Cụ thể là đội ngũ giáo viên cấp THCS trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng còn thiếu so với nhu cầu, số lượng giáo viên có trình độ chuyên môn, trình độ quản lý tốt còn ít, tính
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2I H C ĐÀ N NG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VÕ THỊ MINH PHƯƠNG
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ Sở QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Trang 3M C L C
Mục lục i
Lời cam đoan vi
Tóm tắt đề tài bằng hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh vi
Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh mục các bảng biểu ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan về nghiên cứu vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở .6
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 8
1.2.1.1 Khái niệm về quản lý 8
1.2.1.2 Quản lí giáo dục 9
1.2.1.3 Quản lí nhà trường 9
1.2.2 Đội ngũ giáo viên 10
1.2.2.1 Giáo viên 10
1.2.2.2 Đội ngũ giáo viên 10
1.2.3 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS 11
1.2.3.1 Khái niệm về phát triển 11
1.2.3.2 Phát triển đội ngũ giáo viên 11
1.2.3.3 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên 11
1.3 Yêu cầu đối với đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 12
1.3.1 Giáo dục trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân 12
1.3.2 Những nội dung về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông .13
1.3.2.1 Chương trình giáo dục sẽ chuyển căn bản từ tập trung trang bị kiến thức, kỹ năng sang phát triển phẩm chất và năng lực người học, đảm bảo hài hoà giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp .13
1.3.2.2 Nội dung chương trình đảm bảo chuẩn hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế; đảm bảo tính chỉnh thể, linh hoạt, thống nhất trong và giữa các cấp học; tích hợp và phân hoá hợp lý, có hiệu quả 13
1.3.2.3 Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh 14
Trang 41.3.2.4 Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá chất
lượng giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh 15
1.3.2.5 Quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh 15
1.3.2.6 Thực hiện chủ trương một chương trình, nhiều sách giáo khoa 16
1.3.3 Những đặc trưng cơ bản của GV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 17
1.3.4 Những yêu cầu cơ bản đối với đội ngũ GV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 18
1.4 Phát triển đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 22
1.4.1 Tiếp cận lý thuyết phát triển nguồn nhân lực 22
1.4.1.1 Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực 22
1.4.1.2 Tuyển chọn 23
1.4.1.3 Sử dụng 23
1.4.1.4 Đào tạo, bồi dưỡng 24
1.4.1.5 Đánh giá 24
1.4.1.6 Tạo lập môi trường hoạt động và phát triển cho giáo viên 25
1.4.2 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 26
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ giáo viên THCS 28
1.5.1 Yếu tố chủ quan 28
1.5.2 Yếu tố khách quan 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 30
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 30
2.1.1 Mục đích khảo sát 30
2.1.2 Nội dung khảo sát 30
2.1.3 Phương thức khảo sát 30
2.1.4 Địa điểm và đối tượng khảo sát 30
2.2 Khái quát tình hình phát triển kinh tế-xã hội và GD-ĐT của quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 31
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng .31
2.2.2 Tình hình GD&ĐT của quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng 31
2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng 33
2.3.1 Về số lượng 33
2.3.2 Về cơ cấu 34
2.3.2.1 Cơ cấu về độ tuổi và thâm niên công tác 34
2.3.2.2 Cơ cấu giới tính 34
2.3.2.3 Cơ cấu theo chuyên môn 35
2.3.2.4 Cơ cấu theo trình độ đào tạo 35
2.3.3 Chất lượng đội ngũ GV THCS quận Hải Châu TSGV 36
Trang 52.3.4 Đánh giá chung về ĐNGV THCS quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 37
2.4 Thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 37
2.4.1 Thực trạng nhận thức của CBQL và GV về sự cần thiết trong công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS 38
2.4.2 Thực trạng công tác đánh giá ĐNGV THCS theo CNN 40
2.4.3 Thực trạng về các biện pháp phát triển ĐNGV THCS 45
2.4.3.1 Công tác đào tạo bồi dưỡng 45
2.4.3.2 Công tác quy hoạch 47
2.4.3.3 Công tác bố trí, sử dụng và luân chuyển 49
2.4.3.4 Công tác thực hiện các chính sách đãi ngộ đối với GV 49
2.4.3.5 Công tác xây dựng văn hóa tổ chức trong nhà trường 50
2.4.4 Đánh giá chung thực trạng quản lý phát triển ĐNGV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 52
2.4.4.1 Những ưu điểm 52
2.4.4.2 Những nhược điểm 53
2.4.4.3 Những thuận lợi 53
2.4.4.4 Những khó khăn 53
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THCS TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GDPT 57
3.1 Các định hướng phát triển giáo viên THCS và đội ngũ giáo viên THCS quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 57
3.2 Nguyên tắc xây dựng các giải pháp 59
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, tính phù hợp và đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình GDPT 59
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 59
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 60
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện 60
3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 60
3.3 Giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 61
3.3.1 Nâng cao nhận thức về vị trí và tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên THCS trước yêu cầu đổi mới chương trình GDPT 61
3.3.1.1 Ý nghĩa 61
3.3.1.2 Nội dung giải pháp 61
3.3.1.3 Cách thực hiện 62
3.3.2 Quy hoạch, tuyển dụng và sử dụng ĐNGV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình GDPT 63
3.3.2.1 Ý nghĩa 63
3.3.2.2 Nội dung giải pháp 64
3.3.2.3 Cách thực hiện 65
3.3.3 Cải tiến hoạt động bồi dưỡng ĐNGV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình GDPT 67
3.3.3.1 Ý nghĩa 67
Trang 63.3.3.2 Nội dung giải pháp 67
3.3.3.3 Cách thực hiện 70
3.3.4 Tăng cường các điều kiện vật chất, tài chính cho việc cải thiện điều kiện làm việc, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ giáo viên 72
3.3.4.1 Ý nghĩa 72
3.3.4.2 Nội dung giải pháp 72
3.3.4.3 Cách thực hiện 73
3.3.5 Xây dựng cơ chế quản lý đội ngũ giáo viên, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên 74
3.3.5.1 Ý nghĩa 74
3.3.5.2 Nội dung giải pháp 75
3.3.5.3 Cách thực hiện 76
3.3.6 Xây dựng văn hóa tổ chức trong nhà trường; thường xuyên duy trì phong trào thi đua; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở 78
3.3.6.1 Ý nghĩa 78
3.3.6.2 Nội dung giải pháp 78
3.3.6.3 Cách thực hiện 79
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 81
3.5 Đánh giá sự nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp được đề xuất .83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN V N ả
Trang 7LỜ CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Võ Thị Minh Phương
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BD CNH, HĐH CBQL CNN CNTT
CT
ĐT ĐTB
ĐN ĐNGV
GD GD&ĐT
GD THCS GDPT
GV
GV THCS
HS KT-XH
QL QLGD THCS
SP
: Bồi dưỡng : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa : Cán bộ quản lí
: Chuẩn nghề nghiệp : Công nghệ thông tin : Chương trình
: Đào tạo : Điểm trung bình : Đội ngũ
: Đội ngũ giáo viên : Giáo dục
: Giáo dục và Đào tạo : Giáo dục trung học cơ sở : Giáo dục phổ thông : Giáo viên
: Giáo viên trung học cơ sở : Học sinh
: Kinh tế - xã hội : Quản lí
: Quản lí giáo dục : Trung học cơ sở : Sư phạm
Trang 112.4 Cơ cấu theo chuyên môn của ĐNGV từ năm 2015-2016 đến
2.7 So sánh ý kiến của CBQL và giáo viên về ý nghĩa cần thiết
của việc quản lý và phát triển đội ngũ giáo viên THCS 382.8
So sánh ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về sự
cần thiết để quản lý và phát triển đội ngũ giáo viên THCS
đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
39
2.9 Kết quả khảo sát đánh giá tiêu chuẩn “Phẩm chất chính trị,
2.10 Kết quả khảo sát đánh giá tiêu chuẩn “Năng lực tìm hiểu đối
2.11 Kết quả khảo sát đánh giá tiêu chuẩn “Năng lực dạy học” 422.12 Kết quả khảo sát đánh giá tiêu chuẩn “Năng lực dạy học” 432.13 Kết quả khảo sát đánh giá tiêu chuẩn “Năng lực hoạt động
2.14 Kết quả khảo sát đánh giá tiêu chuẩn “Năng lực phát triển
2.15a Ý kiến đánh giá của CBQL và giáo viên về các biện pháp
quản lý và phát triển đội ngũ giáo viên THCS 47
2.15b So sánh ý kiến đánh giá của CBQL và giáo viên về thực trạng
các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS 48
2.16a Đánh giá của CBQL và giáo viên về thực trạng các bước thực
hiện “Xây dựng văn hóa tổ chức” trong trường THCS 502.16b
So sánh ý kiến đánh giá của CBQL và giáo viên về thực trạng
các bước thực hiện “Xây dựng văn hóa tổ chức” trong trường
THCS
51
Trang 12Số hiệu
3.1a Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về tính cần
3.2b So sánh ý kiến đánh giá giữa cán bộ quản lý và giáo viên về
tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 84
Trang 13
MỞ ĐẦU
1 Lý do ch n đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ mà trí tuệ con người đóng vai trò quyết định đối với sự tiến
bộ cũng như tốc độ phát triển của nền văn minh nhân loại Con người được coi là vị trí trung tâm, là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao sức cạnh tranh cho mỗi quốc gia Vì vậy, trong xu thế hội nhập, đòn bẩy giúp cho nhiều quốc gia có những bước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc chính là phát triển Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT)
Nhận thức được vai trò và vị trí của giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng sự nghiệp GD&ĐT, coi đây là lĩnh vực then chốt, tạo điều kiện cho GD&ĐT thực hiện sứ mệnh đi trước, đón đầu và chuẩn bị cho đội ngũ giáo viên hiện nay đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Việc đặt con người vào trung tâm của sự phát triển khiến giáo dục phải rà soát lại
nhận thức về mục tiêu: từ “học để biết” sang nhấn mạnh “học để làm” rồi “học để
cùng chung sống” và “học để làm người”, có nghĩa là khuyến khích sự phát triển đầy
đủ, nhất là tiềm năng sáng tạo của con người, vì lợi ích của bản thân và của dân tộc Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và
xu hướng toàn cầu hoá, để phát triển, các quốc gia cần phải khai thác, sử dụng tốt nguồn lực con người Chất lượng nguồn lực con người phụ thuộc vào chất lượng GD&ĐT, chất lượng GD&ĐT lại phụ thuộc trước hết vào đội ngũ nhà giáo "Muốn có một nền giáo dục tốt cần phải có những người giáo viên tốt" Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã dạy: “Người thày giáo có nhiệm vụ vẻ vang là đào tạo con em nhân dân thành chủ
nhân tương lai của đất nước vì vậy người thày giáo phải xứng đáng là thày giáo” và Người
nhắc nhở " cần phải xây dựng tập thể đội ngũ những người thày giáo phải có phẩm chất
cách mạng"
Người giáo viên giữ vai trò quyết định đối với quá trình dạy và học, một lực lượng có “chức năng đặc biệt” chi phối và định hướng cho nguồn nhân lực tương lai của đất nước Giáo viên thông qua các hoạt động giảng dạy và giáo dục góp phần cung cấp những kiến thức cơ bản cần thiết cho học sinh Đồng thời, cũng chính giáo viên là người có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hình thành nhân cách các công dân trẻ tuổi Chính vì thế, báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Khoá IX đã nêu: “Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đủ sức đủ tài cùng với đội ngũ nhà giáo và toàn xã hội chấn hưng nền giáo dục nước nhà” và “chú trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống của nhà giáo” Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quyết định
09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định “ Mục tiêu là xây dựng đội ngũ
Nhà giáo và cán bộ quản lý theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ
Trang 14ề số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của Nhà giáo ” Do đó, phát triển đội ngũ giáo viên được
xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển giáo dục hiện nay
Trong hệ thống giáo dục phổ thông thì cấp học Trung học cơ sở (THCS) đóng vai trò quan trọng, là yếu tố cơ bản của giáo dục phổ thông, tiếp bước cho nền tảng giáo dục tiểu học, giáo dục cấp THCS như là cầu nối cho những bước chân bắt đầu chập chững vào đời Có thể coi phát triển giáo dục THCS là tiền đề, là khâu quan trọng để thực hiện phát triển Mục tiêu của giáo dục THCS đến năm 2020 là thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mĩ, cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và
có tính hướng nghiệp, tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực; hoàn thành phổ cập THCS trong cả nước Chính vì vậy, yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên THCS là nhiệm vụ hết sức quan trọng, là yêu cầu bức thiết trong việc thực hiện chủ trương đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy theo tinh thần Nghị quyết 40/2000/QH của Quốc hội
Nhìn lại đội ngũ giáo viên THCS trong nhiều thập kỷ qua, ngành ta tự hào có rất nhiều nhà giáo tâm huyết với nghề, luôn tận tâm với thế hệ trẻ, miệt mài bên trang giáo
án Tuy nhiên vẫn phải thừa nhận rằng hiện nay còn một bộ phận chưa làm tròn trách nhiệm của người giáo viên, khi giảng dạy còn nặng về nhồi nhét, truyền thụ kiến thức theo con đường mòn, chưa phát huy tính sáng tạo của học sinh
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả GD&ĐT, đổi mới công tác quản lí là khâu đột phá, có tính then chốt và quyết định Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên (ĐNGV) đặt ra như một yêu cầu cấp bách hàng đầu của việc tiếp tục đẩy mạnh đổi mới giáo dục – đào tạo hiện nay Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí là khâu then chốt” Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của vai trò giáo viên, nhất là giáo viên giảng dạy cấp THCS, trong những năm qua Phòng GD&ĐT quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng luôn bám sát đường lối công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước, có sự vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn địa phương nên công tác xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên đã có sự chuyển biến mạnh mẽ Giáo dục THCS quận Hải Châu tuy có quy
mô lớn, với ĐNGV đông đảo, cơ cấu trình độ đa dạng, được đào tạo từ nhiều nguồn với nhiều loại hình đào tạo khác nhau, nên một bộ phận giáo viên THCS hiện nay còn hạn chế về năng lực sư phạm, kiến thức chuyên môn, phương pháp, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng tổ chức quá trình đào tạo
Trong thực tế hiện nay, qua quá trình cải cách hành chính, sắp xếp lại bộ máy nhân sự, tinh giảm biên chế, đội ngũ nhà giáo trong cả nước nói chung và tại ngành GD&ĐT quận Hải Châu với đội ngũ giáo viên bậc THCS nói riêng còn nhiều bất cập Nguyên nhân cơ bản là do công tác tuyển dụng, sử dụng thiếu tính đồng bộ, năng lực
Trang 15chuyên môn chưa tương xứng với bằng cấp đào tạo, chưa chuẩn bị cho giáo viên về mặt lý luận chính trị cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ Mặt khác, việc bố trí, công tác luân chuyển đội ngũ giáo viên có nơi có lúc chưa hợp lý, chưa đảm bảo tiêu chuẩn của người giáo viên trong thời kỳ mới Cụ thể là đội ngũ giáo viên cấp THCS trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng còn thiếu so với nhu cầu, số lượng giáo viên có trình độ chuyên môn, trình độ quản lý tốt còn ít, tính chuyên nghiệp của đội ngũ giáo viên chưa cao, đặc biệt trong tham mưu, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Nhìn chung, ĐNGV quận Hải Châu chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT)
Vì vậy, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên các trường THCS quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay là rất quan trọng đối với ngành GD&ĐT quận nhà Xuất phát từ các lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: ản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” để nghiên cứu với mong muốn góp phần nâng
cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo tại thành phố Đà Nẵng nói chung và tại quận Hải Châu nói riêng
2 M c đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng tình hình đội ngũ giáo viên từ đó đề xuất giải pháp về công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS ở quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng
bộ về cơ cấu đồng thời tạo được sự đồng thuận trong xã hội, trong đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở ở quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở ở quận Hải Châu thành phố
Đà Nẵng
4 Giả thuyết khoa h c
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo quận Hải Châu sẽ phát triển hơn, chất lượng giáo dục sẽ được nâng cao, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nếu đội ngũ giáo viên THCS ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích và giả thuyết khoa học đã được xác định, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
5.1 Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận quản lý, hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới quản lý giáo dục; về quản lý nguồn nhân lực, quản lý đội ngũ giáo viên; về
Trang 16xây dựng và phát triển đội ngũ
5.2 Tìm hiểu, phân tích thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS trên địa bàn quận Hải Châu
5.3 Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục
6 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tiến hành nghiên cứu tại 10/10 trường THCS trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng: Trường THCS Trưng Vương, THCS Kim Đồng, THCS Tây Sơn, THCS Lý Thường Kiệt, THCS Trần Hưng Đạo, THCS Sào Nam, THCS Nguyễn Huệ, THCS Lê Thánh Tôn, THCS Lê Hồng Phong, THCS Hồ Nghinh
- Đề tài nghiên cứu thực trạng đội ngũ giáo viên THCS ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng từ năm 2015 đến năm 2018 và đề xuất biện pháp quản lí của Phòng GD&ĐT về phát triển đội ngũ giáo viên THCS ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, chứng minh cho giả thuyết của đề tài, tác giả sử dụng hai nhóm phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tiến hành nghiên cứu, phân tích các tài liệu có liên quan đến công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS; những văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, và các văn bản chỉ đạo của Ngành Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, tổng kết kinh nghiệm về công tác quản lý phát triển đội ngũ, tác giả sẽ tham khảo, phân tích thêm các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các nhà lý luận chính trị, các nhà quản lý giáo dục, tâm lý giáo dục và các nhà giáo có kinh nghiệm để xây dựng cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng Anket
+ Tác giả xây dựng phiếu điều tra dùng để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý cấp Sở, Phòng GD&ĐT, Cán bộ quản lý các trường THCS trên địa bàn quận, nhằm thu thập số liệu đánh giá việc sử dụng các biện pháp quản lý của Phòng GD&ĐT và công tác quản lý của Hiệu trưởng
+ Hệ thống câu hỏi ở mỗi loại phiếu điều tra được xây dựng trên cơ sở khoa học quản lý và trong thực tiễn công tác Các câu hỏi được xây dựng mang tính logic từ khái quát đến cụ thể, phù hợp với mục đích nghiên cứu nhằm khai thác những thông tin cần thiết về đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn
Tác giả trực tiếp phổng vấn với lãnh đạo các cấp; các nhà khoa học, các nhà giáo
ưu tú, các nhà giáo lão thành, cán bộ quản lý có kinh nghiệm, đồng thời tổ chức phỏng vấn, trò chuyện với giáo viên để nắm bắt thêm tình hình thực tế về năng lực chuyên
Trang 17môn, thực trạng các hoạt động của ĐNGV THCS trên địa bàn quận
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Thu thập dữ liệu từ các báo cáo, tổng kết kinh nghiệm tiên tiến
- Phương pháp thống kê toán học
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu điều tra, định lượng chính xác cho từng nội dung, nâng cao tính thuyết phục của các số liệu được nêu trong luận văn
8 Cấu trúc luận v n
Luận văn được cấu trúc gồm:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung, gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Chương 2: Thực trạng đội ngũ giáo viên THCS và công tác phát triển đội ngũ giáo
viên ở các trường THCS quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS trên địa bàn
quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
- Kết luận và khuyến nghị
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
1.1 T ng quan về nghiên cứu vấn đề quản lý phát triển i ng giáo viên trung
h c cơ sở
Lịch sử đã chứng minh rằng, để tồn tại và phát triển ngay từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, con người đã liên kết nhau lại thành các nhóm nhằm chống lại sự tiêu diệt của thú dữ và thiên nhiên Trong quá trình đó đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, đồng thời cũng có khả năng điều khiển được mọi hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung Những người đó đã đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý các nhóm Như vậy, quản lý đã xuất hiện từ rất sớm, tồn tại
và phát triển đến ngày nay Hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phức tạp nên quản lý cũng đa dạng và phong phú Các Mác viết: “Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [3, tr 29-30]
Trong bất kỳ một lĩnh vực nào của xã hội thì giáo dục cũng là lĩnh vực liên quan mật thiết nhất tới sự phát triển toàn diện con người cũng như sự phát triển bền vững của một quốc gia
Một trong những quan điểm về phát triển giáo dục có giá trị cao ở Việt Nam là tư tưởng về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh Lúc sinh thời, Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta luôn luôn quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, một trong các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta là xoá bỏ mọi tệ hại của chính sách ngu dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với đồng bào rằng, giặc dốt cũng nguy hại như giặc đói Người xếp đầu tiên là giặc đói, thứ đến là giặc dốt, rồi cuối cùng mới đến giặc ngoại xâm Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “Phải làm cho dân tộc ta thành một dân tộc thông thái”, “làm sao ai cũng được học hành” Trong lời kêu gọi “Chống nạn thất học”, Người viết: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nhà nước và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến chất lượng giáo dục, đặc biệt là đội ngũ thầy cô giáo, Người đã chỉ rõ:
“Vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo” Đó là tư tưởng chiến lược để xây dựng và phát triển nền quốc học Việt Nam, sự nghiệp giáo dục của nước nhà.[21, tr 183]
Trang 19Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề xây dựng và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục Người từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, và “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Tư tưởng giáo dục của Người có một vị trí vô cùng quan trọng Đó là nguồn sáng soi đường cho sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua và
cả sau này
Ở Trung Quốc, để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, một trong những quyết sách mà Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh là: “Phải tìm mọi cách để giải quyết tốt vấn đề giáo dục, cho dù ở các mặt khác phải nhẫn nại một chút, thậm chí hy sinh một chút về tốc độ”, “kế hoạch lớn trăm năm phải lấy giáo dục làm gốc”, và
“Giáo dục phải phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo dục” [46, tr 8]
Nhật Bản đã nhiều lần cải cách giáo dục theo hướng hiện đại hoá và nhân văn hoá nên luôn xếp vào số những nước hàng đầu về chất lượng và hiệu qủa giáo dục Nền giáo dục Nhật Bản đã đóng góp vào sự thành công của công cuộc hiện đại hoá đất nước là điều không thể phủ nhận Bí quyết thành công do biết phát huy sức mạnh giáo dục, khai thác tối đa tiềm năng con người của Nhật Bản chính là bài học quý giá đối với các nước châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng trên con đường phát triển đất nước.[29, tr xii]
Qua những tư tưởng trên phần nào nói lên tầm quan trọng của thể chế xã hội đối với giáo dục trong mọi thời đại, đặc biệt là vai trò của giáo dục nói chung và của đội ngũ nhà giáo nói riêng
Ngày 22 tháng 10 năm 2009, Bộ GD&ĐT với Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ban hành Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, giáo viên phổ thông; không chỉ tạo cơ sở cho việc thiết kế chương trình đào tạo giáo viên, chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo mà còn là cơ sở để các GV tự đánh giá năng lực, phẩm chất của mình, là căn cứ để cán bộ quản lí giáo dục quản lí, phát triển ĐNGV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Trong chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục, đã có nhiều luận văn nghiên cứu vấn đề xây dựng và phát triển ĐNGV như:
- Nguyễn Sĩ Thư (2001), Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên của hiệu trưởng các trường phổ thông dân tộc nội trú trên đại bàn tỉnh Kom Tum
- Lê Thị Huyên (2012), Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học
cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
- Hồng Việt Trung (2013), Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường
trung học cơ sở huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng theo hướng chuẩn hóa
- Cao Nguyên Vũ (2016), Phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở đáp ứng
Trang 20yêu cầu chuẩn nghề nghiệp ở thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Tuy nhiên, các công trình đó chỉ chuyên sâu vào từng lĩnh vực nhất định của vấn
đề hoặc gắn với từng địa phương cụ thể mà chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
1.2 Các khái niệm cơ bản c a đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1 Khái niệm về quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định [54, tr 800]
“Quản lý” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lý” “Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển Như vậy, “Quản lý” là trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó
ổn định và phát triển
Chính sự đa dạng và phong phú của quản lý nên khi nói về quản lý, các nhà lý luận trong và ngoài nước đã có nhiều khái niệm khác nhau và tư tưởng quản lý cũng khác nhau Frederich Wiliam Taylor [1856-1915] được xem là cha đẻ của học thuyết khoa học quản lý, đã nhận định “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [26, tr 9], [27, tr 17], [32, tr 15]
Ngoài ra, các nhà khoa học như Harold Koontz, Paul Hersey và Ken Blanc Hard, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Quốc Thành, Nguyễn Quang Uẩn cũng đã đưa ra nhiều khái niệm về quản lý, từ các khái niệm về quản lý của các nhà khoa học trên, tác giả nhận thấy: trong quản lý có người chỉ huy, điều khiển Có người, đồ vật hoặc sự việc
bị chỉ huy, bị điều khiển Hai đối tượng này tác động qua lại và quy định lẫn nhau Trong quản lý phải có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung
Như vậy, quản lý bao gồm thanh lý cái đã qua, cái lỗi thời, cái lạc hậu, đồng thời thích ứng với cái hiện tại, vừa tiên liệu cái tương lai Từ đó theo tác giả: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt
ra trong điều kiện biến động của môi trường
Tóm lại Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, thông qua các cơ chế và chức năng thích hợp nhằm đạt được mục tiêu quản lý Do đó quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
Trang 211.2.1.2 Quản lí giáo dục
Theo M.Mechitizade nhà lý luận về quản lý giáo dục “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, mục tiêu,… nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [19]
Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của xã hội cũng như các qui luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em [11]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành của hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân”.[3]
Theo tác giả Trần Kiểm, đối với quản lí giáo dục ở cấp vi mô có hai khái niệm như sau:
Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục ở nhà trường [22]
Tóm lại có thể hiểu: Quản lí giáo dục là quản lý hệ thống giáo dục, là sự tác động
có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo quy luật khách quan, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn
1.2.1.3 Quản lí nhà trường
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới.” [31]
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [14]
Trang 22Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập của nhà trường [37]
Quản lí nhà trường cũng bao gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường
và hỗ trợ tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó
1.2.2 Đội ngũ giáo viên
1.2.2.1 Giáo viên
Giáo viên là nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp; là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc
các cơ sở giáo dục khác
- Vai trò và trách nhiệm của nhà giáo trong Luật Giáo dục quy định: Nhà giáo
giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học
- Nhà giáo có những tiêu chuẩn sau đây: Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt
trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề
nghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng
- Nhiệm vụ của nhà giáo theo Luật quy định: Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu,
nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục; gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học; không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học; các nhiệm vụ khác theo quy định pháp luật
- Quyền của nhà giáo: Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo; được đào tạo
nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; được hợp đồng thính giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nơi mình công tác; được bảo vệ nhân phẩm, danh dự; được nghỉ hè, nghỉ Tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ luật lao động
1.2.2.2 Đội ngũ giáo viên
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng” [54, tr 339]
Trang 23Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi, tuy nhiên ở một nghĩa chung nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp một số đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục đích xác định; họ làm việc theo kế hoạch
và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất và tinh thần cụ thể
- Độ ngũ giáo viên: là những nhà giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo
dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân
- Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở: là tập hợp người làm nhiệm vụ giảng dạy,
giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, giáo viên dạy các môn học, giáo viên tổng phụ trách Đội [8, tr 23]
1.2.3 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS
1.2.3.1 Khái niệm về phát triển
Theo từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”
Thuật ngữ phát triển (Development) có nhiều cách định nghĩa, xuất phát từ những cấp độ xem xét khác nhau Ở cấp độ chung nhất, “phát triển được hiểu là sự thay đổi hay biến đổi tiến bộ, là một phương thức của vận động, hay là quá trình diễn
ra có nguyên nhân, dưới những hình thức khác nhau như tăng trưởng, tiến hoá, phân hoá, chuyển đổi, mở rộng, cuối cùng tạo ra biến đổi về chất” [22, tr 43]
1.2.3.2 Phát triển đội ngũ giáo viên
Phát triển đội ngũ giáo viên chính là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục Phát triển nguồn nhân lực là làm tăng giá trị vật chất, giá trị tinh thần, đạo đức và giá trị thể chất cho con người
Phát triển đội ngũ giáo viên trong giáo dục chính là phát triển một tổ chức những người gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất đạo đức trong sáng, lành mạnh, năng lực chuyên môn vững vàng, có ý chí kiên định trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, biết giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, đồng thời có khả năng tiếp thu nền văn hoá tiến bộ của nhân loại.[36]
1.2.3.3 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
Từ hai khái niệm quản lý và phát triển trên ta có thể nêu lên một khái niệm có tính chất khái quát bao trùm là: Khái niệm quản lý và phát triển Bởi vì theo phép biện chứng duy vật thì mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan không có gì là
"nhất thành, bất biến", mà trong quá trình vận động đi lên cùng với thời gian nó luôn biến đổi không ngừng Theo cách hiểu về khái niệm quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý hay nói một cách khác là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến một tổ chức hay một chỉnh thể xã hội, chính trị, kinh tế, theo một phương hướng nhất định, làm cho tổ chức đó lớn mạnh không ngừng, làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ lượng đến chất, để cho chỉnh thể đó, tổ chức đó luôn phù hợp với thực tiễn, với sự vận động, phát
Trang 24triển của thế giới khách quan
Xét cho cùng, thì làm cho sự vật, hiện tượng biến đổi lại thuộc khái niệm phát triển Do vậy, hai khái niệm quản lý và phát triển tự bản thân nó không những bao hàm nhau, không tách rời nhau mà còn có mối quan hệ biện chứng với nhau Thực tiễn đã chứng minh rằng không thể trong quản lý mà không có phát triển và ngược lại trong phát triển không thể thiếu sự quản lý được
Như vậy, ta có thể hiểu quản lý phát triển đội ngũ giáo viên chính là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng giáo viên theo một phương hướng nhất định Làm cho đội ngũ giáo viên phát triển về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu tạo ra sự đồng thuận trong đội ngũ nhằm mục đích đưa tổ chức phát triển theo mục tiêu đã định
Yêu cầu đối v i đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi m i chương trình giáo dục phổ thông
1.3.1 Giáo dục trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân
Luật GD (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định: Giáo dục THCS được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến hết lớp 9 Học sinh vào lớp 6 phải hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, có tuổi là 11 tuổi Học sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở có thể học tiếp lên trung học phổ thông hoặc theo học các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và trung cấp
Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc
đi vào cuộc sống lao động Giáo dục THCS đảm bảo học sinh học hết THCS có tri thức phổ thông nền tảng, nhằm hình thành cơ sở cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Mục tiêu của giáo dục THCS là xây dựng bậc học lành mạnh, phát triển bền vững, về cơ bản đạt trình độ tiên tiến Với vị trí và tầm quan trọng của giáo dục THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân, Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII) về chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đã xác định: "Nâng cao chất lượng toàn diện bậc THCS" Quán triệt quan điểm
đó, Hội thảo "Chiến lược phát triển giáo dục THCS đến năm 2020" do Bộ GD&ĐT tổ chức vào tháng 11-1997 đã thống nhất các quan điểm làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển giáo dục THCS trong thời kỳ CNH-HĐH đó là: giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Giáo dục và đào tạo nhằm góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gắn với hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa; giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân; giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới là nền giáo dục đa dạng, lành mạnh và phát triển bền vững
Trang 251.3.2 Những nội dung về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông (thể hiện trong Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông năm 2015 của Chính phủ) có những nội dung đổi mới chính sau:
1.3.2.1 Chương trình giáo dục sẽ chuyển căn bản từ tập trung trang bị kiến thức,
kỹ năng sang phát triển phẩm chất và năng lực người học, đảm bảo hài hoà giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp
Thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh Chương trình hướng tới phát triển các năng lực chung
và các năng lực chuyên biệt liên quan đến từng lĩnh vực giáo dục/môn học/hoạt động trải nghiệm sáng tạo mà mọi học sinh đều cần có trong cuộc sống, đồng thời tạo điều kiện phát triển tốt nhất tiềm năng riêng của mỗi học sinh Xác định các mức độ khác nhau của mỗi năng lực tương thích với từng cấp học và từng lĩnh vực giáo dục/môn học/hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Tạo điều kiện để học sinh được phát triển hài hoà cả thể chất và tinh thần Thực hiện giáo dục toàn diện: đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản; rèn luyện, phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiết và định hướng nghề nghiệp Đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội
Mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực của chương trình mới được cụ thể hoá bằng chuẩn đầu ra Đối với giáo dục phổ thông, chuẩn đầu ra từng cấp học bao gồm hệ thống các phẩm chất, năng lực chung và năng lực chuyên biệt, trong đó mỗi năng lực được thể hiện thông qua các tiêu chí, các biểu hiện cụ thể, được sắp xếp theo một lôgic hợp lý Đối với các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo, chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng cần cụ thể, chi tiết đến cấp, lớp; chuẩn đầu ra về năng lực cần cụ thể đến mức độ nhất định làm cơ sở cho việc lựa chọn và cấu trúc nội dung khi biên soạn sách giáo khoa, xác định phương pháp và hình thức giáo dục, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục
Xác định nội dung cốt lõi của giáo dục phổ thông trong từng môn học theo từng cấp học phù hợp với chuẩn đầu ra làm căn cứ cho việc biên soạn sách giáo khoa, dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục
1.3.2.2 Nội dung chương trình đảm bảo chuẩn hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế; đảm bảo tính chỉnh thể, linh hoạt, thống nhất trong và giữa các cấp học; tích hợp
và phân hoá hợp lý, có hiệu quả
Đảm bảo kế thừa những thành tựu của Việt Nam và vận dụng hợp lý kinh nghiệm quốc tế về phát triển chương trình Theo tinh thần này chương trình mới sẽ chủ yếu là
kế thừa, có phát triển chương trình hiện hành ở cấp tiểu học nhưng thiết kế mới ở cấp trung học cơ sở và thay đổi căn bản chương trình cấp trung học phổ thông; sẽ ít thay đổi về nội dung và hình thức dạy học nhưng sẽ tăng cường và thay đổi căn bản nội
Trang 26dung và hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục mang tính trải nghiệm sáng tạo Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng đảm bảo tiếp nối từ chương trình giáo dục mầm non, đồng thời tạo nền tảng cho chương trình giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; đảm bảo liên thông giữa chương trình cấp học, lớp học, giữa các môn học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo và trong mỗi môn học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi và trình độ nhận thức của học sinh; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Nội dung giáo dục được lựa chọn là những tri thức cơ bản, đảm bảo vừa hội nhập quốc tế, vừa gắn với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đề cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Cải tiến nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục công dân theo hướng coi trọng các giá trị cơ bản, cốt lõi và nhân văn của đạo lý dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại; giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mỹ nhằm phát triển hài hoà thể chất và tinh thần, phát huy năng khiếu và hứng thú riêng của từng học sinh Dạy học ngoại ngữ, tin học theo hướng đáp ứng nhu cầu sử dụng trực tiếp của người học
Chương trình được xây dựng theo một chỉnh thể, nhất quán từ lớp 1 đến lớp 12,
từ cấp học đến các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Thiết kế chương trình theo hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (gồm chương trình cấp tiểu học và chương trình cấp trung học cơ sở) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (chương trình cấp trung học phổ thông)
Nội dung giáo dục được thiết kế theo hướng tăng cường tích hợp ở giai đoạn giáo dục cơ bản, phân hoá rõ dần từ cấp tiểu học đến cấp trung học cơ sở và sâu hơn ở cấp trung học phổ thông
Giảm số lượng môn học bắt buộc trong mỗi cấp học, lớp học và tăng số lượng các môn học, các chuyên đề học tập tự chọn đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực, kỹ năng, năng khiếu, định hướng nghề nghiệp của học sinh
Học sinh được tự chọn môn học và chuyên đề học tập theo quy định của chương trình, đáp ứng nguyện vọng cá nhân phù hợp với khả năng đáp ứng trong từng giai đoạn phát triển của nhà trường
1.3.2.3 Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập của người học
Học sinh tự tìm tòi kiến thức, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực thông qua các hoạt động học tập dưới sự chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của giáo viên; học sinh được trình bày và bảo vệ ý kiến của mình, được lắng nghe
Trang 27và phản biện ý kiến của bạn, nhất là khi tham gia các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo; khắc phục lối truyền đạt áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc
Khuyến khích và tạo điều kiện cho việc chuyển hình thức tổ chức giáo dục từ chủ yếu là dạy học trên lớp sang đa dạng hoá hình thức học tập, đồng thời với dạy học trên
lớp phải chú trọng các hoạt động xã hội và nghiên cứu khoa học
Cân đối giữa dạy học và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo; giữa hoạt động tập thể, nhóm nhỏ và cá nhân; giữa dạy học bắt buộc và dạy học tự chọn để đảm bảo hiệu quả của việc giáo dục đạo đức, lối sống và rèn luyện kỹ năng cho học sinh, vừa đảm bảo chất lượng giáo dục chung, vừa phát triển tiềm năng của cá nhân người học Tăng cường hiệu quả của các phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ đổi mới việc lựa chọn và thiết kế nội dung, phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học
Tạo điều kiện cho học sinh được học tập qua các nguồn học liệu đa dạng, phong phú trong xã hội, nhất là qua Internet Từ đó phát triển năng lực tự học và chuẩn bị tâm thế cho học tập suốt đời
1.3.2.4 Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
Thi, kiểm tra, đánh giá có vai trò kép: tạo động lực và điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học, hoạt động quản lý giáo dục; xác nhận sự tiến bộ và thành tích học tập theo chuẩn đầu ra được quy định trong chương trình giáo dục
Vì vậy, đánh giá chất lương giáo dục phải phản ánh mức độ đạt chuẩn chương trình (của cấp học, môn học); phải cung cấp thông tin đúng, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh
Thực hiện đa dạng phương pháp đánh giá như quan sát, vấn đáp, kiểm tra viết trên giấy, trình bày báo cáo, dự án học tập Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của học sinh; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng gọn nhẹ, giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
Ngoài việc đánh giá năng lực từng học sinh, bổ sung thêm các hình thức đánh giá chất lượng giáo dục ở cấp quốc gia, cấp địa phương và tham gia các kỳ đánh giá của quốc tế
để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục phổ thông
1.3.2.5 Quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh
Chương trình phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với sự phát triển năng lực đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục của trường phổ thông Những
Trang 28trường chưa đầy đủ điều kiện, về cơ bản vẫn có thể vận dụng thực hiện được, cho dù kết quả có thể hạn chế trong một vài năm đầu; những năm sau phải đủ điều kiện để triển khai có hiệu quả chương trình mới
Trên cơ sở chuẩn đầu ra và nội dung cốt lõi của chương trình giáo dục phổ thông, xác định mục tiêu, nội dung giáo dục của trường trung học phổ thông chuyên (giáo dục toàn diện đồng thời phát triển cao nhất năng khiếu riêng của mỗi học sinh), trường trung học phổ thông kỹ thuật (đảm bảo nội dung cốt lõi chương trình giáo dục phổ thông đồng thời đạt trình độ sơ cấp hoặc trung cấp nghề) và chương trình giáo dục thường xuyên (bổ túc văn hoá - đảm bảo nội dung cốt lõi chương trình giáo dục phổ thông, phát huy và phù hợp với kinh nghiệm cuộc sống và công việc của học viên) Nội dung giáo dục phải phù hợp với thời lượng dạy học: Ở cấp tiểu học, học cả ngày ở trường nhưng có hướng dẫn vận dụng cho những cơ sở giáo dục chỉ có điều kiện dạy học một buổi trong ngày; ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông, học một buổi trong ngày nhưng có hướng dẫn vận dụng cho những cơ sở giáo dục có điều kiện dạy học cả ngày
Dựa trên mục tiêu, chuẩn và nội dung chương trình thống nhất toàn quốc, đảm bảo quyền linh hoạt của các địa phương và nhà trường Chuyển từ việc các nhà trường thực hiện rập khuôn chương trình sang trao quyền cho các địa phương tự chủ trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng chương trình của quốc gia trong đó có quy định chuẩn đầu ra, những nội dung cốt lõi và yêu cầu bắt buộc (phần cứng) đồng thời dành thời lượng (khoảng 20%) để các địa phương và nhà trường vận dụng, bổ sung nội dung và điều chỉnh kế hoạch giáo dục cho phù hợp với điều kiện của mình Dựa trên chương trình do cấp trên quy định, nhà trường và giáo viên được quyền
tự chủ, sáng tạo về nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục; các cơ quan quản lý giáo dục địa phương (sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục
và đào tạo) hướng dẫn, giám sát các nhà trường quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục hàng năm của nhà trường
1.3.2.6 Thực hiện chủ trương một chương trình, nhiều sách giáo khoa
Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình giáo dục phổ thông để sử dụng thống nhất trong toàn quốc
Công khai các yêu cầu, tiêu chí đánh giá sách giáo khoa để làm căn cứ cho việc biên soạn, thẩm định, phê duyệt và sử dụng sách giáo khoa
Tất cả sách giáo khoa phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định và phê duyệt trước khi sử dụng trong các cơ sở giáo dục phổ thông; có thể có nhiều sách giáo khoa được phát hành sau khi thẩm định
Các nhà trường tổ chức lựa chọn sách giáo khoa phù hợp với điều kiện của mình trong số sách giáo khoa đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định, phê duyệt
Đa dạng hoá các tài liệu dạy học; giáo viên và học sinh có thể vận dụng tư liệu từ
Trang 29nhiều nguồn khác nhau, nhiều cách tiếp cận, học tập khác nhau để đạt được mục tiêu
và chuẩn của chương trình
Phát triển các loại tài liệu hướng dẫn, hỗ trợ dạy và học phù hợp với từng loại đối tượng, đáp ứng sự đa dạng vùng miền; đặc biệt chú trọng các tài liệu hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số và học sinh sống ở các vùng khó khăn, biên giới, hải đảo, học sinh khuyết tật
Từng bước biên soạn thử nghiệm và sử dụng sách giáo khoa điện tử ở những nơi
có đủ điều kiện
Chính vì vậy, để đáp ứng yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực, tăng cường khả năng hợp tác, cạnh tranh cho hội nhập quốc tế và góp phần vào công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục cần ĐNGV có các đặc trưng để đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
1.3.3 Những đặc trưng cơ bản của GV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Điều 15, Luật Giáo dục đã nêu: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học” Ý thức, lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo là điều kiện không thể thiếu để mang lại hiệu quả giáo dục
Các văn kiện của Đảng trong các kỳ Đại hội đều nhấn mạnh tới việc xây dựng
mô hình nhân cách của con người Việt Nam trong thời đại CNH, HĐH tập trung vào 5 yếu tố cơ bản: là con người nhân văn-xã hội; là con người công nghệ; là con người năng động thích nghi cao; là con người có đủ sức khỏe, thể lực; là con người sáng tạo
Từ mô hình con người với 5 yếu tố trên, GV THCS hiện nay vừa mang đặc điểm chung đó, vừa có những đặc điểm riêng GV THCS phải là người có tấm lòng thiết tha, hứng thú với nghề nghiệp, yêu nghề, hết lòng yêu thương học sinh, năng lực nghề nghiệp vững vàng
Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, tiêu chuẩn về năng lực chủ yếu của
GV THCS được thể hiện qua 4 thành tố: năng lực hiểu biết chuyên môn; năng lực tổ chức, quản lí đối tượng; năng lực chẩn đoán nhu cầu; năng lực hợp tác, hội nhập bình đẳng
Qua đó, chúng ta có thể xác lập một mô hình cấu trúc nhân cách mới của GV THCS trong hệ thống giáo dục, giáo dục THCS có vị trí đặc biệt quan trọng trong đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài đất nước bao gồm 4 dặc trưng sau:
Một là, GV THCS phải có giá trị là người có tố chất nhân cách – trí tuệ, tức là
phải có tri thức hiểu biết, có tinh thần khoa học luôn khám phá, đổi mới và luôn học tập không ngừng
Hai là, GV THCS phải có những giá trị phát triển hài hòa giữ con người và tự
nhiên
Ba là, GV THCS phải có những giá trị phát triển hài hòa giữ con người và xã hội,
Trang 30tạo sự hợp tác, quan tâm và đoàn kết giữa người dạy với người học, giữa gia đình và
xã hội
Bốn là, GV THCS phải có những giá trị khẳng định vị trí bản thân, nhận thức và
cải tạo thế giới xung quanh, không ngừng vươn lên hoàn thiện chính mình
Nhân cách của người GV THCS vừa được thống nhất với mô hình nhân cách chung của người GV nhưng với đặc thù lao động của GV THCS có những nét riêng biệt, phù hợp với bối cảnh hoạt động lao động trong xu hướng mới của GD hiện nay
và những yêu cầu cần thiết đối với một người GV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
1.3.4 Những yêu cầu cơ bản đối với đội ngũ GV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Trong giai đoạn hiện nay, GV THCS là một cá nhân trong xã hội, trước hết là một công dân mẫu mực Họ phải có nhân cách của người lao động sáng tạo, năng động, có tay nghề, có tâm hồn Nhân cách của người GV THCS phải đủ tầm để làm chủ quá trình giáo dục (đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài); nhân cách của người GV phải có những yêu cầu cao hơn, khác biệt hơn với nhân cách một người bình thường khác Đối tượng của GV THCS là học sinh (từ 11 đến 14 tuổi), mới bắt đầu hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, luôn nhạy cảm với mọi tác động bên ngoài, muốn hiểu biết, tìm tòi, khám phá… song đây cũng là giai đoạn khởi đầu trong quá trình hình thành nhân cách con người Vì vậy lao động của GV THCS không chỉ mang chức năng hình thành và phát triển mà còn chức năng dạy kiến thức phổ thông và hình thành nhân cách cho HS Mọi hoạt động của GV THCS không chỉ khép kín trong trường THCS mà người GV THCS phải biết dung hòa các mối quan hệ xã hội, đó là sự kết hợp chặt chẽ với chăm sóc và giáo dục trong gia đình, cộng đồng, hòa nhập với sự phát triển văn hóa xã hội ở địa phương Từ những phân tích trên, chúng ta
có thể nêu ra những yêu cầu đặt ra đối với người GV THCS trong thời kỳ đổi mới Trước hết mỗi GV THCS phải đáp ứng được CNN GV THCS:
Những yêu cầu về phẩm chất: Thiết tha, gắn bó với lí tưởng dạy học, có hoài bão
tâm huyết với nghề dạy học; có đạo đức nhà giáo, xứng đáng là tấm gương sáng cho
HS noi theo; có tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật, tinh thần phấn đấu và nhiệt huyết; biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; có ý thức tiếp thu tinh hóa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm nawnng dân tộc và con người Việt Nam; có ý thức phục
vụ, hòa hợp và chia sẻ với cộng đồng
Những yêu cầu về năng lực: Xuất phát từ yêu cầu đổi mới GD theo chúng tôi,
GV THCS là cần hội đủ 4 yếu tố:
* Năng lực hành động: tức là nói đến năng lực tổ chức hoạt động dạy học và GD của GV THCS
* Năng lực chủ thể hóa: Người GV THCS cần có tinh thần trách nhiệm cao thể hiện
ở chất lượng dạy học, ý thức học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ và
Trang 31hoàn thiện bản thân; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân đối với nghề GV THCS
* Năng lực xã hội hóa: Có năng lực thích ứng; có năng lực tư duy sáng tạo và tư duy dự báo; có ảnh hưởng tích cực đến cộng đồng, xã hội; có năng lực thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo trong cuộc sống xã hội; có khả năng vận động nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia vào sự nghiệp GD; có năng lực kết hợp việc dạy học, GD HS cùng với gia đình và xã hội vì lợi ích sự nghiệp GD
* Năng lực giao tiếp: Có kỹ năng ứng xử đối với bản thân; có năng lực trao đổi thông tin và thu nhận thông tin; có quan hệ đồng nghiệp và xã hội tích cực, có lợi cho
sự hợp tác và phát triển GD&ĐT; có sức khỏe tốt
Đối với ĐNGV THCS: GV (cá nhân) là yếu tố cơ bản, “tế bào” của ĐN (nguồn nhân lực) Khi tất cả GV đều đã đạt được các yêu cầu về cá nhân nêu ở trên, thì tất yếu
đã có được tiền đề cho một nguồn nhân lực mạnh Như vậy, yêu cầu về ĐNGV còn lại chủ yếu nằm ở khía cạnh của một tổ chức Theo lý thuyết nguồn nhân lực, dưới góc độ kinh tế đó là quy hoạch để có được sự đồng bộ về chất lượng, cơ cấu và số lượng; dưới góc độ GD thì tập trung vào công tác GD, ĐT, BD; dưới góc độ tâm lý và sự phát triển nhân cách và đời sống [28] Những yêu cầu đó là phù hợp với quan điểm của Đảng ta về chuẩn hóa, hiện đại hóa Từ đó, có thể đặt ra yêu cầu đối với ĐNGV THCS như sau:
- Chuẩn hóa, hiện đại hóa: tất cả GV trong ĐN đều đạt được các tiêu chuẩn cơ bản về “cá nhân”; đồng thời các yếu tố kinh tế, tâm lý, giáo dục, chính trị- xã hội đều
ở trạng thái tối ưu
- Bảo đảm tính xã hội hóa trong phát triển ĐN: có không khí học tập, trao đổi lẫn nhau; không khí thi đua, tự nguyện học tập suốt đời để mỗi một GV đều có cơ hội như nhau trong học tập, BD; phải có sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác
ĐT, BD GV; gắn nhà trường với thực tiễn cuộc sống
- Bảo đảm tính chất dân chủ hóa: cơ chế hoạt động của tổ chức phải tạo ra sự giải phóng cho cá nhân, phát huy trí tuệ của mỗi cá nhân trên tinh thần tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ Dân chủ hóa thể hiện toàn diện trên cả lĩnh vực ĐT, BD; tự tu dưỡng để phát triển cá nhân và cả trên mọi hoạt động quản lý, chuyên môn để thực thi quá trình GD
- Về tính chất tổng thể, đó phải là một ĐN đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu và có tính đồng thuận cao Tính đồng thuận được hiểu là sự biểu hiện cao của tinh thần đoàn kết, nhất trí trong ĐN
ững yêu cầu đối với đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
* Số lượng đội ngũ giáo viên THCS
Số lượng ĐNGV: ĐNGV THCS được xác định trên cơ sở số lớp học và định mức biên chế được quy định tại Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV
về việc Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập Việc xác định số lượng GV càn có cho một trường, một cấp học là giống nhau và
Trang 32theo công thức: (Đối với trường THCS dạy 1 buổi trong ngày)
Số lượng GV cần có = số lớp học x 1,9
Như vậy, muốn xác định được ngay số lượng GV cần có hàng năm của một trường hoặc cấp học nào đó trong thị xã, chúng ta sẽ căn cứ vào kế hoạch phát triển số lớp học Từ đó, căn cứ vào số GV hiện có; sau khi trừ đi số GV nghỉ bảo hiểm xã hội (BHXH), bỏ việc, chết, thuyên chuyển công tác và cộng thêm số GV được tiếp nhận ta
sẽ xác định được số GV cần bổ sung cho nhà trường hay cho cấp học Đó là cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo
Khi xem xét về số lượng GV, một nội dung quan trọng cần chú ý đó là những biến động liên quan đến sự chi phối việc tính toán số lượng Ví dụ: việc bố trí, sắp xếp đội ngũ, tình trạng sỉ số học sinh/lớp cũng như định mức về giờ dạy, định mức về lao động của
GV, chương trình môn học đều có ảnh hưởng đến việc chi phối đến số lượng ĐNGV
* Cơ cấu đội ngũ giáo viên THCS
Cơ cấu ĐNGV THCS cần phải được nghiên cứu trên các tiêu chí có liên quan đến các biện pháp phát triển đội ngũ:
- Cơ cấu ĐNGV theo chuyên môn:
Đó là tình trạng tổng thể về tỷ trọng GV của các môn học hiện có ở cấp THCS,
sự thừa, thiếu GV ở các môn học khác nhau Nếu các tỉ lệ này vừa phải, phù hợp với định mức quy định thì ta có được một cơ cấu chuyên môn hợp lý Nếu ngược lại thì ta phải đều chỉnh cho hợp lý, bằng không nó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động giáo dục
- Cơ cấu ĐNGV theo trình độ đào tạo:
Cơ cấu GV theo trình độ đào tạo chính là sự phân chia GV theo tỉ trọng ở các trình độ đào tạo Các trình độ đào tạo của GV THCS hiện nay có thể là: CĐSP, ĐHSP, thạc sĩ Xác định được một cơ cấu hợp lý về trình độ đào tạo và thực hiện các hoạt động liên quan để đạt đến cơ cấu đó cũng chính là biện pháp nâng cao chất lượng ĐNGV Số GV chưa đạt chuẩn đào tạo thì bắt buộc phải đào tạo lại để nâng lên chuẩn
- Cơ cấu ĐNGV theo độ tuổi:
Việc phân tích GV theo độ tuổi, nhằm xác định cơ cấu đội ngũ theo từng nhóm tuổi, là cơ sở để phân tích thực trạng, chiều hướng phát triển của tổ chức Từ đó để làm
cơ sở cho việc tuyển dụng và đào tạo, bổ sung
Đối với GV THCS, ta có thể cơ cấu nhóm tuổi theo các mốc sau: dưới 30 tuổi; từ 31-40 tuổi; từ 41-50 tuổi; từ 51-60 tuổi
- Cơ cấu giới tính của ĐNGV:
Thường thì ĐNGV THCS nữ luôn chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới Do vậy, phải tính đến việc bồi dưỡng thường xuyên, thời gian học tập của cá nhân, thời gian nghỉ dạy do sinh con, chăm sóc con khi bị bệnh, là các yếu tố có tác động đến chất lượng của đội ngũ, mà những yếu tố này phụ thuộc vào giới tính cá nhân Do đó, cơ cấu về giới tính của 2 đội ngũ khác nhau thì biện pháp liên quan đến từng địa phương cũng
Trang 33phải khác nhau Vì vậy, nghiên cứu cơ cấu giới tính đội ngũ để có những tác động cần thiết thông qua quản trị nhân sự, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của từng cá nhân
và của cả đội ngũ
* Chất lượng của đội ngũ giáo viên
Theo từ điển Tiếng Việt: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” Ví dụ: Nâng cao chất lượng giảng dạy, đánh giá chất lượng giáo dục
Theo định nghĩa của ISO 9000-2000 “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc”
Chất lượng ĐNGV là tổng hòa chất lượng của từng GV trong đội ngũ đó Chất lượng của từng GV được lượng hóa qua chuẩn nghề nghiệp của Bộ GD&ĐT ban hành theo TT30/2009 ngày 22/10/2009 bao gồm:
Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống (1) Phẩm chất chính trị; (2) Đạo đức nghề nghiệp; (3) Ứng xử với học sinh; (4) Ứng xử với đồng nghiệp; (5) Lối sống, tác phong;
Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục (1) Tìm hiểu đối tượng giáo dục; (2)Tìm hiểu môi trường giáo dục;
Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học (1) Xây dựng kế hoạch dạy học; (2) Đảm bảo kiến thức môn học; (3) Đảm bảo chương trình môn học; (4) Vận dụng các phương pháp dạy học; (5) Sử dụng các phương tiện dạy học; (6) Xây dựng môi trường học tập; (7) Quản lý hồ sơ dạy học; (8) Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Tiêu chuẩn 4: Năng lực giáo dục; (1)Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục; (2) Giáo dục qua môn học; (3) Giáo dục qua các hoạt động giáo dục; (4) Giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng; (5) Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục; (6)Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh
Tiêu chuẩn 5: Năng lực hoạt động chính trị, xã hội; (1)Phối hợp với gia đình học sinh và cộng đồng; (2)Tham gia hoạt động chính trị, xã hội
Tiêu chuẩn 6: Năng lực phát triển nghề nghiệp; (1)Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện; (2)Phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục
Đây chính là thước đo về năng lực của từng GV để tính được chất lượng của đội ngũ giáo viên Như vậy, chất lượng ĐNGV THCS được thể hiện ở phẩm chất, năng lực và trình độ chuyên môn được đào tạo
* Văn hóa tổ chức trong nhà trường
Nhà trường là môi trường văn hóa lí tưởng Văn hóa tổ chức trong nhà trường trước hết là văn hóa của ĐNGV Văn hóa tổ chức thực sự là động lực cho sự phát triển của mỗi nhà trường Bởi vậy, quan tâm xây dựng và phát triển văn hóa tổ chức trong mỗi nhà trường là con đường đúng đắn và hiệu quả để góp phần nâng cao chất lượng thực của mỗi nhà trường
Trang 34Các yếu tố tác động trong bối cảnh cần quan tâm đến việc xây dựng văn hóa tổ chức trong ĐNGV bao gồm: xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực; xây dựng đạo đức nhà giáo, tự học và sáng tạo; xây dựng văn hóa giao tiếp trong nhà trường; nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục; những hành vi nhà giáo không được làm; sự quan tâm của xã hội đối với giáo dục; ý thức thi đua trong học tập và giảng dạy; xu thế quản lý dân chủ, trật tự, kỷ cương trong nhà trường; sự mở rộng hợp tác và giao lưu…
Xây dựng văn hóa tổ chức nhà trường là yêu cầu ĐNGV ý thức phần việc của mình đảm trách, có tinh thần đoàn kết, gắn bó và có trách nhiệm vào sứ mệnh của tổ chức Vì vậy, xây dựng tốt văn hóa tổ chức trong nhà trường chính là nâng cao chất lượng và văn hóa nhà trường Hay nói cách khác chất lượng của ĐNGV sẽ được nâng cao, khả năng hoàn thành các nhiệm vụ sẽ cao hơn Điều này có ý nghĩa đối với vấn đề
nâng cao chất lượng ĐNGV trong các trường THCS
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, đây càng là vấn đề quan trọng và cần thiết với mọi nhà trường; đòi hỏi sự quan tâm chung và những kế hoạch, việc làm cụ thể trong một lộ trình chiến lược hợp lý, với không những các cấp lãnh đạo, quản lý
mà còn với tất cả mọi thành viên trong nhà trường
1.4 Phát triển đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi m i chương trình giáo dục phổ thông
1.4.1 Tiếp cận lý thuyết phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực (Human resources) hay còn gọi là "vốn con người" (Human capital) chính là nguồn lực con người, nhân tố con người trong một tổ chức, một tập hợp cụ thể Theo UNESCO: "Con người vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sự phát triển" và " Con người được xem như là một tài nguyên, một nguồn lực hết sức cần thiết"
Quản lý nguồn nhân lực là quá trình hoạch định nguồn nhân lực: tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực; sử dụng nguồn nhân lực; xây dựng cơ chế chính sách, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực nhằm làm cho đội ngũ nhân lực vững vàng để đáp ứng yêu cầu của tổ chức.[50] Phạm trù này thường được gọi là công tác tổ chức cán bộ
Quản lý nguồn nhân lực là một chức năng của nhà quản lý, thể hiện trong việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển các thành viên của tổ chức do mình phụ trách Quản lý nguồn nhân lực trong hệ thống giáo dục và đào tạo là quản lý đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên thuộc ngành Để quản lý tốt nguồn nhân lực ta cần phải thực hiện các nội dung sau:
1.4.1.1 Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực nhằm đảm bảo cho cơ quan, đơn vị
có đủ số lượng, chất lượng để bố trí một cách kịp thời và đúng chỗ nhằm thực hiện mục tiêu có hiệu quả Nội dung của việc hoạch định nguồn nhân lực đó là: Phân tích, đánh giá hiện trạng; dự báo, dự đoán được nguồn bổ sung, tuyển chọn, hướng phát
Trang 35triển để có kế hoạch bố trí, sắp xếp công việc, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ quản lý
1.4.1.2 Tuyển chọn
Một trong năm bài học kinh nghiệm lớn và cũng là tư tưởng chỉ đạo về phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm tới được thông qua trong Đại hội lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam đó là: “Phải tuyển chọn và bố trí đúng cán bộ đáp ứng được yêu cầu công việc; phải giao nhiệm vụ rõ ràng và quyền hạn tương xứng cho người đứng đầu từng tổ chức, từng đơn vị, kể cả quyền hạn về tổ chức bộ máy và nhân sự”.[16, tr 182] Tuyển chọn là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý nguồn nhân lực Tuyển chọn phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị; phải căn cứ vào
kế hoạch phát triển nguồn nhân lực về số lượng, chất lượng, về nhu cầu nhiệm vụ công việc Trong tuyển chọn cần phải công tâm, khách quan Cần sử dụng nhiều phương pháp để tuyển chọn như: phương pháp thi tuyển, phương pháp phỏng vấn, quan sát phát hiện năng khiếu; phương pháp thử nghiệm: thử nghiệm trí tuệ, tài năng, nghề nghiệp, tính cách, thử nghiệm trong thực tiễn
1.4.1.3 Sử dụng
Khéo dùng người thể hiện ở chỗ đặt người đúng việc, vì việc mà đặt người, chứ không phải vì người mà đặt việc Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn: “Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay, chỗ dở Ta phải dùng chỗ hay của người
và giúp người sửa chữa chỗ dở Dùng người cũng như dùng gỗ Người thợ khéo thì gỗ
to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được” Người còn phê phán: “Thường chúng
ta không biết tùy tài mà dùng người Thí dụ: Thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi mài dao, thành thử hai người đều lúng túng, nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”
Khéo dùng người còn thể hiện ở chỗ biết kết hợp các thế hệ một cách đúng đắn
“Hiện nay, trong đội ngũ cán bộ của Đảng, có cán bộ già, có cán bộ trẻ Cán bộ già là vốn quý của Đảng, họ có kinh nghiệm về mặt lãnh đạo, được rèn luyện, thử thách nhiều trong thực tế đấu tranh Nhưng cũng có một số cán bộ già đến một thời kỳ nào đấy là dừng lại, không tiến lên được, hay bám lấy cái cũ, không nhạy cảm với cái mới Còn cán bộ trẻ tuy chưa có một số ưu điểm như cán bộ già, nhưng họ lại hăng hái, nhạy cảm với tiếng nói, chịu khó học tập, cho nên tiến bộ rất nhanh Không nên coi thường cán bộ trẻ, coi thường cán bộ trẻ là không đúng Còn cán bộ trẻ không được kiêu ngạo, phải khiêm tốn học hỏi các đồng chí già” Muốn dùng người cho đúng phải hết sức khách quan, công tâm và đặc biệt, phải chống “tư tưởng địa phương chủ nghĩa”, “óc bè phái”, “óc hẹp hòi”
Phải “có gan cất nhắc cán bộ” Có gan tức là phải mạnh dạn Sở dĩ Người nói như thế vì chúng ta thường hay “rụt rè”, “quá khắt khe” trong việc đề bạt Có gan không có nghĩa là làm vội, làm ẩu, làm liều Người thường nói :“Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng Chẳng những xem xét công tác của họ, mà còn phải xem
Trang 36xét cách sinh hoạt của họ Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không Chẳng những xem xét họ đối với ta thế nào, mà còn phải xem xét họ đối với người khác thế nào Ta nhận họ tốt, còn phải xét số nhiều đồng chí có nhận họ tốt hay không Phải biết
ưu điểm của họ, mà cũng phải biết khuyết điểm của họ, không nên chỉ xem công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay”
Chủ trương “có lên, có xuống” trong công tác quản lý nguồn nhân lực là hoàn toàn đúng đắn Song theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là điều “vạn bất đắc dĩ” Người nói: “Cất nhắc cán bộ, không nên làm như giã gạo Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc
họ làm khá, lại cất nhắc lên Một cán bộ bị cất nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời”
1.4.1.4 Đào tạo, bồi dưỡng
Quy hoạch phải đi đôi với việc đào tạo, bồi dưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc nuôi dạy cán bộ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng Quan điểm, tư tưởng của Người về vấn đề phát triển đội ngũ trở thành kho tàng lý luận vô cùng quý giá, có ý nghĩa thực tiễn hết sức sinh động, mãi mãi là bó đuốc soi đường trong công tác quản lý phát triển đội ngũ của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.4.1.5 Đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc hoặc phẩm chất của đối tượng quản lý dựa trên những phân tích, những thông tin thu được, đối chiếu nó với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đưa đến những kết luận Đánh giá phải dựa trên những nguyên tắc sau:
- Đánh giá phải căn cứ theo mục tiêu và tiêu chuẩn; đánh giá phải đảm bảo tính khách quan; đánh giá phải đảm bảo tính toàn diện (tất cả các mặt từ trong ra ngoài ); đánh giá phải được thực hiện thường xuyên và có hệ thống
- Về phương pháp đánh giá cần thực hiện theo ba nhóm phương pháp sau đây: + Nghiên cứu và đánh giá qua hồ sơ, lý lịch, tiểu sử của bản thân họ
+ Đánh giá qua trò chuyện với họ, với quần chúng bằng các phương pháp như phỏng vấn, trưng cầu ý kiến
+ Đánh giá qua kết quả hoạt động về công việc và về quan hệ con người
Phải “hiểu rõ và đánh giá đúng cán bộ”, bởi vì, có hiểu rõ và đánh giá đúng mới
bố trí và sử dụng đúng người, đúng việc Có hiểu rõ và đánh giá đúng mới phát hiện ai
là người tốt, ai là người xấu, ai là người có tài và ai là kẻ bất tài Có hiểu rõ và đánh giá đúng thì việc cất nhắc, đề bạt mới tránh được những thiếu sót, sai lầm Có hiểu rõ
và đánh giá đúng mới kích thích được mặt tích cực và hạn chế được mặt tiêu cực trong
Trang 37bản thân mỗi con người
Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “Đánh giá cán bộ phải công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ” Trong đánh giá, cần thống nhất cách đánh giá giữa nhân cách với hành vi; cần nhìn con người trong sự phát triển đi lên; trong đánh giá cần đảm bảo tính lịch sử, đồng thời đánh giá phải toàn diện, về tư tưởng, đạo đức, lối sống, chuyên môn, sức khoẻ, kỹ năng, thực tiễn, kết quả công việc
1.4.1.6 Tạo lập môi trường hoạt động và phát triển cho giáo viên
"Tại Việt Nam, Chương trình giáo dục phổ thông mới đòi hỏi người giáo viên cần được trang bị kiến thức, kĩ năng và thái độ để thích nghi với nó Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển giáo viên có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đổi mới giáo dục lúc này Nó đòi hỏi các nhà nghiên cứu, giáo dục cần có sự xem xét và phát triển các chương trình đào tạo giáo viên sao cho phù hợp với những giá trị được theo đuổi
Để có thể xây dựng được những chương trình bồi dưỡng, phát triển giáo viên một cách phù hợp và hiệu quả, cần thiết phải có sự tìm hiểu về hoạt động bồi dưỡng, phát triển giáo viên trên thế giới, đặc biệt là từ những nước có nền giáo dục tiến bộ và thành công
Việc làm này giúp cho các nhà nghiên cứu, giáo dục có thể kế thừa, học hỏi những kinh nghiệm của họ đồng thời có thêm những cơ sở, căn cứ, ý tưởng để phát
triển chương trình bồi dưỡng giáo viên mới phù hợp với bối cảnh thực tế" - TS.Ngô Vũ
Thu Hằng (trường ĐHSP Hà Nội)
Hoạt động phát triển chuyên môn cho giáo viên được xem như là một phương
tiện nhằm nâng cao năng lực dạy học, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục, bao gồm:
+ Giáo viên nên được khuyến khích tham gia các khóa học bồi dưỡng và phát triển hoạt động giáo dục của mình Các cơ hội nên được trao cho giáo viên để đi tham quan, học hỏi về giáo dục ở các nước trên thế giới;
+ Các chương trình bồi dưỡng, tập huấn giới thiệu cho giáo viên cần cho giáo viên nhận thấy được những vai trò, vị trí, trách nhiệm mới Các khóa học quản lí được cung cấp cho giáo viên tiềm năng trở thành những giáo viên lãnh đạo;
+ Đầu tư xây dựng CSCV, các phòng học nên được xây dựng, trang bị với những công nghệ hiện đại và được hỗ trợ kinh phí, nhân lực đầy đủ, phù hợp
+ Các chương trình bồi dưỡng giáo viên được thiết kế nhằm cung cấp hoạt động đào tạo, tập huấn cho các giáo viên THCS nhằm nâng cao kĩ năng, năng lực chuyên môn và trình độ học thuật trong lĩnh vực của giáo viên Nó cũng nhằm giúp giáo dục bám sát với sự phát triển của thời đại và thực tiễn và chuẩn bị cho giáo viên trước những thách thức của thời kì toàn cầu hóa
+ Các khóa học cung cấp cho giáo viên có thể là: Phát triển chuyên môn thường xuyên cho giáo viên tại các cơ sở đào tạo giáo viên Các chương trình phát triển và bồi dưỡng ngắn hạn và liên tục dành cho giáo viên đứng lớp (kéo dài từ 1 đến 5 ngày)
Trang 38Chương trình phát triển và đào tạo giáo viên ngắn hạn và liên tục dành cho giáo viên
bộ môn Khoa học, Toán học, Công nghệ thông tin và Tiếng Anh
1.4.2 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Quản lý là quá trình xác lập và thực hiện các mục đích của tổ chức thông qua chức năng quản lý Phòng Giáo dục và Đào tạo và các trường THCS cũng phải căn cứ vào các chức năng quản lý để quản lý phát triển ĐNGV THCS theo các nội dung: đảm bảo về số lượng, tốt về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu Bên cạnh đó, còn quản lý công tác ĐT, BD và xây dựng tính đồng thuận của đội ngũ Tất cả những nội dung trên phải đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống chức năng quản lý:
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ĐNGV
Để thực hiện công tác phát triển ĐNGV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới CTGDPT có hiệu quả thì việc lập kế hoạch là vấn đề hết sức quan trọng Trong khâu lập kế hoạch thì dự báo là vấn đề cốt lõi Phòng GD&ĐT phải làm công tác dự báo trung hạn, dài hạn được số lớp, số lượng học sinh để từ đó làm cơ sở cho việc quy hoạch số lượng ĐN; Điều tra trình độ GV (lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ)
để lập kế hoạch bồi dưỡng GV về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ ĐT cho
GV Phân tích thực trạng nguồn nhân lực của cấp học nhằm lập kế hoạch bô sung GV đảm bảo số lượng GV theo quy định; lập kế hoạch xây dựng nhằm đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ và cân đối về cơ cấu đủ để thực hiện nội dung giáo dục theo chương trình và kế hoạch đào tạo Lập kế hoạch để phát triển ĐNGV THCS đáp ứng yêu cầu CNN phải đáp ứng các yêu cầu: Đủ về số lượng; đồng bộ về cơ cấu (chuyên môn đào tạo, trình độ đào tạo, độ tuổi, giới tính ); đảm bảo về chất lượng; dự báo những biến động về nhân sự và định hướng bổ sung; định hướng chuẩn hóa đến từng chức danh Phòng GD&ĐT phối hợp với các cơ quan ban ngành liên quan để chỉ đạo thực hiện quản lý phát triển ĐNGV THCS đáp ứng yêu cầu CNN với các nội dung phát triển ĐN, sử dụng ĐN và xây dựng môi trường phát triển ĐN
- Tuyển chọn, sử dụng GV để bổ sung và tăng cường nâng cao chất lượng GD
Việc tuyển chọn GV để đào tạo chuẩn, bổ sung vào ĐNGV của trường là một công tác quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình phát triển ĐNGV theo hướng dẩm bảo cho việc tăng nhanh về số lượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng cao
Phân công công tác đối với ĐNGV cần xác định nội dung về công tác tư tưởng,
về chuyên môn, về năng lực sư phạm, về năng lực quản lý đối với từng GV GV thực hiện hoặc đảm trách một công việc phải có mục đích cụ thể, rõ ràng, trong thời gian nhất định Người quản lý phải có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra
- Tác động vào chất lượng, ĐT, BD để nâng cao phẩm chất, năng lực cho ĐNGV
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, gía trị của một con người, một sự vật, sự việc” Chất lượng là khái niệm khó định nghĩa Có một quan điểm coi thuật ngữ chất lượng dùng để nói về thứ tuyệt hảo, hoàn mỹ
Trang 39Theo định nghĩa của ISO 9000-2000 “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố ngầm hiểu hay bắt buộc”
Chất lượng đội ngũ giáo viên là một khái niệm rộng, nó bao hàm nhiều yếu tố: Trình độ được đào tạo; sự hài hoà giữa chức vụ, ngạch bậc và trình độ được đào tạo; giữa phẩm chất đạo đức, kiến thức và kĩ năng sư phạm; sự hài hoà giữa nội dung công việc và vị trí phù hợp với năng lực mà nhân viên đang đảm nhận, thâm niên công tác
và trách nhiệm của nhân viên
Như vậy, chất lượng đội ngũ giáo viên được thể hiện ở phẩm chất, năng lực và trình độ chuyên môn được đào tạo
Công tác ĐT, BD GV là việc làm thường xuyên đối với cán bộ quản lý trường học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất chính trị cũng như việc nâng cao nhận thức Các nội dung, hình thức bồi dưỡng phổ biến:
+ ĐT, BD thường xuyên về chính trị tư tưởng, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực, đặc biệt là về giáo dục đào tạo + ĐT, BD thường xuyên về trình độ chuyên môn Cần phải tạo điều kiện cho ĐNGV tham gia học tập đầy đủ các chu kỳ bồi dưỡng thường xuyên theo quy định của ngành Ngoài ra GV phải có ý thức tự học tự bồi dưỡng thông qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo, dự giờ, thao giảng, trao đổi với đồng nghiệp thông qua sinh hoạt tổ, nhóm
+ Tổ chức các hội thảo chuyên đề, giới thiệu chuyên đề mới và khó, thực tiễn nhằm bổ sung cập nhật kiến thức cho GV
+ BD ĐNGV THCS đủ năng lực dạy học theo từng môn học và dạy học tích hợp + ĐT, BD về đổi mới phương pháp giảng dạy Việc đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những tiêu chí đánh giá tiêu chuẩn của GV hàng năm
+ Công tác ĐT trên chuẩn ĐNGV: Phòng Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch hàng năm cử GV đi học nhằm nâng cao trình độ đội ngũ, làm nòng cốt chuyên môn
- Kiểm tra, đánh giá GV theo CNN
Việc lấy CNN làm một trong những căn cứ để đánh giá sự phát triển của ĐNGV chính là giúp GV tự đánh giá về sự phát triển của mình Hiệu trưởng các trường THCS
là những người trực tiếp theo dõi, giám sát ĐNGV vì vậy Hiệu trưởng sẽ là lực lượng đánh giá trực tiếp hiệu suất làm việc của GV, đánh giá năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ; đánh giá tiềm năng và động cơ làm việc của GV Phòng GD&ĐT là cơ quan quản
lý cuối cùng ở cấp thị xã kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển ĐNGV để từ kết quả đó phòng GD&ĐT tiếp tục xây dựng kế hoạch phát triển ĐN Việc kiểm tra đánh giá sự phát triển của ĐNGV là việc làm thường xuyên, liên tục của nhà quản lý nhưng thời điểm cuối mỗi năm học chính là lúc có những kết quả chính xác để làm căn cứ xây dựng kế hoạch tiếp theo
Trang 40- Tác động vào xây dựng văn hóa tổ chức trong đội ngũ
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Xây dựng là làm cho hình thành một tổ chức hay một chỉnh thể về xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá theo một phương hướng nhất định” [54,
có tinh thần thi đua, khen thưởng và hợp tác
Như vậy, xây dựng văn hóa tổ chức để có thể tạo được động lực làm việc trong ĐNGV Xây dựng nhà trường trở thành môi trường có văn hóa chất lượng, xây dựng ĐNGV có chung tầm nhìn, quan điểm, phát huy sự nỗ lực của mỗi cá nhân trên con đường hoàn thiện chính bản thân để hướng đến mục tiêu của nhà trường về chất lượng giáo dục và các nhiệm vụ giáo dục khác Một khi tất cả mọi người trong tổ chức đều tự giác cùng nhau học tập và rèn luyện, hợp tác trong thực hiện công việc, hưởng ứng một cách nhiệt tình về chủ trương nâng cao chất lượng thì khi đó sẽ có môi trường văn hóa chất lượng
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ giáo viên THCS
1.5.1 Yếu tố chủ quan
Trình độ, năng lực, phẩm chất của ĐNGV; sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của GV;
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang rất cần nguồn GV có trình độ và chất lượng cao
Từ đó, đòi hỏi ĐNGV phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức
Có thể nói chất lượng và hiệu quả công tác phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu CNN phụ thuộc phần nhiều vào công tác của người QL đối với lĩnh vực này Trong công tác phát triển GV đáp ứng yêu cầu CNN, việc phân tích các năng lực của người
GV được căn cứ vào các hoạt động cơ bản trong nghề dạy học, lần lượt theo các công đoạn hành nghề của người GV Theo cách tiếp cận này, có thể trình bày các năng lực của người GV như: Năng lực tìm hiểu đối tượng, môi trường GD; năng lực xây dựng
kế hoạch dạy học và GD; năng lực thực hiện kế hoạch GD; năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả GD; năng lực hoạt động xã hội; năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn GD; năng lực phát triển nghề nghiệp
Trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay cần đặc biệt nhấn mạnh các năng lực chẩn đoán, đánh giá, giải quyết các vấn đề và cần chú ý những yêu cầu mới về năng lực thực hiện kế hoạch GD Với các năng lực đó, có thể ghép lại thành 5 nhóm năng lực như: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường GD; năng lực dạy học; năng lực GD; năng lực hoạt động chính trị, xã hội; năng lực phát triển nghề nghiệp