằm trang bị cho công dân tương lai những giá trị và phương pháp luận cần thiết.

Chương trình Giáo dục Công dân mới được xây dựng dựa trên các đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước Việt Nam, kết hợp với thành tựu nghiên cứu trong các lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học, và luật học Chương trình này tích hợp nhiều nội dung giáo dục cơ bản về giá trị sống, kỹ năng sống, đạo đức và pháp luật, gắn liền với thực tiễn cuộc sống và các sự kiện xã hội, kinh tế, văn hóa Đặc biệt, chương trình chú trọng đến sự đa dạng của học sinh và điều kiện học tập của từng vùng miền Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, nội dung chương trình môn Giáo dục kinh tế và pháp luật được phát triển theo hướng tuyến tính, từ kinh tế vĩ mô đến vi mô, nhằm đảm bảo tính hệ thống và liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực.

Chương trình Giáo dục công dân ở Việt Nam cho học sinh phổ thông bao gồm nhiều nội dung phong phú, từ triết học và đạo đức đến kinh tế và pháp luật Học sinh lớp 10 tìm hiểu về thế giới vật chất, vai trò của thực tiễn, và trách nhiệm công dân trong gia đình và cộng đồng Lớp 11 tập trung vào các vấn đề kinh tế, như hàng hóa, thị trường, và chính sách của Đảng và Nhà nước, trong khi lớp 12 nghiên cứu về pháp luật, quyền bình đẳng và tự do cơ bản của công dân Qua chương trình này, học sinh được trang bị kiến thức đa dạng và tự tin bước vào cuộc sống trưởng thành.

Trong chương trình giáo dục mới, học sinh lớp 10, 11 và 12 sẽ được tiếp cận nội dung về kinh tế và pháp luật Đây là một chương trình học đồng tâm và tuyến tính, nhằm trang bị kiến thức cần thiết cho học sinh.

Học sinh lớp 10 sẽ tìm hiểu về các khái niệm cơ bản như thị trường và cơ chế thị trường, ngân sách nhà nước cùng chính sách thuế, cũng như các mô hình sản xuất kinh doanh Ngoài ra, các em sẽ học cách lập kế hoạch tài chính và sử dụng dịch vụ tín dụng hiệu quả Nội dung bài học còn bao gồm hệ thống chính trị và pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm Hiến pháp và một số ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Học sinh lớp 11 tìm hiểu về các khái niệm quan trọng trong kinh tế thị trường như cạnh tranh, cung cầu, lạm phát và thất nghiệp Họ cũng nghiên cứu thị trường lao động, xu hướng tuyển dụng và các ý tưởng kinh doanh cùng với những năng lực cần thiết cho người kinh doanh Bên cạnh đó, đạo đức và văn hóa trong sản xuất kinh doanh, cũng như vai trò của tiêu dùng và văn hóa tiêu dùng Việt Nam, được nhấn mạnh để giúp học sinh hiểu rõ hơn về môi trường kinh doanh hiện nay.

Quyền bình đẳng của công dân là nền tảng của xã hội dân chủ, đảm bảo mọi người đều có cơ hội như nhau trong các hoạt động chính trị Công dân có quyền tham gia vào các hoạt động chính trị và nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội Bên cạnh đó, quyền và nghĩa vụ cơ bản về kinh tế cũng rất quan trọng, giúp công dân có quyền tự do kinh doanh, làm việc và tham gia vào các hoạt động kinh tế, đồng thời phải tuân thủ các quy định của pháp luật để xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững.

Học sinh lớp 12 sẽ được trang bị kiến thức về tăng trưởng và phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách bảo hiểm và an sinh xã hội, cũng như kế hoạch kinh doanh và cách lập kế hoạch Ngoài ra, chương trình còn đề cập đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, quản lý thu chi gia đình, pháp luật quốc tế, và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực xã hội và văn hóa Chương trình mới với đặc điểm đồng tâm và tuyến tính sẽ đảm bảo sự kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học và liên thông với giáo dục mầm non, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TẠI CÁC TRƯỜNG THPT Ở ĐÀ NẴNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[16]. Nguyễn Quang Uẩn, Giáo trình Tâm lý học đại cương, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học đại cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
[18]. Nguyễn Thị Ty, bài báo Bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trên Tạp chí Giáo dục Số đặc biệt (10/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
[19]. Nguyễn Văn Y (2017), Bồi dưỡng năng lực sư phạm giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 402, tr 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực sư phạm giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Y
Năm: 2017
[17]. Nguyễn Thị Hương, Những điểm mới của khối kiến thức Giáo dục kinh tế trong chương trình môn Giáo dục kinh tế và pháp luật so với chương trình môn Giáo dục công dân hiện hành ở bậc Trung học phổ thông - những vấn đề đặt ra và một số đề xuất Khác
[20]. Nghị định số 18/1010/NĐ - CP có hiệu lực từ ngày 1/5/2010 về đào tạo và bồi dưỡng công chức Khác
[21]. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 1456/QĐ-BGDDT về chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho giáo viên dạy môn GDCD Khác
[22]. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 về phê duyệt đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2010 Khác
[23]. Thủ Tướng Chính phủ, Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009, Phê duyệt Đề án "Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường [24]. Phạm Vũ Luận (2013), Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 853 Khác
[25]. Vũ Đình Bảy (chủ biên) Đặng Xuân Điều - Nguyễn Thành Minh (2010) Phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông, Nxb Giáo dục Việt Nam.Tài liệu internet Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w