Cùng với một tâm hồn thi sĩ, được sống và làm việc, thử thách nhiều năm trong lĩnh vực sân khấu, trực giác thiên bẩm của thi sĩ đã mách bảo Lưu Quang Vũ tìm đến với thể loại kịch, để trở
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THẢO MY
ẨN DỤ BỔ SUNG TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 4/ 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Lí thuyết về ẩn dụ 7
1.1.1 Ẩn dụ dưới góc nhìn của Từ vựng học 7
1.1.2 Ẩn dụ dưới góc nhìn của Phong cách học 8
1.2 Ẩn dụ bổ sung từ cách lí giải của phong cách học 9
1.2.1 Khái niệm ẩn dụ bổ sung 9
1.2.2 Cơ chế và nguồn gốc các ẩn dụ bổ sung 10
1.3 Giới thiệu về cuộc đời, tác phẩm và phong cách ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ
12
1.3.1 Cuộc đời Lưu Quang Vũ 12
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ 14
1.3.3 Đặc điểm phong cách ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ 18
CHƯƠNG II THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ CÁC ẨN DỤ BỔ SUNG TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ 22
2.1 Các tiêu chí và kết quả thống kê phân loại 22
2.1.1 Tiêu chí thống kê phân loại 22
2.1.2 Kết quả thống kê phân loại 24
2.2 Đặc điểm hình thái - cấu trúc - ngữ nghĩa của ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang Vũ 33
2.2.1 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi thị giác 33
2.2.2 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi thính giác 35
Trang 32.2.3 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi khứu giác 37
2.2.4 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi vị giác 38
2.2.5 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi xúc giác 40
2.3 Tiểu kết chương 2 41
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ TU TỪ CỦA ẨN DỤ BỔ SUNG TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ 42
3.1 Nhận xét chung về giá trị diễn đạt và hiệu quả tu từ của ẩn dụ trong thơ 42
3.2 Giá trị diễn đạt và hiệu quả tu từ của ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang Vũ 43
3.2.1 Giá trị biểu cảm 43
3.2.2 Giá trị thẩm mĩ 48
3.2.3 Giá trị hình tượng 52
3.2.4 Giá trị nhận thức 55
3.3 Ẩn dụ bổ sung như là nhân tố phong cách thơ Lưu Quang Vũ 56
3.4 Tiểu kết chương 3 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 63
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong biết bao khuôn mặt thơ Việt Nam hiện đại, Lưu Quang Vũ nổi
bật lên như là một trong những hiện tượng thơ của thập niên 60 thế kỉ XX, khi
anh cùng Bằng Việt xuất in chung tập “Hương Cây - Bếp lửa” Trong dòng
chung của thơ ca kháng chiến chống Mỹ, Lưu Quang Vũ có một giọng điệu riêng, đã định hình một phong cách rõ nét Giữa dàn đồng ca của những tiếng thơ cùng thế hệ, thời kì đầu Lưu Quang Vũ đã góp một tiếng thơ sôi nổi, tươi mới, mát lành, có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển và đổi mới của thơ ca thời kì này
1.2 Sau tập “Hương cây”, thơ ca Lưu Quang Vũ cũng đã thay đổi ít
nhiều, những tươi vui ban đầu dần nhạt nhòa, thơ mang màu sắc thâm trầm, mang nhiều suy tư và dự cảm với cuộc đời, với số phận Chính vì thế đã có một thời gian những tập thơ của Lưu Quang Vũ được coi là không hợp với thời cuộc,
bị coi là lạc điệu, bị đặt sang một bên lề cuộc sống, không được công bố, công nhận Đến sau này, khi Lưu Quang Vũ mất đi, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quay lại nhìn nhận đúng đắn về thơ Lưu Quang Vũ, cùng với những nỗ lực của Lưu Khánh Thơ, các tập thơ đã được sưu tầm đầy đủ, tập hợp và công bố rộng rãi, được rất nhiều bạn đọc yêu mến đón nhận Có thể nói, những phần chưa công bố, phần riêng lạc điệu ấy mới chính là con người thật nhất, chân thành và tài hoa, tinh tế nhất của Lưu Quang Vũ, mà bạn đọc ít nhiều còn chưa biết tới
Đó là một tâm hồn thơ luôn “đắm đuối” với đời, với người; hồn thơ ấy khi cô đơn đến tột cùng, khi hạnh phúc đến rợn ngợp; hồn thơ ấy luôn nhạy cảm trước vạn vật, trước mọi biến chuyển của cuộc đời Thơ Lưu Quang Vũ chính vì lẽ ấy
Trang 5mà gây một ấn tượng mạnh, một số phận thơ khác biệt hẳn so với những bạn thơ cùng thời
Bắt nguồn từ tình yêu dành cho thơ ca và con người tài năng đặc biệt: Lưu Quang Vũ; khóa luận chọn hướng tiếp cận nghiên cứu thơ Lưu Quang Vũ từ góc nhìn ngôn ngữ học, thông qua các hình ảnh ẩn dụ bổ sung xuất hiện trong thơ
Để qua đó bước đầu khẳng định Lưu Quang Vũ như một cá tính thơ mạnh mẽ, một phong cách thơ sắc nét trong thơ ca Việt Nam thời kì hiện đại, giúp cho độc giả có cái nhìn sâu sắc và đa chiều hơn
2 Lịch sử vấn đề
Chặng đường thơ của Lưu Quang Vũ trải dài từ những năm kháng chiến chống Mỹ đến những năm tháng thời kì đất nước đổi mới và dừng lại khi Lưu Quang Vũ qua đời năm 1988 Không kể đến những vần thơ sáng tác từ thuở thiếu thời, Lưu Quang Vũ được giới văn nghệ cũng như cả nước biết tới với tập
thơ đầu tay in chung với Bằng Việt “Hương cây - Bếp lửa” năm 1968
Tiếp sau “Hương cây - Bếp lửa”, Lưu Quang Vũ có “Mây trắng của đời
tôi” (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993) và một số tập thơ đã tương đối hoàn
chỉnh “Cuốn sách xếp lầm trang”, “Cỏ tóc tiên” Mới đây, năm 2008, cuốn “Di
cảo Nhật kí – Thơ” cũng vừa ấn hành
Theo thời gian, mỗi tác phẩm của Lưu Quang Vũ ra đời kéo theo một sự chú ý, không chỉ của bạn đọc mà của giới phê bình nói chung Nhìn chung, Lưu Quang Vũ nhận được nhiều thiện cảm và kì vọng, sự động viên khích lệ cũng rất nhiều
-“Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật” cũng của Lưu Khánh
Thơ chủ biên, xuất bản năm 2000, ra đời nhân dịp Lưu Quang Vũ được nhà nước
Trang 6tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đã giới thiệu những bài viết của Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Vũ Quần Phương, Phạm Xuân Nguyên, Anh Ngọc, Hoàng Sơn… cho thấy đánh giá của giới phê bình về Lưu Quang Vũ từ rất nhiều góc độ Ngay từ
khi tập thơ Hương cây - Bếp lửa in chung với Bằng Việt (1968) ra đời, Lưu
Quang Vũ đã lập tức thu hút được sự chú ý của nhiều nhà phê bình danh tiếng Vương Trí Nhàn khẳng định Lưu Quang Vũ là “một nhà thơ thuộc loại bẩm sinh” [13, tr.63] Hoài Thanh đã gọi ông là “một cây bút nhiều triển vọng” [13, tr.22] Còn GS Lê Đình Kỵ thì cho rằng: “Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu hồn riêng” [13, tr.29] Nhà thơ Anh Ngọc cũng đã khẳng định: chỉ chiếm phần nửa trong tập Hương Cây - Bếp lửa, cũng đủ để Lưu Quang Vũ “có một vị trí vững vàng bởi một thơ dào dạt, một tài thơ sắc sảo với vẻ hồn nhiên đến như là ngẫu hứng, với mạch nguồn hình ảnh và từ ngữ đầy trực cảm và đột biến tuôn ra dường như bất tận” [13, tr.109]
-Cuốn “Đối thoại Tình yêu Xuân Quỳnh Lưu Quang Vũ”, ấn hành năm
2007, tuyển lựa những bài thơ đặc sắc nhất của cả Xuân Quỳnh và Lưu Quang
Vũ, những bài viết của giới phê bình về thơ của Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, và
cả những bức thư thấm đẫm ân tình của hai người “Đối thoại Tình yêu Xuân
Quỳnh Lưu Quang Vũ” như một cuộc đối thoại bằng thơ giữa Quỳnh và Vũ, đó
còn là lời đối thoại của họ với đời, với bạn đọc Những vần thơ ấy nồng nàn tình yêu, hạnh phúc lứa đôi, những tình cảm nồng cháy, nóng bỏng
Năm 2008, kỉ niệm 20 năm ngày mất của Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh,
cuốn “Di cảo Nhật kí – thơ” của Lưu Quang Vũ đã được Lưu Khánh Thơ biên
soạn và công bố một phần lớn những tác phẩm, cũng như bút tích của anh trong toàn bộ khối lượng Di cảo đồ sộ Những bài thơ và bút tích của Lưu Quang Vũ
Trang 7vừa gợi lại hồi ức một chặng đường lịch sử của đất nước vừa gợi niềm xót xa thương cảm cho số phận của một con người tài hoa
“Di cảo Nhật kí – thơ” còn là những lời kể, những tản mạn của người
thân về Lưu Quang Vũ; những lời kể ấy đã vẽ lại một cách chân thực con người
và tâm hồn Lưu Quang Vũ Trong những dòng chấp bút “Lan man nhớ một thời”
Bùi Vũ Minh đã nói thay lời của rất nhiều con người đã từng tiếp xúc với Vũ hay mới chỉ biết Vũ qua thơ và kịch: “Vũ đi xa lắm rồi, nhưng anh đã để lại bao điều không thể mất trong lòng những người yêu mến anh” [14, tr.325].Cùng với niềm tiếc thương vô bờ dành cho Lưu Quang Vũ, Anh Chi đã nói: “Thơ Lưu Quang
Vũ còn tươi ròng lâu dài trong lòng người đời Nhìn vườn cây trong phố Hà Nội, biết còn thơ anh; gặp mưa mù mịt, thương thơ anh bao nhiêu; gặp trẻ con cơ nhỡ, thấy trọng thơ anh quá; khi trời quá xanh trên đầu, lại yêu thơ Lưu Quang Vũ thật nhiều ” [14, tr.340]
Trong bài viết “Nhớ về Lưu Quang Vũ - những khoảnh khắc chợt hiện”,
Ngô Thảo nhớ lại nhiều kỉ niệm giữa những người đồng nghiệp với nhau, nhưng
có một nhận định về tác phẩm Lưu Quang Vũ, bao gồm cả kịch, thơ, văn xuôi rất thú vị có tính bao quát lớn: “Hai mươi năm chưa phải là dài, nhưng đất nước và thế giới đã có nhiều biến động về chính trị, xã hội khiến cho nhiều thước đo giá trị đã thay đổi, nhưng nhiều tác phẩm của Lưu Quang Vũ không sợ những thước
đo mới mẻ (tác giả luận văn nhấn mạnh): thấm đượm nhân văn, hướng thiện, đầy tình yêu với cuộc sống, con người, đất nước luôn là những giá trị nghệ thuật tôn trọng” [14, tr.314]
Việc nghiên cứu thơ Lưu Quang Vũ, cho đến nay, chưa có một chuyên luận chuyên sâu nào, ngoài một số đề tài khóa luận, luận văn thạc sĩ Hướng
Trang 8nghiên cứu các ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang Vũ, cho đến nay, vẫn còn là một đề tài hoàn toàn mới
Bên cạnh đó, lý thuyết về ẩn dụ cũng là một vấn đề được nhiều chuyên ngành quan tâm như từ vựng học, ngữ nghĩa học, phong cách học và đã thu được nhiều thành tựu Vấn đề ẩn dụ và ẩn dụ bổ sung được đề cập đến khá nhiều trong các giáo trình Đại học, Trung học của Đỗ Hữu Châu (1962), Đinh Trọng Lạc (1964), Cù Đình Tú (1975) và trong các công trình nghiên cứu văn học của các tác giả Hà Minh Đức (1974), Trần Đình Sử (1995), Lê Trí Viễn (1998)
Do đó, khóa luận này chỉ mong muốn tìm được một cách nhìn tổng quát phong cách ngôn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ, chỉ ra nét đặc trưng tiêu biểu của Lưu Quang Vũ trong các tiếng thơ cùng thế hệ, và khẳng định Lưu Quang Vũ như một gương mặt thơ tiêu biểu của thời kì thơ ca kháng chiến chống Mỹ cũng như thơ ca Việt Nam của thế kỉ XX
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang
Vũ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu ẩn dụ bổ sung trong thơ Lữu Quang Vũ trên các phương diện: Phương diện hình thái-cấu trúc và phương diện giá trị tu từ, từ đó chỉ ra nét đặc trưng trong phong cách thơ Lưu Quang Vũ qua việc sử dụng các
ẩn dụ
Phạm vi khảo sát của đề tài là tất cả những tập thơ đã xuất bản của Lưu Quang Vũ
Trang 9+ Hương cây – bếp lửa (In chung với Bằng Việt, 1968)
+ Mây trắng của đời tôi (1989)
+ Bầy ong trong đêm sâu (1993)
+ Lưu Quang Vũ – Di cảo (2008)
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng trong khóa luận này là phương pháp miêu tả cùng với các thủ pháp nghiên cứu: Phân loại – hệ thống hóa, phân tích nét nghĩa,
Trang 10CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lí thuyết về ẩn dụ
1.1.1 Ẩn dụ dưới góc nhìn của T ừ vựng học
Từ vựng học xem ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa của từ Ẩn dụ là nét độc đáo của ngôn ngữ tự nhiên Ẩn dụ được nghiên cứu trong rất nhiều lĩnh vực theo những góc độ và những cách thức khác nhau
Trên thế giới, người đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về ẩn dụ là Aristotle trong cuốn Thi học Trong tác phẩm này, Aristotle đã nói rằng ẩn dụ là
sự áp dụng cho một sự vật nào đó một cái tên mà cái tên này vốn thuộc về một
sự vật khác hoặc là từ loại cho đến chủng hoặc từ chủng cho đến loại, từ loại nhỏ sang loại nhỏ khác dựa vào sự đồng dạng Aristotle đã phát biểu lý thuyết về phép so sánh rút gọn, lý thuyết về bản chất so sánh rút gọn của ẩn dụ Theo đó,
ẩn dụ được xem như một phần so sánh được rút gọn bằng cách loại bỏ từ so sánh
“như là”, “là” v.v Chẳng hạn, theo Aristotle, ẩn dụ người là chó sói là một phép rút gọn từ một phép so sánh người giống như là một con chó sói [17, tr.35] (so sánh trong tiếng Việt: mặt hoa là rút gọn từ phép so sánh: Mặt (người) tươi như hoa)
Trong các sách nghiên cứu ẩn dụ trong và ngoài nước, cho đến nay, ẩn dụ thường được coi là cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau
Các nhà ngôn ngữ học trong nước cũng có quan điểm tương tự Đỗ Hữu Châu cũng quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên gọi của một sự vật hiện tượng khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [4,
tr.54] Sau này, trong công trình Từ vựng -ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu
Trang 11giải thíchmột cách cụ thể hơn: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là
những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính
của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y (để
biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau” [5, tr.145]
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự
giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [7, tr.162]
Đào Thản đã giải thích khá rõ ràng, cụ thể khái niệm ẩn dụ trong mối quan
hệ với sự so sánh: “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình
dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất, hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng
khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên
cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh” [18, tr 143]
Theo quan điểm của Nguyễn Đức Tồn thì bản chất của ẩn dụ là: “phép
thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này
sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trêncơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa
chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng”[19, tr 8]
Lần đầu tiên, trong sự phân tích ẩn dụ trong quan hệ với so sánh, Nguyễn
Đức Tồn đã chỉ ra một cách cụ thể, rõ ràng cái mà lâu nay người ta vẫn nói ẩn dụ
là so sánh ngầm Và thực chất về lôgic, chỉ có sự đồng nhất hoặc tương đồng
hoàn toàn giữa các sự vật thì mới cho phép có thể dùng cái này để thay thế cái
kia được (cũng giống như nguyên tắc thay thế phụ tùng, máy móc trong khoa
học kỹ thuật)
1.1.2 Ẩn dụ d ưới góc nhìn của Phong cách học
Phong cách học xem ẩn dụ là một biện pháp tu từ nhằm tạo nên những
biểu tượng trong nhận thức của con người Là đối tượng nghiên cứu của Phong
Trang 12cách học, với tư cách là biện pháp tu từ (ẩn dụ tu từ), ẩn dụ được khảo sát trong các ngữ cảnh cụ thể, gắn liền với văn bản Khi tách rời khỏi văn bản, ẩn dụ cũng
sẽ mất giá trị ngữ nghĩa
Trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983), Cù Đình
Tú đã nhấn mạnh vào mối quan hệ liên tưởng về những nét tương đồng của ẩn
dụ đã định nghĩa như sau: “Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng
về nét tương đồng giữa hai đối tượng.” [20, tr 279]
Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt (1993), các tác giả Đinh Trọng Lạc
và Nguyễn Thái Hòa lại nhấn mạnh bản chất so sánh và cho rằng: “Ẩn dụ là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh được giảm lược đi, chỉ còn vế được so sánh dựa trên cơ sở của phép chuyển nghĩa khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng”[21, tr 194]
Các tác giả đều thống nhất cho rằng ẩn dụ là một phương tiện tu từ chuyển nghĩa, lấy tên gọi biểu thị đối tượng này để biểu thị đối tượng kia, dựa trên cơ sở nét tương đồng giữa hai đối tượng
1.2 Ẩn dụ bổ sung từ cách lí giải của phong cách học
1.2.1 Khái niệm ẩn dụ bổ sung
Có thể nói: Ẩn dụ bổ sung là một phương tiện tu từ chuyển nghĩa thuộc nhóm ẩn dụ
Ẩn dụ bổ sung là một hiện tượng ngôn ngữ được các nhà ngôn ngữ học đặt vấn đề nghiên cứu từ rất sớm Cách đây hơn 50 năm tác giả Đinh Trọng Lạc,
trong giáo trình Việt ngữ tập 3 (Tu từ học, 1964) đã định nghĩa: “Ẩn dụ bổ sung
(Métaphore complétive) còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (Synesthésie) đó
Trang 13là sự kết hợp của hai hay nhiều từ, ngữ chỉ các cảm giác sinh ra từ các trung tâm
khu cảm giác khác nhau.”
Năm 1982, trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Lê Anh Hiền định
nghĩa: “Ẩn dụ bổ sung hay còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là loại ẩn dụ
dựa trên cơ sở thay đổi cảm giác.” [8, tr 53]
Năm 1994, trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thái Hòa
định nghĩa như sau: “Ẩn dụ bổ sung hay còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác,
tức là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức
cũng như trong diễn đạt ngôn ngữ.” [21, tr 217]
1.2.2 Cơ chế và nguồn gốc các ẩn dụ bổ sung
- Là một kiểu nhỏ bổ sung vào nhóm ẩn dụ, ẩn dụ bổ sung là một phương
tiện tu từ ngữ nghĩa dựa trên cơ chế của sự so sánh, bắt nguồn từ mối quan hệ
tương đồng giữa những đối tượng Vì vậy nó mang nhiều đặc điểm tương đồng
của nhóm ẩn dụ, có tác dụng xây dựng những hình tượng văn học, đem lại hiệu
quả tu từ to lớn, giúp nhà thơ nhà văn miêu tả hiện thực sâu sắc, sinh động, bộc
lộ cảm xúc tinh tế Đinh Trọng Lạc trong Giáo trình Việt ngữ 3 (Tu từ học,
1964) đã lý giải cơ chế ẩn dụ bổ sung như sau:
(1) Ẩn dụ bổ sung có cơ sở tâm lý học là sự tác động lẫn nhau giữa các giác
quan, là sự hợp nhất của chúng
(2) Ẩn dụ bổ sung khác ẩn dụng tượng trưng ở chỗ ẩn dụ bổ sung là kết hợp
giữa hai khái niệm về cảm giác dựa trên cơ sở là tính đồng loại giữa chúng
- Trước khi là một phương tiện nghệ thuật, ẩn dụ bổ sung đã được dùng
trong nhiều lời nói giao tiếp Trong nói năng hằng ngày của người Việt, sự giao
Trang 14thoa cảm giác hầu như xuất hiện thường trực Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp các câu nói:
Giọng cô ấy sao nghe chua thế!
Cách nói phổ biến này các nhà tu từ học gọi là Synesthésie cổ điển, chính là dựa vào tri giác trên cơ sở tương đồng nào đó giữa hai loại cảm giác khác nhau Chẳng hạn như dựa vào sự tương đồng giữa thị giác và xúc giác, thính giác và xúc giác, thị giác và thính giác Màu sắc (xanh, đỏ, vàng, ) là đối tượng cảm nhận đúng của giác quan thị giác nhưng lại được cảm nhận bằng các giác quan khác như vị giác (ngọt ngào), xúc giác (ấm, mát) Sự lệch chuẩn trong diễn đạt này thường gặp trong khẩu ngữ, tạo nên cách diễn đạt hình tượng, làm phong phú thêm các phương tiện ngôn ngữ trong kho tàng tiếng Việt
Trên cơ sở đó, trong văn chương, nhất là trong thơ trữ tình các nhà thơ đã khai thác nhiều hình ảnh tân kỳ, mới lạ Xây dựng hình tượng nghệ thuật bằng ẩn
dụ bổ sung Ẩn dụ bổ sung cũng đã xuất hiện từ trong ca dao, tục ngữ và cả một vài tác phẩm thơ ca cổ điển Việt Nam một cách sáng tạo:
Bà già đeo bị hạt tiêu
Sống bao nhiêu tuổi nhiề u đi ề u đ ắng cay
Trang 15Màu thời gian không xanh Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng Hương thời gian thanh thanh
(Đoàn Phú Tứ, Màu thời gian)
1.3 Giới thiệu về cuộc đời, tác phẩm và phong cách ngôn ngữ thơ Lưu
Quang Vũ
1.3.1 Cuộc đời Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ (17 tháng 4 năm 1948 - 29 tháng 8 năm 1988) là nhà soạn
kịch, nhà thơ và nhà văn hiện đại của Việt Nam
Ông sinh tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ nhưng quê gốc lại
ở phường Hải Châu, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, là con trai nhà viết
kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh, và tuổi thơ sống tại Phú Thọ cùng
cha mẹ Khi hoà bình lập lại (1954) gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội
Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của ông đã sớm bộc lộ từ nhỏ và vùng
quê trung du Bắc Bộ đó đã in dấu trong các sáng tác của ông sau này Bản thân
Lưu Quang Vũ sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống về sân khấu
Thân sinh ông là nhà thơ Lưu Quang Thuận cũng là một nhà hoạt động sân khấu
tâm huyết Được thừa hưởng truyền thống của gia đình như vậy nên tài năng của
Vũ có điều kiện phát triển
Từ 1965 đến 1970 ông nhập ngũ, phục vụ trong quân chủng Phòng
không-Không quân Đây là thời kỳ thơ Lưu Quang Vũ bắt đầu nở rộ
Trang 16Từ 1970 đến 1978: xuất ngũ và làm đủ mọi nghề để mưu sinh, làm ở Xưởng Cao su Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Giám đốc, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải phóng, chấm công trong một đội cầu đường, vẽ pa-nô, áp-phích,
Từ 1978 đến 1988: Lưu Quang Vũ làm biên tập viên Tạp chí Sân khấu, bắt đầu sáng tác kịch nói với vở kịch đầu tay ”Sống mãi tuổi 17” viết lại theo kịch bản của Vũ Duy Kỳ
Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương, cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ
Theo lời kể của họa sĩ Doãn Châu, người đã đi cùng ông trên chuyến xe cuối cùng, thì vụ tai nạn được tóm tắt như sau:
“Chiều 29/8, chiếc xe chở hai gia đình về Hà Nội Dọc đường đến cầu Lai
Vu, xe đỗ, mấy phụ nữ xuống mua một rổ ổi Lúc đó Mí và Vinh ngồi đánh cờ phía băng ghế bên phải Ông Châu và Lưu Quang Vũ kẻ nằm người ngồi dưới sàn xe còn Xuân Quỳnh và bà Bích Thu ngồi phía băng ghế đối diện Xe qua cầu Phú Lương, đi trên đường vừa hẹp vừa xuống dốc Trước mặt có chiếc xe Kamaz đang đi chầm chậm Đường dốc nên xe nào qua đây cũng phải thận trọng
Bất chợt, có hai phụ nữ đội nón đèo nhau trên xe đạp, lao từ đê xuống đường, cắt qua mặt xe Kamaz, chiếc xe này phanh khựng lại Người lái chiếc xe com-măng-ca đang bám sau định đánh tay lái vượt lên Và chỉ trong tích tắc ấy, một chiếc xe ben phía sau đã mất phanh đâm sầm vào đuôi chiếc com-măng-ca, đẩy xe này vào gầm xe Kamaz phía trước
Trang 17Cả gia đình Lưu Quang Vũ ngồi phía bên phải bị văng xuống đường Ông Châu xác nhận đó là khoảng 14h40 phút ngày 29/8/1988 (trước đây nhiều nguồn tin nói là 15h30 phút)
Sau khi ông mất, đã có nhiều dư luận xung quanh vụ tai nạn này Có tin cho rằng ông bị ám sát bằng cách gây tai nạn ô tô Tuy nhiên với những diễn biến trước khi vụ tai nạn xảy ra, ông Châu kết luận: Nếu có một bàn tay nào đó sắp đặt thì đó chỉ có thể là “Bàn tay của số mệnh” Vụ án sau đó được xử tại toà
án Hải Dương Lái xe gây tai nạn bị xét xử tù giam 10 năm
Lưu Quang Vũ kết hôn 2 lần, lần thứ nhất với diễn viên điện ảnh Tố Uyên năm 1969 Hai người li hôn năm 1972 Ông kết hôn lần thứ hai với nữ thi sĩ Xuân Quỳnh năm 1973
Con trai ông (với Tố Uyên), Lưu Minh Vũ, hiện đang là một trong những người dẫn chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam Em gái Lưu Quang Vũ, PGS.TS Lưu Khánh Thơ hiện đang công tác tại tòa soạn Tạp chí Nghiên cứu Văn học của Viện Văn học Em trai của ông là GS.TS Lưu Quang Hiệp Hiệu trưởng Đại học TDTT Bắc Ninh
Cuộc đời Lưu Quang Vũ trải qua nhiều thăng trầm, sống dưới thời đại xã hội có nhiều biến động từ thời chiến đến thời bình và đã phải trải qua nhiều đổ
vỡ trong tình cảm Mỗi người con gái đến và đi trong cuộc đời ông đều có những
vị trí nhất định, được ông ghi nhớ trong tim rồi cả trong thơ Tất cả những nhân
tố về cuộc đời Lưu Quang Vũ đều có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến con người và tài năng của ông
1.3.2 Sự nghiệp sáng t ác của Lưu Quang Vũ
Trang 18Nhắc đến Lưu Quang Vũ là nhắc đến một nhà biên soạn kịch xuất sắc của Việt Nam với những thành công vang dội trong thể loại kịch
Điều đó được minh chứng qua việc vở kịch đầu tay “Sống mãi tuổi 17” được trao tặng Huy chương vàng Hội diễn sân khấu Lưu Quang Vũ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 (năm 2000) về nghệ thuật sân khấu Trong Hội diễn Sân khấu toàn quốc 1980, Lưu Quang Vũ còn là tác giả trẻ và mới, nhưng đến năm 1985 “hiện tượng Lưu Quang Vũ” là một phát hiện hiếm thấy Tám vở kịch của anh tham gia hội diễn thì 6 vở được tặng thưởng Huy chương vàng, 2 vở Huy chương bạc Đây là con số kỷ lục
Sự xuất hiện rực rỡ của một tài năng mới đã gây được sự chú ý đặc biệt trong dư luận Cho đến lúc ra đi vào cõi vĩnh hằng, Lưu Quang Vũ đã viết trên
50 vở kịch, hầu hết đều đã được dàn dựng Đây cũng lại là con số kỷ lục của một tác giả, khi tuổi đời vừa tròn 40
Cùng với một tâm hồn thi sĩ, được sống và làm việc, thử thách nhiều năm trong lĩnh vực sân khấu, trực giác thiên bẩm của thi sĩ đã mách bảo Lưu Quang
Vũ tìm đến với thể loại kịch, để trở thành một nhà viết kịch thật sự đổi mới, thấu hiểu những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội Việt hiện đại và từ đó thiết lập được cuộc đối thoại với công chúng đương thời Dùng phương thức kịch, Lưu Quang Vũ thấy mình đầy ưu thế, khi kịch bản văn chương được chính mình tổ chức xung đột, giữa cái mới và cái cũ, cái bảo thủ trì trệ và cái tích cực tiến bộ, như: Tôi và chúng ta Lời thề thứ 9, Trái tim trong trắng, Ông không phải là bố tôi, Mùa hạ cuối cùng, Ai là thủ phạm, Khoảnh khắc và vô tận Và xung đột giữa cái ác, cái thiện, cái đẹp, cái xấu, cái nhân tính và phi nhân tính, trong các kịch bản: Bông cúc xanh trên đầm lầy, Người trong cõi nhớ, Người tốt nhà số 5,
Trang 19Nguồn sáng trong đời, Tin ở hoa hồng, Vụ án 2000 ngày và Hồn Trương Ba, da hàng thịt Thời ấy, trong hơn 100 nhà hát và đơn vị sân khấu toàn quốc, hầu như không nơi nào lại không mong muốn được dựng kịch Lưu Quang Vũ Kịch Lưu Quang Vũ, bởi thế, rất quyến rũ người xem hiện đại, buộc họ phải nảy sinh
tự nhiên nhu cầu xem kịch, ngay cả khi Lưu Quang Vũ đã thành người trong cõi nhớ, như tên của chương trình kịch Lưu Quang Vũ năm nay, được tổ chức sau ngày mất Lưu Quang Vũ đã 27 năm…
Có thể nói, việc dàn dựng mới những kịch bản của Lưu Quang Vũ và kịch Lưu Quang Vũ vẫn giữ nguyên giá trị về tính hiện đại cho đến thế kỷ 21 này, cho thấy công chúng Việt vẫn rất yêu sân khấu, vẫn rất thích cách viết kịch của Lưu Quang Vũ Bởi vì, kịch của Vũ luôn luôn nồng đượm hơi thở của đời sống hiện đại, với những vấn đề luôn nóng hổi tính thời sự được phát hiện từ con mắt và tấm lòng tràn đầy yêu thương của ông với cuộc đời Ngoài vấn đề triết học-nhân sinh được ráo riết đặt ra trong kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt, các kịch bản khác của Lưu Quang Vũ luôn hàm chứa những vấn đề thời sự của đời sống
đô thị Việt, khiến người xem hiện đại được soi mình trong đó, được đối thoại, được gợi mở cách giải quyết, được thức tỉnh tinh thần đến mức có thể thay đổi hành vi, nhận thức và lối sống
Bên cạnh sự nghiệp kịch đồ sộ, người ta vẫn không lãng quên một thi sĩ Lưu Quang Vũ Chính Lưu Quang Vũ cũng luôn nói với bạn bè rằng anh thích được làm thơ hơn cả viết kịch lẫn viết truyện , rằng thành công của thơ thường mang cho anh niềm vui lâu hơn dù nhuận bút tiêu có chóng hết hơn Vũ Quần Phương khi nói về Lưu Quang Vũ cũng đã nhận định: “Cố nhiên với Lưu Quang
Vũ hay với chúng ta, không có sự khinh trọng giữa các loại hình nghệ thuật Ở
Trang 20đây chỉ muốn nói tới cái tạng của anh Tôi thấy trước sau cốt cách thi sĩ vẫn là nét trội nhất trong tâm hồn anh Tôi cũng trộm nghĩ, về lâu dài, sự đóng góp của Lưu Quang Vũ về thơ còn lớn hơn về kịch.” [13, tr 33]
Bên cạnh những tập thơ được xuất bản lúc Lưu Quang Vũ còn sống, được chính nhà thơ đặt tên thì còn rất nhiều bài thơ vẫn chưa được công bố Sau khi Lưu Quang Vũ qua đời, em gái ông là Lưu Khánh Thơ đã cố công tập hợp tất cả những bài thơ ấy thành các tập thơ, đó là những bài thơ có thể viết ở những thời điểm cách xa nhau, không nhất quán, rời rạc Nhưng mỗi bài thơ chính là một mảnh tâm hồn của Lưu Quang Vũ
Có thể điểm qua các tập thơ của Lưu Quang Vũ theo thời gian như sau:
Hương cây (1968 - in cùng Bằng Việt trong tập Hương cây - Bếp lửa) Mây trắng của đời tôi (1989)
Bầy ong trong đêm sâu (1993)
Lưu Quang Vũ – Di cảo (2008)
Các bài thơ được sáng tác vào nhiều thời điểm khác nhau gắn liền với nhiều giai đoạn cuộc đời của Lưu Quang Vũ và phản ánh một tâm hồn thi sĩ giàu cảm xúc, đầy tài năng Những bài thơ của Lưu Quang Vũ thường để lại ấn tượng mạnh trong lòng bạn đọc bởi những suy tư trăn trở, những nghiền ngẫm chiêm nghiệm đầy thâm trầm sâu sắc Thơ của Lưu Quang Vũ vẫn còn là một vùng đất đầy màu mỡ cho những người yêu văn chương dày công nghiên cứu Thơ chính
là thứ tạo tiền đề cho những vở kịch xuất sắc, hơi thở hiện thực và các giá trị nhân sinh sâu sắc xuất hiện trong thơ cũng chính là những điều mà sau này được nhắc đến vẹn toàn và thấm đẫm hơn trong kịch
Trang 21Chính Lưu Quang Vũ cũng đã nói: “Trong quan niệm của tôi, thơ và kịch
rất gần nhau Có lẽ thơ với kịch còn gần nhau hơn là thơ với văn xuôi Đều là hai
thể loại lớn và khó của văn học, thơ và kịch đều là sự sống và thế giới bên trong
của con người ở dạng tinh chất, cô đọng và mãnh liệt nhất Đối với tôi, kịch cũng
là một thứ thơ được trình bày trong không gian và thời gian kỳ diệu của sân
khấu, thông qua diễn xuất của diễn viên.” Sự gặp gỡ giữa thơ và kịch, ở Lưu
Quang Vũ, vì vậy, đánh dấu “những ngày đẹp nhất”, khi “người trai phiêu bạt”
“mắc nợ những chuyến đi, những giấc mơ điên rồ, những ngọn lửa không có
thật” nguyện trở về để viết tặng “vở kịch lớn, bài thơ hay nhất”
1.3.3 Đặc điểm phong cách ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ
Với một trái tim thi sĩ nồng nàn, một tâm hồn nhạy cảm với đời, thơ Lưu
Quang Vũ có một điệu hồn riêng, ông viết thơ là viết cho mình, là tâm sự với
mình “Ấy là một nhà thơ thuộc loại bẩm sinh, dễ dàng bày mọi vui buồn của
mình trên trang giấy” (Vũ Quần Phương) Thơ Lưu Quang Vũ không có sự nhất
quán trong phong cách ngôn ngữ, tùy ở những thời đoạn cuộc đời và những biến
cố khác nhau mà thơ cũng có những sự thay đổi màu sắc khác nhau Tuy nhiên,
điều duy nhất không bao giờ thay đổi trong thơ Lưu Quang Vũ đó chính là cái tôi
đắm đuối, được bộc lộ qua giọng thơ đắm đuối Đó chính là đặc điểm thơ suốt
đời của Lưu Quang Vũ, dù vui hay buồn, dù hạnh phúc hay khổ đau cũng tràn
đầy đắm đuối
Năm hai mươi tuổi, Lưu Quang Vũ đã cùng Bằng Việt xuất bản tập thơ đầu
tay “Hương cây – Bếp lửa”, trong đó có những bài thơ được viết khi ông chưa
tròn độ tuổi hai mươi, khi vẫn còn là một cậu thiếu niên Rồi sau đó lại tiếp tục
sáng tác tập thơ “Cỏ tóc tiên” (chưa in), một số bài sau này đã được đưa vào tập
Trang 22“Mây trắng của đời tôi” Đây là giai đoạn mà những sáng tác của Lưu Quang
Vũ chứa đựng cái nhìn đầy hồn hậu, tươi tắn và lạc quan về cuộc đời “Hương
cây” trong thời điểm đó đã đưa tên tuổi Lưu Quang Vũ tỏa sáng, tập thơ trở
thành vật gối đầu giường của nhiều người đọc và ảnh hưởng đến nhiều người trẻ khác
Vương Trí Nhàn khi nói về “Hương cây” cũng như sức ảnh hưởng của tập
thơ đã dùng những câu văn bộc lộ sự ngưỡng mộ và tôn kính sâu sắc: “Dù có chóng quên đến đâu, thì những ai đã sống qua thời đó ở Hà Nội đều biết rằng đại khái đó là thời mà mọi sinh hoạt còn rất đạm bạc [ ] Không thể tưởng tượng nổi
là một tập thơ lúc ấy lại gây chấn động đến như thế nào Bọn tôi, một số anh em mới viết, muốn ướm thử đời mình vào nghề văn, chúng tôi nghĩ rằng một tập sách, nó là cái danh thiếp tốt nhất, để người ta tự giới thiệu với chung quanh, để khẳng định mình, để có bạn Với việc có một tập sách, chính là Vũ, cùng với
Bằng Việt – trong Hương cây - Bếp lửa; cùng với Đỗ Chu – trong tập truyện ngắn Phù sa, – là những bạn đầu tiên trong chúng tôi thành người Thành nhà
văn nhà thơ Thành tác giả Thành tất cả những gì, mà chúng tôi hằng ao ước Làm sao mà không cảm động cho được!” [13, tr 63]
Những cảm xúc của một cậu thanh niên khi vừa rời ghế nhà trường đã lên đường nhập ngũ lúc nào cũng đầy tươi tắn, tràn đầy yêu tin Mỗi con đường hành quân đi qua, mỗi làng mạc, mỗi con người, mỗi cuộc gặp gỡ đều được tái hiện bởi một giọng điệu trong trẻo, mang dấu vết của sách vở nhà trường
Một thôn Chu Hưng hiện lên đầy lãng mạn, đẹp đẽ, như một bức tranh trữ tình:
Thôn Chu Hưng trăng sao rơi đầy giếng
Trang 23Nằm giữa bốn bề rừng rậm nứa lao xao Đường ven suối quả vả vàng chín rụng
Cọ xanh rờn lấp loáng nước sông Thao
Hay một sông Thương với những tiếng cười dồn giã, những công trình đang vươn mình lớn lên:
Những đường xe đỏ bụi bay Những tiếng cười khúc khích sau vườn cây Nước vỗ mạn thuyền dào dạt
Buồm trắng nắng căng phồng gió mát
Hay ánh đèn điện sáng Lấp lánh công trình phân đạm
Trong những năm tháng thời chiến, những buồn vui riêng của mỗi con người đều gắn liền với hơi thở của đất nước, Lưu Quang Vũ cũng như nhiều người trẻ khác, vẫn còn chưa có nhiều chiêm nghiệm cá nhân, luôn nhìn cuộc đời bằng ánh mắt lạc quan, tin tưởng và đầy nỗ lực
Tựa đề “Hương cây” hay “Cỏ tóc tiên” cũng đã đủ khái quát toàn bộ
phong cách ngôn ngữ thơ trong giai đoạn này, đó là một phong cách thơ đầy tươi vui, nhiều màu sắc và thể hiện sự hòa hợp với thiên nhiên Các từ ngữ tả thiên nhiên cỏ cây tràn ngập và xuất hiện với mật độ dày đặc Những hình ảnh thiên nhiên hay con người, cảnh vật không chỉ tròn đầy ở màu sắc mà còn nồng nàn hương thơm, thể hiện sự tổng hòa nhạy bén của nhiều giác quan
Trong “Gửi tới các anh”, sự chuyển động của nhịp thời gian và không gian
được miêu tả bằng nhiều giác quan:
Trang 24Tháng bảy mưa nhiều Tháng tám sen tàn bưởi chín Chim ngói bay về bịn rịn Tháng chín lúa trổ đòng đòng Trời thu hương cốm mát trong
Những màu sắc, âm thanh, mùi hương của cây cối, vạn vật và con người được khơi gợi với tần suất dày đặc:
Chiến hào nắng chói Bỗng thơm mùi bưởi, mùi chanh
Hay:
Từng viên đạn lắp vào nòng pháo Bồi hồi nghe hương bưởi lá chanh
(Lá bưởi lá chanh)
Sau “Hương cây”, sau những năm tháng bộ đội, cuộc đời Lưu Quang Vũ
đã bắt đầu có những sóng gió Sau khi xuất ngũ, Lưu Quang Vũ không tìm được việc làm, hạnh phúc gia đình tan vỡ, con cái còn nhỏ, chiến tranh chống Mỹ bắt đầu ác liệt, những tiêu cực xã hội cũng bắt đầu phát sinh Mọi thứ như chống lại tất cả những hy vọng, những nỗ lực và tin tưởng của Lưu Quang Vũ, khiến ông rơi vào trạng thái vô định, không thể tìm được hướng đi cho mình Những va chạm với đời, những chiêm nghiệm cá nhân đã sâu sắc hơn bội phần Phong cách thơ đã bắt đầu thay đổi, chất chứa nhiều dằn vặt, chiêm nghiệm Chính vì thế mà
so với giọng điệu thơ chung lúc bấy giờ, thơ Lưu Quang Vũ trở nên lạc điệu Tất
cả thể hiện rõ nét trong hơn hai mươi bài thơ in trong tập “Cuốn sách xếp lầm
trang”
Trang 25Những hiện thực của chiến tranh, nghiệt ngã cay đắng của cuộc đời đã xóa
nhòa tất cả những mùi hương hoa cỏ trong “Hương cây” ngày trước Tất cả các
hiện thực ấy, người đọc sẽ một lần nữa được bắt gặp trong kịch Lưu Quang Vũ mười mấy năm sau
Các vần thơ đề cập đến con người với những mặt ẩn khuất tiêu cực Những con người bị tha hóa, bị dày vò và rơi vào tăm tối của cuộc sống Những vần thơ
ấy bế tắc, bi quan, chán chường và đầy trách móc:
Những tuổi thơ không có tuổi thơ Những đôi mắt tráo trơ mà tội nghiệp Chúng ăn cắp, đánh nhau, chửi tục Lang thang hè đường, tàu điện, quán bia Những bông hoa chưa nở đã tàn đi Những cành cây chưa xanh đã già cỗi
( Những tuổi thơ, 1971)
CHƯƠNG II THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ CÁC ẨN
DỤ BỔ SUNG TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
2.1 Các tiêu chí và kết quả thống kê phân loại
2.1.1 Tiêu chí thố ng kê phân loại
Để có cái nhìn bao quát về ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang Vũ, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thống kê và phân loại các kiểu ẩn dụ bổ sung theo tiêu chí cấu trúc – ngữ nghĩa trong các tập thơ sau:
+ Hương cây – bếp lửa (In chung với Bằng Việt, 1968)
Trang 26+ Mây trắng của đời tôi (1989)
+ Bầy ong trong đêm sâu (1993)
+ Lưu Quang Vũ – Di cảo (2008)
Theo tiêu chí cấu trúc – ngữ nghĩa, các nét nghĩa cơ bản thuộc trường nghĩa cảm giác bao gồm:
Nhìn: Là hoạt động tiếp nhận và phân tích màu sắc, ánh sáng, hình ảnh, đường nét bằng cơ quan thị giác (mắt)
Nghe: Là hoạt động tiếp nhận và phân tích âm thanh bằng cơ quan thính giác (tai)
Ngửi: Là hoạt động tiếp nhận và phân tích mùi hương bằng cơ quan khứu giác (mũi)
Nếm: Là hoạt động tiếp nhận và phân tích vị bằng cơ quan vị giác (lưỡi) Sờ: Là hoạt động tiếp nhận và phân tích các đặc điểm, tính chất của sự vật
và tác động của ngoại cảnh đến cơ thể như nóng, lạnh bằng bàn tay và làn da
Khi lựa chọn kết hợp các nét nghĩa trên lại với nhau thì sẽ có hai kiểu lựa chọn kết hợp Thứ nhất là kết hợp bình thường theo đúng cách diễn đạt thông thường và đúng quy tắc ngữ nghĩa, ví dụ: Ngửi + mùi thơm + hoa hồng Thứ hai
là kết hợp không bình thường, vi phạm quy tắc kết hợp các nét nghĩa cơ bản, gây nên sự chuyển đổi ý nghĩa, ví dụ: Nghe + mát lịm ở đầu môi (Nghe + hiệu quả xúc giác)
Chính điều này, bên cạnh việc tạo ra những vi phạm trong lời nói tự nhiên hằng ngày, còn tạo ra những sáng tạo nghệ thuật bằng cách tạo ra những nét nghĩa mới, có màu sắc nghệ thuật xuất phát từ sự kết hợp nghĩa bất thường đặt trong ngữ cảnh tu từ
Trang 27Để nhận diện ẩn dụ bổ sung, chúng tôi không đi sâu vào phân tích ngữ pháp mà chỉ chú trọng xem xét cấu trúc ngữ nghĩa trong ngữ cảnh của ẩn dụ bổ sung Cụ thể, đối với trường hợp có chứa động từ cảm giác thì xem xét khả năng kết hợp của động từ cảm giác với các thành tố còn lại, trường hợp không có động
từ cảm giác nhưng vẫn có cảm nhận do động từ cảm giác ẩn đưa lại thì xem xét các thành phần trong kết hợp ẩn dụ bổ sung
Ví dụ:
Trường hợp có động từ cảm giác:
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
(Nghe: động từ cảm giác thính giác, kết hợp với mát lịm: từ tạo hiệu quả cảm giác vị giác và xúc giác)
Trường hợp không có động từ cảm giác:
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt
(Tiếng: Từ tạo cảm nhận thính giác do động từ cảm giác ẩn (nghe) đem
lại, kết hợp với trong trẻo: từ tạo hiệu quả cảm giác thị giác)
2.1.2 Kết quả thống kê phân loại
Căn cứ vào tiêu chí cấu trúc – ngữ nghĩa, đã tiến hành khảo sát trên 143 bài thơ của Lưu Quang Vũ và thống kê được 112 ẩn dụ bổ sung Dựa vào các từ ngữ chỉ cảm giác, phân loại ẩn dụ bổ sung thành 5 nhóm, mỗi nhóm lại được chia thành các kiểu nhỏ
Lưu ý rằng trong việc phân chia các kiểu nhỏ của các nhóm ẩn dụ, để việc phân tích được rõ ràng hơn, cảm giác xúc giác sẽ được chia thành hai loại:
(1) Xúc giác: Những cảm nhận qua làn da như: lạnh, nóng, rát, bỏng, thô, sần,
Trang 28(2) Cảm giác cơ thể: Những cảm nhận như: hồi hộp, say, nhẹ, nặng,
2.1.2.1 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi thị giác
- Thống kê được 58 trường hợp, trong đó dựa vào sự kết hợp giữa các cảm giác với nhau chia thành 6 kiểu nhỏ:
(1) Kiểu chuyển đổi thị giác – thính giác: 3 trường hợp
Ví dụ:
Những hoa bìm hoa súng nở trên ao
Những ban mai xanh biế c tiế ng đàn b ầu
(Hoa tầm xuân,mùng 3 tết Nhâm Tý)
(3) Kiểu chuyển đổi thị giác – vị giác: 8 trường hợp
Ví dụ:
Chiều ấy các anh đi
Nắ ng nhạ t vàng hoe gốc rạ
(Gửi tới các anh, 1965)
(4) Kiểu chuyển đổi thị giác – xúc giác: 16 trường hợp
Ví dụ:
Em đã đập vỡ ra từng mảnh
Trang 29(Lá thu, 1972) (5) Kiểu chuyển đổi thị giác – cảm giác tổng hợp: 1 trường hợp
Ví dụ:
Những cánh đồng hoa cúc mọc rưng rưng
Chùm nắ ng lạ tươi vàng trên cỏ dại
(Những đêm hoa vàng) Đây là kiểu kết hợp đặc biệt nhằm thể hiện sự thay đổi cảm nhận của thị
giác, theo quy tắc ngữ nghĩa, “Chùm” là từ tạo hiệu quả cảm giác thị giác về một
sự vật có hình dáng cụ thể, không thể kết hợp với “nắng” là từ tạo hiệu quả cảm
giác thị giác về một yếu tố thiên nhiên không có hình dáng cụ thể, cảm nhận dựa
vào cường độ ánh sáng Nhưng ở đây, trong ngữ cảnh của kết hợp “Chùm” với
“nắng” đã có sự chuyển nghĩa ẩn dụ - chuyển nghĩa trong cùng một trường cảm
giác thị giác Kiểu loại bổ sung này chiếm số lượng lớn trong toàn bộ nhóm ẩn
dụ chuyển đổi thị giác và tạo ra nhiều sự liên tưởng sáng tạo
2.1.2.2 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi thính giác
- Thống kê được 27 trường hợp, trong đó dựa vào sự kết hợp giữa các cảm giác với nhau chia thành 5 kiểu nhỏ:
(1) Kiểu chuyển đổi thính giác – khứu giác: 1 trường hợp
Trang 30Ví dụ:
Lá quanh hồ sắp mục
Se sẽ mùi rư ợu lên
(Chiều,1967) (2) Kiểu chuyển đổi thính giác – vị giác: 3 trường hợp
Ví dụ:
Nghĩa gì đâu kỉ niệm tháng năm dài
Lờ i thương m ế n nhớ lạ i thành chua chát
(Từ biệt, 1972) (3) Kiểu chuyển đổi thính giác – xúc giác: 4 trường hợp
Ví dụ:
Tiế ng loa đ ầu dốc lạnh
Tin chiến trận miền xa
(Việt Nam ơi) (4) Kiểu chuyển đổi thính giác – cảm giác tổng hợp: 3 trường hợp
Trang 31Thơ phải dạy ta nhìn bằng con mắt thật Đập vào ngực ta không cho ta cúi mặt Không cho ta lảng tránh
Đập cửa mọi nhà Đứng ở mọi ngã ba
Không hát ta say mà lay ta thức
Dù ngày mai đời có trăm lần đẹp Thơ vẫn gọi mọi người vươn đến tương lai
(Nói với mình và các bạn,1970)
(6) Kiểu chuyển đổi thính giác – thị giác: 12 trường hợp
Ví dụ:
Những người đẩy xe gầy guộc
Tiế ng chim trong veo trên đỉnh thông chiều
(Người con giai đến phòng em chiều thu)
2.1.2.3 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi vị giác
- Thống kê được 7 trường hợp, trong đó dựa vào sự kết hợp giữa các cảm giác với nhau chia thành 4 kiểu nhỏ:
(1) Kiểu chuyển đổi vị giác – khứu giác: 2 trường hợp
Bát ngát hoàng hôn mưa ướt hoa
Vỏ quế cay dầ n hương nh ựa mới
(Mùa xuân lên núi, 1969) (2) Kiểu chuyển đổi vị giác – thị giác: 2 trường hợp
Nhân dân quá hiền nhân dân chưa xé bỏ
Trang 32Những ngọ t ngào hoa cỏ của ta
(Nói với mình và các bạn, 1970) (3) Kiểu chuyển đổi vị giác – cảm giác cơ thể: 1 trường hợp
Tôi nguyên chất tôi đi tìm đôi cánh
Để cuối cùng gặp được biển khơi
Mặ n xé lòng là muối biển đấy thôi
(Móng tay trên đá,1973) (4) Kiểu chuyển đổi vị giác – thính giác: 2 trường hợp
Rừng khiên mộc của những người giữ nước Còn loé ngời trên mỗi bàn tay
Bông cỏ may vạn dặm luyến chân người
(Bài ca trên bán đảo)
2.1.2.4 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi khứu giác
- Thống kê được 11 trường hợp, trong đó dựa vào sự kết hợp giữa các cảm giác với nhau chia thành 3 kiểu nhỏ:
(1) Kiểu chuyển đổi khứu giác – vị giác: 5 trường hợp
Đò xuôi ngược chở trái chín vàng
Thơm ngát m ật hương mùa h ạ
(Qua sông Thương, 1966)
(2) Kiểu chuyển đổi khứu giác – cảm giác tổng hợp: 2 trường hợp
Trang 33Ví dụ:
Tháng chín lúa trổ đòng đòng
(Gửi tới các anh, 1965) (3) Kiểu chuyển đổi khứu giác – thị giác: 4 trường hợp
Ví dụ:
Có phải mơ không mà anh thấy em trong tà áo
Mộ t hương môi mậ n chín một lời thanh
(Bài thơ khó hiểu về em, 1966)
2.1.2.5 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi xúc giác
- Thống kê được 9 trường hợp, trong đó dựa vào sự kết hợp giữa các cảm giác với nhau chia thành 4 kiểu nhỏ:
(1) Kiểu chuyển đổi xúc giác – vị giác: 1 trường hợp
Ta là những người con
Bán đảo xanh, màu phù sa ướt đẫm
(Bài ca trên bán đảo)
(2) Kiểu chuyển đổi cảm giác cơ thể – xúc giác: 1 trường hợp
Đường dài mặt trận nối nhau đi
(Những đứa trẻ buồn)
Trang 34(3) Kiểu chuyển đổi xúc giác – cảm giác tổng hợp: 2 trường hợp
Ví dụ:
Nhớ hàm răng cắn trái xoài vàng
Môi mát thơm v ị ngọ t đ ế n bàng hoàng
(Mùa xoài chín)
(4) Kiểu chuyển đổi xúc giác – thị giác: 3 trường hợp
Ví dụ:
Cánh cửa chiều khép lại
(Em-tình yêu những năm đau xót và hy vọng)
(5) Kiểu chuyển đổi xúc giác – thính giác: 1 trường hợp
Tóc đen thẳm bay về như gió ốm
thổ i nồ ng nàn trên những dãy phố khuya
Trang 35BẢNG 2.1: CÁC NHÓM ẨN DỤ BỔ SUNG TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
STT
Các tiểu nhóm
ADBS
Số lượng
Tỷ
lệ % Các kiểu ADBS
Số lượng
Thính giác – cảm giác
cơ thể Thính giác – thị giác
11 9,8 Khứu giác – vị giác
Khứu giác – cảm giác tổng hợp
Khứu giác – thị giác
5
2
4
4,5 1,8
3,5
4 Nhóm ẩn dụ
chuyển đổi vị giác
7 ~6,3 Vị giác – khứu giác
Xúc giác – cảm giác tổng hợp
Xúc giác – thị giác Xúc giác – thính giác
1,8 2,7 0,9 0,9 T.số 112
Trang 36Qua kết quả thống kê và phân tích trên có thể thấy:
- Hai nhóm chuyển đổi thị giác và chuyển đổi thính giác có tần số sử dụng cao nhất Điều này có thể lý giải như sau:
(1) Thị giác và thính giác là các cơ quan tiếp nhận thế giới nhiều hơn những giác quan khác Được sử dụng nhiều nhất nên các cảm giác này dễ dàng chuyển đổi, tạo nên khả năng thích ứng cao với các cảm giác khác, từ đó dẫn đến kết quả trong ngữ cảnh tạo nên được sự chuyển đổi linh hoạt để có các kết hợp đa dạng (2) Trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày các chuyển đổi cảm giác thị giác, thính giác cũng được sử dụng nhiều nhất
- Nhóm chuyển đổi vị giác có tỉ lệ sử dụng thấp nhất, vì khả năng chuyển đổi hẹp hơn Điều này cũng phù hợp với hoạt động của vị giác là giác quan được sử dụng ít hơn, do đó trong ngôn ngữ giao tiếp chuyển đổi cũng ít hơn
2.2 Đặc điểm hình thái - cấu trúc - ngữ nghĩa của ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang Vũ
2.2.1 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi thị giác
Trong nhóm ẩn dụ chuyển đổi thị giác, có thể xét đặc điểm hình thái – cấu trúc – ngữ nghĩa theo hai trường hợp:
(1) Đối với nhóm ẩn dụ chuyển đổi thị giác có chứa động từ cảm giác (nhìn, thấy, trông, ):
a) Các động từ cảm giác có khả năng kết hợp với các từ khác
b) Động từ cảm giác thị giác sẽ làm động từ trung tâm của ẩn dụ bổ sung, các thành phần phụ sau bao gồm đối tượng cảm nhận của động từ cảm giác và các từ đem lại hiệu quả cảm giác của giác quan khác
Ví dụ:
Trang 37Mơ thấy em trong lành
Như ngày 16 tuổi
Mơ thấy con người trên mặt đất Nắm tay nhau
Trong cụm từ “thấy em trong lành” có “thấy” là động từ cảm giác trung
tâm, “em” là đối tượng cảm nhận đúng của từ “thấy” và “trong lành” là từ đem
lại hiệu quả cảm giác thị giác nhưng khác về chất Đây là ví dụ ẩn dụ bổ sung nằm trong kiểu nhóm ẩn dụ chuyển đổi cảm giác thị giác – thị giác
(2) Đối với nhóm ẩn dụ chuyển đổi thị giác không có chứa động từ cảm giác:
a) Sự cảm nhận của giác quan thị giác được biểu hiện bằng các từ biểu thị hiệu quả cảm giác, đó có thể là từ đơn hoặc từ ghép, cụm từ:
Ví dụ:
Chợ quê rộn rịp
Vàng hương nếp mới lá dong xanh
(Nói với con cuối năm, 1972)
Em đi tìm thế giới của riêng em
(Lá thu,1972)
Những hoa bìm hoa súng nở trên ao
(Đất nước đàn bầu, 1972 – 1983)
Trang 38b) Có sự kết hợp đa dạng giữa các từ mang hiệu quả cảm giác thị giác với các từ mang hiệu quả cảm giác khác:
Ví dụ:
Mưa ào ạt trên đền Ăng Ko Vát
(Bài ca trên bán đảo)
Thành phố thời anh mười bảy tuổi
(Nửa đêm tới thành phố lạ gặp mưa)
2.2.2 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi thính giác
Trong nhóm ẩn dụ chuyển đổi thính giác, có thể xét đặc điểm hình thái – cấu trúc – ngữ nghĩa theo hai trường hợp:
(1) Đối với nhóm ẩn dụ chuyển đổi thính giác có chứa động từ cảm giác (nghe,lắng, lắng nghe):
a) Các động từ cảm giác có khả năng kết hợp với các từ khác làm thành ẩn
dụ bổ sung
b) Động từ cảm giác thính giác sẽ làm động từ trung tâm của ẩn dụ bổ sung, các thành phần phụ sau bao gồm đối tượng cảm nhận của động từ cảm giác và các từ đem lại hiệu quả cảm giác của giác quan khác
Ví dụ:
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lạ nh ở đầu môi tiếng suối
(Tiếng Việt)
Trang 39Trong cụm từ “Nghe mát lạ nh” có “nghe” là động từ cảm giác trung tâm,
“tiếng suối” là đối tượng cảm nhận đúng của từ “nghe” và “mát lạnh” là từ đem lại hiệu quả cảm giác xúc giác
(2) Đối với nhóm ẩn dụ chuyển đổi thính giác không chứa động từ cảm giác: a) Sự cảm nhận của giác quan thính giác được biểu hiện bằng các từ biểu thị hiệu quả cảm giác, đó có thể là từ đơn hoặc từ ghép, cụm từ:
Ví dụ: Đi ệ u bát ngát là của đồng của đất
Lời vụng về là tha thiết lòng tôi
(Đất nước đàn bầu,1972-1983)
Làm run rẩy hoa hồng trên ngực nắng
(Có những lúc, 1972)
Em làm dấu trước nhà thờ cao vút
Tiế ng chuông ngân nga đổ xuống
(Năm 1954) b) Có sự kết hợp đa dạng giữa các từ mang hiệu quả cảm giác thính giác với các từ mang hiệu quả cảm giác khác:
Ví dụ:
Lão ăn mày mù thổi sáo
Đi ệ u gọ i hồ n âm u
(Chiều cuối, 1972)
Ta viết những suy tư ngây ngô vờ là trí tuệ
Những câu nhạ t phèo chiếu lệ
(Nói với mình và các bạn,1970)
Trang 402.2.3 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi khứu giác
Trong nhóm ẩn dụ chuyển đổi khứu giác, chỉ sự xuất hiện của ẩn dụ bổ
sung không có chứa động từ cảm giác Đối với nhóm ẩn dụ chuyển đổi khứu giác
không có chứa động từ cảm giác:
a) Sự cảm nhận của giác quan khứu giác được biểu hiện bằng các từ biểu thị
hiệu quả cảm giác, đó có thể là từ đơn hoặc từ ghép, cụm từ: